Một người Nha Trang


(Ảnh sưu tầm trên mạng)

Một cách gần gũi, người ta gọi đó là Lầu Ông Tư, để chỉ ngôi nhà ba tầng lầu kiến trúc hình hộp giản dị nằm cuối con đường biển, gần giáp với cửa sông, bốn mặt thông thoáng lộng gió. Nhà ông ở đầu Xóm Cồn, bên kia sông là Xóm Bóng, nơi những ngư dân đầu tiên của vùng đất này ngụ cư bám biển sinh nhai. Ngôi nhà đã sừng sững nơi đây từ đầu thế kỷ 20, khi mà suốt dọc con đường biển còn hoang sơ này chưa hề có bóng lưu dân mà chỉ có rải rác những dinh thự, tu viện, tòa hành chính…
Khi tôi lớn lên thì Lầu Ông Tư vẫn còn nguyên hiện trạng, mỗi lần đi ngang tôi đều được nghe cha nhắc, ngày xưa đó là nơi ở của ông Tư Yersin, nhà bác học người Pháp gốc Thụy Sĩ. Rồi biết thêm, chính là cái ông pho tượng màu đen trong khuôn viên viện Pasteur cách đó không xa. Theo thuyền viễn xứ vị bác sĩ quân y trẻ đặt chân đến vùng biển hiền hòa này từ năm 1891 khi nó còn chưa có tên trên bản đồ, ông đã một mình sống ở đây như dân bản xứ gần hai phần ba đời người hiến thân cho khoa học, đi đâu cũng quay về lại. Sáng sớm tắm biển rồi đi làm, chiều đạp xe vô trong xóm chơi, ăn con cá sinh ra từ đại dương trước mặt, uống nước giếng từ mạch ngầm, hít thở khí trời hào sảng chung quanh. Một người khi lìa đời để lại di nguyện gởi thân xác nơi nào ắt nơi đó cũng sâu đậm không kém quê hương của mình, thậm chí còn xin được đặt úp sấp vào lòng đất, tay dang rộng. Cha kể, đám tang của ông năm 1943 dân Nha Trang đổ ra bái biệt chật đường, nhiều vành khăn tang tự nguyện, cùng nhau đưa ông về an nghỉ vĩnh viễn trên một ngọn đồi nhỏ ở Suối Dầu. Suối Dầu cách Nha Trang 20km, là nơi ông lập trang trại, phòng thí nghiệm, vừa chăn nuôi lấy huyết thanh, trồng cây thuốc.
Lầu Ông Tư trong ký ức của một đứa trẻ ngày ấy chính là huyền thoại. Đi đâu làm gì hay chỉ đơn giản là cần một cái mốc để xác định phương hướng thì người ta hay nói, chỗ Lầu Ông Tư, phía Lầu Ông Tư, sau Lầu Ông Tư … Các cặp tình nhân của thập niên 50 còn lấy Lầu Ông Tư làm nơi hò hẹn, bởi nơi đó ban đêm trống trải không người ở, lại cao ráo thoáng mát nhìn ra biển rất hữu tình. Sau năm 75 thì Lầu Ông Tư đã bị đập bỏ, thay vào đó là một kiến trúc mới tương đối bề thế hơn làm nhà nghỉ cho Bộ Nội vụ. Vừa thay vỏ vừa thay ruột, nhưng hỏi dân địa phương thì mười người hết chín chẳng biết cái nhà nghỉ nào cả, chỉ biết chỗ đó là Lầu Ông Tư mà thôi. Một trong những con đường đẹp nhất ở Nha Trang được mang tên ông từ thập niên 50 như một sự tri ân, may mắn số phận đã giữ lại được tên bậc vĩ nhân cho nó chớ không âm thầm biến mất như các tên đường Gia Long, Duy Tân, Hàm Nghi…
Một ngày của hơn mười năm trước, tôi và bạn lần đầu tìm đường về thăm mộ người. Từ quốc lộ 1 đi theo con đường đất hẹp rợp bóng cây vài trăm mét rồi ôm theo vòng đồi thấp là tới khu vực ông an nghỉ. Sau cánh cổng sắt khép kín và dãy hàng rào kẽm gai giăng ngang lổn ngổn là một lối đi lát đá phủ đầy lá khô với những bậc cấp thấp dẫn lên phần mộ. Không có ai nơi này, bất đắc dĩ phải trèo rào đạp gai góc chui vô. Ai cũng cảm thấy sửng sốt trước mộ của một vĩ nhân tầm cỡ thế giới, người được nhân loại mang ơn bởi những phát minh làm thay đổi lịch sử y học vì nó quá sức giản dị và khiêm nhường. Khá thấp, vuông vức, trên mặt là phiến đá ghi đúng dòng chữ ALEXANDRE YERSIN 1863-1943, chỉ có vậy, không danh hiệu huy chương học hàm. Một cái thủ kỳ có di ảnh và bát nhang ở cạnh đó mang đậm phong tục thờ cúng của dân địa phương. Hoa sứ trắng thơm ngát và rụng đầy chung quanh. Khung cảnh thanh bình và tịch mịch, cô liêu quạnh quẽ.
Đứng ở nơi này có thể nhìn thấy Hòn Bà mây phủ phía xa xa, có độ cao hơn 1.300m, cách hơn 30 km đường mòn khúc khuỷu và hiểm trở. Ngày xưa khi đặt đại bản doanh ở vùng đất Suối Dầu này chắc không ít lần nhà bác học có máu thám hiểm Yersin nhíu mày nhìn về phương ấy. Có lẽ ông đã nghĩ đến một Đà Lạt thứ hai sau khi đã phát hiện ra viên ngọc tuyệt đẹp này trên cao nguyên Lang biang cho Việt Nam. Và dòng máu phiêu lưu trong ông lại tiếp tục lan chảy, thôi thúc người đi về phương ấy. Chắc chắn khi đó đường chưa mở, không phương tiện xe cơ giới, có lẽ người đã rong ruổi một mình một ngựa trèo đèo vượt suối …
Có bao nhiêu chuyến độc hành gian truân như vậy để đỉnh Hòn Bà ngày nay còn lưu lại bóng dáng của Người?
Tôi đã hình dung ra điều này khi cùng bạn đi lên đỉnh Hòn Bà sau khi vào mộ viếng ông. Cái con đường mòn ấy đi qua sông suối thác ghềnh, đèo dốc thung lũng, rừng rậm nguyên sinh, và cả sự đe dọa của thú dữ, tính từ Suối Dầu lên là dài hơn 30 cây số nay đã được san ủi mở rộng thành đường tráng nhựa trơn tru, sáng sủa. Nhưng có lẽ không khác ngày xưa, khi suốt chặng đường núi hiểm trở vắng vẻ vẫn bàng bạc cái không gian thanh tịnh, lắng đọng, càng lên cao càng mở toang ra phía trước ta một chân trời mới thật sự tinh khiết trong lành.
Trên đỉnh Hòn Bà, tôi đã lặng người khi ngắm nhìn và chạm tay vào những dấu vết mà người xưa đã để lại nơi đây. Biết rằng gần trăm năm trước, nhà bác học lãng mạn Yersin đã chọn nơi này để xây dựng cơ sở làm trạm quan sát nghiên cứu thiên văn khí tượng, và làm vườn sinh học. Nghe nói ông thường xuyên dong ngựa đi về Hòn Bà – Suối Dầu một mình, có khi ở lại trên núi hàng tuần, hàng tháng. Sự hiện diện đâu đây của con người vĩ đại này có thể dễ dàng hình dung ra qua những dấu xưa còn lại, một cái nền nhà bằng đá hoa cương và những bậc tam cấp dày rêu, bể chứa nước, tầng hầm… chớ không phải chỉ ở ngôi nhà gỗ phục chế theo tư liệu. Và có rất nhiều gió ngang qua đây, u u lồng lộng, buôn buốt lạnh, mang theo hương rừng, tiếng rừng, và cả hồn rừng mênh mông huyền bí. Đến tiếng ve, tiếng mang tác, tiếng vượn hú, tiếng chim ríu rít…nghe cũng lạ, cũng gieo vào ta lắm nỗi niềm như chạm người muôn năm cũ.
Giữa trưa đứng bóng vẫn có thể nhìn thấy những sợi mây đang sà xuống, là là bay ngang rất gần. Và sơn lam trắng mờ đang tỏa ra ôm ấp theo triền núi trước mặt, thực mà như mộng ảo. Không gian của núi rừng đã thâm u lại càng thêm kỳ bí, không một bóng người ngoài tôi và người bạn đi cùng, tiếng nói của mình cứ lan ra, lườn lượn là lạ rờn rợn.
Sao nhà bác học có thể sống ở đây một mình, qua từng đêm, từng đêm như vậy?
Nhà văn Patrick Deville viết, “Yersin là một con người đơn độc. Ông biết rằng không sự kỳ vĩ nào được thực hiện ở số nhiều. Ông căm ghét bè nhóm, ở đó hàm lượng trí tuệ tỉ lệ nghịch với số lượng thành viên tạo nên đám đông ấy. Thiên tài luôn đơn độc.”
Cảm ơn nhà bác học thiên tài đã chọn Nha Trang.
Tôi và bạn cũng chẳng ở lại trên đỉnh Hòn Bà quá nửa buổi, phải cùng nhau xuống núi. Người bạn của tôi không phải dân Nha Trang, nhưng trót yêu thương một phụ nữ Nha Trang mà suốt đời cảm tạ miền đất trời quê hương đã sinh dưỡng nàng. Tôi nghĩ, chỉ cần vậy thôi bạn ấy đã là một người rất Nha Trang hơn khá nhiều người nơi này như tôi đã biết.

ÁI DUY

Advertisements

TÌNH CŨ

ms8SH5AryqIcp18c-lnGIWA

“Năm đó anh 45 còn nàng 27, kém anh 18 tuổi.”
“Lại một chuyện tình không có gì?”
“Không, rất có gì là đằng khác”.
“Vậy em nghe, kể đi”.

Thung lũng tinh mơ lung linh huyền ảo dưới kia, tôi đang ngồi trong một quán vắng ấm áp trên đồi, bên khung cửa kính trong suốt phóng xa tầm nhìn. Sát bậu cửa là chùm dây leo thả một loại hoa màu cam tươi có hình dạng những chiếc hài be bé. Một rừng hoa đào bàng bạc xa xa đang đâm chồi nảy lộc chuẩn bị khoe sắc. Triền đồi phủ đầy cỏ xanh mịn màng, từng vạt hoa tim tím đọng sương bâng khuâng. Những ngón tay của tôi buốt lạnh khi tháo găng ra để chạm vào bàn phím. Nhạc êm đềm rơi từng giọt từng giọt như cà phê, và lòng thì đang rỗng.

“Nàng và anh tình cờ gặp nhau, hay nói cách khác là một sự sắp đặt của số phận cũng được. Nàng đẹp, đã có sự nghiệp riêng, tuổi thanh xuân phơi phới, và một gia cảnh đáng mơ ước. Rồi chẳng hiểu thế nào nàng lại đâm đầu vào yêu anh, một thằng đàn ông có vợ hai con, nặng nợ đủ đường.
“Dễ hiểu mà, không thành vấn đề đâu”.
“Ừ. Nàng yêu anh vô điều kiện, không cần bất cứ cái quái gì, chỉ cần những giây phút hiếm hoi ở bên anh.”
“Cái này em cũng hiểu luôn, những chiếc bóng bên đời như thế này cũng không phải là hiếm lắm, dù chỉ tồn tại khi còn…ánh sáng”.
“Phải. Dù anh đã nói rất rõ, anh không thể bỏ gia đình, công việc, vị trí xã hội.”
“Cô ấy sẽ nói là cô ấy yêu luôn cả cái lý trí của người đàn ông từng trải. Một người đàn ông chỉn chu với gia đình luôn hấp dẫn phụ nữ nói chung.”

Yêu một người đã khổ, yêu phải một người chằng chéo ràng rịt bao nhiêu thứ dây nhợ thòng lọng thì đúng là sống trong mơ khỏi tỉnh luôn. Vậy mà càng yêu hơn, càng điên hơn, càng tung tăng đắm đuối trong cái cõi mơ của riêng mình hơn. Cái hạnh phúc càng chắt mót, càng cân đo rị mọ càng ngời ngời. Và rồi, khi ánh sáng phụt tắt…

“Lúc đó anh tưởng bở, và chấp nhận, tại sao không. Bỗng dưng lại có một món quà từ Thượng Đế. Chẳng mất mát, sứt mẻ gì cả. Mọi cảm xúc tươi rói cứ ồ ạt ập đến, nhấn chìm rồi cuốn phăng đi. Anh và cô ấy đã có với nhau ba năm ngất ngây bay bổng, như trên thiên đường.”
“Thăng hoa những ba năm, lâu hơn em nghĩ đó”.
“Ừ, tiếp theo là hai năm địa ngục, sống không bằng chết”.
“Chỉ có hai năm thôi sao?”
“Thật sự là địa ngục, từng giờ từng ngày trong hai năm tiếp theo. Cô ấy buộc anh phải luôn có mặt khi cô ấy cần, buộc anh phải ly dị vợ, và chỉ cần anh tay trắng bước ra khỏi nhà. Tất nhiên, anh không đồng ý, anh không thể đẩy người thân của mình qua bên kia chiến tuyến. Men tình trong anh đã cạn khi cô ấy bật thốt giữa lúc tuyệt vọng, bây giờ em chỉ mong cho chị ấy chết đi để anh cưới em.”

Lần đầu tiên được anh run rẩy nâng mặt lên tìm môi hôn, tôi cũng chẳng nghĩ gì được ngoài cảm giác vũ trụ này đang tan biến. Chỉ còn lại hai người. Ước gì thế giới này chỉ có anh và em.

“Điên rồ.”
“Và nàng đã tìm cách giết vợ anh thật, khi quyết định gặp mặt riêng và nói tất cả.”
“Phải, sẽ đến lúc thế thôi. Chiếm đoạt luôn là cái đi theo sau giai đoạn tình yêu dâng hiến.”
“Ừ. Đêm đó vợ anh bỏ nhà đi luôn, lần đầu tiên trong đời. Hôm sau cô ấy về, với bộ dạng của một người vừa ngược cầu Nại Hà.”
“Thật kinh khủng.”
“Vợ anh đã kịp dừng lại ý định quyên sinh để quay về nhà, và không nói gì tới anh trong suốt sáu tháng sau đó.”
“Chị ấy thật vĩ đại.”
“Đến lúc đó thì anh hoàn toàn tỉnh táo. Nhưng quyền chấm dứt không thuộc về anh nữa. Nàng vẫn điên cuồng phải chiếm giữ anh bằng mọi giá.”
“Yêu mà.”
“Nàng muốn anh cùng chết với nàng, để cả hai được tự do tuyệt đối ở bên nhau trong thế giới mới. Hoặc nàng biến thành sương khói, để có thể quẩn quanh mãi mãi bên anh.”
“Ý kiến hay”.
“Em đã từng nghĩ như thế sao?”
“Ơ, ai lại chẳng từng mong được đời đời kiếp kiếp bên người yêu dấu chứ.”
“Không phải là chuyện đùa đâu, nàng thực sự muốn vậy, khi không còn cách nào bứt anh ra khỏi vợ con.”
“Bế tắc quá, cho tất cả.”
“Ừ, giá lúc đó anh chết được thì cũng chết quách, mà có khi chết rồi cũng nên, đang ở địa ngục mà.”
“Rồi sao, Diêm Vương chê hả?”
“Có thể em không tưởng tượng ra nổi tình cảnh của nàng, anh, và vợ anh lúc ấy. Ai cũng đòi chết, không chết lẻ thì chết chùm. Suốt ngày trong anh cứ vạ vật hình ảnh nàng hoặc vợ anh được vớt từ dưới sông lên, oặt ẹo bợt bạt. ”

Ngày ấy, khi rời anh tôi cũng đã từng bước đi trong một trạng thái vô hồn, không nghe, không thấy, không hiểu cái gì đang diễn ra trước mắt. Những hàng cây xà cừ đang mùa rụng lá vươn cành trơ trụi bỗng dưng đổ nhào xuống rối nùi lại. Những con người đi lại chung quanh bỗng hóa thành bóng ma dật dờ. Những ngã đường quen thuộc phút chốc biến thành mê lộ. Gió thổi bời bời tung tóe bụi cát, tôi liêu xiêu tả tơi còn tệ hơn cái bóng của chính mình. Thấy mình tan ra, bay là đà vô định.

“Em đã tưởng tượng ra xong.”
“Giữa lúc đó…”
“Đừng nói là có ai đó chịu hy sinh nhé, chuyện cổ tích!”
“Anh nghĩ là có. Nàng chỉ có duy nhất một đứa em gái, cũng xinh đẹp tài hoa và long đong chuyện tình duyên như chị.”
“Buồn thật.”
“Hai chị em cùng quẫn trí như nhau khi trút hết nỗi lòng về cuộc tình không lối thoát của mình. Sự tuyệt vọng bị nhân đôi thật đáng sợ. Cô em bị gia đình ép gả cho một ông tiến sĩ từ nước ngoài về, khi đã lỡ đem lòng yêu thương sâu đậm một anh thợ máy chưa học hết cấp 3.”
“Tình yêu thật khó giải thích.”
“Hai chị em đều muốn chết để được trọn vẹn sống với tình yêu của mình.”
“Em hiểu.”
“Đêm đó, sau khi khóc vùi bên nhau và trở về phòng mình, cô em đã treo cổ tự sát trước.”
“Mô Phật.”
“Cô bé mới 21 tuổi, chết vào giờ trùng. Gia đình phải khâm liệm ngay trong đêm. Trước khi đóng nắp áo quan, cô được trát sơn đỏ bê bết lên mặt, và thi hài được đặt nằm sấp. Người ta giải thích, để linh hồn cô bé không phải quay về, và sẽ vất vả để nhận ra mình là ai, sẽ đời đời úp mặt vào đất, đi thẳng vào lòng đất.”
“Em đang lạnh hết cả sống lưng đây.”
“Anh cũng vậy.”
“Số phận cả, thật độc ác.”
“Và thế là mọi chuyện kết thúc trong kinh hoàng đến rã rời và câm lặng. Cô bé đó đã cứu được chị mình.”
“Và cả anh.”
“Ừ, cái giá phải trả quá đắt và thê thảm.”
“Cuối cùng cũng chỉ có mình mới giải thoát được mình ra khỏi ngục tù tình yêu thôi anh ạ.”
“Em nói ai?”
“À…tất cả chúng ta.”
“Thực sự, anh không dám hình dung ra cái kết thúc này, anh không hề muốn làm tổn thương ai. Anh thật chẳng ra gì.”
“Tình yêu không có lỗi.”
“Nếu là em thì sao?”
“Em là em hay em là anh?”
“Nếu em là anh.”
“Nói thật là em không biết, nhưng với bất kỳ cái guồng quay định mệnh nào, lỡ sa vào rồi thì chỉ cần một người chịu dừng lại là sẽ thấy rơi ra lắm thứ linh tinh, may ra thoát được.”
“Em đã như vậy bao giờ chưa?”
“Nếu là em thì khỏe rồi, làm gì để tới nước đó, chỉ cần có ai đó tổn thương vì cái sự yêu đương nhăng nhít của mình thì em bỏ của chạy lấy người ngay.”
“Xạo.”

Vì điều này mà tôi khốn đốn, nhưng tôi chưa bao giờ hối tiếc hay ân hận vì phải tự mình băng bó chữa chạy cho chính mình.
Tôi nâng tách cà phê lên nhắp một ngụm nguội ngắt. Những ngày mùa đông trở gió, lạnh giá và xám xịt luôn làm tôi nhớ đến anh, người đàn ông đầu tiên tôi yêu. Nhưng hôm nay lại là một ngày đông hiếm hoi có nắng ấm rất đỗi dịu dàng, nắng vàng sánh như rót mật, nắng long lanh trong veo lay động từng mắt lá. Từng cơn gió không ngừng lả lướt uyển chuyển cuốn vào nhau chạy từ triền đồi xuống thung lũng rồi dắt díu nhau trèo ngược qua bên kia đồi, tiếp tục cuộc chơi bất tận. Đâu rồi tình yêu của tôi?

“Hồi đó anh có yêu em không? ”

Không thấy anh trả lời. Tôi đồ rằng, một là anh vẫn giữ thói quen cũ, không bao giờ nói tiếng yêu dù đang yêu muốn chết, hai là, có thể anh không biết tôi đang là ai.
Tôi đóng laptop lại và thong thả mang găng tay vào, cà phê một mình vẫn thú vị. Quán vẫn vắng và vẫn ấm áp. Đời hãy còn rất dài.

ÁI DUY