PHÙ HƯ

vancongmy

Tôi, góc sông này những tháng năm
Không chằng buộc vướng bởi xa xăm
Mà sao tiếc nhớ như mây trắng
Đợi nắng chiều loang ráo chỗ nằm

Bận bịu gì đâu những nhánh rong
Chút phù hư nắm níu đeo mong
Dẫu xa rồi cũng ngày tới bến
May rủi trần ai con nước trong

(Cho dẫu ngầu đục bờ bến ấy
Ừ thôi, kiếp nạn đã xoay vòng)

Văn Công Mỹ

Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

trantrungdao

KỶ NIỆM 84 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ ÁI QUỐC NGUYỄN THÁI HỌC VÀ 12 ĐẢNG VIÊN VNQDĐ (17.6.1930-17.6.2014)

Vào khoảng thời gian này 84 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bước lên máy chém. Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN. Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học chỉ mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau. Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

Trần Trung Đạo

THƯA QUÝ NƯƠNG !

hochibuu

Một tuần rồi ta không gặp nhau
Em buồn như rụng một vì sao
Ta buồn như một con chó ốm
Lăn lóc nằm xem những vết cào

Ta nhớ mùi em như phấn son
Nhớ đôi mắt ướt rất mi nhon
Em nhớ mùi ta- mùi hoang dại
Một chút đàn ông hãy vẫn còn

Nhớ tóc em dài bay phất phơ
Ngực đầy như chứa cả hồn thơ
Có con bướm nhỏ nhiều e ắp
Đậu ở tay ta- đẹp bất ngờ

Hình như đêm rồi ta nằm mơ
Thấy em cô độc buồn vu vơ
Ở một góc trời xa xôi lắm
Tỉnh giấc mình ta mãi thẩn thờ

Ta gã giang hồ mê bốn phương
Vì em vó ngựa rớt bên đường
Thì thôi – khép gót giang hồ lại
Trao hết cho nàng- Thưa quý nương !

hồ chí bửu

VỌNG PHU

nguyenvi

Người đàn ông ru tình bằng nước mắt
Đến đá cũng phải mòn
Huống hồ lòng nhi nữ
Lội ngược dòng nước mắt đàn ông
Nàng về nhà chồng.

Người đàn bà ru con và tự ru mình bằng nước mắt
Nhiều tháng rồi nhiều năm
Nước mắt vẫn chưa cạn theo lời ru
Người đàn ông không biết / chưa biết / không cần biết
Nước mắt đâu còn là vấn đề.

Người đàn bà hóa thành Tô Thị
Chỉ có điều trái tim nàng chưa kịp hóa đá
Vẫn thao thức ngày / nức nỡ đêm
Tiếng nấc nghẹn và nước mắt lén lăn vào khuôn nhạc
“Người ta đi biển có đôi…”.

Người đàn ông bằng xương bằng thịt
Hát lời ru tình lạnh tanh từ trái tim đá
Người đàn bà tìm không thấy đâu bóng dáng của nước mắt
Có lẽ chúng đã hoàn thành sứ mệnh
Ngày nàng mặc áo cô dâu.

NGUYÊN VI

VIỆT NAM, ĐẤT NƯỚC ẢO DIỆU

sonnghi

Mới đây báo ThanhniênOnline đăng một bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ tình trạng hỗn loạn về kinh tế, giáo dục… trong xã hội VN hiện nay. Bài viết như sau:

http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/viet-nam-dat-nuoc-ao-dieu-that-khong-the-tin-duoc-572608.html

“Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam.”

Cudơmich thân mến,
Chắc anh lấy làm lạ vì tôi hẹn đi Việt Nam 3 tháng mà đã 3 lần 3 tháng rồi tôi vẫn còn ở đây. Không thể tin được Cudơmich ạ, đất nước này ảo diệu vô cùng. Tôi sẽ không về nữa, không những thế tôi còn muốn anh sang đây với tôi. Anh phải tự mình trải nghiệm những điều này mới thấy cuộc sống nơi đây thật tuyệt vời, Cudơmich.
Ở đây anh sẽ không có lấy một phút để buồn. Người ta làm xiếc khắp nơi, tất cả mọi người, xe buýt và xe tải, xe container và tàu lửa đều có thể làm xiếc ngay trên phố, thậm chí ngay trên thành cầu và lề đường. Cuộc sống vui nhộn hết sức.
Trẻ em thì toàn là thần đồng. Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam. Chỉ toàn giỏi và xuất sắc, mà Bộ Giáo dục đang phải nghĩ thêm danh hiệu nào hơn cả xuất sắc nữa, nếu không thì phụ huynh sẽ phật lòng. Đứa trẻ nào xếp loại khá thì chính là nỗi nhục nhã của toàn gia đình và dòng tộc. Nhưng muốn xếp loại khá cũng không phải dễ, vì anh biết không Cudơmich, anh sẽ không tìm ra xứ sở nào trẻ em hiếu học như ở đây. Chúng vừa ngồi bô vừa học, vừa ngủ gật vừa học, thậm chí vừa tắm vừa học.
Để có được một xã hội không thể tin nổi như thế, nhiều quan chức ở đây cần cù tuyệt vời, ngoài giờ làm bàn giấy ra họ lại siêng năng lao động đến thối cả móng tay. Siêng năng cần mẫn nên chỉ trong vài ba năm họ có tài sản trăm tỉ, ngàn tỉ, nhưng với đức khiêm tốn có thể gây xúc động lớn lao cho toàn thế giới, họ chỉ ở trong ngôi nhà đi thuê của nhà nước, còn tất cả tài sản khác đều giao họ hàng giữ hộ. Với con cái, họ cũng vô cùng nghiêm khắc. Họ không cho con cái làm việc ở các doanh nghiệp bóc lột mà bắt phải gia nhập vào hàng ngũ đầy tớ nhân dân hết, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp phục vụ nhân dân.
Trong đất nước này, người dân quan tâm đến nhau đến độ sẽ làm anh khóc nức nở, Cudơmich ạ. Vào buổi tối, nếu anh đi một mình trên phố, sẽ có các cô gái xinh đẹp mặc váy ngắn tươi cười hỏi han xem anh có muốn cô ấy giúp anh vui lên không. Nếu anh từ chối, sẽ có các trung niên thể lực mạnh mẽ tiến lại thuyết phục anh, nếu anh vẫn không nhận tấm lòng này, các anh ấy sẽ cảm thấy bản thân bị xúc phạm và tổn thương dữ dội. Cudơmich, anh có thấy nơi nào người yêu người sống để yêu nhau như nơi này không?
Nền khoa học ở đây thì khỏi phải nói. Nó đã bỏ xa toàn bộ nhân loại, phát triển đến mức kinh người: không cần treo trên cây lâu ngày, rau và trái cây vặt xuống chỉ cần nhúng vào một xô nước trong trong, lập tức căng bóng chín mọng. Quả là thiên đường hạ giới.
Sự gần gũi với thiên nhiên cũng thật tột độ. Ngay một đứa trẻ cũng ý thức được trách nhiệm của bản thân nó với thiên nhiên. Chỉ cần nhìn thấy một cái cây ven đường, lập tức các thanh niên, trung niên đến lão niên chạy xô đến nó để tưới tắm trực tiếp bằng nguồn urê tự sản xuất. Họ nhiệt tình và hăng hái đến mức khi cảm thấy nguồn urê trong người sắp cạn liền lập tức bỏ tiền mua một thứ nguyên liệu lỏng đóng chai có màu vàng, mùi vị ngai ngái và nổi nhiều bọt để uống vào, nhằm trợ lực sản xuất thật nhiều urê dùng tưới cây.
Với nhiều người, hầu như toàn bộ tiền kiếm được đều dùng để làm công việc này, họ làm tự nguyện bất kể giờ giấc. Có những gia đình thậm chí xô xát nhau vì người vợ muốn dùng một phần tiền để mua sữa cho con, còn người chồng lại muốn mua nguyên liệu tái chế urê. Có những người chồng chối từ vợ con để dành cả cuộc đời phụng sự sự nghiệp tưới cây. Trụ sở các hội tưới cây mọc lên khắp mọi nơi, miền núi, thôn quê, thành thị, không nơi nào không có, đông vui nhộn nhịp suốt 24/24 giờ. Có rất nhiều cô gái xinh đẹp tự nguyện đến đó để giải trí, giúp vui, nâng cao tinh thần cho cánh đàn ông. Tình người thật là bao la, Cudơmich ạ. Tôi vui sướng báo anh tin mừng này, tôi cũng đã trở thành một thành viên hết sức tích cực của hội, bây giờ toàn bộ niềm vui và ý nghĩa cuộc đời tôi gắn liền với những cái cây rồi, Cudơmich.
Anh còn chần chừ gì nữa mà không mua vé đến đây ngay ,hỡi Cudơmich? Tôi ngồi thâu đêm ở trụ sở hội tưới cây đợi anh.
Bạn yêu dấu của anh
Hoàng Xuân

Cudơmich là ai mà được hân hạnh mời đến thăm VN? Tôi nhớ đến một cái tên khá quen thuộc: Nicolae Ceausescu, Tổng Bí thư Romania, người duy nhất bị hành quyết khi chủ nghĩa cs sụp đổ. Tên Cudơmich có thể viết thành Ceausemich. Nhưng cái tên không quan trọng. Điểm chính của bài viết hàm ý mỉa mai mà người đọc không cần tinh ý vẫn nhận ra.

Mấy năm trước, một bài viết khác so sánh nước Tàu & Mỹ, tác giả vô danh tung lên mạng Sina Weibo và được phản ảnh hơn 5000 comments. Tác giả cho rằng nước Mỹ thật lạc hậu trên mọi phương diện so với Tàu. Nào là nền kỹ nghệ phôi thai, không thấy những ống khói khổng lồ như ở nước ta (Tàu); nào là đường sá chẳng thu lệ phí gì; nào là nhà cửa xây mỏng manh, chẳng thấy bê-tông cốt sắt đâu, chỉ toàn gỗ với gỗ. Bài viết nêu lên 17 điểm nghịch lý so với Tàu. Cuối bài, tác giả kết luận đừng sang Mỹ sống làm gì, vì nước Mỹ là một đất nước bán khai, không một chút văn minh nào. Bài viết được David Webtime dịch và đăng trên tờ Tea Leaf Nation.

http://www.tealeafnation.com/2012/09/translation-chinese-writer-sarcastically-calls-americans-foolish-for-being-honest-generous/

Nội dung hai bài viết giống nhau ở điểm châm biếm, chế nhạo. Bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ hệ lụy kinh tế đã gây ra những cảnh ngược đời như giới trẻ học bù đầu bù cổ (thầy cô trả không đủ sống), quan chức cần cù (tiền), nghề mại dâm (kiếm sống), tẩm thuốc, tiêm thuốc cho trái cây chín (cũng lợi nhuận), tiểu đường (văn minh nhưng thật ra hệ thống vệ sinh công cọng là công ích thuộc trách nhiệm của nhà nước)…v..v.

Năm 2012, Daron Acemoglu (GS Kinh tế tại MIT), và James A. Robinson (nhà khoa học chính trị và kinh tế kiêm GS tại Harvard) xuất bản cuốn Why Nations Fail, gây tiếng vang khá lớn trong cách nhà khoa bảng (ứng viên Nobel) về kinh tế. Trong tập sách dày hơn 400 trang, hai ông dành chương 2 để bẻ gãy những lập luận trước đây xác định tình trạng kinh tế của các nước. Mở đầu là câu, “Đối với những nước nghèo, họ nghèo không phải vì hoàn cảnh địa lý hay vì nền văn hóa, hoặc vì những nhà lãnh đạo không biết dùng chính sách nào để làm cho dân giàu nước mạnh.”

Về địa dư, Acemoglu và Robinson bác bỏ lập luận của Montesquieu khi ông ta cho rằng những nước ở miền nhiệt đới vì khí hậu quá nóng nên làm việc mau mệt và từ đó sinh lười biếng. Mà lười biếng thì sinh ra nghèo. Hoàn cảnh địa lý làm những nước này mãi mãi nghèo. Theo Montesquieu, các nước hàn đới thì khá nhất, tiếp theo là ôn đới, và sau cùng là các xứ nhiệt đới về mức độ thịnh vượng, giàu có. Montesquieu không sống lâu để thấy các nước Singapore, Malaysia, Botswana phát triển mạnh vào hậu bán thế kỷ 20 và cho đến tận bây giờ, mặc dù đó là những nước nằm gần đường xích đạo.

Về nền văn hóa, hai ông cũng bác bỏ lập luận của nhà xã hội học Đức nổi tiếng, Max Weber, khi ông cho rằng cuộc Cải Cách Tin Lành (Protestant Reformation, 1517-1648) là yếu điểm cho sự thịnh vượng ở Ậu-châu sau này. Như thế sự kiện không chỉ đơn thuần là tôn giáo mà còn liên quan đến niềm tin, giá trị tinh thần, và đạo đức. Có ai dám nói chính nền đạo lý Khổng giúp cho nền kinh tế phát triển hiện nay của Tàu? Còn nền văn hóa Cao ly thì sao? miền Nam giàu mạnh, còn Bắc Hàn thì chết đói. Cả hai cùng thụ hưởng một nền văn hóa đấy thôi. Ngay cả Nogales, một thành phố cách nhau bởi một biên giới, một bên thuộc bang Arizona, bên kia thuộc Mễ. Dân cư hầu như cùng một chủng tộc, lai Tây-ban-nha, hoặc thổ dân. Thế mà hai sự thịnh vượng khác nhau hoàn toàn.

Sau khi bác bỏ những lập luận không còn hợp thời nữa, hai ông dành chương 13 để kết luận cho cuộc khảo cứu ròng rã trên 10 năm. Mở đầu chương này bằng một chữ nhưng được lập lại 3 lần, “Institutions, institutions, institutions”, “Thể chế, thể chế, thể chế xã hội”. Theo tác giả, chính thể chế xã hội đã gây ra thất bại về kinh tế, (Nations fail economically because of extractive institutions).

Acemoglu và Robinson chia thể chế chính trị trong những nước này làm 2 nhóm khác nhau: nhóm “extractive” thường gọi là nhóm elite rất nhỏ, và nhóm “inclusive” gồm đại đa số công dân (masses, grassroots). Nhóm extractive nên gọi là tập đoàn lãnh đạo, và nhóm inclusive nên gọi là quần chúng. Cần nói thêm là Acemoglu và Robinson dùng extractive chỉ nhóm elite hàm ý bòn rút tài nguyên từ quần chúng (extract resources from people) (khó dịch sát được tĩnh từ extractive).

Những nườc tiêu biểu như Zimbabwe và tập đoàn Mugabe; Sierra Leone và Sir Albert, Siaka Stevens; Somalia và Kediye, Barre; Uzbekistan và dòng họ Karimov… lần lượt gây ra thảm bại về kinh tế cho đất nước họ. Hai ông còn đưa ra những thể chế tại các nước Trung Mỹ, cũng như những nước Đông Âu, thuộc khối Sôviết; ngay cả Nga sô thời cộng sản và cả Tàu.

Phân tích một cách khoa học cọng thêm những con số biết nói hổ trợ cho những lập luận vững chắc khiến độc giả (khá) thú vị trong hơn 400 trang sách. Acemoglu và Robinson còn dành ra chương 5 để nói về sự phát triển kinh tế của Tàu. Theo hai ông, chính extractive institution sẽ làm nền kinh tế Tàu trì trệ, ngưng, và có thể sụp (slowing down, stopping, then perhaps collapsing). Tập đoàn elite sẽ làm thui chột sức sáng tạo của người dân, gây bất bình và mâu thuẫn trong quần chúng. Một khi quần chúng bất mãn, nền kinh tế sẽ dẫn đến ba giai đoạn trên.

Hai bài viết. Hai tiếng chuông. Hy vọng tiếng chuông không vang trong sa mạc nhưng vọng đến những lãnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đất nước. Một khi viết ra chứng tỏ đã nhận thức được. Ngày càng có nhiều người nhận thức được lõi cốt của vấn đề thì cơ may sẽ có thay đổi. Sau nhận thức, nên bắt đầu từ não trạng.

Từ đó sẽ thấy một tương lai xán lạn.

SƠN NGHỊ

TÌNH KHI KHÔNG

trandzalu

(Bài thơ viết từ năm 1973, báo Long An Cuối Tuần đăng lại năm 1996. Xin chia sẻ cùng các bạn)

Cứ tưởng đời ta là đã bỏ
Những ngày lưu xứ sống ngơ ngơ
Ngày đi tiếc nỗi thanh xuân tận
Đêm nằm sầu nhớ mẹ già xưa…

Mẹ già nuôi nấng ta khôn lớn
Vai rộng lưng dài để tha hương
Quê nhà nay tít xa mây chắn
Ở đây buồn lắm nỗi buồn thương

Thời khó đời ta cùng khốn khó
Quê nhà ta có mà như không
Gia đình thèm lắm, không về được
Nên đành làm một kẻ lông bông!

Người xưa ta có mà không đó
Một sớm quên tình mộng viễn phương
Thôi đừng trách chi người áo đỏ
Cứ coi như gió qua đồng không…

Cứ tưởng đời ta là đã bỏ
Những ngày lưu xứ quá phù vân
Khi không mà có người còn nhớ
Tưởng như là én thấy mùa xuân

Những ngày không thấy tin mùa dậy
Cứ tưởng hồn ta xếp cánh chuồn
Khi không mà có người còn thấy
Ta khác nào cây vẫy lá mừng

Người đến khi tình ta hạn hán
Lòng sầu phơi tận gốc đìu hiu
Chợt thấy tình kia là vô hạn
Ta yêu đời rộng lượng bao nhiêu…

Như anh hùng lúc cùng chí tận
Khi không mà gặp gái thuyền quyên
Khi không hồn mới thay hương cốm
Ta yêu người đắm đuối như điên…
(1973)
TRẦN DZẠ LỮ

Giận.

nguyentancu

Nửa đêm thức dậy chỉ muốn bẻ mấy cái chân giường
Chỉ muốn chạy ra đường gào lên những tiếng hú gió
Chỉ muốn tự do như sao mai hát ca cùng vầng trăng rực rỡ
Chỉ muốn khóc vì đã ngủ quá lâu cùng giấc mơ tù ngục
Chỉ muốn nỗi giận thật kinh thiên vì đã quá nhục hèn

Nửa đêm chỉ muốn cháy lên cùng với những tiếng còi hụ
Muốn đánh thức những cơn mê vì đã lâu rồi chưa tỉnh
Muốn tháo hết ngục tù vô hình của những con chim bó cánh
Muốn tháo hết xiềng xích của những con tim đang rên xiết
Hãy thức dậy đi Tự do ơi cùng với mấy cái chân giường

Đã rất lâu rồi im lặng quá những con đường những phố phường
Những chuồng trại Thị thành Thôn quê và khẩu ngôn của lừa mị
Những cú đá dập vào chính bản mặt mình nhân dân tội nghiệp
Chỉ có thể lột hết trần truồng hết cũng không hơn gì hơn trước
Cũng không hơn gì ngoài nước mắt đớn đau của những phận người

Hãy thức dậy sạch trơn thét bùng nỗ tung lên những cơn giận dữ
Đừng dơ nhớp quá bởi thói quen bàng quan lãnh đạm thờ ơ sợ hãi
Đừng lê lết nữa những cơn đau hòa bình trong bàn tay hung bạo
Bàn tay của những con quỉ đang hàng ngày gầm gừ kêu than bóp nát
Những mãnh đất tự do những ngôi nhà đang tan hoang vì cưỡng đoạt
Những cơn giận dữ đang leo thang leo thang cho đến tận chân trời

Hãy thức dậy thôi những bóng đêm ơi cùng với những chân giường
Hãy gom góp chúng thành củi vùng lên đừng ngủ mê và đốt cháy
Hãy giận dữ chỉ thẳng vào mặt những bóng ma của cường quyền
đang ngạ quỉ nhe nanh mài vuốt

Đừng tủi nhục nữa hãy bão lửa lên rừng rực tro than và bẻ gãy
Những xích xiềng đau thương đang thét la đêm ngày tù ngục
Trói buộc TỰ DO của CON NGƯÒI ta bằng những cái chân giường .

Nguyễn Tấn Cứ

LIÊN TƯỞNG KHÚC

vungocgiao

“ một hôm trời đất ngây thơ
thả con châu chấu lên bờ lá xanh “
1.
qua đi một thời lãng bạt
còn đây chỉ rượu và thơ
dạo đàn thản nhiên ta hát
cùng trời đất rất ngu ngơ
2.
ngu ngơ đất trời có biết
trần gian còn một thằng khờ
quanh năm khật khừ , lếch thếch
chơi đàn . uống rượu . làm thơ
3.
làm thơ . chơi đàn . uống rượu
nửa đêm hú gọi trăng mờ
thinh không bốn bề vắng bặt
nghe ra trời đất ngây thơ
4.
đất trời ngây thơ quá đỗi
con châu chấu cũng vật vờ
tiếng đàn – đi , về không lối
ngàn năm còn lạc trong mơ
5.
trong mơ nghe ra rất thật
đất trời sao quá ngây ngô
bỏ quên tháng ngày chết ngất
trên từng cọng cỏ vàng khô
6.
vàng khô trên từng cọng cỏ
trần gian đau nặng bao giờ
người ơi ! người đi có nhớ
một vùng điên dại xác xơ
7.
xác xơ một vùng điên dại
ta về uống rượu . làm thơ
dưới trăng ôm đàn múa , nhảy
hát lời ca ngợi vu vơ
8.
vu vơ hát lời ca ngợi
em xưa thanh khiết ngây thơ
lan xưa hương chùng bối rối
ta xưa chăn chiếu ơ thờ
9.
ơ thờ chiếu chăn một thuở
ta trôi không bến . không bờ
về ngang vườn xưa chợt nhớ
ngàn năm không đợi . không chờ
10.
ngàn năm không chờ . không đợi
ngàn đời không nhận . không cho
hắt hiu một chùm mây nổi
sao trần gian vẫn quanh co ?
11.
trần gian sao vẫn quanh co
quanh co cho đến bao giờ ?
đường về thản nhiên ta hát
một lời kinh hiện như thơ …

vũ ngọc giao

SÀI GÒN THÁNG SÁU

nguyendangtrinh

(thân tặng nhà thơ Trần Thoại Nguyên)

tháng sáu sài gòn rối những chuyến mưa
bất ngờ ghé chơi bất ngờ trốn mất
những cơn mưa tưởng chừng không có thật
như những cuộc tình mới sớm đã trưa

những con đường rợp bóng những tàn cây
mát lối chân ai chiều chiều phố xá
râm bước hẹn hò nhẹ gót heo may
xanh giọt nắng hiền lấp lánh trên tay

tôi nhớ em… nhớ cuộc tình tháng sáu
thời văn khoa mưa nắng xói câu thề
giọt lệ buồn mai xa em cố giấu
lời trăm năm tôi nói để tôi nghe

tháng sáu sài gòn ướt những chuyến mưa
bất ngờ ghé chơi thơm từng thoáng nhớ
bất ngờ quay lưng phai giấc mơ trưa
nên sài gòn tháng sáu chẳng thèm xưa…

nguyễn đăng trình

NHỮNG ĐÊM TRẮNG

khuatdau

nguyenthaihoccogiang

Đêm ở đền Thượng

Đó là một đêm đầu xuân, ánh trăng mỏng quá không soi rõ được mặt người. Những bậc tam cấp cứ nối nhau lên cao, lên cao mãi như vút tận trời. Một đàn chim Lạc từ đâu bỗng bay qua, tiếng đập cánh làm đong đưa những chòm sao xanh biếc.
Đêm thánh vô cùng!

Họ đi lễ đền Thượng.
Lễ vật không có bánh chưng bánh dầy. Chỉ có trầu, cau và hai trái tim thắm đỏ.
Chàng nói, “hôm nay, anh cưới em”!
Nàng nói, “em cũng cưới anh, hôm nay”!
Họ cùng nói, “thưa quốc Tổ, chúng con xin cưới nhau”!
Nghe như có tiếng cười từ ái reo vui của các vua Hùng.
Chàng nói, “anh nghèo lắm, chỉ có món quà nhỏ này làm sính lễ. Nó sẽ thay anh bảo vệ em”!
Chàng nâng khẩu súng lục lên trước mặt. Nàng xòe tay ra như hoa quỳnh đón lấy, rồi áp cái kỷ vật lạnh ngắt vào giữa ngực mình.
“Em cũng nghèo lắm, chỉ có cái chết để đền ơn anh”.
Lập tức, chàng khóa miệng nàng bằng đôi môi dày, nóng rực, để cái tiếng “chết” kia không bao giờ thoát ra được nữa.

Nhưng cưới nhau vậy thôi, chứ họ là hai kẻ không nhà.
Họ đành ngồi bên nhau suốt đêm, chờ sáng.
Cũng ấm ức lắm, cũng thèm thuồng lắm.
Cũng muốn lấy cổng tam quan làm nhà, lấy nền gạch làm giường, lấy bóng đêm làm chăn màn để thực sự là của nhau.
Cũng muốn đã yêu là yêu cho tới bến, đã cho là cho đến tận cùng.
Nhưng đêm yên lành và thiêng liêng quá. Họ chỉ có thể cởi bỏ mọi buộc ràng, mọi lo toan, để hai tâm hồn bận rộn được ngơi nghỉ đôi chút bên nhau mà thôi.

Khi ánh ngày lên, nàng thấy chàng là ông cụ áo the thâm đeo mục kính, chàng thấy nàng là một chị nhà quê váy đụp, chít khăn mỏ quạ. Cả hai nhìn nhau, kín đáo nở một nụ cười thầm.
Rồi như hai kẻ xa lạ chưa hề gặp nhau bao giờ, nàng xuống Đông, chàng ngược lên Đoài Tiếp tục đọc →