CHIỀU HOANG

daolam

nhớ núi ta tìm về với núi
mùa sương mờ cánh võng dốc mưa
tháng bảy ta về nghe tình gọi
trên cao Hạ Trắng mới như vừa

tiếng gió lao xao ngoài thung vắng
ngày đi qua ngọt lịm môi cười
tháng bảy ta về trời thiếu nắng
bên thềm Hạ Trắng nhớ khôn nguôi

ngày giấu trong vòng tay chín đỏ
những môi hôn cuồng nộ thác nguồn
đêm ôm chặt giấc mơ tình lỡ
nước mắt nào mặn đắng môi hôn

thắp chiêm bao thả vào ngày tháng
nhốt tình chung nuôi nỗi buồn riêng
tháng bảy ta về mơ Hạ Trắng
ngơ ngẩn niềm đau chở muộn phiền

phố của trăm năm tình luôn mới
cho dầu ngày tháng cứ trôi đi
Ha Trắng bên đời nhau vời vợi
tiễn mùa…hay dựng cuộc chia ly

XA RỒI,NGÀN DẶM THIÊN DI
CHIỀU HOANG TÍM BIẾC XUÂN THÌ RỤNG RƠI!

DaoLam

MÊ CUNG EM HÁT LỜI TÌNH RU GIÓ

 linhphuong

Tháng sáu nhiệt đới nắng ròng ròng mồ hôi
Anh lạc vào thánh địa-mê cung em hát lời tình ru gió
Con ve-chùm phượng vĩ – ngày mới lớn cứ mong-cứ nhớ
Tuổi học trò mất biệt lúc cầm súng giữ quê hương

 Khi “ sém già “ anh thương quá đỗi là thương
Thời thanh xuân chết dần theo bốn mươi năm phiêu bạt
Không hẹn hò-không nguyện thề -không hôn ước
Người đàn bà đợi anh ngơ ngác giữa phố chưa chồng

Sen hồ nguyệt trong veo ủ mùi em trinh bạch-da thịt trắng ngó sen thơm
Cu cườm gáy mùa hạ trời xanh nét mi cong-đường cong rủ rê anh bày biện
Ba vòng xuân sắc đòi yêu-bất cần thị phi tai tiếng
Gõ nhẹ trái tim đọc câu thần chú : “ vừng ơi…vừng ơi…vừng ơi ! “

 Mê cung vạt cỏ em lao xao mờ
Như kinh kha cầm trủy thủ qua sông hành thích tần vương
Người đàn ông qua cửa thiên thai vung gươm chém ngọt ngào trái cấm
Em quẫy đạp-em bồng bềnh bay lên chín tầng mây

Người đàn bà vùi mặt mình xuống chiếc gối nghe con mắt cay cay
Sớm mai anh về với dòng sông giáp biển
Nặng lòng em- cái nắm tay kinh kỳ đưa tiễn
Bóng người đàn ông lủi thủi khuất cuối ngã đường

Ngủ đi em – người đàn bà thương nhất xứ của anh
Đừng lạc nhé ! Giữa dòng đời xuôi ngược
Đừng lỡ lầm nếu em hững hờ đánh mất
Người đàn ông yêu mà chẳng biết lọc lừa

LINH PHƯƠNG

nói về những giấc mơ

tranbangkhue

Giống như một cỗ máy. Tôi chạy theo những cái đuôi đến mệt nhoài cả tinh thần lẫn xác thân. Quả thực, lúc ấy tôi không tài nào phân định nỗi trắng – đen. Nóng – lạnh thì lại trở nên bất thường. Thật ra, đó chỉ là một giấc mơ tôi vừa phải trải qua, vừa phải nhấm nháp ngay khi đang tỉnh táo, chứ không hề nhắm mắt ngủ.

Tôi vác lên vai một cây thập gía quá nặng của quá khứ và tương lai. Con đường dưới bàn chân tôi luôn luôn bỏng rực màu lửa đỏ. Trong kí ức, tôi chưa hề đắn đo nuối tiếc điều gì đó của năm tháng tuổi thơ. Tôi chỉ muốn nó đi qua, đi nhanh, và vèo trôi như thể chưa bao giờ có những vết sẹo thừa thãi trên từng bộ phận của cơ thể mình vậy. Tôi rủ rê bàn chân, tiến về phía trước. Lửa vẫn đỏ. Nước đôi khi ngập ngụa bất ngờ quá nửa thân mình. Đây cũng chỉ là một giấc mơ, có gì đâu mà tôi phải lên tiếng rền rĩ nhỉ?

Chẳng có gì là vui thú. Chẳng có gì là bình an. Chẳng có gì đáng phải nở nụ cười thật tươi, thật rạng rỡ, trừ những lúc bất chợt. Mà, khoảnh khắc đó thì lại khá hiếm hoi. Đôi khi, tôi mơ một giấc mơ duy nhất là được cười. Kể lại cho họ nghe, thì nhiều người bĩu môi nói rằng điều đó là bình thường chứ có cao sang lắm đâu. Tôi cố tỏ vẻ ngạc nhiên xem như cái gì đó hết sức lạ lẫm lắm, để biểu thị sự khao khát đến tột độ phi lí của mình. Nhưng, chả ai thèm để ý.

Thật ra, bạn biết đấy, tôi nghĩ rằng: một vài kẻ cho đến phút cuối tồn tại trên cõi đời này, mơ ước của họ cũng giống như tôi lúc này vậy. Thay vì, đợi đến khi không thể toác miệng ra cười, tôi muốn hết thảy những điều bình thường, dĩ nhiên này xảy ra sớm hơn. Vậy mà, xót xa quá, trong giấc mộng đêm qua: tôi đã mơ mình cười thật to, thật rộn rã, thật hồn nhiên trước một cái thác nước đang xối xả đổ xuống chân núi. Tỉnh dậy, nước mắt tôi lưng tròng, ấm ức, tựa như vừa bị cướp mất điều gì đó quý gía nhất. Hoặc đơn giản là hơi cay cú vì bị ai đó đá đít.

Rồi, đến thời gian sau này, tôi không mơ về những nụ cười nữa. Tôi mơ về những cái đuôi. Chúng biết cách điều khiển trí não và cảm xúc của loài người. Những cái đuôi vô hình, nhưng có uy lực đến khủng khiếp, khiến ai đã bị nó thôi miên sẽ trở nên mù mờ tăm tối. Con đường đi của tôi cũng vậy. Lửa vẫn cháy dưới chân. Nước vẫn phun tới tấp vào mặt tôi hàng ngày hàng giờ đến ngập ngụa cả xác thân. Lửa không phải là thứ óng ánh lung linh sưởi ấm mỗi lần trời trở lạnh nữa. Mà bây giờ, lửa đang đốt cháy cả một mùa đông. Nước không còn là những giọt long lanh như sương đọng trên lá mỗi sớm ban mai, hiền hòa yên lành. Nước dìm chết tất thảy vạn vật từ đầu đến chân.

Tôi bắt đầu muốn quay lại với những điều ước. Giống như câu chuyện cổ tích, tôi chỉ cần xin vài điều ước nhỏ nhoi như thế này thôi: đêm không còn mơ về lửa với nước, ngày không còn rệu rã bước từng bước một như dò đường giữa ánh sáng mặt trời chói chang. Tự nhủ vậy, như một sự hoang tưởng. Mặc kệ, tôi vẫn cứ ước đại đi vậy, biết đâu, sự hoang tưởng lại mở ra một cánh cửa khác cho tôi bước qua. Chỉ là giấc mơ, nhưng lần này giấc mơ đã và đang tiệm tiến dần dần thành một cái đuôi dài dằng dặc như một mắt xích không thể nào gỡ ra được. Bỗng dưng, tôi sợ nó nhân đôi, nhân ba, nhân n lần mắt xích đó tạo thành một tấm lưới khổng lồ, chắc chắn lúc ấy tôi sẽ hết đường thoát. Ngay cả giấc mơ cũng chỉ là một sự hoang tưởng nặng ở thế giới này.

Hôm sau, tôi lại nhìn thấy mình đang đi trên một sợi dây mỏng manh bắc cheo leo, chênh vênh qua một đỉnh núi, cao vời vợi. Phía dưới là những hố sâu hun hút, thăm thẳm như lỗ chết, như địa ngục. Bọn quỷ dữ, chỉ chực chờ tôi rơi xuống và ngoạm lấy nhai ngấu nghiến cho tan nát xác thịt trong cái hàm đầy máu của nó. Gía như, tỉnh giấc ngay bây giờ. Ngoài kia, mặt trời rực đỏ đốt cháy mặt đất, đốt cháy biển đông. Tôi lại nằm đây, nuốt một nắm thuốc an thần và đợi những giấc mơ.

Cái đuôi chập chờn mộng mị, cười khềnh khệch cố lôi kéo tôi theo nó. Tôi đã tỉnh, tôi muốn tỉnh. Tiện có con dao trước mặt, tôi cầm lên và chém phạt một phát không thương tiếc. Vừa chém, tôi vừa quát: “Này thì đuôi, này thì bám riết, này thì điều khiển. Đừng bao giờ nghĩ rằng: mày đủ sức buộc tất cả trí não khối óc và xác thịt của thiên hạ theo sự định hướng nào đó. Đừng hòng thôi miên tao bằng những giấc mơ nhé.”

Cái đuôi láo xược, mờ ảo và ma quái. Sự lập trình sẵn có thể lừa đảo người ta thông qua một con chíp trong phút chốc nào đó. Nhưng, không thể là mãi mãi. Thế giới đã bước qua một cánh cổng khác. Loài người đã bước qua một cánh cổng khác. Họ có thể chặt đứt cái đuôi nào đó nếu họ thực sự căm ghét và không muốn nó tồn tại trước mặt mình.

Sáng mai, tôi hứa sẽ trở dậy vào lúc sớm nhất, để ngắm một mặt trời dịu dàng đang từ từ hé rạng ở phía biển đông. Kẻ nào không biết tôn vinh và trân trọng cái đẹp bằng cách lặng yên nghe tiếng sóng thì kẻ đó sẽ bị biển sâu cuốn trôi và chôn vùi.

Trần Băng Khuê

ĐEM ĐỐT VU VƠ…

trantuan

Chán phố thị
ta tìm về dòng sông cũ
Thấy ngổn ngang trăm cọc nhọn Bạch Đằng
Hồn giặc khóc, vật vờ trong sương khói
Chợt thấy mình có lỗi với tiền nhân.

Ta ân hận, quay đầu lên núi
Kìa ba quân đang mài kiếm dưới trăng
Nghe Nguyễn Trãi đọc Bình Ngô Đại Cáo
Giọng vang vang, khí phách thật kiêu hùng…

…..
Ta xấu hổ, lật từng trang lịch sử
Bốn ngàn năm không một phút đớn hèn
Lũ giặc cướp vào đây là chết
Mảnh đất này vùi xác chúng nhiều phen..

Và bất chợt ta nghe lòng bối rối
Vội vã gom những èo uột, thất tình…
đem đốt hết. Kẻo mai con cháu…
ngờ nghệch, vĩ cuồng tạc bia đá…
Ô danh !

Trần Tuấn

Nắng mùa thu

truongdinhtuan

Hương khuynh diệp ấy là em
Thơm lừng sắc lá xanh mềm tuổi thơ
Vì đâu mà gió lơ ngơ
Bước chim run rẩy trên bờ nắng phơi

Cỏ sân trường ấy là tôi
Hình như mới chớm thốt lời đón đưa
Một bên nắng một bên mưa
Mùa thu ở giữa nên chưa biết buồn

Để hôm xa lạ phố phường
Tìm nhau ta lạc con đường tuổi hoa
Lòng như nắng mới hôm qua
Vàng phai quấn quít bay tà tiểu thư

trương đình tuấn

PHÙ HƯ

vancongmy

Tôi, góc sông này những tháng năm
Không chằng buộc vướng bởi xa xăm
Mà sao tiếc nhớ như mây trắng
Đợi nắng chiều loang ráo chỗ nằm

Bận bịu gì đâu những nhánh rong
Chút phù hư nắm níu đeo mong
Dẫu xa rồi cũng ngày tới bến
May rủi trần ai con nước trong

(Cho dẫu ngầu đục bờ bến ấy
Ừ thôi, kiếp nạn đã xoay vòng)

Văn Công Mỹ

Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

trantrungdao

KỶ NIỆM 84 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ ÁI QUỐC NGUYỄN THÁI HỌC VÀ 12 ĐẢNG VIÊN VNQDĐ (17.6.1930-17.6.2014)

Vào khoảng thời gian này 84 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bước lên máy chém. Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN. Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học chỉ mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau. Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

Trần Trung Đạo

NHỎ NHOI HẠT BỤI (Đọc thơ Đan Tâm của Phạm Ngọc Lư)

khuatdau

Tôi mượn bốn chữ dễ thương trong tập thơ Đan Tâm để làm tiêu đề cho bài viết này. Dễ thương vì còn lại “một chút gì để nhớ” của con gái anh.
Nằm im giữa trái tim ta
Nhỏ nhoi hạt bụi… tên là Các khuê

Tôi đã đôi lần được gặp anh, quả là anh cũng nhỏ nhoi cả trong dáng hình và lời ăn tiếng nói.

Hãy nghe anh thầm thì bên mộ con:
Nằm chơi dưới một hàng cây
Lao xao lá, lá thơ ngây chuyện trò
Nằm thanh thản một nấm mồ
Hồn nhiên cỏ, cỏ thơm tho hơi người
Hồn nhiên bao tiếng khóc cười
Tan vào lòng đất thắm tươi linh hồn
Hòa vào màu cỏ xanh non
Bay vào mây khói chiều hôm quê nhà

Cùng năm sinh, cùng năm mất. Ngắn ngủi quá, mong manh quá! Nhưng qua những câu thơ trong trẻo, ta thấy bé vẫn còn sống mãi giữa hoa cỏ đất trời, sống mãi trong tim người cha cũng như trước kia đã từng sống trong bụng mẹ.
Nhưng khóc cho một mối tình thì khác. Chẳng phải khác vì người dưng mà vì
đời nông tình cạn/
ta bơi qua sông
mới hay đời nặng.

Chảy đi chảy đi
Hỡi sông buồn lắm
Nước thôi chờ chi
Thuyền xưa đã đắm
Người đi người đi
Trăm năm bến vắng
Chảy mau chảy mau
Đời: con nước siết
Tình: vực nước sâu
Em: dòng ly biệt
Ta chiếc lá chìm

Rất nhẹ nhàng, kín đáo. Nhưng cũng rất sâu xa thắm thiết.
Một người rất mực nhỏ nhẹ, tế nhị như thế, nhưng khi vào đời lại bị quăng vào một nơi:
Bốn phía rừng xanh màu nước độc
Đông tây nam bắc núi chập chùng
Một lũng đất bằng khu chén nhỏ
Trói chân ta vào chân Trường Sơn

Nơi đó là Củng Sơn, nơi chưa hết thanh xuân đã cùng đường, nơi đêm nằm mộng lớn nuốt mộng con. Một nơi đất trích nhưng không phải là Tầm Dương của Tư Mã Giang Châu, để ít ra bên trời lận đận cũng còn có một kỳ nữ cho mình chan chứa lệ áo xanh.
Nhưng chính nơi sơn cùng thủy tận ấy, đã giúp cho nhà giáo trẻ có tâm hồn thi nhân, viết nên một bài hành mà theo tôi là thống tâm thiên cổ. Bài Biên Cương hành.
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi non rừng thẳm nhiễu nhương

Đây biên cương ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
….
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi hóa thành thú muông…
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng

Những âm ương, uông lặp đi lặp lại đến mấy mươi lần nghe như những hồi chuông báo tử. Còn thê thiết hơn cả trong Vì ai chuông báo tử của Hemingway. Có lúc như cọp gầm núi Lá. Có lúc như con thú bị thương. Có khi như oan hồn kêu khóc ở Quỷ môn quan.
Vì đâu một chàng thư sinh chưa một ngày ra trận lại có thể viết nên một bài hành về nỗi cô độc, nỗi chết của người lính biên cương hay như thế? Đó là vì cả một Trường Sơn với đường Chín nam Lào, với Khe Sanh, Đắc Tô, với mùa hè đỏ lửa Quảng trị…
Gớm gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non

Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương.

Một nơi như thế nên nhìn đâu cũng thấy đá mang dáng dấp hình chinh phụ/trơ vơ chóp núi đứng bồng con.
Nhưng thân trai thì hề chi buổi chinh chiến tang thương/sá chi hạt cát giữa sa trường. Biết là nhất khứ bất phục phản, nhưng vẫn cứ phải ra biên cương vì cả hai bên đều ném binh như vãi đậu. Đây là nơi mà thân phận cỏ rác của người lính hai miền được tác giả thể hiện một cách thật bi tráng.
Họ không sợ cái chết, nhưng họ phát cuồng vì nỗi cô đơn.
Đầu tiên là nỗi nhớ, trông núi có khi lầm bóng vợ và vì vậy đêm nằm ôm đá mà mơ chuyện yêu đương. Nhưng đá sao yêu đương nổi, chỉ có thể vỗ đá mà ca ngông hát cuồng. Cô đơn khiến họ chém cây cho đỡ thèm giết chóc/ đỡ thèm môi mắt gái buôn hương. Sau cùng là hờn dỗi, trối trăng:
Thôi em yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Thôi em chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Thôi em còn chi ta mà đợi
Ngày về thôi cạn máu khô xương.

Một thời mà tương lai tối ám. Một thời mà ngày trở về là tang lễ thay cho hôn lễ. Cuộc chiến quá dài khiến cho những hy sinh mất mát trở thành những tiếng kêu vô vọng nếu không muốn nói là vô nghĩa. Đâu còn cái hào khí lãng mạn của những ngày đầu kháng chiến:
Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Quang Dũng)
Ở những nơi mà người ta ném binh như vãi đậu, thì những chữ tổ quốc, tự do dù được thét gào rống rú suốt ngày đêm của cả hai bên, cũng không còn làm ai xúc động. Tất cả đã biến thành những con-vật-người, thành hạt đậu. Cho nên dù có bắt tay làm loa gọi, thì giữa chốn sơn cùng thủy tận vọng lại cũng chỉ là tiếng hú của con thú bị thương mà thôi.
Hành là một thể thơ xưa chứa chan tâm sự. Bài Tỳ Bà hành của Bạch Cư Dị trên một ngàn năm rồi mà lệ áo xanh vẫn chưa khô. Bài Tống Biệt hành của Thâm Tâm đến tận hôm nay vẫn còn tiếng sóng ở trong lòng. Bài hành Phương Nam của Nguyễn Bính vẫn láng lai châu thổ. Bài hành Biên Cương của Phạm Ngọc Lư xé ruột xé gan của cả một thế hệ đầu thai lầm thế kỷ.
Cần gì đọc lịch sử hàng chục vạn trang, chỉ cần đọc sáu mươi câu thơ của một người họ Phạm là đã thấy được, cảm nhận được, sống lại được cả một cuộc chiến phi nhân, xuẩn ngốc, một cuộc nội chiến mù lòa chẳng khác gì một cuộc tự sát tập thể.
Với bao nhiêu tội ác như thế, người ta bảo hãy để lịch sử phán xét. Thì đây, bài Biên Cương hành là một cách phán xét ngắn gọn nhất, trung thực nhất và cũng đau đớn nhất của một công dân nhỏ nhoi như hạt bụi. Hơn ai hết, chính thi sĩ mới là người có quyền và có bổn phận nói lên phán xét xuất phát từ chính trái tim của chính mình, cũng là trái tim của nhân dân.
Rồi cũng đến lúc: bom ngừng rơi, đạn ngừng nổ. Nhưng cái biên cương ấy vẫn chập chùng như vạn lý trường thành giữa hai miền. Những con người đã cạn máu khô xương bên thua cuộc giờ lại bị ném vào đời như vãi đậu.
Rời Củng Sơn trở về làng cũ, lại một bài hành nữa làm ta buồn muốn khóc. Không thét gào xé ruột như Biên Cương hành, nhưng Cố lý hành thầm thì như đứa con trở về chịu tội với quê hương.
Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp
Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn
Sao phên dậu nghiêng đầu câm nín
Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han
Ngõ vắng bàn chân như hụt đất
Tre già đang kể chuyện chôn măng
Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể
Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng
Phải đây là cố lý ta chăng
Dâu bóng mẹ già sau khung cửa
Và những người em mặt trái xoan
Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ
Bên luống cà xanh liếp cải vàng!

Muốn ở lại làng cũ làm một anh dân cày cũng không được, anh đành theo bước chân của những người thua cuộc, làm một chuyến hành phương nam. Bài Trở Về Phá Tam Giang, theo tôi, cũng là một bài thiên cổ lụy.
Nhớ buổi ra đi thân tình đưa tiễn
Vợ gói câu thơ chị gói khúc đàn
Mẹ tóc trắng nhìn theo lặng lẽ
Con tóc xanh hai đứa dùng dằng
Bước xuống thuyền nhìn trời cao dõng dạc
Gõ mạn thuyền ngâm khúc hành phương nam

Nhưng :
Mưa miền nam, nắng miền nam
Trông mây thấp thòm nghe gió bàng hoàng
Quá đỗi mưa mau
Quá nhiều nắng khổ
Chén rượu quê người sao mà bạc
Ân tình đất khách lắm đa đoan

Không thể so sánh bài Binh Xa hành của Đỗ Phủ, nhưng các bài hành của Phạm Ngọc Lư cũng là những tiếng kêu đứt ruột, ngập tràn nỗi đau phận người trong từng câu từng chữ.
Từ một thư sinh rồi một thầy giáo, giờ anh ma xui quỷ khiến ta ngồi chợ/ bán gió rao trăng một núi dừa!
Bài thơ hóm hỉnh cười nhạo chính mình nghe ra thật cay đắng.
Cô gái Bến Tre vừa quen mối
Đếm dừa mà đôi mắt đong đưa
Người đẹp thương ta hay chơi đẹp
Bạc tiền không nài ép hơn thua
Khổ mấy lần áo khô áo ướt
Sợ lòng em chợt nắng chợt mưa
Thôi để yên ta bên chén rượu
Uống say… thành bại cũng bằng thừa
Uống say… ném áo lên nóc quán
Hết nợ hết duyên vĩnh biệt dừa

Rời bỏ Bến Tre, anh lại lạc vào miền đất đỏ Long Khánh. Đây là miền đất anh nếm trải nhiều cay đắng nhất. Trong bài thơ Bụi Đỏ gửi các con, anh đã viết những câu như lời thú tội.
Trời sinh chi đôi vai thêm khổ
Gánh gian nan như gánh tội đồ
Sinh chi kẻ sĩ đem đày đọa
Chôn vùi nắng bẩn với mưa dơ
Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Lòng đau như vết cạo còn tươi
Mủ cứ chảy bám đầy tâm sự
Tâm sự đùn cao như gò mối chôn người
Đi giữa hoang sơ ruộng bàu khe suối
Gai hổ ngươi cào nát đôi chân
Nghĩ về quê cũ lòng thêm thẹn
Một ra đi là một lỡ lầm
Cứ hỏi mình chưa chán? chán chưa?
Nhìn núi Chứa Chan mắt buồn chan chứa.

Mười mấy năm lưu lạc, ô nhục đắng cay, có khác chi Kiều. Chỉ khác là có nhiều Thúc Sinh mà không có Từ Hải. Chút lòng trinh bạch mà Kiều gìn giữ trong tâm hồn để trao cho Kim Trọng, thì Ngọc Lư xin trao về Nàng Thơ.
Xưa ta cầm tuổi hai mươi
Vay em nhan sắc về nuôi tâm hồn
Nuôi bao mộng mị vàng son
Một đêm trắng mộng chỉ còn đan tâm

Chính vì thương ngày xưa không tuổi/ôm mối tình không tên, nhờ mối tình với Nàng Thơ ấy mà anh đã sống sót qua những năm tháng ở Củng Sơn, ở phương nam nắng khổ mưa đau. Nàng Thơ không còn lững thững giữa thành cũ rêu phong, không phơi tấm thân ngà ngọc trên sông Hương, mà đã cùng anh mười lít gạo trộn vài cân muối/nấu với tình em ăn vẫn ngon! Nàng đã cùng anh xé toạc đất tanh mùi máu kêu thét lên ở biên cương, rồi cùng anh xuôi nam, lại lộn về cố lý, qua phá Tam Giang, cuối cùng dừng lại trên bến nước thứ mười ba là sông Hàn. Một nàng Thơ rất mực tận tụy, nên dù mộng lớn mộng con đã tan tành, cũng vẫn còn bút mực đan thanh tươi màu.
Bút ấy chấm vào tấm lòng son, dù mai sau thơ anh có nằm chết trần truồng, thì tôi vẫn tin, trong trái tim của bạn bè hãy còn nhỏ nhoi hạt bụi tên là Đan Tâm.

Khuất Đẩu
(Viết 2010.
2014, đọc lại có sửa đôi chút.)
*Những chữ in nghiêng trích thơ của Phạm Ngọc Lư.
Phạm Ngọc Lư, sinh 1946, tại Thừa Thiên.
Cựu học sinh Quốc Học.Cựu sinh viên Viện Hán học Huế và Đại Học Văn Khoa Huế.
Từng dạy học ở Củng Sơn, Phú Yên
Đan Tâm, tập thơ do chính tác giả tự thực hiện, tháng 1/2004, để dành tặng thân hữu.

THƯA QUÝ NƯƠNG !

hochibuu

Một tuần rồi ta không gặp nhau
Em buồn như rụng một vì sao
Ta buồn như một con chó ốm
Lăn lóc nằm xem những vết cào

Ta nhớ mùi em như phấn son
Nhớ đôi mắt ướt rất mi nhon
Em nhớ mùi ta- mùi hoang dại
Một chút đàn ông hãy vẫn còn

Nhớ tóc em dài bay phất phơ
Ngực đầy như chứa cả hồn thơ
Có con bướm nhỏ nhiều e ắp
Đậu ở tay ta- đẹp bất ngờ

Hình như đêm rồi ta nằm mơ
Thấy em cô độc buồn vu vơ
Ở một góc trời xa xôi lắm
Tỉnh giấc mình ta mãi thẩn thờ

Ta gã giang hồ mê bốn phương
Vì em vó ngựa rớt bên đường
Thì thôi – khép gót giang hồ lại
Trao hết cho nàng- Thưa quý nương !

hồ chí bửu

VỌNG PHU

nguyenvi

Người đàn ông ru tình bằng nước mắt
Đến đá cũng phải mòn
Huống hồ lòng nhi nữ
Lội ngược dòng nước mắt đàn ông
Nàng về nhà chồng.

Người đàn bà ru con và tự ru mình bằng nước mắt
Nhiều tháng rồi nhiều năm
Nước mắt vẫn chưa cạn theo lời ru
Người đàn ông không biết / chưa biết / không cần biết
Nước mắt đâu còn là vấn đề.

Người đàn bà hóa thành Tô Thị
Chỉ có điều trái tim nàng chưa kịp hóa đá
Vẫn thao thức ngày / nức nỡ đêm
Tiếng nấc nghẹn và nước mắt lén lăn vào khuôn nhạc
“Người ta đi biển có đôi…”.

Người đàn ông bằng xương bằng thịt
Hát lời ru tình lạnh tanh từ trái tim đá
Người đàn bà tìm không thấy đâu bóng dáng của nước mắt
Có lẽ chúng đã hoàn thành sứ mệnh
Ngày nàng mặc áo cô dâu.

NGUYÊN VI