MỘT BÔNG HỒNG CHO CHA

DSC00443

Trong thời hồng hoang của lịch sử, con người chỉ biết có mẹ. Khỏi cần tìm hiểu đâu xa, cứ nhìn các con vật thì biết: gần gủi và hiền lành là con chó, con gà, xa xôi và hung bạo như con beo, con cọp. Sinh ra và lớn lên chỉ biết có mẹ, lúc thúc quanh mẹ. Bởi một lẽ đơn giản: khi biết mình mang thai, con cái thường sống cách ly con đực, thậm chí còn cắn đuổi con đực không cho lại gần.
Con người sau này thì không. Cha săn sóc mẹ khi mẹ mang thai, cha đỡ đần mẹ, cha giúp tay mẹ pha bình sữa, giặt giũ tã lót khi cha mẹ cùng nghèo. Khi cúng đầy tháng, cha châm hương đốt đèn thành kính cầu xin Mụ Bà và tham lam cầu khắp thần linh phù hộ cho con mau ăn, chóng lớn. Có lẽ đó là lần đầu tiên, lần trọng đại nhất trong đời mà cha trọn lòng nghĩ đến những vị thần linh. Vì con mà tin, mà khấn, mà cầu… cho dẫu mang tiếng mê tín cũng xin sẵn sàng vui nhận.
Con lên hai tháng, ba tháng, nằm ngửa huơ tay huơ chân, mở to đôi mắt ngơ ngác, xoay đầu nhìn vu vơ sang trái sang phải. Rồi con biết hé miệng cười, cái cười vô nghĩa nhưng đủ cho cả nhà mừng rỡ reo vui. Rõ ràng là nụ cười của con làm nở những nụ cười xung quanh, làm rạng rở những khuôn mặt, xóa mờ những nếp nhăn nơi trán. Lần lượt biết lật, biết bò… rồi con ngồi vững, rồi vịn tay đứng được, rồi bước những bước rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn tiếng của cha.
Cha được phân công ngồi bón cho con những muỗng cơm đầu tiên, cha phải la: “Ùi ùi! Coi chừng con chuột kìa. Ăn mau chớ nó ăn hết,” rồi thừa lúc con đưa mắt tìm, cha đút nhanh muỗng cơm vô miệng. Hỡi ơi, từ ngày có con, cha trở thành nhảm nhí đáng thương. Con mới mở miệng ngáp, đôi mắt mới khép hờ mà cha đã vội vàng ru, ru cái kiểu nửa ngâm, nửa hát vụng về và chọn những câu nhảm nhí phù hợp với trạng thái tâm hồn của cha lúc đó.
À ơi, con gà cục tác lá chanh…
Có thể cha giỏi nhạc, cha hát hay nhưng cha ngượng không dám nghiêm trang cất giọng sợ người khác nghe biết cha đang tràn trề niềm vui, no nê hạnh phúc. Vả chăng mặt con ngây ngô thế đó thì cha biểu diễn nghệ thuật để làm chi? Cha phải ngây ngô theo, con duỗi chân thì cha nói: “Chà! Bộ định về thăm ngoại hả?” Rờ cái đít nung núc thịt, cha bế chạy vừa nói nựng: “À, con heo ú đây? Ai ra mua!” Quả là những giây phút hân hoan cực độ. Nhưng phải chợt dừng lại. Sợ người khác nghe. Phải che giấu hạnh phúc để tỏ rằng mình không tầm thường. Khi có học, cha thường phải tạo vẻ mặt nghiêm trang. Dưới thời Nho giáo, cha được gọi là nghiêm đường. Hai mươi tuổi đậu cử nhân, đậu tiến sĩ thì phải mang bộ mặt lạnh lùng của một ông quan. Chỉ có người cha quê mùa mới thong dong cõng con bốn, năm tuổi đi chơi nghêu ngao khắp xóm, bứt lá chuối quấn kèn. Lớn lên cha con cùng làm lụng cạnh nhau trên sân lúa, giữa rẫy khoai. Xã hội hôm nay trí thức hơn, văn minh hơn, trong cuộc sống cha một nghề, con một nghề, ai lo phần nấy, rốt cuộc tình thương cha con trở nên lợt lạt. Tình quấn quýt cha con chỉ thể hiện khi con còn nhỏ: quá bậc tiểu học, con bắt đầu lớn, bắt đầu chọn bạn là bắt đầu xa cha. Từ đó cha chỉ đóng vai nguồn cung cấp tiền cho con ăn học, may sắm, nguồn kinh nghiệm khôn dại đưa lời chỉ bảo khuyên răn. Tất cả đều là lý trí lạnh lùng.
Chớ mẹ thì không. Nghĩ đến mẹ là một chuỗi hình ảnh êm ái hiện ra: mẹ mang nặng đẻ đau, vạch vú cho bú, mẹ bồng ru ngủ, mẹ ôm hôn nựng, mẹ tập đứng tập đi. Khỏi cần lý luận, khỏi nhìn đâu xa, cứ nghĩ đến mẹ là như thấy rõ hồi nhỏ mình nằm như thế nào trong vòng tay mẹ, ỉa đái tự do trên mình mẹ và me lo giặt, lo thay, quen thuộc với mùi khai, mùi thúi. Với cha thì phải suy nghĩ mới thấy, bởi mọi sự thương yêu chỉ hiện rõ khi mình còn nhỏ. Bây giờ nếu may mà biết được là nhờ ngẫu nhiên thấy một người cha nào đó đang thương yêu săn sóc đứa con nhỏ của họ.
Tìm trong văn chương thì thường chỉ gặp loại:
Công cha như núi Thái Sơn
Núi này nhất định là phải lớn lắm, và công cha cũng lớn như vậy. Không thấy ghi một nét cảm động về người cha mà chỉ phác qua một hình ảnh uy nghi, nhưng xa cách, gợi sự tôn sùng. Mọi người đều thuộc, đều đọc làu làu, nhưng mà thản nhiên như đọc khẩu hiệu.
Người cha quen thuộc, cha của Mẫn Tử Khiên, thì được vẽ là một người biết làm bổn phận: bổn phận cưới vợ kế khi vợ cả chết và bổn phận đuổi kế thiếp vì Mẫn Tử Khiên bị ngược đãi. Mà cũng ngẫu nhiên mới biết được con khổ khi thấy con mặc áo rách run rẩy đẩy xe cho mình.
Người cha trong cuốn Luân Lý giáo khoa thư dễ thương hơn. Truyện kể: Mẹ đi chợ mua về cho con trái cam. Con nghĩ đến cha làm lụng nắng nôi, liền cầm trái cam chay ra đồng tặng cha. Cha nghĩ đến mẹ đầu tắt mặt tối ở nhà, liền cầm trái cam đem về tặng mẹ. Trái cam đi một vòng, dài và rộng hơn sợi dây tình cả con thương cha, rộng gấp ba lần vì thêm tình mẹ thương con, tình chồng thương vợ.
Cổ văn thường nặng nghĩa lớn, nhẹ tình riêng. Phạm Trọng Yểm, tể tướng đời Tống, sai con là Thuần Nhân chở năm trăm thùng thóc về quê. Ðến Ðan Dương, Nhân gặp Thạch Man Khanh là bạn cũ của cha đang khốn quẫn vì bị ba cái tang dồn dập. Nhân đem tặng hết năm trăm thùng thóc. Lại nghe hai cô gái đến tuổi mà đang ế chồng, liền tặng luôn cái thuyền. Về kể lại chuyện cho cha nghe. Nghe tới chỗ hai cô gái của bạn ế chồng. Phạm liền ngắt lời hỏi: “Sao con không cho luôn cái thuyền?”
Cuộc sống bắt cha hướng mắt ra ngoài đời, nhìn đời, lăn lộn với đời. Mẹ thì nhìn vào trong nhà, nhìn vuông sân chái bếp, con gà con chó, cây ổi, cây xoài và bầy con của mẹ. Cha lặng lẽ đi làm kiếm tiền, con đâu biết bao nhiêu gian lao cực nhọc, lo toan đối phó làm mệt mỏi gân cốt và trí óc cha. Về đến nhà tìm sự yên nghỉ, nhiều khi mang cái bực bội, cái cáu gắt từ ngoài xã hội về theo. Con phải len lén bỏ ra sau nhà, im lặng, càng xa càng tốt, gần như muốn xóa bỏ cái hiện hữu của mỉnh. Sự cách xa giữa cha con thường bắt đầu nhẹ nhàng như vậy. Càng thêm xa cách bởi sao cạnh mẹ con thấy êm đềm. Ai làm ra tiền không cần biết, chỉ muốn nhai viên kẹo, muốn cắn trái ổi là chỉ cần thỏ thẻ với mẹ. Mua cây viết mới, sắm đôi dép mới… thảy thảy mẹ đóng vai bà tiên. Tội thân cha, cạnh bà tiên hiền, cha thành Thiên Lôi; bà tiên càng hiền, cha càng thành La Sát.
Không, cha không muốn vậy. Cha thương con nhưng cuộc sống phân công mỗi người mỗi việc. Mẹ như cọng mảnh, nhánh thấp cành gần để trái non xúm xít bâu quanh. Cha như thân vững chắc, bám rễ thật chặt, hút nhựa nuôi lá, nuôi hoa, nuôi trái. Thân chĩa từng cành lớn đâm ngang, thân vươn những nhánh cao phủ trên đầu che mưa che nắng. Cha cân nhắc lời nói, chỉ nói khi cần, con lờn mẹ thì cha cần phải nghiêm. Mẹ là tình cảm, cha là lý trí, mẹ lạt lòng, cha phải giữ kỷ cương. Mẹ chín bỏ làm mười, cha phải cầm cân nảy mực. Ði vào bước trưởng thành từ mười ba, mười bốn tuổi, con càng ngày càng ngại cha, tránh cha rồi xa cha là vậy.
Nhưng đừng đơn giản bất công, quên cái thời ta lên năm, lên mười, kẻo thành bội bạc. Hãy nhìn những đứa ba tuổi làm nũng với cha. Bắt cha bế chạy nhong nhong. Bắt phải dắt ra cổng đứng nhìn xe cộ. Bắt phải có cha nằm cạnh quạt cho mới ngủ. Lên tám, lên chín thì hay chạy tới nơi cha làm việc để đón cha cùng về. Trên đường đi phải nắm tay cha, thỉnh thoảng nhìn lên mặt cha, dẫu là khuôn mặt tầm thường hay xấu xí.
Tuổi già chiếc bóng, mẹ dễ sống theo con, dâu, rể. Lúc thúc sớm hôm, chăm chút tỉ mỉ, mẹ uốn mình theo nếp sống, mềm mỏng ung dung như nước. Thường cha thì không, cha ít cam khuất phục rể dâu. Chịu sống hắt hiu, thiếu thốn, cố tránh trước cái giả bộ nặng tai của dâu, cái im lặng cố ý của rể. Mẹ biết ý nên khi nhắm mắt vĩnh biệt, mẹ thường thổn thức dặn dò: “Anh ở lại nuôi con. Gắng kiếm một người hiền lành giúp đỡ. Chớ đàn ông không chịu khổ được lâu.”
Phải, tuổi càng cao, khổ càng chồng chất, dâu rể không ăn hiếp thì có con muỗi, con kiến ăn hiếp thay. Cứ cắn, cứ chích, nạn nhân nghe đau đâu đập đấy, chớ mắt mờ đâu còn thấy rõ. Nhìn lên bầu trời đâu còn thấy chòm Bắc Ðẩu mà mới ngày nào lững thững dắt con đi trong sân cha chỉ cho con nhìn.
Con nay đang tuổi trung niên, bận theo quyền lực, vui với vợ con, bè bạn, việc báo hiếu cho cha thường tỏ ra bủn xỉn. Nếu có ai trách hững hờ chểnh mảng thì thiếu chi lý lẽ dẫn ra: “Ðược vậy còn đòi gì nữa?… Trời ơi, thì giờ đâu!”
Phải thì giờ đâu? Người xưa hay nhắc phận con kíp lo báo hiếu bởi “tử dục dưỡng nhi thân bất đãi” con muốn nuôi mà cha mẹ không chờ.
Khi con ở tuổi trung niên thì cha vào giai đoạn già yếu. Bề ngoài ngó dẫu phương cương nhưng nội tạng thường rệu rã. Dễ hiểu thôi mà: một đồ vật dùng đã sáu chục năm rồi thì dẫu lạc quan đến đâu cũng chỉ có thể tạm nói: “Cũng còn khá.” Cha thỉnh thoảng cảm thấy hơi đau nơi này, chợt nghe có cái nhéo nơi kia. Ðôi hồi bỗng mệt vô cớ. Nhưng cha thường im lặng không nói. Những câu nói không còn cần thiết, êm ái cho con nữa như khi con còn nhỏ. Bây giờ, những câu nói đều quấy rầy con. Ðành âm thầm nghĩ đến câu Vạn vật vô thường.
Sách xưa dạy: “Hôn định thần tỉnh,” ta dịch: “Tối viếng sớm thăm,” lạt lẽo nghèo nàn nếu không có người giảng cụ thể rằng cha mẹ già thường cần đôi mắt và bàn tay con, trước và sau giấc ngủ. Ðã nằm trong mùng thì lười đứng dậy để khép bớt cánh cửa, để lấy cái mền, để tìm lọ dầu. Ngủ một đêm sáng dậy, trong mình có gì thay đổi, đó là lúc con cần hỏi han mẹ cha mới dám giãi bày.
Gần như mọi người con, cuối cùng đều âm thầm tự trách, lặng lẽ xót xa. Cha biết trước tâm trạng đó, phòng xa ngày nào mình từ trần con mới chợt ân hận muộn màng, nên trong mỗi bức thư gửi con, cha đều kết thúc bằng sự bằng lòng, rằng con đã học hành thành đạt và cha mãn nguyện, cha vui. Lòng vị tha, lòng hy sinh cho con kéo dài mãi sau khi nhắm mắt.
Báo hiếu đâu chỉ món quà, mà có thể đôi tháng gởi một bức thư. Nội dung đâu đòi hỏi cao siêu, chỉ cần mươi dòng lược kể một chuyện đã nghe, một điều vừa thấy. Thì cũng như bè bạn gặp nhau, chào nhau một câu rất nhảm mà vẫn rất cần: “Ði đâu đó? Mạnh giỏi?” Sinh nhật cha, tặng một cành hoa. Nếu ở thành phố xa, hai ba đứa con gởi về hai, ba bức điện chúc mừng, tốn không bao nhiêu mà tạo được sự rộn ràng tới tấp. Niềm vui tinh thần đâu thua bữa tiệc cao lương?
Ngày Vu Lan, nhiều chùa tổ chức lễ hội Bông hồng cài áo. Hoa hồng tượng trưng cho mẹ. Ðể tỏ lòng thương nghĩ đến cha, nhiều nơi buộc thêm dải nơ tượng trưng cho cha. Cha còn: nơ xanh. Cha mất: nơ trắng. Lễ đường xếp thành bốn dãy, dãy cha me song toàn: hoa hồng nơ xanh. Mẹ còn, cha mất: hoa hồng, nơ trắng. Mẹ mất, cha còn: hoa trắng, nơ xanh. Mẹ cha đều mất: hoa trắng, nơ trắng. Người dự lễ đứng theo hoàn cảnh của mình.
Có lần, một em nhỏ tuổi chừng lên tám đứng trong hàng hoa trắng nơ trắng. Em nhìn quanh, tủi thân khóc òa và cả lễ đường cùng khóc òa theo.
Cha cũng như mẹ, rồi một ngày: “Ðỉnh hoa biểu từ khơi bóng hạc” (Cha mẹ mãn phần) nên mỗi người con đều phải vội vàng. Trả hiếu không bao giờ đủ, không được coi là dư bởi tình cha thương con là “cho” chớ không phải “cho vay” để có thể gọi là trả đủ.

VÕ HỒNG

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Bố tôi”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

DƯƠNG QUANG SƠN
“Bố tôi”

Một hôm vào năm 1979, tôi ở nhà xem truyền hình. Tôi xem chương trình “Sáu Mươi Phút” vì đang có một phim về các thuyền nhân từ Việt nam đổ đến Mã Lai. Thông tín viên Ed Bradley đang phỏng vấn một vài người. Họ bảo họ đi từ Việt Nam sang bằng tàu, nhưng chính phủ Mã Lai không chịu cho vào bờ. Tàu đắm, rất nhiều người chết đuối. Tất cả những người sống sót đang khóc.

Tôi nhận ra một người lúc Ed Bradley phỏng vấn. Chính là người bạn thân nhất của anh tôi ở Việt Nam, tên Đặng Hồng Phước. Vì thế tức khắc tôi điện thoại cho anh tôi, tôi hỏi: “Anh có xem chương trình Sáu Mươi Phút đấy không?” Anh tôi nói: “Có, có thấy Đặng Hồng Phước không?” Tôi đáp: “Có”. Thế là chúng tôi quyết định tìm mọi cách cố liên lạc với Phước và bảo trợ Phước sang Mỹ. Chúng tôi viết thư cho Hội Hồng Thập Tự để liên lạc.

Sau khi liên lạc được, anh ấy viết thư cho chúng tôi. Anh ấy bảo trong số những người chết đuối có bố tôi. Anh ấy bảo bố tôi đã trả tiền cho chủ tàu để ra khỏi Việt Nam. Nhưng tàu đắm ngoài khơi Mã Lai, cha tôi chết mất tích.

Tự do là tất cả những gì bố tôi luôn luôn mong muốn. Bố tôi chỉ muốn được làm một con người tự do. Thế thôi. Bố tôi đã gửi anh tôi và tôi sang Mỹ để chúng tôi được tự do. Và bố tôi cũng cố chạy thoát Cộng sản. Nhưng đối với bố tôi, đã quá muộn. Quá muộn rồi.

CHÉM

aminh

Khu công trình xây đến tầng mười một. Sẽ còn phải xây cao nữa. Thêm hàng tầng, để khu công trình trở thành cao ốc chọc trời, hải đăng của toàn thị trấn. Cuối mỗi tuần, những ông chủ họp bàn. Họ nói rằng cần phải chặt bỏ Xà Cừ. Bốn ông chủ, đều nhất trí với nhau. Đám trợ tá cũng gật theo ông chủ mình. Số người làm, bao gồm cả dân thị trấn biểu quyết 50/50.
Xà Cừ mọc sừng sững, án ngữ ngay trước tòa kiến trúc. Xà cừ cao trên hai mươi mét, sừng sững như cái cột chống trời. Phần thân của xà cừ rộng hơn vòng tay của mười người lớn. Lớp vỏ rắn như bọc thép. Cành Xà Cừ to, nhìn gân guốc và cơ bắp. Các tán cây mọc đan xen, lá cành xum xuê, xòe như cái ô khổng lồ. Không một ai ở thị trấn biết niên tuổi của cây. Chỉ mang máng, nhiều thế hệ đã sinh ra dưới tán cây Xà Cừ. Những bé trai, bé gái trưởng thành theo tháng năm, kết hôn, sinh nở rồi già chết. Xà Cừ vẫn đứng đấy, tại mô đất hoang giờ là khu công trình. Xà Cừ đổ bóng xuống khu công trình và che mát cho những ai đi lại dưới cây. Thị trấn này, chỉ có một cây xà cừ. Cây nảy mầm, bám rễ vào đất mẹ và uống mưa gió để ngày một vạm vỡ. Từng có những cành Xà Cừ vươn dài, và đổ bóng che cho những cây con đứng lẻ loi khỏi nắng mặt trời. Số cây nhỏ, lớn lên, vươn cao rồi già, chết khô. Mùa mưa, rồi bão nhiều cành Xà Cừ bị táp gãy. Những đợt bão quá mạnh, và dai dẳng từng ngày làm nhiều cây cao bị bật rễ hoặc gẫy đổ. Xà Cừ cũng nghiêng ngả trong bão, phần lớn cành gãy lìa, lá cây đổ rạp, bay tứ tung trong trận gió. Từng có trận mưa bão đủ lớn để một phần rễ Xà Cừ bị bật lên. Nhưng rồi, cây vẫn đứng vững. Phần cành lá bị gẫy trụi được tái sinh sau nhiều tháng, năm. Phần rễ bị bật được người thị trấn xén đi vừa đủ khi thấy phần rễ mới mọc và bắt đầu ăn xuống đất. Xà Cừ, là người già nhất trong cái thị trấn. Cao niên hơn mọi cây cối, mọi bia mộ phủ rêu xanh và còn trai tráng hơn mọi trai tráng tuổi mười bảy. Giờ đây, Xà Cừ đứng chắn trước khu công trình. Đấy sẽ là một trở ngại, đối với một những dự án vốn đã được kí. Tại đây, trong khu công trình đồ sộ nhiều tầng, nhiều phòng ban, nhiều hàng hóa và hệ thống máy móc…Phần lớn người thị trấn đã có việc làm và thừa thãi về chi tiêu. Bốn ông thầu, ở bốn phương hùn vốn để xây khu công trình này. Số máy móc, vật tư và chẳng gì mong đợi hơn việc thị trấn heo hút này sẽ sáng mãi ánh điện thành phố. Cây Xà Cừ, sừng sững như cái cột chống và cao hơn mười một tầng nhà xây dở. Cây, chẳng phải mối đe dọa về việc cành lá sẽ vươn dài, đâm hỏng cửa kính hay chui vào một phòng ban, hoặc, cũng khó để lo ngại một cái cành quá lớn chợt rơi và gây thiệt hại. Nơi Xà Cừ đứng cách khu công trình năm mươi mét. Nhiều cành xà cừ đã từng rơi gẫy nhưng chưa ai bị thương. Theo như lời bốn ông chủ thì đã án ngữ nơi cửa ngõ chính. Phần đất từ khu công trình đến Xà Cừ thừa đủ để xây thêm công trình, nhà để xe hay đài phun nước hình rồng.
Các ông chủ đã quyết chặt bỏ cây. Họ sẵn sàng rút khỏi thị trấn nếu cây còn, và làm ngáng trở việc hoàn thiện khu công trình. Mấy người sống lâu nhất ở thị trấn, lắc. Còn con, cháu họ thì gật. Những người đấy đã quen dần với hơi máy điều hòa, nhà cửa kính ba tầng, thang máy, bia lạnh và tương tư những chuyến du lịch dài ngay. Xà Cừ vẫn đứng đấy, bóng cây tỏa rộng cả một vùng lớn thị trấn. Bộ rễ lớn ngày một gồ ghề. Phần bệ xây đã bị bộ rễ sinh sau đập nứt. Bốn ông chủ ngày ngày đứng ở cửa sổ khu công trình. Họ nhìn Xà Cừ, rồi cau mày. Cái cây hẳn sẽ còn sinh trưởng, cao lớn nữa. Theo lời bốn người, thì “Cửa chính, nơi hướng gió không thể có vật cản.” Cũng theo lời ho, một lần nữa “Già, hoặc chết hoặc là thành tinh.” Thế rồi, Xà Cừ đã vào dự án chặt bỏ. Nhiều thợ được mời đến.
Vỏ Xà Cừ rắn hơn mọi cưa máy. Năm, sáu cái cưa chém vào nhưng chỉ làm nứt vỏ. Phần thân vẫn được bảo vệ. Người thị trấn đứng xem. Số ít, tặc lưỡi tiếc. Số ít nữa, nghĩ ngợi về một công trình hoàn thiện. Một số ít khác thì can mấy người thợ, bằng lời. Cả buổi, cũng không cưa sâu được vào lớp vỏ. Lúc có gió, những tán cây vỗ ào ào tưởng như là trời mưa. Bốn ông chủ, tạm gián đoạn mọi công việc để thị sát việc chặt cây. Tiếng cưa, rồi rìu, búa đục ầm ầm cả ngày. Số cành lớn, từng che mát cho người thị trấn được chặt bỏ. Xà Cừ quá cao, nên phải dùng đến xe cần cẩu. Nhưng ngay cả loại cần cẩu lớn nhất, cũng không thể vươn lên trên ngọn Xà Cừ. Cần thiết phải húc đổ Xà Cừ. Tấm bảng với hàng chữ “Vì khu công trình vĩ mô của toàn thị trấn” đã giải nghĩa mọi thắc mắc của người trong trấn.
Họ chặt bỏ những cành lá ở gần. Một xe cành, rồi lá Xà Cừ. Rồi lại thêm một xe, cành và lá Xà Cừ. Nắng mặt trời đổ, nướng cháy từng cái mũ bảo hiểm. Người thị trấn chỉ đứng ngoài. Bốn ông chủ, vẫn đứng trên khu công trình. Người đứng, người ngồi ghế, có người hút thuốc, nhờ trợ lý đấm lưng.
Những cành lớn, xòe rộng như đuôi công bị vặt trụi, cứa đứt và thành dĩ vãng. Lá rơi xanh rì cả con đường nối vào khu công trình. Mặt gỗ Xà Cừ vẫn rất rắn. Những bộ cưa máy gãy lưỡi, vỡ thép. Cây rìu bổ vào Xà Cừ gãy cả cán. Phần thân bên trong vẫn chưa bị cắt vào. Lớp vỏ đen, sần sùi như da cóc nhưng rắn như vỏ xe tăng. Ngày đầu tiên, phần lớn cành Xà Cừ bị ngắt cụt. Những cành, nhiều nhánh với lá xanh xum xuê mọc vắt nhau vốn tạo thành cây nấm giờ đã loang lổ, hoang tàn như mùa Đông tàn bạo nhất đang thống trị. Hết ngày, người thị trấn về nhà ngủ, bằng lòng với tiền lương ứng trước.
Mấy hôm sau. Người thị trấn lo lắng hơn vì khu công trình chưa hoạt động lại. Nhiều người ngồi nhà, la cà quán rượu hoặc ngủ một mạch đến sáng. Xà Cừ còn đấy. Mất hết cành, lá nên một trận nắng to là khiến cả thị trấn sáng rực. Khu công trình mười một tầng dang dở cao ngút. Xà Cừ sừng sững hơn mười một tầng nhà. Trước khu công trình, là Xà Cừ và trước Xà Cừ là khu công trình. Từ tảng sáng, toàn thị trấn đã ồn ào bởi tiếng máy khoan. Vị trí từ khu công trình. Một máy khoan lớn, ba người khiêng đang ấn mũi nhọn vào thân Xà Cừ. Đầu khoan dài, nhọn quay vun vút nhằm đâm thủng vỏ Xà Cừ. Mấy người thợ vã mồ hôi. Mũi khoan vẫn đâm vào một điểm, rồi xoáy vun vút. Đến trưa, thì một đoạn nhỏ của máy khoan đã xuyên được vào thân cây. Tiếng vỏ cây vỡ rôm rốp như xương sọ. Từ phần vỏ bị xuyên thủng, một dòng nước rỉ ra và bắn toé. Thứ nước màu trắng, hẳn là nhựa cây. Một mùi thoang thoảng toát ra từ thứ nhựa màu trong vắt. Toán thợ rút đầu mũi khoan ra. Dòng nhựa xối mạnh. Thứ mùi hương nhẹ, không quá đậm đà và chẳng phớt nhẹ như hương hoa bám trong gió. Chẳng mang vị ngọt của đường, mật ong cũng không chua như quả mận cắn đôi. Chẳng giống mùi rơm cháy, mùi mưa phùn phả xuống mặt gỗ. Chỉ một lượng hương vừa đủ ngái, và đám người ngây ngây. Dòng nước trắng rỉ từ vết đâm trên thân Xà Cừ và chảy xuống gốc. Mùi của nhựa vẫn toát ra, và dậy lên đều đều. Đám thợ, rồi những người dân đứng quanh đó bước lại gần Xà Cừ. Ai ở quá xa cũng vì ngửi thấy mùi hương mà chạy đến. Hít ngửi bằng mũi, rồi chợt chép miệng. Người bạo dạn nhất đã quệt ngón tay vào nhựa. Chẳng dính. Thậm chí, thứ nước trắng còn chảy vuột đi rất mau. Cũng ngón tay dính nhựa, người đấy ngậm lên miệng. Ngón tay ở mãi trong miệng, và tiếng mút chùn chụt kéo liên hồi. Mấy người khác cũng nếm thứ nước của Xà Cừ. Họ hứng bằng ngón tay, rồi ngậm trong miệng và mút. Một giọt nước mắt rỉ ra, chỉ một bên mắt. Đám thợ quỳ xuống, hứng nhựa Xà Cừ và xoa lên mặt. Có người hứng vào lòng bàn tay và cũng vuốt lên mặt, lên tai, chà lên tóc và khắp thân mình cho đến khi nước cây ngấm biến. Cái cưa máy bị bỏ xó. Một ông già đã về nhà, lấy một tấm lụa vàng và căng ra, cuốn quanh vết thương Xà Cừ.
Bốn ông chủ, đã xuống đến tầng một. Không một gương mặt nào tỏ vẻ dễ gần. Từng người hô hoán, rồi nhéo tai toán thợ. Có người bị tát tai và nằm còng queo dưới gốc Xà Cừ. Người thị trấn đến ngày một đông. Họ cố nói, để việc chặt bỏ cây gián đoạn vĩnh viễn. Tiếng “Không” từ bốn cái miệng phát ra, lặp lại và tiếp tục lặp lại không tạo thành tấm gỗ lớn để chặn dòng lũ xiết chảy. Một trong bốn người rút ra một khẩu súng và bắn chỉ thiên. Tiếng đạn nổ như bàn tay thép bít chặt tiếng nói của đám người. Ba người còn lại bảo rằng “Cây đã vào dự án, và tất cả các người đều đồng ý, dù chưa chính thức.” Nòng súng còn tỏa khói. Họng súng chỉ vào ai, người đấy liền run rẩy. Tay ủy ban của thị trấn chạy lại phía bốn ông chủ. Tên cầm súng bóp cò. Ba người còn lại sờ tay vào túi quần, túi áo vét và sờ soạng. Hẳn họ cũng có súng. Chẳng một ai rút súng, chỉ mò mẫm, sục sạo tay vào túi. Tấm lụa vàng bị xé đôi. Dòng nhựa còn đấy. Tên chủ cầm súng bắn vào phần thân đục. Nhựa xối ra. Ông ta cũng nếm nhựa, và nhổ phì vào chính thân Xà Cừ.
“Đừng hạ mình bằng con bọ hung háu cứt.”
Tiếng súng nổ, chỉ thiên.
“Muốn ánh sáng, phải giết bóng tối. Cách mạng đẻ ra văn minh.”
Tiếng súng nổ liên tục, rồi cò súng lách cách, hết đạn. Thân Xà Cừ nứt toác, nhựa chảy ộc ra.
Toán thợ bật lại máy khoan. Người thị trấn đứng lùi ra. Không một tiếng nói. Chỉ tiếng mũi khoan đâm vào thân Xà Cừ. Bốn ông chủ vẫn đứng đấy. Người cầm súng đang lau nòng, và thay ổ đạn mới. Thế rồi, cũng hết chiều và trời tối đi. Đến hôm sau, cũng tinh mơ, hai xe tải chạy vào thị trấn. Trong xe, một toán thợ khác bước ra. Người ta thấy cả mấy ông trung niên, diện vét. Nghe đâu người trên thành phố, và cũng là người quen của khu công trình. Vết thủng trên thân Xà Cừ đã sâu hoắm. Toán thợ mới, gồm mười bốn người được trang bị áo quần bảo hộ và mặt nạ chống độc. Trông họ chẳng to khỏe hơn mấy người thợ cũ nhưng động tác dứt khoát và chuyên nghiệp hơn. Những cái máy cưa cắt vào Xà Cừ, bắt đầu từ vị trí lỗ thủng. Mặt gỗ vẫn còn rất chắc nên phải cưa cắt lâu dài. Bốn người chủ, đã rút lên tầng trên, và vẫn giám sát mọi công đoạn. Đến trưa, toán thợ lấy xẻng đào quanh gốc Xà Cừ. Mấy người ở thị trấn đều có mặt, và đứng ngoài. Đã có một hàng rào sắt bao quanh Xà Cừ, với lí do để cách li người dân khi cây đổ. Độ vài tiếng, một số cán bộ trên ủy ban thị trấn đi xuống và đứng trước làn hàng rào. Mấy cụ già, bảo về việc dừng chặt Xà Cừ.
“Xà Cừ là nền tảng thị trấn này, hãy để yên.”
“Già thì phải chết, già quá thì sẽ thành ma, thành quỷ. Cứ chặt.”
“Đập bỏ cái cũ, khai sáng văn minh.”
Tiếng hô hoán, hò reo. Những biểu ngữ, băng rông giăng chằng chịt, bo quanh nơi chặt Xà Cừ.
Tiếng xẻng đào. Từng ngày, từng ngày. Người ta nói đừng đào gốc. Thợ vẫn đào. Bốn ông chủ theo dõi bằng ống nhòm. Rồi, toán thợ đào tiếp. Một hố lớn, như nấm mộ người khổng lồ. Phần rễ lớn của Xà Cừ lộ ra. Cái bộ rễ vẫn còn tươi mùi đất. Phân nhánh rễ mọc dài, chùm bao quát như bộ râu vĩ đại bốn nghìn tuổi. Toán thợ xách ra một cái can, rồi mở nắp. Một mùi nồng nặc khiến những ai không mang mặt nạ chống độc phải ói mửa. Người thị trấn dù đứng ở xa, vẫn thấy rát họng. Không ai đứng vững, ôm cổ, rồi nôn khan. Mấy cán bộ thị trấn bịt mũi, vẫn ói mửa. Thứ mùi trong can như cái miệng không ngừng ngoác rộng, táp hết mùi Xà Cừ. Chẳng có gió, và mùi trong can mạnh hơn cả trận bão. Lúc can dốc ra, thứ nước cũng màu trắng nhưng đặc sệt đổ xuống. Có khói bốc lên từ hố lớn. Rồi, một lúc lâu, từ dưới rễ Xà Cừ dâng lên một mùi cũng nồng nặc không kém. Thứ mùi tanh, sền sệt như hắc ín. Hai loại mùi trộn vào nhau, cùng cắn xé và đẻ rớt thành thứ mùi hỗn độn, tạo thành khí đỏ, đặc, cuồn cuộn như ngọn lửa xé xác nhà thờ.
Ngày qua ngày, toán thợ đổ thứ hóa chất xuống rễ cây. Khí đỏ dày đặc, tỏa cả trong gió và phủ quanh thị trấn như sương mù. Ba ngày, mùi nhạt đi, rồi tan. Vị tanh vẫn bao trùm. Từng người nhìn tay, chân, và sờ tay, chân, đầu. Tất cả đều nguyên vẹn. Họ sờ lên miệng, và lau, và chẳng thấy gì. Cưa máy tiếp tục. Lưỡi thép bổ sâu vào thân. Phần vỏ đen như khuôn mặt người già nổ toác. Không còn nhựa trắng. Bốn ông chủ còn trên khu công trình. Người thị trấn tập trung ở góc nhỏ bên lề. Họ chỉ còn góc đường này. Phần đất đứng rộng hơn được phong tỏa bởi những công an, trật tự ủy ban trấn. Một lớp hàng rào sắt, rồi bàn, ghế được dựng chắn. Người già khấn vái, đốt hương và buộc khăn trắng. Một số khác tự tách ra, vào trong khu công trình, cầm biểu ngữ và phất cao. Máy cưa phá gỗ rầm rầm. Mười cái mặt nạ chống độc vẫn bấu chặt đầu mười bốn người thợ. Người cưa ở dưới, người trên cần cẩu, đều đeo mặt nạ. Nhìn họ như bầy châu chấu đột biến hình người.
“Cây đổ! Tránh ra.” – Tiếng hô lớn. Người người đứng rạt.
“Đổ rồi!” – Tiếng hô to hơn. Bốn ông chủ vươn cao người khỏi lan can và ngó bốn đầu xuống.
“Khu công trình sẽ cao hơn, cao hơn, hơn nữa…” – Tiếng rổn rảng.
Xà Cừ nghiêng ngả. Chưa hoàn toàn đổ. Toán thợ đạp lên thân. Rồi một toán người khác, cũng đạp, đẩy tay để cây nhanh đổ. Tiếng hò dô ta. Tiếng súng nổ, chỉ thiên. Tiếng hò dô ta tiếp tục. Người bên ngoài chưa thể vào khu công trình. Hàng rào thép còn đó. Các cán bộ, công an ủy ban đứng ưỡn người, và che hết tầm nhìn. Người xông vào, người ngăn lại. Bàn ghế đổ nhào, hàng rào sắt ngả chệnh một bên. Tiếng toét còi. Tiếng dùi cui bổ xương. Một cuộc xô xát cuốn bụi mù. Lại tiếng súng bắn, chỉ cây. Súng nã từng viên. Một người trong đám, không rõ phe nào chợt ngã dính xuống đất. Dường như đạn lạc.
Xà Cừ bật gốc. Bóng cây, giờ chỉ theo đường thẳng như ngọn tháp đổ, chém ngược xuống khu công trình mười một tầng dang dở…

Á Minh

bụi – của giấc mơ

phuonguy

Giấc mơ tôi đày đọa tôi trong những âm hưởng của sự tuyệt đối. tuyệt đối yêu tuyệt đối ghét tuyệt đối vui buồn. những sự tuyệt đối leo thang trong nấc tình cảm đau đáu nỗi niềm. là oan khiên hay là chung thân vĩnh viễn?
giấc mơ tôi xét nét tôi trong mỗi đêm vừa đến. đêm oan nghiệt những đợi chờ lúc nắng lên, lúc đêm tan dù ngày là mỏi mệt. giấc mơ đánh tráo bằng những tang thương thành hình trong cơn hoang tưởng âm u.
giấc mơ tôi bày những đốm sáng trên bàn tiệc cuộc đời. nhữ lộng tôi trong sự hợp nhất trá hình của đau khổ. đánh mất tôi sau những liên kết chứng thực bằng văn tự. buộc tôi đánh mất chính tôi trong trong sự lầm lạc mang tên gọi bao dung
giấc mơ tôi giục tôi lao đao trong trầm luân của ý nghĩa yêu thương. sự ích kỷ được khoác tấm áo liệm là từ hi sinh huyền thoại. lẫy động tôi, dụ dỗ tôi bằng ảo tưởng . giam tôi suốt đời bằng hố thẳm thâm căn
giấc mơ tôi buộc ràng tôi bằng những ăn năn. sau tất cả những vượt thoát chỉ biểu dương bằng hối lỗi, ai bỏ thân ngục trần ai ai chịu khổ nạn bằng thập giá? sau rốt cũng chính là tôi tự le lói sáng cho mình trong lúc di quan

HOÀNG PHƯƠNG UY

NGỤ NGÔN CỦA LÁ

daolam

người đàn bà
nằm sấp ngó vầng trăng
mặt phố
rầu rầu ganh tị
chiếc lá hồn nhiên
lay rất khẽ
thương mõi mòn
phía khuyết bên kia
người đàn bà
úp mặt vào nửa khuya
ngoài kia phố giật mình
trăn trở
chiếc lá lạnh se
mùa thu trốn gió
chờ mưa qua
khao khát nắng rưng mềm
người đàn bà
ngó chằm chằm
vào thăm thẳm đêm
cuối hiên thưa
trăng trần truồng xõa tóc
chiếc lá thờ ơ
vỗ về hạnh phúc
mùa thu
ướt sũng dung nhan
người đàn bà
ngồi đợi mùa hoa đăng
trôi từ miền chiêm bao
về đánh thức
chiếc lá mồ côi
cuộn tròn ký ức
mùa chóng quên
lời hò hẹn chóng qua
người đàn bà
thiêm thiếp giấc mơ hoa
kéo vành trăng
về ngang khung cửa sổ
chiếc lá sắp bay đi
về miền lộng gió
vỗ về
khúc mộng du đêm
người đàn bà khắc khoải
ngủ quên
ngoài kia trời rựng sáng
chiếc lá trầm mình
thở dài than vắn,
ngày bắt đầu
từ nỗi nhớ hôm qua
CÒN CÓ AI
ĐÁNH THỨC NGƯỜI ĐÀN BÀ
NGOÀI LỜI TÌNH
NGỤ NGÔN CỦA LÁ

DaoLam

NGÀY LỄ FATHER’S DAY

trandunganh

Có một bài hát hồi nhỏ tôi vẫn nghêu ngao :… Ba thương con vì con giống Mẹ , Mẹ thương con vì con giống Ba…Một lần Ba đang ngồi nhậu với chú Lê Vũ, vẫy tôi lại , ôm tôi vào lòng :” Không phải vậy đâu, Ba Mẹ thương con chỉ vì con là con của Ba Mẹ.” Tôi không bằng lòng chút nào lời ba nói. Tôi muốn giống Ba, giống Mẹ thật nhiều kìa… Tôi rất giận khi Mẹ Đức , Bố Tâm ở cạnh nhà cứ ngắm tôi rồi nói : “Tu Hú đâu phải con Mẹ Dung.Tu Hú lai Mỹ nè , tóc nâu , da trắng , mũi cao , môi đỏ.”
Tôi còn nhớ , cứ mỗi chiều chạng vạng là bà nội cứ quẹt lên trán tôi một vết lọ nồi làm phép khi tôi thơ thẩn lang thang quanh nhà.(Như ngày xưa ,bà cố quẹt lọ nghẹ lên trán Mẹ.)
Tôi rất sợ khi có ai nói rằng tôi không phải là con của Mẹ…những khi nghe vậy tôi cuống cuồng hốt hoảng chạy đi tìm Mẹ, kéo tóc Mẹ đến gần tóc tôi để so màu, kéo Mẹ đến soi gương cùng tôi…Ba lại ôm tôi vào lòng , thương xót : ” Nghe này cưng, nhìn thật kỹ đi . Con rất giống Mẹ, con có hai con mắt nâu nâu như mẹ, một cái mũi hỉnh hỉnh như Mẹ, một cái mỏ chu chu như Mẹ, một cái cằm tròn tròn như Mẹ. Nhưng con đẹp hơn Mẹ nhiều nhờ cái lúm đồng tiền… Con đúng là con của…Ba.” Mẹ bật cười vì câu kết luận lãng nhách lãng nhơ nhưng tôi thì rất yên lòng.
…Lớn một chút , ai cũng khen tôi xinh đẹp, Tôi không nghĩ mình xinh đẹp mà chỉ muốn học giỏi và làm lớp trưởng… Năm nào bị làm lớp phó tôi đau khổ lắm. Nhớ năm lớp Sáu , một lần tôi đứng đọc thông báo thi học kỳ ở phòng Hiệu Trưởng thì bị thằng lớp trưởng lớp Tám vuốt má. Tôi tức quá chạy tìm cô Hiệu Phó Thiếu Anh mét. Vậy là nó bị lôi lên Văn Phòng …làm việc . Không biết cô Thiếu Anh nói gì mà từ đó cứ gặp tôi là nó kinh hoàng tránh xa.
Sau đó , Ba không cho tôi đạp xe đi học nữa mà luôn dành làm tài xế đón đưa…Ngày nào Ba về trễ thì chú Thành đi đón. Nhìn 2 cánh tay xăm trổ của chú bọn con trai trong trường né hết !
Ba nói với tôi nhiều lần như một người bạn : ” Tu Hú, Bề ngoài con có vẻ yếu đuối nhưng con sống đầy lý trí và tâm hồn mạnh mẽ. Con không giống Mẹ và em : tâm hồn vô cùng yếu đuuối mà cứ ngụy tạo cho mình những cái gai nhím rất dã man…”
Tôi hỏi : ” Ba hồi đó sao ba lấy Mẹ , một đứa con nít so với Ba ?
Ba cười : ” Thấy nhỏ xíu, ốm yếu tội nghiệp như con mèo nên lấy !”
( Mẹ chưa biết điều đó vì mẹ luôn có ảo tưởng là vì mình thùy mị, nết na, xinh đẹp… Tôi không nói vì sợ Mẹ giận lây, … con vật Mẹ ghét nhất trên đời là con mèo .)
Trước khi được gây mê đẩy vào phòng mổ , Ba nói với tôi :” Tu Hú, Con nhớ là con phải vững vàng nếu như Ba không còn nữa.Con để ý Mẹ và em...” Ba không biết là tôi đang run như cầy sấy và trái tim đang tan ra từng mảnh hay sao ?
Tôi không khéo tay bằng Mẹ và em . Mẹ học chích thuốc cho Ba trong 30′ gọn gàng nhanh nhẹn hơn cả các sinh viên thực tập. Em không học gì cả, chỉ nhìn y tá thao tác vài lần là biết sử dụng các thiết bị y tế cần thiết trong phòng bệnh. Khi Bác Sĩ hỏi em có phải là một chuyên viên kỹ thuật gì đó của ngành Y không , em lắc đầu , khoe 10 cái hoa tay bé nhỏ trên đầu 10 ngón. Nhưng Ba luôn tin tưởng tôi hơn cả vì biết tôi luôn dang tay ôm cả hai vào lòng mà không cần Ba dặn.
Bây giờ Ba đã khỏe mạnh và vui vẻ, Ba lại đưa vai ra gánh vác để tôi nhẹ gánh…lấy chồng.
Tôi nhớ có lần Nhatrang bị xả đập , trời mưa nhỏ mà nước dâng nhanh quá ngập cao những vùng ngoại ô, chỉ mấy tiếng đồng hồ mà đã phải di chuyển bằng ghe. Tôi xin về sớm, đã thấy Ba đứng trong nước lụt chờ để cõng tôi vào vì ghe chỉ neo ở cổng không vào được sân nhà. Ba biết tôi sợ nước dơ . Cậu tôi biết được . la:” Không thấy ai cưng con như anh , Anh có cõng nỗi nó suốt đời không ?”
Tôi biết, sẽ có lúc Ba không còn cõng tôi được nữa ( giờ phút ấy đã và đang tới ) nhưng suốt đời Ba vẫn nắm tay tôi rất chặc.
Khi tôi hỏi ý kiến Ba Mẹ về người tôi muốn đính hôn , Ba nói :” Con hãy hỏi con 2 điều : – Con có thể hy sinh tất cả cho người ấy ? -Con sẵn sàng lấy niềm vui của người ấy làm niềm vui của mình ?”. Còn mẹ , văn chương chữ nghĩa thật là trớt quớt, nhuốm màu vật chất: “Nó dễ thương, con nhà đàng hoàng , học hành tử tế, cao lớn khỏe manh… Nó sẽ… cõng Ba vô nhà thương nếu Ba còn bệnh như lần trước… Mẹ con mình đỡ khổ !” . Ba nhìn Mẹ, mỉm cười độ lượng và đượm chút màu khi dễ :” Dạy con cái kiểu gì lạ vậy không biết nữa???”
Mẹ là vậy , muốn khác cũng không khác được bao nhiêu…Luôn làm cho người đối thoại bật cười, có Mẹ , cuộc đời rất vui…mà cũng quá nhiều khi có Mẹ , cuộc đời rất mất vui… ( Ồ , chắc chắn Mẹ sẽ nói : ” đâu cần sỉ nhục tui dữ vậy !”

Hôm nay, tôi hỏi : ” Ba ơi, mai là lễ Father’s Day, tụi con muốn tặng Ba một món quà , Ba thích gì nhất hả Ba ?”
Ba đáp không ngần ngại :” Tụi con hãy tặng Ba một đứa cháu ngoại xinh thật xinh như con hồi nhỏ vậy !”
Trời đất , tôi nghĩ thầm : Ba chưa chán cái đứa con nít đã làm phiền làm phức Ba suốt cả cuộc đời đó sao ? Con đã mua cho Ba Mẹ một chuyến đi Cruise , còn chuyện cháu ngoại Ba ráng chờ sang năm Ba nhé.
Con yêu thương Ba nhất trên đời.

Trần Dung Anh

Tiếng cười dòn (Pablo Neruda)

nguyetthuho

Pablo Neruda ( 1904-1973) là một nhà thơ khuynh tả người Chi Lê ,  từng được mệnh danh  “nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ 20 của mọi ngôn ngữ. ”

Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng có hạng , trong đó đáng kể là giải thưởng Hòa bình Quốc Tế vào năm 1950  và giải thưởng Nobel Văn học năm 1971. Ông chết 2 năm sau đó  vì ung thư tiền liệt tuyến .

(Cho những cô bạn thân thuơng của tôi .Hãy luôn cười vang các bạn nhé.)

Đừng cho anh ăn nếu em muốn .
Đừng cho anh thở khi em hờn.
Nhưng xin em,
đừng lấy mất đi tiếng cười dòn .

Đừng lấy mất đi đóa hồng tươi thắm ,
và cúc dại vàng em thuờng hái ngoài hiên
cùng nguồn nước, đột nhiên
tuôn bắn ra bởi niềm vui bất chợt ,
thêm ngàn sóng bạc nảy sinh đột ngột
rực sáng lúc em cười .

Trở về từ chông gai khắc nghiệt
Ánh mắt anh mệt mỏi lừ đừ,
những khi nhận thấy
trái đất này không chút đổi thay.
Nhưng khi tiếng cười em len tận đáy lòng,
chợt cao vút lên bầu trời xanh thẵm
tìm kiếm anh
và mở toang muôn cửa đón mời cuộc sống

Em yêu ,
hỡi tiếng cười ngạo nghễ
trong những giờ tăm tối.
Nếu tình cờ đêm nào em chợt thấy
từng phiến gạch buồn trên đường phố vắng tanh
nhuộm đỏ bằng máu lan nhanh
bởi giọng em cười sắc như thanh kiếm mới
tăng sức cho tay anh trong trận chiến.

Vào mùa thu khi em thăm miền biển ,
tiếng cười vang , dậy bọt sóng triều cao.
Và em yêu,
vào mùa xuân ngàn lá lao xao
tiếng cười em đơm ngàn nụ ước ao
như những nu xanh,nu hồng anh hằng trông ngóng,
từng cánh nở mừng khoe sắc khắp mọi nơi.

Hãy cười ngạo ngày ,đêm và trăng sáng
Cười ngạo cả đường ngoằn ngoèo trên đảo vắng
Cười ngạo luôn cậu bé vụng về này
hằng yêu mến cô bạn tóc thơm mùi nắng
Những khi mắt mở rồi khi mắt nhắm
Những bước chân đi rồi những bước quay về
Anh chẳng thiết gì khi mất đi ánh sáng
lẫn gạo cơm , khí thở cùng mùa xuân
nhưng nếu mất đi tiếng cười dòn tan ấy
anh sẽ chết liền trong đau uất … em ơi

Nguyệt-Thu Hồ

Take bread away from me, if you wish,
take air away, but
do not take from me your laughter.

Do not take away the rose,
the lance flower that you pluck,
the water that suddenly
bursts forth in joy,
the sudden wave
of silver born in you.

My struggle is harsh and I come back
with eyes tired
at times from having seen
the unchanging earth,
but when your laughter enters
it rises to the sky seeking me
and it opens for me all
the doors of life.

My love, in the darkest
hour your laughter
opens, and if suddenly
you see my blood staining
the stones of the street,
laugh, because your laughter
will be for my hands
like a fresh sword.

Next to the sea in the autumn,
your laughter must raise
its foamy cascade,
and in the spring, love,
I want your laughter like
the flower I was waiting for,
the blue flower, the rose
of my echoing country.

Laugh at the night,
at the day, at the moon,
laugh at the twisted
streets of the island,
laugh at this clumsy
boy who loves you,
but when I open
my eyes and close them,
when my steps go,
when my steps return,
deny me bread, air,
light, spring,
but never your laughter
for I would die.

Pablo Neruda

NGƯỜI YÊU

huytuong

1.
Đá rựng tà dương
Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ
Trườn cánh chim
Ôi còn mãi miết chiều phai

Mãi miết chiều phai em có hai bàn tay đầm đìa hối tiếc
Tôi hôn em môi cực cùng ly biệt
Không đậy kín hồn dĩ vãng quỵ dưới trăng ngàn
Lòng đẹp dã man.

2.
Tử hình tôi trong ngực tối
Chờ đợi gì ngoài nguyệt lạnh
Nhân loại còn ai
Kẻ lãng mạn cuối cùng cô xiết đá xanh
Rũ trăng
Rũ máu
Rũ cánh rừng vùng vẫy tà dương
Hỡi em
Còn đợi chờ gì bóng người ngực tối
Loáng ngời khuya
Đẫm suốt hư không
Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ
Ôi đời đời nhức nhối yêu nhau…

HUY TƯỞNG

11041830_824896110915254_3745655873776346654_n

Tán gẫu cùng nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ: “Tự do và chuồng trại”

tuankhanh

“Những người anh em xử nhau đến đổ máu”, nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ đã cười lớn và nói như vậy về chuyện Hội Nhà Văn Nhà nước VN ra tay gạch tên các hội viên của mình. Bức tranh trí thức bầy đàn giờ đây dường như đã nhuốm màu gươm đao và bôi mặt vì mệnh lệnh

1.Lâu nay, là một người làm văn nghệ và hít thở bằng văn nghệ, vì sao anh không xin tham gia vào Hội Nhà Văn, nhất là nơi đó cũng có không ít bạn bè văn nghệ của anh?

Hội Nhà Văn với tôi là một vùng đất xa lạ vì đơn giản “căn cước” của tôi không thuộc về nơi ấy. Tôi là một con người Văn Chương Tự Do theo đúng nghĩa đen đủi của nó. Nên việc phải xin xỏ để được vào ngồi chung với âm binh “tù ngục” là một điều không tưởng vì tôi hiểu mình thuộc về ai. Nếu có chăng thì đó là trên bàn nhậu quán xá của cuộc đời, nơi ấy bạn bè văn chương thân thiết tôi cũng nhiều và kẻ thù cũng không ít. Nói một cách rõ ràng hơn, tôi không ưa thích cái gì thuộc về nhà nước và đảng lãnh đạo. Tôi chỉ muốn là chính mình với văn chương của mình không bị ai dòm ngó chỉ đạo…

2.Có người thích hội hè, có người thích tự do, chuyện đó cũng bình thường – như như anh mô tả thì xã hội văn nghệ Việt Nam đang tập hợp những trí thức và tài năng cho văn học nghệ thuật cho đất nước, hay chỉ là trò mèo, một cách tạo nên một giai cấp khác biệt trong giới trí thức về quyền lợi, về tư duy chính trị…?

Trong một khu rừng thì chắc sẽ có những con thú cô đơn và cũng sẽ có những con vật sống theo quần thể bầy đàn. Nhưng ở trong “Xã Hội Văn Nghệ Việt Nam” hiện tại mà bạn nói thì nó không phải là bầy đàn thuần tính nữa mà nói chính xác hơn là một loại chuồng “Trại Sáng Tác” cao cấp, được điều khiển bởi một hệ thống tư tưởng triết học Mác-Lê Nin đã chết. Nó được trang bị bằng một thứ vũ khí là “Phương pháp hiện thực XHCN” – nền tảng lý luận không thể thay đổi. Cho nên việc “tập hợp những trí thức và tài năng cho văn học nghệ thuật của… đảng” [không thể cho đất nước được] cũng chính là tạo nên một thứ tư duy chính trị về một kiểu “giai cấp mới trong văn chương.” Ở đó sự trung thành của một Osin với chủ nhà cũng chính là sự “khác biệt” tuyệt đối của nó so với những người “sống và viết Văn Chương Tự Do.”

3.Trong những phát biểu của mình, anh hay nhắc về một kiểu nhà văn công chính – uy vũ bất năng khuất – ý anh có muốn nói cụ thể về ai, và vì sao?

Văn chương tự thân nó là một thứ được “đề kháng” miễn nhiễm [khi buộc phải tiếp nhận] bởi những uế tạp của xã hội. Nó chính là sức mạnh vô hình nên những kẻ mạnh, hữu hình, những kẻ bạo quyền “độc tài chuyên chính” luôn phải tự ty căm ghét kinh sợ. Vì nó luôn bị rượt đuổi truy bức nên một ngày nào đó-ở đâu đó – trên đất nước khốn khổ này, khi vẫn còn những kẻ cầm bút hèn hạ chống lại “chính mình,” thì sẽ vẫn còn những những nhà thơ, nhà văn công chính cất lên tiếng nói của chính mình để nói thay cho chính nỗi đau của nhân dân cùng khổ … “Uy vũ bất năng khuất” là như vậy không có nghĩa là văn chương đối chống lại bạo quyền – Nó chỉ nói lên sự thật “không bị khuất phục” và sự cô đơn của nó cũng nói lên sự thất bại của những ai đang mưu toan dùng sức mạnh đen tối để đè bẹp, bóp họng, bóp hàm tiếng nói bất khuất con người… văn chương bằng những mồi nhử hội hè, đình đám mà đoàn, đảng đang hàng ngày nhá nhem câu nhử mời gọi nó.

4.Anh có thể lý giải vì sao trong một xã hội bình thường, nhà văn-nhà thơ-nghệ sĩ… lại phải có một đức tính quyết liệt như một người tranh đấu “uy vũ bất năng khuất.” Lẽ nào đời sống tồn tại văn chương ở VN nhiều năm qua là một đấu trường của danh dự và tự trọng?

Bởi vì đó là một xã hội “không bình thường” nên càng cần phải có những đức tính quyết liệt của một người tranh đấu. Vì nếu một ai đó tranh đấu cho quyền được sống của con người thì mới chỉ một thôi, đó là cần phải có lòng dũng cảm. Thì với văn chương cần đến gấp mười lần như vậy mới có được thái độ “uy vũ bất năng khuất.” Ở đó nó cũng bật cháy lên lòng tự trọng và danh dự và thái độ sống còn của tác phẩm văn chương. Nó hướng đạo cho con người biết đâu là chính tà. Nó cho bạn đọc biết ở đâu là “đúng sai” khi mà ai, bất cứ cuộc cách mạng nào – chế độ nào – cũng sẵn sàng trương lên khẩu hiệu “tranh đấu độc lập tự do” cho những người cần lao cùng khổ. Ðó mới chính là “đấu trường” và văn chương chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là mô tả lại – vẻ lại một cách trung thực – bằng văn chương – bức tranh tồi tệ nhất của thời đại mà họ đang sống và chỉ như vậy thôi là “gươm đao đã kề tận cổ / Súng đã kề bên tai và đạn đã lên nòng.” Ðó cũng chính là “danh dự và lòng tự trọng” mà không dễ ai kiếm được trong một chế độ “xin cho” và sẽ càng tệ hơn so với hơn 1,000 hội viên Hội Nhà Văn đang được đảng “định hướng chỉ đường” như một đàn cừu được chăn dắt bởi một tay sát thủ lột da thuần thục.

5.Trong giới văn chương xã hội chủ nghĩa vẫn có những lời bán tán về chuyện chạy chọt vào Hội Nhà Văn VN, để có tên, để được tham dự hội họp… thậm chí có người đã phải bỏ ra rất nhiều tiền để được vào hội – theo anh chuyện này có thật không? Và vì sao Hội Nhà Văn lại có một vị thế tựa như cơ quan công quyền vậy?

Nên nhớ Hội Nhà Văn là một tổ chức chính trị của đảng, là một cơ quan quản lý hành chính không hơn không kém như những hội-đoàn thể thanh niên phụ nữ chính trị khác trong hệ thống cai trị của chính quyền chuyên chính Cộng Sản. Cho nên vào hội hay vào đoàn-đảng cũng là một nấc thang “chính danh” để có thể leo lên cao hơn, sâu hơn trong bộ máy này. Hội Nhà Văn Việt Nam cũng chỉ là một trong những thành tố đó – nhưng nó lại có tính “đặc thù” hơn – Vì nó là “văn chương tư tưởng,” nên để có thể đứng vào “hàng ngũ tiên phong của đảng” thì chức danh “Hội Viên HNVVN” lại càng béo bở vì rằng nó “vừa có tiếng lại vừa có miếng” và cao hơn nó nhận được sự “kính trọng” của các giai tầng chính trị trong xã hội. Nên việc “chạy chọt” để vào được vào trong hội là một điều có vẻ như không “khả thi.” Nhưng cũng không khó nếu biết kết thân với một ai đó có quyền và dĩ nhiên chuyện “tiền bạc” là không thể thiếu nếu không muốn nói là then chốt. Sau đó mới đến “tiêu chí” tác phẩm để dễ dàng trót lọt. Nên không có gì lạ khi điểm mặt hơn 1,000 hội viên thì có hơn 900 nhà văn nhà thơ – trong đó có cả cán bộ – doanh nhân nuôi chó mèo và quan chức, chủ quán nhậu, giám đốc công ty. Công chúng không biết họ là ai và tác phẩm của họ là cái gì trong nền văn chương đó. Có chăng là một cái “Thẻ Hội Viên Hội Nhà Văn Việt Nam” oai hách mà họ được Ông chủ tịch hội – đại diện cho đảng nhà nước phát phong cho. Dĩ nhiên là họ sẽ được thu lợi nhiều hơn khi được “bảo kê” trong cái danh hiệu hão huyền đó. Quan trọng hơn khi cần phải cho một ai đó biết rằng “tôi là ai và đang làm cái giống gì” trong cánh đồng hợp tác xã văn chương vô đái này.

6.Nghe nói vào Hội Nhà Văn cũng là một cách để nhàn nhã kiếm ra tiền từ các dự án sáng tác phục vụ chính trị cho tỉnh, cho trung ương… theo các dự báo hoạt động tư tưởng, theo anh thì lời bàn về những điều đó có thật không?

Không riêng gì Hội Nhà Văn mà với Hội Mỹ Thuật Kiến Trúc Xây Dựng, Hội Âm Nhạc,… Tất cả đều có thể kiếm ra tiền từ những “Dự án sáng tác phục vụ chính trị” theo mùa, theo từng thời kỳ, lễ lạt kỷ niệm ngày sinh của “Bác,” của đảng, hay đại hội thường niên. Mỗi năm nhà nước đều có dự trù kinh phí cho mỗi hội chuyên ngành – nếu chia đều ra mỗi một Hội TW cũng được vài chục tỉ đồng. Các hội văn nghệ địa phương 64 tỉnh thành cũng hết mấy chục tỷ. Ðó là con số tài chánh công khai được rót từ kinh phí nhà nước mà trách nhiệm của các hội là “phải giải ngân cho hết” nếu không muốn tài khóa năm sau sẽ bị cắt bớt hạn chế lại. Nên việc phải “đẻ ra chuyện” để tiêu pha là chuyện không thể không làm vì đó là “nhiệm vụ chính trị” không thể lơ là. Nó là niềm vinh quang cho các “lãnh đạo hội” nên mỗi kỳ đại hội là mỗi lần “bầu bán” leo trèo chạy chọt rất dữ để có thể có được tấm vé máy bay ra Hà Nội [của hội viên các tỉnh phía Nam] cho nên việc “cắt bỏ” không thương xót một ai đó – Không cho đi “phó hội” – là một đòn đau đánh vào chính sĩ diện khi mà họ đã cố công phục vụ – và nếu đó là những “cây đa cây đề” được chính chế độ “gieo trồng nuôi nấng lớn khôn” cho hưởng tem phiếu bổng lộc xưa nay – cho họ bay lên cao rồi lại chính tay mình bắn hạ rớt xuống lặt lìa – Với những người này thì rằng Hội Nhà Văn chính là nỗi đau buồn của một thời – mà họ chính là những tay chơi đã một đời làm trò làm hề trong gánh xiếc rong của chế độ.

7.Văn chương theo lệnh, theo chỉ đạo… theo anh, có khả năng biến một nhà văn hiền lành trở thành một ngòi bút tàn nhẫn không? Và vì sao nhiều trí thức Việt Nam lại chấp nhận vào một hội đoàn mà nhân cách và tính cách mình bị biến đổi như vậy?

Văn chương theo lệnh, theo chỉ đạo sẽ không bao giờ có thể “tàn nhẫn” theo nghĩa của văn chương nhưng nó sẽ tàn bạo lưu manh theo nghĩa của “giang hồ.” Vì đơn giản một khi nó được băng đảng hóa chính cuộc đời thì “ngòi bút” của nó chính là gươm đao được dùng để “thanh toán” nhiều hơn là “viết lên” một cái gì đó cho con người… Vào hội đoàn theo một cách nào đó thì anh chỉ là một đám “lâu la,” không là chính mình nữa, vì lúc đó cái “thẻ hội viên” chính là “nhân cách” được minh họa sắc nét và tác phẩm chân chính đơn độc chính là “kẻ thù,” liệu có nên gọi đó là “hiền lành” hay không?

8.Trong một nhận xét, anh có nói rằng không ít người vì “giận dỗi” rút ra khỏi hội, chứ thật lòng họ vẫn mong muốn có một chân đứng trong danh hiệu đó, ý anh là sao?

Vì thật ra họ đã xây dựng lên nó với rất nhiều hoài bão tâm huyết và cả “hy sinh đổ máu” vì nó nữa thì tại sao họ lại bị những người anh em đồng chí của chế độ “đối xử” tàn nhẫn như vậy. Ở đây tôi nói “giận dỗi” là còn “thương cảm.” Tôi nghĩ bây giờ họ rất “cay đắng thù hận một cách tội nghiệp như tự tay cào cấu mặt mình đến rướm máu” vì nó đã “phản bội” lại họ … Vì như nhà thơ số một của chế độ đã phải đấm ngực rên lên “Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi” (Bùi Minh Quốc), nó khốn nạn vậy đó!

9.Anh thử lý giải vì sao một người hết lòng với chế độ như kiểu một ông quan nhà văn, ngay trước khi về hưu vẫn cho ra tập hồi ký, và đi khoe rằng mình “từng ở tù Cộng Sản” với các chi tiết được in ra trong sách? Nhà văn Nguyễn Viện cũng có lời giải thích về chuyện này, còn suy nghĩ của anh thì sao?

Ðây là một trò chơi “tự huyễn hoặc” của đa phần các con tin sau khi đã sống chết ăn dầm nằm dề với kẻ “bắt cóc” thượng thừa là chế độ sau bao nhiêu năm. Họ luôn luôn cho mình là những “con đèn cù – nạn nhân” ngây thơ của chủ thuyết Cộng Sản mà điển hình là những “lãnh tụ CS” mà họ đã hết lòng cúc cung phục vụ. Ông quan nhà văn này chỉ mê văn chương đến nỗi ông ta không nhớ là mình đã hốt giết nhốt bao nhiêu người để cho có một ngày được “cầm bút” và viết ngược lại là mình đã từng “ở tù Cộng Sản.” Nó cho thấy cái Hội Nhà Văn này nó quyến rũ đến mức một ông tướng công an cũng tự nguyện hài hước “thay hình đổi dạng” như điệp viên không không thấy là vậy đó trời ạ.

10.Theo anh, tại sao có nhiều nhà văn miền Nam trước năm 1975, vẫn từ chối tham gia hội đoàn văn nghệ của nhà nước, ngay khi họ được cho biết rằng sẽ được tạo điều kiện sáng tác và in ấn?

Không có gì ngạc nhiên vì sao các nhà văn miền Nam trước 1975 từ chối tham gia hội đoàn văn nghệ nhà nước. Nói cho đúng hơn thì họ không bao giờ có đủ cơ hội “bần cố nông” để đứng chung trong hàng ngũ của những người làm văn nghệ CS vì sau khi Việt Cộng tiếp quản Sài Gòn, đa số họ đã là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ,” họ là “những tên biệt kích trong văn chương” của chế độ Sài Gòn xưa và họ là những đối tượng cần phải đưa đi “tập trung cải tạo” mút mùa lệ thủy. Và nếu có sống sót khi trở về thì họ lại tiếp tục tìm cách vượt biển tìm tự do. Một số chết trên biển. Một số được định cư tại Mỹ không về. Một hai người còn ở lại mày mò sáng tác và sống trong lo âu như nhà văn Cung Tích Biền, Dương Nghiễm Mậu, Trịnh Cung… Một vài người phải thay tên đổi họ để được yên thân… thì làm quái gì họ có quyền gì được cho in ấn hay sáng tác – dĩ nhiên trừ khi họ là “hội viên HNVVN,” nhưng điều này là “bất khả thi” ông bạn ơi…

NGUYỄN TUẤN KHANH
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/05/22/tan-gau-cung-nha-tho-nguyen-tan-cu-tu-do-va-chuong-trai/

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Ông ấy là Tướng, ông ấy ở lại…”

nuocmattruocconmua
HUỆ THU
(Dạy học)
“Ông ấy là Tướng, ông ấy ở lại…”

Năm 1975 tôi sống ở Saigon, dạy Anh văn. Có một số học trò đến học tại nhà. Rất nhiều người đã đến tận nhà học tiếng Anh, tiếng Pháp.

Tôi không phải là con người chính trị nên tôi rất ngạc nhiên trước các biến cố 1975. Ngày 25 tháng Tư, có một người bạn Mỹ tên Jim Bradley bảo tôi phải ra khỏi Saigon cho nhanh, chúng tôi sắp thua đến nơi. Nhưng tôi không tin.

Đến khi chứng kiến việc người ta bắt đầu di tản cô nhi và trẻ con, tôi vẫn muốn ở lại. Cách suy nghĩ của tôi bấy giờ là: Dẫu Cộng sản có đến chăng nữa, chúng tôi vẫn còn nhà cửa và ít tiền bạc trong gia đình. Cha mẹ tôi đã mất, nhưng tôi còn có cái khách sạn với một tiệm ăn ở Đà Lạt, hai căn nhà ở Saigon. Tôi nghĩ mình có khá nhiều tiền trong ngân hàng, nhưng tiền mặt thì không. Làm sao đi với hai bàn tay trắng? Cho nên cứ ở lại đợi xem.

Tôi sẽ cố thu xếp ít tiền, rồi có lẽ dăm ba tháng sau khi họ vào, nếu không thích thì đi.

Rồi tôi nhớ đã nghe tướng Kỳ tuyên bố trên Đài phát thanh. Ông ấy bảo: “Tôi sẽ ở lại chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng”. Tôi nói với các bạn tôi rằng: “Ông ấy là tướng mà ông ấy còn ở lại, tại sao mình phải chạy”. Các bạn tôi cũng bảo: “Ừ, tại sao phải chạy…” Ở lại mà đánh. Chúng tôi đều ở lại. Tôi nói: “Tôi là đàn bà, tôi chả sợ Cộng sản cộng siếc gì cả. Cứ ở lại xem họ làm trò gì với tôi”.

Tôi đã nghe theo đài phát thanh. Thế rồi, tôi lại nghe họ bảo ông Tổng thống Thiệu, ông Thiếu tướng Kỳ, ông nào ông nấy co cẳng chạy hết rồi. Tôi nói: “Trời đất quỷ thần, mới đêm qua vừa nghe Thiếu tướng Kỳ nói trên Đài phát thanh là ông ấy sẽ ở lại chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng… Làm sao tôi lại đi tin những người như vậy hở Trời?”. Ngày 30 nghe thua, rồi tất cả tan vỡ hết. Tôi hết sức kinh ngạc. Lúc ấy tôi đang ở trường Đại học Vạn Hạnh, chỗ cầu Trương Minh Giảng. Chúng tôi ngồi đấy thấy bộ đội Cộng sản tiến vào. Trước đó, ở đấy có lính nhảy dù. Vài người chỉa súng lên trời bắn cho đến khi hết đạn rồi ôm mặt khóc. Tôi cũng thấy lính nhảy dù cởi áo, cởi giầy, cởi quần, ném hết vũ khí, chỉ mặc đồ lót mà đi. Khi chứng kiến cảnh này, tôi cũng khóc.

Khi bộ đội Cộng sản tiến vào, chúng tôi mới nhìn thấy rõ bộ dạng họ. Ông có biết tại sao người ta sợ Cộng sản không? Để tôi giảng cho ông hiểu. Bởi vì chúng giống hệt như mấy con khỉ! Tôi tự bảo: “Trời đất quỷ thần, chả hiểu tại sao chúng ta lại thua mấy của khỉ như thế!”.

Nhưng có một việc tôi hiểu. Việt Nam có câu tục ngữ: “Như rắn mất đầu”. Rắn mất đầu là rắn chết. Mấy cái đầu của tất cả binh sĩ đã chạy sạch rồi, cái đuôi phải thua thôi. Nhưng để tôi nói cho ông hiểu chuyện này: Mặc dầu chúng tôi thua ở Việt Nam thật đấy, nhưng tôi vẫn tự hào. Vì nhìn thấy bộ đội Cộng sản, tôi chả sợ gì. Không, tôi chả sợ gì sất cả!

Cho đến bây giờ tôi vẫn không thích cái kiểu các ông Kỳ, ông Cao Văn Viên, ông Thiệu vắt giò lên cổ mà chạy như thế. Đáng lẽ các ông ấy nên ở lại mà đánh thì tốt hơn. Đến phút cuối cùng, có đánh chác gì? Lúc ấy tôi vẫn ở đấy. Chả thấy đánh chác gì cả. Tôi chả rõ tại sao họ lại thua, đánh đấm gì đâu? Bỗng dưng chỉ có ông Dương Văn Minh lên tuyên bố thua. Lúc ấy tôi ra đường Tự Do. Tôi đi lung tung. Chỗ nào cũng đi. Tôi thấy người ta leo lên mấy cái tàu ở Vũng Tàu, chả thấy đánh chác gì. Có lẽ đánh ở Pleiku, Ban Mê Thuột, ở Đà Nẵng hay Huế thì có, chớ ở Saigon có ai đánh đấm gì đâu? Tôi nghĩ nhiều người đã mắc phải một lỗi lầm thật lớn.