Tưởng Niệm Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

 

 

 

Chúng ta biết năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 01 tháng 11 thì người dân Việt miền Nam đều nhớ lại ngày này trong năm 1963 của thế kỷ trước mà ngày hôm sau (02 tháng 11) đã dẫn đến cái chết của Tổng thống thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa là Ngô Đình Diệm và người em ruột là Cố vấn Ngô Đình Nhu.

Đã có quá nhiều bài viết, tài liệu và sách báo (trong và nước ngoài) nói về cái chết của hai người nầy. Ai là kẻ ra lệnh giết và tại sao lại ra lệnh giết chết khi họ (anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm) đã chấp nhận đầu hàng (với đám tướng lãnh cầm đầu phe đảo chánh) thì nhiều người đã viết rồi nên nhân buổi lễ tưởng niệm này, Phạm Thắng Vũ (PTV) thấy không cần phải viết lại vì sẽ nhàm. Thay vào đó, xin viết khang khác một chút để quý anh chị trong diễn đàn Facebook đọc để biết thêm.

Nhắc đến cuộc đảo chánh ngày 01 tháng 11 năm 1963 thì phải kể đến một người không chút dính dáng gì đến quân đội miền Nam Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cũng không phải dân Bắc kỳ di cư năm 1954 mà chỉ vì một chút tình cảm riêng với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm mà đã gánh hoạ vào thân ngay sau khi đám tướng lãnh đảo chánh thành công. Đó là ông Mã Tuyên, một thương gia Việt gốc Hoa Triều Châu. Ông chuốc hoạ là vì đã chứa chấp anh em cố Tổng thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu trong cái đêm 01 tháng 11 năm 1963. Khi đó ông Mã Tuyên tuổi độ trên dưới 50, là tổng bang trưởng của 10 bang người Hoa tại vùng Chợ Lớn (thuộc quận 5 nội đô Sài Gòn). Thực sự, nhiều người biết chuyện anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu trong đêm lẩn trốn (từ dinh Gia Long) đã đến tá túc tại nhà ông Mã Tuyên nhưng hầu như không biết gì về nhân thân ông. Mặt mũi, gia cảnh và số phần của ông ra sao? Ông Mã Tuyên đã kể lại giờ phút rồng đến nhà tôm như sau:

– Khi đó độ 5 giờ chiều, tôi và gia đình đang nghe tin tức radio tại nhà thì chuông điện thoại reo. Tôi bắt máy, đầu giây xưng là ông Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn ngỏ ý muốn gặp tôi gấp tại trụ sở Thanh Niên Cộng Hòa quận 5 (khi trước, đây là khu cờ bạc Đại Thế Giới của tướng Bẩy Viễn, cầm đầu lực lượng vũ trang Bình Xuyên). Tôi bảo tài xế đánh xe chạy đến đó, chờ đến 6 giờ 30 thì ông Đô trưởng mới đến và ông ta nói với tôi là: ” Tổng thống muốn đến nhà Nị lánh nạn “, tôi nhận lời ngay và đi về nhà chuẩn bị. Khoảng 7 giờ 30, hai xe Citroen chạy đến nhà tôi (số 34 đường Đốc Phủ Thoại) với tổng cộng 8 người gồm Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu cùng các ông Đỗ Thọ, ông Đô trưởng và 4 nhân viên bảo vệ.

Ông Mã Tuyên cho biết, nghỉ ngơi tại nhà ông cho đến sau nửa đêm thì Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa cho ông một số giấy tờ và nhờ ông đốt đi. Tổng thống nhờ ông canh chừng máy điện thoại dưới nhà và Tổng thống liên tục sử dụng điện thoại trên lầu để gọi đi nhiều nơi và cả các nơi khác gọi đến cho Tổng thống nữa (nhà ông Mã Tuyên cả thẩy là 3 căn phố liền nhau gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu. Ông gắn điện thoại trong các tầng lầu). Chuông điện thoại reo liên tiếp từ nửa đêm cho đến sáng. Tổng thống xuống tầng trệt khi trời đã sáng khi đó tiếng súng chỉ còn nổ thưa thớt trong đô thành, ông nhìn sắc diện của Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thấy tình thế đã trở nên tuyệt vọng.

Tổng thống cho ông Mã Tuyên biết Lữ Đoàn Phòng Vệ (bảo vệ Dinh Gia Long) đã ngưng tiếng súng rồi và ông Mã Tuyên kể thêm, cả hai ông Diệm, Nhu ngồi cầu nguyện sau đó dùng điểm tâm món bánh bao, xíu mại và uống cà phê chung với ông. Tổng thống hỏi ông Mã Tuyên về nhà thờ lớn nhất vùng Chợ Lớn ở gần đấy là nhà thờ Phanxico (mà thường được gọi là nhà thờ cha Tam) và cho biết hai anh em ông sẽ đến thánh đường đó. Sau khi Tổng thống và ông Cố vấn thay y phục khác xong thì Tổng thống Diệm bảo ông Mã Tuyên đừng lái xe và cũng đừng đi theo không lợi. Ông Mã Tuyên đã gọi người tài xế của mình, lái chiếc xe Traction mầu đen (thường đưa đón các con ông đi học) chở Tổng thống, ông Cố vấn cùng người tùy viên Đỗ Thọ đến nhà thờ cha Tam. Những diễn biến kế tiếp ở nhà thờ cha Tam thì báo chí đã đăng đầy nên PTV không kể.

5 ngày sau đó, ông Mã Tuyên bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNHCM) bắt giam trong 3 năm. Tài sản của ông bị chính quyền tịch thu và đem bán đấu giá nhưng các đồng hương (Việt gốc Hoa) mua lại được (trong các cuộc đấu giá) và hoàn trả lại cho gia đình ông.

Nhiều nguồn tin đã nói là tư gia của ông Mã Tuyên là một hang ổ của băng đảng Việt Cộng và đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu. Xin trích: ” Hai ông Diệm-Nhu lại phạm vào một lỗi lầm ngoại giao to lớn là khước từ sự giúp đỡ về an ninh của Đại sứ Mỹ Cabot Lodge, chạy vào nhà ông Mã Tuyên mà đây từng là trung tâm liên lạc xưa nay của ông Ngô Đình Nhu với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Không phải cuộc binh biến ngày 01 tháng 11 năm 1963 đã đưa đến cuộc thảm sát hai ông, mà chính quyết định liều lĩnh này, đã làm cho hai ông gánh lấy thảm hoạ! Sao lại đi đến một trung tâm liên lạc với Cộng Sản mà Mỹ đã biết từ lâu rồi! ” (Hồi ký của cựu trung tướng Tôn Thất Đính).

Việc Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu đến nhà ông Mã Tuyên có người đã đặt nghi vấn là hai anh em ông Diệm-Nhu định nhờ ông nầy bắt liên lạc với MTGPMN để nhờ họ đưa vào mật khu như kiểu họ suy diễn từ trường hợp Trung tá Vương Văn Đông sau cuộc đảo chánh bất thành ngày 11 tháng 11 năm 1960 đã nói: Ông ta (Vương Văn Đông) nhờ MTGPMN giúp đưa qua Cam Bốt. Trong số những người đi theo ông Vương Văn Đông khi đó có cả Phan Lạc Tuyên (tác giả bài thơ được phổ thành bài hát Chiếc Đò Vĩ Tuyến), thi sĩ Thủy Thủ-Thái Trần Trọng Nghĩa (sau đó không lâu, thi sĩ Thủy Thủ tự sát trong mật khu của MTGPMN).

Nếu cho là nhà ông Mã Tuyên là một cơ sở của băng đảng Việt Cộng thì tại sao chúng lại bắt ông khi vừa chiếm được miền Nam VNCH sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lần đầu chúng giam ông 4 tháng rồi tạm tha nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chúng đã bắt ông lần nữa và ở lần bắt thứ hai, băng đảng Việt Cộng đã giam ông tới 4 năm tù.

Chỉ vì cho Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu tá túc qua một đêm tại nhà mà ông Mã Tuyên đã bị giam tù trong 3 lần tổng cộng trên 7 năm. Cả hai chính quyền tại miền Nam VN (sau ngày 01 tháng 11 năm 1963 và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975) đều bắt và tra hỏi ông Mã Tuyên về… Cái Đêm Hôm Ấy (mượn tựa một bài viết của nhà văn quá cố Phùng Gia Lộc) xẩy ra trong nhà. Tại sao Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu lại đến tá túc ở nhà ông mà không phải nhà người nào khác? Có bí mật gì bên trong hay hai anh em Tổng thống không còn tin cậy một chút nào đối với người Việt?

Băng đảng Việt Cộng cũng tịch thu cả 3 căn nhà của ông Mã Tuyên (ông Mã Tuyên có tới… 3 người vợ và 13 người con theo lời kể của con gái ông là Mã Huệ Phương).

Nghe truyền khẩu rằng ông Mã Tuyên đã không than van một lời nào về những tai ương đổ xuống gia đình và bản thân ông sau cái đêm định mệnh 01 tháng 11 năm 1963 đó. Năm 1983, ông Mã Tuyên và gia đình chính thức rời Việt Nam đi định cư tại Đài Bắc-Taiwan rồi đến tháng 2 năm 1992 thì ông Mã Tuyên cùng một phần gia đình đã về lại Việt Nam (vùng Chợ Lớn) và qua đời trong tháng 9 năm 1994.

Đã định cư tại Taiwan rồi nhưng ông còn chọn trở về lại Việt Nam và khi chết, dặn dò người nhà chôn cất tại nhị tì Triều Châu ở vùng Biên Hoà.

Có người nói ngay trong Sấm Trạng (Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm) cũng có tiết lộ về miền Bắc VNDCCH (thời ông Hồ Chí Minh) và miền Nam VNCH (thời tổng thống Ngô Đình Diệm), PTV xin kể ra đây cho vui: Câu sấm đó là: Ta hồ vô phụ vô quân/Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành và được họ giải thích: Ta (bộ Khẩu) than ôi; Hồ (bộ Sĩ) họ Hồ; Vô (bộ Hỏa) không có; Phụ (bộ Phụ) cha; Quân (bộ Khẩu) vua; Đào (bộ Mộc) cây đào; Viên (bộ Vi) vườn; Tán (bộ Phác) tan rã; Lạc (bộ Mộc) vui vẻ; Ngô (bộ Khẩu) họ Ngô; dân (bộ Thị) nhân dân; Thủ (bộ Miên) trông nom-gìn giữ; Thành (bộ Miên) kho chứa sách của vua hoặc (bộ Ngôn) sự chân thật và có 2 cách giải thích:

1/ Than ôi! bọn Hồ (chỉ băng đảng Việt Cộng) xã hội Việt Nam không còn cha (vì bị cảnh đấu tố, vì thoát ly khỏi gia đình theo Cộng Sản nên không nhận gốc gác xuất thân); không còn vua (vua Bảo Đại thoái vị cũng do bọn này) gây cảnh gia đình ly tán, bạn bè ngoảnh mặt không nhìn nhau. Nói rộng là tiên tri về chế độ miền Bắc VNDCCH do băng đảng Việt Cộng cai trị. Và, đào viên (từ tích 3 anh em Lưu-Quan-Trương kết nghĩa trong thời Tam Quốc bên nước Tàu) tán lạc; Ngô dân (người họ Ngô) thủ thành, giữ được phong hóa (kho sách, sự chân thật)) tức Đệ Nhất Cộng Hòa (miền Nam VNCH).

2/ Than ôi! bọn Hồ cai trị làm đảo lộn phong hóa nước Việt (Ta hồ vô đạo vô quân) -Người họ Ngô bị vây hãm (thủ thành), anh em tan rã (3 anh em tổng thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu-Ngô Đình Cẩn bị giết, (anh) giám mục Ngô Đình Thục và em Ngô Đình Luyện phải lưu vong).

Câu Sấm viết bằng tiếng Việt nên không rõ sẽ như thế nào (khác nghĩa) trong bản chữ Nho (Tàu) và vì không chấm không viết hoa (lối chữ Tàu) nên tùy người diễn dịch. Thiển ý của PTV là thật rất khó hiểu được ý nghĩa thực của câu Sấm. Phải là người có căn cơ (nói theo bên đạo Phật) mới lĩnh hội được điều tiên tri (vị lai) của câu Sấm.

Lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm xong, tướng Dương Văn Minh bỏ luôn luật 10-59 (đặt băng đảng Việt Cộng ra khỏi vòng pháp luật) và dẹp quốc sách Ấp Chiến Lược; là 2 điều mà tay sai băng đảng Việt Cộng (bọn nằm vùng) rất sợ. Khi chính quyền miền Nam VNCH dồn dân quê vào sống trong các ấp chiến lược (có hàng rào kẽm gai bao bọc chung quanh, cổng ra-vào ấp được nghĩa quân miền Nam VNCH kiểm soát), dân lành buổi sáng sớm khi đi ra khỏi cổng ấp chiến lược (làm ruộng, bắt cá…) thì mỗi người chỉ mang theo được chút ít phần ăn trong ngày (cho bản thân) nên chỉ trong thời gian ngắn, đám nằm vùng sống lẩn lút ở ngoài rừng-núi, khu vực đồng trống… không còn nguồn tiếp tế của người dân nên đành phải ra hồi chánh hoặc nếu chúng liều lĩnh đến gần các ấp, để tìm cách móc nối (với dân lành) đã bị nghĩa quân miền Nam phục kích diệt hoặc bắt gọn.

Thời gian tạm dung tại trại tị nạn Galang-Indonesia, PTV đã được nghe một cụ già đọc cho nghe một bài toàn chữ T (đứng đầu) về cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, tiếc đã quá lâu và không kịp ghi lại nên chỉ nhớ được các đoạn như sau: tuân theo toan tính từ Thái Thú, tụi tướng tá tối trí, thiếu tri thức thêm thích tiền, tơ tưởng thăng tước, tụ tập trong thành Tổng Tham, tung thủ túc tấn trận. Tổng thống thấy tình thế tối tăm, tạm trốn tại tư thất Tàu. Tính tới, tính thoái, thấy tẩu thoát thật tuyệt toàn. Tổng thống thông tin tới tụi tướng, thương thảo tùy thế thời thế thế. Ta thán… thôi thế thì thôi, thủ túc tụi tặc tướng tới thẳng thánh thất Thập tự tóm trói Tổng thống, tống trong thiết tăng tích tắc triệt tiêu thân thể thật thảm thiết…

Năm 1982, tại miền Nam VN, băng đảng Việt Cộng ra lệnh cải táng toàn bộ nghĩa trang trong nội đô Sài Gòn và định một thời hạn để các thân nhân lo liệu. Sau đó, những phần mộ còn lại thì sẽ bị giải quyết bằng cách hỏa thiêu. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cũng chung trong lệnh này. Phần mộ 3 anh em Tổng thống (Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn) được cải táng đưa về nghĩa địa Gò Dưa-Lái Thiêu thuộc tỉnh Bình Dương. Người đứng ra bỏ tiền (25.000 $US) chi phí cho việc cải táng là ông Nguyễn Thanh Hoàng, chủ bút báo Văn Nghệ Tiền Phong chứ không phải từ bà con trong dòng tộc Ngô Đình hoặc giáo dân xứ đạo Công Giáo Hố Nai như lời dân gian đồn đãi.

Vùng đất nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi (còn có tên gọi khác là Đất Thánh Tây) là một thế đất tốt vì nhiều phần mộ khi nhà hiếu cho cải táng, thấy thi thể trong áo quan vẫn còn nguyên chưa tiêu hủy. Đám âm công làm việc cải táng tại đây cho biết đất trong nghĩa địa thuộc loại đất ngũ sắc (khi cuốc từng lát đất, cầm lên xem tay xem, thấy lấp lánh các màu đỏ-xanh-lam-trắng…). Nhưng có người cho là tại đây, do địa thế đất cao (so với chung quanh) và có thể do các từ trường trong đất, nguồn điện thiên nhiên qua lại… nên đã bảo vệ các thi hài được như vậy. Không biết người Pháp khi chọn nơi đây làm nghĩa địa, họ có biết về thuật phong thủy? Phần mộ của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng vậy, thi thể đã khô và khi đám âm công làm việc, đại diện băng đảng Việt Cộng có mặt tại chỗ và cho quay phim (Không biết để làm gì? Có người bảo làm vậy là chiều theo hiếu kỳ của gã lãnh tụ Hà Nội nào đó muốn biết). Người chủ trương, quyết liệt (làm cho bằng được, bất chấp lời khuyên của các gã đồng bọn) cho lệnh giải tỏa các nghĩa địa trong thời điểm đó chính là Mai Chí Thọ (đại tướng công an-băng đảng Việt Cộng và là em ruột của các gã Lê Đức Thọ, Đinh Đức Thiện) và Mười Hương (còn có tên là Trần Quốc Hương) cựu trùm an ninh T4 (nội đô Sài Gòn thời còn chính quyền miền Nam VNCH). Lý do cho việc giải tỏa các nghĩa địa, Mai Chí Thọ viện dẫn cần đất làm công viên cho thiếu nhi, vệ sinh môi trường… nhưng thực tế ai cũng biết đây là một hành động trả thù (với cả những người đã chết), vô cùng thất nhân tâm của y.

Cũng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có những người vì tên họ là Ngô Đình… mà đã phải khổ sở với băng đảng Việt Cộng khi chúng cho rằng; người đó: ắt phải có dây mơ-rễ má với Ngô Đình Diệm.

Phạm Thắng Vũ
Ngày 04 tháng 11 năm 2017.

 

 

Thi Sĩ Vũ Anh Khanh Và Bài Thơ Hận Tha La.

phamthangvu

Nếu bạn từng sống ở Sài Gòn và thường có lúc đi rảo mua sách thì chắc phải biết đến con phố sách báo cũ mang tên Đặng Thị Nhu thuộc phường Nguyễn Thái Bình, quận 1-Saigon. Lòng con phố hơi chật vì các quầy kiosk sách báo nằm đối diện, kề sát nhau và chỉ để một lối đi ở chính giữa cho khách (có khi dẫn xe máy đi cùng) ra vào. Một đầu con phố tiếp với đường Ký Con và đầu phố còn lại thông ra đường Calmette. Anh Hữu, một người bạn lớn hơn PTV cả chục tuổi mà nhân trong một lần đi vượt biên chung, đã quen nhau, có một kiosk bán sách ở con phố này và cả nhà dùng nó như một phương tiện mưu sinh sau cuộc đổi đời tháng 4 năm 1975. Nghề mua bán sách báo cũ, coi lèng xèng vậy mà kiếm ăn rất ngon chỉ kẹt cái là đọng vốn nhưng khi có khách cần đến thì cầm chắc có lời. Sách báo cũ được mua đi rồi bán lại ngay tại chỗ và chủ kiosk nào cũng có những mối quen trong nghề. Mối đây là người đến tìm mua sách về để họ bán lại và thường họ ở xa đâu đó ngoài miền Trung, thậm chí có mối ở tít tận Hà Nội. Mối cũng là những người có sách do họ lùng mua được rồi mang bán lại cho chủ kiosk. Thỉnh thoảng gặp khách cho địa chỉ mời đến tận nhà để xem sách họ có và muốn bán. Các dịp như vậy, chủ kiosk thường mua được một lúc khá nhiều sách giá trị và tất nhiên, sẽ là một món lời. Anh Hữu vẫn từng đến những chỗ mà khách cho địa chỉ nằm trong nội đô Sài Gòn hay ở Chợ Lớn, vùng Bình Thạnh hoặc khu dân Bắc di cư Gò Vấp. Ngoài những tựa sách quen có tiếng hoặc vì đã từng được khách lùng mua nên biết, còn thường thì anh Hữu vẫn lúng túng mỗi khi cầm quyển sách lạ trong tay. Đó là lý do mà anh hay rủ tôi đi chung cho vui, để có người góp ý với anh về các tựa sách lạ. Có lần, anh rủ tôi cùng đi Tha La.
Tha La, cái tên tôi thường nghe qua các bài hát như Tha La Xóm Đạo, Hận Tha La… và cũng biết nó nằm đâu đó trong vùng Trảng Bàng-Tây Ninh nhưng chưa lần nào có dịp đặt chân đến. Nhiều vùng quê miền Nam có các địa danh thật lạ như Hóc Bà Tó, Chắc Cà Đao, Muồng Luông, Soài Cả Nãi và Tha La… dường như từ gốc Khmer mà ra. Theo địa chỉ đã có, tôi và anh Hữu trực chỉ hướng Tây Bắc đi Hốc Môn rồi vượt qua Củ Chi và đến thành phố Trảng Bàng lúc gần trưa. Từ Trảng Bàng, theo một con đường đất đỏ (cũng về hướng Tây) mà hai bên là các thửa ruộng, rẫy chung với nhà dân hoặc các đám rừng cây lưa thưa, chúng tôi đi về một xã có tên là An Hòa khoảng 6, 7 cây số gì đó thì gặp Tha La. Đây là một xóm nhỏ với những nhà lợp tranh, mái ngói và cả nhà tôn nằm thấp thoáng sau hàng cây ăn trái như mít, xoài, ổi và dừa. Tha La, một miền quê do khung cảnh và cũng vì con đường chính cùng các ngõ nhỏ đều là đường đất đỏ. Mùi rạ, mùi đất bùn cùng mùi lá tre và cả mùi mít chín thơm thoang thoảng trong gió. Có những ngõ nhỏ đan chặt các hàng tầm vông, tre hoặc trúc trông thật mát mắt. Loanh quanh một hồi, chúng tôi tìm được nhà của người có sách muốn bán nằm riêng một ngõ với hai hàng trúc bao thành lối đi mát rượi dẫn vào bên trong. Chúng tôi chạy xe thẳng vào sân của một căn nhà vách ván gỗ xập xệ lợp ngói có chỗ đã bong mất hở cả mè cây đỡ mái. Căn nhà có một bàn thiên chính giữa mặt tiền cùng những cây cúc ngày tím sẫm, hoa vạn thọ vàng chóe chung với bụi mẫu đơn đỏ thắm. Chủ nhà ở phía sau nghe tiếng động liền ra xem rồi nhận ra anh Hữu, ông mời chúng tôi vào trong và lấy các sách muốn bán ra bày trên bộ ván ngựa xưa cũ. Mới trông qua thấy toàn sách xưa, những quyển mà dân bán sách cũ đang kiếm, anh Hữu chộp ngay các quyển: Kim Cổ Kỳ Quan, Châu Về Hợp Phố, Mai Hoa Dịch Tân Biên, Vạn Huê Lầu, Đông Chu Liệt Quốc, Long Trùng Quyết Sách… và số còn lại (khoảng hai chục quyển) là loại thường nhưng anh Hữu cũng mua hết nói dùng làm sách bày cho có trong kiosk. Theo lời gia chủ, sách vừa bán là do từ gia đình (ông ngoại) để lại từ lâu, nay vì cần tiền đành phải bán. Đồ đạc bài trí trong nhà ngoài các trang thờ bằng gỗ, tủ cẩn ốc xà cừ chưng hình ảnh ông bà, bộ ván ngựa thì còn có các tủ danh mộc đã cũ. Một nếp nhà khá giả xưa còn sót lại đang trong cảnh sa sút. Tôi hỏi thăm gia chủ ít điều về Tha La thì được biết nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của Khmer có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào, người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh này tồn tại cho tới bây giờ. Tha La hiện thuộc ấp An Hội của xã An Hòa (có 8 ấp) thuộc Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và là một xứ đạo Thiên Chúa. Theo ông, từ thời vua Minh Mạng, dân theo đạo trốn chạy, lánh nạn vào đây (khi đó còn là rừng) rồi khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin tâm linh. Ông cũng cho biết, trong Tha La nơi nhộn nhịp-trù phú nhất chính là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo. Cũng có một số người theo các tôn giáo khác như đạo Phật, thờ cúng ông bà… sống ở Tha La. Tôi hỏi thêm về bài hát mang tên Tha La Xóm Đạo, ông liền gật đầu rồi hát vài đoạn ngắn cho tôi cùng anh Hữu nghe như để khắng định và chỉ biết vậy, không hơn.
Chia tay với ông, chúng tôi chạy xe lòng vòng trong Tha La để biết thêm. Đến khu xóm đạo nơi đông dân cư nhất rồi vòng qua thánh đường là một nhà thờ vừa phải với tháp chuông cùng hang đá nằm êm ả dưới các bóng cây mát. Sau đó, tôi và anh Hữu dừng xe, nghỉ chân ở một quán nhỏ bán dừa tươi. Chị bán quán khi nghe tôi hỏi chuyện về Tha La Xóm Đạo, đã mau mắn lấy ra một băng cassette rồi dò tìm mở đúng bài hát đó. Vài khách đang ngồi uống nước trong quán cũng hát theo rành rẽ. Họ là dân ở đây, chắc vậy và họ đang hãnh diện vì có bài hát hát về địa phương mình. Ngay sau ngày 30-4, nhạc của miền Nam VNCH được chính quyền mới gọi bằng cái tên chung là Nhạc Vàng bất kể thể loại nào. Thực ra nhạc vàng (chiếm đa số) là các bài hát về tình yêu đôi lứa, về quê hương hoặc về nỗi niềm riêng tư nào đó… không thôi. Mà nếu vậy, các bài hát thời bây giờ như Lá Diêu Bông, Chị Tôi, Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa, Phượng Hồng, Tình Thôi Xót Xa… cũng là nhạc vàng và đó là lý do tại sao công chúng lại yêu thích loại nhạc này! Một khi bạn đã yêu đã thích nhạc vàng thì mỗi lần nghe nó, bạn sẽ nhớ đến quê hương nếu như bạn đang sống ở nước ngoài. Còn nếu bạn đang ở trong nước, hồi tưởng về tháng ngày hoa mộng cũ, những kỷ niệm (tùy từng người) sẽ lại về trong tâm tưởng bạn. Ngày hôm đó tôi cũng vậy, những lời hát tai đang nghe đã dẫn tôi về khung cảnh xa xưa của Tha La và tự dưng lòng tôi se sắt buồn. Tôi đã là người dân của Tha La xóm đạo.
… Tha La ơi! Xóm Đạo ơi! Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
đành khép kín khoác vào bộ chinh y. Lòng hờn căm một chiều
xưa lửa dậy, nghe não nùng chưa? Tha La sầu quốc biến
Xóm Đạo chất hận thù!
… Đây Tha La đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh mầu tang khói lửa,
Bao năm qua Tha La còn trơ đó, đoàn người
đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy, Long viễn
khách bồi hồi như thương tiếc mùa thu
nắng hanh vàng …
Trên đường về, tôi gặp một cụ già cởi trần gầy gò đang gánh một gánh dừa đi về phía quán nước. Cụ già với hàm râu trắng như hình ảnh trong bài thơ. Không biết thời bài thơ Hận Tha La ra đời, khung cảnh khi đó có giống như hiện tại? Vài bụi tre bị chặt trụi lũi bên đường trơ gốc cây mốc trắng và tất cả những mụt măng đã bị chủ gia cắt sớm để bán. Họ cần tiền cho một nhu cầu gấp rút nên không thể chờ măng thành tre được, y như chủ nhân căn nhà mà tôi và anh Hữu vừa ghé vào mua sách cũ gia đình để lại. Tha La là vùng đất lành, mầu mỡ do nguồn nước từ kinh Vàm Trảng dẫn từ sông Vàm Cỏ về tưới mát đất đai ở đây nhưng sao dân cư trong vùng vẫn mang vẻ buồn, hiu quạnh. Tôi cảm thấy… hay Tha La tự nó là như vậy.
Như nhiều bài hát nổi tiếng khác, Tha La Xóm Đạo được phổ từ một bài thơ của một thi sĩ và cũng là một người lính chiến thời chiến tranh Việt-Pháp. Đó là bài thơ Hận Tha La và tác giả là Vũ Anh Khanh. Tới tận bây giờ vẫn ít người biết về thân thế cùng số phận của nhà thơ Vũ Anh Khanh dù có thể họ vẫn hát bài hát Tha La Xóm Đạo. Vũ Anh Khanh có tên là Võ Anh Khanh nhưng cũng có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 quê quán ở Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận. Ông sống ở Sài Gòn, có thơ-văn đăng trên các trang báo từ những năm cuối thập niên 1940. Nước Việt trong giai đoạn này, bị xáo trộn bởi các ảnh hưởng chính trị, thời thế quốc tế và từ các vận động của các tổ chức-đoàn thể trong các địa phương. Giai đoạn này cũng là sự thức tỉnh tự thân của giới thanh niên-trí thức trẻ (trong đó có các văn nghệ sĩ), đưa đến cuộc đấu tranh chống Pháp năm 1945. Người ra chiến khu, vô bưng hoặc về lại thành phố trong tinh thần ái quốc chống ngoại xâm và được một làn sương lãng mạn-thi vị nhưng hào hùng phủ lên. Người yêu nước, khởi đầu gia nhập hàng ngũ kháng chiến chỉ một ý nghĩ là giặc Pháp tiếp tục muốn đặt lại ách thống trị thì phải chống chứ chẳng hề vì lý tưởng đại đồng, CS gì và Vũ Anh Khanh là một người trong số họ. Là một chiến sĩ, đi qua nhiều vùng đất nước, mắt ông đã thấy nhiều cảnh chết chóc, nhà cháy, tang thương của xóm làng sau một trận chiến. Và, không biết trong một lần nào đó, ông đã có dịp dừng chân tại Tha La rồi khung cảnh của một xóm đạo thời ly loạn… đã gây một xúc động ghê gớm nơi ông, khiến ông sáng tác ra bài thơ (chúng ta hãy nghĩ vậy).
Hận Tha La là một bài thơ dài kiểu hợp thể. Đoạn mở đầu là Ngũ Ngôn rồi chuyển sang Tám Chữ, sau đó thành Kịch Thơ (đoạn giữa) và kết thúc bằng hai câu Thất Ngôn. Một bài thơ hay, có hồi có cảnh. Tiết tấu thay đổi với khung cảnh và khung cảnh thay đổi với các nhân vật trong bài thơ.
Xin mời quý bạn đọc, đọc bài thơ Hận Tha La
HẬN THA LA
Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
” Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than. ”
Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và truyện ngắn như Ngũ Tử Tư, Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông, Một Đêm Trăng… Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ biết chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Hận Tha La.
Năm 1954, Hiệp Định Geneva về ngưng chiến được thực hiện, chia cắt nước Việt làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Người dân miền Bắc (khoảng gần 1 triệu người) ồ ạt di cư vô miền Nam thì đổi lại cán bộ-chiến sĩ thuộc phe CS ở trong miền Nam được chuyển ra miền Bắc (gọi tên chung là tập kết). Có 3 khu vực tập kết là Hàm Tân-Xuyên Mộc, Đồng Tháp Mười, Cà Mau và không biết Vũ Anh Khanh tập kết tại địa điểm nào kể trên. Ông ra Bắc rồi đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu (HNCNVAC) tại New Dehli (Tân Đề Li-Ấn Độ) tháng 12 năm 1956. Tham dự hội nghị là phái đoàn của 16 quốc gia (gồm 14 quốc gia CS và chỉ 2 quốc gia tự do là Ấn Độ và miền Nam VNCH). Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn miền Bắc VNDCCH chung với nhà văn Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Lý do Vũ Anh Khanh được nhà cầm quyền miền Bắc khi đó cử đi dự đại hội HNCNVAC là vì công an không thấy ông trong cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền-Hà Nội để phản đối sự chỉ huy văn nghệ của Đảng (nhân có phong trào Trăm Hoa Đua Nở-Trăm Nhà Đua Tiếng). Cuộc tụ tập đó do nhóm tập kết miền Nam phản đối các lãnh đạo CS Hà Nội. Sau khi dự đại hội HNCNVAC về, có lẽ đã thấy bộ mặt thật của chế độ CS tại miền Bắc nên khi Vũ Anh Khanh có giấy đi công tác (cách vài tháng sau) ở tỉnh lỵ Vĩnh Yên (phía Bắc Hà Nội) và thi sĩ đã sửa giấy công tác đó từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh (một đặc khu tương đương cấp tỉnh), địa danh gần sông Bến Hải. Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh và ông đã mạo hiểm vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng không thoát. Một mũi tên độc đã cắm vào người ông, lôi ông chìm xuống đáy và chết mất xác.
Sông Bến Hải (giới tuyến chia cắt hai miền Nam-Bắc) thuộc thôn Hiền Lương (cầu trên sông mang cùng tên) xã Vĩnh Thành huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị. Giai đoạn Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh thì ở phía bờ Bắc (do chính quyền miền Bắc VNDCCH kiểm soát) có 2 đồn công an đóng tại Hiền Lương và Cửa Tùng. Đồn Hiền Lương nằm sát bên cầu, đồn Cửa Tùng đóng ở bãi biển xã Vĩnh Quang. Đồn nào (theo quy định của bản Hiệp Định Geneva) chỉ có 16 nhân viên nhưng con số thực tế nhiều hơn. Vả lại, vì là giới tuyến trực diện với vùng đất phía Nam của chính quyền miền Nam VNCH nên dân chúng sinh sống sát bờ sông Bến Hải thực tế là các gia đình công an giả trang. Vũ Anh Khanh đến đây nhằm tìm dịp để vượt tuyến đào thoát vào miền Nam VNCH nhưng ông không ngờ trước đó (ngày 4 tháng 10 năm 1956), đã có 3 người dân miền Bắc liều mạng bơi qua sông và họ thành công. Chính quyền miền Nam VNCH đã không giữ kín việc này khi họ tổ chức họp báo để thông tin và miền Bắc VNDCCH biết được. Công an CS tại Vĩnh Linh đã họp và quyết không để trường hợp tương tự tái diễn. Họ đã kín đáo canh phòng nghiêm nhặt dù bên ngoài vẫn để các sinh hoạt dân dã bình thường và Vũ Anh Khanh đã mắc bẫy. Có lẽ vào ban ngày ông đã tìm cách bơi sang sông (chỉ rộng hơn 100 m) rồi bị công an phát giác và các mũi tên độc (được bắn ra từ nỏ lớn) của công an đã kết liễu đời ông. Việc dùng tên tẩm thuốc độc (thay cho súng) là cách mà công an CS muốn tránh bị Ban Liên Hợp Quốc Tế Giám Sát-Kiểm Soát việc áp dụng Hiệp Định (có mặt tại đây) phát giác việc họ truy sát dân lành vượt tuyến (Có tiếng súng nổ thì họ sẽ cho điều tra). Cái chết của Vũ Anh Khanh, có thể do công an CS đã thông báo cho dân chúng biết như một răn đe nên kể từ sau đó (tháng 4 năm 1957), không còn người vượt tuyến vào miền Nam bằng cách bơi sang sông Bến Hải nữa.
Là một người yêu nước tuy có lúc sai lầm khi đứng bên phía CS, sau cùng Vũ Anh Khanh đã đào tị nhưng không gặp may. Chính quyền CS đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền miền Nam VNCH cũng đối xử tương tự với ông khi gạt bỏ tên trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm lưu hành các sách in của ông. Họ xếp ông là văn-thi sĩ CS (do đã tập kết ra miền Bắc năm 1954 và dự đại hội HNCNVAC tháng 12 năm 1956) và đó là một đối xử bất công.
Bài thơ Hận Tha La được các nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ thành bài hát (năm 1964) mang tên Tha La Xóm Đạo, nhạc sĩ Sơn Thảo’S phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Hận Tha La và nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Vĩnh Biệt Tha La.

Phạm Thắng Vũ

Hồ Con Rùa

phamthangvu

Giới trẻ thời bây giờ (người sinh và trưởng thành sau ngày 30-4-1975) ở Sài Gòn chỉ biết Hồ Con Rùa là 1 bùng binh (vòng xoay giao thông) có đài phun nước, nối 3 con đường Võ Văn Tần, Trần Cao Vân và Phạm Ngọc Thạch (thuộc quận 1) và là một trong các khu vực náo nhiệt (vì các hoạt động ẩm thực với các tiệm cà phê, hàng quán chung quanh. Hồ Con Rùa trong quá khứ từng có tên là Đài Phun Nước, Công Trường Ba Hình, Công Trường Chiến Sĩ Trận Vong, Công Trường Quốc Tế, Công Trường Duy Tân… và nếu muốn kể đầy đủ thì Phạm Thắng Vũ (PTV) quay trở về thời khởi điểm của các vị trí Hồ Con Rùa bây giờ từ thời xa xưa (1790) nguyên là vị trí cổng thành tên là Khảm Khuyết (của Quy Thành (Bát Quái Thành). Sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (dưỡng tử của quan Tổng trấn Gia Định Thành-Lê Văn Duyệt) thì vua Minh Mạng cho phá bỏ Quy Thành này (1837) và xây một thành mới thay thế nhưng quy mô nhỏ hơn (gọi là Phụng Thành). Do đó cổng thành Khảm Khuyết lại ở ngoài cái Phụng Thành (mới) này và tự nhiên trở thành con đường chạy thằng xuống sông (Bạch Đằng bây giờ). Phụng Thành cũng không bền vì sau khi người Pháp chiếm được thì họ lại phá hủy tan tành (ngày 8 tháng 3 năm 1859). Người Pháp (sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ) thì bắt đầu quy hoạch để xây khu đô thị mới (tiền thân của Sài Gòn) bằng cách dựa trên các trục lộ của (Quy Thành cùng các vị trí cũ) và một tháp nước được xây ngay (năm 1878) tại vị trí Hồ Con Rùa dùng để cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng. Cái tháp nước này cũng nhỏ, do vậy khi lượng dân cư tăng lên thì người Pháp dựng các tháp nước khác thay thế (do tháp nước cũ không cung ứng đủ và bị phá bỏ vào năm 1921). Vị trí phá bỏ này, người Pháp đã cho xây dựng một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của việc người Pháp làm chủ Đông Dương và vì vậy, dân trong vùng thường gọi nó là Công Trường Ba Hình.

13332732_10209442017708240_3420235324034426723_n
Tượng đài (Ba Hình) này, người Pháp xây để tưởng nhớ đến các binh sĩ Pháp (bỏ mình trong trận Đệ Nhất Thế Chiến tận bên trời Âu) và hằng năm cứ đến ngày 14 tháng 7 (Quốc Khánh Pháp) thì quan chức Pháp (chính quyền thuộc địa) kéo về đây để làm lễ tưởng niệm chiến sĩ trận vong. Tượng các người lính chiến ở đài (Ba Hình ) này không có tên (vô danh), hình dáng mặc quần áo trận, mũ sắt, tay cầm khẩu súng Mút (dưới chân tượng là bệ đá hoa cương có khắc hàng chữ Le Soldat Inconnu và nơi này (tượng đài Ba Hình) còn có tên gọi là Công Trường Chiến Sĩ. Gọi tên là Ba Hình vì có 1 tượng trên đỉnh và 2 tượng ở dưới chân.
Khi cầm quyền (tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia của miền Nam VNCH), Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cho phá hủy tượng đài Ba Hình này (quãng tháng 6 năm 1965) và thay thế bằng hồ nước (hình ảnh hiện như bây giờ). Có tin là ông (tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) tin vào lời của một thầy địa lý xây Hồ Con Rùa để làm một trấn yểm. Trên mặt hồ là từng dãy lối đi được xây cách điệu hình hoa sen đang nở. Giữa hồ là 5 trụ bê tông sừng sững vươn lên cao, tượng trưng cho năm cánh tay của cộng đồng quốc tế công nhận miền Nam VNCH. Dưới chân trụ này là một đài tưởng niệm hình bầu dục, trên có một đỉnh đồng (đồng đỏ) chỉ được đốt hương trầm vào ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong của miền Nam VNCH.
Hình tượng chính của việc trấn yểm là một hình tròn đường kính khoảng gần 2m xây đối diện 5 trụ bê tông nói trên. Trên hình tròn này là một tấm bia khoảng 5m, cẩn đá cẩm thạch trắng. Đỉnh bia có một phù điêu bằng đồng thau khắc nổi hình một bầu rượu (không hiểu nghĩa gì), dưới phù điêu ấy là tên các quốc gia (hình như là 44 quốc gia trong khối tự do và trung lập) đã công nhận miền Nam VNCH và có viện trợ kinh tế cũng như tinh thần (cho miền Nam VNCH khi đó), được khắc chìm vào mặt đá và mạ vàng. Ngay dưới chân bia là một con Rùa (Quy) tạo hình bằng những phiến đồng đỏ kích thước khoảng 40×40 cm/tấm, được ghép lại với nhau theo lối tán rivet (cũng bằng đồng). Nhìn sơ qua, hình dáng con Rùa đội tấm bia này cũng giống như các con rùa đá đôi bia tên các ông Nghè ở Văn Miếu ngoài Hà Nội.
Cái gì hiện hữu đều có lý do hiện hữu. Vụ nổ mìn làm tan hình Con Rùa (cùng tấm bia trên lưng) ở Hồ Con Rùa cũng có lý do của nó. Chúng ta phải quay trở lại thời điểm bắt đầu sau ngày 30-4-1975. Khi đó, cùng với đoàn quân mới (Việt Cộng) chiếm đóng thì một tâm trạng bất an của dân đọc sách và các nhà sách mà tự dưng sách vở bày bán tràn lan lề đường. Rẻ, nhiều, mua bán chớp nhoáng không cò kè như trước. Có chỗ còn rao kiểu bán đổ đồng, đồng giá… nhanh tay thì còn-chậm tay thì hết. Cũng có những người còn nặng lòng với văn hóa miền Nam VNCH (khi đó) nên khi thấy sách báo, tạp chí bày bán quá nhiều và rẻ (đặc biệt có cả những bộ Văn, Bách Khoa… đóng bộ-bìa da hẳn hoi) thì họ vội mua về đem cất. Khách mua chợt tăng lên vì đã có những người thuộc chế độ mới tìm mua (trong số này có cả Dương Thu Hương nữa khi nữ văn sĩ này vừa vào được Sài Gòn) để đọc (những cái, những điều lạ trong các sách lạ mà họ lần đầu tiên được thấy). Các hiệu cho mướn sách cũ vẫn lén lút cho thuê sách (để họ tiếp tục sống) và bây giờ thì họ lại có thêm một số khách hàng mới là các bộ đội đóng quân đâu đó (trong các doanh trại lính chế độ cũ) trong vùng. Những truyện từ Chưởng, Kiếm Hiệp, Trinh Thám, Truyện Dịch, Chính Trị, Tình Dục… của miền Nam VNCH được họ đọc rồi mê mẩn và tìm đọc tiếp rồi ra chợ trời tìm mua nguyên cả quyển để mang về quê cất (khi họ phục viên về quê, rời khỏi quân ngũ). Cùng lúc đó thì từ miền Bắc CS lại cho chở cả hàng đống (trên từng các chuyến xe tải) sách báo xuất bản ở ngoài đó (thu thập từ trong nhà dân chúng trong các phong trào quyên góp gửi sách cho đồng bào miền Nam ruột thịt) nói là để cho dân vùng bị địch (chế độ miền Nam VNCH) tạm chiếm trước đây có món ăn tinh thần để biết về văn hóa miền Bắc và Xã Hội Chủ Nghĩa.
Nhưng sách báo của miền Bắc chở vào các đô thị cũ của miền Nam VNCH thì lại không được đồng bào (nhất là ở Sài Gòn) đón nhận như ý các cán bộ văn hóa đã nghĩ. Kể cá các sách báo mới vừa được in ra (tái bản vội vã từ các bản gốc ở ngoài Bắc mang vào), phát hành từ các nhà in do họ vừa mới tiếp thu được. Người ta vẫn cứ tìm đọc các sách báo cũ và vì vậy đã có các vụ tịch thu sách báo miền Nam VNCH (được cán bộ văn hóa gom chung một giỏ là đồi trụy) để đem thiêu hủy (đốt, xé hoặc cá biệt do cán bộ văn hóa đem cất riêng, nói là để nghiên cứu). Làm thế, nhưng văn hóa miền Nam VNCH đã truyền về miền Bắc rồi (do các anh bộ đội, người vào trong Nam ngay sau ngày 30-4-1975 mang về). Tiểu thuyết, truyện Chưởng, Kiếm Hiệp, Trinh Thám, truyện dịch, tạp chí… của miền Nam VNCH đã đánh bại sách báo miền Bắc (PTV không kể các tác phẩm xuất bản tại miền Bắc trước thời điểm 1954 như của Tự Lực Văn Đoàn cùng các ấn phẩm, tạp chí khác…) và ở ngoài đó người ta đọc, kể cho nhau nghe rồi cứ vậy mà nó lấn át, đánh bại các sách báo của nền văn học nghệ thuật khô cằn, nói một chiều. Dù chỉ có ít tháng kể sau ngày 30-4-1975, thơ ca của văn hóa miền Nam VNCH làm người dân miền Bắc quên mất cả những chân dung như Tố Hữu, HCM… Văn thì làm người đọc thấy hơn hẳn các khuôn mặt cũ như Chu Văn, Anh Đức, Nguyên Ngọc, Hữu Mai… Và vì vậy cán bộ văn hóa phải vào cuộc. Tháng 9- 1975, chính quyền ra thông cáo cấm phổ biến, lưu hành, tàng trữ toàn bộ tác phẩm của ngót 50 văn, thi sĩ, nhà nghiên cứu… của chế độ cũ (miền Nam VNCH). Thông cáo này được đọc ở trường học, các cơ quan nhà nước (Phường, Khóm, Ấp), trên vô tuyến TH, Radio truyền thanh… Các nhà văn, nhà báo, thi sĩ chế độ cũ (miền Nam VNCVH) tự dưng trở thành tay sai của USA hết (nhân viên CIA). Có thông báo đó, có các vụ bêu riếu các cá nhân văn, thi sĩ miền Nam VNCH thì vô tình càng làm sách báo chế độ cũ có cái gì hấp dẫn đối với dân chế độ mới. Nên, một vụ bắt các văn, thi sĩ miền Nam VNCH cần phải có để dập tắt hoàn toàn nền văn hóa của chế độ này (dù khi đó chế độ đó đã chấm hết).
Buổi tối (quãng 7 hay 8 giờ) ngày 1 tháng 4 năm 1976, phát một tiếng nổ ầm ngay tại con Rùa đồng (hình con rùa này, có người cho là làm bằng đồng đen nhưng người khác bảo là đồng đỏ và mầu đen là do đồng bị oxy hóa khi tiếp xúc với không khí lâu ngày) dưới chân bia kỷ niệm các nước (hình như là 44 nước) đồng minh, viện trợ cho miền Nam VNCH ở công trường Duy Tân (tên mới) trước học viện ĐH Sài Gòn. Tiếng nổ khá lớn và ngay ngày hôm sau thì báo Tin Sáng đã tường thuật đầy đủ chi tiết vụ nổ này (họ gọi là phá hoại) và cho biết thủ phạm đã bị bắt nhưng không đăng hình người đó mà chỉ đăng hình người chết (để gây xúc động trong quần chúng). Ngay ngày hôm đó (sau 12 giờ đồng hồ khi có vụ nổ xẩy ra) một số các nhà văn, thi sĩ, trí thức lần lượt bị bắt (chiến dịch này kéo dài từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 8 tháng 4 thì tạm ngưng) để sau đó công an bắt tiếp một số người phát hành sách báo (ngày 28 tháng 4). Khi đó không ai (các người bị bắt) biết được về cái kế hoạch bắt giữ này vì kể từ sau ngày 30-4-1975 thì các văn, thi sĩ, trí thức miền Nam VNCH vẫn linh cảm sẽ có ngày họ bị bắt nên tâm trạng họ gần như là chờ đợi cái ngày xui xẻo đến với mình (trừ nhà văn Mai Thảo thì sống cuộc đời nay đây mai đó, không ở một chỗ nhất định cho đến ngày ông vượt biên thành công). Cho đến tận năm 1982 (6 năm sau vụ nổ Hồ Con Rùa) thì độc giả mới biết đến kế hoạch (lý do) bắt này qua quyển truyện tên là Vụ Án Hồ Con Rùa (do NXB Tuổi Trẻ-Thành phố HCM xuất bản) do tác giả tên là Huỳnh Bá Thành viết ra.
Huỳnh Bá Thành (HBT) dân gốc miền Trung, vẽ hí họa (với bút hiệu là Ớt) cho tờ nhật báo Điện Tín (của Thượng nghị sĩ Quốc Hội VNCH Hồng Sơn Đông) có ai ngờ lại là tay Việt Cộng nằm vùng (cũng giống trường hợp của Vũ Hạnh (tác giả của Người Việt Cao Quý, Cô Gái Xà Niêng, Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc…), Thái Bạch (tác giả của Thi Văn Quốc Cấm Thời Pháp Thuộc) và bản thân HBT cũng không lạ các khuôn mặt văn, thi sĩ miền Nam VNCH. Vậy mà y có thể viết một quyển sách về họ theo kiểu như vậy. Việt Cộng vẫn luôn rêu rao là chúng luôn luôn quý trọng con người và tài năng con người. Việt Cộng không bao giờ bắt các nhà văn, thi sĩ vì các tài năng mà họ bị công an bắt là vì đây là bọn gài mìn sát hại lương dân và phá hoại kiến trúc công cộng. Trong quyển Vụ Án Hồ Con Rùa (VAHCR), Huỳnh Bá Thành khẳng định các văn, thi sĩ miền Nam VNCH bị bắt như: Đỗ Gia (Đằng Giao), Chu Nữ (Chu Vị Thủy), vợ chồng Lê Dạ-Thu Dung (Trần Dạ Từ-Nhã Ca), Nguyễn Côn (Nguyễn Mạnh Côn), Vũ Long (Duyên Anh-Vũ Mộng Long), Hoàng Hà Đặng (Đặng Hoàng Hà)… đều là tay sai USA, nhân viên CIA gài nằm lại (không di tản dịp 30-4-1975). Cho các văn, thi sĩ này thảo luận chiến lược với các cố vấn Mỹ (trước 30-4-1975), nhận mìn và làm cái vụ nổ Hồ Con Rùa. Danh sách các văn, thi sĩ, nghệ sĩ… miền Nam VNCH bị bắt trong đợt này rất nhiều. PTV xin kể tên ra sau đây: Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Lê Xuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Thế Viên, Thái Thủy, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương, Duyên Anh, Đằng Giao (con rể nhà văn Chu Tử), Chu Vị Thủy (con gái nhà văn Chu Tử), Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng, Văn Kha, Hồ Nam, Như Phong, Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Xuyên Sơn, Cao Sơn, Đặng Hải Sơn, Đặng Hoàng Hà, Lê Văn-Vũ Bắc Tiến, Sao Biển, Hồ Văn Đồng, Lê Hiền, Sơn Điền-Nguyễn Viết Khánh, Tô Ngọc, Uyên Thao,Lý Đại Nguyên, Tô Kiều Phương, Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Minh Đăng Khánh, Nguyễn Hải Chí (họa sĩ Chóe), Nguyễn Hữu Hiệu…
Trở lại câu chuyện Vụ Án Hồ Con Rùa thì trong truyện này (độc giả trong nước nếu chịu khó đi lục tìm ở các hiệu bán sách cũ thì cũng có thể tìm lại được), HBT đã dựng lên một câu chuyện là khi vào ngồi trong Dinh Độc Lập rồi (Dinh này nguyên là dinh Norodom rồi đổi thành tên là dinh Thống Đốc (vì là nơi làm việc của Thống Đốc Nam Kỳ), rồi lại thành dinh Toàn Quyền (cho viên Toàn Quyền Pháp (cai trị cả 3 nước Việt-Miên-Lào)). Khi Nhật lật Pháp (biến cố ngày 9 tháng 3 năm 1945) thì Nhật làm chủ cái dinh này và khi Nhật thất trận, Pháp quay lại Việt Nam và làm chủ trở lại dinh cho đến khi Pháp bàn giao lại cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm (ngày 7 tháng 9 năm 1954) và ông Diệm cải tên là dinh Độc Lập. Sau vụ thả bom của 2 phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử (ngày 27 tháng 2 năm 1962) thì do dinh bị hư hại nặng nên Tổng thống Ngô Đình Diệm đã quyết định xây dinh mới (san bằng dinh cũ) theo đồ án của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (ông này cũng vẽ đồ án của bệnh viện Vì Dân (tên là Thống Nhất hiện thời)) nhưng ông Diệm lại chưa lần nào được đặt chân lên thềm cái dinh mới này (do vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 xẩy ra). Dinh Độc Lập được khánh thành vào ngày 31 tháng 10 năm 1966 và người chủ tọa buổi lễ không ai khác chính là đương kim Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (NVT)) thì cho mời một thầy phong thủy Tàu (năm 1967) vào dinh để xem thế đất. Thầy phong thủy cho rằng vị trí của dinh Độc Lập thuộc dạng long mạch mà đầu nằm tại dinh, đuôi nằm tại vị trí của Hồ Con Rùa. Ta thấy những con vật có đuôi (như chó, mèo, cọp, cá sấu, ngựa…) thì chúng thường hay vẫy cái đuôi (để đuổi ruồi, biểu lộ cảm xúc của chúng hay cái gì khác nữa thì Phạm Thắng Vũ không biết) và có lẽ vậy mà trong truyện VAHCR, gã Ba Trung (bí danh của HBT) cho là nếu rồng (1 con vật thần thoại cả bên trời Đông lẫn trời Tây) mà vẫy đuôi thì ngôi vị của thế đất (tức sự nghiệp của tổng thống NVT sẽ không được yên ổn) sẽ đảo. Để tránh các sự việc này (rồng vẫy đuôi) thì tổng thống NVT nên yểm. Yếm bằng cách dựng 1 con rùa để trấn cho thế đất vững bền (tức ngôi vị của Tổng thống NVT sẽ vững như bàn thạch) và kết quả là có hình con rùa đội bia tại khu vực công trường Duy Tân này.
Trong quyển VAHCR, Ba Trung còn biến các văn, thi sĩ miền Nam VNCH mà ai cũng biết thuộc loại người trói gà không chặt thành các gián điệp-tình báo lão luyện, mưu mô, xảo trá. Các văn, thi sĩ này đều là chuyên viên chất nổ được USA huấn luyện kỹ lưỡng, thành thục. Ba Trung gán tội các văn, thi sĩ miền Nam VNCH đều là tay sai của CIA cài lại (không chịu di tản hoặc di tản không kịp trong thời điểm 30-4-1975), do mê tín dị đoan, do ngu muội và tàn ác nên đã cho đặt mìn phá hoại con Rùa (tức đuôi rồng) để mong chính quyền Cách Mạng (Việt Cộng) vì thế sẽ bị sụp đổ. Nhưng cuối cùng bọn chúng (tức các văn, thi sĩ miền Nam VNCH có trong truyện VAHCR) đều bị các lực lượng an ninh của ta (Việt Cộng) phát hiện và tóm gọn.
Thực ra văn, thi sĩ miền Nam VNCH (kể cả các quân nhân, công-viên chức hành chánh…) đã mắc lừa chính quyền mới khi họ ngoan ngoãn khăn gói quả mướp để đến nơi ghi danh xin học tập cải tạo (theo thông báo học 10 ngày, 1 tháng) để mong học sớm sẽ về sớm (trình diện trong tháng 6 năm 1975) mà yên ổn làm lại cuộc đời mới trong 1 đất nước vừa qua khỏi chiến tranh, không còn bóng kẻ thù (chỉ có bọn USA thua chứ người Việt Nam bên nào cũng thắng, luận điệu của cán bộ CS trong thời điểm đó) và kết quả là tự mình xin được đi tù (với mỹ danh là cải tạo). Những văn, thi sĩ đó là: Thanh Tâm Tuyền, Mai Trung Tĩnh, Dương Hùng Cường, Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Tô Thùy Yên, Văn Quang,Thảo Trường, Duy Lam, Phan Nhật Nam, Huy Vân, Đặng Trần Huân, Diên Nghị, Phan Lạc Giang Đông,Thục Vũ, Minh Kỳ, Thế Uyên, Vũ Thành An, Dương Kiền, Đinh Tiến Luyện, Nhật Bằng… và trong số người này thì đã có người phải bỏ mạng trong trại tù (Minh Kỳ, Thục Vũ, Nguyễn Mạnh Côn) hoặc được tha để về tới nhà thì chết (Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Minh Đăng Khánh, Trần Việt Sơn)… Những văn, thi sĩ không thuộc diện trình diện vì liên quan đến công việc với chế độ cũ (công chức, sĩ quan, trưởng phòng…) như Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Duyên Anh, Đằng Giao, Chu Vị Thủy (được đổi tên khác giông giống trong VAHCR), Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Thế Viên, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương… thì cán bộ văn hóa (chính quyền) dùng cái vụ nổ này để danh chính ngôn thuận lùa tất cả họ (văn, thi sĩ miền Nam VNCH còn sót bên ngoài) vào tù.
Cũng có các văn, thi sĩ miền Nam VNCH lại được chính quyền mới (Việt Cộng) để yên (không hề bị bắt) như: Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, Vũ Bằng, Tam Lang, Trần Lê Nguyễn, Thượng Sĩ, Toan Ánh, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác… Tại sao lại có vụ người thì bị chính quyền tìm mọi cách để bắt, người thì họ lại tha (như những người kể trên đây)? Sau này (cả hàng chục năm sau ngày 30-4-1975) thì một số bí ẩn đã được thỏa (có đáp án). Thanh Lãng (tên thật là Đinh Xuân Nguyên), gốc là linh mục đạo Thiên Chúa, từng dạy tại ĐH Văn Khoa (Huế và Sài Gòn) từ năm 1957 đến 1975, tuy từng là Chủ tịch Văn Bút Miền Nam VNCH nhưng có khuynh hướng gần như thiên tả (từng bảo lãnh cho Vũ Hạnh khi nhà văn này bị cảnh sát miền Nam VNCH bắt). Vũ Bằng (tên thật là Vũ Đăng Bằng), từ năm 1948 từng hoạt động trong màng lưới tình báo cách mạng (Việt Minh) và năm 1954 di cư vào Nam (theo lệnh của tố chức dù phải bỏ lại vợ và con trai tại Hà Nội) hoạt động cho đến ngày 30-4-1975 (tháng 3 năm 2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng CS Việt Nam đã có văn bản xác nhận nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo). Nguyễn Hiến Lê tuy từng nói bản thân không làm chính trị chỉ chú tâm vào trước tác nhưng thái độ thiên cộng trong ông thì ai cũng rõ (từng 2 lần từ chối lời mời của chính quyền miền Nam VNCH để làm giám khảo giải văn chương toàn quốc) và có lẽ vậy mà Việt Cộng để ông ta yên. Còn các người khác thì không biết lý do vì sao bỏ sót.
Ngoài truyện VAHCR đổ cho lý do phá vỡ long mạch (không còn rùa yểm) thì lý do thực của vụ nổ hồ con rùa là gì khi mà các văn, thi sĩ (có tên trong VAHCR, dù đã đổi nhưng vẫn giông giống bút hiệu, tên thật) khi vào trại giam lại bị quản giáo cho biết là chính quyền (Việt Cộng) phải làm một mẻ lưới lớn để tó hết tất cả văn, thi sĩ còn sót bên ngoài xã hội là vì: Chúng tôi sợ các anh, chị (văn, thi sĩ miền Nam VNCVH) phá hoại bầu cử (Quốc Hội của cả nước). Nhà văn Duyên Anh (DA) khi được biết lý do mình bị bắt như vậy (từ miệng gã cán bộ khi tháo còng tay ông) đã tự vấn: Chúng tôi phá bầu hoại bầu cử. Tại sao người ta (Việt Cộng) lại sợ chúng tôi như vậy dù đã phát thẻ cử tri rồi. Phát thẻ cử tri thì có nghĩa họ (Việt Cộng) không tước đoạt quyền công dân của chúng tôi. Chúng tôi được tham gia bầu cử Quốc Hội cả nước mà. Ông DA lại cho biết: Mấy hôm trước, đọc mục xã luận của tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng, biết chắc rằng, chúng tôi rất thiếu vinh dự bỏ phiếu (…những tên tướng, những tên đại tá ác ôn, buông súng là chúng hết ngóc đầu dậy, nhưng bọn nhà văn nô dịch phản động, buông bút xuống, ảnh hưởng của chúng vẫn còn nguy hiểm cho nhiều thế hệ. Những tên nhà văn đã phục vụ guồng máy chiến tranh bẩn thỉu của Mỹ Ngụy không được phép tới gần các thùng phiếu của chúng ta). Người ta (Việt Cộng) không thích chúng tôi tới gần các thùng phiếu. Người ta (Việt Cộng) cứ tưởng chúng tôi thèm bỏ phiếu lắm. Tôi đã từ khước quyền công dân của tôi từ lâu! Tôi chưa bao giờ biết bỏ phiếu. Tôi không khoái trò bầu cử gian lận ở nước tôi. Điều tôi cảm thấy hãnh diện thêm về nhà văn của chúng tôi là, cấm bỏ phiếu, Cộng Sản vẫn chưa yên tâm, phải bắt chúng tôi nhốt kỹ, họ mới tin tưởng bầu cử Quốc Hội cả nước thành công. Tuy bắt các văn, thi sĩ miền Nam VNCH rành rành rồi sau đó tống tất cả vào các nhà giam, trại… (Chí Hòa, số 4 Phan Đăng Lưu, Bù Gia Mập, Xuyên Mộc…) nhưng khi tháo còng số 8 (ở tay các văn, thi sĩ), các cán bộ phụ trách đều nói: Thật tiếc khi thấy anh, chị bị còng như vậy. Em, cháu (công an đi bắt) đã làm bậy. Nhà nước chỉ mời các anh, chị đi nghỉ ngơi ít bữa (qua bầu cử) chứ không hề muốn giam cầm các anh, chị. Hiện tượng, hiện tượng… Luôn luôn là hiện tượng. Hiện tượng không bao giờ là bản chất. Chính sách đúng mà thi hành sai. Anh, chị đừng buồn nhé.
Con rùa (hay Quy) đối với văn hóa Việt là một trong tứ Linh (Lân, Ly, Quy, Phụng) và có mặt trong tín ngưỡng như là linh vật (dù thực tế thì không có rồng, lân, phụng). Rùa gắn liền với truyền thuyết nỏ thần của An Dương Vương, nhận lại gươm báu từ tay vua Lê Lợi (trong truyền thuyết về hồ Gươm-Hoàn Kiếm…), rùa đội bia ( tượng đá trong Văn Miếu-Hà Nội), rùa đội hạc (tượng đồng, gỗ, đất… trong các chùa). Chính vậy mà khi tạo dựng công trường Duy Tân mà chính quyền miền Nam VNCH đã làm tượng con rùa trên lưng đội tấm bia ghi tên (theo trật tự ABC) các quốc gia đã viện trợ (hoặc là đồng minh thiết yếu) cho chế độ của mình như là một cử chỉ trân trọng, biết ơn (đến các quốc gia đó). Có lẽ vậy mà công trường Duy Tân này còn có tên là công trường Quốc Tế Viện Trợ. Ngoài hình ảnh là một địa điểm (như công viên, đài…) đẹp, tô vẽ thêm cho cảnh quan Sài Gòn (từng được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông khi đó) thì hình ảnh rùa đội bia (tại Hồ Con Rùa) này cũng ít nhiều gây cho khách nước ngoài biết về nét văn hóa (qua hình ảnh con rùa đội bia) Việt. Gần như là chắc chắn, con rùa đội bia tại Hồ Con Rùa là tượng rùa đội bia lớn nhất (từ trước tới nay) ở trong nước. Biến cố 30-4-1975 đến, chính quyền mới âm thầm để các vụ đập phá công khai các tượng đài trong khu vực nội đô Sài Gòn. Tượng 2 quân nhân Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Hạ Nghị Viện (nhà hát thành phố bây giờ) bị kéo đổ. Tượng Biệt Động Quân tại trung tâm giao lộ Ngã 7 cũng bị đập tan tành. Tượng người lính ngồi nghỉ chân (có tên là Thương Tiếc) bên cạnh đường vào nghĩa trang quân đội miền Nam VNCH ở Biên Hòa cũng bị lật đổ cắm đầu và kéo bỏ mất tiêu. Bào chữa cho các vụ đập phá này thì vì đây là các hình ảnh của quân đội phía thua cuộc nên không thể để tồn tại. Cũng được đi nhưng còn tượng của các danh nhân Việt như tượng Petrus Ký (Trương Chánh Ký, Trương Vĩnh Ký), người được xếp vào danh sách toàn cầu thập bát quân tử trong thế kỷ 19 (do tự điển bách khoa LaRousse định hạng) nằm ở khu vực gần nhà thờ Đức Bà (công viên Kennedy) cũng bị kéo xếp bỏ nhà kho và chỉ mới không lâu, tượng này được đem về chưng trong viện Bảo tàng Mỹ Thuật. Tượng thương gia Quách Đàm (người xây cái chợ Bình Tây to đùng, góp phần làm phát đạt vùng Chợ Lớn bây giờ) dựng trong chợ cũng bị kéo bỏ (bây giờ thấy tượng ông cũng chưng trong viện bảo tàng Mỹ Thuật). Còn các tượng danh nhân lịch sử khác như Hưng Đạo Vương (ở bến Bạch Đằng), tượng Trần Nguyên Hãn (giữa bùng binh trước chợ Bến Thành nay viện lý do xây nhà ga điện ngầm, băng đảng Việt Cộng đã cho dời tượng đi mất), tượng Phan Đình Phùng (tại giao lộ tròn, trước bưu điện Chợ Lớn)… thì đã bị gỡ bỏ hàng chữ, tấm chữ ghi tên là thánh tổ của 1 quân binh chủng thời miền Nam VNCH. Làm vậy cũng được đi vì giang sơn giờ đã đổi chủ, có làm điều đó thì cũng không lạ và cũng chẳng ai chê trách nhưng lại có tin là (thoang thoảng trên báo trong thời gian gần đây) có các giới chức (lãnh đạo và trong ngành mỹ thuật) chê các tượng đài cũ thời xưa (không nói rõ là miền Nam VNCH) dựng đều cũ (đúng, vì cả mấy chục năm rồi) và không đẹp (có lẽ theo cảm quan) nên nếu có thể thì sẽ thay thế (bằng các tượng đài nào khác thì chưa biết).
Khi các cán bộ văn hóa dừng chân tại Hồ Con Rùa ngay sau biến cố 30-4-1975. Tất nhiên là họ đã phải thấy tượng con rùa đội bia này và theo PTV, thì đây chính là lý do mà phải có vụ nổ cho banh con Rùa Đội Bia rồi nhân đó mà thành lý do để tó các văn, thi sĩ miền Nam VNCH vào cũi luôn. Từng rêu rao (ở ngoài miền Bắc và trong các vùng xôi đậu do họ chiếm đóng) là chính quyền miền Nam VNCH bị cả thế giới loài người lên án, bị cô lập trên chính trường quốc tế vì độc ác, phi nhân, không có chính nghĩa… mà nay, sao lại có tấm bia ghi ơn tới 44 quốc gia viện trợ (cùng giao hảo vì có viện trợ là đã có mối giao hảo rồi) cho chính thể này? Sự thật này, sẽ không thể để tồn tại được (vì những người không biết sẽ biết khi có lúc nào họ đó ghé chân đến đây), nhưng cũng không thể tay quai búa, xà beng… để phá bỏ công khai. Thôi thì chỉ có một quả mìn là tiện nhất. Vả lại, cái tên Hồ Con Rùa chỉ nên để riêng cho có một cái hồ có rùa ngoài Hà Nội thôi (tức hồ Gươm, hồ Hoàn Kiếm, hồ Con Rùa), hiển hiện trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không thể có hai Hồ Con Rùa được.

Phạm Thắng Vũ.
May 2016.