GÕ CỬA MÙA THU HÀ NỘI

Tìm trong màu mắt em trong
Hương sen Tây Hồ thơm ngát
Tiếng sâm cầm trong sương sớm
Mênh mông bờ bãi sông Hồng.

Qua cầu Long Biên thép gỉ
Thấy một Hà Nội trầm tư
Theo em dịu dàng xuống phố
Mơ gì trên những cửa ô?

Tìm trong Hà Nội nồng thơm
Sắc hoa Ngọc Hà xưa cũ
Ai gánh mùa thu qua đó
Ngậm ngùi lăng miếu ngàn năm.

Tiếng chuông buông chiều lặng lẽ
Se lòng cỏ biếc chân đê
Khẻ chạm vào từng vân đá
Nghe hồn thiên cổ quay về.

Vàng tươi trên từng tán lá
Nắng dịu dàng theo gót em
Hoa sửa khẽ khàng tha thiết
Long lanh bóng nước Hồ Gươm.

Gõ cửa mùa thu Hà Nội
Chút tình sương khói mong manh
Mùi cốm vòng trong se lạnh
Nghiêng lòng Hà Nội vào đêm.

Nguyễn An Bình

 Kí ức tan nát

                
Như đã thôi giận hờn, trách cứ anh. Trong linh cảm mơ hồ, Như biết ở thế giới bên kia anh vẫn còn trăn trở, đau đớn. Anh có lỗi gì đâu ? Cuộc sống phủ đầy gai góc, anh quanh quẩn trong nỗi bất hạnh càng lâu thì sức hảm hại của nó càng khủng khiếp. Nỗi bất hạnh của anh bắt đầu từ những ảo ảnh tinh khôi của bình minh thanh xuân và những hoang mang đau đớn dữ dội của núi rừng khắc nghiệt nhưng có lẽ đau đớn nhất vẫn là những khốc liệt tráo trở của lòng người…Cuộc sống như một thùng nước bùn bị quấy đảo bởi nước trong, rác rến và bùn lầy. Nhưng rồi cũng phải lắng lại, bùn lầy, rác bẩn sẽ nằm dưới đáy cho nước trong nổi lên trên cùng. Bây giờ nghĩ về anh, Như chỉ còn giữ lại một mảng trời trong veo.
Như nhớ ngôi nhà gỗ có cây trúc vàng  trước ngõ mà anh vẫn thường ngồi với cây đàn guitar chờ đợi cô đi học về, tiếng đàn dìu dặt những âm điệu buồn man mác. Ánh mắt anh nhìn cô quyến luyến trong lặng thinh. Nguyên, cô em họ của anh nói với Như:
Ông anh của em bị chị Như hớp hồn rồi.
Cho đến sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, Như mới biết anh mồ côi cha. Mẹ anh đã đưa anh từ một vùng quê nghèo khó đến gởi anh ở với người cậu ruột, vừa dạy kèm cho các em, vừa đi học. Những ngày hè năm 1975, bọn trẻ con bu quanh bởi tiếng đàn và nụ cười của anh. Như lơ ngơ chẳng biết mình là thiếu nữ hay trẻ con khi ở độ tuổi giữa 14 và 15. Cầm giấy sinh hoạt hè của trường về sinh hoạt thanh niên địa phương, Như bị đuổi xuống sinh hoạt với thiếu niên, lộc ngộc giữa một bầy con nít. Anh phì cười dỗ dành cô:
Thôi, cùng anh chơi đùa với bọn con nít cho khoẻ nha !
Chẳng khoẻ gì, công việc phụ trách đội thiếu niên tiền phong ngày đó mệt bở hơi tai với những phong trào kế hoạch nhỏ, vệ sinh đường phố, hát hò múa may… Như đi theo anh, lò dò trong những hang cùng ngõ hẻm suốt những ngày hè.  Cho đến ngày tựu trường, cô cầm giấy sinh hoạt của địa phương về trường nhập học. Và ngày đó cũng là ngày anh lên đường.
Em ở lại học giỏi nha, học thêm phần của anh nữa đó !
Như chới với hốt hoảng :
Anh đi đâu, sao không học tiếp.
Anh đi lên rừng giúp bà con xây dựng vùng kinh tế mới.
Sao phải làm vậy? Anh đang học dở dang…
Anh cúi mặt nhìn xuống bờ cỏ úa vàng trong nắng thu:
Cậu anh đi học cải tạo, một mình mợ không đủ sức nuôi các em… Thầy giáo của anh nói về một thành phố mới trong tương lai mà bọn anh sẽ là những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng nên, rồi sau đó sẽ đón những người dân nghèo lên đó sinh sống.
Vậy thầy giáo sẽ cùng đi với bọn anh ?
Không em, thầy chỉ động viên bọn anh đi, thầy ở lại để dạy.
Như thấy nghẹn lời, lần đầu tiên cô biết có một ngày khai trường buồn. Thời con gái của Như có màu sắc ảm đạm của đói nghèo, thiếu rách. Những chiếc áo dài lụa trắng được xếp lại cất kĩ trong ngăn kéo, chỉ còn lại những sắc màu tối tăm, buồn bã. Không hiểu vì sao như vậy?!… Có lẽ những gam màu đó phù hợp với những buổi lao động, trồng sắn ở núi rừng Ba Viên, hốt bùn rác ở công viên 29 tháng 3. Học và lao động, chẳng còn thời gian đâu để mơ mộng. Vậy mà Như vẫn thường ngóng chờ thư anh.
“Anh viết cho Như trong buổi chiều muộn từ nông trường. Hoàng hôn ở núi rừng xuống thật nhanh không như hoàng hôn ở biển quê mình. Trung đội của anh hơn 30 người, hầu hết là những thanh niên ở Huế. Vùng núi bạt ngàn tre lồ ô, bọn anh phải phát những rừng tre để làm nhà ở cho dân. Nhiều lúc chân tay rả rời, mắt hoa lên vì đói. Anh cứ ngỡ nếu mình ngã trên những đám tre lồ ô vừa phát thì sẽ bị nó đâm xóc qua thân mình. Những con đường hằng ngày anh đi qua heo hút, chon von, trơn trợt vắt ngang qua dốc núi sừng sững. Sương mù dày đặc che phủ cả những tán rừng trùng điệp, càng lên cao càng thở mạnh và cố lầm lũi bám theo dấu chân nhau. Những đôi chân rã rời vẫn cố sải bước thật nhanh. Lũ sên vắt đánh đu trên từng ngọn lá cành cây. Các cô gái mặt mày xanh mét như màu lá, nước mắt lưng tròng, thỉnh thoảng có cô hét thất thanh “Mạ ơi”. Thế là bọn anh đặt cho cái dốc rừng kinh sợ đó là dốc ” Mạ ơi”.
Anh chỉ thật sự cảm thấy thanh nhàn vào những buổi tối ngồi bên đống lửa bập bùng để đọc thư Như. Có một chuyện thật buồn cười mà anh phải xin lỗi em. Trung đội trưởng của anh nhìn thấy đêm nào anh cũng đọc thư em nên tò mò :”Cậu đọc thư ai mà đọc hoài không chán thế ? Anh cười nói với anh ấy: ” Thư của cô em gái “. Vậy là anh ấy đã năn nỉ cho anh ấy đọc ké. Như ơi, tất cả bọn anh đều phải bỏ dỡ việc học hành. Những dòng chữ của em kể về thành phố, về mái trường, về những buồn vui của tuổi học trò gợi nhớ thật nhiều. Trung đội trưởng của anh đỏ hoe mắt khi đọc thư em. Thì ra anh ấy cũng nhớ trường, nhớ phố…”
Mùa hè của năm cuối cùng làm học trò, Như lao vào ôn tập cho kì thi vào đại học thì anh về phép. Người anh đầy khói bụi, anh lạc lỏng giữa thành phố với những giò phong lan đem về từ rừng núi. Đứng trước cổng nhà đợi Như đi học về nụ cười luống cuống:
Anh có đem về cho em mật ong và cặp sừng nai rất đẹp, nhưng xe chật chội quá, tài xế bắt bỏ ba lô  trên trần, khi lấy xuống thì chỉ còn lại những giò phong lan. Như cười an ủi anh:
Anh về thăm em là vui rồi, cần gì quà lích kích cho nặng. Những ngày phép của anh là những ngày Như bận bù đầu với bài vở. Anh đến nhà ngồi lặng yên ở phòng khách nhìn cô học rồi buồn buồn đi về:
Em học đi, đừng lo cho anh!
Rồi anh vác ba lô về lại với núi rừng. Thư từ giữa Như và anh thưa thớt dần và mất hẳn.
Ngày Như lên xe hoa, anh trở về ngồi lặng trong góc tối trước sân nhà, cho đến khi mẹ cô lịch sự đuổi khéo:
Thôi con về nghĩ, để em nó chuẩn bị cho ngày mai.
Anh ngượng ngùng đứng dậy chào mẹ và nói với Như:
Anh về nhé Như, lúc nào anh cũng mong em hạnh phúc và bình yên !
Như nhìn theo dáng anh lẩn khuất nhạt nhoà trong đêm, vầng trăng 20 mong manh, mờ nhạt không đủ ánh sáng soi rọi đường về, Như cảm thấy có gì như tội tình như trắc ẩn…
Cuộc đời đã cuốn Như đi theo dòng chảy.  Gia đình, công việc…Cô chẳng còn thời gian nào để sống cho kí ức. Mà kí ức cũng xám xịt u buồn, chỉ thỉnh thoảng trong giấc mơ tiếng đàn, ngôi nhà gỗ với cây trúc vàng và nụ cười hiền của anh cũng thấp thoáng ẩn hiện.
Thời tiết chuyển mùa, sáng nắng chiều mưa. Như mệt mõi với công việc ở công ty và gia đình. Cơn bịnh cảm cúm dường như đến bao vây trong gia đình cô. Như vật vã với cơm cháo, thuốc men cho chồng con. Tất bật đầu bù tóc rối. Một số điện thoại lạ nào đó cứ vang lên, cô phớt lờ không nghe, chuông cứ đổ dài rồi tắt rồi gọi lại. Cuối cùng cô chịu thua:
Anh Thoại đây Như ơi.
Tiếng anh vọng lại thật xa xôi. Trái tim cô run rẩy đập loạn nhịp:
Anh đang ở đâu ?
Anh đang ở rất gần nơi em ở.
Anh về khi nào ?
Mấy ngày nay, liên lạc với em thật khó.
Ờ… Mấy ngày nay em lu bu quá, em xin lỗi !
Tối nay em ăn cơm tối cùng anh được không ?
Dạ, để em sắp xếp việc nhà rồi báo anh sau nhé.
Có gì xôn xao trong cô như vầng trăng trăng mong manh trong bóng tối huyền ảo, ẩn giấu một điều kì lạ. Tiếng đàn, ngôi nhà gỗ, cây trúc vàng và nụ cười buồn của anh lại trở về chập chờn qua một làn sương. Chồng cô khó tính, lạnh lùng, cơm nước không vừa ý, nhà cửa không ngăn nắp, con cái học hành điểm không cao… Chàng lặng im không nói, một sự im lặng đáng sợ. Như nghĩ đến chị Mây, bạn làm cùng cơ quan, chị hiền và thương yêu cô như ruột thịt. Hay là nhờ chị ấy đến nhà rủ mình cùng đi ăn cơm tối với anh.
Như và chị Mây  bước vào nhà hàng khi anh đã ngồi đó tự bao giờ. Anh gầy gò xanh xao như người bịnh mới ra viện, nhưng nụ cười vẫn hiền như muôn thưở. Anh lúng túng vụng về trước chị Mây đến tội nghiệp. Nhưng chị thì vốn hồn hậu nên chào hỏi và trò chuyện tự nhiên như đã quen anh từ lâu lắm. Chị chọn những món ăn ngon để đãi khách. Như bao giờ cũng cảm thấy yên lòng khi có chị nên không ngần ngại kể cho chị nghe về kí ức của cô và anh. Chị thấu hiểu tất cả : ” Đó là kí ức tinh khôi của thời con gái, em hãy giữ lại để thấy cuộc đời của mình có ý nghĩa thi vị, nó sẽ giúp em mềm mại hơn trong cuộc sống cằn cỗi nhọc nhằn, những con số khô khan của công việc hằng ngày này sẽ làm chúng ta cạn kiệt cảm xúc. Hãy đón tiếp anh ấy như người bạn thân thiết ở xa về. Đừng nghĩ gì thêm, đã có chị bên cạnh, em không có gì phải lo âu…” . Thật vậy chị thật khéo léo và tinh tế để anh dễ dàng vượt qua những ngần ngại và trò chuyện rôm rả. Anh kể về cuộc sống hiện nay của anh. Về công việc hướng dẫn du lịch,  Về đứa con trai đang du học ở Châu Âu, về người vợ đã rời bỏ rơi cha con anh…anh kể về những thăng trầm anh đã đi qua… Cuối cùng anh mở ví đưa tấm ảnh Như năm 18 tuổi và nói rằng nó luôn luôn đi theo anh. Như nghe cay cay ở mắt và lảng tránh ánh nhìn từ mắt anh. Chị đưa tay lau nước mắt. Chị rất nhạy cảm và dễ khóc. Chị nói với anh:
Thế hệ chúng phải chịu nhiều thua thiệt so với thế hệ đi trước và sau chúng ta. Chúng ta phải gánh trên vai bi kịch của lịch sử đói nghèo, ly tan… Em và Như bây giờ như một dòng sông chảy về hai hướng nhưng cuối cùng thì cũng tìm về với biển thôi. Em hiểu cho Như, nó là phụ nữ với những ràng buột nhất định. Vậy nên khi nào về đây em hãy liên lạc với chị, đừng gọi cho Như. Chị sẽ sắp xếp để ba chị em cùng ngồi với nhau, cùng ăn với nhau bữa cơm, cùng uống  cà phê, cùng nghe nhạc… Rồi trở về với gia đình, công việc. Như vậy là chúng ta đã may mắn hơn biết bao người đau khổ trên cuộc đời này.
Sau cuộc gặp gỡ anh, Như quay về nhà và biết rằng cuộc sống của cô đã xáo trộn tất cả. Kí ức và hiện tại cứ như thùng nước với đủ thứ bị quấy đảo. Như nhờ chị gặp gỡ và trò chuyện với anh. Và cô lao vào công việc, chăm sóc chồng con như để xoá tan hình ảnh của anh. Vậy mà trong giấc ngủ cô vẫn thấy chập chờn về hình ảnh nhà gỗ, bụi trúc vàng, nụ cười buồn và những dòng chữ trong bức thư cũ cứ như mờ ảo qua một làn khói mỏng…
Chị Mây gọi điện gọi Như đến một một quán cà phê bên kia sông. Trời đã vào đông, không gian xám ngắt, khoảng cách trời và đất thu ngắn lại thấp lè tè, gió se sắt lạnh, dòng sông đục ngầu với những đám lục bình trôi nổi. Chị trầm ngâm bên tách cà phê một lúc thật lâu rồi chậm rãi nói:
Như à, chị biết em sẽ rất buồn khi chị kể với em những gì đã xảy ra.
Chị sống một mình, không có gì để ràng buột chị như em, và chị đã thương em như đứa em ruột rà của chị. Chính vì vậy mà lúc nào chị cũng muốn che chắn bảo vệ em. Tình cảm của em dành cho anh ấy rất trong sáng, em biết lại những khoảng cách nhất định để không làm đau lòng người. Đó là điều chị rất quí em. Nhưng em à, bây giờ thì chị biết anh ấy không xứng đáng với điều đó nữa. Cuộc đời đã cuốn con người vào một vòng xoáy và họ đã quay tròn đến chóng mặt và không còn thể giữ lại những gì vốn đẹp đẽ trong họ. Chị không trách, không giận nhưng chị tiếc về kí ức đẹp mà em giữ gìn.
Như có cảm giác như cô đang lầm lụi đi trong bóng đêm lạnh lẽo. Những gì chị Mây kể cứ như chuyện lừa đảo thường xuyên xảy ra trên internet mà hai chị em vẫn thường kể cho nhau nghe để cảnh giác. Những chuyện lừa mua cart điện thoại, mua hàng online, mượn tiền gởi trả qua thẻ…. Anh ấy đã nhờ chị Vân mua một số hàng hoá với một số tiền lớn, hứa sẽ chuyển khoản vì không có tiền mặt nhiều, chị Vân đã tin và làm công việc đó rất nhiệt tình vì muốn giúp Như không phải lo lắng vướng víu. Vậy mà sau đó, tiền không gởi vào tài khoản chị, rồi điện thoại bị cắt, không thể nào liên lạc được với anh ấy nữa.
Trời ơi, kí ức tan nát. Ngôi nhà gỗ, bụi trúc vàng,  tiếng đàn, nụ cười buồn và những bức thư anh viết về từ núi rừng heo hút…đã được đánh đổi bằng số tiền lừa đảo chị Vân sao? Điều gì đã làm anh thay đổi ?
Như lảo đảo đứng dậy, chị Mây nhìn Như với ánh mắt đầy thương cảm: ” Nếu muốn khóc thì em hãy ngồi lại khóc  với chị cho trôi hêt nước mắt đi rồi hãy về. Em còn có chị, có gia đình, công việc, anh ấy cũng giống như bọt bèo… trôi đi thôi em à.”
Như lại lao vào những con số thống kê khô khốc, lao vào những việc không tên của gia đình với tất cả sự tỉ mỉ, chỉn chu. Vì thế những báo cáo thống kê của Như ít sai sót hơn. Nhà cửa sạch sẽ, cơm nước tinh tươm, dạy con học chu tất…Hình như chàng cũng ngạc nhiên vì bệnh lãng đãng của vợ mình đã hết, không còn quên trước quên sau, không khí gia đình thật êm ấm. Thỉnh thoảng chị Mây rủ Như đi bù khú ở quán xá hoặc ngắm nghía, săm soi áo váy…Hai chị em lại cười ngặt nghẽo bên nhau.
Những ngày cuối năm, đất trời mênh mang dịu dàng đến lạ, lòng Như lại nôn nao, đôi chân muốn bước ra đường mua sắm, gặp gỡ, trò chuyện. Như gọi chị Vân, chị cười nói sao chị cũng có cảm giác giống y chang em. Vậy là hai chị em lại lang thang phố chợ, mua thì ít mà ngắm thiên hạ thì nhiều. Có tiếng người gọi :
Chị Như, chị Như ơi…
Cô gái mặc áo len màu đỏ có nét nhìn thật quen, Như cố lục trí nhớ mà không thể nào nhớ nỗi.
Em là Nguyên, em gái anh Thoại ở gần nhà chị ngày xưa chị quên em rồi sao?
Như lặng người một lát rồi mới bình tĩnh hỏi Nguyên:
Lâu nay em có gặp anh Thoại không ?
Anh ấy mất cách đây một tháng rồi chị không biết sao?
Mất ? Vì sao ?
Anh ấy bịnh ung thư từ một năm nay rồi, cũng đau đớn ghê lắm chị.
Vợ con anh ấy có về không?
Nguyên tròn mắt nhìn Thư:
Anh ấy làm gì có vợ con mà về hở chị ?
Lần này thì đến lượt Như trố mắt nhìn Nguyên:
Thật sao em?
Thật đó chị. Tội lắm chị. Anh đi thanh niên xung phong về, thất nghiệp không xin được việc làm, anh chỉ làm những việc làng nhàng đủ sống và chăm sóc mẹ  già, rồi mẹ anh ấy mất. Anh ấy đau ốm liên miên cả năm trời không tiền chữa bệnh nên tìm về lại vùng kinh tế mới và mất ở đó.
Như ngơ ngẩn không còn nghe gì thêm được nữa, đầu óc nặng trĩu, chỉ nghe tiếng chị Mây loáng thoáng hỏi Nguyên địa chỉ nghĩa trang nơi anh nằm xuống.
Trời bổng dưng tối đen, gió đổi chiều se sắt lạnh và mưa trút xuống ào ạt xối xả. Nguyên vội lên xe máy chạy đi. Chị Mây nắm tay Như chạy vào góc phố núp mưa. Như úp mặt trên vai chị oà khóc:
Chị ơi, vì sao anh ấy phải nói dối ?
Vì mặc cảm em à, đáng thương là nó  được đặt trong cảnh khốn cùng, bế tắt… Có hàng trăm, hàng triệu thanh niên lao động ở vùng kinh tế mới trở về phải chịu thiệt thòi như vậy chứ không phải một mình Thoại đâu em. Những thế hệ thanh niên miền nam, họ xung phong lên đường với bao niềm háo hức về một lí tưởng đẹp. Họ mơ đến những cánh rừng, những thác nước. Họ nghĩ đến một tương lai tươi sáng cho quê hương, cho gia đình và chính bản thân họ. Nhưng thật ra họ trải qua rất nhiều cay đắng, khổ nhọc… Rồi chị sẽ đưa em đến nơi đó để thắp hương cho anh ấy, cầu xin cho linh hồn anh  thanh thản ở thế giới bên kia.
Như và chị Mây tìm đến vùng đất nơi anh đã từng đến. Một góc nhọn của dải đất hình tam giác được khép góc bởi hai con sông, mảnh đất giáp ranh với núi rừng bạt ngàn. Một con dốc vắt ngang sườn ngọn núi cao, um tùm những cánh rừng nguyên sinh, thỉnh thoảng xa xa trong cái hoang vu lạnh người ấy lại vang lên những tiếng gầm gào của thác nước. Tiếng người bạn của anh trầm buồn: “Thoại đã có mặt ở đây từ những ngày đầu tiên xây dựng vùng kinh tế mới này. Bọn anh là thanh niên sinh ra, lớn lên ở thành phố, nên đứa nào cũng bỡ ngỡ, lúng túng khi giáp mặt với núi rừng. Ngay cả việc dựng tạm một cái lều trú qua đêm cũng rất khó khăn. Đêm đầu tiên, bọn anh đã đụng độ với cơn mưa rừng của cao nguyên, ào ạt như thác đổ, quăng quật hết cái thứ lều trại bát nháo. Hàng trăm thanh niên, đứa nào đứa nấy ướt lướt thướt, nước dưới chân như dòng xoáy cứ muốn cuốn mình đi. Những cô gái ôm lấy nhau khóc tấm tức. Vừa ướt lạnh, vừa sợ hãi khiến bọn anh gần như thức trắng đêm. Nhưng sáng ra, trời còn mờ mịt sương mù, đã phải tập họp, điểm danh, lên đường đi tiếp…Thoại đã sống rất tình nghĩa với anh em. Cậu ấy gầy yếu nhưng lúc nào cũng gánh vác những việc nặng thay anh em. Mười năm, hai mươi năm trôi qua tưởng chừng như dài vô tận thì vùng đất này mới bắt đầu định hình ổn định. Một số anh em không muốn quay về thành phố, ở lại sinh cơ lập nghiệp. Riêng Thoại thì về lại quê nhà để chăm sóc mẹ già đang ốm nặng. Và hình như cậu ấy cũng đã nhận ra sức khoẻ có vấn đề bất ổn. Tội nghiệp gần hai mươi năm với núi rừng chỉ mang về bịnh tật, chẳng có một chút ưu đãi nào. Rồi không hiểu sao cậu ấy trở lại. Thì ra bệnh đã vào giai đoạn cuối. Cậu ấy muốn nằm xuống bên cạnh những anh em đồng đội. Cậu ấy đã nhờ anh gởi cho Như bức thư cuối cùng. Ngày xưa anh và Thoại vẫn thường đọc chung thư em, nên bây giờ gặp em, anh vẫn thấy ở em như thân quen từ lâu lắm.
Sao anh không về lại thành phố ?
Anh nghĩ tuổi trẻ đã qua, cơ hội không còn nữa, nên anh ở lại đây sinh cơ lập nghiệp. Nhưng cuộc sống ở đây cũng bấp bênh lắm, em nhìn thấy đó, hoa màu trồng không bán được. Hoa ly, lay ơn, cúc… có năm để héo úa chất từng đống. Người dân ở đây bắt đầu đón bỏ những nương rẫy trồng tiêu, trồng điều trở lại trồng tre lồ ô bán cho thủ công mỹ nghệ và vườn nhà. Nghĩ buồn cười, coi như quay trở lại với núi rừng tre lồ ô như thưở ban đầu.
Nghĩa trang núi rừng hoang sơ và cô tịch. Ngôi mộ cỏ có tấm bia được bạn bè khắc tên anh. Tây nguyên đang vào mùa khô hạn, cỏ héo tàn cằn cỗi, đàn bò tơ non nớt phải nhấm nhẳn từng ngọn cỏ cháy đắng chát. Anh đã đến nơi đây và ở lại bởi vì anh đâu còn có chốn nào để quay về.
Trần thị Trúc Hạ

HUYỀN XƯA

có khi nghĩ em đừng như huế
áo dài chi mà tha thướt kinh kỳ
anh vừa chèo vừa sợ thuyền mình đắm
dưới sông trầm ngâm nhã nhạc từ bi

đắm vào rêu xanh cổng thành thượng tứ
biết về mô ơi phượng đỏ linh hồn
em đừng như o học trò thành nội
áo mây bay qua mấy nhịp cầu nghiêng

đi tìm trong lăng tẩm chùa chiền
không thể gặp dù sông không chảy
đắm vào tím nhánh sầu đông chờ đợi
lá trên cành cũng xanh phải lòng nhau

về lại đứng im trước thềm linh mụ
lạnh chạm vào hồn cổ tích cơn mưa
em vẫn là dòng hương giang cứu khổ
vớt anh bay theo mấy sợi huyền xưa

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

TẶNG PHẨM 3

 

khi mùa xuân
tôi có thể gửi tặng em bài thơ thật mầng rỡ
nhớ đến miệng cười lúng liếng
không tai tiếng
giữa thời đạo đức xã hội chủ nghĩa
ngắn ngủn cùng tận
một con hẻm cụt văn hóa

khi mùa hạ tôi có thể gửi tặng em theo tin nhắn
một cụm phong lan dịu dàng nở rộ trên cao nguyên
của một xứ sở nhiệt đới
trọc lóc rừng
và đầy nhóc
bô-xít

thì mùa đông tôi cũng chỉ có thể gửi đến em một tâm thất buốt cóng lưu lạc
xứ người
co ro ngay ngả tư lạnh lẽo đèn xanh đỏ
giữa phố phường nhạt nhẽo mùi vị da vàng
xiêm y âu cơ
và núi sông giao chỉ

với mùa giông bão
thì tôi biết gửi gì
sẽ đến tận tay em, nhỉ
khi em đang đu đưa một đóa bất trắc
trên kèo xà ngang nóc nhà hội an
hay đang cuống cuồng bạt gió bão trôi trên đường phố nha trang

không,
tôi không thể gửi tặng thêm cho em một điều gì nữa
khi em đang ngoi ngóp lặn hụp
giữa dòng lũ xả điên cuồng
bởi em không thể vói tay
nhận lấy điều gì khác, hơn thế nữa
từ một cuồng quốc có chủ nghĩa quy trình
cách vô sản.

HHiếu

 

Hủy thi Hoa hậu Hoàn vũ 2017 thì được gì nhỉ?

Bão Damrey ập tới. Khánh Hòa có lẽ là một trong những nơi chịu thiệt hại trực tiếp, nặng nề nhất. Nhà nhà ngập lụt, người chết và mất tích, ruộng vườn tan hoang… Trong thời điểm đó cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ 2017 vẫn nỗ lực diễn ra hoành tráng trên VTV, cũng như ngay tại Diamond Bay City, Nha Trang.
Nhiều ý kiến bất bình nói rằng sự kiện ấy không thích hợp để vui vầy giữa thảm cảnh mà hàng chục ngàn người Việt phải gánh chịu. Nhưng cũng có ý kiến từ phía nhà đài, và không ít người ủng hộ, nói rằng hủy cuộc thi hoa hậu đó thì cũng đâu được gì.
Quả thật, hủy cuộc thi đó thì đâu được gì, thậm chí là mất rất nhiều!
Chỉ cần một lần chứng kiến hậu trường của các chương trình TV nhà nước phối hợp với các nhà tài trợ, các nhãn hàng… Bất kỳ ai cũng có thể hiểu rằng việc Ban tổ chức, nhà đài cố thực hiện cho được chương trình Hoa hậu Hoàn vũ đó, bất chấp giữa lúc những cơn bão ập vào từng ngôi nhà, từng con đường… là điều không thể cưỡng lại. Là điều phải làm. Đơn giản, là vì tiền.
Giờ vàng đã định, hợp đồng quảng cáo đã ký, tiền tài trợ đã nhận… Mọi thứ đã lên khung. Chỉ cần trễ vài tiếng đồng hồ thôi cũng đã khiến cho những người làm truyền hình nhà nước ôm hận vì tiền tuột khỏi tay, mọi kế hoạch dang dở.
Cứ làm cho xong đã, còn kết quả như thế nào thì mặc kệ. Bởi điều quan trọng là mọi nguồn tiền đã định cần được luân chuyển hợp lý, đúng ngày đúng giờ. Đâu vào đấy. Toại lòng nhau. Vui như hội.
MC Phan Anh nói cũng có lý của anh ta. Hủy chương trình để làm gì nhỉ?
Dời hay hủy hương trình thì cũng đâu để làm gì, bởi vì từ lâu nay, việc thực hiện một show truyền hình cũng giống như bất kỳ công việc kiếm tiền nào khác trên đất nước này, lợi nhuận và làm giàu là tiêu chí tối thượng, vượt qua mọi giá trị khác như danh dự, nhân tính hay tổ quốc.
Ban tổ chức và nhà đài cần gì văn hóa hay tình người khi có thể làm giàu, kiếm ra nhiều tiền, thậm chí ngay trong điều kiện thời tiết khó khăn nhất? Cũng giống như nhà máy thủy điện vẫn xã lũ và phẩy tay khi nước dâng bất ngờ và dân chúng chết chìm. Không phải lợi ích và quy trình là nguyên tắc tối thượng hôm nay đó sao?
Tiền – không phải thuốc ung thư giả, biệt điện biệt phủ của các quan chức, phá rừng, phá núi, lấp biển, xả thải… – chính là ý nghĩa khiến các quan chức, bè phái nắm tay cùng nhau nhảy múa ngày đêm như những hội lên đồng ghê tởm nhất?
Tiền – không phải lúc này muốn chạy ra nước ngoài, tìm một quốc tịch khác, không muốn sống bị xiềng xích bằng hộ khẩu, không muốn con cái mình bị nhồi nhét nền giáo dục cải cách ngu xuẩn và bị ép buộc tư duy Mác Lê Nin… – làm được như vậy, rõ là người ta phải cần rất nhiều tiền, đúng không?
Đừng quên hôm nay mạng người cũng được bồi thường bằng tiền, án oan cũng được trả lại bằng tiền. Đánh chết người trong đồn công an cũng được bù đắp bằng tiền. Bị Trung Quốc đâm tàu bắt giữ cũng cần tự điều đình chuộc lại bằng tiền. Đừng quên tất cả ở Việt Nam lúc này là tiền – tiền – tiền.
Tiền thật quan trọng. Vậy thì hủy Chương trình thi Hoa hậu Hoàn vũ 2017 để làm gì nhỉ? Khi nơi đó người ta cũng làm ra tiền, thậm chí rất nhiều tiền.

NGUYỄN TUẤN KHANH

CHIỀU MƯA UỐNG RƯỢU

 

Buồn xuống ngang vai chiều tới chậm
lòng tôi mưa bụi nữa đây em
không chắc đêm nay mà ngủ được
rượu tàn không ấm nhớ không tên

Tâm sự cứ như là áo rách
từng chiều chuếnh choáng bước loanh quanh
hồn thôi bỏ mặc cho sương xuống
thương nhớ không vàng giọt nắng hanh

Dừng chân dưới cột đèn châm thuốc
không gió mà tay lạnh rất đầy
mùa thu về nữa trên cây lá
mai mốt sẽ buồn như heo may

Không biết tình xa chiều có lạnh ?
người về qua một bến sông xanh
áo bay hay lá rơi vào Nội
thương nhớ lòng theo mấy cửa thành

Sao tôi cứ là mây viễn xứ
thèm về soi giữa mắt nhung xưa
mà không là một vầng trăng tỏ
nở giữa lòng em cả bốn mùa ?

Mưa rụng thêm hồn tôi nữa đây
Chiều tàn. Rượu hết. Sầu chưa say
Mai về tay níu vai cầu cũ
cởi áo xưa buồn cho gió bay.

1969
TẦN HOÀI DẠ VŨ
(Bài đã đăng trên Tạp chí Văn
ở Sài Gòn, Tháng 4.1969)

 

Texas Chúa Nhật 5 Tháng 11 năm 2017

 

Mở báo đọc, hoảng hồn:  Texas chết và chết!  Người ta đang tận diệt sinh linh trước Chúa Trời?

Hai mươi tám người…là người / nằm sóng soài trên máu.  Tên sát thủ quần áo cũng máu…và máu me!

Hai mươi tám người…về, không ai quỳ trước Chúa!  Cửa Nhà Thờ rộng mở…chỉ Cảnh Sát đi vào!

Báo in đậm Niềm Đau của một ngày Chúa Nhật!  Chuyện này là chuyện thật…mà thật như cơn mơ!

Chắc ai cũng sững sờ?  Chắc ai cũng uất nghẹn?  Niềm đau thì trọn vẹn, niềm vui dành…chúc nhau?

Tôi?  Tôi đang ở đâu dưới bầu trời dông bão?  Báo không đưa tin láo?  Lậy Trời / lậy thinh không!

Cầu nguyện tất-cả-cùng-được-bằng-an-dưới-thế.  Xin Chúa và Đức Mẹ:  Bằng An Cho Mọi Người!

 

Trần Vấn Lệ

Tưởng Niệm Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

 

 

 

Chúng ta biết năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 01 tháng 11 thì người dân Việt miền Nam đều nhớ lại ngày này trong năm 1963 của thế kỷ trước mà ngày hôm sau (02 tháng 11) đã dẫn đến cái chết của Tổng thống thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa là Ngô Đình Diệm và người em ruột là Cố vấn Ngô Đình Nhu.

Đã có quá nhiều bài viết, tài liệu và sách báo (trong và nước ngoài) nói về cái chết của hai người nầy. Ai là kẻ ra lệnh giết và tại sao lại ra lệnh giết chết khi họ (anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm) đã chấp nhận đầu hàng (với đám tướng lãnh cầm đầu phe đảo chánh) thì nhiều người đã viết rồi nên nhân buổi lễ tưởng niệm này, Phạm Thắng Vũ (PTV) thấy không cần phải viết lại vì sẽ nhàm. Thay vào đó, xin viết khang khác một chút để quý anh chị trong diễn đàn Facebook đọc để biết thêm.

Nhắc đến cuộc đảo chánh ngày 01 tháng 11 năm 1963 thì phải kể đến một người không chút dính dáng gì đến quân đội miền Nam Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cũng không phải dân Bắc kỳ di cư năm 1954 mà chỉ vì một chút tình cảm riêng với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm mà đã gánh hoạ vào thân ngay sau khi đám tướng lãnh đảo chánh thành công. Đó là ông Mã Tuyên, một thương gia Việt gốc Hoa Triều Châu. Ông chuốc hoạ là vì đã chứa chấp anh em cố Tổng thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu trong cái đêm 01 tháng 11 năm 1963. Khi đó ông Mã Tuyên tuổi độ trên dưới 50, là tổng bang trưởng của 10 bang người Hoa tại vùng Chợ Lớn (thuộc quận 5 nội đô Sài Gòn). Thực sự, nhiều người biết chuyện anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu trong đêm lẩn trốn (từ dinh Gia Long) đã đến tá túc tại nhà ông Mã Tuyên nhưng hầu như không biết gì về nhân thân ông. Mặt mũi, gia cảnh và số phần của ông ra sao? Ông Mã Tuyên đã kể lại giờ phút rồng đến nhà tôm như sau:

– Khi đó độ 5 giờ chiều, tôi và gia đình đang nghe tin tức radio tại nhà thì chuông điện thoại reo. Tôi bắt máy, đầu giây xưng là ông Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn ngỏ ý muốn gặp tôi gấp tại trụ sở Thanh Niên Cộng Hòa quận 5 (khi trước, đây là khu cờ bạc Đại Thế Giới của tướng Bẩy Viễn, cầm đầu lực lượng vũ trang Bình Xuyên). Tôi bảo tài xế đánh xe chạy đến đó, chờ đến 6 giờ 30 thì ông Đô trưởng mới đến và ông ta nói với tôi là: ” Tổng thống muốn đến nhà Nị lánh nạn “, tôi nhận lời ngay và đi về nhà chuẩn bị. Khoảng 7 giờ 30, hai xe Citroen chạy đến nhà tôi (số 34 đường Đốc Phủ Thoại) với tổng cộng 8 người gồm Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu cùng các ông Đỗ Thọ, ông Đô trưởng và 4 nhân viên bảo vệ.

Ông Mã Tuyên cho biết, nghỉ ngơi tại nhà ông cho đến sau nửa đêm thì Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa cho ông một số giấy tờ và nhờ ông đốt đi. Tổng thống nhờ ông canh chừng máy điện thoại dưới nhà và Tổng thống liên tục sử dụng điện thoại trên lầu để gọi đi nhiều nơi và cả các nơi khác gọi đến cho Tổng thống nữa (nhà ông Mã Tuyên cả thẩy là 3 căn phố liền nhau gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu. Ông gắn điện thoại trong các tầng lầu). Chuông điện thoại reo liên tiếp từ nửa đêm cho đến sáng. Tổng thống xuống tầng trệt khi trời đã sáng khi đó tiếng súng chỉ còn nổ thưa thớt trong đô thành, ông nhìn sắc diện của Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thấy tình thế đã trở nên tuyệt vọng.

Tổng thống cho ông Mã Tuyên biết Lữ Đoàn Phòng Vệ (bảo vệ Dinh Gia Long) đã ngưng tiếng súng rồi và ông Mã Tuyên kể thêm, cả hai ông Diệm, Nhu ngồi cầu nguyện sau đó dùng điểm tâm món bánh bao, xíu mại và uống cà phê chung với ông. Tổng thống hỏi ông Mã Tuyên về nhà thờ lớn nhất vùng Chợ Lớn ở gần đấy là nhà thờ Phanxico (mà thường được gọi là nhà thờ cha Tam) và cho biết hai anh em ông sẽ đến thánh đường đó. Sau khi Tổng thống và ông Cố vấn thay y phục khác xong thì Tổng thống Diệm bảo ông Mã Tuyên đừng lái xe và cũng đừng đi theo không lợi. Ông Mã Tuyên đã gọi người tài xế của mình, lái chiếc xe Traction mầu đen (thường đưa đón các con ông đi học) chở Tổng thống, ông Cố vấn cùng người tùy viên Đỗ Thọ đến nhà thờ cha Tam. Những diễn biến kế tiếp ở nhà thờ cha Tam thì báo chí đã đăng đầy nên PTV không kể.

5 ngày sau đó, ông Mã Tuyên bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNHCM) bắt giam trong 3 năm. Tài sản của ông bị chính quyền tịch thu và đem bán đấu giá nhưng các đồng hương (Việt gốc Hoa) mua lại được (trong các cuộc đấu giá) và hoàn trả lại cho gia đình ông.

Nhiều nguồn tin đã nói là tư gia của ông Mã Tuyên là một hang ổ của băng đảng Việt Cộng và đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu. Xin trích: ” Hai ông Diệm-Nhu lại phạm vào một lỗi lầm ngoại giao to lớn là khước từ sự giúp đỡ về an ninh của Đại sứ Mỹ Cabot Lodge, chạy vào nhà ông Mã Tuyên mà đây từng là trung tâm liên lạc xưa nay của ông Ngô Đình Nhu với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Không phải cuộc binh biến ngày 01 tháng 11 năm 1963 đã đưa đến cuộc thảm sát hai ông, mà chính quyết định liều lĩnh này, đã làm cho hai ông gánh lấy thảm hoạ! Sao lại đi đến một trung tâm liên lạc với Cộng Sản mà Mỹ đã biết từ lâu rồi! ” (Hồi ký của cựu trung tướng Tôn Thất Đính).

Việc Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu đến nhà ông Mã Tuyên có người đã đặt nghi vấn là hai anh em ông Diệm-Nhu định nhờ ông nầy bắt liên lạc với MTGPMN để nhờ họ đưa vào mật khu như kiểu họ suy diễn từ trường hợp Trung tá Vương Văn Đông sau cuộc đảo chánh bất thành ngày 11 tháng 11 năm 1960 đã nói: Ông ta (Vương Văn Đông) nhờ MTGPMN giúp đưa qua Cam Bốt. Trong số những người đi theo ông Vương Văn Đông khi đó có cả Phan Lạc Tuyên (tác giả bài thơ được phổ thành bài hát Chiếc Đò Vĩ Tuyến), thi sĩ Thủy Thủ-Thái Trần Trọng Nghĩa (sau đó không lâu, thi sĩ Thủy Thủ tự sát trong mật khu của MTGPMN).

Nếu cho là nhà ông Mã Tuyên là một cơ sở của băng đảng Việt Cộng thì tại sao chúng lại bắt ông khi vừa chiếm được miền Nam VNCH sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lần đầu chúng giam ông 4 tháng rồi tạm tha nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chúng đã bắt ông lần nữa và ở lần bắt thứ hai, băng đảng Việt Cộng đã giam ông tới 4 năm tù.

Chỉ vì cho Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu tá túc qua một đêm tại nhà mà ông Mã Tuyên đã bị giam tù trong 3 lần tổng cộng trên 7 năm. Cả hai chính quyền tại miền Nam VN (sau ngày 01 tháng 11 năm 1963 và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975) đều bắt và tra hỏi ông Mã Tuyên về… Cái Đêm Hôm Ấy (mượn tựa một bài viết của nhà văn quá cố Phùng Gia Lộc) xẩy ra trong nhà. Tại sao Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu lại đến tá túc ở nhà ông mà không phải nhà người nào khác? Có bí mật gì bên trong hay hai anh em Tổng thống không còn tin cậy một chút nào đối với người Việt?

Băng đảng Việt Cộng cũng tịch thu cả 3 căn nhà của ông Mã Tuyên (ông Mã Tuyên có tới… 3 người vợ và 13 người con theo lời kể của con gái ông là Mã Huệ Phương).

Nghe truyền khẩu rằng ông Mã Tuyên đã không than van một lời nào về những tai ương đổ xuống gia đình và bản thân ông sau cái đêm định mệnh 01 tháng 11 năm 1963 đó. Năm 1983, ông Mã Tuyên và gia đình chính thức rời Việt Nam đi định cư tại Đài Bắc-Taiwan rồi đến tháng 2 năm 1992 thì ông Mã Tuyên cùng một phần gia đình đã về lại Việt Nam (vùng Chợ Lớn) và qua đời trong tháng 9 năm 1994.

Đã định cư tại Taiwan rồi nhưng ông còn chọn trở về lại Việt Nam và khi chết, dặn dò người nhà chôn cất tại nhị tì Triều Châu ở vùng Biên Hoà.

Có người nói ngay trong Sấm Trạng (Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm) cũng có tiết lộ về miền Bắc VNDCCH (thời ông Hồ Chí Minh) và miền Nam VNCH (thời tổng thống Ngô Đình Diệm), PTV xin kể ra đây cho vui: Câu sấm đó là: Ta hồ vô phụ vô quân/Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành và được họ giải thích: Ta (bộ Khẩu) than ôi; Hồ (bộ Sĩ) họ Hồ; Vô (bộ Hỏa) không có; Phụ (bộ Phụ) cha; Quân (bộ Khẩu) vua; Đào (bộ Mộc) cây đào; Viên (bộ Vi) vườn; Tán (bộ Phác) tan rã; Lạc (bộ Mộc) vui vẻ; Ngô (bộ Khẩu) họ Ngô; dân (bộ Thị) nhân dân; Thủ (bộ Miên) trông nom-gìn giữ; Thành (bộ Miên) kho chứa sách của vua hoặc (bộ Ngôn) sự chân thật và có 2 cách giải thích:

1/ Than ôi! bọn Hồ (chỉ băng đảng Việt Cộng) xã hội Việt Nam không còn cha (vì bị cảnh đấu tố, vì thoát ly khỏi gia đình theo Cộng Sản nên không nhận gốc gác xuất thân); không còn vua (vua Bảo Đại thoái vị cũng do bọn này) gây cảnh gia đình ly tán, bạn bè ngoảnh mặt không nhìn nhau. Nói rộng là tiên tri về chế độ miền Bắc VNDCCH do băng đảng Việt Cộng cai trị. Và, đào viên (từ tích 3 anh em Lưu-Quan-Trương kết nghĩa trong thời Tam Quốc bên nước Tàu) tán lạc; Ngô dân (người họ Ngô) thủ thành, giữ được phong hóa (kho sách, sự chân thật)) tức Đệ Nhất Cộng Hòa (miền Nam VNCH).

2/ Than ôi! bọn Hồ cai trị làm đảo lộn phong hóa nước Việt (Ta hồ vô đạo vô quân) -Người họ Ngô bị vây hãm (thủ thành), anh em tan rã (3 anh em tổng thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu-Ngô Đình Cẩn bị giết, (anh) giám mục Ngô Đình Thục và em Ngô Đình Luyện phải lưu vong).

Câu Sấm viết bằng tiếng Việt nên không rõ sẽ như thế nào (khác nghĩa) trong bản chữ Nho (Tàu) và vì không chấm không viết hoa (lối chữ Tàu) nên tùy người diễn dịch. Thiển ý của PTV là thật rất khó hiểu được ý nghĩa thực của câu Sấm. Phải là người có căn cơ (nói theo bên đạo Phật) mới lĩnh hội được điều tiên tri (vị lai) của câu Sấm.

Lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm xong, tướng Dương Văn Minh bỏ luôn luật 10-59 (đặt băng đảng Việt Cộng ra khỏi vòng pháp luật) và dẹp quốc sách Ấp Chiến Lược; là 2 điều mà tay sai băng đảng Việt Cộng (bọn nằm vùng) rất sợ. Khi chính quyền miền Nam VNCH dồn dân quê vào sống trong các ấp chiến lược (có hàng rào kẽm gai bao bọc chung quanh, cổng ra-vào ấp được nghĩa quân miền Nam VNCH kiểm soát), dân lành buổi sáng sớm khi đi ra khỏi cổng ấp chiến lược (làm ruộng, bắt cá…) thì mỗi người chỉ mang theo được chút ít phần ăn trong ngày (cho bản thân) nên chỉ trong thời gian ngắn, đám nằm vùng sống lẩn lút ở ngoài rừng-núi, khu vực đồng trống… không còn nguồn tiếp tế của người dân nên đành phải ra hồi chánh hoặc nếu chúng liều lĩnh đến gần các ấp, để tìm cách móc nối (với dân lành) đã bị nghĩa quân miền Nam phục kích diệt hoặc bắt gọn.

Thời gian tạm dung tại trại tị nạn Galang-Indonesia, PTV đã được nghe một cụ già đọc cho nghe một bài toàn chữ T (đứng đầu) về cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, tiếc đã quá lâu và không kịp ghi lại nên chỉ nhớ được các đoạn như sau: tuân theo toan tính từ Thái Thú, tụi tướng tá tối trí, thiếu tri thức thêm thích tiền, tơ tưởng thăng tước, tụ tập trong thành Tổng Tham, tung thủ túc tấn trận. Tổng thống thấy tình thế tối tăm, tạm trốn tại tư thất Tàu. Tính tới, tính thoái, thấy tẩu thoát thật tuyệt toàn. Tổng thống thông tin tới tụi tướng, thương thảo tùy thế thời thế thế. Ta thán… thôi thế thì thôi, thủ túc tụi tặc tướng tới thẳng thánh thất Thập tự tóm trói Tổng thống, tống trong thiết tăng tích tắc triệt tiêu thân thể thật thảm thiết…

Năm 1982, tại miền Nam VN, băng đảng Việt Cộng ra lệnh cải táng toàn bộ nghĩa trang trong nội đô Sài Gòn và định một thời hạn để các thân nhân lo liệu. Sau đó, những phần mộ còn lại thì sẽ bị giải quyết bằng cách hỏa thiêu. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cũng chung trong lệnh này. Phần mộ 3 anh em Tổng thống (Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn) được cải táng đưa về nghĩa địa Gò Dưa-Lái Thiêu thuộc tỉnh Bình Dương. Người đứng ra bỏ tiền (25.000 $US) chi phí cho việc cải táng là ông Nguyễn Thanh Hoàng, chủ bút báo Văn Nghệ Tiền Phong chứ không phải từ bà con trong dòng tộc Ngô Đình hoặc giáo dân xứ đạo Công Giáo Hố Nai như lời dân gian đồn đãi.

Vùng đất nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi (còn có tên gọi khác là Đất Thánh Tây) là một thế đất tốt vì nhiều phần mộ khi nhà hiếu cho cải táng, thấy thi thể trong áo quan vẫn còn nguyên chưa tiêu hủy. Đám âm công làm việc cải táng tại đây cho biết đất trong nghĩa địa thuộc loại đất ngũ sắc (khi cuốc từng lát đất, cầm lên xem tay xem, thấy lấp lánh các màu đỏ-xanh-lam-trắng…). Nhưng có người cho là tại đây, do địa thế đất cao (so với chung quanh) và có thể do các từ trường trong đất, nguồn điện thiên nhiên qua lại… nên đã bảo vệ các thi hài được như vậy. Không biết người Pháp khi chọn nơi đây làm nghĩa địa, họ có biết về thuật phong thủy? Phần mộ của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng vậy, thi thể đã khô và khi đám âm công làm việc, đại diện băng đảng Việt Cộng có mặt tại chỗ và cho quay phim (Không biết để làm gì? Có người bảo làm vậy là chiều theo hiếu kỳ của gã lãnh tụ Hà Nội nào đó muốn biết). Người chủ trương, quyết liệt (làm cho bằng được, bất chấp lời khuyên của các gã đồng bọn) cho lệnh giải tỏa các nghĩa địa trong thời điểm đó chính là Mai Chí Thọ (đại tướng công an-băng đảng Việt Cộng và là em ruột của các gã Lê Đức Thọ, Đinh Đức Thiện) và Mười Hương (còn có tên là Trần Quốc Hương) cựu trùm an ninh T4 (nội đô Sài Gòn thời còn chính quyền miền Nam VNCH). Lý do cho việc giải tỏa các nghĩa địa, Mai Chí Thọ viện dẫn cần đất làm công viên cho thiếu nhi, vệ sinh môi trường… nhưng thực tế ai cũng biết đây là một hành động trả thù (với cả những người đã chết), vô cùng thất nhân tâm của y.

Cũng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có những người vì tên họ là Ngô Đình… mà đã phải khổ sở với băng đảng Việt Cộng khi chúng cho rằng; người đó: ắt phải có dây mơ-rễ má với Ngô Đình Diệm.

Phạm Thắng Vũ
Ngày 04 tháng 11 năm 2017.

 

 

BUỔI ĐI DẮT THEO BUỔI NHỚ

 

chiều xưa lên đồi Trọc thả Diều
bếp nhà xóm quê tản mạn khói
diều gió đang no réo bụng đói
mùi cá Cơm rang chờ nồi cơm

đồi nương gió mát buổi chiều hôm
khói bếp nhà ai chơi chi nghiệt
ngó nhau không nói mà tình thiệt
là thiệt tình bụng đói réo cơm

chuyện xưa giờ tự nhiên nhắc nhớ
ở một nơi xa rất đỗi gần
Diều xưa nương gió bay cao ngất
chỉ còn hai đứa vời trông theo

nhắc nhẹ nhàng thôi là nhắc khéo
mẻ cá Cơm rang làng xóm xưa
em có mặn mòi thêm chi nữa
để tôi còn kịp bỏ trong Thơ

cám cảnh mùa thả Diều ngày đó
chiều quê kỷ niệm rải nhớ hoài
giờ muộn dòng trôi đời thương hải
nhắc lại cho vơi bớt nhớ nhà

bao chuyện xóm quê nhiều không ngạ
Diều căng đứt chỉ phủ chiều đời
may còn mang được hồn sương khói
sương khói gì đâu!. Chỉ thơ văn….

muốn viết thêm mà thôi đủ ngấn
không chừng viết nữa lại buồn lan….

viết dưới hiên trăng

Trần Huy Sao

tâm khúc

 

 

 

thuở áo thu vàng

thuở áo thu vàng chưa gối mộng
phố xưa đã vắng nụ cười hiền
bến xưa đã vắng con đò nhỏ
chênh chếch đường khuya trăng vô biên

 

 tưởng đâu…

tưởng đâu là mộng hồn nhiên
vô tư đậu xuống một miền cỏ hoa
té ra là cõi ta bà
lung linh chỉ một sát na hiện tồn

 

tìm lá diêu bông

(tưởng nhớ nhà thơ HC)

lắng nghe
một tiếng gà trưa
buồn
như cái thuở
chị chưa lấy chồng
làm gì có
lá diêu bông
một đời em
đã cất công đi tìm
đồng chiều
đã nát con tim
lá ơi là lá
trôn kim gãy rồi

 

mưa nắng giữa đời

 chỉ là một chút trời xanh
chỉ là câu hát dỗ dành, à ơi
chung chiêng mưa nắng giữa đời
buồn vui gửi lại ở nơi giang đầu

 

có một đời sông

nẻo buồn khép bóng tà dương
một đời sông cũng đã tường biển dâu
rưng rưng nước chảy qua cầu
chợt nghe sương khói ngàn sau tìm về

 

NP phan