DẪU TÌNH VỐN CHỈ LƯNG LƯNG…

hienmay

trời trưa
nóng cháy khát khô
hóng theo con nắng lõa lồ mặt sân
tự dưng nhớ đến bần thần
anh… (không phải)… phải… (là anh)
phải rồi

là anh vừa rất xa xôi
vừa gần lắm với đôi môi ngập ngừng
những câu nói
gãy nửa chừng
trộn trong lời nghẹn rưng rưng
mỗi lần

mỗi lần gặp
rất bâng khuâng
(làm sao dấu được ân cần cho nhau)
lúc từ tạ
khó bước mau
sau lưng em trĩu nặng màu mắt anh

ghị vào đuôi vạt áo nhăn
theo về
người rất hiền lành dễ thương
nghìn đêm sau
giấc vấn vương
thả tim trôi nhé dòng tương tư này

gió ngang qua khẽ nhẹ lay
cho lá mướt chạm… vừa hay
cuối chiều
mộng ngưng
(tội quá nàng kiều
chàng từ hải đã hắt hiu quê người)

ngậm ngùi… em gửi nụ lơi
mây mang giúp… chớ để rơi
giữa chừng
dẫu tình vốn chỉ lưng lưng… .

HIỀN MÂY

Các cao thủ võ lâm đã mất tích như thế nào?

phamhoainhan

Bang chủ Cái bang Hồng Thất Công là một tay cao thủ võ lâm. Xét về trình độ võ công, ông được xếp vào top 5, đó chính là Võ lâm ngũ bá vang danh thiên hạ. Thế nhưng xét theo tiêu chuẩn đại gia thời nay thì ông chả là cái thá gì hết, chỉ là một lão ăn mày rách rưới. Hồng Thất Công không có laptop xịn, không có xe hơi đời mới, lại càng không có biệt thự triệu đô. Tuy vậy, ông có một chiếc điện thoại di động. Điện thoại giá bèo thôi, chỉ vài trăm ngàn đồng Việt Nam. Ấy, vì tuy là bang chủ nhưng lại là bang chủ bang ăn mày nên ông thường xuyên bị gậy đi… ăn xin, đám đệ tử cái bang sắm cho ông chiếc điện thoại để khi hữu sự còn có thể liên lạc với bang chủ chứ nếu không thì ông lang thang xó xỉnh, bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm.

Một hôm, Hồng Thất Công đang nhồm nhoàm nhai cái đùi gà vừa xin được thì điện thoại reo. Ngỡ là đệ tử gọi, ông bắt máy thì nghe thế này:

– Xin chào, quý ông có phải là Hồng Thất Công, chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cái Bang không ạ?

– Phải, nhưng không phải chủ tịch, mà là bang chủ. Rồi sao?

– Xin giới thiệu chúng tôi là Ngân hàng Tiền Rừng Bạc Biển, chúng tôi mời ông gửi tiền vào ngân hàng chúng tôi với lãi suất cực kỳ hấp dẫn ạ. 18%/ năm nếu số tiền dưới 1 tỷ, 20%/năm nếu trên 1 tỷ. Ngân hàng chúng tôi là nơi huy động vốn với lãi suất cao nhất trên giang hồ đấy ạ.

Hồng Thất Công nhổ nước miếng cái phẹt, lẩm bẩm: Mẹ nó, gặp ăn mày mà nó kêu huy động vốn!

Rồi ông cúp máy. Chưa kịp tu một ngụm rượu thì điện thoại lại reo, lần này là một cao thủ khác:

– Chào ông, hân hạnh giới thiệu chúng tôi là công ty địa ốc Nhà Cao Cửa Rộng, mời ông đến tham quan và mua biệt thự cao cấp của chúng tôi với đầy đủ tiện nghi sang trọng, theo tiêu chuẩn Châu Âu tại…

Hồng Thất Công cúp máy. Ông ngửa mặt lên trời than: Ăn mày là ta, mền trời chiếu đất, có lầm người chăng khi kêu ta mua cái building?

Chưa dứt tiếng than, điện thoại lại reo. Hồng Thất Công bắt máy.

– Kính chào, xin mời quý ông tới thử xe hơi đời mới nhất của chúng tôi tại… Xe sang trọng, tiện nghi tối đa, nội thất tuyệt vời. Quý ông sẽ hài lòng khi mua xe mới của hãng chúng tôi…

Lần này Hồng Thất Công quá bực mình, ông nghiến răng tung chiếc điện thoại lên cao, vung đả cẩu bổng quất một phát làm chiếc điện thoại vỡ làm nhiều mảnh, văng xa hàng trăm trượng.

Không có điện thoại, đám đệ tử không liên lạc được với ông. Hồng Thất Công mất tích từ đó.

Lại nói về Âu Dương Phong, cũng là một cao thủ trong võ lâm ngũ bá. Âu Dương Phong luyện sai Cửu âm chân kinh, bị dở dở ương ương, trong người có một chiếc điện thoại di động để phòng thân.

Ngày nọ, Âu Dương Phong đang luyện võ thì nhận được tin nhắn: Muốn luyện Cáp mô công, hãy gửi tin nhắn theo cú pháp abcd đến số 88xx. Ông háo hức gửi tin và nhận được trả lời, bèn hì hục luyện theo.

Chưa đầy một khắc, tin nhắn khác lại gửi đến: Luyện Dịch cân kinh của phái Thiếu Lâm? Hãy gửi tin nhắn đến…. Âu Dương Phong lại gửi và lại nhận tin, lại hì hục luyện Dịch cân kinh.

Thế rồi tin nhắn gửi đến ào ào, nào là Ngọc nữ tâm kinh, nào là Tịch tà kiếm phổ, nào là Quỳ hoa bảo điển… Âu Dương Phong cứ thế mà luyện lung tung, càng luyện càng… điên. Ông chẳng còn biết mình là ai, đang làm gì, cứ thế mà đi lang thang vô định.

Âu Dương Phong mất tích từ đó.

Đoạn cuối câu chuyện được Kim Dung kể lại trong Thần Điêu đại hiệp, rằng hai lão cao thủ này gặp nhau trên đỉnh Hoa Sơn, giao chiến cùng nhau một trận long trời lở đất rồi ôm nhau cùng chết.

Có một tình tiết Kim Dung quên kể, đó là: Khi Âu Dương Phong chết, chiếc điện thoại rơi ra. Dương Quá nhặt được và thấy trên đó một tin nhắn như sau: Để tải nhạc chờ bài Hồn tử sĩ, hãy gửi tin nhắn đến số 4444.

Phạm Hoài Nhân

Mưa Thuận Thành

hoangcam

Nhớ mưa Thuận Thành
Long lanh mắt ướt
Là mưa ái phi
Tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
Nâng bồng Thiên Thai
Mưa chạm ngõ ngoài
Chùm cau tóc xoã
Miệng cười kẽ lá
Mưa nhoà gương soi
Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
Lên ngôi hoàng hậu
Cứ mưa Thuận Thành
Hạt mưa chưa đậu
Vai trần Ỷ Lan
Mưa còn khép nép
Nhẹ rung tơ đàn
Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan
Ngoài bến Luy Lâu
Tóc mưa nghiêng đầu
Vành khăn lỏng lẻo
Hạt mưa chèo bẻo
Nhạt nắng xiên khoai
Hạt mưa hoa nhài
Tàn đêm kỹ nữ
Hạt mưa sành sứ
Vỡ gạch Bát Tràng
Hai mảnh đa mang
Chiều khô lá ngải
Mưa gái thương chồng
Ướt đằm nắng quái
Sang đò cạn sông
Mưa chuông chùa lặn
Về bến trai tơ
Chùa Dâu ni cô
Sao còn thẩn thơ
Sao còn ngơ ngẩn
Không về kinh đô
Ơi đêm đợi chờ
Mưa ngồi cổng vắng
Mưa nằm lẳng lặng
Hỏi gì xin thưa
Nhớ lụa mưa lùa
Sồi non yếm tơ

Thuận Thành đang mưa…

HOÀNG CẦM

Tử Và Sinh Mây Trắng Trời Xanh

tranvanle

Trăng sắp lặn và gà sắp gáy. Một đêm tàn, một ngày mới, nữa, thêm. Nhang với khói trên bàn thờ sắp quyện. Những hồn ma bóng quế, mông mênh…

Thời chiến tranh, Má tôi, như thế, đêm qua qua đêm, ngày lại qua ngày. Con gái theo chồng làm dâu nhà khác. Con trai chiến trường da ngựa bọc thây…

Rồi chiến tranh hai mươi năm cũng hết. Rồi hòa bình lập lại, ra sao? Đêm qua đêm ngày qua ngày buồn bã, nhớ cháu con, Má vén tay lau…

Trên bàn thờ, hình chồng, hình con trai…như thuở / đi ra, đi vào, cười, nói dễ thương. Má vẫn cắm cúi ra vườn chăm bón, chợ mai, chợ chiều đi kiếm chén cơm…

Cơm thời chiến, gạo thường nguyên hạt. Cơm thời bình, độn sắn độn khoai. “Từ cuộc thắng này, Tổ Quốc ơi tôi yêu Người mãi mãi; từ cuộc thắng này mới hiểu tình người!”.

Má nhắm mắt, gói mì khô…còn đó: nhịn cho con, cho cháu…sắp về. Người ta liệm Má rồi đưa ra nghĩa địa. Mấy đứa con xa ngồi cắn chữ Chia Ly!

Hai mươi bảy năm tôi trở về thăm mộ: vòng thành xiêu, cỏ mọc…lang thang. Cắm từng cây nhang lên từng nấm đất, khấn ông Nội, bà Nội, Má, Cha, thằng Phụng, thằng Hoàng…

Những người chết rồi…là xong kiếp người! Những người sống còn…đâu có chi vui? Từ cuộc thắng này Bắc Nam liền một mà Mẹ mà Cha con cháu muôn nơi!

Tôi viết một câu thơ hay nhất: Tử và Sinh mây trắng trời xanh…

Trần Vấn Lệ

BÁNH KHỌT QUÊ TÔI

huynhduyloc

13450742_236020040115921_5380006452416420294_n

Ở đồng bằng Nam bộ quê tôi hầu như ai cũng biết đến món bánh khọt. Bởi nó là thứ bánh dân dã, dễ làm và rẻ tiền nhưng rất ngon. Khuôn bánh được làm bằng đất nung, giá rẻ dễ mua dành dùng trong gia đình, đôi khi chòm xóm mượn nhau dùng. Bánh được làm bằng bột gạo, bột nghệ, nước cốt dừa và đậu xanh. Chỉ đơn giản có thế nhưng nó mang rất nhiều ý nghĩa về y học, chứng tỏ rằng ông bà ta xưa kia rất am hiểu trong lĩnh vực ăn uống và trị bệnh. Gạo có chất bột đường và đạm, dinh dưỡng cao, đậu xanh nhiều đạm, vị mát, giải độc, dưỡng tì vị, kèm theo nghệ có vị cay, tính ẩm, tiêu thực.
Ở đầu đường nhà tôi có một hàng bánh khọt của bà Tư, chiều chiều tôi hay ra đó. Khách hàng, người lớn, con nít nôn nao ngồi trên những chiếc ghế nhỏ, thấp lè tè. Trên chiếc bàn con được bày biện một rổ rau sống gồm nhiều thứ, như: Cải xà lách, cải bẹ xanh, rau húng cây, húng lủi, rau thơm… một ống đũa, hai keo thủy tinh( một đựng nước mắm tỏi ớt, một đựng những cọng củ cải trắng và đỏ ngâm trong giấm). Bà Tư loay hoay bên chiếc lò than, lửa lúc nào cũng cháy đỏ liu riu. Trên miệng lò là chiếc khuôn bánh bằng đất nung đã ngả màu. Khách hàng kẻ đã ăn vài ba cái, người thì chưa, không hẹn cùng đưa mắt dõi theo đôi bàn tay bà Tư thoăn thoắt. Tay trái bà giở nắp khuôn, tay kia cầm thanh tre mỏng cạy những chiếc bánh cho vào dĩa nóng hổi nghi ngút khói. Rồi bà lại nhanh nhẩu múc bột cho vào khuôn. Những âm thanh xèo xèo vang lên khi bánh gần chín kêu khọt khọt như tiếng kèng lá thúc giục bụng đói cồn cào của khách hàng. Bà Tư giở nắp khuôn cho những vá nước cốt dừa vào. Chỉ tích tắc thôi chất nước dừa ấy đọng lại trên mặt bánh một lớp kem màu trắng sữa. Hương nước cốt dừa, đậu xanh, nghệ bay ập vào mũi. Chúng tôi nhanh nhẩu lặt rau, cặp với bánh chấm nước mắm cho vào miệng. Chỉ cần chép chút thôi phần kem trên mặt bánh mềm tan trộn lẫn trong rau thành một thứ hương vị hòa hợp khó diễn tả. Chất béo, ngọt và cay nồng của nghệ và rau pha với vị mằn mặn lẫn vị cay của nước mắm hòn Phú Quốc, khách hàng cúi đầu ăn thỏa thích, miệng hít hà, còn bà Tư thì tay không ngừng nghỉ, thoăn thoắt cho bột vào khuôn. Âm thanh xèo xèo, khọt khọt, hít hà cùng với mùi khói mỡ cháy quyện vào nhau rất vui tai và hấp dẫn.
Tôi đã xa quê lâu lắm, giờ trở về, con đường nhỏ ngày xưa được mở rộng tráng nhựa phẳng lì. Hai dãy nhà giờ biến thành những hàng quán bán đủ thứ thức ăn. Nhưng hàng bánh khọt vẫn còn đó. Tôi ghé vào và ngồi xuống chiếc ghế nhựa. Chiếc bàn gỗ và những chiếc ghế con ngày xưa không còn, ngay cả chiếc rổ rau cũng được làm bằng nhựa. Nhưng với chiếc lò than và chiếc khuôn bánh bằng đất nung kia giờ đã đen bóng hơn như một thứ đồ cổ bằng đồng đen thật quý báu. Cô gái đưa cho tôi một dĩa nhỏ, tôi vội vã gắp cho vào miệng, hả hê ngậm nhấm vị béo ngọt lẫn cay bùi, mộc mạc, phong phú của quê hương mà tôi không bao giờ quên được trong những năm tháng xa quê…

HUỲNH DUY LỘC

NỢ

buidiep

rồi một hôm nhớ ra mình vẫn nợ
lúa và hoa và cỏ hát trong chiều
con sông Dinh ngàn đêm không chịu lớn
dưới trăng mờ vòm trời cũ đìu hiu

một mái quê thuở đời chưa dâu bể
thuở ngày xanh còn yêu dấu trên tay
thương trái ngọt vườn dăm cây sân nhỏ
tháng bảy mưa tháng chín úa rêu gầy

bạn hàng xóm giờ đứa còn đứa mất
cá lòng tong đâu còn kịp hiệp bầy
gặp giữa chợ giữa phố buồn ngơ ngác
chưa kịp chào ngụm đắng đã vội cay

chưa kịp chào sao tóc mình trắng vội
trống trường làng còn đồng vọng sớm nay
thầy đã xanh cùng vòm mây thiên cổ
con chữ trôi sông không kịp hẹn ngày

ta mắc nợ bởi lòng mình nhỏ hẹp
gã thất phu không cõng nổi chữ tình
rừng đã chết bên ngọn nguồn giông bão
tiều phu cuồng ngồi khóc vạn anh linh

ta mắc nợ tuổi trời bàn tay trắng
hai vai mơ không gánh nổi mộng đầy
chợt nhớ ra chiều qua buồn xó bếp
mớ chữ cùn như cơm nguội còn đây

BÙI DIỆP

Thi Sĩ Vũ Anh Khanh Và Bài Thơ Hận Tha La.

phamthangvu

Nếu bạn từng sống ở Sài Gòn và thường có lúc đi rảo mua sách thì chắc phải biết đến con phố sách báo cũ mang tên Đặng Thị Nhu thuộc phường Nguyễn Thái Bình, quận 1-Saigon. Lòng con phố hơi chật vì các quầy kiosk sách báo nằm đối diện, kề sát nhau và chỉ để một lối đi ở chính giữa cho khách (có khi dẫn xe máy đi cùng) ra vào. Một đầu con phố tiếp với đường Ký Con và đầu phố còn lại thông ra đường Calmette. Anh Hữu, một người bạn lớn hơn PTV cả chục tuổi mà nhân trong một lần đi vượt biên chung, đã quen nhau, có một kiosk bán sách ở con phố này và cả nhà dùng nó như một phương tiện mưu sinh sau cuộc đổi đời tháng 4 năm 1975. Nghề mua bán sách báo cũ, coi lèng xèng vậy mà kiếm ăn rất ngon chỉ kẹt cái là đọng vốn nhưng khi có khách cần đến thì cầm chắc có lời. Sách báo cũ được mua đi rồi bán lại ngay tại chỗ và chủ kiosk nào cũng có những mối quen trong nghề. Mối đây là người đến tìm mua sách về để họ bán lại và thường họ ở xa đâu đó ngoài miền Trung, thậm chí có mối ở tít tận Hà Nội. Mối cũng là những người có sách do họ lùng mua được rồi mang bán lại cho chủ kiosk. Thỉnh thoảng gặp khách cho địa chỉ mời đến tận nhà để xem sách họ có và muốn bán. Các dịp như vậy, chủ kiosk thường mua được một lúc khá nhiều sách giá trị và tất nhiên, sẽ là một món lời. Anh Hữu vẫn từng đến những chỗ mà khách cho địa chỉ nằm trong nội đô Sài Gòn hay ở Chợ Lớn, vùng Bình Thạnh hoặc khu dân Bắc di cư Gò Vấp. Ngoài những tựa sách quen có tiếng hoặc vì đã từng được khách lùng mua nên biết, còn thường thì anh Hữu vẫn lúng túng mỗi khi cầm quyển sách lạ trong tay. Đó là lý do mà anh hay rủ tôi đi chung cho vui, để có người góp ý với anh về các tựa sách lạ. Có lần, anh rủ tôi cùng đi Tha La.
Tha La, cái tên tôi thường nghe qua các bài hát như Tha La Xóm Đạo, Hận Tha La… và cũng biết nó nằm đâu đó trong vùng Trảng Bàng-Tây Ninh nhưng chưa lần nào có dịp đặt chân đến. Nhiều vùng quê miền Nam có các địa danh thật lạ như Hóc Bà Tó, Chắc Cà Đao, Muồng Luông, Soài Cả Nãi và Tha La… dường như từ gốc Khmer mà ra. Theo địa chỉ đã có, tôi và anh Hữu trực chỉ hướng Tây Bắc đi Hốc Môn rồi vượt qua Củ Chi và đến thành phố Trảng Bàng lúc gần trưa. Từ Trảng Bàng, theo một con đường đất đỏ (cũng về hướng Tây) mà hai bên là các thửa ruộng, rẫy chung với nhà dân hoặc các đám rừng cây lưa thưa, chúng tôi đi về một xã có tên là An Hòa khoảng 6, 7 cây số gì đó thì gặp Tha La. Đây là một xóm nhỏ với những nhà lợp tranh, mái ngói và cả nhà tôn nằm thấp thoáng sau hàng cây ăn trái như mít, xoài, ổi và dừa. Tha La, một miền quê do khung cảnh và cũng vì con đường chính cùng các ngõ nhỏ đều là đường đất đỏ. Mùi rạ, mùi đất bùn cùng mùi lá tre và cả mùi mít chín thơm thoang thoảng trong gió. Có những ngõ nhỏ đan chặt các hàng tầm vông, tre hoặc trúc trông thật mát mắt. Loanh quanh một hồi, chúng tôi tìm được nhà của người có sách muốn bán nằm riêng một ngõ với hai hàng trúc bao thành lối đi mát rượi dẫn vào bên trong. Chúng tôi chạy xe thẳng vào sân của một căn nhà vách ván gỗ xập xệ lợp ngói có chỗ đã bong mất hở cả mè cây đỡ mái. Căn nhà có một bàn thiên chính giữa mặt tiền cùng những cây cúc ngày tím sẫm, hoa vạn thọ vàng chóe chung với bụi mẫu đơn đỏ thắm. Chủ nhà ở phía sau nghe tiếng động liền ra xem rồi nhận ra anh Hữu, ông mời chúng tôi vào trong và lấy các sách muốn bán ra bày trên bộ ván ngựa xưa cũ. Mới trông qua thấy toàn sách xưa, những quyển mà dân bán sách cũ đang kiếm, anh Hữu chộp ngay các quyển: Kim Cổ Kỳ Quan, Châu Về Hợp Phố, Mai Hoa Dịch Tân Biên, Vạn Huê Lầu, Đông Chu Liệt Quốc, Long Trùng Quyết Sách… và số còn lại (khoảng hai chục quyển) là loại thường nhưng anh Hữu cũng mua hết nói dùng làm sách bày cho có trong kiosk. Theo lời gia chủ, sách vừa bán là do từ gia đình (ông ngoại) để lại từ lâu, nay vì cần tiền đành phải bán. Đồ đạc bài trí trong nhà ngoài các trang thờ bằng gỗ, tủ cẩn ốc xà cừ chưng hình ảnh ông bà, bộ ván ngựa thì còn có các tủ danh mộc đã cũ. Một nếp nhà khá giả xưa còn sót lại đang trong cảnh sa sút. Tôi hỏi thăm gia chủ ít điều về Tha La thì được biết nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của Khmer có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào, người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh này tồn tại cho tới bây giờ. Tha La hiện thuộc ấp An Hội của xã An Hòa (có 8 ấp) thuộc Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và là một xứ đạo Thiên Chúa. Theo ông, từ thời vua Minh Mạng, dân theo đạo trốn chạy, lánh nạn vào đây (khi đó còn là rừng) rồi khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin tâm linh. Ông cũng cho biết, trong Tha La nơi nhộn nhịp-trù phú nhất chính là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo. Cũng có một số người theo các tôn giáo khác như đạo Phật, thờ cúng ông bà… sống ở Tha La. Tôi hỏi thêm về bài hát mang tên Tha La Xóm Đạo, ông liền gật đầu rồi hát vài đoạn ngắn cho tôi cùng anh Hữu nghe như để khắng định và chỉ biết vậy, không hơn.
Chia tay với ông, chúng tôi chạy xe lòng vòng trong Tha La để biết thêm. Đến khu xóm đạo nơi đông dân cư nhất rồi vòng qua thánh đường là một nhà thờ vừa phải với tháp chuông cùng hang đá nằm êm ả dưới các bóng cây mát. Sau đó, tôi và anh Hữu dừng xe, nghỉ chân ở một quán nhỏ bán dừa tươi. Chị bán quán khi nghe tôi hỏi chuyện về Tha La Xóm Đạo, đã mau mắn lấy ra một băng cassette rồi dò tìm mở đúng bài hát đó. Vài khách đang ngồi uống nước trong quán cũng hát theo rành rẽ. Họ là dân ở đây, chắc vậy và họ đang hãnh diện vì có bài hát hát về địa phương mình. Ngay sau ngày 30-4, nhạc của miền Nam VNCH được chính quyền mới gọi bằng cái tên chung là Nhạc Vàng bất kể thể loại nào. Thực ra nhạc vàng (chiếm đa số) là các bài hát về tình yêu đôi lứa, về quê hương hoặc về nỗi niềm riêng tư nào đó… không thôi. Mà nếu vậy, các bài hát thời bây giờ như Lá Diêu Bông, Chị Tôi, Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa, Phượng Hồng, Tình Thôi Xót Xa… cũng là nhạc vàng và đó là lý do tại sao công chúng lại yêu thích loại nhạc này! Một khi bạn đã yêu đã thích nhạc vàng thì mỗi lần nghe nó, bạn sẽ nhớ đến quê hương nếu như bạn đang sống ở nước ngoài. Còn nếu bạn đang ở trong nước, hồi tưởng về tháng ngày hoa mộng cũ, những kỷ niệm (tùy từng người) sẽ lại về trong tâm tưởng bạn. Ngày hôm đó tôi cũng vậy, những lời hát tai đang nghe đã dẫn tôi về khung cảnh xa xưa của Tha La và tự dưng lòng tôi se sắt buồn. Tôi đã là người dân của Tha La xóm đạo.
… Tha La ơi! Xóm Đạo ơi! Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
đành khép kín khoác vào bộ chinh y. Lòng hờn căm một chiều
xưa lửa dậy, nghe não nùng chưa? Tha La sầu quốc biến
Xóm Đạo chất hận thù!
… Đây Tha La đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh mầu tang khói lửa,
Bao năm qua Tha La còn trơ đó, đoàn người
đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy, Long viễn
khách bồi hồi như thương tiếc mùa thu
nắng hanh vàng …
Trên đường về, tôi gặp một cụ già cởi trần gầy gò đang gánh một gánh dừa đi về phía quán nước. Cụ già với hàm râu trắng như hình ảnh trong bài thơ. Không biết thời bài thơ Hận Tha La ra đời, khung cảnh khi đó có giống như hiện tại? Vài bụi tre bị chặt trụi lũi bên đường trơ gốc cây mốc trắng và tất cả những mụt măng đã bị chủ gia cắt sớm để bán. Họ cần tiền cho một nhu cầu gấp rút nên không thể chờ măng thành tre được, y như chủ nhân căn nhà mà tôi và anh Hữu vừa ghé vào mua sách cũ gia đình để lại. Tha La là vùng đất lành, mầu mỡ do nguồn nước từ kinh Vàm Trảng dẫn từ sông Vàm Cỏ về tưới mát đất đai ở đây nhưng sao dân cư trong vùng vẫn mang vẻ buồn, hiu quạnh. Tôi cảm thấy… hay Tha La tự nó là như vậy.
Như nhiều bài hát nổi tiếng khác, Tha La Xóm Đạo được phổ từ một bài thơ của một thi sĩ và cũng là một người lính chiến thời chiến tranh Việt-Pháp. Đó là bài thơ Hận Tha La và tác giả là Vũ Anh Khanh. Tới tận bây giờ vẫn ít người biết về thân thế cùng số phận của nhà thơ Vũ Anh Khanh dù có thể họ vẫn hát bài hát Tha La Xóm Đạo. Vũ Anh Khanh có tên là Võ Anh Khanh nhưng cũng có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 quê quán ở Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận. Ông sống ở Sài Gòn, có thơ-văn đăng trên các trang báo từ những năm cuối thập niên 1940. Nước Việt trong giai đoạn này, bị xáo trộn bởi các ảnh hưởng chính trị, thời thế quốc tế và từ các vận động của các tổ chức-đoàn thể trong các địa phương. Giai đoạn này cũng là sự thức tỉnh tự thân của giới thanh niên-trí thức trẻ (trong đó có các văn nghệ sĩ), đưa đến cuộc đấu tranh chống Pháp năm 1945. Người ra chiến khu, vô bưng hoặc về lại thành phố trong tinh thần ái quốc chống ngoại xâm và được một làn sương lãng mạn-thi vị nhưng hào hùng phủ lên. Người yêu nước, khởi đầu gia nhập hàng ngũ kháng chiến chỉ một ý nghĩ là giặc Pháp tiếp tục muốn đặt lại ách thống trị thì phải chống chứ chẳng hề vì lý tưởng đại đồng, CS gì và Vũ Anh Khanh là một người trong số họ. Là một chiến sĩ, đi qua nhiều vùng đất nước, mắt ông đã thấy nhiều cảnh chết chóc, nhà cháy, tang thương của xóm làng sau một trận chiến. Và, không biết trong một lần nào đó, ông đã có dịp dừng chân tại Tha La rồi khung cảnh của một xóm đạo thời ly loạn… đã gây một xúc động ghê gớm nơi ông, khiến ông sáng tác ra bài thơ (chúng ta hãy nghĩ vậy).
Hận Tha La là một bài thơ dài kiểu hợp thể. Đoạn mở đầu là Ngũ Ngôn rồi chuyển sang Tám Chữ, sau đó thành Kịch Thơ (đoạn giữa) và kết thúc bằng hai câu Thất Ngôn. Một bài thơ hay, có hồi có cảnh. Tiết tấu thay đổi với khung cảnh và khung cảnh thay đổi với các nhân vật trong bài thơ.
Xin mời quý bạn đọc, đọc bài thơ Hận Tha La
HẬN THA LA
Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
” Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than. ”
Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và truyện ngắn như Ngũ Tử Tư, Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông, Một Đêm Trăng… Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ biết chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Hận Tha La.
Năm 1954, Hiệp Định Geneva về ngưng chiến được thực hiện, chia cắt nước Việt làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Người dân miền Bắc (khoảng gần 1 triệu người) ồ ạt di cư vô miền Nam thì đổi lại cán bộ-chiến sĩ thuộc phe CS ở trong miền Nam được chuyển ra miền Bắc (gọi tên chung là tập kết). Có 3 khu vực tập kết là Hàm Tân-Xuyên Mộc, Đồng Tháp Mười, Cà Mau và không biết Vũ Anh Khanh tập kết tại địa điểm nào kể trên. Ông ra Bắc rồi đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu (HNCNVAC) tại New Dehli (Tân Đề Li-Ấn Độ) tháng 12 năm 1956. Tham dự hội nghị là phái đoàn của 16 quốc gia (gồm 14 quốc gia CS và chỉ 2 quốc gia tự do là Ấn Độ và miền Nam VNCH). Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn miền Bắc VNDCCH chung với nhà văn Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Lý do Vũ Anh Khanh được nhà cầm quyền miền Bắc khi đó cử đi dự đại hội HNCNVAC là vì công an không thấy ông trong cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền-Hà Nội để phản đối sự chỉ huy văn nghệ của Đảng (nhân có phong trào Trăm Hoa Đua Nở-Trăm Nhà Đua Tiếng). Cuộc tụ tập đó do nhóm tập kết miền Nam phản đối các lãnh đạo CS Hà Nội. Sau khi dự đại hội HNCNVAC về, có lẽ đã thấy bộ mặt thật của chế độ CS tại miền Bắc nên khi Vũ Anh Khanh có giấy đi công tác (cách vài tháng sau) ở tỉnh lỵ Vĩnh Yên (phía Bắc Hà Nội) và thi sĩ đã sửa giấy công tác đó từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh (một đặc khu tương đương cấp tỉnh), địa danh gần sông Bến Hải. Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh và ông đã mạo hiểm vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng không thoát. Một mũi tên độc đã cắm vào người ông, lôi ông chìm xuống đáy và chết mất xác.
Sông Bến Hải (giới tuyến chia cắt hai miền Nam-Bắc) thuộc thôn Hiền Lương (cầu trên sông mang cùng tên) xã Vĩnh Thành huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị. Giai đoạn Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh thì ở phía bờ Bắc (do chính quyền miền Bắc VNDCCH kiểm soát) có 2 đồn công an đóng tại Hiền Lương và Cửa Tùng. Đồn Hiền Lương nằm sát bên cầu, đồn Cửa Tùng đóng ở bãi biển xã Vĩnh Quang. Đồn nào (theo quy định của bản Hiệp Định Geneva) chỉ có 16 nhân viên nhưng con số thực tế nhiều hơn. Vả lại, vì là giới tuyến trực diện với vùng đất phía Nam của chính quyền miền Nam VNCH nên dân chúng sinh sống sát bờ sông Bến Hải thực tế là các gia đình công an giả trang. Vũ Anh Khanh đến đây nhằm tìm dịp để vượt tuyến đào thoát vào miền Nam VNCH nhưng ông không ngờ trước đó (ngày 4 tháng 10 năm 1956), đã có 3 người dân miền Bắc liều mạng bơi qua sông và họ thành công. Chính quyền miền Nam VNCH đã không giữ kín việc này khi họ tổ chức họp báo để thông tin và miền Bắc VNDCCH biết được. Công an CS tại Vĩnh Linh đã họp và quyết không để trường hợp tương tự tái diễn. Họ đã kín đáo canh phòng nghiêm nhặt dù bên ngoài vẫn để các sinh hoạt dân dã bình thường và Vũ Anh Khanh đã mắc bẫy. Có lẽ vào ban ngày ông đã tìm cách bơi sang sông (chỉ rộng hơn 100 m) rồi bị công an phát giác và các mũi tên độc (được bắn ra từ nỏ lớn) của công an đã kết liễu đời ông. Việc dùng tên tẩm thuốc độc (thay cho súng) là cách mà công an CS muốn tránh bị Ban Liên Hợp Quốc Tế Giám Sát-Kiểm Soát việc áp dụng Hiệp Định (có mặt tại đây) phát giác việc họ truy sát dân lành vượt tuyến (Có tiếng súng nổ thì họ sẽ cho điều tra). Cái chết của Vũ Anh Khanh, có thể do công an CS đã thông báo cho dân chúng biết như một răn đe nên kể từ sau đó (tháng 4 năm 1957), không còn người vượt tuyến vào miền Nam bằng cách bơi sang sông Bến Hải nữa.
Là một người yêu nước tuy có lúc sai lầm khi đứng bên phía CS, sau cùng Vũ Anh Khanh đã đào tị nhưng không gặp may. Chính quyền CS đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền miền Nam VNCH cũng đối xử tương tự với ông khi gạt bỏ tên trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm lưu hành các sách in của ông. Họ xếp ông là văn-thi sĩ CS (do đã tập kết ra miền Bắc năm 1954 và dự đại hội HNCNVAC tháng 12 năm 1956) và đó là một đối xử bất công.
Bài thơ Hận Tha La được các nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ thành bài hát (năm 1964) mang tên Tha La Xóm Đạo, nhạc sĩ Sơn Thảo’S phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Hận Tha La và nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Vĩnh Biệt Tha La.

Phạm Thắng Vũ

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN.

ledachoanghuu

Sài Gòn gặp phải mùa áp thấp. Mưa triền miên cả ngày, mưa rỉ rả suốt tuần. Thành phố lại như một công trường. Người ta ra sức chống ngập như muốn xới tung cả thành phố lên, những con đường rào chắn chiếm gần trọn hết, đất đá vương vãi, bùn đất ngập ngụa càng làm cho thành phố buồn thê thảm. Anh ta cũng buồn thê thảm, trong đầu ngổng ngang những câu hỏi, và đập trực diện là câu hỏi giữa cái đống ngổn ngang này, ở đâu đó có hay không một căn phòng hội họp, có hay không một căn phòng tham mưu rồi dẫn tới những căn phòng với bọt bia tung tóe cùng những cô em chân dài thiều vải giống như căn phòng anh ta vừa ngồi với Khoát dùi, có hay không sự thực tâm hay bao nhiêu phần trăm là thực tâm muốn tốt đẹp xuất phát từ đây. Anh ta lê la hang cùng ngõ hẻm với những quán cà phê cóc, cà phê vỉa hè, cà phê của những người bán vé số, đánh giày, bán dạo ghé qua, những người nếu xếp lại có thể đầy đủ binh đoàn mà không có câu trả lời.
Mệt mỏi, anh ta dứt khoát bỏ ngoài ta những cuộc gọi của cò Lân, của Mẫm dược… Không biết đã bao lâu rồi anh ta mới lại thấy mình dũng cảm như vậy. Không nghĩ ngợi tới mưu mô chước quỷ, không suy nghĩ những toan tính thiệt hơn, không cần tới cây dùi của “thầy” Khoát, không cần biết nó có thành hay bại, nó có diễn ra hay không.
Có một điều làm anh ta nghĩ ngợi nhiều, chú Năm bị bắt, rồi hàng ngày mở trang báo ra ít nhiều cũng có một vụ bị bắt, không phải là loại tội phạm lưu manh côn đồ, đâm thuê chém mướn… loại này thì hà rầm. Đó là những tội tham nhũng, lừa đảo quy mô lớn nhỏ, đủ mọi thành phần, quan lớn quan nhỏ, doanh nghiệp này doanh nghiệp kia, ngành này ngành nọ… sao mà nhiều quá, nhiều, nhiều kể không xiếc. Anh ta nhớ tới cơn gió xoáy, phải rồi, đã ở trong nó theo nó thì bị xoáy theo là phải, xoáy thì càng ngày càng rộng như cái lồng phễu, anh ta rùng mình một ngày nào đó thôi rồi sẽ tới mình, tra hai tay vào cái cùm, không tàn lụi thể xác cũng mục ruỗng vì tra cổ vào cái thòng lọng vô hình mà thôi.
Anh ta muốn thoát ra. Bằng cách nào? Anh ta thử nằm sát xuống đất, bấu víu vào đất, đất âm ẩm hiền hòa tỏa một mùi thơm khó tả, anh ta như tan vào lòng đất, đất không khác gì mẹ, anh ta nghe một luồng không khí mát rượi lướt qua, một làn gió thoảng như không có gió làm nhẹ cả người, ru anh ta miên man, anh ta hỏi:
“Đây là cơn gió gì?”.
Cơn gió trả lời ngắn gọn nhưng thanh thoát:
“Vô thường”.
Anh ta khoan khoái hít đầy lồng ngực, có chút mơ hồ về sự vô thường nhưng cảm nhận được vô thường là cõi tuyệt vời, cõi thư thái tâm hồn, anh ta ước:
“Ta quý mi quá, ta muốn được như mi quá đỗi!”.
Cơn gió nhè nhẹ:
“Anh đã vừa mới có khoảng khắc vô thường, anh thoát khỏi vòng vây gió xoáy, tiếp theo thì anh tự định đoạt”.
Anh ta ngửa mặt lên trời:
“Linh hồn xoáy hãy biến vĩnh viễn khỏi đời ta”.

***

Tháng bảy lịch Ta, tháng có nhiều sự kiện. Tháng bảy âm hồn, tháng bảy mưa ngâu, mưa từ đôi mắt của đôi Ngưu Lang Chức Nữ, tháng bảy mùa Vu Lan báo hiếu. Có thể nói tháng bảy tuy không phải là tháng tư tháng trung tâm với ngày lễ Phật Đảng, nhưng tháng bảy mang nhiều âm hưởng thuyết nhà Phật.
Vô thường cũng là thuyết nhà Phật. Anh ta đang có vô thường, anh ta muốn giữ vô thường. Anh ta đội mưa như một kẻ khất sĩ đi lên chùa.
Cửa chùa rộng mở nhưng… lòng người ở chùa thì hông hẳn. Gã khất sĩ lang thang thì chắc chắn phải với một thể trạng bần hàn, héo úa – anh ta chua chát: “Đôi mắt ở chùa bây giờ là vậy sao, đôi mắt chẳng cần nhìn xuyên thấu tâm hồn, đôi mắt không khác gì người phàm mắt thịt, trần tục bụi mờ hay sao?”.
Ăn ta mặc xác, cái xác của anh ta lẫn những cái xác người chùa không rộng lòng. Anh ta dạo quanh chùa, phủ phục dưới chân tượng phật tìm bằng an. Rồi giữa chùa đập vào mắt anh ta một cảnh như là phiên chợ, nó không hỗn độn bát nháo như phiên chợ trời, ở đây là dòng người tươm tất từ đầu tới chân, y phục chỉnh tề, giày dép láng mượt cùng những vẻ mặt nghiêm nghị đôi khi toát ra những nụ cười bí hiểm. Những nhà sư cũng mang khuôn mặt và nụ cười bí hiểm. Họ trao đổi, rồi họ ký sổ, họ cúng dường, rồi họ ban phát và được nhận những ơn huệ. Những gương mặt tươm tất này anh ta gặp ngày một ở đời thường, những gương mặt cò Lân, Khoát dùi, Chín Của, Mẫm dược, Hội hè, Phán lụi, Ba Sậu… hiện rõ mồm một trước mặt anh ta. Anh ta thấy luôn cả gương mặt mình trong đó. Anh ta tự gật đầu: “Phải, phiên chợ mua thần bán thánh, mua một chỗ trên thiên đàng, có lẽ họ nghĩ sẽ được vậy”.
Anh ta không còn biết buồn vui, người anh ta mất nhận thức, đông như gỗ đá, anh ta lặng lẽ rời “phiên chợ chùa”.

***

Anh ta đổ bịnh.
Những cơn mưa dầm thấm sâu, những suy nghĩ mệt nhoài làm đầu óc anh ta nặng trĩu, anh ta lê thân tới bịnh viện. Bịnh viện người xếp hàng dài như rồng rắn, người ngồi chật cứng trước khu bốc số. Anh ta lắc đầu quay ra tìm cho mình một phòng mạch riêng, sực nhớ tới nhiều người đồn đãi, hữu xạ tự nhiên hương về ông bác sĩ Văn Khoa, một ông bác sĩ có cái tên thật đẹp, cái tên vừa nghe là gợi nhớ ngay tới những nhà văn nhà thơ, những lãng tử mộng mơ.
Anh ta bước vào phòng mạch, một cô gái ngồi ở bàn tiếp tân xinh đẹp cất tiếng lảnh lót chào:
“Dạ, chào anh, anh khám bịnh hay có việc gì?”.
Anh ta muốn bật cười, đã tới phòng mạch với tấm thân này thì còn làm gì nhưng uể oải nụ cười không đến được:
“Dạ, khám bịnh”.
Cô gái tiếp:
“Mời anh vô trong, bác sĩ Văn Khoa vừa tới”.
Cố gái dẫn anh ta bước vô, cô gái nhỏ nhẹ:
“Dạ thưa bác sĩ có khách”.
Vị bác sĩ đang ngồi trong phòng một mình, anh ta nói thầm: “Chà, không hổ danh lời đồn” – Bác sĩ với dáng phong độ, mái tóc bồng bềnh, đôi mắt sáng toát vẻ hiền hậu sau đôi kiếng, anh ta gật đầu chào:
“Chào bác sĩ, thưa bác sĩ tui muốn khám bịnh”.
Bác sĩ Văn Khoa đưa tay mời ngồi, và hỏi:
“Anh là ai?”.
Anh ta ngớ người, ú ớ:
“Dạ thưa, tui… tui là…”.
Bác sĩ cắt ngang:
“Tui là… tui phải hông?”
Anh ta cười và gật đầu đại:
“Dạ…”.
Bác sĩ với tay lấy cái ống nghe, một trong những động tác quen thuộc của các vị bác sĩ khám bịnh, cho dù đôi lúc chẳng cần tới nó, bác sĩ nhìn anh ta mỉm cười:
“Lần đầu mới có người trả lời như vậy, nhưng tui không nghĩ anh không biết mình là ai, chỉ có điều anh không nói hay bị bối rối mà thôi”.
Anh ta càng thấy vị bác sĩ lạ lùng, anh ta nhướng mày:
“Nhưng điều này có quan trọng để một bịnh nhân phải trả lời?”.
Bác sĩ đứng dậy đi qua lại anh ta:
“Hỏi hay lắm và cũng chưa ai hỏi tui như vậy. Đã vậy thì chúng ta nên thiệt tình với nhau nhé. Thú thực với tui là có, rất quan trọng”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Quan trọng hơn cả bịnh nhân nói đau gì, đau ra sao?”.
Bác sĩ đưa bàn tay cản lại điều anh ta hỏi:
“Không, mỗi cái có quan trọng khác nhau, tui chỉ hỏi cái nào trước cái nào sau mà thôi”.
Anh ta suy tư:
“Bác sĩ nói rằng ai cũng nói rằng mình là ai, riêng tui tui không trả lời có được hông?”.
Bác sĩ nhẹ nhàng lắc đầu:
“Không, đó là nguyên tắc của tui, không thể khác, đó là thủ tục đầu tiên”.
Anh ta bật cười:
“Nghe giống thủ tục tiền đâu”.
Bác sĩ đứng lại:
“Tui biết anh nói chơi cho vui, câu cửa miệng bây giờ nhưng là thực, đúng trăm phần trăm”.
Anh ta thất vọng:
“Thưa bác sĩ hông lẽ những lời đốn đoán là sai, những lời tốt đẹp về bác sĩ tài hoa và y đức là hoàn toàn trái ngược?”.
Anh ta chờ cơn phẫn nộ của vị bác sĩ nhưng không, bác sĩ bật cười:
“Tui không dám nhận những lời tốt đẹp đó nhưng đừng vội phán xét, phán xét dành cho cả con đường dài nhìn nhận – Bác sĩ Văn Khoa ngừng lại một hồi, rồi tiếp: Thôi, trò chuyện vậy đủ rồi, biết nhau chút đỉnh rồi, bây giờ anh có muốn khám bịnh?”.
Anh ta lưỡng lự chút rồi gật đầu, bác sĩ đưa tay mời:
“Hãy làm thủ tục đầu tiên”.
Anh ta kể sơ anh ta là ai. Chuyến đi trải dài từ tuổi thơ cho tới bây giờ. Anh ta chỉ lướt qua, chỉ những ngày gần đây thì anh ta nói kỹ một chút. Nghe xong, Bác sĩ gục gật:
“Tui cũng đã bắt thần sắc của anh rồi, anh chẳng bị gì nặng lắm, cảm lạnh đau ê ẩm mình mẩy, còn nhúc buốt, nhói lên tận óc là từ những cơn dằn vặt, những cơn dằn xé mà ra”.
Anh ta thấy đúng quá:
“Có lẽ đúng vậy, bác sĩ cho biết cách trị”.
Bác sĩ cười:
“Đau thì kê đơn thuốc dễ ợt, còn nhức óc thì tui bó tay, anh phải tìm nguyên căn từ đâu ở chính anh và anh phải loại bỏ nó”.
Anh ta gục gật và phát đồ cho mình cách loại bỏ như bác sĩ nói. Bác sĩ Văn Khoa viết đơn thuốc, bác sĩ đưa cho anh ta, anh ta cầm lấy:
“Cảm ơn bác sĩ rất nhiều, bác sĩ xin cho gởi tiền thù lao”.
Bác sĩ ngần ngừ:
“Tui chưa gặp người nào giống anh trong nhiều hạng người tui đã khám nên tui không biết tính thế nào, thôi coi như bữa nay tui chưa khám vậy, anh cứ tự nhiên”.
Anh ta không thể thấy lạ lùng hơn nữa, tự dưng anh ta muốn tìm hiểu kỹ hơn vị bác sĩ này, anh ta ngồi lại xuống ghế:
“Bác sĩ có thể nói khác nhau của nhiều hạng người hông?”.
Bác sĩ nhìn anh ta:
“Anh muốn biết, muốn trò chuyện”.
Đúng ý, anh ta gật ngay, bác sĩ tiếp:
“Được nhưng tui không thích trò chuyện ở phòng mạch, ta kiếm chỗ nào đi”.
Anh ta ngại ngùng:
“Còn phòng mạch?”.
Bác sĩ kêu cô tiếp khách mua dùm anh ta đơn thuốc, kéo anh ta đi và nói:
“Còn nhiều đệ tử khám bịnh, cần kíp lắm thì sẽ gọi chớ lo gì”.

***

Kéo ghế ngồi ở quán bên bờ sông, bác sĩ Văn Koa vương người thở sảng khoái:
“Tui rất khoái dòng sông Sài Gòn, nước không ồn ào dữ dội, đều đều lên xuống và mang theo từng mảng lục bình xanh ngắt đôi khi có những nụ hoa tim tím”.
Anh ta cũng thích:
“Bác sĩ lãng mạng quá!”.
Bác sĩ kêu hai chai bia cho hai người, anh ta hỏi:
“Uống có sao… ?”.
Bác sĩ phẩy tay:
“Một hai chai chẳng đưa anh về chầu ông bà ông vãi đâu mà lo”.
Anh ta khơi chuyện trở lại:
“Bác sĩ khám hàng ngàn hàng vạn người rồi, chắc gặp biết bao hạng người…”.
Bác sĩ nhấm nháp ly bia:
“Đúng, tui đã khám không thể nhớ bao nhiêu người, chung quy lại thì chỉ có vài hạng người, hạng thứ nhứt sẽ ấp a ấp úng gần giống anh, nhưng sẽ không bao giờ dám hỏi, sẽ trả lời là dân đen dân nghèo, đây là những người bịnh nặng, bước đường cùng mới tới. Hạng thứ hai như vậy không thấy đường nào khác nhưng không đến nỗi mạt hạng, đó là những tay anh chị du côn du đãng…”.
Anh ta hỏi:
“Bác sĩ có sợ hạng người này?”.
Bác sĩ lắc đầu:
“Không, hoàn toàn không, cho dù anh là gì đi nữa thì đối diện cái chết anh cũng sẽ run rẩy, hiếm có người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Hạng này sẽ phủ phục dưới chân và đôi khi có những tay có nghĩa khí, coi ân tình là trên hết, sẽ nhớ ơn suốt đời”.
Anh ta dần dần thấy chân dung của vị bác sĩ, bác sĩ tiếp:
“Hạng người nữa là sẵn sàng dõng dạc tuyên bố ta là ai…”.
Anh ta thử chen vô:
“Đây là hạng tự cao tự đại và phải có của cải quyền cao?”.
Bác sĩ gật đầu:
“Chính xác, thường là như vậy, họ sẽ chỉ thẳng vào ngực mình mà cho biết ta là doanh nhân, là những người làm ăn lớn, là quan chức, dĩ nhiên phải bỏ những doanh nhân những quan chức có đủ tri thức, hạng người này thì hiểu biết xử thế, tiếc thay thời nay hiếm có”.
Anh ta được cái mạch:
“Hạng tự đại sẽ buộc phải chữa cho họ dù họ hông nói thẳng thừng ra?”.
Bác sĩ tiếp gật đầu:
“Đúng vậy, coi như cái lịnh vô hình”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Bác sĩ chữa hết cho tất cả?”.
Bác sĩ nhìn ra dòng sông, một chiếc ghe nhỏ có người chèo lướt qua, có lẽ người đi câu cá trên sông, bác sĩ đáp:
“Phải chữa hết, đó là thiên chức của người thầy thuốc”.
Anh ta đã hiểu, anh ta cười khà:
“Vậy là những lời đồn đoán về bác sĩ là thiệt sự, không sai chút nào, kể cả người nghèo, người giàu, người quyền cao chức trọng hay dân dao búa, bác sĩ khám bịnh kên đơn và kê giá tùy cho mỗi hạng người bởi vậy mới hỏi là ai?”.
Bác sĩ gật gù:
“Anh đã hiểu phần nào – Chợt bác sĩ thở dài nhìn lên bầu trời: Còn một hạng người nữa mà tui rất sợ, chẳng muốn vác mặt tới phòng mạch của mình, hạng này chữa không khỏi”.
Anh ta nói từ dân dã:
“Bó tay, hết thuốc chữa. Dạ, hạng gì mà ghê gớm vậy?”.
Bác sĩ cười mà vẫn buồn:
“Hạng đã đánh mất linh hồn”.
Anh ta chợt giật mình, anh ta nhớ lại ngày cơn gió tuổi thơ nói với mình, anh tự hỏi vậy đã đánh mất linh hồn chưa? Lúc anh ta cho rằng chưa lúc thì đã. Lúc chưa thì chưa tìm đủ tội lỗi, chưa nghĩ tội như vậy là nặng tột cùng để xóa linh hồn. Lúc đã thì với anh ta, tội lỗi là tội lỗi dù nhỏ nhặt, mà anh ta cũng hàng hàng tội lỗi. Ngày rời rừng rú anh ta một mực không quên một ai ấy vậy mà chưa một lần trở về nơi như là quê hương thứ hai của mình, người bạn học người bạn xóm làng người từng giúp anh ta không chút vụ lợi cũng chẳng màng tới huống gì nói về những ước mơ, những khao khát ngày nào, sau này sẽ góp sức làm thay đổi quê hương… và còn để mình cuốn ào ào vào cơn gió xoáy… Anh ta mụ người, như người bước rón rén:
“Người ta nói đánh mất tuổi thơ là đánh mất linh hồn, bác sĩ thấy sao?”.
Bác sĩ suy ngẫm, từ từ đáp:
“Có, nhưng không hẳn là hết tất cả. Đánh mất tuổi thơ để lại nỗi ám ảnh buồn tủi, nghèo hèn, đau thương để về sau những người như vậy không muốn thấy điều này tồn tại với mình với đời con cháu mình, họ dễ lắm dù phải bán linh hồn cho quỷ để xóa bỏ nó. Nhưng đó chỉ là một phần, những phần còn lại là những biến cố xấu xảy ra trong đời hay tác động của môi trường mình đang sống và kể cả môi trường xung quanh làm thay đổi nhận thức, dĩ nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ như tự dưng ý thức, thay đổi ý thức. Những điều này là ngọn gió thổi bùng đóm lửa âm ỉ, thổi bùng mầm móng ung nhọt trong con người – lòng tham vị kỷ – một bản năng tồn tại trong tất cả con người, lòng tham vị kỷ cháy trong đầu sẽ đốt cháy linh hồn”.
Anh ta bị cuốn vô cách nhìn nhân của bác sĩ Văn Khoa, anh ta đưa tiếp lập luận:
“Tác động làm cho ngọn lửa vượt giới hạn”.
“Không sai, luôn luôn tồn tại một lằn ranh giới hạn nó chỉ mang trạng thái ảo hay thực mà thôi. Thực ta thấy là những chuẩn mực con người đúc kết đề ra, là phong tục, tập quán, là luật pháp… ảo là trạng thái của lương tâm, một chân thiện mỹ đối nghịch với sự gian tà”.
Anh ta gục gật:
“Bác sĩ nói hay quá, ý bác sĩ có phải là xã hộ tốt đẹp là đa số phải ở trong chuẩn mực, nếu vượt qua cái lằn ranh này thì sẽ trượt dài chắc chắn sẽ mang tới tồi tệ”.
Bác sĩ đồng ý:
“Đúng như vậy. Đơn cử về cái lằn ranh, cái vạch sơn trắng kẻ dừng ngay ngã tư, tất cả phải dừng sau nó khi đèn đỏ và chỉ được phép tiếp đi khi đèn xanh. Tuân thủ điều này thì ngã tư không loạn xạ, phá bỏ thì tai nạn dễ xảy ra, con đường lưu thông không tốt có khi phải kẹt cứng. Nói về với thực tại, hầu hết từ vượt qua cho tới lấn tới, cái này bắt đầu từ đâu, bắt đầu từ một vài người ban đầu rồi nó lây lan, học trò nhìn thấy thầy cô lấn vượt sẽ làm theo, nhân viên thấy sếp cũng vậy, bà con thường dân cũng sẽ lấn bởi cán bộ lấn tới mà. Và một khi ta vượt được cái lằn ranh này thì tại sao lại không vượt cái lằn ranh khác, những lằn ranh đâu phải sờ sờ trước mắt như cái vạch kẻ, những lằn ranh khó nhìn thấy, khó giám sát…”
Anh ta nghe tới sự lây lan, anh ta nói:
“Giống như con vi rút lan truyền?”.
Bác sĩ tiếp tục gật đầu:
“Cái ung nhọt như con siêu vi rút vô hình lây lan ghê gớm, nó ngang nhiên đi trên xa lộ, bay chờn vờn trong không trung, đi xuyên thấu những bức tường, thâm nhập hang cùng ngõ hẻm, nó còn tới thẳng cả những nơi tôn nghiên nhứt, nơi xưa nay gần như bất khả xâm phạm, đó là những giáo đường, những chùa chiền… Tiếp tục với thực tại, bởi vậy ngày càng có những ngổng ngang, đâu đâu cũng có. Tràn lan tham nhũng, tràn lan hám danh, hám quyền, hám lợi, tràn lan đấu đá quyền lực, lo chăm bẳm những điều này thì những điều khác bị phớt lờ, ngay cả những lớn lao đau thương, vận mệnh non sông đất nước cứ thay kệ thì những đói nghèo của đồng loại có hề chi. Tràn lan mua quan bán chức, anh đã từng nói mua cả xuất lên thiên đàng mà. Rồi tràn làn suy đồi đạo đức, cửa miệng ngày nay không còn ngượng miệng với những câu tục tĩu, những dục vọng thấp hèn không chỉ có trong tầng lớp kém hiểu biết, thất học. Tràn lan bạo lực và sự vô cảm, sự mặc nhiên với cuộc đời, bạo lực và vô cảm ngay cả với người thân trong gia đình, sự vô cảm nó còn góp phần giết chết sự sáng tạo, không một sáng tạo nào xứng tầm được ra đời trong tất cả các lĩnh vực từ khoa học công nghệ cho tới văn học nghệ thuật. Tràn lan sự gian manh, dối trá lừa gạt, lòng trung thực thành thứ xa xỉ. Nghiệt ngã thay ung nhọt nó đã gậm nhấm tơi tả luôn cả hai nơi, hai cơ quan một đào tạo nên con người, một cứu người, tiến sĩ giấy như giấy tiền vàng mã thì nó tha cho nơi nào, mối mọt từ gốc cho tới ngọn. Cái ung nhọt lòng tham vị kỷ ghê gớm này đã di căn làm người ta đánh mất lòng tự trọng, lòng tự trọng thì tỷ lệ nghịch với tự ái, mất tự trọng thì tự ái leo thang, càng kinh khủng… – Ngừng mộ chút, nhấp ly bia bác sĩ tiếp giọng nhỏ đi: Cứ tiếp nối như thế này thì băng hoại cả một thế hệ, sẽ đến ngày thối nát, mục rữa mất thôi”.
Anh ta nghe choáng váng nhưng rất đúng, đúng ngay với cả bản thân anh ta. Có điều nghe lùng bùng quá, anh ta thử chuyển qua vài điều tốt đẹp hơn, anh ta nói:
“Nhưng cũng có những điều tốt đẹp tồn tại trong xã hội”.
Bác sĩ gật đầu:
“Dĩ nhiên vẫn có sự tốt đẹp, nhưng phải lấy đa số, lý ra phải ngược lại, đi mò tìm sự xấu xa mới đúng chứ. Vẫn có những điều làm xã hội tốt đẹp lên, không ai phủ nhận được. Tuy chỉ vì đã mất lòng tin, lòng tin đã khô héo nên mấy ai dám cho rằng đó là từ cái tâm sáng mà thành hay là phục vụ cho ý đồ riêng, một nhóm riêng. Dẫu sao thì nó vẫn tốt. Những ngôi nhà những ngôi biệt thự khang trang ngày càng mọc nhiều nhưng một khía cạnh khác thì lại cho thấy sự phân hóa rõ rệt, một nhóm người đang ở trên mây với bồng lai tiên cảnh, còn đa phần thì lại vẫn ở dưới đáy khốn khó, người trên cao thì chẳng muốn nhìn xuống, họ phớt tỉnh, họ chỉ chú tâm để còn mãi ở nơi này, những người ở dưới thì không dám ngước lên, một đám mây mờ áng ngữ phủ đầu – Bác sĩ xòe bàn tay qua hướng anh ta: Anh có thấy điều này, chắc chắn thấy phải hông?”.
Anh ta gật đầu:
“Thấy rất rõ”.
Bác sĩ hỏi tiếp:
“Nhưng anh biết chứng minh cho điều này ở dễ nhứt ở đâu không?”.
Anh ta thấy thì nhiều nhưng chưa nghĩ tới, anh ta lắc đầu, bác sĩ cười:
“Anh cứ đi dọc theo con đường rày xe lửa thì anh sẽ rõ, hai bên đó bao nhiêu căn nhà có phải là nhà, chỉ vài mét vuông, bao nhiêu mảnh đời lúc nhúc cơm hàng cháo chợ, chạy ăn từng ngày từng bữa, anh sẽ so sánh được mà thôi, một căn biệt thự bao nhiêu căn như vậy…”.
Anh ta gục gật:
“Bác sĩ tinh ý quá”.
Điện thoại của bác sĩ Văn Khoa reo, phòng mạch có ca cần tới, anh ta đứng dậy, chào bác sĩ:
“Trò chuyện với bác sĩ quên cả thời gian, cảm ơn bác sĩ rất nhiều”.
Bác sĩ từ tốn:
“Không có gì, tui rất vui vì có người chia sẽ, hẹn gặp lại”.

***

Anh ta đã đỡ hẳn đau đầu, nhức buốt óc cũng ít đi bởi cố không suy nghĩ nhiều. Mang gói quà tới gặp bác sĩ Văn Khoa, đa tạ là một phần phần chính anh ta muốn gặp lại vị bác sĩ lãng tử và rất giỏi, bác sĩ gặp anh rất vui:
“Chà bày đặt quá, đỡ chút đỉnh nào chưa?”.
Anh ta cười tươi:
“Dạ đỡ rất nhiều, bác sĩ rảnh rổi?”.
Bác sĩ nhướng mày:
“Trò chuyện chơi hả, ừ thì đi chớ rảnh rỗi thì tui khó à”.
Anh ta và bác sĩ kéo tiếp ra bờ sông Sài Gòn, vẫn là những ly bia, anh ta khai cuộc:
“Bác sĩ nói lòng tham vị kỷ, vậy có lòng tham khác nữa?”.
“Phải, tui gọi đó là lòng tham nhân bản”.
Anh ta tròn đôi mắt:
“Đã tham sao còn nhân bản?”.
“Chỉ là cách nói, cách hiểu, lâu nay động tới từ tham thì người ta nghĩ ngay tới xấu xa. Người ta quên rằng có những lòng tham chân chính, có người cảm thấy yêu thương là đủ, chẳng hạn yêu thương gia đình, quê hương… nhưng có người thì lại không họ phải là yêu thương vô bờ bến, như vậy họ chẳng tham yêu thương hơn là gì. Ở trường lớp, ở môi trường làm việc… vẫn có người muốn hơn người khác chứ, là lòng tham, lòng tham này dẫn tới sự cạnh tranh, sự cạnh tranh lành mạnh bằng sáng tạo, bằng con tim, bằng sự chia sẽ, bằng tài năng, bằng sức làm việc thì đó là lòng tham chân chính, tất cả cho sự tốt đẹp hơn. Trọng danh dự cũng là một loại tham này, tui gọi là lòng tham nhân bản, còn ngầm hiểu cần nhân lên nữa như cấp số nhân càng tốt”.
“Bác sĩ nói chí lý quá, bác sĩ phán xét giỏi quá”.
Bác sĩ Văn Khoa chựng người lại, đưa bàn tay cản:
“Tui không phải là quan tòa nên không có phán xét, chỉ có cái nhìn nhận và là một kẻ làm nghề”.
Anh ta biết đã lỡ lời, anh ta sợ bác sĩ giận:
“Dạ, không không, xin lỗi bác sĩ tui hông có ý đó”.
Bác sĩ hiểu ý xua tay:
“Đó cũng có thể là cách phản biện, mà phản biện thì cần phải nghe chứ”.
Anh ta cười xuề:
“Tui làm gì đủ tư cách phản biện, à chỉ xin hỏi bác sĩ điều này, nhìn nhận coi như một mệnh đề bác sĩ đưa ra, vậy chắc chắc còn một mệnh đề phía sau đó”.
“Anh cũng khá lắm, lâu rồi chưa trò chuyện với ai được nhiều và có phần hiểu tui, ý anh là mệnh đề giải quyết những điều này? Tìm lời giải cho bài toán có ẩn số?”.
Anh ta công nhận:
“Đúng vậy”.
Bác sĩ uống cạn ly bia, bác sĩ Văn Khoa uống cũng rất khá, ông từ từ đáp:
“Có hai lời giải”.
Anh ta khấp khởi mừng:
“Bác sĩ có thể chia sẽ?”.
Bác sĩ mỉm cười:
“Dĩ nhiên rồi. Lời giải đầu là xuất hiện một bộ óc và trái tim tuyệt vời, bộ óc vĩ nhân như trên bầu trời xuất hiện một ngôi sao sáng, sự lấp lánh của nó sẽ lấn át tất cả. Trái tim này đè bẹp được lòng tham vị kỷ và thôi thúc lòng tham nhân bản. Bộ óc sẽ sản sinh siêu vi rút lòng tham nhân bản, siêu truyền nhiễm để chống lại sự siêu truyền nhiễm xấu xa từ lòng tham vị kỷ gây ra. Bên cạnh đó bộ óc này phải là bộ óc không hề ảo tưởng, tìm đúng con đường để đi. Không thể có con đường trải đầy hoa hồng cho tới đích là một cánh đồng hồng tươi. Ai còn vọng điều này là quá ảo tưởng bởi sự phức tạp trong bộ óc con người, bản ngã của con người khó đo đếm được, không thể triệt tiêu được lòng tham vị kỷ, chỉ kìm nén trong cái lằn ranh là quá đủ. Không thể có sự tuyệt đối, tất cả chỉ là tương đối như thuyết tương đối trong vật lý của thiên tài Einstein”.
Anh ta hơi thất vọng:
“Phải chờ đợi ngôi sao sáng xuất hiện”.
Bác sĩ cụng ly với anh ta:
“Anh không nghe câu truyền khẩu bao đời à, thời nào cũng có anh hùng thời nào cũng có kẻ khùng kẻ điên, rồi sẽ xuất hiện”.
Anh ta thở phào:
“Hy vọng sẽ nhanh chóng, dạ, còn lời giải thứ hai?”.
Bác sĩ tiếp:
“Lời giải thứ hai không có ở đây, nếu anh muốn biết thì mai tới tui sẽ dẫn tới một nơi, lời giải của chính tui nhưng chưa biết có thành”.
Anh ta muốn biết lắm chớ anh ta vồn vã:
“Dạ mai tới, chắc chắn mai sẽ tới, thưa bác sĩ”.

***

Sáng sớm thức dậy, anh ta nóng lòng tới ngay phòng mạch bác sĩ Văn Khoa. Bác sĩ chưa đến. Anh ta ra quán cà phê đối diện ngồi đợi.
Hai tiếng sau vị bác sĩ mới tới. Bác sĩ ngồi nhấm ly cà phê với anh ta:
“Chà tới sớm quá hả?”.
Anh ta thật thà:
“Dạ rất sớm, rất muốn biết lời giải thứ hai”.
Bác sĩ đưa anh ta tới một căn nhà khang trang, đi xuyên qua phòng khách gặp một hành lang nhỏ hẹp, quẹo qua lại hai ba lần gặp bức tường chắn, hết thấy lối đi. Bác sĩ rút cái vật giống cái điều khiền ti vi và bấm bấm, phút chốc bức tường xê dịch mở ra, bên trong một ô trống như thang máy, bác sĩ mời anh ta cùng bước vào, bức tường đóng lại tối om, tia ánh sáng yếu ớt bật lên, cái sàng di chuyển đi xuống, anh ta nghĩ là xuống tầng hầm, cũng trong phút chốc thì ngừng lại. Bức tường lại xê dịch mở ra, bác sĩ kéo nhẹ anh ta ra bước ra ngoài. Vừa bước ra thì ánh sáng được bật lên sáng trưng, hiện ra trước mắt anh ta là một phòng thí nghiệm sáng choang làm anh ta choáng ngợp, đầy đủ máy móc, những cái máy vi tính, những cái máy anh ta không thể biết… Anh ta thốt lên:
“Tuyệt vời quá, quá ư là hiện đại”.
Bác sĩ xoa xoa những cái máy:
“Hiện đại này là nhờ những người… tự cao tự đại đó”.
Bác sĩ dẫn anh ta vào bên trong, căn phòng mổ, cái bàn mổ cũng hiện đại không kém. Chợt anh ta giựt bắn người, lạnh cả sống lưng, trên những cái bàn xung quanh nằm la liệt những bộ não, bộ còn nguyên bộ bị mổ làm đôi, bô bị mổ làm tư, có bộ mổ ra từng mảnh nhỏ, trong đầu anh ta một luồng suy nghĩ xấu về vị bác sĩ chạy qua, anh ta nghĩ không thể ngờ được, đúng là điều gì cũng cần nhìn kỹ chân tướng, bác sĩ đứng lại quay qua anh, anh ta run lên muốn quay đầu bỏ chạy rồi anh ta lại nghĩ, chạy đi đâu, anh ta tìm thế thủ, bác sĩ Văn Khoa bật cười:
“Anh nghĩ tui sẽ hại anh à, tui sẽ mổ xẻ não anh sao? Ồ, đừng hiểu lầm chứ, đây là những bộ não phỏng theo thôi, chúng được làm bằng sợi tổng hợp, nhìn như thiệt phải không?”.
Anh ta vỗ trán:
“Xin lỗi bác sĩ, đúng là tui có ý nghĩ quái đảng vừa rồi”.
Bác sĩ ngúc ngoắc đầu:
“Đó là lẽ thường tình thôi”.
Anh ta đi tới chỗ mấy bộ não:
“Giống quá, y như đúc, cả hàng ngàn mạch máu li ti – Bác sĩ nói đây là lời giải của ông, anh ta nghiệm ra và hỏi: Bác sĩ đã tìm ra điều gì phải hông?”.
Bác sĩ ngồi xuống ghế, chỉ vào bộ não xẻ nhiều mảnh:
“Não bộ điều khiển tất cả các hoạt động của cơ thể và tạo ra suy nghĩ, tính toán tưởng tượng, có cả sự phán xét… Mỗi vùng của não điều khiển một hoạt động, sau bao nhiêu năm nghiên cứu từ hình ảnh não thật mà các loại máy hỗ trợ, chụp cắt lớp, máy siêu âm, máy vi tính… và cả cái máy tui với các cộng sự chế tạo mà tui gọi là máy leser soi não cùng mổ xẻ mô hình tui đã phát hiện ra một vùng sâu kín trong não, vùng tui muốn ngàn lần loại bỏ, vùng điều khiển lòng tham vị kỷ”.
Anh ta vui mừng muốn hét lớn:
“Vậy là bác sĩ đã tìm ra, đã có lời giải”.
Bác sĩ trầm ngâm trở lại:
“Tìm ra chưa phải tất cả, loại bỏ nó mới là việc đau đầu tiếp theo”.
Phấn khích quá, anh ta nghĩ dễ khô mà:
“Thì chỉ việc cắt bỏ nó đi”.
Bác sĩ ngã người ra ghế dựa:
“Nói như anh thì việc gì tui đau đầu, anh nghe tới chấn thương sọ não là thất kinh rồi phải không, mổ xẻ não là một vấn đề nan giải, chưa nói đây là một vùng sâu thẳm, động tới nó là động ngay tới những vùng khác. Rồi thí dụ như có được đi chăng nữa hổng lẽ phải mổ xẻ hết những cái đầu?”.
Anh ta tiu nghỉu:
“Vậy phải làm sao, bác sĩ phải có cách chớ?”.
Bác sĩ thở phù:
“Dĩ nhiên tui đã nghĩ cách khác, tui đang tìm ra loại thuốc tiêm để triệt tiêu nó, nhưng lại phải chờ thời gian”.
Anh ta hồi hộp:
“Sao lại phải chờ?”.
Bác sĩ từ tốn:
“Thuốc này phải thử ngay trên người, tui chờ đào tạo cho đứa học trò nó thành thạo, ít nhứt là bằng tui bây giờ lúc đó bộ não này… – bác sĩ chỉ vào đầu mình -… mới là bộ não để thí nghiệm được”.
Anh ta trợn trừng:
“Thí nghiệm ngay trên bác sĩ?”.
Bác sĩ Văn Khoa cười:
“Dù sao thì tui cũng đã kinh qua gần trọn một đời”.

***

Hai ba bữa sau hình ảnh phòng thí nghiệm của bác sĩ Văn Khoa cứ lảng vãng trước mắt anh ta. Anh ta cứ nghĩ tới nghĩ lui, đúng là vị bác sĩ tài năng và đức độ, ông dám đánh đổi cả mạng sống của mình, một hành động không phải của kẻ hèn nhát. Trong đầu anh ta bỗng xuất hiện ý nghĩ hay mình sẽ là chỗ thay thế, vừa xuất hiện thì anh ta rụt người lại như có luồng điện chạy dọc trên người, anh ta vội xua ngay cái ý nghĩ này đi, có đau đầu nhưng cuộc sống vẫn đang tốt đẹp với anh ta mà. Người anh ta như mớ tơ vò, anh ta chạy một mình ra bên bờ sông. Một con tàu kéo chiếc xà lan chở đầy hàng chầm chậm chạy qua, sóng nước ùn ùn đập vào bờ, một cơn gió cũng rùn rùn thổi vô, cơn gió làm anh ta càng rụt người, anh ta hỏi:
“Ngươi là cơn gió gì?”.
Cơn gió oằn cong xuống:
“Ta là kẻ đê hèn”.
Anh ta bức bối:
“Ngươi tới đây làm gì? Ta đâu cần cái loại như ngươi”.
Cơn gió không đổi dáng:
“Ta đang ngự trị trong ngươi kẻ đê hèn ạ”.
Anh ta điên tiết, tay huơ loạng xạ:
“Ta đâu phải kẻ đê hèn, biến đi cho ta, biến mất xác đi cho ta, ta hông cần những loại như ngươi”.
Cơn gió cười rè rè:
“Ngươi can đảm lên rồi đó, ta sẽ đi, ta sẽ cho ngươi gặp cơn gió khác”.
Anh ta hỏi:
“Là cơn gió gì?”.
Cơn gió bay đi và nói với lại:
“Cơn gió xám hối, linh hồn tội lỗi ạ”.
Chỉ lát sau cơn gió khác bay lại, anh ta đã biết đây là cơn gió xám hối, anh ta chào:
“Chào mi, chẳng lẽ ta đã nhiễm?”.
Cơn gió nhỏ nhẹ:
“Ngươi đã nhiễm từ lâu, ngươi còn chút lực còm để chống trả nên chưa gây hậu họa lớn, nhưng ngươi cũng đã tiếp tay thì đã mang tội lỗi, trước sau gì ngươi cũng sẽ bị di căn”.
Anh ta nghe mà hồn vía lên mây, anh ta chưa bao giờ muốn điều này xảy ra, anh ta rối rít:
“Bây giờ ta phải làm sao, phải làm sao?”.
Cơn gió bay vòng anh ta:
“Thì có ta đây, hãy xám hối và làm một điều tốt để được hãnh tiến”.
Anh ta phân vân:
“Điều tốt như thế nào, điều tốt gì đây nhưng ta chẳng muốn hãnh tiến?”.
Cơn gió bóng gió:
“Ngươi không muốn hãnh tiến cũng được, chỉ nên đừng làm kẻ đê hèn”.
Anh ta nghĩ hồi lâu, tại sao ai cứ kêu ta là kẻ đê hèn rồi anh ta nhớ lại, ừ ta đúng là kẻ đê hèn, anh ta thều thào:
“Chí ít cũng phải làm một việc tốt?”.
Cơn gió khẳng định:
“Hãy làm việc tốt mà ngươi nghĩ và ngươi sẽ mãi mãi được vinh danh, xám hối của ngươi xóa nhòa những tội lỗi”.
Anh ta thở ra:
“Ta chẳng cần vinh danh, xóa tội lỗi là quá tốt rồi, nhưng hãy cho ta thêm chút thới gian”.
Cơn gió gật đầu và lượn đi.
Một tuần nghiền ngẫm một mình anh ta quyết định lớn – sẽ không làm người đê hèn. Anh ta vừa thề xong lòng thanh thản ngước lên nhìn trời mây thì lướt qua bên đối diện thấy một gương mặt thân quen, nhìn lại, người anh ta tự nhiên run run bật bật, trước mắt là hình bóng không thể nhạt phai trong mắt, trong đầu anh ta được, cô nàng tình đầu, anh ta đứng dậy bước qua:
“Em… khỏe không?”.
Nàng tình đầu đôi mắt đỏ hoe, chớp chớp:
“Dạ, em… khỏe… còn anh?”.
Anh ta ngồi xuống:
“Anh có lúc khỏe, có lúc mệt mỏi, nhưng hiện tại thì khỏe rồi và luôn nhớ tới em, em sống ra sao?”.
Cô nàng lý nhí:
“Em cũng vậy, luôn nhớ tới anh, em đã lập gia đình và có một đứa con nhưng không may ảnh đã mất trong một tai nạn, anh thì thế nào?”.
Anh ta chia sẽ:
“Chia buồn với em, mất mát quá lớn, anh thì vẫn cô độc, từ ngày xa nhau có vài mối tình nhưng chẳng đi tới đâu”.
Anh ta và nàng tình đầu trò chuyện rất lâu, hết cả buổi chiều cho tới khi trăng đã lên cao. Trăng lên ánh vàng rất đẹp, dưới dòng sông hai bên bờ hắt bóng ánh đèn vàng cũng rất đẹp, rất lung linh. Anh ta kể khá nhiều chuyện kể cả chuyện vì sao lại trốn mối tình đầu. Nàng tính đầu nhìn chăm chăm anh ta rất lâu rồi mở lời:
“Chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu”.
Anh ta định gật đầu sực nhớ lại anh ta nhẹ nhàng lắc đầu:
“Tiếc quá em à anh đã thề, có lẽ chúng ta có duyên nhưng không có phận”.
Nàng tính đầu tuy mắt rưng rưng nhưng đành chấp nhận, nàng biết người như anh ta là trọng lời thề:
“Có lẽ đó là số mệnh như vậy đã an bài, chúng ta hông có thời gian để thay đổi. Em và con tới thăm anh được chứ?”.
Anh ta gục gật:
“Dĩ nhiên là được”.
Trăng đã tới gần đỉnh đầu. Anh ta và nàng là hai người cuối cùng rời bờ sông. Anh ta dìu nàng trong cơn gió khẽ lay lay cành lá, và nụ hôn nàng đặt trên môi anh ta mới cảm nhận được thế nào là nụ hôn, hồn anh ta là cơn gió lâng lâng quyện vào hồn nàng.

***
Anh ta gặp bác sĩ Văn Khoa, anh ta nói ngay:
“Thưa bác sĩ, tui muốn dành bộ não cho thí nghiệm”.
Bác sĩ quá bất ngờ nên giãy nãy:
“Đâu có giỡn chơi được, không không, không tui chưa bao giờ có ý này hết”.
Anh ta hỏi với giọng rất cứng cỏi:
“Tại sao hông được?”.
Bác sĩ than vãn:
“Trời ơi! Tui biết giải thích sao đây, tui đâu chắc thành công, tui đâu thể giết cuộc sống của anh được, mỗi người sanh ra là để được sống”.
Anh ta hỏi lại:
“Vậy bác sĩ thì sao, rồi lỡ bác sĩ đào tạo học trò không kịp thì sao?”
Bác sĩ bối rối nhưng vẫn giữ ý mình:
“Hãy chờ thêm chút thời gian, tui đang đào tạo sắp thành với lại tui đã nói rồi, tui đã gần đủ một đời”.
Anh ta nhìn thẳng mắt bác sĩ:
“Bác sĩ có thấy thời gian ngừng lại để chờ đợi bao giờ chưa? và thưa với bác sĩ không nói về thời gian sống, chỉ nói về trải qua thì tui cũng đã nếm trải gần hết những hỉ nộ ái ố của cuộc đời và cả những giây phút hạnh phúc, như vậy cũng là quá đủ, chỉ có một điều tui chưa làm được điều gì tốt đẹp cả, vậy đây chắc chắn phải là lúc cần làm, ta không còn thời gian”.
Vị bác sĩ bần thần:
“Anh có biết là trước khi tiến hành thí nghiệm phải làm tê liệt toàn thân, toàn thân không còn cử động, chỉ còn mấp môi, cử động mắt và suy nghĩ…”.
Anh ta móc ra một tờ giấy đưa cho bác sĩ:
“Dạ thưa, đây là tờ cam kết quyền sử dụng thân xác này tùy nghi của bác sĩ dù sống hay đã chết”.
Bác sĩ vẫn không chấp nhận:
“Không, không, không thể được”.
Một tháng ròng rã ngày nào anh ta cũng tới thuyết phục bác sĩ Văn Khoa, có khi anh dắt cả mẹ con nàng tình đầu tới nữa. Với sự cứng cỏi và quyết đoán, cuối cùng vị bác sĩ phải bị thuyết phục, anh ta không còn sợ không thực hiện được lời thề.

***

Anh ta nằm bất động trong phòng thí nghiệm nhưng anh ta không cô đơn. Bác sĩ Văn Khoa và học trò chia ca theo dõi gần trọn thời gian cùng với hai mẹ con nàng tình đầu tới thăm thường xuyên, à mà còn máy móc ống dẫn đủ thức chụp đủ thứ cắm trên đầu, đủ thứ cắm khắp người anh ta nữa, chúng ở bên lâu cũng như bạn bè thân thuộc, anh ta cười thầm cho ý nghĩ này. Anh ta cũng không bị tách biệt mấy với thế giới bên ngoài bằng cái ti vi và cái máy vi tính mà bác sĩ đặt thiết kế riêng cho anh ta, sử dụng bằng giọng nói.
Ba tháng trôi qua chưa một dấu hiệu tiến triển. Bác sĩ đã đổi hai ba loại thuốc. Tháng thứ năm, một ngày bác sĩ bật dậy khỏi ghế rút tấm phim dưới kính hiển vi chạy vào, mừng rỡ:
“Có dấu hiệu rồi, có dấu hiệu rồi, tui vừa tăng liều lượng chất xâm nhập vào máu, thuốc đã đi tới được vùng bí hiểm này mà không bị đồng hóa, bị tan mất, đây nè anh thấy không?”.
Anh ta cũng vui mừng lắm:
“Thấy rồi, thưa bác sĩ, hy vọng tiếp tục có tiến triển bác sĩ sẽ bào chế được phương thuốc độc đáo”.
Bác sĩ gục gật:
“Hy vọng là vậy, phải cảm ơn anh trước tiên”.
Anh ta trả lời:
“Tất cả phải cảm ơn bác sĩ, một thế giới tốt đẹp hông còn xa nữa”.
Bác sĩ trở lại bàn làm việc:
“Anh cũng đừng quá mơ mộng để rồi thất vọng”.
Năm tháng sau trên bức vách cạnh bên anh ta là năm tấm phim, tấm phim gắn lên sau cái vùng xấu xa bị tan biến mất một ít cho tới cái thứ năm thì đã biến hoàn toàn. Anh ta vui quá đỗi:
“Có thể ăn mừng được rồi phải hông bác sĩ?”.
Bác sĩ khoan thai:
“Khoan đã, phải còn một thí nghiệm nữa, chờ coi thử vùng này có dấu hiệu mọc trở lại không đã và hồi sinh cho anh trở về nguyên trạng đến lúc đó ăn mừng cũng chưa muộn”.
Người học trò nói vô, anh ta chưa nghe người này nói chuyện gì khác ngoài chuyênn môn:
“Đã chín mươi phần trăm rồi, nếu nó có mọc trở lại thì tăng liều lượng hoặc tiêm liều nữa, chỉ cần tính toán định kỳ”.
Bác sĩ gật đầu:
“Một trong hai cách đó thôi”.
Bác sĩ và người học trò bước ra phòng ngoài, bác sĩ nói:
“Thôi anh về nghỉ ngơi đi, anh đã thức cả đêm hôm qua thêm cả ngày nay nữa, nhìn anh mệt mỏi lắm rồi”.
Bác sĩ vừa dứt câu thì anh ta nghe tiếng ngã cái rầm, anh ta lịnh cho các máy quay quanh phòng và điếng hồn không thể tin vào mắt mình, người ngã nằm vật ra giữa sàn là bác sĩ Văn Khoa, người bắt đầu co giựt, miệng sùi bọt mép, bác sĩ chỉ kịp nói câu cuối cùng: “Tại sao vậy, tại sao, tại sao phải giết tui” rồi tắt lịm. Người học trò rút cái ống tim cắm nơi cổ bác sĩ, tay nắm chặc thành nắm đấm vả mím môi tỏ vẻ đắc thắng.
Anh ta quá đau đớn, anh ta muốn nhắm nghiền mắt để không phải thấy cảnh này, hai dòng nước mắt không ngăn được trào chảy xuống. Anh ta lấy hết sức mấp mấp môi cho máy tính gởi những hình ảnh này cho nàng tình đầu. Người học trò nghe được quay người trừng trừng nhìn anh ta rồi lao lại hét lớn:
“Anh vừa làm gì, vừa làm gì?”.
Anh ta bình thản:
“Anh đã quên những máy quay rồi”.
Người học trò điên tiết xô đẩy đập đá máy vi tính và ti vi. Anh ta nói:
“Anh hãy trả lời câu hỏi của bác sĩ, tại sao?”.
Người học trò gầm lên:
“Công lao là của ta, của ta, đâu để ông ta hưởng trọn được”.
Anh ta nói khinh bỉ:
“Anh điên rồi, tham lam vị kỷ làm anh điên rồi”.
Người học trò cười ha ha:
“Ta điên, ta điên cũng được nhưng ta sẽ vĩ đại”.
Anh ta mỉa mai:
“Anh đã thất bại, chút xíu nữa thôi những hình ảnh này sẽ chứng minh anh là kẻ thất bại thảm hại”.
Người học trò lại gầm lên điên tiết:
“Mày, mày đã gởi đi, mày phải câm miệng, mày phải bị tê liệt cả khuôn mặt, rồi người ta sẽ tin tao – Người học trò lao lại rút ống tim tim anh ta một mũi, khuôn mặt anh ta lập tức đơ cứng, mắt sụp xuống, miệng không còn mấp máy. Người học trò la hét cuồng loạn: Người ta sẽ tin ta, người ta sẽ tin ta”. Hắn lảo đảo chạm vào mấy cái máy nằm ngổn ngang, dây đứt chạm điện bị nẹt lửa lẹt xẹt, trở thành “con mồi ngon” cho đòng điện, người hắn bị giựt bắn liên tục rồi đổ gục, máy móc nổ lụp bụp bung bể tung tóe…
Nàng tình đầu tới được nơi thì phòng thí nghiệm chỉ còn là một đống hoang tàn. Hai cái xác một nám đen như sét đánh và một cơ thể bất động thoi thóp thở.

***

Tiếng lào xào, gào thét, hú hí ghê rợn bay tới nhưng lần này anh ta không thấy lạnh buốt sống lưng, anh ta đã biết là gì rồi, cơn gió mang linh hồn chết đã trở lại.
Cơn gió hỏi:
“Anh đã biết được mình là ai chưa?”.
Anh ta đáp:
“Ta đã biết, ta đã biết tường tận hết rồi, cảm ơn ngươi đã cho ta thời gian, bây giờ ta ra đi cũng hông có gì hối hận, ta chỉ tiếc là sự việc của bác sĩ mà ta góp sức đã không thành”.
Cơn gió an ủi:
“Ngươi cũng đừng quá đau buồn, ta nghe nói là đã có định mệnh”.
Anh ta đồng ý:
“Có lẽ vậy”.
Cơn gió tiếp:
“Vậy bây giờ theo ta được rồi chứ?”.
Anh ta định ừ, chợt nhớ lại:
“Ngươi đã giúp ta nhiều xin giúp lần cuối cho trót, cho ta thêm chút xíu nữa thôi, ta biết nàng tình đầu của ta sẽ tới ngay bây giờ”.
Cơn giớ nghe nàng tình đầu nên thông cảm:
“Cũng được, nhưng ngươi đâu cử động gì được?”.
Anh ta nói luôn:
“Hay ngươi cho ta chút sinh lực đi, đủ cho ta ngọ ngoạy ta báo cho nàng ta thương yêu nàng lắm và nàng phải chấp nhận số phận thôi”.
Cơn gió mủi lòng:
“Ta phá lệ một lần vậy”.
Lát sau anh ta nghe hai tiếng bước chân như ngày hôm trước tới, vậy là của vị giáo sư và nàng tình đầu. Sau tiếng tra chìa mở khóa nàng đứng sát bên anh ta. Vị giáo sư khám và nhìn vô máy móc rồi lắc đầu:
“Dấu hiệu xấu rồi, không thể cứu vãng”.
Nàng tình đầu cầm tay anh ta, đưa lên môi lên mũi, chợt bàn tay từ lạnh ngắt chuyển dần sang nóng hòa lẫn những giọt nước mắt của nàng nhỏ xuống, mấy ngón tay anh ta ngọ ngoạy, nàng mừng rỡ tưởng chừng có tia hy vọng nhưng nàng chưa kịp kêu lên thì bàn tay im và bắt đầu chuyển lạnh trở lại. Biểu đồ trên máy nhảy cao mấy bước sóng rồi từ từ hạ xuống và tắt. Nàng hiểu thông điệp của anh ta gởi cho nàng, nàng thì thầm: “Hẹn gặp ở thế giới khác”.
Hồn anh ta tạm biệt cái xác mình rồi bay lên theo cơn gió mang linh hồn chết. Vút một cái anh ta đã ở trong bầu trời màu tối đen và bao la, xa xa hình như anh ta thấy một ngôi sao nhấp nháy đang chừng chờ tỏa sáng. / HẾT

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

SÔNG HƯƠNG

nguyenducbatngan

Trong nắng sớm phải em vừa trỗi giọng
Tiếng dội trào hôn ngấn nước đang gieo
Ngày thúc đuổi ngày lăn trườn ước vọng
Bên kia trời sương khói cũ bay theo

Sum họp đó biết qua miền hờn giận
Đôi chân rung từ vạn lý ai chờ
Cùng ngã quỵ em giữa vời lận đận
Ngàn lá thơm chia rẽ mộng hai bờ

Mùa hạ chảy theo thu đầu lãng mạn
Tình hoài em rủ xuống tóc mông lung
Anh ngồi uống những mạch đời đã cạn
Chờ mong nhau dù phiêu lạc muôn trùng

Em đưa tiếng thôi giọng hò đã bặt
Anh đưa tin tình mất dấu phương mô
Nước vẫn ngủ thuyền vẫn chèo khoan nhặt
Mùa điêu tàn mùa bấc lụn mùa khô

Chút khói ấm quyện từng vòng đưa đẩy
Buổi đầu tiên còn xao xuyến hôm nay
Còn thanh thoảng như tình lau với sậy
Có ngại ngùng hãy yên ấm trong tay.

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

NGỌC TRONG TIM

diemchaunguyen

Từ ngày mẹ chết, Ngọc thường hay ngồi khóc…cô khóc liên hồi, nhất là mỗi khi trời mưa… Hôm nay ngoài trời, những tiếng sấm chớp giống tiếng súng cà nông, như đang gầm gừ, phẫn nộ… báo hiệu trời sắp có cơn mưa lớn!
…Thời tiết dạo nầy thay đổi khá nhiều… Trên TV, hình ảnh và giọng nói của cô xướng ngôn viên đang loan báo tin nhiều người ở chính tiểu bang nầy, và các tiểu bang lân cận bị lũ cuốn trôi…
Ngọc vẫn ngồi đó bất động, hai mắt rưng rưng… Cô đã đổi qua đài Việt Nam, một bài nhạc êm êm vang lên từ chiếc loa, nhưng lâu lâu lại bị át bởi tiếng sấm nổ dữ dội, và những ngọn gió mạnh kéo lê trên mái, quất vào những gốc cây cành lá trong vườn rung quằn, gây ra những tiếng động kinh hãi…
Cô vẫn ngồi im không phản ứng! Chỉ thấy nỗi sợ hãi trong người càng lúc càng tăng, tê liệt cả chân tay… như hôm cô nhìn thấy mẹ bị dòng nước hung dữ kéo băng băng vào ống cống lớn cạnh nhà, cuốn đi mất tăm… mà cô không làm gì được!!!
Ngọc gục đầu xuống thẫn thờ… chợt cô nghe bụng mình kêu lên rột rột… cô đói… hình như từ hôm qua đến giờ, Ngọc đã ngồi như thế này, trên chiếc sofa phòng khách, và chưa có gì bỏ bụng!
Chắc là Ngọc phải đi tìm cái gì đó để ăn.. Cô từ từ đứng lên, thân thể hơi ngã nghiêng vì đuối sức… dáng đi chao đảo. Thì cũng phải… cô đã ngồi quá lâu rồi còn gì. Đêm qua có vào giường ngủ đâu! Hai mắt cô cứ thao láo nhìn ra cửa sổ, mà bên ngoài trước có đường mương và ống cống lớn ở đó, cơn nước lũ tràn vào thành phố bất ngờ, các miệng cống đầy ắp nước cuồn cuộn chảy xiết… đôi bàn chân Ngọc bị tê cứng, giờ mới được di động, tê rần, mỏi nhừ…
Căn bếp im lìm và lạnh ngắt. Tủ lạnh chẳng còn gì có thể ăn được… Bà chị đã lấy về hết bên nhà khi sự cố xảy ra cách đây vài tháng… Chỉ còn thùng gạo và mấy gói bún, bánh phở khô chưa luộc! Ngọc thở dài mệt mỏi… đôi chân lại rung lên từng cơn!
Bụng Ngọc lại réo lên sùng sục… Khó chịu, cô lần ra phòng khách, nằm úp mặt xuống cái gối trên ghế sôfa, nơi mà Ngọc đã ngự trên đó hai ngày. Phải ngủ thôi, để cho quên cơn đói, quan trọng là làm cho Ngọc tạm quên hình ảnh mẹ đang chới với kêu gào trên dòng nước xoáy cuốn đi…
Khi Ngọc thiếp vào giấc ngủ, thì mưa bắt đầu rơi xuống, mưa lớn và nặng hạt… Mưa năm nay nhiều quá, trái đất có thay đổi rõ rệt! Khi cô đã chìm sâu vào giấc ngủ, thì cảm nhận giấc mơ ấy lại hiện về….
– Mẹ ơi… trời ơi…. ai cứu mẹ tôi…! Mẹ ơi…!
Ngọc thấy mình đang đứng trên miệng cống, ở dưới chân dòng nước hung hãn chảy ào ào… Mẹ đứng gần đó bỗng dưng ngã ùm xuống nước vì mảng đất dưới chân bị xụp một khoảng lớn… Ðôi mắt mẹ mở căng đầy kinh hãi… Cô cuống quýt nhìn quanh để tìm một vật dài khả dĩ cho mẹ bám vào, nhưng hoài công… cô không thấy cái gì có thể tìm ra ngay lúc đó, trong khi mẹ đang bị dòng nước kéo dần tới miệng cống…
Cô giật mình, mồ hôi tuôn ra đầy người và hốt hoảng ngồi bật dậy! Lại nữa, cũng là giấc mơ tàn nhẫn đó.
– Mẹ chết thật rồi!!!
Ngọc ôm đầu lẩm bẩm… vẫn chưa hết nỗi sợ hãi trong giấc mơ, dù cố gắng trấn áp.
Ai cũng bảo cô bị tâm thần sau cái chết kinh hoàng của mẹ. Cô cứ thẫn thờ hối tiếc, tự trách mình mãi… sao lúc đó không tìm được một cái cành cây nào để cứu mẹ! Ngọc thỉnh thoảng lại nói lầm bầm một mình, còn khóc thì nhiều vô kể.
Ngọc đang sống yên ổn với mẹ thì tai nạn đến, mẹ mất đi và cô trở thành vô hồn, “mát mát”…
Khi Ngọc tỉnh lại trong bệnh viện, cô gào khóc như điên… sau đó, cô nói lảm nhảm! Cô cố gắng làm nỗi đau trong tim giảm bớt.
Sau khi tai nạn xảy ra, chị Hai đưa cô về nhà chị ở một thời gian, nhưng rồi nhận thấy phải để cô về ngay chính ngôi nhà cũ cô đã sống thì sẽ tốt hơn… dù cô đơn độc một mình!
– Mẹ cho dì Út về đi… con sợ dì Út quá!
Ba đứa con chị Hai đã kêu lên như thế, vì thấy dì Ngọc cứ khóc thầm, rầu rĩ như một bà điên, làm chúng nó sợ!
– Em không sao… em muốn về nhà…
Thế là chị Hai lại đưa cô về, với một túi thức ăn cho ngày hôm ấy… rồi sau đó, cô thường hay bị đói, ăn kem triền miên! Vì chỉ có ông bán cà rem là đẩy qua trước nhà cô, lắc cái chuông kêu leng keng… bạc cắc thì cô có cả thau…
Cô cứ sống một mình qua ngày như thế, cô độc trong ngôi nhà có mẹ ngày xưa, và không nhớ đến phương hướng…
Người thường xuyên đến thăm là chị Hai. Chị hay nhìn vào tủ lạnh, rồi mua cho cô vài thứ thức ăn làm sẵn từ nhà hàng, nấu cho cô nồi cơm điện, các thứ trái cây cô thích… Chị Hai ngạc nhiên khi thấy trên ngăn đá, có nhiều loại kem cây trong đó…
Ngoài ra, chẳng còn ai quan tâm đến cô…
Ðêm nay lại mưa…. Mưa lớn… Mấy ngày nay chị Hai không sang, chắc là vì trời mưa và bận gì đó, vì lần sau cùng gặp, chị hỏi cô có cần gì không, cô đã đáp, rất tỉnh táo:
– Không cần… em lo được mà…
Chị cười khi thấy cô em Út có vẻ bình thường hơn:
– OK… có gì kêu chị nghe cưng…
Thế nhưng chị đâu có biết là khi chị về, nhiều khi cô Út ngủ và vẫn khóc rấm rức một mình quên cả không gian, thời gian! Cô cảm thấy cô độc chi lạ!
Trời vẫn còn mưa rả rích…Ngọc choàng tỉnh dậy, thấy nhức mắt khủng khiếp. Chắc tại ngủ nhiều? hay khóc nhiều? Cái bụng lại kêu lên rột rột!!!
Cô ngồi lên, lần ra trước mở cửa nhìn trời. Trời buồn mưa màu xám! Ông cà rem cũng nghỉ bán! Mưa mà bán cho ai! Nếu có, chắc cô cũng mua vài cây cất trong tủ đá ăn cứu rỗi khi đói! Bỗng dưng Ngọc cảm thấy chóng mặt, và cô lao đao, quờ quạng, rồi ngã vật xuống trước thềm thật nhanh!
Một lúc khá lâu, thấy có gì ướt ướt trên mặt, Ngọc mở to mắt và nhìn người thanh niên đối diện đang đắp cái khăn ướt lên mặt cô với vẻ ngạc nhiên:
– A, cô tỉnh rồi…
Ngọc nhìn anh ta, nhận ra là người hàng xóm, nhưng vẫn hỏi:
– Anh là ai?
– Tôi ở kế bên nhà cô… hôm trước bác rớt xuống nước, tôi có chạy dọc theo đường mương tìm cả ngày, mà không được…
– Sao tôi không biết?
– Cô gào khóc đến xỉu, sau đó tôi kêu xe cứu thương đến chở cô vào nhà thương thì làm sao biết được!
– Là anh cứu tôi à… Sao mấy hôm nay không thấy anh?
– Cô không thấy tôi nhưng tôi thấy cô… Cô đừng sợ, tôi chỉ dòm chừng cô thôi… và qua đây khi thấy cô bị té xuống, với lại mang cho cô một chút súp và bánh mì…
Nghe anh ta nói, Ngọc ngửi thấy mùi súp thoảng khắp không gian, khứu giác của cô làm cho cái bụng lại cồn cào lên!
Người thanh niên mặc áo pull màu xanh đứng lên:
– Ðể tôi đem thức ăn cho cô… chắc cô bị đói phải không? Hôm nay không có ông cà rem đâu!
“Ủa, sao anh ta lại biết mình hay mua cà rem? Anh ta làm gì mà để ý mình kỹ thế?”
– Sao anh biết tôi mua kem?
– Ðã nói là tôi theo dõi cô mà… thôi, ngồi lên ăn nhé…
Chàng trai đưa cho cô chiếc muỗng sắt cùng tô súp gà thơm ngon, thêm miếng bánh mì lát màu trắng.
Ngọc ăn uống hấp tấp trước ánh mắt thương hại của anh ta. Chợt bắt gặp nụ cười nhếch miệng của anh khi cô bưng tô súp húp đến giọt nước cuối cùng, không dưng Ngọc nổi giận! Không, cô không thể nhận sự thương hại của bất kỳ ai… Có thể họ cho cô là con nhỏ mồ côi bị khùng đây mà.. Khốn kiếp!!!
Ngọc bỗng dưng hất tung mớ chén bát lên, mảnh vỡ văng trúng vào chân chàng trai… Anh ta đau quá, rút lui thật nhanh…
Cô lặng lẽ nhìn những thứ mình vừa đập phá văng tứ tung khắp nơi… một lúc sau, co ro trên ghế và thấy hơi đau đầu, có lẽ cô hối hận vì hành động của mình trước mặt anh chàng nọ!
Nhìn bốn bức tường lạnh lẽo trong căn nhà, cô nhớ lại khi mẹ còn sống, buổi tối hai mẹ con hay ngồi coi TV ngay trong phòng, trên chiếc ghế nầy…. bây giờ chỉ còn mình cô! Vậy mà Ngọc đã làm cho chàng ta bỏ đi!
Ðêm đã qua, buổi sáng Ngọc dậy muộn khi có tiếng chuông điện thoại reo… Ngọc không bốc phôn, ngồi lên nghe tiếng chuông reo… và sau đó nghe lời nhắn:
– Tôi là Tim… Trong tủ lạnh tôi có để súp, bánh mì và trái cây cho cô, đừng ăn kem lúc đói không tốt đâu… bye…
Tim… Một cái tên nghe êm ái, như là “Ngọc trong Tim”… Bất giác Ngọc đứng lên đi vào nhà bếp, cẩn thận tránh những miếng vỡ dưới đất. Mở tủ lạnh, cô thấy nhiều bánh trái, hoa quả, mấy hộp súp, xâu bánh mì lát, phô mai đầu bò và cả hộp chocolate gói nơ hồng xinh đẹp…
Lâu quá rồi Ngọc không có ai quan tâm ân cần như vậy, ngoại trừ chị Hai đôi khi ghé ngang…
Ngọc cảm thấy sung sướng bất chợt! “Tại sao đêm qua tôi lại quá cà chớn với anh như vậy!”… Cô cắn miếng bánh mì và phô mai, ngậm trong miệng để thấy vị ngọt toát ra đầu lưỡi… Lần nầy, Ngọc ăn trong trạng thái vui vẻ, khác hẳn với những lần trước, từ khi mẹ mất đi!
Mưa vẫn chưa dứt, không rền rĩ như trước mà nghe giống bản nhạc tình da diết ngân vang… Có bóng người ngoài cổng… Ngọc nhìn thấy chàng thanh niên trên tay có cây dù xanh đậm, còn một tay thì cầm bó hoa….
– Chào cô… Hôm nay cô đỡ chưa?
Anh đưa cho cô bó hoa… lúc nầy thì Ngọc không giấu nổi nụ cười, nhưng cô vội cúi xuống để tránh ánh mắt đang nhìn mình…
Tim bắt đầu dọn dẹp khắp mọi ngõ ngách trong nhà, những mảnh vỡ đêm qua được bỏ vào thùng rác… Trên bàn ăn, một bình hoa hồng làm rạng rõ căn phòng…
Thỉnh thoảng Tim nhìn cô, ánh mắt âu yếm… Một lát sau, họ ngồi trong bếp, trước mặt là ly trà xanh bốc khói, và hộp bánh bơ thơm phức… Tim nhỏ giọng:
– Lý do anh hay để ý đến em là vì anh thương em, anh đã thích em từ lâu rồi, nhưng chưa được làm quen… Từ khi mẹ em mất, anh muốn được che chở cho em mỗi ngày…
Trái tim của Ngọc như nhói lên, cô bỗng ước muốn được ở trong vòng tay người thanh niên này, người mà mẹ cô khi còn sống đã từng nhận định:
– Có thằng Mỹ ở kế bên nhà mình mẹ thấy nó tử tế lắm, hay giúp những người già quanh đây…
Ngọc đã trở lại bình thường, là con người trước kia của cô…Tim đã đem cô ra khỏi sự u buồn, phiền muộn…
+++
Một năm sau họ làm đám cưới. Buổi tiệc nhỏ nhưng đầy thân mật và ấm cúng, tổ chức ngay tại nhà cô dâu. Tim đã bán ngôi nhà của mình để về ở với Ngọc trong nhà cô, căn nhà nhiều kỷ niệm…
Ngọc ngồi bên Tim, nhìn vào mắt chàng, hỏi:
– Tại sao hồi đó anh không nghĩ em bị điên mà lại yêu em?
Tim quàng tay ôm vợ:
– Vì anh thường nhìn thấy em khóc khi ra đứng ở đường mương phiá trước cổng… Lúc đó, anh thấy em cô đơn và bé bỏng lạ lùng… anh cầm lòng không đậu… muốn được ôm em vào lòng… à… mà em coi chừng nhé…
Ngọc ngơ ngác:
– Coi chừng gì anh…
– Mấy hôm nay mưa nhiều, đừng có bao giờ ra phiá trước đường mương nhé!!!

Diễm Châu