Bài Tháng Sáu

nhaca

Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (1939-), sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960-1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết.

Một số tiểu thuyết Nhã Ca đã được đưa lên màn ảnh. Hãng phim Việt của Đạo diễn Hà Thúc Cần đã dựng một phần “Giải Khăn Sô cho Huế” thành phim Đất Khổ. Hãng Lidac, với đạo diễn Lê Dân, đã đưa cuốn tiểu thuyết Cô Híp Py lạc loài lên thành phim Hoa mới nở. Hai cuốn tiểu thuyết khác của Nhã Ca, Đoàn nữ binh mùa thu và Tình ca trong khói lửa đỏ, cũng đã được hãng Phim Việt mua bản quyền.

Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội “biệt kích văn hóa”. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống “Việt Báo Daily News” tại Quận Cam.

Với thân nhỏ chín muồi trăm tội lỗi
Tôi trở về mang tủi nhục trên vai
Giữa ngả ba đường tay hờ gối mỏi
Tôi cầu xin đời ban phép lạ tương lai

Người cũng vậy lòng muôn nghìn dối trá
Vờ thương yêu vờ đắm đuối ân tình
Tôi trót dại, tin lời trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh

Thôi tình ái hãy về theo ảo mộng
Ta lỡ đi xa hết nửa đời rồi
Người phụ rẫy, ngày điêu tàn đứng bóng
Đêm nghẹn ngào chan muối mặn trong môi

Tôi đã biết tội thân làm con gái
Đời không thương tất cả héo khô dần
Không hiểu về đâu để cầu sám hối
Tôi đốt lỡ lầm theo với tuổi thanh xuân

Tên người ư, đã trở về bóng tối
Tôi đã vô tri giữa tháng năm dài
Và mỗi bận có một người nhắc lại
Tôi cố tìm nhưng chẳng nhớ tên ai.

Nhã Ca

Võ Phiến

TuyHongCuoi

Tên: Nguyễn Thị Tuý Hồng. Bút hiệu: Tuý Hồng. Ngày sinh: 12-10-1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên. Viết văn từ năm 1962

Tác phẩm: Thở dài, nhà xuất bản Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản 1966; Vết thương dậy thì, nhà xuất bản Kim Anh 1966; Trong móc mưa hạt huyền, nhà xuất bản Đồng Nai 1969; Tôi nhìn tôi trên vách, nhà xuất bản Đồng Nai 1970; Mùa hạ huyền, Văn Khoa 1971; Những sợi sắc không (Giải nhất Văn chương toàn quốc 1970), nhà xuất bản Khai Trí 1971; Biển điên, nhà xuất bản Văn Khoa 1971 ; Bướm khuya, nhà xuất bản Đồng Nai 1971

Đã cộng tác với: Văn Hữu, Bách Khoa, Lập Trường, Văn, Văn Học, Tin Sách, Nghệ Thuật, Kịch Ảnh, Con Ong, Diều Hâu, Tia Sáng, Độc Lập, Tin Sáng, Thần Phong, Thời Nay, Đời Nay, Khởi Hành, Tiền Tuyến, Vấn Đề
Là vợ nhà văn Thanh Nam
Ðịnh cư tại Seattle Washington Hoa Kỳ từ 1975

Hai tiết trôi qua, giờ ra chơi, tôi vào phòng giáo sư ngồi nghỉ. Các nam đồng nghiệp làm như không nhìn thấy tôi, vẫn nói chuyện với nhau.
Hôm nay sắc trời đổi khác, nhưng tác phong của mấy ông thầy giáo trẻ ấy vẫn như mọi ngày, họ không bao giờ nhìn tôi nửa con mắt, hoặc tán tỉnh tôi một đôi lời mà lòng tôi thì rất sẵn.
Trường trung học Hàm Nghi tọa lạc sau cửa Thượng Tứ, một ngôi trường khiêm tốn, không nổi tiếng như trường Quốc Học và trường Đồng Khánh. Học trò con trai xứ Huế, sau cuộc cách mạng quân đội lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô, đã đứng vùng lên biểu tình bạo động, đấu tố giáo sư.
Ai ai cũng biết chắc rằng thế nào Bắc-Quân cũng tổng tấn công và đánh chiếm Huế bất cứ giờ phút nào, cha mẹ và các em tôi di cư vào Sàigòn. Tôi là công-chức mới vừa được bổ dụng, bị kẹt lại ở phố cổ, vùng địa đầu.
Tôi xin thuyên chuyển về dạy trường Gia-Hội. Trường này nằm sau đầm sen trước tư dinh ông Hoàng Mười, sáng chiều có con đò nhỏ một mái chèo ngơ ngẩn trầm tư giữa hai bè bèo tím biếc và vạt rau muống tươi xanh non dại như lòng con gái nhẹ mềm..
Những đêm rằm, tôi chèo thuyền về xóm Đập Đá đất khô cứng, ngó xuống thôn Vĩ-dạ xanh um hàng cau lả mình trong gió đa tình, trong ánh trăng Hàn Mạc Tử, lòng thấy nhớ những cuốn sách dày, những tập thơ mỏng, những tên tuổi người viết lách.
Những ngày thứ bảy, tôi phóng xe đạp lên đồi Vọng-Cảnh, hướng về điện Hòn-Chén, thả tầm mắt ngắm núi Ngự Bình trọc đầu, nhìn xa xa về cửa Thuận An, rồi đăm chiêu ngắm Thành Nội êm đềm tĩnh lặng.
Cất dấu hình bóng sông Hương núi Ngự trong tâm, ấp ôm khung trời xứ Huế đa tình đa tật trong lòng và không mấy nặng tình với luân lý Khổng Mạnh, tôi nảy sinh tham vọng viết văn. Nhiều đêm tôi thức trắng viết truyện ngắn đầu tay gửi đăng báo Sàigòn. Một tuần lễ trôi qua, tòa soạn báo Văn Hữu phúc đáp. Trong bao thư trả lời có một nghìn đồng tiền nhuận bút và những dòng chữ hồi âm của nhà văn Võ Phiến: “ Sao tôi khờ dại và ngu như bò! Sao tôi thật thà chất phác như trâu. Suốt thời gian làm việc ở sở thông tin Huế, tôi dốt nát và u mê như heo! Tôi không dám tìm gặp cô một lần, và không đủ can đảm làm quen với cô hồi đó! Xứ Huế đang yêu ai và có bao giờ sông Hương ngủ đò… Chào cô!..”
Hai ngày sau, Võ Phiến thân ái tặng sách: “Tôi gửi cô cuốn Hồng Lâu mộng.”
Tôi phóng xe đạp ra bến sông ngồi suốt buổi chiều. Chớp leo lét trên đồi, sấm rung rền từ đàng xa, mây nằm chồng lên nhau như mây đang làm tình. Cơn giông và làn gió cuốn laị, đàn quạ bay lượn tròn, kêu man dại rồi vòng lại bay lui. Tôi tự hỏi nếu ai đó có một chút buồn, một chút chán đời trong buổi chiều rực rỡ này, kẻ đó chắc không phải là tôi.
Sau đó, tôi dắt xe đạp đi bộ vào làng Quáng, dừng lại bên một cái hói, con lạch này là một nhánh cuả sông Hương.
Nguyệt Biều làng Quáng bao xa
Cách nhau cái hói trổ ra hai làng.

Trước khi rẽ vào Bến Ngự, tôi ghé chợ mua một mớ khoai lang dương ngọc, một chút ít bột hàn-the để làm một gói mứt Huế gủỉ tặng Võ Phiến.
Những lát mứt khoai lang nặng nghiệp văn nghệ, những trang tiểu thuyết Hồng-lâu mộng nặng tình văn hữu, thư từ giao thiệp đều đều mỗi ngày, nhưng Sàigòn và Huế giới nghiêm chúng tôi: tôi không xê dịch khỏi Huế và Võ Phiến cố định ở Sàigòn. Rồi một buổi sáng nắng Huế hung hăng bốc nóng, ông cai trường dúi vào tay tôi một bức thư, Võ Phiến với nét chữ nghiêng nghiêng đã viết: Anh xin thú thật với em một tội lỗi, vì một ngày kia em sẽ hỏi. Xin em tha thứ cho anh: anh đã lập gia đình từ lâu, và vợ chồng anh có bốn đứa con.
Đó là cái nghiệp của ít nhiều nhà văn và nhà thơ nữ miền Hương-Ngự, những kẻ tháo gỡ vòng dây trói Khổng Mạnh Huế để vào Nam hòa nhập với tự do Sàigòn. Những người viết nữ thường sa vào tay những kẻ đã có vợ và nhiều con. Nếu tôi là một ông thầy tướng số mù, (thầy bói thì phải mù, chứ thầy bói mà hai mắt mở thao laó thì nói ai nghe), tôi sẽ tiên đoán vận mệnh của các nhà văn nữ: văn chương thì rạng rỡ, nhưng tình duyên thì trắc trở. Những nhà văn nữ thường thích sinh sống ở Sàigòn hơn ở Huế, Vĩnh Long, Phan Rang. Sàigòn thông cảm tâm sự của họ hơn Huế, và những nơi khác. Sài gòn có đủ đàn ông để họ lãng mạn và làm bạn.
Cha tôi và ông em rể của tôi tìm đủ mọi cách vận động cho tôi được thuyên chuyển vào Sàigòn. Hồi đó, một công chức xứ Huế xin đổi vô Sàigòn là một việc không phải dễ, nhưng một công chức Sàigòn xin đổi ra xứ Huế, vùng điạ đầu gai lửa thì.. muốn là được .
Tư dinh ông Hoàng Mười rộng rãi trang nghiêm, bộ quốc gia giáo dục thu mua và trùng tu thành trường trung học Gia-Hội, tôi làm đơn xin được ở trong khuôn viên nhà trường. Cấp trên cấp cho một phòng cạnh nhà ông Cai. Bà Cai gánh cho tôi hai thùng nước giếng mỗi ngày.
Mẹ tôi ra Huế một lần và yên tâm khi thấy chỗ ở của tôi an toàn.
Tôi tham vọng viết truyện dài, nhưng không có thực tài, khả năng chỉ đủ để sáng tác truyện ngắn. Trong một truyện vừa không ngắn không dài, tôi miêu tả hình ảnh một tên đàn ông đểu giả gian dối, một kẻ ngọai tình với tôi và phụ tình với vợ. Nhiều đêm dài mất ngủ, cùng với hoa quỳnh ngày tàn đêm nở, tôi trút giận hờn vào những câu văn ác ôn. Tình yêu là một giọt máu mang số 35.
Võ Phiến khuyên:
“Em hãy liên lạc với tòa báo, nói với ông chủ bút gửi trả lại cái truyện ngắn đó…không đăng báo. Em mà để cái truyện ngắn đó đăng lên báo…thì thì em lỗ, anh thì chẳng mất mát gì.”
“?.”
“Em hãy thay đổi bút pháp, thay đổi giọng văn, đừng trút giận hờn vào bài viết. Đừng đùa với dư luận, đừng khai sự thật với độc giả… Phải dấu kín, phải niêm phong bí mật lại. Dư-luận độc địa lắm. Chúng ta không lấy được nhau thì chúng ta sẽ làm sui gia với nhau. Con anh sẽ lấy con em.”
“Con anh đã lớn sầm sầm cái đầu, còn tôi thì chới với chưa chồng, làm sao đẻ con kịp để mà sui gia.”
Năm đó, học sinh Huế bãi khóa biểu tình, tuyệt thực dấn thân, đấu tố thầy giáo, trường học đóng cửa suốt nửa niên khóa.
Các tướng lãnh miền Nam âm mưu lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm trong lúc Bắc quân Cộng Sản tấn công dồn dập, dân chúng hoang mang, mất niềm tin. Giang sơn miền Nam sắp tiêu tan, những tướng lãnh cầm nắm vận mạng quốc gia cứ phóng tay phát động những cuộc cách mạng. Cách mạng xía vô đời sống hằng ngày của người dân, cách mạng kéo theo chỉnh lý, phản cách mạng nối tiếp đảo chánh, miền Nam nhất định sẽ chết yểu. Ông tướng này đá ông tướng kia lăn xuống để mình trèo lên ghế cao.
Học sinh chờ đợi chừng đó để bỏ học. Trời làm thiên tai, Huế giông tố mưa gió bão lụt, trường học vừa mới mở cửa đã đóng lại. Suốt hai mùa thi đầu hè và cuối hè, tổng số thí sinh trúng tuyển ít quá, chính quyền lo sợ học sinh bất mãn sẽ bạo động bãi khoá tuyệt thực. Để o- bế lòng dân, bộ giáo dục cho mở thêm một kỳ thi trung học đệ nhất cấp thứ ba trong năm gọi là ân khoa, một khoa thi đặc ân dành cho học trò thi hỏng được thi lại, và giáo chức được đặc ân đi chấm thi tại nơi nào tuỳ thích trên lãnh thổ miền Nam: Đà Lạt, Nha Trang, Lâm Đồng, Buôn Mê thuộc.
Tôi đi Dalat chấm thi và tạm trú tại cư xá Bùi Thị Xuân. Võ Phiến từ Sàigòn đến Dalat trước tôi vài tiếng đồng hồ.
Trời mau tối, lâu sáng. Dalat chưa vào đêm, gió xé rách những cánh hoa và xoay tít chúng trên vai người đi đường. Các nữ giáo chức ăn cơm tối xong họp mặt chuyện trò trong phòng khách. Cô Hồng Vân nói sẽ làm đơn xin thuyên chuyển lên Lâm Đồng dạy học. Chị Lai Hường thì hy vọng được đổi đến cao nguyên Dalat hành nghề mô phạm vì chị đắm đuối say mê một sĩ quan võ bị Thủ Đức. Bà Minh Khuê giám học trường Đồng Khánh Huế, cũng hứng lên muốn xin thuyên chuyển đến trường Bùi Thị Xuân Đàlat sương mờ..
Đêm tối, Võ Phiến đến cư xá Bùi Thị Xuân tìm gặp tôi, nhìn tôi qua cửa kính một lát rồi gõ cửa.
Chúng tôi đi đêm dưới trăng mờ Dalat. Vườn nhà ai, những búp hoa Quỳnh màu bạch ngọc đã uốn cong cánh từ chiều muộn để sẽ nở bung cánh ra khi màn đêm dần xuống. Mỗi bước đi của chúng tôi là mỗi nhịp đời nhẹ êm, mỗi hé nở âm thầm của quỳnh hoa, mỗi hơi thở dài sâu của câm lặng tình cảm. Bóng tối chụp lên cảnh vật, nhưng ánh trăng cũng sáng soi chiếu xuống vòm cây cành lá. Đêm nhẹ êm, thế giới về khuya tĩnh lặng, hương quỳnh-tương thơm dịu trời mây. Trong thời gian và không gian này, quỳnh hoa sẽ bung nở với trăng, với khoảng không bao la và với bóng tối lan tràn để khi đêm hết, quỳnh hoa sẽ tàn vì mặt trời chói sáng, quỳnh hoa sẽ chết đúng vào ngày mai với ańh thái dương nóng cay. Cuộc đời của hoa quỳnh chỉ trường thọ được một đêm thôi.
Bàn tay nhà văn xoắn chặt vai tôi:
“ giờ anh đưa em về, ngày mai anh sẽ đến đón em sớm.”
Ánh trăng trên đường về sờ mó vuốt ve thịt da tôi, tôi nếm tình yêu trên chót lưỡi, nhắm mắt nhìn hình bóng mình in trên đường đời sỏi đá, trên lối đi lót gạch và đầu óc tôi tự hỏi làm sao một ai đó có thể vướng mắc chút sầu riêng trong một đêm trăng toàn bích và an lành như thế này. Tôi tự hỏi thêm một câu nữa: sao anh không cùng em đi hết đêm dài? Tình yêu cay như phở tái chín, tình yêu chua như hàn the, hay tình yêu làm xác thân ta rạo rực sướng khoái… làm sao giảng nghĩa được? Anh và em như hai hạt muối mặn hòa tan trong đêm ngọt. Những cảm giác em đang có, thúc đẩy em muốn đi cùng anh khắp tổ quốc và đến một nơi chỗ không có tiếng reo hò chiến thắng, không có tiếng khóc than thất thủ kinh thành, không có nội chiến Nam-Bắc quốc-cộng . Em đang hứng, em đang đầy và em đang căng, em có thể hứng và đầy và căng và yêu anh từ chỗ anh đang đi bên em đến bất cứ chỗ nào anh nằm xuống ôm em.
Sáng hôm sau, nhà văn bốc tôi ra khỏi cư xá giáo chức để đến một ngôi nhà cho thuê.
Đàlat hôm ấy thật đẹp. Sau mấy ngày âm u, hôm nay nắng hồi sinh. Trời bao la nắng hanh vàng, tôi hôn nắng, tôi hôn ánh sáng .
Tôi giữ bàn tay Võ Phiến khi đi giữa rừng thông. Dưới chân đồi, xe lam ba bánh đưa rước khách và xe ngựa thồ qua lại ngược chiều. Hai bàn tay tôi thật khô, thật ấm, và thật mềm, nhưng đa tình lắm lắm.
Lên tới đỉnh cao trên lưng đồi thông, chúng tôi yên lặng ngồi xuống. Chiều tắt nắng. Thời tiết lười biếng. Gió thở từng hỏi dài mát dịu. Trời đất hòa đồng với ngàn hoa muôn lá. Trời trên cao và đồi thông Dalat dưới thấp hiểu lòng nhau, xích lại gần nhau hơn. Hoa lilac màu tím biếc bông cà. Hoa đừng-quên-em màu hồng sẫm. Tình yêu đột xuất trong xác thịt tôi. Tình yêu là cặp bài trùng ăn ở với nhau mãn đời, là đôi bạn không bao giờ đoạn tuyệt, là chuyện vui để cười chút thôi, là tâm địa không sâu độc đa mang thù oán, là quần áo lót yêu thương vợ anh mặc vào người, là viên thuốc bổ, là sự thúc đẩy anh phải kiếm việc làm, và là con chó tốt bụng chỉ sủa gâu gâu chứ không bao giờ cắn… vân vân … Chỉ gồm hai chữ mà thôi, nhưng sao mà rắc rối không định nghĩa được cái gọi là tình yêu.
Võ Phiến xích lại gần:
“Anh không ham muốn em từ phút ban đầu, cũng không ham muốn em sau cái phút anh nhìn em qua cửa kính cư xá Bùi Thị Xuân, mà anh chỉ yêu em bởi vì những câu văn đầu tay em viết trong truyện ngắn gửi đăng báo… Yêu đời sống, chúng ta hãy đầu-cơ khả năng, thì giờ và lòng thành vào văn chương. Anh cho nghệ thuật tất cả tài sản tinh thần của anh. Con đường anh đi là con đường văn nghệ, chấp nhận sống và chết, trừu tượng và cụ thể. Anh không phải là họa sĩ, nhưng anh có màu sắc nét vẽ; anh không phải là nhạc sĩ nhưng anh có âm thanh tiếng động.”
Nhìn thông reo, anh nói tiếp lời tình vào tai tôi:
“Em hãy nhìn lên: Trời gió, thông reo, em hãy ngắm kỹ những đọt thông trên cao tít. Gió như vậy, nhưng những đọt thông vẫn không lay động, chỉ những cành lá dưới thấp xoay mình mà thôi.”
Tôi gật đầu:
“Dalat tuyệt vời! Đất Dalat nhiều phân bón nên cây cối tốt tươi… Mỹ viện trợ cho miền Nam gạo cơm tiền bạc, và cả phân bón cây cối”.
Võ Phiến không cử động bàn tay nữa:
“Huế đất rộng, người ít. Nhà cửa ở Huế, nhà nào cũng có một miếng vườn. Sàigòn thì quá đông người chật chội, nạn nhân mãn và nạn kẹt xe là hai mối đe dọa sẽ làm Việt Nam khó mà trở thành một cường quốc Đông nam Á.”
Tôi nhìn quanh:
“Nhiều người ở Huế đang chuẩn bị di tản vô Saìgòn.Tôi cũng sắp theo gia đình vô Nam lánh nạn Cộng Sản.”
“Đừng vô Saìgòn nắng nóng! Huế có muà thu gió mát. Còn Sàigòn muốn hưởng gió mát mùa thu thì phải có quạt máy.”
“Anh cứ khuyên tôi đừng xa Huế, bộ anh muốn mượn tay Cộng Sản giết tôi chắc? Theo ý anh thì miền Nam còn cầm cự được bao lâu nữa mới mất vào tay Cộng Sản?”
“Mối lo âu hàng đầu của chúng ta là chúng ta không tập đứng với hai bàn chân của chính mình, mà phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.”
Võ Phiến là một văn tài lớn, ngòi bút của ông như quả banh lăn quá lằn vôi biên, ông viết đủ mọi thể loại: văn xuôi văn vần thơ bút ký. Ông cộng tác với nhiều báo chí nhưng tuyệt đối không viết tiểu thuyết ba xu đăng báo hằng ngày.
Ông tự do nhiều, chống Cộng mạnh, và sẽ chống Cộng cho đến khi hai lỗ mũi không còn thở được nữa. Và ông quê một cục, cả đời không hát một câu, không thuộc lòng một bài ca nào hết. Đó là một người vô thần vô thánh không can nổi, không đi lễ chùa cầu an, không vô nhà thờ rửa tội sám hối, không Phật không Chúa không Hồi-giáo Mohamed. Có lẽ danh nhân thế giới mà Võ Phiến mến mộ là Sigmund Freud.
Tôi hỏi:
“ phải đức tin của anh là tình dục?”
Khi chúng tôi ngang qua quân trường võ bị, bỗng có một người đàn bà đi ngược chiều, tay dắt một đứa con gái mặc áo đầm.
Võ Phiến mặt mày tái xanh, sợ hãi, vụng về hoảng hốt quýnh lên:
“Vợ anh, em tìm xe về đi.”

******

Võ Phiến đi Huế công tác một lần nữa. Nhà văn Đỗ Tấn dẫn ông ta đến thăm tôi lần đó.
Lần đó Võ Phiến nói:
“Em không bằng Nguyễn thị Hoàng, em thua kém Nguyễn thị Thụy Vũ. Họ kính nể người yêu, họ không oán trách người tình, không căm giận những người đàn ông mà họ đã thương. Còn em, em không tốt, em nói xấu anh dữ dội trong truyện ngắn em viết…”
Qua hết muà xuân đau thương, tôi giã từ thành phố tình ca, thành phố cổ thơm hương đức hạnh của các bà công chúa, ngát hương thiền của các bậc chân tu, tỏa hương trầm của cố đô những muà lễ hội và nhẹ thoảng hương sen tinh khiết từ các ao hồ.
Em là gái trời cho không đẹp, và trời không cho một đàn ông. Một cô gái đã già, một nữ giáo chức cô đơn dạy học ở một tỉnh lỵ chậm tiến, nhưng tôi không Huế một chút nào cả, tôi nhanh chóng hội nhập đời sống Sàigòn. Hồi đó, tôi nói tiếng Bắc, phát âm rõ từng chữ và đúng giọng, nhưng không bắt chước được giọng Nam.
Giờ phút đầu tiên tiếp xúc với học sinh trong Nam, tôi ngạc nhiên nhận thấy học trò trường Mạc Đĩnh Chi Sàigòn ngoan hiền, kỹ luật và kính trọng thầy cô.
Tôi đến sở thông tin tìm gặp Võ Phiến lần cuối rồi dứt khoát chấm hết mối tình phiền não này. Không thường xuyên lui tới toà soạn Bách-khoa nữa, không luôn luôn gặp gỡ nhóm văn sĩ Bách-khoa nữa, tôi xoay qua giao lưu với các nhà văn tàn dư của nhóm Sáng Tạo, Hiện Đại.
Quen biết qua một hai cái thư trao đổi kiến thức từ lúc còn ở Huế, bấy giờ tôi mới gặp mặt văn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, tức đại úy Dư Văn Tâm trong nha chiến tranh tâm lý.
Người ta bảo Mai Thảo mục hạ vô nhân; Võ Phiến tỉ mỉ chẻ sợi tóc ra làm tư; Thanh Tâm Tuyền khó khăn kiêu ngạo không bao giờ khen ai một câu. Thanh Tâm Tuyền phê bình Võ Phiến và các văn hữu khác: “ Những nhà văn viết truyện dài 5 trang! Những nhà văn không có sách xuất bản! Những người con nít viết văn, viết cái kiểu gì mà đọc lên hiểu liền, hiểu ngay, không cần phải suy đoán. Một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm đọc xong, người đọc không hiểu tác giả muốn nói gì, muốn trình bày một quan điểm gì. Đó mới đúng là một cuốn sách hay. Muốn viết được truyện dài thì phải kéo dài tài năng ra.”
Vài tháng sau, tôi gửi bản thảo truyện dài đầu tay Những sợi Sắc Không dự thi giải Văn học nghệ thuật toàn quốc. Các giám khảo chấm giải là Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn vv… Các thí sinh gồm có Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ vv…
Truớc hội đồng giám khảo, Võ Phiến lên tiếng:
“Xin đề nghị toàn ban giám khảo loại bỏ tác phẩm Những Sợi Sắc Không, không cho phép tác phẩm này dự thi vì tác giả đã đánh máy bản thảo gửi đi dự thi chứ không gửi một cuốn sách. Yêu cầu ban giám khảo không nên chấm chọn tác giả này trúng giải. Muốn trúng giải Văn học nghệ thuật toàn quốc, thí sinh phải gửi sách đi dự thi, chứ không được gửi bản thảo…”
Trong buổi họp tuyên bố kết quả, Võ Phiến nhấn mạnh:
“Giải Văn học nghệ thuật là một giải thưởng lớn. Truyện dài Những Sơị Sắc Không chỉ là một tập giấy đánh máy, một tập bản thảo chưa in thành sách, chưa phải phải là một cuốn sách. Tôi xin lập lại: đó chỉ là một tập bản thảo được đánh máy. Hãy loại bỏ.”
Phiên họp tiếp tục vào ngày hôm sau; Võ Phiến lên tiếng:
“Nhã Ca là một dáng lớn, một tài hoa chói ngời trong văn học, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ là những người viết đang rực sáng, đang lên hương…”
Những gì xẩy ra trong mỗi buổi họp mặt của ban giám khảo, Mai Thảo đều kể hết với Thanh Nam:
“Một tác phẩm đoạt giải nhất phải được ba giám khảo đồng ý. Trong lần họp cuối cùng, Võ Phiến gân quá, gạt hết mọi ý kiến xây dựng của các giám khảo khác. Tác phẩm Những Sợi Sắc không chỉ được hai ông thầy đồng ý, nhưng quy luật bắt buộc phải đủ ba ông. Cuối cùng, ông trưởng ban tuyên bố: Truyện dài Những Sợi Sắc không chỉ được hai vị giám khảo chấp thuận, hãy còn thiếu một. Vậy, tôi sẽ tường trình laị với văn phòng phủ tổng thống rằng: Giải Văn học nghệ thuật năm nay không có tác phẩm trúng giải nhất, mà chỉ có hai tác phẩm đoạt giải nhì đồng hạng.”
Mai Thảo kể tiếp:
“Bỗng từ cuối phòng họp,Võ Phiến ho lên một tiếng, uống một ly chanh đường cho dịu cổ rồi nói một hỏi: Năm 1963 là một năm ghi dấu những bước tiến, những thành công của văn chương nữ giới. Những nhà văn nữ của chúng ta giờ này đang làm chấn động tình cảm, đang xuôi ngược tìm kiếm chất liệu, đang lao đao vấp ngã vì những vấn đề triết học quá cao siêu, vì những hoang mang ngờ vực trước tình thế sa đọa của đất nước.”
Vị chủ tọa hội nghị tuyên bố bế mạc buổi họp:
“Thưa quý vị, tác phẩm Những Sợi Sắc Không của Túy Hồng chỉ đoạt giải nhì đồng hạng”…
Bỗng Võ Phiến dong tay lên phát ngôn một lần nữa, ngón tay trỏ cong cong như cái lưỡi câu:
“ Khoan khoan… tôi đồng ý với giám khảo Nguyễn Mạnh Côn và giám khảo Mai Thảo: Tác phẩm Những Sợi Sắc không đoạt giải nhất văn học nghệ thuật miền Nam năm 1970.”
Mai Thảo tiếp theo:
“Võ Phiến chẻ sợi tóc ra làm tư. Những gì hắn đã trải qua, hắn nhớ dai và thù dai… Hắn là nhà văn lớn, một cây bút kẻ cả, nên cũng có lắm người đàn bà đi qua đời hắn. Tất cả những người đàn bà bước vào đời hắn, đều được hắn tạp ghi, tạp luận và tạp bút. Nhưng cái tác phẩm Những Sợi Sắc Không đó, hắn loại bỏ, bởi vì có điểm thiếu sót là tác phẩm chưa in thành sách. Và tác giả Những Sợi Sắc Không,cũng không hề được hắn nhắc tới tên, như hắn đã âu yếm nhắc tên Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Thuỵ Vũ trong buổi họp. Võ Phiến là một cây bút phê bình khách quan và công bằng, không thiên vị. Điều gì hắn cho là đúng với lẽ phải thì hắn làm.”
Võ Phiến viết nhiều sách, sở trường của ông là Truyện Vừa, không dài không ngắn.
Gật đầu, rung đùi, nâng ly bia 33 lên miệng, dụi mẫu thuốc lá vào cái gạt tàn, Thanh Nam nói:
“ Giải nhất, giải nhì, với giải đồng hạng… Suýt chút nữa thì không ăn được cái giải gì và làm trò cười cho thiên hạ.”
Sau khi Mai Thảo từ giã để đến phòng trà với người ca sĩ hát bài có phải em là mùa thu Hà Nội, Thanh Nam nhìn tôi:
“Có những kẻ nhớ lâu và giận lâu… Anh, một người con gái anh đã quen và đã yêu thì không bao giờ anh ghét. Anh công bằng nói rằng Võ Phiến thù em.”
Tôi trợn mắt:
“Văn không phải là người. Những gì tôi viết ra… đều là đùa nghịch giỡn chơi thôi. Tôi chỉ biết một điều về Võ Phiến là ông ta rất thương yêu vợ.”
Thanh Nam bảo tôi bỏ nghề dạy học để xoay qua viết bài cho đài phát thanh.
Chiến tranh tiếp diễn, miền Nam là món nợ, là một cục nợ khổng lồ người Mỹ mắc từ tiền kiếp nên kiếp này phải nhúng tay vào chiến cuộc miền Nam, một quốc gia nhược tiểu đang giãy chết với bốn đạo quân: Mỹ, Bắc Việt, giải phóng, Nam quân.
Thanh Nam, là một văn sĩ nhỏ nhưng chơi toàn với những tay lớn, đã nhờ một ông thiếu tá giới thiệu tôi với một bác sĩ quân y để xin một giấy chứng nhận tôi bị đau bệnh thần kinh điên loạn, được nghỉ phép ăn lương, gọi là nghỉ phép giả hạn. Tôi ở nhà nghỉ giả hạn ăn lương của đài phát thanh Mỹ bốn năm và vẫn lãnh lương giáo chức của chính phủ miền Nam Việt Nam. Sau đó Thanh Nam nhờ nhà báo Lê Phương Chi giới thiệu tôi với ông giám đốc Khai Trí để bán tất cả những tác phẩm tôi đã viết, đang viết, và sẽ viết với một số tiền trả trước. Thanh Nam nói: “ Em cứ làm theo lời anh.Trời phạt anh chịu.”
Nhờ viết bài cho nữ danh ca Thái Thanh đọc hằng đêm trên làn sóng điện chiến tranh tâm lý, ba mươi tháng tư ngày quốc hận, tôi đem được gia đình sang Mỹ. Trạm nghỉ chân đầu tiên trên bước đường di tản là đảo Phú-Quốc. Công chức đài phát thanh được lãnh mỗi người ba mươi sáu đô la tại biển đảo này.
Sau một tuần lễ, người tị nạn leo lên hạm đội số 7 của hải quân Hoa Kỳ để sang Mỹ đổi đời.
Lênh đênh trên đường biển sóng reo sóng cười, biết mặt trùng dương biết trời mênh mông, nhưng dân tị nạn cứ quen miệng kêu khổ ơi là khổ. Hầm tàu chật chội nóng hực hơi người. Trẻ con ói mửa, iả đái và kêu khóc vì đói bụng, đau đít, rôm sảy. Ngày đêm mọi người nằm lăn ra trên sàn tàu. Không có chiếu trải dưới lưng, không có chăn đắp trên mình, mỗi ngày mỗi tị nạn chỉ được cấp phát một hộp lương khô C-ration, nhưng mỗi ngày, hy vọng mỗi vươn lên. Hoa Kỳ, Mỹ, Núi vàng… đời sống mới đang mở cửa trước mắt chào đón mọi người.
Một bà nằm cạnh tôi nói nhỏ:
“Hạm đội số bảy của đại cường quốc cái kiểu gì mà nghèo khổ thế này.”
Tôi đáp:
“Chắc đây không phải là hạm đội số bảy, mà chỉ là hạm đội số sáu rưởi..”
Chiến hạm lướt sóng, vượt Thái bình dương rồi đến Mỹ.
Mệt mỏi vì say sóng, Thanh Nam bia rượu uống nhiều từ thuở bụi đời nên giờ phút này xỉu. Tàu cập bến, dân tị nạn phải trèo thang dây để lên bờ.
Một người đàn ông đồng hương chỉ tay vào bốn đứa con tôi và nói:
“Ông Bà một nách bốn đứa con dại, để tôi giúp, tôi đỡ hai đứa bé này trèo lên bờ.”
Rồi ông ta kéo hai đứa nhỏ đi.
Lên đến đảo Guam, Thanh Nam bảo:
“Em phải ở trong trại lính không được đi đâu hết, thằng Ốc Sên sẽ phải đi xin sữa cho thằng Cu Tí uống. Anh mỗi ngày phải ra khỏi trại lính để hỏi tin tức bạn bè ai đi được, ai kẹt lại.”
Theo lời đồn thì những ai làm đài phát thanh ăn lương Mỹ đều được Mỹ bốc đi hết. Tôi được biết Viên Linh và Lê Tất Điều hiện đang có mặt trên đảo tị nạn.
Cuối cùng, dân tị nạn được tàu bay bưng đến thành phố Pennsylvania miền Bắc Mỹ.
Từ đảo Guam đến Hiệp Chủng Quốc, con chim sắt thẳng cánh bay bốn ngày đêm. Chúng tôi sinh dưỡng bốn đứa con, gia đình sáu người, nhưng Thanh Nam không lanh trong những lúc người đàn ông cần phải lanh, chỉ tìm được năm chỗ ngồi. Bốn ngày đêm giam hãm trong bụng tàu bay chật hẹp, thằng con út nằm trên đùi tôi lên cơn sốt nóng lạnh, tôi mệt mỏi ngồi ôm con niệm Phật từ bi gia hộ cứu độ cho nó đừng làm kinh run giựt tay chân. Trẻ con dưới ba tuổi làm kinh, lớn lên sẽ không cao.
Mất ngủ đêm ngày, đầu óc tôi thao thức nghĩ rằng mình đã sống hư hỏng hơn một nửa cuộc đời ở quê hương rồi, bây giờ phải lo làm ăn, dại gì mà chơi, ngu gì mà lười. Ước ao gì có được một cuốn từ điển Việt Anh lúc này để học Anh văn ngay tức khắc. Nước Mỹ đây rồi, đất lành ta đã thiền hành và đã đến, Việt kiều sẽ học English để đi làm, sẽ dồn tiền mua nhà, mua xe, mua bảo hiểm. Việt kiều sẽ có một sớm mai hồng, một bình minh xanh để ngắm, để nghe tiếng chim nói vào tai rằng đêm đã tàn, ngày đã nở, phải vùng dậy để lắc lư con tàu đời. Quá khứ đã chết, cuộc đời mới đã nhô ra ở phương đông..
Bỗng tôi sực nhớ mấy lời trao đổi giữa nhà văn Lê Tất Điều và nhà báo Lê Phương Chi ngày nào còn ở Sàigòn:
“Tình yêu của Võ Phiến dành cho cô bạn xứ Huế đã chết nghẻo cổ rồi, gái Huế ngủ đò và hò Huế chấm hết từ canh ba rồi. Bây giờ Võ Phiến chỉ mơ ước ngủ với Trùng Dương biển cả.”
“Bạn nói đúng quá và thật quá! Trùng Dương Nguyễn Thị Thái trẻ hơn nhiều và đẹp. À, mà có phải Trùng Dương đó không? Sức mấy! Võ Phiến mơ cao quá!”
Tôi ngủ thiếp đi một chặp cho đến khi chiêu đãi viên hàng không loan báo phi cơ sắp đáp xuống phi trường Pennsyilvania. Hành khách phải nịt dây an toàn thật chắc và cài khóa an toàn thật kỹ, không được rời chỗ ngồi, không được vào phòng vệ sinh từ giờ phút này.
Khi phi cơ ngừng cánh, tiếp viên hàng không lại bảo hành khách hãy ngồi yên… rồi lại bảo đứng dậy chuẩn bị hành lý và bước xuống máy bay trong trật tự.
Chân tôi chạm đất hứa, đầu tôi đội trời tự do. Đại bản doanh quân lực Hoa Kỳ hùng anh nhất thế giới đặt tại đây. Tôi đi và thở không khí trong sạch của một siêu cường quốc sản xuất nhiều thuốc xịt trùng và diệt sâu bọ hữu hiệu nhất thế giới, nhiều xe hỏi tối tân nhất thế giới.
Thanh Nam gặp bạn quen dừng lại nói chuyện, tôi kéo bốn đứa con bước nhanh về lều trại số tám, dân tị nạn kêu là barrack số tám.
Truớc cửa barrack có một người đàn ông đang đứng đợi ai đó. Tôi tiến lại gần chút nữa. Hóa ra là cố nhân Võ Phiến. Ối giời ôi! Võ Phiến cũng đi được sao? Ôi thôi rồi tôi quên lú đi mất. Võ Phiến cũng cộng tác với đài phát thanh Mỹ. Vậy mà tôi cứ tưởng chỉ có Lê Tất Điều với Viên Linh trong chuyến hành trình qua Mỹ quy mã này mà thôi!
Thằng Cu Tý bỗng kêu lên:
“ Mẹ…Tý muốn ỉ quá.”
Con chị nó quát lên:
“ Câm cái đít lại! Không được ỉa trong quần.”
Võ Phiến chạy chậm đến bên tôi, mặt mày tái nhạt và ẩm mồ hôi, hỏi thở tưởng như sắp đứt, nói:
“Em đem con em đến barrack số mười đi, gia đình anh đã ở trong barrack số tám này rồi, vợ anh đang nghỉ ngơi trong đó, vợ anh hơi mệt, vợ anh cần dưỡng sức, vợ anh đang nằm trong đó. Vợ anh…vợ anh…”
Tôi chưa thấy một người đàn ông nào thương vợ nhiều như thế, yêu vợ kỹ như thế. Vợ anh, vợ anh…cái miệng cứ tía lia vợ anh vợ anh, làm như người ta sắp giựt mất.
Bà Võ Phiến tên cúng cơm là Viễn Phố.

Túy Hồng

Làm anh.

trachantranhuuhoi

Mặt trời như muốn đốt chảy mặt con đường nhựa, Hải hoa mắt vì nắng và mồ hôi, hai bánh của chiếc xe gắn máy dù vẫn căng cũng như rị lại, nặng thêm vì ma sát trên lớp nhựa đường ươn ướt.
Hải tự trách mình nóng vội, lẽ ra anh nên nghỉ trưa một lát sau khi đạp hộc hơi mà xe không nổ máy, anh lại dắt đi sửa vào giữa trưa, nhưng anh lại nghĩ, nếu không đi ngay, chưa chắc đã ngồi yên chứ chưa nói đến chuyện nằm với cái giọng khó nghe cố hữu của chị Thứ vợ anh, đại loại như : “Anh làm sao thì làm, tối nay con Khánh dắt tụi nhỏ về mà không có xe đón thì tôi đi bộ ra cõng mẹ con nó…”
Khánh là con riêng của Thứ, khi lấy anh Khánh đã ba tuổi. Hậu quả cuộc tình giữa chị và một anh Địa chất từ ngoải Bắc vào công tác trong vùng, khảo sát xong, đoàn về Bắc, để lại đứa con trong bụng chị Thứ, anh ta hứa là sẽ quay vào đón Thứ ra Bắc nhưng rồi biền biệt, thư chị gởi đi hai lần quay trở lại vì địa chỉ không có người nhận! Nay thì Khánh đã hai đứa con, chồng làm công nhân cho một Công ty may mặc ở Sài gòn, không khấm khá gì vì vẫn đang ở nhà thuê, thi thoảng về thăm ngoại, khi đi, xin ít tiền chi tiêu cho cuốc sống thiếu thốn trên thành phố!
Khánh tính tình giống mẹ, ích kỷ và khó tính. Anh cố gắng không coi Khánh là con riêng của Thứ bởi anh đã sống với nó từ ba tuổi, nhưng càng lớn, những gì anh ghét nơi con người Thứ thì nơi Khánh càng lộ rõ như bản sao. Hai đứa con của Khánh thì ngược lại, dễ thương từ khuôn mặt đến tính tình, chúng rất tình cảm, anh thương chúng.
Tiệm sửa xe khép cửa nghỉ trưa, anh phải gọi, chị vợ ra xem ai rồi mới vào đánh thức chồng:
– Anh Tùng, dây sửa xe cho thầy Hải, nắng chang chang thấy thầy mà tội!
Nếu ai đó thì chắc Tùng biểu chờ, nhưng Hải thì Tùng dậy ngay bởi họ có quen nhau. Con trai Tùng đang học cấp hai, hồi còn đứng lớp, Hải dạy nó môn Tiếng Việt, họ cũng đã đôi lần lai rai cùng nhau:
– Xe sao vậy thầy?
– Đề không nổ, đạp mãi chẳng thấy nhúc nhích!
-Thầy cho xe vô đây chờ em chút.
Tùng vào nhà mồi diếu thuốc rồi cầm cả thuốc và hộp quẹt ra mời nhưng Hải đã móc túi lấy thuốc, anh ghiền thuốc nặng nên đi đâu cũng không quên bọc theo.
Tùng bảo vợ pha trà mời Hải vào nhà, anh khát thật sự nên không ngần ngại xin vợ Tùng một cốc nước đá tủ lạnh. Tùng vừa đề vừa đạp, lâu lâu lốp bốp rồi tắt…
– Thầy ơi, thầy có gấp đi đâu thì lấy xe em mà đi, cái điệu này lâu đó!
Hải không gấp đi đâu, nhưng cần phải ghé Thưởng mượn it tiền chứ khi dắt xe đi, anh quên mất chuyện tiền.
– Ừ, vậy thì cho chú mượn xe, chạy qua chú Thưởng nó chút.
Ngoài học trò và lứa tuổi còn đi học, Hải ít khi xưng thầy với phụ huynh, chỉ áng chừng tuổi tác mà xưng chú hoặc anh.
Tùng mau mắn dắt chiếc xe của mình ra cho Hải, nó cũng cùng loại xe số “Yamaha Taurus” như của Hải, trông cũ nhưng máy móc trơn tru hơn nhiều.
Hải lâu rồi không ghé thăm chú em, đứa em duy nhất của anh.
Anh nhớ lại hồi 1972 kinh hoàng ấy, bốn mẹ con chạy qua đoạn cầu Dài, chiếc cầu không dài như tên gọi mà ngược lại rất ngắn, nằm trên Quốc lộ 1 đoạn từ Quảng Trị vào Huế. Sau này, ai đó đã đặt cho nó một cái tên rất đúng với những gì đã xảy ra nơi đây, còn hằn sâu trong ký ức của những ai đã trải qua: “ Đại lộ kinh hoảng”.
Hải nắm tay Thưởng chạy trước, mẹ cõng Liên chạy sau, cách chỉ một đoạn ngắn bởi Hải luôn nhìn lại mẹ, sợ bị lạc trong dòng người hốt hoảng, em Liên nằm trên lưng mẹ, cứ mỗi lần Hải quay lại nhìn, em vẫy tay… đạn pháo nổ quanh làm Hải và Thưởng quỵ té nhiều lần, Hải muốn cõng em giúp mẹ nhưng mẹ không chịu.
Trên quốc lộ, các loại xe quân đội và xe đò chết máy chật cứng con đường, lính và dân thường chạy hai bên bãi cát lúp xúp cỏ. Người chết, bị thương nằm la liệt rên la…Tất cả đều chạy, hướng vào Huế tìm cái sống!
Một trái đạn pháo nổ từ phía sau, xô Hải và Thưởng lật sấp xuống cát, vội vàng đứng dây định chạy tiếp nhưng anh nhìn lại, không thấy mẹ và em Liên, người ta xúm nhau kêu la khóc lóc chỗ trái pháo vừa nổ, Hải kéo em quay lại, mẹ và em Liên nằm hai nơi, cách nhau chừng ba mét, quanh xác mẹ và em, những cái xác khác la liệt bao quanh…Hải nhận ra em nhờ cái áo chấm hoa màu tím, cố chen vào đám đông ẵm em Liên bị mất một chân, đến đặt nằm bên mẹ. Thưởng khản giọng gào lên, chìm trong tiếng ồn ào thảm thiết của bao nhiêu người. Hải úp ngang người trên mẹ và em, tay vẫn nắm áo Thưởng, anh nhớ là mình đã không khóc, không la. Anh nhắm mắt nghĩ đến cha giờ đang ở đâu đó, có biết vợ và con gái mình đã chết, hai đứa con trai đang bất lực trong hiểm nguy…Chuyến về phép ngắn ngủi vừa rồi, cha đã nhiều lần ôm ghì Liên, hôn lên đôi má bầu bĩnh của đứa con gái bé bỏng mà ông mong chờ năm năm mới có được!
Cha anh kể lại sau này, ông đang ngồi bóp bao gạo sấy bên chiếc hầm, trong làng Thi Ông, cách chỗ ấy không xa, bỗng như có một tia điện xẹt vào đầu ông, buông bao gạo đã nhuyển, ông chụp cây súng, nhưng rồi ngồi thừ người chẵng biết vì sao…Đến tối, Chuẩn úy Phú báo tin dữ, cho phép ông đi tìm gia đình!
Mùa hè đó. Anh 13 tuổi, Thưởng 10 tuổi và em Liên 5 tuổi!
– Chú ấy vậy mà cũng 52 tuổi rồi nhỉ!
Bất giác, Hải nói thành lời khi rẽ vào con đường trong lô cao su dẫn vào khu nhà ở của công nhân nông trường…
Vào nhà, vợ chồng Thưởng vừa ăn cơm xong, Lệ vợ Thưởng chào anh rồi hỏi:
– Anh ăn cơm chưa, đi đâu mà nắng thế?
– Anh ăn rồi, cái xe hư phải đi sửa để chiều ra đón mấy đứa nhỏ. Tụi nó vẫn học tốt chứ?
– Dạ.
– Chú mới đi cạo về?
– Hôm nay công ty giao hàng mủ, xúm nhau bốc vác nên về trể. Xe sao vậy?
– Chả biết, lâu lâu trở chúng một lần…
– Anh bảo nó làm máy, thay cái đề, bính xăng con…cho ngon lành chứ cứ vậy mệt lắm!
– Ừ, rảnh anh cho nó làm như chú nói. Giờ có sẵn tiền không anh mượn mấy trăm? Vội đi không kịp lấy tiền.
Lệ mau miệng hỏi:
– Bao nhiêu anh ?
– Anh mượn ba trăm.
Lệ đứng dậy định vào trong lấy tiền nhưng Thưởng móc túi ra mấy tờ năm trăm.
– Bốc xong thủ quỹ phát ngay, cả tổ được hai triệu ba, mấy cái khoản khoán này được cái khá là có tiền liền.
– Anh cầm năm trăm, lỡ thiếu…
Hải nhìn quanh rồi ngước lên trần nhà chậm rải hỏi:
– Chú thím định khi nào làm nhà?
– Hơi lâu anh ạ, sang năm thằng Thắng ra trường, con Thủy mới năm đầu, không ở chung anh em với nhau được mà phải ở cùng bạn gái nó, tốn lắm!
Vợ chồng Thưởng cùng cạo mủ cao su, nay người ta khoán lô nên ai siêng năng thì cũng có, thêm nữa là vợ chồng có thể làm thay nhau nên dạo này công nhân khá hẳn lên. Khá là nói thế chứ nuôi hai đứa con vào đại học như Thưởng thì cũng chật vật.
Hải thương em lắm, gia cảnh anh khá hơn nhiều nhờ hai vợ chồng đều ăn lương, anh đi dạy chị làm Bưu điện. bao năm nay…
Hải đứng dậy đưa tay nhìn đồng hồ:
– Uống ly cà phê rồi đi cạo kịp không?
– Kịp chán, còn sớm với lại làm khoán thì làm lúc nào chả được!
Thưởng lên xe ngồi sau lưng Hải. Quán trưa vắng khách, Thưởng chợt nhớ là lâu lắm rồi, anh em chưa uống với nhau ly cà phê hay có dịp ngồi chuyện trò như hồi cha còn sống.
Sau trận cầu Dài năm ấy, tìm được hai đứa con, ông Mừng đem chúng vào Đà Nẵng, sống trong trại tạm cư, quyết định đào ngũ.
Ông không hồi cư, Quảng Trị vẫn đang đánh nhau, dằng co qua lại trong Thành Cỗ. Có chương trình vào Long Khánh khai hoang, ông làm đơn đi theo. Sống trong rẫy nên chuyện đào ngũ của ông không ai biết.
Năm 1975, ông không còn lo chuyện đào ngũ nhưng cả nước đều cực, ông vất vả nuôi con…Hải vào được cao đẳng sư phạm Biên Hòa, Thưởng phải bỏ học phụ cha rẫy nương. Thưởng lập gia đình năm hai mươi bảy tuổi. Năm sau thì cha mất, Hải muộn màng hơn, sau Thưởng bốn năm…
Một người mù vào quán với xấp vé số, đứa con gái hững hờ ngáp trong lúc người mù cất giọng yếu ớt mời, Hải móc túi còn đúng ba chục tiền lẻ, anh mua ba tấm, đưa cho Thưởng một tấm.
oOo

Hải ngồi cúi đầu, ghét mình vì cái tội mau mồm, mau miệng!
Hôm đi sửa xe về, anh cởi áo vắt lên thành salon rồi nằm dài ra định chợp mắt một lát. Chị Thứ thấy trong túi có tiền hỏi:
– Anh quên lấy tiền sửa xe, mượn ai à?
– Phải chạy qua chú Thưởng mượn mấy trăm. À, có mua ba tấm vé số, cho chú nó một tấm rồi.
Rồi anh quên đi mấy tấm vé, sáng nay đi dạy, nghe giáo viên kháo nhau ầm lên là trong vùng có mấy người trúng độc đắc. Ai cũng chép miệng…
Dạy xong, anh phóng xe đến đại lý trên thị trấn, nhìn lên bảng dò của ngày hôm trước, lô trúng đặc biệt được khoanh lại bằng phấn đỏ, nhẩm thuộc hàng số rồi mua hai tấm, chạy vội về, bảo chị Thứ lấy hai tấm vé.
Hàng số sáu con y như trong đầu anh, anh hét lên: Trúng !!!
Chị Thứ trợn mắt, thừ người nhìn anh, một lát sau chị lăn ra giữa nhà, nghĩ ngay dến tấm vé anh cho Thưởng, làm mình làm mẫy…
– Anh không lấy lại tấm vé, tôi thắt cổ chết cho anh coi!
– Cho nó rồi giờ lấy lại sao được!
Chị chụp hai tấm vé đi nhanh vào phòng ngủ, lát sau đi ra.
– Bà làm gì ? Nó đang khổ, cài nhà không ra nhà, cạo mủ được bao nhiêu thì lo cho mấy đứa con! Minh có hai tấm ba tỷ, nhà cửa đã ổn, lương lá thu nhập mình cũng khá hơn…
Thứ không nói gì thêm. dắt xe ra ngõ. chị chạy đến nhà Thưởng, vào nhà thấy hai cha con Thưởng và Thủy đang ngồi. Chị Thứ đon đả:
– Thủy về hồi nào sao không qua bác chơi. hôm nay chú không đi cạo à? Chị ghé trả chú năm trăm hôm anh Hải mượn.
Thưởng đứng dậy kéo ghế mời chị dâu:
– Gấp gang chi vậy chị ?!
Thứ móc túi bỏ lên bàn tờ năm trăm đồng, làm bộ như chợt nhớ:
– À, cái vé hôm anh Hải mua trúng một triệu, chú bỏ đâu rồi, đưa chị đi lãnh luôn cho. Đi thị trấn mua cho ông ấy hộp yến bồi dưỡng chứ dạo này cứ than ăn không ngon miệng!
Thưởng vổ túi quần, cái quần mặc hôm Hải đến nhà tới nay vẫn chưa thay, móc túi lôi ra tấm vé nhàu nhàu lẫn trong mớ tiền lẻ:
– Hên vậy à, có tiền cho Thủy lên lại Thành Phố rồi!
Lấy được tấm vé chị Thứ chạy ngay về nhà, vào phòng đóng cửa, gọi điên cho Khánh bảo hai vợ chồng về gấp.
Hải vẫn còn đang bần thần chao đảo…Anh ngước mắt nhìn chị Thứ bằng đôi mắt vô hồn rồi chợt nhớ ra, anh lấy máy gọi cho Thưởng…
– Tấm vé mua hôm uống cà phê đâu rồi?
– Em vừa đưa cho chị…
– Trời ơi, sao chú lại đưa!
Anh bật người ra ghế thở dài:
– Khốn nạn!
oOo
Chị Thứ về hưu năm ngoái, luôn than thở chuyện lương bổng không đủ sống bởi không còn những khoản tiền vô thưởng vô phạt như trước!
Từ khi lấy nhau, không biết bao nhiêu lần vợ chồng anh lục đục, có lần suýt chia tay bởi nhiều cái khác nhau trong tính cách. Chị Thứ lắm khi hổn xược, hàm hồ xúc phạm anh, nhưng cuồi cùng, bao giờ anh cũng cố dằn lòng cho qua, tránh cãi vả to tiếng bởi mình là giáo viên, sợ người ta to nhỏ, xầm xì. Anh thường tự an ủi là chị lúc nào cũng tươm tất nhà cửa, lo cho con cái, thằng con trai của anh đang học đại học Y trên thánh phố, hời hợt chuyện tiền nong giống như anh nhưng rất thương mẹ.
Gần dây, xem những bạn đồng nghiệp, những đôi vợ chồng ly hôn, phần nhiều chẳng hạnh phúc hơn là bao mà ngược lại, có lắm đôi rơi vào bất hạnh…Anh lôi ra cái câu duyên số vợ chồng là do trời định để tự thuyết phục, an ủi mình…
Chiếc taxi chở vợ chồng và hai đứa con Khánh từ sài gòn về, vào hẳn trong sân, đậu sát cửa nhà. Chị Thứ từ trong phòng vội vàng chạy ra. Hải đứng dậy nhưng rồi anh ngồi xuống, chán nản…
Chưa bao giờ anh trúng số, dù chỉ vài triệu, cũng chưa bao giờ anh có một số tiền lớn đến một lần. Những gì anh có được hôm nay đều do tích góp mà có. Trúng độc đắc bạc tỷ là chuyện trên trời rơi xuống, anh thậm chí không hình dung được là bao nhiêu, chỉ mơ hồ là nhiều lắm, làm được nhiều việc lắm…Nhưng với lòng tham và việc lấy lại tấm vé mà anh cho Thưởng, chị Thứ đã làm mất hết mọi hứng thú, thay vào đó là một mặc cảm tội lỗi lớn dần lên trong anh.
Việc gọi vợ chống Khánh về, bao hẳn một chiếc taxi, như cố tình loại anh ra ngoài toan tính của chị càng làm anh tức giận, chán chường…
Đứa con rể cúi chào rồi khéo léo đẩy hai đứa nhóc vào lòng anh, con bé lớn có vẻ như biết anh đang giận, bà cổ dụi đầu vào ngực nói:
– Ngoại lên Sài gòn ở với con nghe!
Chị Thứ và Khánh vào phòng mang ra mấy cái túi xách, anh tài xế mở cửa cho vào sau xe…
Chờ cho tất cả lên xe rồi chị mới bỏ cái bì thư lên bàn:
– Tiền trong đây, tôi lên với tụi nó vài hôm.
Anh muốn to tiếng nhưng sợ tài xế nghe thấy, nhìn chị gằn giọng:
– Làm gì thì làm, nhưng phải chuyển vào tài khoản lương cho tôi năm trăm năm chục triệu.

oOo
Vẫn chưa ai biết Hải trúng số đặc biệt, anh cũng chưa gọi lại cho Thưởng nên không biết chú ấy có biết không. Chiều nay, họp chuyên môn xong thì có tin nhắn từ máy của Khánh: “ Mẹ đã chuyển tiền cho ba, ba cho mẹ xin lỗi.”
Hải gọi ngay cho Thưởng:
– Chú có nhà không?
– Em đang cạo, có gì không anh?
– Về nhà đợi anh, anh tới bây giờ.
Hải vẫn chưa biết phải nói sao với vợ chồng đứa em, nó vốn hiền và chịu khó giống cha anh. Những ngày khổ cực phải bỏ học làm lụng cùng cha cho anh học cao dẳng…Những năm chưa lập gia đình, thỉnh thoảng anh cũng có cho em vài trăm may cho cháu bộ đồ tết và cũng chỉ có thế bởi lương ngày ấy còn quá thấp. Từ ngày lấy chị Thứ, anh không giúp gì được cho em bởi chưa dư dật gì…
Vào đến nhà Thưởng, thấy hai vợ chồng ngồi nhìn ra, mặt lo âu:
– Có chuyện gì vậy anh?
Đã dự tính sẽ nói thật mọi việc cho em nên Hải ngồi xuống, vợ Thưởng đứng dậy định đi pha trà nhưng anh kéo tay:
– Thím ngồi xuống đây anh nói cái này. Chú thím biết là chị tính nết thế nào rồi, anh cố gắng gỡ cái lỗi. Tấm vé hôm uống cà phê anh đưa cho chú trúng đặc biệt, một tỷ rưởi !
– Sao chị nói trúng một triệu!
Hải hiểu ra cách Thứ lấy lại tấm vé.
– Một tỷ rưởi! Biết anh cho chú một tấm, chị ấy làm mình làm mẩy đòi qua lấy lại, anh không chịu, đang cải nhau rất căng rồi tự nhiên bỏ đi, anh đang giận nên đâu ngờ…Bây giờ anh vẫn chưa hết giận, hôm qua cả nhà lên Sài gòn rồi. Anh buộc mấy mẹ con phải chuyển cho anh năm trăm năm chục triệu. Anh tính năm chục xây mộ cho ba mẹ và em, năm trăm cho chú thím làm cái nhà, còn bao nhiêu mấy mẹ con tự tính với nhau, anh không cần!
Hai vợ chồng Thưởng bất ngờ đến tròn mắt không nói gì, lát sau Thưởng mới cười nhìn anh:
– Hôm đó anh không mua, không cho thì sao. Giờ có năm trăm triệu làm cái nhà là coi như vợ chồng em trúng đặc biệt rồi!
Hải nhìn hai vợ chồng em:
– Chú thím không buồn ?
Thưởng cười ha hả nói to:
– Thì ban đầu ông trời định cho một tỷ rưởi, nhưng sau đổi ý cho năm trăm kẻo sợ có tiền sinh hư hỏng bê tha, bỏ bê vợ con. Tiền trên trời rơi xuống thế này rất nguy hiểm, phải không em?!
Vợ Thưởng cũng cười, chị chưa hề mơ ước đến một số tiền lớn như vậy. Năm trăm triệu, vợ chồng chị dành dụm biết bao giờ mới có?!
– Làm nhà chi to dữ vậy anh. Anh hai em vừa làm cái nhà hết ba trăm, thấy to và đẹp quá đi rồi!
Hải như vừa thoát bỏ một gánh nặng, anh vổ vài Thưởng:
– Còn sớm, mình ra nghĩa trang chút.
Thưởng đứng lên theo anh ra cửa, nói:
– Phụ nữ họ lo lắng nhiều nên vậy, chị chấp nhận cho em năm trăm là tốt lắm rồi, anh đừng giận hờn nghĩ ngợi nữa. Coi sắp xếp má lên cùng chị ấy, thời buổi này lường gạt đủ trò, không khéo là mất đó!
Hải đứng sựng lại nhìn em, đứa em ít ỏi, lam lũ quanh năm, anh không ngờ lại có được những suy nghĩ như thế:
– Chú ít học mà chín chắn và rộng lượng hơn anh, anh cảm ơn chú!
Hải leo lên ngồi sau em, anh ngước mắt nhìn lên hàng cao su, nhớ lại con lộ kinh hoàng năm ấy, tay anh ôm choàng qua bụng Thưởng, như ngày nào anh vẫn nắm tay áo em khi anh khom người qua xác mẹ và em Liên trên bải cát!

Sài gòn, tháng VI. 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội

Lời Rêu

nguyen-thi-hoang

Trước 1975, nói đến các nhà văn nữ, người ta thường nêu tên 5 tác giả tiêu biểu: Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ. Trong 5 tác giả này, có đến 3 tác giả là người Huế ( Nhã Ca, Túy Hồng , Nguyễn thị Hoàng).
Chất Huế trong văn chương lan tỏa từng trang viết, có khi ngọt ngào, có khi ngoa ngoắc, có khi thâm trầm, có khi đài các… nhưng trên tất cả, họ là những cây bút tài hoa đã khắc họa một bức tranh sống động về một xứ sở luôn biến động trong suốt chiều dài lịch sử.
Một điều khác, trong 3 tác giả này thì có đến 2 người là thi sĩ trước khi viết văn.
Tương Tri trân trọng giới thiệu bài LỜI RÊU của tác giả NGUYỄN THỊ HOÀNG

Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11.12.1939 tại Huế. Quê Quảng Điền, Triệu Đại, Triệu Phong. Theo học trường Đồng Khánh.
Bút hiệu khác là Hoàng Đông Phương. Bắt đầu viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi.
1957 vào Nha Trang.
1960 vào Sài Gòn, học Đại học Văn Khoa và Luật, nhưng sau bỏ dở, đi làm, dạy học ở Đà Lạt. Bà từng là giáo sư việt văn (trung học) ở Đà Lạt. Cuốn tiểu thuyết gây chấn động dư luận miền Nam “Vòng Tay Học Trò” được sáng tác trong khoảng thời gian này.
Sau đó, bà lại bỏ Đà Lạt về Sài Gòn, cộng tác với các tạp chí Bách khoa, Văn… và một số báo khác.
Sau “Vòng Tay Học Trò”, bà còn xuất bản trên 30 tiểu thuyết trước 1975.
1990 xuất bản “Nhật Ký Của Im Lặng”.
Bà còn rất nhiều tác phẩm chưa xuất bản như: “Người Yêu Của Đấng Trời”,…
Sau đó 17 năm, Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện trở lại với bài viết “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan”, đăng trên tạp chí Văn hoá Phật giáo số Xuân Mậu Tý (2007).

Ai đi qua xa vắng,
bỏ chiều run một mình.
Giọt cà phê máu mặn,
nỗi nhớ đầy quyên sinh.

Mười hai năm tỉnh giấc,
trắng đôi bờ tóc đen
Dáng tinh cầu vỡ nát,
đôi tay nào ru đêm

Uống cùng nhau một giọt,
đắng cay nào chia đôi
Chung một niềm đơn độc,
Riêng môi đời pha phôi.

Say dùm nhau một giọt!
Chút nồng thơm cuối đời.
Vướng dùm nhau sợi tóc,
Ràng buộc trời sinh đôi.

Cơn mưa chìm nước mắt,
phủ kín đời chia hai
Thời gian chung đã mất,
Tháng ngày riêng cũng phai

Ngày mai ta bỏ đi,
trần gian xin trả lại
Đá tảng nào vô tri,
chết một đời rêu dại

Chỉ còn trong bóng tối,
dấu tay nào trên tay
Tiếng im trong lời nói,
mây quên trời tóc bay…

Nguyễn Thị Hoàng

Bài thơ này được một nhạc sĩ hải ngoại Hạnh Cự phổ nhạc và cũng được Phú Quang phổ nhạc , bài do Phú Quang phổ nhạc được nhiều ca sĩ hát, nhưng có lẽ giọng của Hồng Ngọc nghe tha thiết hơn cả.



Bài LỜI RÊU qua một giọng ca nam( ca sĩ Hải Nguyễn) có lẽ thích hợp hơn

MÙA NÀO THỨC NẤY

nguyenthikhanhminh

Nếu bạn đang liếm môi hy vọng tìm được món ăn dưới đây, thì coi như thất vọng rồi, vậy xin ghé qua quán Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng cho đỡ thèm chút vậy.

Hồi vừa qua tuổi sách hoa tím mực tím chi đó, mua cuốn ấy về cứ tưởng sẽ được phiêu sướt mướt cùng một mối tình lãng mạn, bởi cái tựa đề nghe tình quá sức, dè đâu, tác giả giới thiệu món ăn theo mùa và nói lên cái thú hưởng một trong những cái khoái nhất ở đời, là ăn, một khoái-lạc-thơ-mộng Vũ Bằng. Đọc say mê. Từ ấy, để ý đến cách thưởng thức, không cứ là thú ăn uống, mà mọi thú sống ở đời. Thế nào để trọn vẹn đôi đường với những vui sống về mặt giác quan lẫn tâm thức. Đó là điều tôi nhặt được sau khi đọc Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng, cũng như Sống Đẹp của Lâm Ngữ Đường. Cách họ tán thưởng, hưởng thụ thú vui, đều mang hồn văn chương nghệ thuật, họ hòa chất thơ, chất cao nhã vào những lạc thú trần gian.
Thật là Biết sống, theo tôi.

Hạnh Phúc của ta thuộc về cảm giác… Một thứ triết học cao thượng phải tạo được cho ta niềm tin vào cái cơ quan đẹp đẽ, nơi tiếp nhận cảm xúc, là cơ thể ta đây… (Sống đẹp, LNĐ, Nguyễn Hiến Lê dịch). Nghĩ như thế thật nhân bản, ngẫm lại thì có phải ngũ quan khiến tâm trạng vui vẻ hay u buồn hay không? Đó là cái tâm-trạng-đáp-lời. Nhưng cũng phải nói ý tôi, không phải tất cả bắt đầu từ giác quan, có khi cảm xúc tinh thần đưa đẩy hay chế ngự để thân xác có trạng thái dễ chịu. Vũ Bằng gắn liền cái ăn vào nỗi lòng tương tư cố lý, thành ra món ăn trở nên không chỉ là ngon của lưỡi mà còn truyền đi thi vị của tâm tư. Và cảm xúc u hoài ly hương ấy khiến món ăn càng thêm đậm đà, hóa thành nỗi nhớ. Rõ là có qua có lại.

Phải nói Vũ Bằng thanh lịch mà hưởng những thời trân. Này nhé, ở miền Nam nhớ về quê Bắc vào độ Tháng Giêng trăng non rét ngọt, ông đi từ cái nỗi say sưa, con vật nằm thu hình trốn rét thấy nắng ấm thì bò ra nhẩy nhót kiếm ăn, thấy trời trong mây nõn rung động như cánh con ve mới lột, sinh ra cảm giác thèm ăn và ăn thiệt ngon, một bữa cơm giản dị cà om thịt thăn với lá tía tô… Thế có phải từ nhìn đi tới cảm khoái mùi vị món ăn, rồi dẫn nhau đến ngõ cảm xúc: khuya, trời vẫn rét một cách tình tứ, nên thơ… đôi vai màu ngà ai thơm ngát hương cau. Chẳng còn biết chuột lắt léo mèo đi hay mèo đuổi chuột. Nhưng mà bạn ơi, cảm giác để thấy hạnh phúc một cách nên thơ như thế, là chuẩn rồi.

Tôi mê nhất cái lúc Vũ Bằng tháng hai tương tư…Khởi đi từ mùi hoa sữa (ngửi), đêm (nghe) mưa ngâu sụt sùi, nhóm lửa thổi một nồi cơm gạo vàng ăn với thịt gà mái ấp (gà mái là được, không nên gà mái ấp thưa ông) để rồi (cảm thấy) sao tháng hai nó ngắn quá, bấy giờ thì giác quan mở rộng cửa cho mơ mộng, người đàn ông thấy mình lạc phách, rơi vào giấc mộng hoa đào sơn nữ mặc váy thủy ba đu đưa ven suối. Với đào biên thùy Bắc Việt thì, đưa lên miệng (cắn) giựt mình vì cái thơm của đào… lại càng (cảm thấy) trái đào hé mở đẹp không biết bao nhiêu… gớm cho nhà thơ nào đã dùng hai chữ “nhuỵ đào”, đấy Vũ Bằng để cho cái ngon của vị giác dẫn đường tới liên-tưởng. Đến tuyết lê của xứ Lào Cai, lê như một trái cây bằng thủy tinh, gõ cho bụi tuyết rơi, ăn từng miếng nhỏ, dịu hiền và thơm ngát thơm ngào: một rung động cùng lúc của cảm xúc và thính giác. Ông tả cái ngon của mỗi thứ quả, có tính cách riêng biệt cũng như mỗi dây trong chiếc tỳ bà reo lên một thứ tiếng tơ đồng khác nhau… Có phải là mình thương yêu phần tử nên yêu luôn từ bông hoa mà yêu xuống đến trái cây, yêu từ cái lá hòe lăn tăn yêu lan sang chùm hoa mộc?…Tôi đưa ra những hình ảnh trên chỉ là muốn nói rằng tinh thần và thể chất đều có tác động như nhau trong trạng thái hạnh phúc.

Trong gió non của mùa xuân, mùi mưa đêm còn váng vất đâu đó trong hương lá và nhựa cây, hay tôi vừa trôi ra từ màu xanh nostalgia của tranh Đinh Cường mà bỗng lãng đãng đến u buồn ruột gan vậy. Chắc là tôi đang đi tìm giấc mơ trong hương gây mùi nhớ của thời gian. Cái giấc mơ sương khói địa linh… Thôi thì…

Cứ như chiếc lá phiêu du trên dòng thời gian, nhấp nhô những đậm phai, chắc rồi sẽ bắt gặp được một nhịp nghỉ nào đó vừa đúng cái rơi của giấc mơ. Trong 2 tỉ 500 triệu lần đập của trái tim một đời người, ít ra cũng cho tôi một vài, để đập nhịp của giấc mơ chứ, đó là lúc thực của giấc mộng cuộc đời. Ảo thực ấy đưa tôi đi qua từng phút giây của cuộc sống này với một cảm giác hưởng thụ, biết ơn. Cất bước mà đi vào buổi xuân sớm, chả phải là hợp lúc, cho mầm tươi đang lục sục trong người hé lên chồi hớn hở với đất trời phức thơm đó sao.

Ở bảo điện Đại Hùng chùa Thiên Mụ có bốn ô khắc thơ chữ Hán xen giữa các bức cảnh sắc Huế, là bài ngũ ngôn tứ tuyệt này, Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi. Mùa nào thức nấy. Cái gì đến thì sống với, điều gì qua thì để tự nhiên mà đi. Dường như hợp ý lắm, cái quan niệm sống để hạnh phúc như thế.

Thời bây giờ người ta đã có nhiều cái thú khác với miền cỏ thơm, ao sen, rượu cúc, thơ tuyết…

Nhưng lúc này, tôi muốn trôi đi với bài cổ thi du du. Chắc là tôi sẽ nắm được áo lãng tử Thôi Hiệu ở miền cỏ thơm để xin Người vài câu bạch tuyết thi…

Xuân du phương thảo địa… Mùa xuân dạo chơi miền cỏ thơm. Chan chứa rong chơi nhàn tản Lão đạo, yêu thích vì cái khơi gợi mênh mông đường dài đánh động bước chân bó rọ của mình. Áo mùa Xuân đã dậy mùi, tung tăng đi mà hít thở hương đổi thay của đất trời để cơ thể rạo rực xuân khí. Lan man giữa miền thơm để đàn thời gian lại rung lên những phím thanh xuân. Tưởng như nhịp sinh học con người đang đập nhịp của thiên nhiên. Trong dòng chảy nôn nao về tim ấy, bạn đẩy mùa xuân mình tới đâu mà chẳng thấy cận kề được cái thơm tho mới mẻ của cuộc sống? Có thể buông đi những bận bịu theo những cánh én bay về mái vòm đỏ giáo đường San Juan Capistrano trong tiếng chuông gọi ước hẹn mỗi đầu xuân, đọc một tản văn của Nguyễn Xuân Thiệp biết là chim én đã quên lời thề không trở lại như xưa, nhưng hề gì, hẹn ước càng dài càng nên thơ đá vàng. Có thể theo hương gió mà đến một cánh đồng hoa poppy ngàn vàng để hít đầy lồng ngực mùi đất trời hừng hực tiết xuân phân California.

Bạn thân thiết ơi, mưa tầm tã ở đây đang mở những mơ xa, bạn có muốn theo tôi tới miền hư ảo ký ức? Biết đâu bạn sẽ lấy thêm được năng lượng từ hương mùa xuân thơ dại để đi tiếp những hạ thu đông? Thì hãy cùng tôi,

Ao mùa hạ sen nở, búng thuyền đi mà thưởng lục hà trì. Sen thì siêu sao rồi. Tôi muốn nhắc đến một loài sen ngủ gọi là tiên tử kia. Hoa súng. Sen vừa tàn thì súng lại tím ngát. Nó tựa mình trên nước nở hết sức tự tin, bung màu tím pha hồng, Chế Lan Viên lại bảo, cái màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc/ chỉ lặng yên sắc tím để mà đau. Sao vậy, có lẽ nhà thơ buồn theo những cánh thuỵ liên úp mặt trong đêm tối? Tôi thì mê đê mê hồ súng của Monet. Mùa hạ, nhắm mắt mơ một cái thấy mình rơi xuống mảng xanh tím miên man Monet thì chắc chết đi được. bay đi/ bay đi/ vỡ tôi hạt tím/ rơi như mơ/ những đóa lilies/ tiếng cọ Monet phết long lanh đôi cánh/ thiêm thiếp tôi/ hồ mộng… Thưa, hạ thưởng lục hà trì của tôi đấy.

Còn cái thú của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao*. Ơ, chắc mùa xuân hồ chưa có sen nên rộng đường cho Người tắm táp, và ao trước nhà trong leo lẻo cho Người hưởng nước mát vào ngày hè oi ả. Mấy ai đủ bản lãnh để sống đơn giản thế…

Sang thu, có bạn thân mời nhau một chung rượu hoa cúc vàng để thấm vào lòng cái hắt hiu Thu ẩm hoàng hoa tửu, cúc vàng cất thành rượu như thế nào, và cũng không biết ở đâu bán, tôi sẽ làm hay sẽ mua, để dành cho hơi ấm tình bạn mùa thu (rượu vang Calif. cũng tuyệt bạn ơi). Tự hỏi cớ gì mùa thu lại uống rượu hoàng hoa? Biết từ lâu theo sách, thì vào tiết Trùng Cửu ngày 9 tháng 9 âm lịch, số 9 thuộc dương nên còn gọi tiết Trùng Dương, là mùa thu khi cúc vàng nở rộ, chắc có nhiều hoa cúc để làm rượu, hay uống rượu bên hoa cúc? Theo lời cô Viên Trân “cô bán rượu cao cấp” ở Việt Nam thì hoàng hoa tửu, làm bằng hoa cúc Ấn Độ và gạo nếp, đựng trong bình hạ thổ từ sáu tới mười năm. Có không? Thế thì hơi “đại gia”.

Ngõ vườn nhà tôi có một hàng hoa cúc, cúc mùa Thu thì quả là ánh vàng rực rỡ trên nền u xám buồn, nên quyến luyến người ta lắm. Bỗng liên tưởng đến nghĩa bóng của chữ hoàng hoa, chỉ sự xa vắng, nơi hiu quạnh, là do tích con trai Tàu xưa, đến tuổi, phải lên đường đi lính lại đúng vào thu hoa cúc nở, Kinh Thi có câu Người đi lính thú phương xa nhớ nhà làm thơ “hoàng hoa” (tvtuansan.com.au). Chinh Phụ Ngâm cũng Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài…. Người xưa lại sánh cúc mùa thu với khí tiết người quân tử nữa. Mới nói, hội đủ mọi yếu tố hấp dẫn để mời bạn, vào thu nâng chén rượu hoa vàng. Nhưng nếu không có tửu thì tôi có thể cùng bạn, chén trà bằng sứ trong đó một đoá cúc trắng xòe mềm mại thơm gió thu cũng được chứ. Hẹn nhé.

Lại nghe, Tuyết Giang Phu Tử, có thú thu ăn măng trúc, ai cùng tôi, một đĩa măng luộc chín, tước thành sợi, trộn với rau thơm, tỏi, mè, lạc rang, xíu nước mắm, ít giọt chanh, xúc với bánh tráng nướng, và rượu gì mà bạn thích, ngồi bên thềm hoa cúc, cùng nhau? Thế là trọn vẹn mùa thu. Thu cuộc đời.

Nghĩ thèm cái thong thả sống của người xưa. Đông ngâm bạch tuyết thi, tôi có nhiều thơ lắm (!), ngặt ở miền Nam Calif. mùa đông không có tuyết nên chưa được kinh nghiệm đọc thơ hòa với màu trắng lạnh căm. Mất một nửa cái trọn. Nhưng mà, hình như trong mỗi trầm lặng tâm tư, ai cũng có một miền tuyết lạnh, để mỗi khi đông đời một mình lắng vào, nghe một vọng âm xa.

…ta khắc thơ trong tuyết, chờ nhau (Nguyễn Lương Vỵ), Chờ là một chữ rất dài…
Trong đó có một dấu ngoặc,

… Của cái cảnh u cư, gió tre xao xác lạnh, trong vườn kia, có ngôi nhà bằng gỗ, nền gạch nung nâu nâu. Ngồi bên chiếc bàn sơ sài, so đũa cùng Bạch Vân cư sĩ đông ăn giá …Từ sớm tôi đã muối một ít giá tươi với hành, Người không thích hẹ, rồi với hai bìa đậu mua vài xu từ cô gái bên kia giậu mồng tơi, cắt thành những miếng vuông, một nửa lăn qua mè muối, một nửa lăn qua cốm xanh. À, cốm này Người để dành từ độ thu rồi, gói vào một vuông lá chuối khô rồi để vào cái âu đất đặt cạnh cửa sổ mát lạnh hương khuya. Đậu ấy chiên giòn ăn kèm dưa giá muối xổi, gạo quê nghe như còn mùi đòng sữa, với những bát đĩa sành thô, không tròn trịa của khuôn thước, chiếc đĩa hơi vênh, ấy thế mà ai được hít thở một không khí trang nghiêm kẻ sĩ lạ thường. Cũng hợp lòng khi đọc thơ tuyết tâm sự cùng Người, …thôi, không nỡ hỏi vết thương bầm huyết, tuyết hòa âm rất mỏng rất xa…(NLV), bạch tuyết thi thì sao hảo vui. Thơ càng buồn thì cảm càng đã, xin lỗi, đây là chữ của một bạn thơ. Muốn trang nghiêm quạnh quẽ với đông hàn sĩ kia phải sắm sửa mình với cái buồn, …chỉ nỗi buồn mới thực của ta, riêng (Du Tử Lê).

Dường như trải dài miền cỏ thơm Anh Vũ đến tận ao tắm mùa hạ kia, tôi nghe lời phiêu du Thôi Hiệu, trong khói sóng trời chiều hương quan hà xứ thị **… Cõi vắng vẻ Bạch Vân vang lên những lời thơ nôm đáp lại, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ người khôn người đến chốn lao xao… Làm sao để theo được lời dạy của Người, đi giữa cõi lao xao bằng một tâm vắng vẻ an tịnh? Và tôi thấy hai người thơ ấy, rượu đến cội cây, ta sẽ uống/ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao…

Coi như đã đi qua một vòng thời gian xuân hạ thu đông… rồi xuân. (à, bạn có coi phim này chưa?)

thêm một mùa thời gian…,

Nghe nói nhiều rằng, ta phải quên đi thời gian, đồng ý thôi, nhưng sao phải quên khi bản chất của nó là qua đi ? Theo định nghĩa ở Wikipedia thời gian là thuộc tính của vận động, và chỉ có một chiều duy nhất quá khứ hiện tại, đến tương lai (có chiều ngược lại không nhỉ). Thời gian đối với riêng tôi là một dòng chảy mộng ảo, mặc chiều đi tới, chẳng cần biết khi nào thì con người khám phá ra con đường đi ngược, mỗi khi chiếc chuông cảm xúc reo là cảm thấy những điều đã hay chưa thuộc về nó, thời gian. Thưởng thức nó như, đi đường xa, uống một ly nước đầy cho đến cạn, một hơi.

Dặn dò đừng nặng lòng với quên, nhớ, nó đến, nó đi, nó ở, cứ sẵn lòng mà đón, rồi đưa, thôi thì, hoài niệm, hay giấc mơ, là điểm nào đó của đêm hôm qua, sáng ngày mai, ngày kia, kìa… Ai đó đã nói ý rằng, người ta thật sự không quên điều gì cả, chỉ có là mỗi lúc người ta biết cách đối xử hơn với những điều đã qua. Tôi tin mỗi lúc ấy là mỗi nhẹ lòng đi và biết rõ giá trị của phút giây đã sống.

Trong dòng chảy ảo mộng ấy, có những thăng giáng tình cờ, để nẩy một nốt nhạc thời gian không chuẩn thang âm. Lửng lơ. Đó là lúc tấm gương trong suốt của thời gian long lanh dưới chân, soi tỏ bước tôi đang đi, rạng rỡ: Phương đông hẹn nên chân trời rất khác/ Thao thao con đường kể chuyện hôm nay…

Đó là lý do tôi rủ bạn đẩy cánh cửa ký ức, bạn thân thiết của tôi. Tôi tin nơi cuối trời cánh diều ước mơ sẽ đặt vào bàn tay chúng ta sợi dây lộng gió ngày cũ, chỉ cho chúng ta biết cõi hẹn của ngày mai. Và chúng ta yên tâm với những bận bịu của phút giây này, trả ơn thời gian đang làm cho chúng ta vui sống, hôm nay.

Trên thềm nhà tôi đọng thẫm nước mưa, những cánh mai rụng như bèo dạt, và trên cành vẫn đang nở tiếp những nụ vừa hé hồi tinh mơ, Hôm Nay đấy.

Đáng lý tôi đã tạm biệt bạn để đi với ngày đang đến.

Nhưng ông thầy dạy anh văn vừa kể cho tôi nghe một tai nạn giao thông của một cô gái 23 tuổi, khi cảnh sát điều tra hiện trường thì biết trong điện thoại của cô, cái text cuối cùng là cho người yêu với bốn chữ xxxx (có nghĩa là nụ hôn). Một cái chết trong những phút cuối với những nụ hôn gửi trong máy (cõi trời mung lung?) thật nao lòng người. Tôi sững sờ trước hình ảnh vừa bi thương vừa đẹp não nùng của hạnh phúc. Một tích tắc ác mộng đưa cô vào vĩnh viễn thời gian một giấc chiêm bao bất tận những nụ hôn với người yêu. Ai nói mùa xuân sẽ tàn, ai cho là thời gian sẽ qua, có một mùa xuân ở mãi với đất trời qua thông điệp của hạt bụi ngây thơ ấy.

Cho dù có rất ít điều đẹp đẽ trong cuộc đời đi nữa (huống chi là chúng ta đã có nhiều), thì thời gian cứ ảo mơ chở chuyên những đến, những đi, những ngẫu nhiên tình cờ, cho ta được sống, được lặp lại cảm xúc, được nuôi nấng cảm xúc, để sẵn sàng với một ngàn lần hơn, những dự báo bất an của ngày mai.

Xin mời cạn chén mùa xuân với bao nhiêu hương vị, Cá Tháng Tư, Easter, Phật Đản, Ngày của Mẹ, Ngày Của Cha, Memorial Day, Flag Day…, rồi sẽ, bạn thân ơi, Hạ thưởng California lộng lẫy nắng vàng.

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
( Santa Ana)

LỜI THƠ CŨ

buidiep

lời tôi cũ như mùa hoa nở muộn
trên đồi em ngày mười sáu trăng đầy
những bông hoa ngủ trên vai mùa hạ
mãi tàn đông người còn ngóng heo may

xòe bàn tay nẻo thanh xuân chằng chịt
ngả nào tôi cùng em đếm ngày vui
dăm sợi nhớ đã liu điu mộng mị
rụng vào đêm tiếng vạc nhỏ hiên đời

rụng vào tôi những câu thơ phù phiếm
hội chợ lòng mình bề bộn sân si
rụng về em một chớp cò thương mến
vỗ mênh mông đồng con gái xanh rì

lời tôi cũ xuôi về con nước mới
cánh buồm xanh phủ dụ lũ thiên di
vỗ rát ngực dẫu nát tim giông bão
phút bình an ngồi ngắm cỏ nhu mì

phút bình an tựa vai mình em nhé
đất bao dung nên hoa cỏ tứ mùa
lời tôi cũ sẽ già nua theo gió
chở âm thầm hồn sông núi nắng mưa

bùi diệp

SÔNG TRÀ MÙA THU TÔI

nguyendangtrinh

với những đôi lứa yêu nhau
sông Trà mùa thu êm mềm giải lụa
hai trái tim thơ mỗi trái nhón một đầu
thanh thản trôi qua mấy mùa trăng Thiên Ấn
tình xuôi theo nhanh chậm vẫn bền lâu…

với em dĩ nhiên cũng thế
dòng sông Trà mùa thu bổng trầm khúc gió
rủ rê em về biển bỏ rơi nguồn
đâu thèm biết phía sau con đò dọc
có gã chài lọ mọ lưới trăng suông…

riêng với gã
dòng sông Trà mùa thu bén ngót lưỡi gươm
xớt ngang lưng cuộc tình chưa kịp lớn
gã xửng vửng ôm vết thương mười tám
bỏ quê đi lâu lắm máu còn tươm…

và từ ấy
dòng sông Trà mùa thu khúc hư khúc thực
khúc rất nên thơ khúc rất nỗi niềm
giữa Sài Gòn đôi khi ngồi tặc lưỡi
có thể xa mà không thể quên!…

nguyễn đăng trình

LẦN ĐẦU ĐẾN SÀI GÒN

phanthanhkhuong

(Hôm nay, 24-5-2016, Tổng thống Barack Obama đến Sài Gòn lần đầu tiên. 43 năm trước, hè năm 1973, tôi cũng đã lần đâu tiên đến Sài Gòn. Tôi xin phép kể lại vắn tắt như dưới đây)

Hè 1973, sau khi kết thúc năm học thứ 3 ở ĐHSP Huế, tôi về Hòa Khánh (cách Đà Nẵng non 10 Km) để nghỉ hè. Gia đình tôi tản cư đến ở đấy. Nhưng chưa nghỉ được ngày nào thì có người rủ đi làm thợ nề trên đèo Hải Vân. Tôi đi làm ngay vì muốn có ít tiền để vào Sài Gòn cho biết Hòn Ngọc Viễn Đông nó như thế nào!
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”

(“Áo lụa Hà Đông” – Nguyên Sa – Trần Bích Lan)
“Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát”

(“Trả lại em yêu” – Phạm Duy)
Và ca khúc “Ghé bến Sài Gòn” của Nhạc sĩ Văn Phụng cứ thôi thúc tôi!

Công việc thợ nề của tôi là xây các vách ở hai đầu các cống thoát nước. Vách có hình thang vuông: đáy 2 mét, đỉnh 0,2 mét. Cống có đường kính 2 mét, bằng thép. Và xây các đường dẫn nước phía vách núi để khi mưa lớn, nước chảy mạnh, không bị xói lở. Mỗi ngày được trả 250 đồng.
Tôi dự định sẽ bắt xe Phi Long hay Tiến Lực để đi Sài Gòn. Nhưng, làm được hơn một tháng, đã có hơn 10.000 đồng thì ông anh họ nói sẽ gửi đi máy bay. Thích quá!
Đúng ngày giờ hẹn, tôi đến chỗ làm của ông anh họ (gần Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng). Chờ một lát thì có người đọc danh sách những người được bay chuyến sáng hôm ấy. Nghe tên mình, tôi lên xe.
Chiếc GMC chở gần 30 người, chạy ra phi trường Đà Nẵng. Xe đến gần một chiếc máy bay khổng lồ. Đó là chiếc máy bay Lockheed C-130 Hercules. Chúng tôi được hướng dẫn lên máy bay từ phía đuôi máy bay và được chia đều ngồi dọc hai bên. Mỗi ghế một người và phải buộc dây ngang bụng.
Tấm bục lớn ở đuôi máy bay được nâng lên, khép kín phía đuôi máy bay và chiếc Lockheed C-130 Hercules lăn bánh, cất cánh. Qua ô cửa nhỏ, tôi thấy bên dưới là núi rừng trùng điệp. Có lẽ “nó” đang bay trên Tây Nguyên.
Tôi đã bay trên một số loại máy bay trực thăng, C123, … nhưng phải công nhận anh C130 này rất êm, rất thoải mái.
Có người bảo: “Đến rồi! Sông Đồng Nai kia rồi!” Và máy bay hạ dần độ cao rồi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.
Tôi lên một chiếc Lambretta để ra cổng phi trường rồi đi xích lô về nhà bạn, người bạn cùng lớp thời trung học, đã vào Sài Gòn để học Đại học.
Ngày thứ nhất, bạn giao cho tôi một chiếc xe máy Suzuki. Tôi đi đổ xăng và mua một cái bản đồ Thủ đô Sài Gòn và bắt đầu khám phá Hòn Ngọc Viễn Đông.
Tôi đến đường Trương Minh Kí, ngắm Đại học Vạn Hạnh. Đi hết đường Trương Minh Giảng, rẽ trái, đến Ngã tư Bảy Hiền, ngắm Bệnh viện Vì Dân đồ sộ, vào Hương lộ 14 để thăm ông anh cô cậu. Khu Bảy Hiền có rất đông người Quảng Nam vào làm ăn sinh sống.
Ở chơi nhà ông anh cô cậu đến 14 giờ, tôi đến đường Trần Quốc Toản để thăm bà chị kết nghĩa. Năm 1964, Quảng Nam bị lụt lớn, thiệt hại khủng khiếp về người và tài sản. Trường Trung học Trưng Vương (Sài Gòn) của chị N. quyên tiền giúp học sinh miền Trung. Lớp 11A2 của chị N. đã gửi tiền giúp lớp tôi. Tôi và bạn tôi, mỗi người nhận được 200 đồng. Tôi viết thư cảm ơn lớp 11A2 của chị N. Từ đó, chị N. và tôi thường viết thư cho nhau. Chị N. học trên tôi hai lớp. Tôi cũng nhận được nhiều thư của các chị cùng lớp với chị N. nữa. Ba chị N. là một Bác sĩ và sau này chị N. cũng trở thành một Bác sĩ. 21 năm sau (1973-1994), trong dịp đi tăng cường cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, chị N. có đến Khu tập thể trường THPT. DTNT. Ninh Thuận để thăm gia đình tôi.
Từ giã chị N. và gia đình, tôi đến chợ Bến Thành, đi qua nhà sách Khai Trí, vòng ra đường Bạch Đằng chiêm ngưỡng tượng đài Đại Vương Hưng Đạo – Trần Quốc Tuấn.
Sau đó, tôi đến dinh Độc Lập, ngắm công trình của Kiến trúc sư lừng danh Ngô Viết Thụ, đến chiêm ngưỡng Nhà thờ Đức Bà rồi đến Bảo tàng Lịch sử.
Tại Bảo tàng Lịch sử, nhìn những cây cọc Bạch Đằng, hình ảnh Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung, … lòng tôi dào dạt cảm xúc tự hào, cảm phục cha ông mưu trí, anh hùng, kiên cường, bất khuất! Ngắm những phiên bản trống đồng Đông Sơn, thạp đồng Đào Thịnh, những mũi tên đồng, … tôi như thấy lại cả một quá khứ gian khổ, hào hùng và tài hoa của dân tộc!
Rời Bảo tàng Lịch sử, tôi vào Thảo Cầm Viên để xem voi, gấu, sư tử, … Con hổ trong Thảo Cầm Viên, lúc này, trông rất giống con hổ của Thế Lữ trong bài thơ nức tiếng “Nhớ rừng”. Nó khinh khỉnh, nghênh ngang, dữ dằn, hung tợn lắm! Chắc là được ăn uống đầy đủ nên rất sung sức, mạnh mẽ.
Gần 17 giờ, khát nước và mệt, tôi quay về nhà bạn. Gặp một chị bán trái cây, đang đẩy xe đi bên đường, tôi dừng lại, hỏi: “Bao nhiêu một chục cam vậy chị?”. Chị trả lời ngay: “Bốn đồng chú à!”. Tôi nói: “Chị bán cho em một chục!”. Chị nhặt cam, bỏ vào một bao giấy đã được dán sẵn. Tôi trả tiền cho chị.
Cầm bị cam, nghe nằng nặng, tôi mở xem. Thấy 13 trái cam, tôi nói với chị: “Dư 3 trái chị ơi!”. Chị bảo: “Không dư đâu! Một chục là 12 trái, tôi biếu chú 1 trái nữa là 13. Nghe tiếng chú, tôi biết chú ở ngoài Trung mới vào. Quảng Nam phải không? Ở đây, tôi tính chục 12, chứ chú xuống miền Tây, người ta tính cho chú chục 14, chục 16 nữa kìa.”. Tôi vô cùng ngạc nhiên: chục 12, chục 14, chục 16 và còn biếu 1 trái vì “tôi biết chú ở ngoài Trung mới vào”! Người Sài Gòn sống nghĩa tình quá! Tôi vô cùng cảm động trước tình cảm của chị bán trái cây, tôi nói: “Vậy, em cảm ơn chị! Chào chị nhé!”.
Ngày thứ hai, tôi đi lung tung: đến cầu Chữ Y, qua Khánh Hội, đến Đa Kao, Chợ Lớn … Đi trên các con đường Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, … rợp bóng me, hoa và lá me rắc vàng trên đường. Đúng là những con đường dành cho các nhà thơ!
Đến chiều, tôi đến nhà sách Khai Trí, mua gần 20 quyển sách các loại: từ điển, thơ, tiểu thuyết, sách dịch, sau khi tính toán số tiền cần để ăn uống và đi xe.
Sáng hôm sau, tôi chia tay bạn và lên xe Phi Long để về lại Đà Nẵng.
Xe chạy tới Sa Huỳnh thì trời tối, những người anh em con Lạc cháu Hồng đang bắn giết nhau, xe không thể đi tiếp. Xe phải đưa hành khách xuống bờ biển để lên 2 chiếc thuyền. Thuyền chạy cách bờ vài cây số. Nhìn vào trong đất liền, thấy đạn bay đỏ trời, hỏa châu chiếu sáng, tiếng súng lớn nhỏ, lúc nhặt lúc thưa. Tôi không hiểu sao người Việt Nam mình lại thích bắn giết nhau dữ vậy!
Ra tới quãng thị xã Quảng Ngãi, thuyền mới cập bến, chúng tôi lên bờ và lên xe – một xe Phi Long khác – để đi tiếp ra Đà Nẵng.
Đấy, lần đầu đến Sài Gòn của tôi là như thế. Còn rất nhiều tình tiết nhưng tôi xin thuật vắn tắt như thế vì sợ làm mất thì giờ của người đọc!
Sài Gòn thật tuyệt vời! Đúng là một Hòn Ngọc Viễn Đông! Hòn Ngọc không chỉ là nhà cửa, lâu đài, cao ốc, đường sá, … mà quan trọng hơn, đó là Hòn Ngọc của Tình Người, của Nhân Cách, của Tâm Hồn người Sài Gòn!

PHAN THÀNH KHƯƠNG

DẤU XƯA ĐÃ DẬY MEN NỒNG

nguyenngocnghia

Viết thay các bạn tôi, và SMĐN

Ai thả lụa quanh góc phố
Hồn anh trắng mấy dặm dài
Về thôi, dòng sông tuổi nhỏ
Bờ Đông thương nhớ bờ Tây

Kỉ niệm nào không óng ả?
Đường xưa quấn quýt tơ trời
Gốc sứ sân trường con gái
Nghiêng đầu ngóng hạt mưa rơi

Về thôi, bước chân lãng tử
Theo em mòn vẹt gót giày
Anh theo nhịp đời lữ thứ
Chùng lòng sợ dấu xưa phai

Có ai không từng ngầy ngật?
Hương thời gian dậy men nồng
Ừ, bốn mươi năm phiêu bạt
Phố xưa, có đợi anh không?

Sông ơi chở tình về nhé
Cổng trường ngợp gió sông Hàn
Và, cổ viện Chàm rợp nắng
Những chiều trốn học lang thang

Phố người, lăn theo cơm áo
Anh xưa dày phủ bụi đời
Em xưa chim lồng cá chậu
Còn không, ánh mắt biết cười?

Tương tư cát vàng cố xứ
Thầm thì sóng gọi Mỹ Khê
Bóng ai dưới nhành liễu rũ
Bãi dài in dấu chân đi

Anh ôm mảnh trăng đã vỡ
Hụt hơi, chìm nổi bão giông
Quê nhà và em sóng sánh
Rất xa
mà lại rất gần.

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

Bạn bây giờ đã quên

nguyenthihaiha

Tôi tìm cái giếng rồi nói vọng vào
chuyện không thể nói ám ảnh suốt đời ân tình đứt đoạn trói buộc khôn nguôi[
1]

Bây giờ, tôi không còn nhớ mặt bà nữa. Nếu có đi trên phố chạm mặt nhau tôi không chắc là tôi có thể nhận ra bà. Tôi gặp bà đúng hai lần. Bà có dáng cao, mảnh mai, dễ nhìn, dù không trang điểm. Không còn nhớ nét mặt bà nhưng tôi vẫn nhớ trường hợp chúng tôi gặp nhau. Và chính cái trường hợp ấy đã khiến tôi thầm xem bà như bạn.

Hôm ấy, đầu mùa hè khoảng hơn năm giờ chiều, giờ tôi đi làm về. Ở đây, mùa hè năm sáu giờ chiều vẫn còn nắng. Bướng, đứng giữa phòng khách ngó ra đường. Mặt nó căng thẳng, tôi dò hỏi.
– Có chuyện gì?
– Tóc Đỏ đang trên đường đến đây.
Tóc Đỏ và Bướng yêu nhau chừng hai năm. Hai năm tình lận đận, tụi nó cãi nhau, đòi bỏ nhau ba bốn lần. Gần đây có chuyện gì không biết hai đứa hục hặc dữ dội. Tôi hỏi thì Bướng gạt ngang “Con không muốn bàn chuyện này.”
– Mẹ tưởng con với nó đã nghỉ chơi rồi. Nó đến đây để làm gì?
– Chị của nó nói nó khóc um sùm, đòi chị nó chở đi đến đây để năn nỉ con. Nó đang say rượu. Chị nó không chịu chở thành ra nó đi bộ.
– Con gọi điện thoại cho bố mẹ nó biết đi. Kêu bố mẹ nó đến đón nó về. (Tôi cố giữ cho giọng từ tốn không hốt hoảng hay nạt nộ.)
– Gọi rồi. Bố nó không bắt điện thoại. Mẹ nó đi làm chưa về. Chị nó nói bao giờ mẹ nó về chị nó sẽ nói với mẹ nó. Bướng trả lời xẵng giọng, như muốn bảo “biết rồi, nói mãi.”
*
Tóc Đỏ dành tôi ra khỏi tay Tóc Vàng lúc cả ba đứa chúng tôi ở cuối năm Senior[2]. Mẹ nói là lớp mười hai. Thật ra tóc nó không phải màu đỏ mà là màu nâu sậm. Buổi chiều trước khi đến giờ Prom (dạ tiệc trước khi tốt nghiệp Trung học), Tóc Đỏ nhuộm mái tóc nâu của nó thành màu đỏ. Nó biết mẹ nó sẽ nổi giận nhưng nó cứ muốn làm như thế để đánh dấu ngày nó trưởng thành. Tóc Đỏ có đôi mắt mơ màng, lông mi cong và rất dài, nó rất hay buồn và hay khóc. Tóc Đỏ và Tóc Vàng chơi thân với nhau dù tính tụi nó rất khác nhau. Tóc Vàng là con nhà giàu còn Tóc Đỏ là con nhà nghèo. Tôi biết Tóc Đỏ thích tôi, dù biết tôi và Tóc Vàng cặp bồ với nhau, vì nó hay nhìn tôi và cái nhìn của nó nhiều khi rất hỗn. Nó thích học ngành tâm lý học. Nó nói nó hiểu tâm lý con gái, và khi không có Tóc Vàng nó nói riêng với tôi. “Tớ cũng xứng đáng được yêu thương chẳng kém gì ai, mà sao chẳng ai yêu thương tớ.”
Trong một buổi chơi bóng chuyền, có đứa nào đó ném bóng một quả bóng khác vào đầu tôi rất mạnh làm tôi bất tỉnh. Tóc Vàng an ủi tôi rồi để chocolate lên bàn học của tôi. Tóc Vàng cao và gầy, tóc nó xoăn xõa trên trán trông rất nghệ sĩ. Tóc Vàng giỏi computer, có thể viết codes, sửa computer, còn biết đàn guitar nữa chứ. Tụi con gái chê Tóc Vàng geeky[3] nhưng tôi thích nó. Cuối năm Junior (lớp 11), Tóc Vàng đậu bằng lái xe và ngay lập tức mẹ nó tặng cho nó chiếc Honda màu bạc. Có xe, suốt mùa hè trước khi vào năm Senior tôi và Tóc Vàng gặp nhau. Mẹ không muốn tôi có bạn trai sớm, nói nầy nói kia, nhưng làm sao cấm tôi được. Suốt năm học Senior, tan học Tóc Vàng đưa tôi về nhà, tôi không phải đi xe buýt chật chội và bị tụi Mỹ trên xe bắt nạt. Bố Mẹ đều đi làm, tôi muốn làm gì thì làm miễn là đừng có dại mà khai ra.
Lâu rồi, trong lúc đưa tôi đi bác sĩ, Mẹ nói:
– Con đừng ngủ với con trai quá sớm, phải biết bảo vệ thân thể con để tránh bệnh tình dục hay có thai. Tốt hơn hết con chờ đến khi nào con gặp tình yêu đúng nghĩa hãy làm chuyện đó.
Tôi quay mặt ra bên ngoài cửa kính xe, để khỏi phải nói chuyện với mẹ. Mẹ chẳng biết gì cả, không hiểu tuổi trẻ, hở một cái là diễn thuyết hết cái này đến cái kia. Đứa nào khi tôi yêu tôi cũng thấy đó là tình yêu đúng nghĩa, tình yêu thật cả. Có ai yêu dối được bao giờ.
– Mẹ đừng nói với con chuyện birds and bees[4] có được không? Con đã học giáo huấn tình dục từ hồi năm freshman (lớp tám) rồi. Học trò trong lớp thực tập bằng cách đeo bao cao su vào trái chuối. Tóc Vàng nó theo đạo Thiên Chúa. Nó sẽ giữ trinh tiết cho đến khi nào nó chính thức lập gia đình.
Mặt Mẹ giãn ra, bớt lo lắng làm tôi cười thầm, thương hại mẹ. Mẹ dễ tin lắm. Tôi nói Bác sĩ viết toa để mẹ mua thuốc ngừa thai cho tôi. Tên thuốc là tên khoa học không phải hàng hiệu, tôi nói để điều hòa kinh nguyệt, tránh đau bụng, và trị mụn là mẹ không nghi ngờ gì cả. Chính vì tin tôi nên mẹ không tránh được vẻ kinh ngạc và kinh hoàng khi có một hôm mẹ về sớm và bắt gặp tôi đang hành sự với Tóc Vàng. Mẹ gõ cửa phòng tôi, ban đầu nhẹ tôi không nghe vì đang bận rên rỉ, khá mạnh. Mẹ gọi tôi và Tóc Vàng ra cho mẹ nói chuyện. Vì bị bắt quả tang nên Romeo của tôi không thể nhảy qua cửa sổ chuồn đi như thường lệ. Mẹ hỏi Tóc Vàng “Bướng bảo với tôi cậu sẽ giữ chữ trinh vì cậu theo đạo Công giáo mà.” Mẹ có vẻ ngơ ngác, một chút phẫn nộ và đau đớn nữa, nhưng chính cái vẻ chưng hửng của mẹ làm tôi phì cười. Và cái cười phì của tôi làm mẹ càng thêm giận dữ. Tôi nghĩ, mẹ tôi càng ghét tôi hơn. Tôi chẳng màng đến cơn giận của mẹ. Who cares?
*
Tôi không biết cách nói chuyện với con tôi. Nói tiếng Việt thì nó không hiểu trọn vẹn. Không hiểu nên không nghe lời. Còn nói tiếng Anh thì tôi ấp a ấp úng ba trật bốn vuột nên không thể thuyết phục nó. Người Mỹ đánh giá sự thông minh của một người qua cách sử dụng ngôn ngữ. Vì tôi nói tiếng Anh dở, con tôi nghĩ là tôi khờ, ngu nữa là đằng khác. Tôi mở miệng chưa kịp nói hết câu nó đã nhảy tót vào trong họng tôi mà ngồi. Chẳng những thế, khi hai mẹ con bắt đầu tâm tình, dĩ nhiên là bằng tiếng Anh, thì Bố nó gằn giọng nghiêm trang. “Nói tiếng Việt!” Thế là cả hai mẹ con cụt hứng bỏ đi chỗ khác. Nhưng nếu tôi và con Bướng có thể nói chuyện tay đôi bằng tiếng Anh hay tiếng Việt thì tôi sẽ nói gì với con tôi?
Con gái Mỹ không có cái khái niệm giữ gìn chữ trinh, trừ những cô thật là ngoan đạo. Các cô không hề nghĩ con trai dắt mình vào giường là lợi dụng mình, cũng không để dành cái ngàn vàng gọi là dâng hiến cho một người nào đó. Không biết, có oan hay không, khi đổ thừa phim ảnh Mỹ đã đầu độc trẻ con từ khi chúng mới mười ba mười bốn tuổi, bằng ý nghĩ phá trinh để đánh dấu ngày mình trưởng thành. Tình dục, được các cô bé dùng để chứng tỏ sức mê hoặc của thân hình son trẻ. Có được một chàng đẹp trai, chơi thể thao giỏi, thèm muốn thân xác mới lớn của các cô là một điều hãnh diện, một chiến công với đám con gái trang lứa. Tôi nhìn toa thuốc ngừa thai của Bướng, nghĩ thầm, “rầy mắng vô hiệu, hãy xem đây là điều may mắn vì nó biết lo ngừa thai!” Tụi nó làm tình ở đâu nếu không cho nó làm tình ở nhà? Không phải là chuyện đáng khen ngợi, nhưng nếu cấm nó ngủ với trai ở nhà mình thì nó sẽ ngủ ở nhà của thằng đó. Cha mẹ thằng đó bắt gặp sẽ mắng con mình và mắng cả mình không biết dạy con. Nếu tụi nó làm tình ngoài công viên, sau thùng rác, dưới mấy cái băng ghế của vận động trường thì sẽ bị cảnh sát bắt. Dù gì con mình cũng phải chịu tai tiếng xấu hổ hơn là tụi con trai. Tôi không biết khi chuyện ấy xảy ra, các bà mẹ Mỹ nghĩ thế nào, nhưng với các bà mẹ Việt thì cái xấu hổ nó tăng lên thành nỗi nhục nhã. Nhục với gia đình, tổ tiên, và cả văn hóa Việt. Người Mỹ họ sẽ nói, con gái Việt lố lăng như thế. Riêng tôi, con hư là nỗi đau ngấm ngầm, đau vì mình không biết dạy con. Con tôi cũng không thể nào tưởng tượng được chuyện yêu đương bồ bịch của nó lại là cái nhục cho tôi.
Nhiều người bảo, con gái khó dạy hơn con trai. Tôi không biết có thật như thế không và nếu có thì khó hơn như thế nào. Nuôi con gái nếu không sợ mất trinh thì chỉ sợ có thai. Sợ có thai thì đã có thuốc ngừa thai. Ở Mỹ thời bây giờ cho dù có thai cũng không phải là chuyện trời sập. Không phải như thời phong kiến ở Việt Nam có thai hoang thì bị đánh đập chết đi sống lại, rồi cạo đầu bôi vôi cho tóc không thể mọc ra, rồi đuổi ra khỏi nhà thậm chí khỏi làng. Cũng không phải như đàn bà Trung quốc có người chửa hoang, mới vừa đẻ xong người ta vây quanh nhà đòi bắt cả mẹ lẫn con. Sợ bị đánh và bị hiếp người mẹ đã ôm con nhảy xuống giếng tự tử. Ở đây, đẻ thì nuôi. Không nuôi thì đem cho. Hay tống đứa bé cho bà ngoại nuôi. Đó là nỗi sợ của tôi. Tôi rất sợ tuổi già còn phải nuôi vừa con vừa cháu ngoại. Nhưng dẫu sao điều này vẫn còn ít đáng sợ hơn nếu con mình đem con nó bỏ ở mấy cái trạm thu nhận trẻ em chửa hoang bị bỏ rơi. Báo chí lâu lâu lại đăng chuyện mấy bà mẹ trẻ ném đứa trẻ mới sinh vào thùng rác hay bỏ vào cầu tiêu. Trên tất cả nỗi sợ đó là sợ con mình khổ, sợ con mình rơi vào cảnh túng nghèo vì bỏ dở dang chuyện học hành. Sợ con mình làm bậy có thể đưa đến tù tội, và tan nát tương lai.
Buổi chiều trước khi Prom của Bướng và Tóc Vàng bắt đầu, mẹ của Tóc Vàng nhắn với tôi:
-Tôi không thuê thợ chụp ảnh chuyên nghiệp. Bà có thể đến nhà tôi chụp ảnh cho Bướng với Tóc Vàng.
Chiều hôm ấy là lần đầu tiên tôi gặp Tóc Đỏ. Bướng đứng giữa, mặt mày rạng rỡ. Cái áo dạ hội màu tím khoe mảng ngực trần căng phồng. Con nhỏ hơi đẫy nên đầy đường cong quyến rũ. Tóc Vàng và Tóc Đỏ đứng kè hai bên Bướng. Bướng cao hơn tôi, 1m62, nhưng so với hai thằng Mỹ thì chỉ mấp mé đến ngực
Tóc Đỏ mặc bộ đồ com lê màu trắng, tóc nhuộm đỏ. Nếu không có mái tóc đỏ trông nó khá giống Elvis Presley, lúc nhạc sĩ này đã nhậu nhẹt chơi bời quá độ trở nên mập bệu. Tóc Đỏ chẳng buồn ngó vào ống kính. Đôi mắt nó từ trên cao cứ chiếu thẳng xuống bộ ngực căng tròn của con Bướng. Chướng mắt thiệt. Một bà hai ông, cứ như là chuyện Táo quân. Tụi trẻ không có khái niệm chung tình à? Hay tụi nó chỉ là bạn thôi, tình bạn giữa nam và nữ đám già cổ hủ như tôi không thể nào hiểu nổi? Tôi lớn lên trong cái quan niệm hễ bạn thì không có quan hệ tình dục. Giữa tụi nó chỉ là tình hờ thôi? Hay tụi nó không biết đến quan niệm “yêu ai yêu chỉ một người?” Người ta sẽ nghĩ gì nói gì về con tôi khi nó bồ một lúc với hai thằng Mỹ? Sau lưng của những cô gái hư hỏng là những bà mẹ thất bại?
*
Độ một tuần sau ngày mãn khóa Trung học tôi nói với Mẹ là tôi đã nghỉ chơi với Tóc Vàng và tôi yêu Tóc Đỏ. Mẹ không tán thành:
– Mẹ không thích cái thằng đó. Nó như là đồ rắn độc ấy. Nó là bạn của Tóc Vàng mà lại dụ con.
Tôi cự:
– Chẳng ai dụ con cả.
Mẹ không biết. Tôi đã cãi nhau với mẹ của Tóc Vàng vì mẹ nó mắng nó là thằng bất tài nhu nhược, làm khổ bà. Tóc Vàng hăm tự tử thì mẹ nó nói có gan thì chết đi cho rảnh nợ. Tôi nghĩ làm mẹ mà nói như vậy với con thì rất là sai lầm. Tóc Vàng chỉ có khóc nhưng tôi thì nói thẳng với mẹ nó bà là một bà mẹ xấu. Bà nổi giận, cấm không cho chúng tôi gặp nhau nữa.
Chỉ một tuần sau khi tôi và Tóc Đỏ “go out”(đi chơi) với nhau, Tóc Đỏ đòi nghỉ chơi với tôi. Dành tôi ra khỏi tay Tóc Vàng và bây giờ thì đòi bỏ tôi. Dĩ nhiên là tôi khóc.
Mẹ nói:
– Thấy chưa. Karma (trả nghiệp) mà. Con bỏ Tóc Vàng nên bây giờ Tóc Đỏ bỏ con. Ít ra Tóc Vàng nó còn có tài sửa computer còn thằng này chẳng có tài gì cả.
Tôi ghét cái cách mẹ nói chuyện với tôi. Bà không nói ra nhưng tôi biết bà muốn nói ít ra Tóc Vàng còn có xe, còn Tóc Đỏ thì đi đâu cũng phải có người đưa đón.
– Tóc Đỏ chỉ nhát gan thôi. Nó chưa quen với chuyện tình yêu, nó sợ commitment. Nó cứ nói “chuyện không thành đâu, chúng mình đi học ở hai nơi khác nhau, nên break up ngay từ lúc này.” Để từ từ tôi sẽ huấn luyện nó.
– Nó mới quen với con mà đã đòi bỏ con thì lâu dài không tốt.
Tôi nạt:
– Mẹ đừng bàn chuyện của con có được không. It’s none of your business.[5]
Tôi nhìn mặt mẹ tôi bành ra, giận dữ đến độ méo mó xấu xí. Nếu tôi đứng trước mặt Mẹ thêm một phút nữa chắc là Mẹ sẽ xông vào cấu xé tôi. Tóc Đỏ bỏ tôi vì nó ghen. Nó không muốn tôi giữ tình bạn với Tóc Vàng. Nó nói hễ bồ thì không bạn, hễ bạn thì không bồ. Tôi quan niệm khác. Trước khi là bồ tôi và Tóc Vàng là bạn. Tôi muốn giữ tình bạn ấy.
*
Bướng khóc hù hụ mỗi lần bị Tóc Đỏ đòi nghỉ chơi. Nó rống thảm thiết đến độ tôi tự hỏi nếu lỡ tôi hay bố nó lăn ra chết nó có khóc nhiều và rống to như thế không? Mỗi lần thấy con quằn quại tôi đau lòng, nhưng không biết phản ứng thế nào. Tôi muốn ôm nó vào lòng giải thích con yêu sớm như thế chỉ làm tan vỡ trái tim của con, nhưng tôi sợ nó sẽ xô tôi ra. Và thật tình tôi giận nó lắm. Giận nó đã không nghe lời tôi, đã bướng lại còn hỗn. Giận nó không biết giữ thể diện. Người ta đã nói không yêu mình thì thôi, khóc lóc làm gì. Nhưng già như tôi thì còn biết gì về tình yêu chứ. Với tôi, bây giờ chỉ có trách nhiệm, tình yêu đã chết từ lúc nào không ai hay. Tụi con nít làm sao biết được trong cuộc sống lứa đôi, tình yêu chết trước nhất, chỉ có trách nhiệm là tồn tại.
– Mẹ không thích Tóc Đỏ. Đứa nào đối xử không tốt với con, làm con khóc Mẹ không ưa. Con đừng yêu nó nữa có được không?
Nó nói như một bà cụ non.
– Con thà yêu mà đau khổ còn hơn suốt đời không biết yêu là gì.
Thật ra, tôi ghét Bướng vì nó có nhiều cái giống tôi, nhất là giống những tật xấu như ngu và mê trai. Nó bỏ thằng Tóc Vàng, con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai, để yêu cái thằng mập phệ, không có xe. Mỗi lần hai đứa hẹn nhau hoặc là chị hoặc là mẹ của nó phải đón đưa. Còn tôi cũng phải đưa đón con Bướng. Tôi gặp mẹ Tóc Đỏ trong một lần tôi đưa Bướng đến nhà Tóc Đỏ.
*
Khi người đàn bá Á châu thả Bướng trước cửa nhà tôi, trông bà đầy vẻ phiền muộn. Bà mở cửa xe, xuống chào tôi, nhưng hình như tâm trí của bà ở đâu đâu. Lưng bà như oằn dưới một cái gánh nặng vô hình. Tôi nghĩ mấy bà mẹ Á châu có vẻ khó khăn hơn những bà mẹ Mỹ.
Tôi chào:
– Cảm ơn bà thường đưa đón con tôi, cho hai đứa gặp nhau.
Bà trả lời:
– Cảm ơn Bà đã cho phép Bướng đến chơi. Nếu cần xin Bà gọi, tôi sẽ đến đón con tôi về. Cậu ấy là con trai lớn nhất của bà? Mẹ Bướng hỏi.
– Tôi có tất cả năm đứa con. Hắn là con trai duy nhất trong bốn người chị và em gái.
Gia đình tôi theo Công giáo và rất mộ đạo. Chúng tôi không sử dụng phương pháp ngừa thai. Bướng có vóc dáng nảy nở. Nhìn thân hình, có thể lầm nó hơn mười tám tuổi. Trông Bướng sành đời hơn thằng con tôi. Có lẽ vì hắn là con trai duy nhất, được nuông chìu hơn mấy cô con gái, nên lớn vóc mà vẫn gà tồ. Hắn khá ngoan, mùa hè đi làm dành dụm tiền để đi học đại học. Chỉ có điều đáng buồn là hắn bị bệnh trầm cảm rất nặng. Hắn thường nằm lì trong giường không chịu làm ăn gì cả. Không đúng loại thuốc hay không đúng liều là hắn đòi tự tử và thường khi cau có vô cớ. Tôi cho rằng quan hệ giữa hắn và Bướng chỉ là chuyện trẻ con. Nay mai, khi hai đứa vào đại học chắc là đường ai nấy đi. Nhiều lần, tôi muốn hỏi Bướng, “Cháu có dùng thuốc ngừa thai không?” Hỏi nó như thế thì bất lịch sự quá, và e rằng nó hỏi lại tại sao tôi không hỏi con tôi.
Ai nói có con trai không cần phải lo? Thời buổi này, tụi con gái chủ động tấn công con trai nhiều hơn thời tôi còn là con gái. Có con trai thì sợ nó lái xe nhanh, sợ lái xe lúc say, sợ nó vướng vào xì ke ma túy, và sợ nó làm một đứa con gái nào đó mang bầu. Thời bây giờ chỉ cần đem thử DNA là biết đứa nào là cha, và phải nuôi con cho đến khi đứa bé được mười tám tuổi, dang dở tương lai của con mình và cả con gái của người ta. Thậm chí cha mẹ của cả hai bên cũng liên lụy.
Bà mẹ Bướng vừa lái xe đi một lúc thì hai đứa lại cãi nhau. Tóc Đỏ không cho Bướng vào nhà, xua đuổi, và ra ngồi trên sân cỏ. Bướng quì gối bên cạnh, ôm mặt thằng con tôi hôn lên mắt lên môi, vẻ nài nỉ khẩn thiết rồi úp mặt xuống cỏ khóc um sùm. Chúng nó chẳng kể gì hàng xóm nhà tôi đang nhìn. Mẹ Bướng quay xe lại đón Bướng vừa kịp nhìn thấy cảnh tượng trên. Bà gọi con gái về nhưng nó chẳng kể gì đến mẹ cứ tiếp tục van nài con tôi. Chán nản, bà lái xe đi, mặt bà đanh cứng lại. Tôi thấy tội nghiệp bà. Giá mà tôi có thể an ủi bà.
*
Bướng nhìn ra cửa sổ kêu lên:
– Nó đến rồi kìa!
Tóc Đỏ cao lêu nghêu, đi lảo đảo. Vừa qua khỏi hộp thư ở đầu con đường nhỏ dẫn vào nhà nó té sụm xuống nằm bất động. Chập sau đứng dậy, vừa đi vừa bò trên con dốc vào nhà tôi. Cái áo thun trắng của nó lấm lem, thấm ướt mồ hôi loang lổ trước ngực và sau lưng.
Tóc Đỏ gõ cửa và lè nhè:
– Bà ơi, xin làm ơn cho tôi nói chuyện với Bướng. Tôi sẽ lễ phép. Trước giờ tôi vẫn lễ phép với Bà.
Tôi mở cửa.
– Cháu đi về đi. Bướng không muốn gặp cháu nữa.
Tóc Đỏ đẩy tôi qua một bên bước vào nhà. Bước chân nó xiêu vẹo, mùi rượu nồng nặc. Chỉ sau một năm đại học ở tiểu bang bên cạnh nó gầy đi rất nhiều. Cái má xưa phúng phính nữa, nay hóp sâu và đôi mắt trũng xuống thâm quầng. Tóc Đỏ bò lê trên nền phòng khách. Tấm thân đồ sộ gần hai mét chiều dài của nó choán cả phòng. Nó úp mặt vào ghế sa lông khóc sướt mướt, miệng nói không ngừng:
– Bướng ơi, xin đừng bỏ anh. Em bỏ anh là anh chết mất. Chỉ có em là có thể chữa trị và thay đổi anh thôi.
Tôi bảo Bướng.
– Gọi về nhà nó. Nói với bố mẹ nó, nếu không đến rước nó về thì mình sẽ gọi Cảnh Sát.
Bướng trả lời:
– Mẹ của nó đang trên đường lái xe đến đây.
*
Người Tóc Đỏ ướt đầm mồ hôi. Từ nhà tôi đến đây khoảng mười lăm phút lái xe, nó đi bộ hơn cả tiếng đồng hồ. Tôi năn nỉ:
– Thôi lên xe mẹ chở về.
Nó chẳng trả lời cứ khóc lóc và nói lảm nhảm. Nó không chịu uống thuốc trị bệnh thần kinh và mất ngủ cả tháng nay. Ngay từ đầu khi nó mới quen Bướng tôi đã nói con không chịu được những thất vọng của tình yêu, con bị bệnh mà. Nói biết mấy nhưng chẳng ăn thua gì. Nó vẫn rên rỉ bù lu bù loa trên nền nhà. Bên ngoài trời bắt đầu nhạt nắng.
Tôi dùng điện thoại di động gọi 911. Khi người ta hỏi địa chỉ của nhà Bướng, tôi lúng túng. Mẹ Bướng đưa điện thoại nhà bảo dùng điện thoại nhà để cảnh sát lần theo địa chỉ qua số điện thoại. Tôi nói với người trực 911.
– Con tôi say. Trước khi đi nó đã uống bia ở nhà. Trên đường đi nó ghé quán rượu uống thêm. Nó có mang dao theo nhưng say quá lúc ngã ngoài sân đã đánh rơi con dao. Tôi nhặt dao bỏ vào xe khóa lại.
*
Xe Cảnh sát đến trước. Sau đó là xe cứu thương. Hai người Cảnh sát vào nhà tôi. Một người đứng canh cửa. Người kia đứng nói chuyện với Tóc Đỏ vẫn còn nằm phục trên nền nhà.
– Cậu bé, cậu có dùng drug không?
Khi thấy Cảnh Sát, Tóc Đỏ dường như tỉnh táo hơn. Nó nói lè nhè lẫn trong tiếng khóc.
– Tôi chỉ uống rượu. No drugs.
Người Cảnh sát khi nói chuyện vẫn đặt tay lên báng súng. Trò chuyện, phỏng vấn, ghi chép biên bản, rất lâu và cuối cùng họ thuyết phục được Tóc Đỏ đứng dậy. Tóc Đỏ để cho họ xốc nách dìu ra khỏi cửa nhà tôi, và nằm lên cáng cứu thương. Hai ba người nhân viên cứu thương, ràng dây nịt chung quanh cáng và đưa Tóc Đỏ lên xe chở đi.
Mẹ Tóc Đỏ nhỏ nhẹ nói chuyện với Bướng.
– Con tôi bị bệnh thần kinh. Tình cảm sóng gió giữa cháu và con tôi làm bệnh nó nặng hơn. Hai đứa nên xa nhau vĩnh viễn để cả hai có cơ hội hàn gắn tâm hồn mình.
Bướng vốn chẳng chịu nghe lời ai, nhất là tôi và bố nó, nhưng nó lại có vẻ chấp nhận lời giải thích của mẹ Tóc Đỏ. Dù mẹ Tóc Đỏ trẻ hơn tôi cả chục tuổi, ngày hôm ấy tôi thấy bà già đi. Lưng bà như cõng một quả địa cầu phiền muộn. Có một lần đi làm về tôi thấy Tóc Đỏ ngồi khóc trong phòng của Bướng và Bướng thì đang lầm lì giận dữ. Tiếng khóc dấm dẳng của Tóc Đỏ làm tôi nổi cáu. Tôi bảo Bướng nếu hai đứa không dàn xếp cho êm đẹp thì hai đứa nên ra sân sau, hay vào nhà kho khóc cho đã rồi hãy vào nhà. Tôi không biết những trận khóc của Tóc Đỏ là hiện tượng của chứng bệnh trầm cảm.
Tôi và Bướng đứng ở cửa nhìn xe cứu thương chở Tóc Đỏ đi, nhìn mẹ Tóc Đỏ lái xe theo xe cứu thương. Tôi chợt nhận ra Bướng vừa bị đổ vỡ thêm một mối tình. Và thêm một lần nữa mẹ của một thằng Mỹ bảo đứa con gái Việt là đừng gặp con trai của bà nữa. Một thứ tự ái dân tộc trong tôi nổi dậy làm tôi bực mình với con tôi đến độ tôi muốn mắng nó. Tuy nhiên, tôi cảm được nỗi thất vọng và đau đớn của một cô gái trẻ vừa bị tan vỡ một cuộc tình. Tôi ôm con Bướng vào lòng. Nó cao to hơn tôi nhưng tôi có cảm giác nó vẫn còn bé dại. Chỉ khi ở trong vòng tay tôi nó mới bắt đầu khóc và run khe khẽ. Tôi cố dằn lòng không nói. Mẹ đã bảo đừng yêu.
Sau đó tôi không còn gặp lại bà mẹ của Tóc Đỏ. Nếu có tình cờ gặp bà ngoài đường chắc tôi sẽ không nhớ mặt. Dù chỉ nói với nhau dăm ba câu, chính những điều chúng tôi không có cơ hội nói với nhau và không thể nói với con của mình là những điều thường ám ảnh tôi, người làm mẹ. Chúng tôi không thể giải thích với các con là tình yêu quá sớm, đặt không đúng chỗ, đúng người, chỉ là thứ trái non đắng chát. Nhưng kinh nghiệm của chúng tôi là kinh nghiệm đã lỗi thời, và ngôn ngữ của chúng tôi không phải là ngôn ngữ của phim ảnh tiểu thuyết thời đại. Tôi tin là bà cũng đau đớn khi nhìn thấy con bà quằn quại với tình yêu. Những đau đớn này chỉ tự các cô các cậu trói buộc vào nhau. Mối tình tan vỡ của con tôi với Tóc Vàng và với Tóc Đỏ lại là sự thông cảm giữa tôi với mẹ của hai cậu. Hễ làm mẹ là mang nỗi nhục nhằn do con mình gây ra.
Ghi chú của tác giả: Truyện dựa trên những nhân vật thật nhưng hầu hết mọi chi tiết là do tác giả bịa đặt hay thêm mắm thêm muối cho giống sự thật. Nếu có trùng hợp với chuyện riêng của ai, điều đó ngoài ý muốn của tác giả. Thành thật xin lỗi.

Nguyễn thị Hải Hà
February 2015

[1] Thơ của Hồng Nhiên, Blog the Kitchen Window. Nguyễn thị Hải Hà dịch. Nguyên tác là:
I found a well into it I said. It’s the unspoken that haunts, and the broken that binds.
[2] Những chữ tiếng Anh được dùng để diễn tả cách nói chuyện của người Việt sinh ra lớn lên ở Mỹ. Xin độc giả chấp nhận và bỏ qua cho tác giả.
[3] geeky chỉ những người thông minh giỏi kỹ thuật nhưng vụng về trong việc giao tiếp.
[4] birds and bees, chim và ong, thành ngữ dùng để chỉ chuyện giao hợp và sinh sản con cái.
[5] Không phải chuyện của mẹ.