TÌM LẠI

.
Khói đốt đồng chiều…
Người xưa cay mắt!
Mùa vẫn xưa!
Em có biết người về?
Tìm lại một khoảng trời
Khoảng trời ký ức
.
Ai? Đánh thức giấc mơ tôi một thời
Một thời tôi cố quên!
Một thời tôi có em
“Một thời để yêu và một thời để chết” [*]
.
Tôi đi tìm em
Chỉ thấy tôi riêng!
Chiều hấp hối bên bờ kinh nắng quái
Tiếng kêu chiều chim vịt cứa lòng quê!
.
Đã ra đi!
Sao lại về?
Để con nước xô bờ!
Để lặng lờ hoa tím!
.
Cổ độ!
Sông ráng chiều khói tỏa
Một bóng người thấy bao nỗi tàn phai!
Đời mong manh!
Tình mong manh!
Đâu đây tiếng gió thở dài
Nghe trong hồn tiếng sương rơi lạnh!
.
Tiếng bần rụng
Tiếng hò ơi
Tiếng thời gian
Tóc bạc màu ai
Tím biếc cõi lòng người lữ thứ!
.
Bến sông vắng
Tiếng kêu sương vạc khổ!
Mơ một thời!
Mờ theo sóng… trôi…trôi!
………
[*] Tên quyển tiểu thuyết của Erich Maria Remarque
.
Nguyên Lạc

Lục Bát Uyên Nguyên

​Trời không chớp biển với mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn…
(Trần Tế Xương)

1,
Trăng chìm. Quạ khóc. Trời sương
Câu thơ âm hưởng Thịnh Đường bỗng hay!
Ngó trời…tráng sĩ buông tay
Quê Hương thôi đến nỗi này…buông xuôi!

2,
Tóc người ta, tóc có đuôi
Em cầm lược chải, em cười dễ thương!
Một mai rồi thiên nhất phuơng
Nhớ đuôi mái tóc mưa nguồn bão sông…

3,
Đường đi…đi sẽ tới cùng
Gian nan ngó lại: mấy vòng gian nan?
Mấy vòng một cổ Việt Nam
Thân không máu chảy, súng cầm bắn ai?

4,
Không còn Đất Nước chia hai
Cây cầu Bến Hải hết dài thiên thu!
Từ nay bạn cũng như thù
Phất cao chỉ một lá cờ một sao!

5,
Hợp hòa, hòa hợp, tào lao
Một Tào Tháo đuổi mày tao chạy dài
Chạy đi! Chạy nữa! Chạy hoài
Chạy cho đến tận cuối trời chân mây!

6,
Buồn buồn lấy bút cầm tay
Nối đuôi lục bát cũng đầy trang thơ!
Ôi đuôi con mắt đừng chờ
Bài thơ đoạn cuối chỉ mờ mắt em…

Trần Vấn Lệ

VĨNH BIỆT “PHÂY-BÚC”

Thằng con trai 28 tuổi ế chỏng ế chơ của tôi một hôm bỗng tuyên bố giữa bữa cơm:
– Chủ nhật này con đưa bạn gái con về giới thiệu với ba mẹ được không?
Vợ tôi tròn mắt:
– Con? Có bạn gái?
Thằng khỉ làm bộ mặt nghiêm nghị:
– Mẹ làm gì vậy? Tại con chưa muốn thôi, chứ muốn là… 30 giây! Xếp hàng cả đống!
– Thì con cứ đưa về đi – tôi có ý kiến – Nhà mình thoải mái!
Vợ tôi lườm tôi:
– Thoải mái gì? Không phải ai muốn vô nhà này cũng được đâu! Bạn trước đã! Thấy được rồi mới muốn gì muốn nha!

Thằng con tôi cười hehe:
– Không phải được mà là quá được! Mẹ thấy là chịu liền cho coi! Công dung ngôn hạnh đầy!
– Nó tên gì? Mấy tuổi? Làm gì? – vợ tôi thăm dò.
– Dạ tên Trang, 24 tuổi, làm phòng kế toán cùng công ty với con.
– Vậy là tuổi con ngựa?
– Dạ.
Vợ tôi tính trong 10 giây:
– Dần với Ngọ… Nằm trong “tam hợp”. Cũng hợp với mẹ luôn. Được!
– Em thiệt tình! – tôi nhăn nhó – Giờ này mà cứ mê tín! Thử nó mê đứa nào “tứ hành xung” coi em có cản được không?
– Sao không? – vợ tôi trừng mắt – Không phải vụ tuổi nhưng phải có chuẩn đàng hoàng chứ! Nhà này không có chuyện con đặt đâu cha mẹ ngồi đó đâu!
Con tôi tỉnh bơ:
– Con bảo đảm mẹ thấy là chịu liền mà!
Đến lượt tôi sực nhớ:
– Con nói nó tên Trang?
– Dạ. Sao ba?
– Trời! Ba lo nhứt chuyện này, sao lại dính đúng luôn vậy?
– Gì vậy anh? – vợ tôi hỏi.
Tôi thở dài:
– Thì thằng con mình tên Nghĩa! Tên hai đứa gộp lại…
Con tôi ngoác miệng cười:
– Nghĩa Trang! Hehe! Tụi bạn con chọc rồi! Càng vui! Đích đến cuối cùng của mọi người mà!
Rồi nó nghiêm lại, chốt hạ:
– Vậy trưa chủ nhật nha ba mẹ! Trang sẽ đi chợ rồi tới đây sớm để phụ làm cơm với mẹ…

——–

Mới chín giờ sáng chủ nhật, Trang chạy xe máy tới, phía trước vừa treo vừa chất mấy bịch hàng mới mua ở siêu thị. Tiêu chuẩn “công” và “dung” có vẻ đúng. Con nhỏ mặt mày dễ coi, sáng sủa, tướng tá gọn gàng, ăn mặc lịch sự. Đi chợ nhanh nhẹn thế kia, chắc là chuyện thường làm. Nó vui vẻ chào tôi và vợ tôi rồi ào ào xách đồ vào nhà và bất chợt… rú lên:
– Trời! Đẹp quá!
Thì ra đó là cái bình hoa vợ tôi lo đi mua cắm từ sáng sớm để trên bàn ăn để chuẩn bị tiếp khách đặc biệt. Trang móc ngay điện thoại, chụp hình lia lịa, rồi nhí nhoáy bấm tới bấm lui một lúc mới cười khì:
– Xong!
Nó bắt đầu bày biện các thứ vừa mua đầy mặt bàn trong bếp. Vợ tôi mon men tới gần, bị nó mời:
– Bác để con làm đi! Có gì thì anh Nghĩa phụ. Con làm hai món thôi, nhanh lắm! Bún chả giò, xúp mì ngôi sao nấu thịt bằm. Bảo đảm ngon, no!
– Để bác rửa rau cho? – vợ tôi rụt rè.
– Dạ không!
Sau lời tuyên bố chắc nịch, Trang nhào qua rửa rau. Nó vặn một chậu nước đầy, thảy rau vô và cứ vừa xả nước ào ào vừa kỳ cọ từng cọng rau. Tôi biết chắc bà vợ mình đang xót cho cái đồng hồ nước đang quay kim vèo vèo nhưng rất lạ là bà lại im ru, làm như đang bị khớp trước nàng dâu tương lai hậu hiện đại.
– Rửa rau dưới vòi nước đang chảy mới tốt nha bác! – Trang quay qua nói với vợ tôi, rồi mặc cho vòi nước chảy xối xả, nó lại móc điện thoại ra bấm bấm, vừa coi vừa chỉ đạo thằng con tôi làm này làm nọ, điều mà chưa bao giờ thằng khỉ làm cho mẹ.
Vợ tôi len lén đi tới nhìn vô cái điện thoại coi có gì trong đó. Trang cười:
– Con coi lại Gu-gồ chỉ làm chả giò cho chắc bác ơi!
Bữa ăn rồi cũng được dọn ra, bày biện đẹp mắt. Thằng Nghĩa mặt tươi rói xoa tay mời ba mẹ vào bàn. Vợ chồng tôi vừa cầm đũa thì Trang đưa tay cản lại:
– Hai bác chờ con xíu!
Nó lại cầm điện thoại chụp xạch xạch xạch, lại nhoay nhoáy bấm bấm một lúc. Vợ tôi không thể không thắc mắc:
– Con làm gì vậy?
– Dạ con pốt Phây-búc (*).
– Là cái gì?
– Dạ là mạng xã hội đó bác! Vui lắm! Con pốt cho các bạn biết con đang èn-choi trưa nay cho tụi nó thèm chơi. Đó, đó, tụi nó còm lia lịa rồi nè! – Trang đưa điện thoại qua cho Nghĩa coi. Thằng nhỏ vừa đọc vừa cười tủm tỉm.
– Hai bác lớn tuổi nên chơi Phây-búc cho đỡ buồn. Ngồi một chỗ trò chuyện, trao đổi thông tin, hình ảnh khắp thế giới với cùng lúc cả ngàn người bạn. Lại được thoải mái nói tâm trạng của mình, bình luận chuyện người khác, chém gió, chơi games, nghe nhạc, xem phim thoải mái… Cả gia đình, dòng họ ngồi một chỗ vẫn biết hết nhứt cử nhứt động của nhau. Anh Nghĩa! Sao anh không chỉ hai bác chơi Phây-búc vậy? – Trang cự Nghĩa.
– Sợ ba mẹ nói mất thời giờ! Ba mẹ hay la anh mỗi lần anh thức khuya để chat – Nghĩa nói.
– Trời, vậy mà còn không biết chỉ hai bác chơi! Ba má em cũng cự em, em chỉ xong là mỗi người ôm một cái điện thoại, hết la hehehe! Vui lắm hai bác ơi!

——–

Bạn bè tôi cũng chơi Phây-búc lâu nay, có rủ tôi nhưng tôi giấu dốt, làm bộ chê là trò vớ vẩn, mất thì giờ. Sau buổi gặp Trang, thằng Nghĩa bắt đầu hướng dẫn tôi vào cuộc. Từng bước một, tôi dần dần bị cuốn hút vào trò chơi mới. Cũng động chút là chụp hình, pốt, ghi sì-ta-tớt, like, còm… cả ngày.
Bạn bè đông dần, trong đó bạn ngoài đời càng ngày càng ít hơn bạn ảo. Các bạn ảo này mới là vui, vì chả quen biết gì, thậm chí cái tên cũng ảo, thí dụ Loài hoa bé dại, Ai thèm nhớ anh, Thiên thần mắc đọa, Cá mập chết đuối… Hầu hết không biết mặt mũi thế nào. Có người đưa con chim, bông hoa, cờ nước… làm ảnh đại diện. Kể cả họ có đưa ảnh chân dung thì cũng không có gì bảo đảm là thật. Bạn ảo thì khỏi úy kỵ, bình luận ào ào, khen chê chửi rủa vung vít. Nói chung dù là một thế giới ảo, Phây-búc đúng là vui ra phết, y lời con dâu tương lai đã nói, tha hồ tán dóc. Tôi còn thấy sở dĩ nó được thiên hạ khoái như điên vì còn là một phương tiện tự sướng vô địch về mặt tinh thần. Từ đó lúc nào tôi cũng kè kè cái điện thoại bên cạnh, đến mức đi ngủ cũng để một bên, thấy rung báo có tin là lại mở ra bấm bấm nhấn nhấn.
Vợ tôi nổi điên:
– Anh cười thằng Nghĩa con Trang rồi bây giờ còn lậm hơn tụi nó! Anh vừa phải thôi nha! Toàn trò chuyện với mấy đứa con gái thôi phải không?
– Con gái đâu mà con gái! – tôi chống chế.
– Hôm nọ anh nằm bấm, tôi nhìn thấy rồi! Toàn hình con gái! Mê quá há! Anh coi chừng tôi, lộn xộn tôi cho anh lên đường ngay tức khắc!
Khi vợ xưng “tôi” là biết có chuyện rồi! Tôi kêu trời:
– Không có đâu em ơi. Bạn ảo thôi, có gặp đâu! Chơi cho vui thôi mà! Em cũng chơi đi cho vui? Bạn của anh cũng là bạn của em – tôi đề nghị.
– Không! Tôi không có rảnh! Mà tưởng tôi ngu hả, mấy người tạo group riêng, có trời mới biết đang nói gì với nhau!
Tôi sửng sốt nhìn vợ. Sao nàng lại biết cả vụ này nữa trời? Vợ tôi như hiểu cái nhìn ấy, cười:
– Vợ anh không ngu đâu nha! Coi chừng đó! Bạn gái ảo thôi phải không? Nhất định không gặp phải không?
– Đúng rồi! Em tin anh đi! – Tôi nói chắc như bắp.
———

Bất ngờ có một cô gái với gương mặt đẹp như mơ và cái tên cũng quá thơ mộng – Giọt nắng bên thềm – xuất hiện xin làm bạn với tôi, cùng dòng nhắn tin: “Qua bạn bè, em rất thích những lời bình của anh. Xin anh cho em được làm bạn. Có thêm một người bạn tốt, cảm thông, chia sẻ, cuộc sống của mình sẽ nhẹ nhàng hơn”. Trời, hay như vậy làm sao tôi từ chối?

Giọt nắng bên thềm tỏ ra là một cô gái rất thông minh, tinh tế, đặc biệt qua những câu chat riêng tỏ ra rất hiểu tôi. Em nói mới 30 nhưng đã một lần dang dở. Em nói mới chơi Phây nên rất ngại việc phơi bày rộng rãi cảm xúc riêng tư. Không hiểu sao em lại tin tôi và rất thích trò chuyện với tôi, nên xin được tạo group riêng hai người. Thấy không hại gì, tôi… nhận lời. Từ đó thỉnh thoảng tôi lại được xem những tâm trạng buồn vui của Giọt nắng , những tấm hình Giọt nắng thật đẹp trong những bộ quần áo thời trang, kể cả bikini gợi cảm trên bãi biển… Tôi bắt đầu chat thường xuyên với Giọt nắng , điều lạ là em chỉ chat vào ban ngày, lúc tôi đi làm. Em xin lỗi tôi, nói là ban đêm không tiện, sẽ giải thích với tôi sau. Càng ngày em càng tỏ ra có tình cảm với tôi, hôm nào em không lên Phây, tôi cũng thấy thiêu thiếu, nhơ nhớ.

Một hôm bất ngờ em nhắn: “Chắc em không chơi Phây nữa, hoặc sẽ bỏ group của mình và lock anh luôn. Em nghĩ đến anh nhiều quá! Mà anh thì đã có gia đình… Em rất ngại… ”. Tôi hốt hoảng: “Đừng em! Không sao đâu, không có chuyện gì đâu. Mình chỉ là bạn trên Phây thôi mà…”. “Nhưng em cứ nghĩ đến anh và muốn gặp anh. Em không thích chỉ làm bạn ảo của anh. Anh có cho em gặp không? Em muốn mời anh ăn sáng uống cà phê, từ nay mình sẽ trò chuyện ngoài đời thỏa thích với nhau…”.
Bạn nghĩ tôi có thể từ chối lời mời ấy được không?

Và tại quán cà phê Chiều tà thơ mộng, tôi đã gặp Giọt nắng bên thềm. Đó chính là… vợ tôi!

Hix! Với sự hướng dẫn tích cực của cô dâu tương lai tuổi Ngọ, nàng đã sử dụng Phây-búc thành thạo và cho tôi một vố nhớ đời…
Vĩnh biệt Phây-búc!

NGUYỄN ĐÔNG THỨC

GỌI

Gọi người từ phía hoàng hôn
nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng
quên thề trăm năm…)

Tôn Nữ Thu Dung

TÌNH QUÊ CỐ QUẬN

Tặng Bạn Trời Quê

Đi đâu rồi cũng quay về
Chân trời Cố Quận Tình Quê mặn nồng
Yêu sao đáng núi lòng sông
Mùa thơm hương lúa cánh đồng tuổi thơ
Sao quên mắt mẹ trông chờ
Tiếng cười san sẻ bạn xưa ấm nồng
Dẫu phiêu bạt cánh mây bồng
Hồn ta tựa bóng trăng lồng trời quê!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Một người Nha Trang


(Ảnh sưu tầm trên mạng)

Một cách gần gũi, người ta gọi đó là Lầu Ông Tư, để chỉ ngôi nhà ba tầng lầu kiến trúc hình hộp giản dị nằm cuối con đường biển, gần giáp với cửa sông, bốn mặt thông thoáng lộng gió. Nhà ông ở đầu Xóm Cồn, bên kia sông là Xóm Bóng, nơi những ngư dân đầu tiên của vùng đất này ngụ cư bám biển sinh nhai. Ngôi nhà đã sừng sững nơi đây từ đầu thế kỷ 20, khi mà suốt dọc con đường biển còn hoang sơ này chưa hề có bóng lưu dân mà chỉ có rải rác những dinh thự, tu viện, tòa hành chính…
Khi tôi lớn lên thì Lầu Ông Tư vẫn còn nguyên hiện trạng, mỗi lần đi ngang tôi đều được nghe cha nhắc, ngày xưa đó là nơi ở của ông Tư Yersin, nhà bác học người Pháp gốc Thụy Sĩ. Rồi biết thêm, chính là cái ông pho tượng màu đen trong khuôn viên viện Pasteur cách đó không xa. Theo thuyền viễn xứ vị bác sĩ quân y trẻ đặt chân đến vùng biển hiền hòa này từ năm 1891 khi nó còn chưa có tên trên bản đồ, ông đã một mình sống ở đây như dân bản xứ gần hai phần ba đời người hiến thân cho khoa học, đi đâu cũng quay về lại. Sáng sớm tắm biển rồi đi làm, chiều đạp xe vô trong xóm chơi, ăn con cá sinh ra từ đại dương trước mặt, uống nước giếng từ mạch ngầm, hít thở khí trời hào sảng chung quanh. Một người khi lìa đời để lại di nguyện gởi thân xác nơi nào ắt nơi đó cũng sâu đậm không kém quê hương của mình, thậm chí còn xin được đặt úp sấp vào lòng đất, tay dang rộng. Cha kể, đám tang của ông năm 1943 dân Nha Trang đổ ra bái biệt chật đường, nhiều vành khăn tang tự nguyện, cùng nhau đưa ông về an nghỉ vĩnh viễn trên một ngọn đồi nhỏ ở Suối Dầu. Suối Dầu cách Nha Trang 20km, là nơi ông lập trang trại, phòng thí nghiệm, vừa chăn nuôi lấy huyết thanh, trồng cây thuốc.
Lầu Ông Tư trong ký ức của một đứa trẻ ngày ấy chính là huyền thoại. Đi đâu làm gì hay chỉ đơn giản là cần một cái mốc để xác định phương hướng thì người ta hay nói, chỗ Lầu Ông Tư, phía Lầu Ông Tư, sau Lầu Ông Tư … Các cặp tình nhân của thập niên 50 còn lấy Lầu Ông Tư làm nơi hò hẹn, bởi nơi đó ban đêm trống trải không người ở, lại cao ráo thoáng mát nhìn ra biển rất hữu tình. Sau năm 75 thì Lầu Ông Tư đã bị đập bỏ, thay vào đó là một kiến trúc mới tương đối bề thế hơn làm nhà nghỉ cho Bộ Nội vụ. Vừa thay vỏ vừa thay ruột, nhưng hỏi dân địa phương thì mười người hết chín chẳng biết cái nhà nghỉ nào cả, chỉ biết chỗ đó là Lầu Ông Tư mà thôi. Một trong những con đường đẹp nhất ở Nha Trang được mang tên ông từ thập niên 50 như một sự tri ân, may mắn số phận đã giữ lại được tên bậc vĩ nhân cho nó chớ không âm thầm biến mất như các tên đường Gia Long, Duy Tân, Hàm Nghi…
Một ngày của hơn mười năm trước, tôi và bạn lần đầu tìm đường về thăm mộ người. Từ quốc lộ 1 đi theo con đường đất hẹp rợp bóng cây vài trăm mét rồi ôm theo vòng đồi thấp là tới khu vực ông an nghỉ. Sau cánh cổng sắt khép kín và dãy hàng rào kẽm gai giăng ngang lổn ngổn là một lối đi lát đá phủ đầy lá khô với những bậc cấp thấp dẫn lên phần mộ. Không có ai nơi này, bất đắc dĩ phải trèo rào đạp gai góc chui vô. Ai cũng cảm thấy sửng sốt trước mộ của một vĩ nhân tầm cỡ thế giới, người được nhân loại mang ơn bởi những phát minh làm thay đổi lịch sử y học vì nó quá sức giản dị và khiêm nhường. Khá thấp, vuông vức, trên mặt là phiến đá ghi đúng dòng chữ ALEXANDRE YERSIN 1863-1943, chỉ có vậy, không danh hiệu huy chương học hàm. Một cái thủ kỳ có di ảnh và bát nhang ở cạnh đó mang đậm phong tục thờ cúng của dân địa phương. Hoa sứ trắng thơm ngát và rụng đầy chung quanh. Khung cảnh thanh bình và tịch mịch, cô liêu quạnh quẽ.
Đứng ở nơi này có thể nhìn thấy Hòn Bà mây phủ phía xa xa, có độ cao hơn 1.300m, cách hơn 30 km đường mòn khúc khuỷu và hiểm trở. Ngày xưa khi đặt đại bản doanh ở vùng đất Suối Dầu này chắc không ít lần nhà bác học có máu thám hiểm Yersin nhíu mày nhìn về phương ấy. Có lẽ ông đã nghĩ đến một Đà Lạt thứ hai sau khi đã phát hiện ra viên ngọc tuyệt đẹp này trên cao nguyên Lang biang cho Việt Nam. Và dòng máu phiêu lưu trong ông lại tiếp tục lan chảy, thôi thúc người đi về phương ấy. Chắc chắn khi đó đường chưa mở, không phương tiện xe cơ giới, có lẽ người đã rong ruổi một mình một ngựa trèo đèo vượt suối …
Có bao nhiêu chuyến độc hành gian truân như vậy để đỉnh Hòn Bà ngày nay còn lưu lại bóng dáng của Người?
Tôi đã hình dung ra điều này khi cùng bạn đi lên đỉnh Hòn Bà sau khi vào mộ viếng ông. Cái con đường mòn ấy đi qua sông suối thác ghềnh, đèo dốc thung lũng, rừng rậm nguyên sinh, và cả sự đe dọa của thú dữ, tính từ Suối Dầu lên là dài hơn 30 cây số nay đã được san ủi mở rộng thành đường tráng nhựa trơn tru, sáng sủa. Nhưng có lẽ không khác ngày xưa, khi suốt chặng đường núi hiểm trở vắng vẻ vẫn bàng bạc cái không gian thanh tịnh, lắng đọng, càng lên cao càng mở toang ra phía trước ta một chân trời mới thật sự tinh khiết trong lành.
Trên đỉnh Hòn Bà, tôi đã lặng người khi ngắm nhìn và chạm tay vào những dấu vết mà người xưa đã để lại nơi đây. Biết rằng gần trăm năm trước, nhà bác học lãng mạn Yersin đã chọn nơi này để xây dựng cơ sở làm trạm quan sát nghiên cứu thiên văn khí tượng, và làm vườn sinh học. Nghe nói ông thường xuyên dong ngựa đi về Hòn Bà – Suối Dầu một mình, có khi ở lại trên núi hàng tuần, hàng tháng. Sự hiện diện đâu đây của con người vĩ đại này có thể dễ dàng hình dung ra qua những dấu xưa còn lại, một cái nền nhà bằng đá hoa cương và những bậc tam cấp dày rêu, bể chứa nước, tầng hầm… chớ không phải chỉ ở ngôi nhà gỗ phục chế theo tư liệu. Và có rất nhiều gió ngang qua đây, u u lồng lộng, buôn buốt lạnh, mang theo hương rừng, tiếng rừng, và cả hồn rừng mênh mông huyền bí. Đến tiếng ve, tiếng mang tác, tiếng vượn hú, tiếng chim ríu rít…nghe cũng lạ, cũng gieo vào ta lắm nỗi niềm như chạm người muôn năm cũ.
Giữa trưa đứng bóng vẫn có thể nhìn thấy những sợi mây đang sà xuống, là là bay ngang rất gần. Và sơn lam trắng mờ đang tỏa ra ôm ấp theo triền núi trước mặt, thực mà như mộng ảo. Không gian của núi rừng đã thâm u lại càng thêm kỳ bí, không một bóng người ngoài tôi và người bạn đi cùng, tiếng nói của mình cứ lan ra, lườn lượn là lạ rờn rợn.
Sao nhà bác học có thể sống ở đây một mình, qua từng đêm, từng đêm như vậy?
Nhà văn Patrick Deville viết, “Yersin là một con người đơn độc. Ông biết rằng không sự kỳ vĩ nào được thực hiện ở số nhiều. Ông căm ghét bè nhóm, ở đó hàm lượng trí tuệ tỉ lệ nghịch với số lượng thành viên tạo nên đám đông ấy. Thiên tài luôn đơn độc.”
Cảm ơn nhà bác học thiên tài đã chọn Nha Trang.
Tôi và bạn cũng chẳng ở lại trên đỉnh Hòn Bà quá nửa buổi, phải cùng nhau xuống núi. Người bạn của tôi không phải dân Nha Trang, nhưng trót yêu thương một phụ nữ Nha Trang mà suốt đời cảm tạ miền đất trời quê hương đã sinh dưỡng nàng. Tôi nghĩ, chỉ cần vậy thôi bạn ấy đã là một người rất Nha Trang hơn khá nhiều người nơi này như tôi đã biết.

ÁI DUY

CHIỀU ĐƯỜNG THI

“em gầy như liễu trong thơ cổ
anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”
…nguyên sa

anh cau có nhận ra điều tan vỡ
như cau xanh rồi xa lánh trầu không
như miếng vôi thôi dan díu môi nồng
anh khánh kiệt thật rồi…bao yêu dấu

chiều thinh khiết mùi thời gian hư ảo
anh dầm mình theo bóng nhớ em xa
câu Đường thì ngấm nỗi sắt se…và
anh đau đớn nhận ra Chiều-Có-Thật

không giấy trắng cũng chẳng cần bút mực
anh thả thơ lên khoảng lặng nghìn trùng
liệu có chữ nào rớt chỗ em không
anh hỏi vậy rồi băn khoăn:thôi kệ !

cuộc sống vốn xoay quanh nhiều trắc trở
nhiều bất ngờ không định dáng định tên
chiều Đường thi thích Lý Bạch ngông nghênh
thương đứt ruột cánh hạc vàng Thôi Hiệu

anh đang sống giữa kỷ nguyên ảo diệu
với bao điều “không thể”vẫn rõ bâng
chỉ thua một người.là em đấy.biết không
tình vốn vậy và lòng người vốn vậy

anh hơ tay lên chiếu vàng run rẩy
chiều Đường thi lay lắt thấu tâm can
buồn xốn xang trong cái nhớ hổn mang
câu thơ cũ sao nỗi tình rất mới

chiều-Đường-thi anh rùng mình khắc khoải !

LÊ HÁT SƠN

ƠI TÌNH… .

ơi mưa có hạt qua đâu
mà trong khóe cả mùa ngâu chực chờ
mưa nào phải đã bây giờ
mà cầu ô thước hiện mờ trong sương

**
cầu ô thước gãy uyên ương
ơi ngưu lang chức nữ tương tư hoài
để mây lặng lẽ đông đoài
hai phương trời mộng trong ngoài chiêm bao

**
hai phương trời mộng hư hao
bướm vàng bờ giậu đành ao ước tàn
ơi lan sao khép hương ngàn
chi cho điệp giấc ngủ làn mong manh

**
điệp bờ cỏ giấc thiên thanh
nghe chuông chiều gõ long lanh giọt buồn
nghe tiền kiếp gió ngọn luồn
ơi đông chưa giá buốt nguồn dường đang

**
ơi trăng khuya dải lang thang
tìm ngơ ngẩn dấu sáo sang ngang ngày
tìm ngơ ngẩn buổi lạc bầy
sóng dâng trắng khói đổ đầy biển dâu

**
sóng dâng trắng khói mắt sâu
môi từ ly
chợt thốt câu
ơi tình… .

PHẠM HIỀN MÂY

Người Đi Chưa Tới Ngày Xưa

Thưa em tình đã nhạt màu
Ta xin gói lại cất vào trong thơ
Đường chiều có gã cù bơ
Lang thang cù bất vu vơ cù lần

Tim gieo nhịp lẻ sai vần
Lạc tình xa lạc cả thân phận này
Ánh vàng lướt dọc chân mây
Cánh đồng xanh lỡ ngậm đầy hoàng hôn

Quay lưng chạm trán nỗi buồn
Xô buồn bất chợt buồn hơn bao giờ
Người đi chưa tới ngày xưa
Ngoảnh trông bóng xế còn đưa bóng tình

Dưới đèn chữ tợ hàng binh
Lòng như giấy rách còn vinh quang nào
Vun giồng ướm hạt ca dao
Đồng quê nay cũng lao xao một tuồng

Hụt chân bồi lở vịn nguồn
Gieo vui chờ gặt vãi buồn chờ khuây
Đêm đêm tình đứng trên tay
Mượn thơ vá chiếc áo ngày vàng xưa!

Lưu Xông Pha

Một lần với anh Hoài Khanh

Tưởng niệm thi sĩ Hoài Khanh, mất ngày 23/3/2016


thi sĩ Hoài Khanh

Tôi nhớ đó là vào những ngày hè cùa 10 năm trước. Bạn tôi, nhà thơ Tâm Nhiên từ Biên Hòa Đồng Nai mời anh Hoài Khanh về Rạch Giá chơi và thế là vài anh em văn nghệ có dịp hội ngộ tại nhà tôi. Rượu bày ra và say túy lúy. Nhà thơ Linh Phương (tác giả Kỷ vật cho em), nhà thơ Tâm Nhiên (du sỹ), nhà thơ Đỗ Ký (Đồng Tháp)… cùng đến chúc mừng chuyến hành phương tây của anh Hoài Khanh.
Lần đầu được diện kiến với bậc đàn anh văn nghệ nầy (Hoài Khanh là bạn thân của thi sĩ Bùi Giáng và nhà thơ Phạm Công Thiện… lúc anh còn phụ trách nhà xuất bản Lá Bối – Sài Gòn) và cũng là bạn thân của nhà thơ Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát… Chuyến về Rạch Giá, anh dự tính ra đảo Lại Sơn, nơi Tâm Nhiên đang dạy học, rong chơi vài ngày. Sức khỏe anh lúc nầy vẫn còn tốt, đôi mắt tinh anh, gương mặt tràn đầy niềm vui chứ không như thi sĩ Phạm Công Thiện diễn tả nét mặt của Thi sĩ Hoài Khanh đầy u ám và gần như là tuyệt vọng mà tôi đọc trong tập hồi ký PCT khi hai chàng gặp nhau ở Đà Lạt vào mùa xuân 1966.

Tính uống vài chai rồi sau đò về nhà Linh Phương chơi tiếp nhưng rồi hứng quá, mấy anh em ngồi xuống đất, cởi trần a lô zô suốt cả buổi chiều. Tôi nhớ những câu thơ thần sầu của anh Hoài Khanh đọc : tôi lẩn trốn vì biết mình không thể… mây của trời rồi gió sẽ mang đi… hay một mai con nước xa nguồn… thì con sông ấy sẽ buồn với tôi… hay tôi đứng lại bên cầu thương dĩ vãng… nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu. Anh cứ ngâm nga suốt chiều hôm ấy.
Anh Hoài Khanh tính điềm đạm, ít nói nhưng hay cười. Anh cảm động vì có nhiều anh em còn nhớ thơ anh. Nhà thơ Linh Phương ít uống rượu nhưng không hiểu sao hôm ấy cũng túy lúy với anh. Vui quá, anh Đỗ Ký lại mang đàn ra chơi. Xóm tôi dân lao động, thấy mấy ông nhà thơ say quắc cần câu, í a í ới vui quá nên tụ lại thành đám đông, vỗ tay rần rần. Và có dịp cho thi sĩ Tâm Nhiên đứng lên múa may quay cuồng du sĩ ca… giống hệt Bùi Giáng.
Sáng hôm sau, anh rủ tôi, Linh Phương và Đỗ Ký xuống tàu ra đảo Lại Sơn (cách Rạch Giá khoảng 50 hải lý) cùng với Tâm Nhiên. Lúc bây giờ là mùa hè, ngoài đảo khan hiếm nước ngọt. Mỗi người phải mang theo một can nước ngọt 20 lít xuống tàu để uống và rửa mặt, rất khó khăn. Con gái tôi sáng hôm ấy lại trở bệnh nên tôi không đi được cùng anh. Thật tiếc. Đưa anh xuống tàu, trên đường vào bệnh viện thăm con, tôi cứ tự trách mình… Nhưng biết làm sao được.
Từ hải đảo, Tâm Nhiên điện về cho tôi, báo tin anh Hoài Khanh ra chơi vui lắm. Du sĩ đưa anh rong chơi khắp đảo, non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình nên anh Hoài Khanh cứ tấm tắc và ước gì được nhiều lần đến đây. Nhưng cái khoảng nước ngọt thì gay… Mấy ngày không có nước ngọt tắm gội, khó chịu quá nên chỉ 2 hôm ra đảo là Hoài Khanh không chịu nổi, phải đành khăn gói về đất liền.
Tôi đón anh ở bến tàu Phú Quốc rồi sau đó cùng rủ vài anh em văn nghệ địa phương ngồi nhậu trước nhà Linh Phương. Anh im lặng, chỉ cười nên anh em hứng lên đòi anh đọc thơ cho nghe. Anh ngồi suy tư, đôi mắt đầy tâm trạng. Cuộc chơi đến khoảng 8 giờ tối. Anh rủ tôi cùng xuống khu lấn biển gần đó, hai anh em ngồi tâm sự.
Không bao giờ tôi quên được đêm ấy. Cũng nhắc là bấy giờ, tôi đang bị Hội văn nghệ địa phương đánh tơi tả về một sự cố văn nghệ, quy chụp về chính trị mà tôi và nhà thơ Linh Phương là nạn nhân (tôi sẽ không kể ra đây nhưng chỉ biết sau đó tôi và Linh Phương bị khai trừ ra khỏi Hội văn nghệ cho đến giờ).
Anh ít nói là thế, mà khi ngồi cùng tôi, anh bỗng nói nhiều, tôi không kịp ngắt lời. Như nắm được toàn bộ câu chuyện từ khi nào, anh tâm sự với tôi về anh, về những ngày gian khổ sau cải tạo ở Biên Hòa, nơi anh tự đặt tên mình là Hành Khoai (tức Hoài Khanh) – có nghĩa giờ chỉ còn biết cuốc đất, làm vườn, xa lánh thị phi, từ bỏ các hội đoàn, nếu còn viết thì chỉ cho mình đọc, không gửi bài cho bất cứ ai mà cũng không trông chờ vào lòng thương của người khác. Không hiểu anh muốn an ủi tôi không về sự cố không may trong đời nhưng tôi biết, anh muốn chia sẻ với tôi về sự việc đáng buồn của cuộc đời tôi.
Anh kể tôi nghe nhiều về đời anh, về thơ anh. Tôi hiểu và điều nầy không biết đúng không. Anh cô đơn quá, cô đơn hơn bất cứ nhà thơ nào (giờ tôi đọc lại Phạm Công Thiện viết về anh, mới hiểu điều ấy). Cô đơn đến tận những giấc mơ, như lời anh kể cho tôi và rồi anh kết luận: làm nhà thơ là phải đối diện với cô đơn… sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ đến từ cô đơn thôi, Phúc ạ…
Hai anh em ngồi nói chuyện cho đến 1 giờ khuya. Qua chuyện đời anh, tôi biết nỗi buồn mình chỉ như hạt cát và nguôi ngoai dần.
Biết tôi nghiện thuốc, hôm về Biên Hòa, anh mua tặng tôi cây thuốc hút. Tôi đưa anh vào nhà sách Đông Hồ gần đấy mua cuốn tuyển tập Những truyện ngắn hay của báo Tuổi trẻ có bài của tôi tặng anh. Mấy ngày sau, từ Biên Hòa, anh gửi tặng tôi cùng nhà thơ Linh Phương vài tập thơ của anh. Và từ đó, tôi không được gặp anh nữa. Tôi nhớ hoài gương mặt khắc khổ và mái tóc dài của anh lấp lánh đôi mắt thông minh từ chiếc mắt kiếng hầu như che trùm khuôn mặt.


Nhà văn Trần Yên Hòa bên giường bệnh thi sĩ Hoài Khanh

Những ngày anh sắp mất, đọc trên các số báo, biết tin nhà văn Trần Yên Hòa ở hải ngoại có về thăm anh. Nhìn hình chụp anh bệnh nằm trên giường mà tôi không cầm được nước mắt và càng trân quý tình cảm, tấm lòng của anh em bạn bè văn nghệ khắp nơi vẫn còn nghĩ về anh.
Giờ thì anh đã đi xa. Viết cho anh những dòng nầy như một tưởng niệm đẹp về người nghệ sĩ tài hoa nhưng đầy lận đận. Như một nén nhang thắp trên bàn thờ anh nhân 3 năm anh rời cõi tạm.
Thương anh, nhớ anh, anh Hoài Khanh ơi…

Nguyễn Minh Phúc