Chạy đi cánh đồng

con đã chạy về phía cánh đồng
chân trần và đầy vết xước
bước vương hương mạ non và có bước nhỏ máu
quay đầu lại mùa mưa…

quê nghèo trùng trùng thâm quầng lên mắt mẹ
có phải không mẹ,
bên kia là bầu trời
bên kia đá cũng biết khóc…
cánh cò trắng mang củi lửa ra đồng đốt bớt chút long đong

con đã chạy qua mấy tuổi người
mới hay mình thiếu mẹ
vạt áo nâu sòng phẳng lòng con nghẹn đắng
ai gọi đò
hay là tiếng hư không


con phải chạy qua mấy đỉnh buồn nữa mới đến chiếc võng cuối trời
gió mùa này đong vào con tím bầm câu cổ tích
mẹ ơi
hay con quỵ xuống giữa đồng để biết mẹ mênh mông…

Trần Đức Tín

Món Quà Ngày Chủ Nhật

Trong những năm gần đây ở Sài gòn các vị lãnh đạo tôn giáo đua nhau xuống đường biểu tình loạn xà ngầu khiến tôi đâm ra ngao ngán coi nhẹ tôn giáo và xem thường đức tin của mình.  Tôi là Phật tử nhưng chỉ đi chùa khi phải đưa mẹ đi, giỏi lắm là một năm ba lần:  Tết nguyên đán, lễ Phật đản, và lễ Vu lan.  Tôi cũng đi nhà thờ Công giáo một năm đôi ba lần khi có bạn rủ đi.  Giáng sinh đi lễ nửa đêm là dịp đáng nhớ nhất:  Hai phe đồng ý hưu chiến, lệnh giới nghiêm tạm đình chỉ, và mọi người đổ xô ra đường hưởng đêm “Sài gòn không giới nghiêm” ngắn ngủi.  Những lần đó, các bạn gọi nhạo tôi là dân “đạo dòng” – đi lòng dzòng mua vui.

Tôi chưa bao giờ đi nhà thờ Tin lành và hầu như không biết gì về đạo này.  Ngoại trừ các bạn người Mỹ, tín đồ Tin lành duy nhất tôi quen là Thanh Phú, người yêu cũ của thằng Tú bạn tôi.  Nàng dịu dàng và hiền lành, không bao giờ than vãn điều gì hay trách cứ ai, và đặt đức tin tuyệt đối vào đấng tối cao,

“Chúa an bài mọi việc, mỗi việc Người sắp đặt đều có mục đích riêng, và làm con của Người trên thế gian phải tin tưởng vào sự sáng suốt của Người.”

Tôi nhớ ngày tôi lên tám, học lớp nhì (lớp 4) trường Vinh Sanh thuộc nhà thờ Chánh tòa Qui Nhơn, và trên đường đi học về, đi ngang qua một bãi đất trống và tò mò dừng lại xem cặp vợ chồng mục sư Tin lành người Mỹ giảng đạo với đám đông gồm trẻ em và người nghèo khổ rách rưới.  Sau khi phân phát các gói bột bắp lớn và một đống áo quần cũ màu sắc lòe loẹt rộng thùng thình, ông mục sư nhắm tít mắt, đưa hai tay thành chữ V lên trời, và cất cao giọng nói tiếng Việt lơ lớ,

            “Các con hãy đến đây, hãy cùng ta ca ngợi Đức Chúa Trời.  Hãy tin vào Chúa, hãy làm con của Ngài.  Để được Ngài cứu rỗi, và linh hồn được giải thoát.  Đến đây, đến đây!”

Những kẻ khốn khó co ro đứng sắp hàng “tin vào Chúa” để lãnh 20 đồng, món tiền vừa đủ mua năm cuốn vở học trò 100 trang.  Bao bột bắp tôi lãnh về nhà lần đầu bị mẹ bắt đi đổ vì “để chật nhà” và không biết dùng làm gì.  Áo quần cũ người lớn lãnh về có lẽ cũng chịu chung số phận.  Những tuần lễ kế tiếp, ông mục sư tiếp tục rao mời như trước, và hàng người xin “được cứu rỗi” vẫn là những người đã lãnh tiền tuần trước, và tuần trước nữa.  Hình như đối với ông bà mục sư, khuôn mặt An nam nghèo đói xác xơ nào cũng giống nhau.  Tôi kể lại với mẹ giữa lúc mẹ đang nói chuyện với mấy bà bạn hàng xóm.  Một bà nhổ phẹt bãi nước trầu, lấy ngón tay vét môi, và cười khì khì,

            “Mấy chị ơi, đạo giáo chi mà cho phép cha cố lấy vợ đẻ con?  Đêm lục đục với vợ mệt phờ râu và ngày lo cơm nước gạo tiền cho vợ con thì còn đâu tinh thần mà dẫn dắt con chiên?”

            “Chị nói y hịch ý tui!  Muốn có vợ thì dù là cha cố cũng phải ve vãn kén chọn cô này cô nọ, tránh sao khỏi ba cái dzụ mèo chuột ghen tương.  Tưởng tượng ông cha đứng giảng kinh trong khi mấy cô chửi bới giành ‘cha’ ầm ỹ bên dưới, tui tức cười bể bụng,” một bà khác bập bập điếu thuốc Cẩm lệ bàn góp.

Chuyện ấy, tôi nhớ mãi.  Nhưng trời không chiều lòng người, ghét của nào trời trao của ấy.  Mặc dù tôi nhất định không dính dáng tới các cơ quan thiện nguyện đại diện tôn giáo, cơ duyên dun rủi khiến tôi được Cơ quan Di trú và Tỵ nạn Lutheran của đạo Tin lành tìm kiếm để bảo trợ.  Lúc ở bên nhà, tôi nghe nói mục sư Tin lành “Baptist” truyền giáo cho người Thượng trên vùng cao nguyên, nhưng chưa hề nghe tên “Lutheran.”  Trong trại Trại Pendleton, tôi học được Lutheran là giáo phái Tin lành lớn gắn bó chặt chẽ với giáo huấn của nhà thần học người Đức Martin Luther (1483 – 1546).  Ông là người đầu tiên hô hào phong trào cải cách đạo Thiên chúa, bác bỏ uy quyền của Giáo hội Công giáo La Mã và giáo hoàng, và khởi nguyên đạo Tin lành.

Lutheran và Baptist, cùng với sáu giáo phái khác như Adventist, Anglican, và Methodist là tám giáo phái Tin lành chính ở Hoa kỳ.  Ngoài ra, còn có trên một chục giáo phái Tin lành nhỏ hơn như Quaker và Irvingian, và vô số tòng phái.  Các tòng phái rất đa dạng, thường bắt buộc hay khuyến khích giáo đồ theo một nếp sống khác biệt nào đó, và hành đạo dưới nhiều danh xưng khác nhau như “nhà thờ,” “quy ước,” “hội đồng,” “nhà,” “liên minh,” và “hội tín hữu.”  Những giáo phái và tòng phái Tin lành hoạt động riêng rẽ, độc lập với nhau, và có quy luật, tín điều, và cách thờ phượng riêng, tuy tất cả đều tin Chúa Giê-su là đấng cứu thế.

Hôm nay là Chủ Nhật, ngày thứ ba tôi ở Bismarck.  Buổi sáng, ông Gardner đến đón gia đình tôi đi nhà thờ và cho biết tôi sẽ có một tiết mục trong buổi lễ.  Nhà thờ Ba ngôi Lutheran nằm cùng một khu phố với nhà tôi ở, qua khỏi sân sau là tới bãi đậu xe của nhà thờ.  Gia đình tôi ngồi ở hàng ghế dài đầu tiên trong nhà thờ với ông bà Gardner, ông là Chủ tịch ban Trị sự của nhà thờ Ba ngôi Lutheran.  Trong bộ áo lễ màu trắng viền đen trang trọng, Mục sư Nielsen đứng chủ lễ.  Lễ Tin lành ít theo nghi thức hơn lễ Công giáo tôi có dịp dự, và tín đồ hát thánh ca nhiều hơn.  Trong tiếng đàn đại phong cầm, lời thánh ca thanh thoát nhẹ nhàng mà tôn nghiêm.  Bài giảng của mục sư chú trọng quanh nghĩa vụ của tín hữu Thiên chúa giáo giúp đỡ những kẻ khốn khó mà không mong đợi được đền đáp.  Đặc biệt, ông nói, những người cần giúp đỡ hiện tại là gia đình tỵ nạn Việt nam mới tới; đó là chúng tôi.

Cuối bài giảng, ông Nielsen cầm một số báo Newsweek và đưa lên cao.  Cùng với tờ Time, Newsweek là một trong hai tuần san nổi tiếng phát hành tại Hoa kỳ và lưu hành khắp thế giới.  Số Newsweek đăng bài viết của Shana Alexander (1925 – 2005) về người tỵ nạn Việt nam, cô ký giả lo ngại họ chưa biết sử dụng máy giặt và máy sấy quần áo và không biết Michelangelo là ai thì làm sao sống nổi ở đất Mỹ.  Ông mục sư lên giọng,

Bài báo này tượng trưng cho sự hợm hĩnh và lòng ích kỷ mà Chúa dạy phải lánh xa.  Hôm qua, Bà Nielsen và tôi thù tiếp gia đình tỵ nạn của chúng ta và được hưởng một buổi tối thú vị.  Họ là những người thông minh nhất mà tôi gặp, và hai cô gái nấu ăn tuyệt vời.  Ba Hoa, chúng tôi may mắn được có gia đình anh ở đây.

Trên bục giảng kinh, ông Nielsen quay mặt xuống nhìn tôi; “Bà Nielsen” là bà Lorene vợ ông.  Tôi suy nghĩ về bài báo và nhủ thầm, học cách sử dụng máy giặt máy sấy không thể mất hơn dăm ba phút đồng hồ, sao làm như ghê gớm lắm?  Michelangelo là điêu khắc gia, họa sĩ, kiến trúc sư, và thi sĩ người Ý Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (1475 – 1564) sống vào thời Phục hưng ở Âu châu, công trình của ông gây ảnh hưởng vô song vào sự phát triển nghệ thuật tây phương.  Nhưng có phải người Mỹ nào cũng biết đến nhà nghệ sĩ đại tài này đâu, phần nào thôi chứ!

Tiếp theo, ông Gardner lên trình bày vắn tắt cuộc hành trình tìm tự do của gia đình tôi, ca ngợi chúng tôi là “những kẻ can đảm nhất,” gọi tôi là “người anh hùng” đã dẫn dắt gia đình đến nơi chốn an toàn, và cho biết cha mẹ đang ở trong trại Đồn Chaffee ở tiểu bang Arkansas và,

Nhà thờ Ba ngôi sẽ tiến hành việc bảo trợ ông bà ra đoàn tụ với các con, một khi Ba Hoa kiếm được việc làm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho gia đình.

Nghĩa là muốn sớm gặp lại mẹ, tôi sẽ phải có việc làm càng sớm càng tốt.  Đến lượt tôi, tôi giới thiệu Quỳnh Châu và các em, cám ơn họ đạo đã bảo trợ và giúp đỡ chúng tôi trong bước đầu sống nơi xứ lạ, và ước vọng,

Hôm nay chúng tôi là người tỵ nạn, nhưng chắc chắn ngày mai chúng tôi sẽ là những công dân xứng đáng, góp sức xây dựng Hiệp chúng quốc Hoa kỳ ngày càng tốt đẹp hơn.

Sau lễ, chúng tôi theo ông Gardner xuống tầng hầm nhà thờ, vào một phòng hội lớn, dùng bánh ngọt và rượu táo hâm nóng và cà-phê, và gặp gỡ các người trong họ đạo.  Vừa vào phòng, các em tôi được mấy nhóm thanh niên trẻ cùng trang lứa chào đón và đưa về bàn mình trò chuyện.  Riêng Bình, không hổ là giáo sinh ban Anh văn của một đại học uy tín ở Việt nam, em duyên dáng và lưu loát kể chuyện di tản, và những người bạn mới kính phục nhìn em như muốn uống từng lời nói.  Ước chi tôi chụp được tấm hình cảnh nói chuyện đó để gửi cho tờ Newsweek.

Tôi và Quỳnh Châu tiếp những người lớn tuổi hơn.  Họ bắt tay chúng tôi và chào mừng, chúc mừng, và chúc may mắn trong những ngày sắp tới.  Sau cùng, một anh khoảng ba mươi tuổi, người cao lớn dềnh dàng, và giọng nói oang oang đến tự giới thiệu là Mike (tên tắt của Michael).  Anh làm giáo sư trường trung học Bismarck và tuần tới sẽ lo việc ghi tên cho hai em Lâm và Trọng đi học; anh hỏi tôi,

            “Tôi đọc tập sách về người tỵ nạn Đông dương do bộ Ngoại giao phân phối thì thấy nói phần lớn người Việt ở trong những túp lều tranh ở ngoài đồng.  Điều này có đúng không?”

            “Đúng, nhưng vào khoảng . . . ba hay bốn trăm năm trước, ngày Hoa kỳ chưa ra đời.  Lúc ở trong trại tỵ nạn, tôi cũng đọc tập sách đó và vô cùng ngạc nhiên khi thấy một tài liệu do chính phủ Hoa kỳ ấn hành mà lại chứa nhiều dữ kiện quá ư lỗi thời đến thế.  Tôi xem phần tài liệu tham khảo thì thấy tác giả dùng toàn sách cổ do người Pháp viết từ thế kỷ thứ 17 hay 18,” tôi cười nửa miệng lắc đầu.

            “Tôi cũng thấy nói khi gặp các em bé thì không được xoa đầu vì đó là điều tối kỵ.  Tại sao?” Mike hỏi thêm.

            “Tôi không biết, có lẽ là tục kỵ vào một thời xa xưa nào đó.  Dầu sao cũng không nên xoa đầu một cậu bé và làm rối bù mái tóc của cậu ta,” tôi nói đùa.

“Tôi không lấy làm lạ đâu Ba Hoa.  Ở xứ Mỹ này, ai cũng nói công chức quan liêu của chính phủ liên bang chẳng mấy khi làm được việc gì cho đàng hoàng,” Mike kết luận.

Chiều Chủ Nhật, khách tới nhà tôi nườm nượp.  Người trong họ đạo mang tặng chúng tôi đủ thứ áo quần và đồ dùng trong nhà.  Áo quần được giặt sạch và gấp xếp thẳng thớm hay nằm ngay ngắn trên móc áo, phần lớn đã dùng một vài lần, nhưng có một số còn mới toanh và còn nguyên nhãn – với giá tiền đã được cẩn thận lấy ra.  Trong số các đồ dùng, những dụng cụ nhỏ như máy đánh trứng làm bánh, máy xay trái cây, bàn ủi, v.v. được đóng gói trong hộp nguyên thủy và còn tờ chỉ dẫn cách sử dụng.  Quà tặng đi kèm theo với những lời chúc lành thiết tha, những câu an ủy chí tình, và lời lẽ khiêm tốn khiến chúng tôi cảm động vô cùng.  Có người cám ơn chúng tôi đã đến và cho người Mỹ thấy tự do không phải tự nhiên mà có.  Một ông trạc dưới bốn mươi (sau này tôi mới biết làm bác sĩ) đưa cho tôi chiếc phong bì đựng tờ bạc một trăm đô la kẹp trong tấm thiệp ghi “A gift of love” (Món quà yêu thương).  Ông mong tôi nhận tiền mà đừng phiền lòng, vì đáng lẽ ông phải đưa tôi đi mua đôi giày mới.  (Có lẽ ông thấy đôi giày há mõm lúc tôi lên phát biểu ở nhà thờ.)

Lần đầu tiên tôi hiểu thấm thía câu ngạn ngữ Pháp “Cách cho còn hơn của đem cho” (La façon de donner vaut mieux que ce qu’on donne), câu nói của nhà soạn kịch người Pháp Pierre Corneille (1606 – 1684).  Cùng với Molière và Racine, Corneille là một trong ba nhà soạn kịch vĩ đại nhất của Pháp vào thế kỷ thứ 17.  Từ cách cho của họ đạo, món quà quý giá nhất tôi nhận được hôm nay là tấm lòng nhân ái giữa người và người, không phải giữa người bảo trợ và người tỵ nạn.  Món quà ấy tôi dùng mãi dùng hoài trong đời, không bao giờ vơi cạn.

Riêng về “món quà” phủ đầu của Shana Alexander, tôi cũng luôn luôn mang theo trong mình.  Nhờ cô mà trong suốt 37 năm làm việc và đi học ở North Dakota, tôi nguyện với lòng lúc nào cũng phải giỏi hơn người Mỹ trong hoàn cảnh tương tự – và tôi đã thành công.  Nhưng tôi không biết ơn cô hay tờ Newsweek.

Nguyễn Ngọc Hoa                       

CHỢ LẠC SÔNG MƠ

Ngồi Giữa Chiều Cô Tịch

Chiều nay ngồi giữa chiều xa xứ
Chén rượu buồn tênh chạnh nhớ người
Cổ nhân cuồng sĩ thiên bôi thiểu
Sao bỏ mình ta giữa đất trời

Đâu phải vì thơ, đâu phải bạn
Rượu đời chảy mãi chẳng vì đâu
Ta cũng chỉ là tên mạt vận
Uống hoài mà không nhẹ niềm đau

Đâu phải vì ngươi đâu phải ta
Rượu thiên thu chảy suốt thiên hà
Ta đứng bên trời vai áo bạc
Nhớ màu khói nhạt cuối quê xa

Đâu phải vì em đâu phải người
Rượu giang hồ chén cạn chén vơi
Chén cuối trời Nam mơ biển Bắc
Ai rót đầy ta chén ngậm ngùi

Đâu phải màu hoa xưa đã phai
Áo chiều xưa đã nhạt đã nhàu
Mà ta lận đận phương trời lạ
Đời vẫn còn nhoi nhói vết đau

Chiều nay ngồi giữa chiều cô tịch
Chẳng uống mà say đến chạnh lòng
Dẫu bỏ trăm năm về với đất
Ta còn xanh mãi những chờ mong.

Lê Văn Trung

XIN TÌNH LÀ QUÁN TRỌ CỦA TRĂM NĂM

Lòng cứ ngỡ đời vui là quán trọ
Ta ghé vào xin cạn chén cùng ai
Em, chủ quán, có chờ mong mòn mỏi
Ngồi cùng ta, em nhé, một đêm dài

Em là quán? Hay lòng em là quán
Ta giang hồ, khách lạ, bốn phương xa
Thôi hãy uống sá gì quen với lạ
Hãy quên ta, một viễn khách không nhà

Ta trăm năm hoài phí một đời thơ
Câu ái, câu ân, nghe buồn đứt ruột
Câu duyên nợ đã đành cam vụt mất
Ta giang hồ tay trắng cả tình xưa

Em là quán? Xin tình em là quán
Cho ta ngồi tạm lại một đêm vui
Cho ta thắp lòng nhau trăm ngọn nến
Sáng lung linh cho ấm cuộc tình người

Em là quán? Xin hồn em là quán
Cho ta tìm trong ký ức mù sương
Của đôi mắt thuở vàng thu đăm đắm
Thuở tình xưa vời vợi mộng hoang đường

Em là quán? Xin đời em là quán
Rót giùm ta ly rượu chảy trăm năm
Ta bỏ lại bên kia bờ quên lãng
Xin tình xưa còn mãi mộng nguyên rằm.

Lê Văn Trung

EM VỀ NÉP BÓNG THANH XUÂN

nắng khởi thuỷ cho một ngày đông xám
ngón liêu trai anh mò mẫm nhọc nhằn
cuộc trăm năm nhờ tay em bóp vụn
hạnh phúc mơ hồ theo khói chực tan

trên dung nhan gầy hao thân cổ tích
mỗi ngón tay run rẩy bấu hư phần
chia sám hối dâng lên tròn hỷ lịch
tỳ bà đêm nhỏ xuống cội xuân rằm

em biền biệt theo chân ngày gió lạ
thổi cơn mơ về sau núi lưu thân
thành phố ấy đã xưa từng bóng lá
vỉa hè đen soi cọng cỏ rã vàng

anh tất bật chạy theo âm vực trắng
từng nốt rời trơ miệng níu thanh âm
lẩy nốt cuối ru khúc tình dịu mặn
đưa em về nép bên bóng thanh xuân

Lê Hát Sơn

VỞ DIỄN CƯỠNG ĐOẠT CHỨC “TRƯỞNG NAM CỦA ÔNG NAM HẢI”

SAU CƠN BÃO LŨ

Vất vưởng đi qua cánh đồng không
tôi tìm bông lúa của tôi
trên đồng xưa một thời thơ ấu.

Tôi nghe nỗi đau của tôi
trong tiếng khóc của bờ đê ruộng lúa
sau cơn bão lũ.

Nước đổ về tự ngàn xanh
cho niềm vui trên từng luống mạ
và tự do bay lên cùng khúc hát đồng dao
tiếng chày giã gạo
trong những đêm trăng
là lẽ sống tình quê.

Tôi vất vưởng đi qua cánh đồng
nghe nỗi đau trong tiếng khóc của loài ếch nhái
tự do trên những luống cày
đã mất đi từ bàn tay nấm độc.

Tôi muốn hát bài ca của con châu chấu
bài ca của con chim vui hát trên cành
tôi muốn hát bài ca của con chuồn chuồn
sau cơn mưa lũ
thủa trên đồng có những bông hoa
ngào ngạt hương thơm niềm vui con trẻ.

Tôi vất vưởng đi qua . . .
nghe lòng mẹ quặn đau ngàn xưa hố thẳm
trong vực sâu của linh hồn mẹ
lòng khoan dung chớp bể mưa nguồn.

Và cơn lũ không tự trời cao
và bão giông không từ biển xa
cơn lũ cuồng xâm của một loài quỷ dữ
đã cuốn đi cánh đồng thơ ấu
đã cuốn đi tự do của chuồn chuồn châu chấu
đã cuốn đi đất nước của tôi.

Trên đồng ruộng hoang vu
tôi !
Con chim côi sau cơn bão lũ
vật vờ bay giữa hoàng hôn
kêu nỗi đau của châu chấu chuồn chuồn.

                                                      VƯƠNG  KIỀU


Má Đi Dù Nhẹ Như Cơn Gió


Sáng nay… tin Má về thiên cổ
Con đứa nào xa cũng nghẹn ngào!
Con đứa nào gần bưng mặt khóc
Gọi lời cuối Má!  Tưởng chiêm bao!

Ai nói trần gian là cõi ảo?
Ảo huyền, êm dịu, thế này chăng?
Má đi dù nhẹ như cơn gió
Mà cháu mà con lệ tã tầm!

Má muốn theo Ba, Má nguyện hoài
Ba không hề muốn Má xa đây!
Má ơi con biết lòng Ba Má
Trời Phật không hề muốn tách hai…

Thôi Má cứ đi, lòng Má muốn
Nào ai cứu Má phút lâm chung?
Con về chắc kịp cầm tay Má
Má ạ lòng con đã nát lòng…

Tôi làm gửi bạn bài thơ tiễn
Đau chớ niềm đau khó thể chia!
Đến nước mắt còn không thể cạn
Trăng tà không chỉ một đêm khuya…

Ngân Hà hãy khóc tha hồ khóc
Nhang có tàn hương nhớ thắp thêm…

Trần Vấn Lệ

Tôi là màu đỏ – Orhan PamukOrhan Pamuk-

Orhan PamukOrhan Pamuk, trước khi là nhà văn ông là họa sĩ, vì thế chẳng lạ gì khi đa số tác phẩm của ông đều có tựa đề liên quan đến màu sắc. Trắng như Tuyết (Snow) và Lâu Đài Trắng (The White Castle). Đen như Quyển Sách Đen (The Black Book). Đỏ như Tên Tôi Là Màu Đỏ (My Name Is Red). Tập tiểu luận của ông có tựa đề là Những Màu Sắc Khác (The Other Colors). Được giải Nobel văn chương năm 2006. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Pamuk là “My Name Is Red.” Toàn quyển sách này ông chỉ có một chương nói về màu đỏ và tiêu đề của chương này được dùng làm tựa đề của quyển sách. Tương tự như Yasunari Kawabata chuyên lồng vào tác phẩm văn hóa Nhật Bản, Pamuk viết về lịch sử và văn hóa của Turkey. Cả hai đều được giải Nobel.

Tôi xuất hiện trong Ghazni[1] khi nhà thơ Firdusi[2] tác giả của Book of Kings[3] viết dòng cuối cùng của một bài tứ tuyệt có vần điệu đẹp nhất, hơn hẳn nhà thơ của hoàng gia Shah Mahmud, người đã chế nhạo Firdusi chẳng ra cái thớ gì mà chỉ là anh nông dân quèn. Tôi cũng có mặt ở trên cái túi da chứa quyển Book of Kings của Rüstem khi ông lặn lội khắp nơi để tìm con ngựa đi lạc của ông; tôi biến thành máu phun ra khi ông chém con quái vật đứt đôi bằng cây kiếm thần; và tôi cũng có mặt bên trong nếp gấp của tấm chăn phủ giường, trên tấm chăn này ông đã yêu đương say đắm với nàng công chúa xinh đẹp, con của vị vương, người đã đón nhận ông như thượng khách. Thật sự và sự thật. Tôi đã từng và vẫn đang xuất hiện khắp mọi nơi. Tôi xuất hiện lúc Tur phản bội và chém đầu người anh tên Iraj; lúc đoàn quân lừng danh, xuất hiện bất ngờ và kỳ bí như trong giấc mơ, chiến đấu trên những thửa ruộng bậc thang, và trong dòng máu tươi thắm của Alexander chảy ra từ lỗ mũi vì bị say nắng. Vâng, Shah Behram Gür, suốt cả tuần, mỗi đêm ngủ với một người đàn bà, người nào cũng nhan sắc tuyệt trần, dưới căn lều có mái vòm mang nhiều màu sắc của một vùng đất xa xôi, lắng nghe câu chuyện các người đẹp này kể lại, và tôi cũng có mặt trên bộ y phục của nàng trinh nữ đẹp tuyệt trần, người vị vương này đến gặp vào ngày thứ Ba, và đã đem lòng say mê ngay lần đầu tiên khi nhìn thấy tấm ảnh của nàng, tôi đã xuất hiện từ trên vương miện cho đến cái áo bào của Hürev người đã phải lòng khi nhìn tấm ảnh của Shirin. Người ta cũng từng nhìn thấy tôi trên lá cờ hiệu của các đoàn quân đang vây hãm thành trì, trên tấm khăn trải bàn được dùng trong những buổi đại yến, trên áo dài thùng thình của các vị đại sứ lom khom hôn lên đôi bàn chân của các vị sultans, trên bất cứ chỗ nào của thanh gươm đã được miêu tả trong những câu chuyện cổ tích mà trẻ con yêu mến. Vâng, những chàng họa viên đẹp trai, có đôi mắt hình hạt hạnh nhân, đã dùng các cây cọ mỏng manh, phết tôi lên trên những trang giấy dày sản xuất ở Hindustan và Bukhara; Tôi trang hoàng những tấm thảm Ushak, điểm tô những bức tường, mấy cái mào gà chọi, quả lựu, các loại trái cây của những vùng đất thần tiên, bên trong mồm của Satan, những nét viền quanh khung của bức tranh, trên mũi thêu ẻo lả vòng quanh tấm vải dựng lều, những đóa hoa nhỏ li ti mắt thường không thể nhìn thấy, tất cả chỉ để thỏa mãn đôi mắt tinh tế của các họa sĩ, trên áo của các phụ nữ nhan sắc tuyệt trần với những cái cổ thiên nga thò đầu qua các khung cửa sổ ngắm nhìn đường phố, trên những đôi mắt làm bằng trái anh đào chua của mấy con chim tượng tạc bằng đường, những đôi vớ (tất) của các người chăn súc vật, những buổi hừng đông của truyện cổ tích và trên thi thể hay vết thương của hằng vạn, không, hằng mười vạn tình nhân, chiến sĩ, và vua chúa. Tôi thích tham gia những trận giao tranh nơi mà máu túa ra như những đóa hoa anh túc đang hồi đua nở; xuất hiện trên những chiếc áo khoác của các nhà thơ danh tiếng đang thưởng thức âm nhạc ở các vùng quê ngoại thành, du ngoạn cùng với những chàng trai xinh đẹp và các thi sĩ đang thưởng thức rượu bồ đào. Tôi thích minh họa những đôi cánh của thiên thần, đôi môi của các nàng trinh nữ, vết thương của các tử thi, và các thủ cấp vẫn còn vương lấm tấm máu đào.Tôi nghe câu hỏi trên môi bạn: Cảm nghĩ của tôi như thế nào khi tôi là một loại màu?Màu là cái vuốt ve của mắt nhìn, âm nhạc của người điếc, một từ ngữ xuất hiện từ bóng tối. Bởi vì tôi lắng nghe từ tiếng thầm thì của những linh hồn – như những tiếng rì rào của gió – từ quyển sách này đến quyển sách khác, từ đồ vật này đến đồ vật khác, xin cho phép tôi được nói rằng cái vuốt ve của tôi cũng giống như cái vuốt ve của thiên thần. Một phần của tôi, cái phần nghiêm chỉnh, kêu gọi ánh nhìn của bạn, trong khi phần còn lại, cái phần thích vui đùa trêu chọc, bay bổng lên không trung qua cái liếc nhìn của bạn.Tôi thật là may mắn được làm màu đỏ! Tôi dữ dội. Tôi mạnh mẽ. Tôi biết loài người chú ý đến tôi và tôi không thể kháng cự sự chú ý này.Tôi không tự trốn tránh: đối với tôi, những vấn đề tế nhị sẽ không được thành công bằng bản chất yếu đuối hay ngấm ngầm, mà trái lại, bằng sự quyết đoán và ý chí. Vì thế tôi luôn luôn tìm cách lôi kéo sự chú ý đến bản thân tôi. Tôi không sợ hãi các màu sắc khác, bóng tối, đám đông hay sự cô đơn. Thật là sung sướng vô cùng khi được bao trùm một diện tích, một chiều rộng đang đợi chờ tôi và bản chất chiến thắng của tôi! Bất cứ chỗ nào tôi lan tỏa ra, tôi nhìn thấy những đôi mắt sáng ngời, đam mê tăng trưởng, những đôi chân mày nhướng lên và nhịp tim đập nhanh hơn. Thấy chưa, sung sướng biết bao nhiêu được hưởng thụ cuộc sống. Thấy chưa, sung sướng biết bao nhiêu được nhìn thấy vạn vật. Thấy chưa: Sống có nghĩa là nhìn thấy. Tôi có mặt ở khắp nơi. Cuộc sống bắt đầu từ nơi tôi và quay trở về với tôi. Hãy tin vào những điều tôi kể cho bạn biết.Hãy yên lặng và lắng nghe cái cách mà tôi trở thành cái màu đỏ tuyệt diệu này. Một họa sĩ bậc thầy chuyên minh họa tranh ảnh nhỏ, một chuyên viên về sơn màu, đã dùng cối và chày, cố hết sức giã cho nhuyễn nhừ mớ xác khô của loài bọ hung màu đỏ sống trong vùng nóng nhất của Hindustan. Ông ấy muốn thu thập 5 drachmas[4] bột màu đỏ, 1 drachma soapwort[5], và ½ drachma của lotor[6]. Ông ấy nấu soapwort chung với ba kí lô nước lã cho sôi lên. Sau đó ông cho lotor vào ấm nước ấy và nấu tiếp, trong khoản thời gian người ta nhâm nhi thưởng thức một cốc cà phê hảo hạng. Trong lúc ông ấy thưởng thức ly cà phê, tôi trở nên mất kiên nhẫn như một đứa trẻ đòi ra đời. Ly cà phê làm trí óc của ông trở nên sáng suốt và mắt của ông cũng tinh tường như mắt của jinn[7]. Ông rải chất bột màu đỏ vào trong ấm nước và cẩn thận khuấy dung dịch này bằng một chiếc que rất mỏng và rất sạch được dùng riêng cho công việc này. Tôi đã sẵn sàng để trở nên màu đỏ, nhưng vấn đề là độ đậm đặc của tôi rất quan trọng. Không nên để chất lỏng này sôi mãi cho đến cạn. Ông ấy nhúng đầu của chiếc que vào trong dung dịch và đặt nó lên trên đầu móng của ngón tay cái (tất cả móng của các ngón tay khác đều không được chấp nhận). Ôi, thật là vạn hạnh được là màu đỏ! Tôi khéo léo sơn móng tay cái không để nó chảy lan xuống mép ngón tay mà phí phạm. Tóm lại, độ đậm đặc của tôi đã vừa đủ, nhưng tôi vẫn còn chứa nhiều bụi cặn thừa. Ông nhấc cái ấm ra khỏi bếp lò rồi lọc tôi bằng tấm vải người ta dùng để lọc phó mát, khiến tôi trở nên trong sạch hơn. Sau đó ông lại nấu tôi cho sôi đến sủi bọt hai lần nữa. Sau khi ông cho thêm vào một nhúm bột alum[8] ông để cho tôi nguội dần.Vài ngày trôi qua, và tôi nằm yên lặng trong chảo. Dự đoán là mình sẽ được dùng vào các tranh vẽ, được dàn trải khắp nơi và trên đủ mọi thứ, lại phải ngồi im một chỗ như vầy làm tâm hồn tôi tan nát. Chính trong thời gian yên lặng này tôi đã suy nghĩ về ý nghĩa của sự mang danh màu đỏ.Có lần, ở một thành phố của Ba Tư, tôi được phết lên cọ của một người học nghề, để vẽ lên bức tranh thêu của tấm thảm che phủ yên ngựa, do một vị thầy chuyên minh họa tranh nhỏ đã bị mù, thực hiện bức tranh bằng trí nhớ của ông ấy, và tôi nghe lóm từ cuộc tranh luận của hai vị thầy hội họa bị mù này:
“Chúng ta dâng hiến cả cuộc đời, đam mê và trung thành làm họa sĩ, rồi vì phải dùng mắt quá độ, dần dần trở nên mù lòa, chúng ta biết được màu đỏ ra làm sao và nhớ được màu sắc cũng như cảm giác của mỗi màu sắc gây nên,”
họa sĩ chuyên vẽ ngựa bằng trí nhớ nói, “nhưng nếu chúng ta bị mù từ khi mới sinh ra thì làm sao chúng ta có thể hiểu được cái màu đỏ mà anh chàng họa viên đẹp trai kia đang dùng?”
“Một câu hỏi quá hay,” người kia nói. “Nhưng ông đừng quên là chúng ta không thể dùng trí óc để hiểu về màu sắc mà chỉ có thể dùng cảm giác để cảm nhận thôi.”
“Ông thầy thân mến ơi, làm sao giải thích về màu đỏ cho một người chưa hề biết màu đỏ là gì?”
“Nếu chúng ta lấy đầu ngón tay chạm vào nó, nó cho ta cảm giác như sờ một chất gì đó nửa giống sắt và nửa giống đồng. Nếu đặt nó lên lòng bàn tay, ta sẽ có cảm giác cháy bỏng. Nếu nếm nó, ta sẽ có cảm giác đầy đặn no đủ, như ăn thịt muối. Nếu đặt nó lên môi, nó sẽ cho cảm giác đầy mồm. Nếu chúng ta ngửi, nó sẽ có mùi của loài ngựa. Nếu như nó là đóa hoa, thì nó sẽ có mùi của hoa cúc trắng chứ không phải mùi hoa hồng.”
Một trăm mười năm về trước, nghệ thuật Venice (Venetian artistry)[9] chưa phải là mối đe dọa khiến những nhà lãnh đạo phải quan tâm, và những bậc thầy nghệ thuật lừng danh tin tưởng vào tài nghệ của họ cũng cuồng nhiệt như tin tưởng vào đấng thiêng liêng Allah; vì vậy, họ xem phương pháp sử dụng nghệ thuật Venice, dùng đủ loại sắc đậm nhạt của màu đỏ để vẽ từng vết thương gây ra bởi đao kiếm là một sự bất kính và tục tằn không đáng để ném cho một tiếng cười chế nhạo báng. Chỉ những nhà minh họa kém tài và không cả quyết mới dùng nhiều sắc đậm nhạt của màu đỏ để miêu tả một cái áo thụng màu đỏ, họ bảo thế – bóng tối không phải là điều để biện bãi. Thêm vào đó, chúng ta chỉ tin tưởng vào màu đỏ.
“Thế thì màu đỏ có ý nghĩa gì?” Vị họa sĩ mù chuyên vẽ ngựa qua trí nhớ hỏi lần nữa.
“Ý nghĩa của một màu đó là nó đã xuất hiện trước chúng ta và chúng ta nhìn thấy nó,” người kia trả lời.
“Không thể giải thích màu đỏ là gì cho những người không thể nhìn thấy.”
“Để phủ nhận sự hiện diện của Chúa, nạn nhân của Satan lập luận rằng Chúa vô hình đối với chúng ta,” họa sĩ bị mù đã vẽ ngựa nói.
“Tuy thế, Ngài hiện ra cho những người có thể nhìn thấy,” vị thầy mù kia nói.
“Chính vì lý do này kinh Koran nói rằng, người mù và người sáng mắt không bình đẳng với nhau.”
Chàng họa viên đẹp trai mạnh dạn phết tôi lên tấm thảm trải yên ngựa. Tôi có cảm giác đầy đủ, mạnh mẽ, và sinh động, nổi bật lên cùng với các màu đen trắng của một bức tranh vẽ thật toàn mỹ: khi mà cây cọ lông mèo phết tôi lên trang giấy trống đang mời gọi, tôi cảm thấy nhột nhạt một cách sung sướng. Rồi khi tôi mang màu sắc lên trang giấy, tôi có cảm giác như tôi đang ra lệnh cho cả thế giới rằng “Hãy xuất hiện!”
Vâng, đối với những người không có khả năng nhìn thấy họ sẽ chối bỏ điều này, nhưng sự thật là tôi hiện diện ở khắp mọi nơi.

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà


Ghi chú:

[1] Tôi không biết tác giả đang nói về điển tích nào. Tôi đoán, có lẽ tác giả viện dẫn đến một tác phẩm lịch sử có liên quan đến Mahmud of Ghazni, lãnh tụ độc lập của Turkey, cai trị vào những năm 999-1030.
[2] Một cách viết, hay phiên âm khác, tên của Ferdowsi, nhà thơ Persian, tác giả của “Shanameh hay Book of Kings”, một trong những nhà thơ có tác phẩm là bài thơ dài nhất thế giới. Ông là nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn chương của Persian, và trên thế giới.
[3] Shanameh hay Book of Kings là quyển trường sử thi của Ferdowsi, viết về những vị vua và anh hùng lập quốc của Persian. Ferdowsi bắt đầu sáng tác Shanameh từ năm 977 và hoàn tất năm 1010. Ngoài việc ca tụng anh hùng và chép lại lịch sử, quyển thơ này bao gồm cả niềm tin tôn giáo, giáo dục đạo đức, tình yêu nhân loại, tổ quốc và gia đình.
[4] Đơn vị tiền bạc của người Hy-lạp được sử dụng từ thời cổ cho đến năm 2001 thì thay thế bằng đồng Euro.
[5] Tên một loại hoa nhỏ, năm cánh, màu hồng nhạt, còn có tên là saponaria
[6] Người dịch không biết chắc là gì. Có thể đây là một loại thú có liên quan đến con raccoon. Trong bài này, người dịch đoán có thể là hạt trong phân của con lotor như hạt cà phê trong phân của chồn hương.
[7] Jinn là một vị thần như genie vậy.
[8] Một loại khoáng chất (muối nhôm và potassium) không mùi vị được dùng để làm thuốc hoặc dùng trong chất thuốc nhuộm.
[9] Venetian artistry nói về hội họa ở Venice vào thế kỷ 15 và 16 có màu chủ đạo ấm và không gian có chiều sâu. Đây là môn nghệ thuật được giới giàu có và quyền quí ưa chuộng.

Cầm Chiều