VIỆT NAM, ĐẤT NƯỚC ẢO DIỆU

sonnghi

Mới đây báo ThanhniênOnline đăng một bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ tình trạng hỗn loạn về kinh tế, giáo dục… trong xã hội VN hiện nay. Bài viết như sau:

http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/viet-nam-dat-nuoc-ao-dieu-that-khong-the-tin-duoc-572608.html

“Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam.”

Cudơmich thân mến,
Chắc anh lấy làm lạ vì tôi hẹn đi Việt Nam 3 tháng mà đã 3 lần 3 tháng rồi tôi vẫn còn ở đây. Không thể tin được Cudơmich ạ, đất nước này ảo diệu vô cùng. Tôi sẽ không về nữa, không những thế tôi còn muốn anh sang đây với tôi. Anh phải tự mình trải nghiệm những điều này mới thấy cuộc sống nơi đây thật tuyệt vời, Cudơmich.
Ở đây anh sẽ không có lấy một phút để buồn. Người ta làm xiếc khắp nơi, tất cả mọi người, xe buýt và xe tải, xe container và tàu lửa đều có thể làm xiếc ngay trên phố, thậm chí ngay trên thành cầu và lề đường. Cuộc sống vui nhộn hết sức.
Trẻ em thì toàn là thần đồng. Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam. Chỉ toàn giỏi và xuất sắc, mà Bộ Giáo dục đang phải nghĩ thêm danh hiệu nào hơn cả xuất sắc nữa, nếu không thì phụ huynh sẽ phật lòng. Đứa trẻ nào xếp loại khá thì chính là nỗi nhục nhã của toàn gia đình và dòng tộc. Nhưng muốn xếp loại khá cũng không phải dễ, vì anh biết không Cudơmich, anh sẽ không tìm ra xứ sở nào trẻ em hiếu học như ở đây. Chúng vừa ngồi bô vừa học, vừa ngủ gật vừa học, thậm chí vừa tắm vừa học.
Để có được một xã hội không thể tin nổi như thế, nhiều quan chức ở đây cần cù tuyệt vời, ngoài giờ làm bàn giấy ra họ lại siêng năng lao động đến thối cả móng tay. Siêng năng cần mẫn nên chỉ trong vài ba năm họ có tài sản trăm tỉ, ngàn tỉ, nhưng với đức khiêm tốn có thể gây xúc động lớn lao cho toàn thế giới, họ chỉ ở trong ngôi nhà đi thuê của nhà nước, còn tất cả tài sản khác đều giao họ hàng giữ hộ. Với con cái, họ cũng vô cùng nghiêm khắc. Họ không cho con cái làm việc ở các doanh nghiệp bóc lột mà bắt phải gia nhập vào hàng ngũ đầy tớ nhân dân hết, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp phục vụ nhân dân.
Trong đất nước này, người dân quan tâm đến nhau đến độ sẽ làm anh khóc nức nở, Cudơmich ạ. Vào buổi tối, nếu anh đi một mình trên phố, sẽ có các cô gái xinh đẹp mặc váy ngắn tươi cười hỏi han xem anh có muốn cô ấy giúp anh vui lên không. Nếu anh từ chối, sẽ có các trung niên thể lực mạnh mẽ tiến lại thuyết phục anh, nếu anh vẫn không nhận tấm lòng này, các anh ấy sẽ cảm thấy bản thân bị xúc phạm và tổn thương dữ dội. Cudơmich, anh có thấy nơi nào người yêu người sống để yêu nhau như nơi này không?
Nền khoa học ở đây thì khỏi phải nói. Nó đã bỏ xa toàn bộ nhân loại, phát triển đến mức kinh người: không cần treo trên cây lâu ngày, rau và trái cây vặt xuống chỉ cần nhúng vào một xô nước trong trong, lập tức căng bóng chín mọng. Quả là thiên đường hạ giới.
Sự gần gũi với thiên nhiên cũng thật tột độ. Ngay một đứa trẻ cũng ý thức được trách nhiệm của bản thân nó với thiên nhiên. Chỉ cần nhìn thấy một cái cây ven đường, lập tức các thanh niên, trung niên đến lão niên chạy xô đến nó để tưới tắm trực tiếp bằng nguồn urê tự sản xuất. Họ nhiệt tình và hăng hái đến mức khi cảm thấy nguồn urê trong người sắp cạn liền lập tức bỏ tiền mua một thứ nguyên liệu lỏng đóng chai có màu vàng, mùi vị ngai ngái và nổi nhiều bọt để uống vào, nhằm trợ lực sản xuất thật nhiều urê dùng tưới cây.
Với nhiều người, hầu như toàn bộ tiền kiếm được đều dùng để làm công việc này, họ làm tự nguyện bất kể giờ giấc. Có những gia đình thậm chí xô xát nhau vì người vợ muốn dùng một phần tiền để mua sữa cho con, còn người chồng lại muốn mua nguyên liệu tái chế urê. Có những người chồng chối từ vợ con để dành cả cuộc đời phụng sự sự nghiệp tưới cây. Trụ sở các hội tưới cây mọc lên khắp mọi nơi, miền núi, thôn quê, thành thị, không nơi nào không có, đông vui nhộn nhịp suốt 24/24 giờ. Có rất nhiều cô gái xinh đẹp tự nguyện đến đó để giải trí, giúp vui, nâng cao tinh thần cho cánh đàn ông. Tình người thật là bao la, Cudơmich ạ. Tôi vui sướng báo anh tin mừng này, tôi cũng đã trở thành một thành viên hết sức tích cực của hội, bây giờ toàn bộ niềm vui và ý nghĩa cuộc đời tôi gắn liền với những cái cây rồi, Cudơmich.
Anh còn chần chừ gì nữa mà không mua vé đến đây ngay ,hỡi Cudơmich? Tôi ngồi thâu đêm ở trụ sở hội tưới cây đợi anh.
Bạn yêu dấu của anh
Hoàng Xuân

Cudơmich là ai mà được hân hạnh mời đến thăm VN? Tôi nhớ đến một cái tên khá quen thuộc: Nicolae Ceausescu, Tổng Bí thư Romania, người duy nhất bị hành quyết khi chủ nghĩa cs sụp đổ. Tên Cudơmich có thể viết thành Ceausemich. Nhưng cái tên không quan trọng. Điểm chính của bài viết hàm ý mỉa mai mà người đọc không cần tinh ý vẫn nhận ra.

Mấy năm trước, một bài viết khác so sánh nước Tàu & Mỹ, tác giả vô danh tung lên mạng Sina Weibo và được phản ảnh hơn 5000 comments. Tác giả cho rằng nước Mỹ thật lạc hậu trên mọi phương diện so với Tàu. Nào là nền kỹ nghệ phôi thai, không thấy những ống khói khổng lồ như ở nước ta (Tàu); nào là đường sá chẳng thu lệ phí gì; nào là nhà cửa xây mỏng manh, chẳng thấy bê-tông cốt sắt đâu, chỉ toàn gỗ với gỗ. Bài viết nêu lên 17 điểm nghịch lý so với Tàu. Cuối bài, tác giả kết luận đừng sang Mỹ sống làm gì, vì nước Mỹ là một đất nước bán khai, không một chút văn minh nào. Bài viết được David Webtime dịch và đăng trên tờ Tea Leaf Nation.

http://www.tealeafnation.com/2012/09/translation-chinese-writer-sarcastically-calls-americans-foolish-for-being-honest-generous/

Nội dung hai bài viết giống nhau ở điểm châm biếm, chế nhạo. Bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ hệ lụy kinh tế đã gây ra những cảnh ngược đời như giới trẻ học bù đầu bù cổ (thầy cô trả không đủ sống), quan chức cần cù (tiền), nghề mại dâm (kiếm sống), tẩm thuốc, tiêm thuốc cho trái cây chín (cũng lợi nhuận), tiểu đường (văn minh nhưng thật ra hệ thống vệ sinh công cọng là công ích thuộc trách nhiệm của nhà nước)…v..v.

Năm 2012, Daron Acemoglu (GS Kinh tế tại MIT), và James A. Robinson (nhà khoa học chính trị và kinh tế kiêm GS tại Harvard) xuất bản cuốn Why Nations Fail, gây tiếng vang khá lớn trong cách nhà khoa bảng (ứng viên Nobel) về kinh tế. Trong tập sách dày hơn 400 trang, hai ông dành chương 2 để bẻ gãy những lập luận trước đây xác định tình trạng kinh tế của các nước. Mở đầu là câu, “Đối với những nước nghèo, họ nghèo không phải vì hoàn cảnh địa lý hay vì nền văn hóa, hoặc vì những nhà lãnh đạo không biết dùng chính sách nào để làm cho dân giàu nước mạnh.”

Về địa dư, Acemoglu và Robinson bác bỏ lập luận của Montesquieu khi ông ta cho rằng những nước ở miền nhiệt đới vì khí hậu quá nóng nên làm việc mau mệt và từ đó sinh lười biếng. Mà lười biếng thì sinh ra nghèo. Hoàn cảnh địa lý làm những nước này mãi mãi nghèo. Theo Montesquieu, các nước hàn đới thì khá nhất, tiếp theo là ôn đới, và sau cùng là các xứ nhiệt đới về mức độ thịnh vượng, giàu có. Montesquieu không sống lâu để thấy các nước Singapore, Malaysia, Botswana phát triển mạnh vào hậu bán thế kỷ 20 và cho đến tận bây giờ, mặc dù đó là những nước nằm gần đường xích đạo.

Về nền văn hóa, hai ông cũng bác bỏ lập luận của nhà xã hội học Đức nổi tiếng, Max Weber, khi ông cho rằng cuộc Cải Cách Tin Lành (Protestant Reformation, 1517-1648) là yếu điểm cho sự thịnh vượng ở Ậu-châu sau này. Như thế sự kiện không chỉ đơn thuần là tôn giáo mà còn liên quan đến niềm tin, giá trị tinh thần, và đạo đức. Có ai dám nói chính nền đạo lý Khổng giúp cho nền kinh tế phát triển hiện nay của Tàu? Còn nền văn hóa Cao ly thì sao? miền Nam giàu mạnh, còn Bắc Hàn thì chết đói. Cả hai cùng thụ hưởng một nền văn hóa đấy thôi. Ngay cả Nogales, một thành phố cách nhau bởi một biên giới, một bên thuộc bang Arizona, bên kia thuộc Mễ. Dân cư hầu như cùng một chủng tộc, lai Tây-ban-nha, hoặc thổ dân. Thế mà hai sự thịnh vượng khác nhau hoàn toàn.

Sau khi bác bỏ những lập luận không còn hợp thời nữa, hai ông dành chương 13 để kết luận cho cuộc khảo cứu ròng rã trên 10 năm. Mở đầu chương này bằng một chữ nhưng được lập lại 3 lần, “Institutions, institutions, institutions”, “Thể chế, thể chế, thể chế xã hội”. Theo tác giả, chính thể chế xã hội đã gây ra thất bại về kinh tế, (Nations fail economically because of extractive institutions).

Acemoglu và Robinson chia thể chế chính trị trong những nước này làm 2 nhóm khác nhau: nhóm “extractive” thường gọi là nhóm elite rất nhỏ, và nhóm “inclusive” gồm đại đa số công dân (masses, grassroots). Nhóm extractive nên gọi là tập đoàn lãnh đạo, và nhóm inclusive nên gọi là quần chúng. Cần nói thêm là Acemoglu và Robinson dùng extractive chỉ nhóm elite hàm ý bòn rút tài nguyên từ quần chúng (extract resources from people) (khó dịch sát được tĩnh từ extractive).

Những nườc tiêu biểu như Zimbabwe và tập đoàn Mugabe; Sierra Leone và Sir Albert, Siaka Stevens; Somalia và Kediye, Barre; Uzbekistan và dòng họ Karimov… lần lượt gây ra thảm bại về kinh tế cho đất nước họ. Hai ông còn đưa ra những thể chế tại các nước Trung Mỹ, cũng như những nước Đông Âu, thuộc khối Sôviết; ngay cả Nga sô thời cộng sản và cả Tàu.

Phân tích một cách khoa học cọng thêm những con số biết nói hổ trợ cho những lập luận vững chắc khiến độc giả (khá) thú vị trong hơn 400 trang sách. Acemoglu và Robinson còn dành ra chương 5 để nói về sự phát triển kinh tế của Tàu. Theo hai ông, chính extractive institution sẽ làm nền kinh tế Tàu trì trệ, ngưng, và có thể sụp (slowing down, stopping, then perhaps collapsing). Tập đoàn elite sẽ làm thui chột sức sáng tạo của người dân, gây bất bình và mâu thuẫn trong quần chúng. Một khi quần chúng bất mãn, nền kinh tế sẽ dẫn đến ba giai đoạn trên.

Hai bài viết. Hai tiếng chuông. Hy vọng tiếng chuông không vang trong sa mạc nhưng vọng đến những lãnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đất nước. Một khi viết ra chứng tỏ đã nhận thức được. Ngày càng có nhiều người nhận thức được lõi cốt của vấn đề thì cơ may sẽ có thay đổi. Sau nhận thức, nên bắt đầu từ não trạng.

Từ đó sẽ thấy một tương lai xán lạn.

SƠN NGHỊ

TÌNH KHI KHÔNG

trandzalu

(Bài thơ viết từ năm 1973, báo Long An Cuối Tuần đăng lại năm 1996. Xin chia sẻ cùng các bạn)

Cứ tưởng đời ta là đã bỏ
Những ngày lưu xứ sống ngơ ngơ
Ngày đi tiếc nỗi thanh xuân tận
Đêm nằm sầu nhớ mẹ già xưa…

Mẹ già nuôi nấng ta khôn lớn
Vai rộng lưng dài để tha hương
Quê nhà nay tít xa mây chắn
Ở đây buồn lắm nỗi buồn thương

Thời khó đời ta cùng khốn khó
Quê nhà ta có mà như không
Gia đình thèm lắm, không về được
Nên đành làm một kẻ lông bông!

Người xưa ta có mà không đó
Một sớm quên tình mộng viễn phương
Thôi đừng trách chi người áo đỏ
Cứ coi như gió qua đồng không…

Cứ tưởng đời ta là đã bỏ
Những ngày lưu xứ quá phù vân
Khi không mà có người còn nhớ
Tưởng như là én thấy mùa xuân

Những ngày không thấy tin mùa dậy
Cứ tưởng hồn ta xếp cánh chuồn
Khi không mà có người còn thấy
Ta khác nào cây vẫy lá mừng

Người đến khi tình ta hạn hán
Lòng sầu phơi tận gốc đìu hiu
Chợt thấy tình kia là vô hạn
Ta yêu đời rộng lượng bao nhiêu…

Như anh hùng lúc cùng chí tận
Khi không mà gặp gái thuyền quyên
Khi không hồn mới thay hương cốm
Ta yêu người đắm đuối như điên…
(1973)
TRẦN DZẠ LỮ

Giận.

nguyentancu

Nửa đêm thức dậy chỉ muốn bẻ mấy cái chân giường
Chỉ muốn chạy ra đường gào lên những tiếng hú gió
Chỉ muốn tự do như sao mai hát ca cùng vầng trăng rực rỡ
Chỉ muốn khóc vì đã ngủ quá lâu cùng giấc mơ tù ngục
Chỉ muốn nỗi giận thật kinh thiên vì đã quá nhục hèn

Nửa đêm chỉ muốn cháy lên cùng với những tiếng còi hụ
Muốn đánh thức những cơn mê vì đã lâu rồi chưa tỉnh
Muốn tháo hết ngục tù vô hình của những con chim bó cánh
Muốn tháo hết xiềng xích của những con tim đang rên xiết
Hãy thức dậy đi Tự do ơi cùng với mấy cái chân giường

Đã rất lâu rồi im lặng quá những con đường những phố phường
Những chuồng trại Thị thành Thôn quê và khẩu ngôn của lừa mị
Những cú đá dập vào chính bản mặt mình nhân dân tội nghiệp
Chỉ có thể lột hết trần truồng hết cũng không hơn gì hơn trước
Cũng không hơn gì ngoài nước mắt đớn đau của những phận người

Hãy thức dậy sạch trơn thét bùng nỗ tung lên những cơn giận dữ
Đừng dơ nhớp quá bởi thói quen bàng quan lãnh đạm thờ ơ sợ hãi
Đừng lê lết nữa những cơn đau hòa bình trong bàn tay hung bạo
Bàn tay của những con quỉ đang hàng ngày gầm gừ kêu than bóp nát
Những mãnh đất tự do những ngôi nhà đang tan hoang vì cưỡng đoạt
Những cơn giận dữ đang leo thang leo thang cho đến tận chân trời

Hãy thức dậy thôi những bóng đêm ơi cùng với những chân giường
Hãy gom góp chúng thành củi vùng lên đừng ngủ mê và đốt cháy
Hãy giận dữ chỉ thẳng vào mặt những bóng ma của cường quyền
đang ngạ quỉ nhe nanh mài vuốt

Đừng tủi nhục nữa hãy bão lửa lên rừng rực tro than và bẻ gãy
Những xích xiềng đau thương đang thét la đêm ngày tù ngục
Trói buộc TỰ DO của CON NGƯÒI ta bằng những cái chân giường .

Nguyễn Tấn Cứ

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Sao con không mang theo thằng cháu nội của ba?”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

NGUYỄN THỊ THANH NGUYỆT
(Bác sĩ)
“Sao con không mang theo thằng cháu nội của ba?”

Mùa Xuân 1975 tôi đang làm “ngoại trú” cho chương trình năm thứ năm Y Khoa – Cũng tựa như chương trình thực tập “nột trú” tại Hoa Kỳ. Vào cuối tháng Ba, tôi đang đến phiên làm ở bệnh viện Cơ Đốc, Saigon. Cũng như mọi người khác, tôi cảm thấy tình hình xuống dốc. Nhưng cho đến ngay lúc ấy, tôi vẫn không bao giờ tin là miền Nam sẽ sụp đổ và đầu hàng. Tệ nhất, tôi nghĩ Saigon có thể mất, có thể bị miền Bắc chiếm đóng tạm thời, nhưng sau một thời gian ngắn, mọi sự sẽ trở lại bình thường thôi.

Giữa tháng Tư, mỗi lúc người ta càng quan tâm hơn đến việc di tản các nhân viên trong bệnh viện chúng tôi. Tùy viên quân sự Hoa Kỳ, tướng Homer Smith ký giấy cho phép 175 người ra khỏi nước. Phần bảo trợ được ký trống để nhập nội Hoa Kỳ. Nhưng con số 175 không đủ cho số người muốn di tản. Vì thế chúng tôi đã tìm cách đưa nhiều người đi hơn với biện pháp tải thương. Chúng tôi băng bó một số người muốn đi, cho vào xe cứu thương. Chúng tôi cho xe mở còi hụ lái ra phi trường. Với biện pháp ấy lính gác cho vào, không khám xét gì. Nếu họ khám các bệnh nhân và tìm ra chuyện đóng tuồng, chắc chắn không ai đi nổi. Khi qua cổng phi trường, lập tức chúng tôi cho bệnh nhân lên các chuyến bay tải thương. Những chuyến bay này sẽ chở tất cả sang Phi Luật Tân.

Tôi còn nhớ có một bác sĩ với vợ ba con, tất cả đều khoẻ mạnh. Chúng tôi quấn băng, bó bột cho mấy đứa trẻ, còn giả vờ đặt cả ống truyền nước biển, chúng tôi đã đưa họ vào cổng phi trường bằng cách ấy. Nhưng rồi phải đợi máy bay. Trong lúc đợi, mấy đứa bé bó bột buồn tình ôm cả bông băng chạy quanh chơi đùa nghịch phá. Trong phi trường có lính gác. Tôi phải bảo bà mẹ nói mấy đứa trẻ im mồm, quay lại giả vờ ốm, không thì hết đi.

Chúng tôi thường cho khoảng hai mươi người vào trong hai hoặc ba xe cứu thương để cùng chạy ra phi trường. Các y tá, bác sĩ cùng đi theo để di tản với họ. Bằng biện pháp này, chúng tôi đã đưa đi được hầu hết những nhân viên muốn đi. Còn những người khác không đi bằng cách tải thương thì được cho vào danh sách 175 người có bảo trợ tại Hoa Kỳ.

Tất nhiên càng nhiều người đi thì số nhân viên bệnh viện càng hẹp lại, số bệnh nhân chúng tôi săn sóc cũng vậy. Hôm 24 tháng Tư, chúng tôi cho sáu bệnh nhân cuối cùng ra về. Đến hôm ấy, tôi vẫn chưa định đi. Lúc nói chuyện với bác sĩ Trưởng thường trú, ông bảo nếu tôi muốn ra đi thì tôi có thể đi chuyến bay lúc mười một giờ đêm. Như vậy phải có mặt tại nhà thương trước năm giờ chiều. Quá giờ ấy nếu không có mặt, xem như không muốn đi. Tôi hỏi tôi có thể mang theo con trai tôi được không. Ông bảo chỉ mang theo con trai thì được. Lúc ấy nhà tôi và tôi đã ly thân. Con tôi được mười tuổi. Khi nói chuyện về việc ra đi là đã ba giờ trưa. Như thế tôi chỉ còn hai tiếng đồng hồ để quyết định.

Tôi cố tìm người biết chuyện để hỏi ý kiến nếu Saigon mất, tình thế ra sao. Tôi cần nói chuyện để dứt khoát đi hay ở. Cuối cùng gặp người bạn học, cô ấy khuyên tôi nên đi. Tôi hỏi thế chị có đi không. Cô ấy bảo cô ấy là con cả, gia đình đến mười chị em, phải ở lại đỡ đần gia đình. Nhưng cô bạn tôi bảo nếu ở hoàn cảnh tôi, cô ấy sẽ ra đi. Sau khi nói chuyện với người bạn, tôi quyết định đi.

Trở về nhà. tôi nói chuyện với mẹ tôi rất ngắn ngủi. Lúc ấy mẹ tôi đương ốm. Tôi bảo mẹ tôi là con quyết định phải đi. Mẹ tôi khóc. Tôi băng qua đường, bảo em tôi và gia đình tôi rằng tôi sẽ mang con đi . Mọi người đều khóc.

Tôi lấy xe gắn máy chạy vào Khánh Hội, mất ba mươi phút. Tôi muốn đến chào ba tôi, lúc ấy đang làm việc ở đấy. Khi nghe tôi nói, ba tôi đứng sững. Ba tôi bảo: “Sao con không mang thằng cháu nội của ba đến đây. Nếu nó đi với con thì chắc đây là lần cuối ba được nhìn thấy nó”. Quả thật, đây là dịp cuối cùng mà ba tôi có thể gặp cháu nội. Ba tôi đã mất trong lúc mẹ con chúng tôi ở Hoa Kỳ.

Tôi bảo: “Ba ạ, con vội quá nên con quên”. Tôi đã bận bịu sắp xếp giấy tờ, học bạ, và vài ba bộ quần áo. Tôi ôm lấy ba tôi. Ba tôi và tôi cùng khóc. Rồi tôi chạy xe gắn máy về nhà đổi ít tiền, nhưng không đổi đâu ra được nữa. Tôi rời Việt Nam không một đồng xu dính túi.

Đêm mẹ con tôi rời Saigon, trời rất tối. Phi trường hết sức lộn xộn. Mãi đến lúc máy bay cất cánh mới dám chắc là đi được. Mẹ con tôi bay thẳng sang Guam vì bấy giờ chính phủ Phi Luật Tân không còn cho các chuyến bay Việt Nam vào nữa.

Tôi đến đảo Guam lúc Saigon đã mất ngày 30 tháng Tư. Nghe tin trên máy truyền thanh, chúng tôi đều khóc. Chúng tôi nghe tường thuật việc quân đội miền Bắc tiến vào thành phố bằng chiến xa, đi qua đường Thống Nhất vào chiếm Dinh Độc Lập. Trong tâm trí, mỗi chúng tôi đều có thể nhìn thấy hình ảnh ấy xảy ra. Chúng tôi hết sức đau buồn. Đêm hôm ấy, chúng tôi nói chuyện mãi về Việt Nam. Chúng tôi kể cho nhau nghe những chuyện chúng tôi nhớ, những gì chúng tôi yêu mến nhất ở Việt Nam. Chúng tôi nói với nhau rằng thật kinh ngạc khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, việc ấy xảy ra như thế nào, có thể làm gì được để cứu vãn.

Nhưng quá muộn, chẳng còn có thể làm gì được. Đêm hôm ấy, tất cả những gì chúng tôi còn lại chỉ là hy vọng mà thôi.

LIÊN TƯỞNG KHÚC

vungocgiao

“ một hôm trời đất ngây thơ
thả con châu chấu lên bờ lá xanh “
1.
qua đi một thời lãng bạt
còn đây chỉ rượu và thơ
dạo đàn thản nhiên ta hát
cùng trời đất rất ngu ngơ
2.
ngu ngơ đất trời có biết
trần gian còn một thằng khờ
quanh năm khật khừ , lếch thếch
chơi đàn . uống rượu . làm thơ
3.
làm thơ . chơi đàn . uống rượu
nửa đêm hú gọi trăng mờ
thinh không bốn bề vắng bặt
nghe ra trời đất ngây thơ
4.
đất trời ngây thơ quá đỗi
con châu chấu cũng vật vờ
tiếng đàn – đi , về không lối
ngàn năm còn lạc trong mơ
5.
trong mơ nghe ra rất thật
đất trời sao quá ngây ngô
bỏ quên tháng ngày chết ngất
trên từng cọng cỏ vàng khô
6.
vàng khô trên từng cọng cỏ
trần gian đau nặng bao giờ
người ơi ! người đi có nhớ
một vùng điên dại xác xơ
7.
xác xơ một vùng điên dại
ta về uống rượu . làm thơ
dưới trăng ôm đàn múa , nhảy
hát lời ca ngợi vu vơ
8.
vu vơ hát lời ca ngợi
em xưa thanh khiết ngây thơ
lan xưa hương chùng bối rối
ta xưa chăn chiếu ơ thờ
9.
ơ thờ chiếu chăn một thuở
ta trôi không bến . không bờ
về ngang vườn xưa chợt nhớ
ngàn năm không đợi . không chờ
10.
ngàn năm không chờ . không đợi
ngàn đời không nhận . không cho
hắt hiu một chùm mây nổi
sao trần gian vẫn quanh co ?
11.
trần gian sao vẫn quanh co
quanh co cho đến bao giờ ?
đường về thản nhiên ta hát
một lời kinh hiện như thơ …

vũ ngọc giao

SÀI GÒN THÁNG SÁU

nguyendangtrinh

(thân tặng nhà thơ Trần Thoại Nguyên)

tháng sáu sài gòn rối những chuyến mưa
bất ngờ ghé chơi bất ngờ trốn mất
những cơn mưa tưởng chừng không có thật
như những cuộc tình mới sớm đã trưa

những con đường rợp bóng những tàn cây
mát lối chân ai chiều chiều phố xá
râm bước hẹn hò nhẹ gót heo may
xanh giọt nắng hiền lấp lánh trên tay

tôi nhớ em… nhớ cuộc tình tháng sáu
thời văn khoa mưa nắng xói câu thề
giọt lệ buồn mai xa em cố giấu
lời trăm năm tôi nói để tôi nghe

tháng sáu sài gòn ướt những chuyến mưa
bất ngờ ghé chơi thơm từng thoáng nhớ
bất ngờ quay lưng phai giấc mơ trưa
nên sài gòn tháng sáu chẳng thèm xưa…

nguyễn đăng trình

NHỮNG ĐÊM TRẮNG

khuatdau

nguyenthaihoccogiang

Đêm ở đền Thượng

Đó là một đêm đầu xuân, ánh trăng mỏng quá không soi rõ được mặt người. Những bậc tam cấp cứ nối nhau lên cao, lên cao mãi như vút tận trời. Một đàn chim Lạc từ đâu bỗng bay qua, tiếng đập cánh làm đong đưa những chòm sao xanh biếc.
Đêm thánh vô cùng!

Họ đi lễ đền Thượng.
Lễ vật không có bánh chưng bánh dầy. Chỉ có trầu, cau và hai trái tim thắm đỏ.
Chàng nói, “hôm nay, anh cưới em”!
Nàng nói, “em cũng cưới anh, hôm nay”!
Họ cùng nói, “thưa quốc Tổ, chúng con xin cưới nhau”!
Nghe như có tiếng cười từ ái reo vui của các vua Hùng.
Chàng nói, “anh nghèo lắm, chỉ có món quà nhỏ này làm sính lễ. Nó sẽ thay anh bảo vệ em”!
Chàng nâng khẩu súng lục lên trước mặt. Nàng xòe tay ra như hoa quỳnh đón lấy, rồi áp cái kỷ vật lạnh ngắt vào giữa ngực mình.
“Em cũng nghèo lắm, chỉ có cái chết để đền ơn anh”.
Lập tức, chàng khóa miệng nàng bằng đôi môi dày, nóng rực, để cái tiếng “chết” kia không bao giờ thoát ra được nữa.

Nhưng cưới nhau vậy thôi, chứ họ là hai kẻ không nhà.
Họ đành ngồi bên nhau suốt đêm, chờ sáng.
Cũng ấm ức lắm, cũng thèm thuồng lắm.
Cũng muốn lấy cổng tam quan làm nhà, lấy nền gạch làm giường, lấy bóng đêm làm chăn màn để thực sự là của nhau.
Cũng muốn đã yêu là yêu cho tới bến, đã cho là cho đến tận cùng.
Nhưng đêm yên lành và thiêng liêng quá. Họ chỉ có thể cởi bỏ mọi buộc ràng, mọi lo toan, để hai tâm hồn bận rộn được ngơi nghỉ đôi chút bên nhau mà thôi.

Khi ánh ngày lên, nàng thấy chàng là ông cụ áo the thâm đeo mục kính, chàng thấy nàng là một chị nhà quê váy đụp, chít khăn mỏ quạ. Cả hai nhìn nhau, kín đáo nở một nụ cười thầm.
Rồi như hai kẻ xa lạ chưa hề gặp nhau bao giờ, nàng xuống Đông, chàng ngược lên Đoài Tiếp tục đọc

Nụ hôn đầu , tình yêu cuối.

trachantranhuuhoi

Hóa mừng đến run rẩy khi thấy hàng chè tàu vào nhà Hạnh không thay đổi. Từ bến xe đi bộ dọc theo con đường Chi Lăng cũ, hai bên đổi khác như mình đã đi lộn đường, nhầm con phố nào xa lạ !
Hóa nhớ lại cái ngày anh đứng trân nhìn thầy Giám học trường thông báo : “Em không đủ tuổi hoãn dịch đễ hoàn thành năm học Hóa à!”
Hóa bàng hoàng, anh không hề lo lắng hay sợ hải chuyện phải nhập ngủ, nhưng hình ảnh Hạnh với đôi mắt buồn u uất mỗi lần hai đứa tình cờ nói đến chuyện phải chia tay một ngày nào đó, khi anh phải lên đường nhập ngủ .
Hồi ở quê lên tỉnh, anh không ngờ mất hai năm học vì hoàn cảnh nông thôn lại đưa đến hậu quả tai hại này, cha anh cũng không ngờ. Cứ cắm cúi học cho giỏi vào vì so với các bạn cùng lớp, anh hơn hẳn họ cái đầu về chiều cao và hơn hai tuổi tính theo năm sinh !
Thế là chia tay. Ngày hôm ấy Hạnh thẫn thờ như kẻ mất hồn, u sầu như một thiếu phụ đã thực sự mất chồng tuy rằng cả hai chưa hề thề thốt với nhau đều gì và trên người anh vẫn còn bộ đồ thư sinh, áo sơ mi màu nâu và chiếc quần xanh đen, đồng phục của trường Nông Lâm Súc .
Hóa rụt rè tằng hắng khi vào sâu trong ngỏ, có tiếng  ai đó hỏi vọng ra:
– Ai rứa hè, anh tìm ai ?
– Phải đây là nhà Hạnh không cô?
– Anh ở mô ? chắc lâu rồi không về Huế hay răng mà chừ hỏi Hạnh?
Một cảm giác lo lắng dâng lên trong lòng ngực làm anh ngộp thở:
– Dạ lâu rồi bác à, 18 năm, anh nhẩm thầm, Hạnh còn ở đây không ạ ?
– Quen biết ra răng, đi vô nhà rồi nói chuyện.
Hóa theo người đàn bà  vào nhà, ngập ngừng từng bước chân, căn nhà vẫn như những ngày anh còn trọ học, nhưng lạnh lẻo hơn, trống vắng hơn, làm anh linh cảm một sự mất mát nào đó đã xảy đến cho căn nhà ! Vóc dáng và gương mặt người đàn bà gợi cho anh nhớ đến một ai đó quen nhưng không tài nào xác định được, Mẹ của  Hạnh thì chắc chắn không phải, nhưng vẫn có nét hao hao .
– Ngồi đây đi, anh là ai, ở mô ?
– Dì Thuận ! Hóa như hét lên khi nghe lại giọng nói, Phải dì Thuận không dì ?
– Ôi chao, mệ nội mi, thằng Hóa !
– Con đây dì,  Hóa bật dậy, Dì Cảnh mô rồi dì?
Người đàn bà nghẹn ngào, nước mắt tuôn ra  từ hai hốc mắt sâu, đỏ hoe:
– Chết hết rồi mi ơi !
Quá hoảng hốt, Hóa bật dậy :
– Cả nhà à dì, Hạnh, Chanh, Chương …cũng rứa à?
– Ừ, nhà  đi Kinh tế mới lên Ban Mê Thuộc, Thằng Chương chết vì  cuốc trúng lựu đạn, Dì  chết vì sốt rét, con Hạnh lấy chồng , chết khi sinh đứa con đầu ! Còn chắc con Chanh  mà chừ không ai biết hắn ở mô !
Dì Thuận ngừng khóc, kéo chiếc khăn vắt trên vai lau mặt:
– Tau không cho hắn đi lên côi nớ, hắn nói là : “Thằng Chương ghiền xì ke, bắt lên bắt xuống, lên côi nớ họa may hắn cai được ! Với lại cả nhà ngồi không lấy chi mà ăn, không vốn không liếng, chiêu yếu cả !”
Hóa chới với như rơi vào một cỏi xa xăm  nào, bềnh bồng, dập dềnh với những tiếng la loạn hổn độn ! Hồi lâu, anh mới hỏi được một câu:
– Rứa chừ dì ở với ai ?

– Thằng Danh chết năm 72 khi mới ra trường, dượng buồn rầu, cũng chết theo hắn năm 78, con Vân lấy chồng vô nam, chừ dì ở với con Tý , hắn đi bán rau muống tối mới về !
Ôi bao mất mát ! Hóa gục đầu  khóc rưng rức . Bao năm mong đợi một ngày về , nơi không là quê hương nhưng lại là chốn đã cho anh nhiều tháng ngày đẹp nhất với những kỷ niệm êm đềm thủa thành niên, anh đâu ngờ lần ra đi ấy là lần cuối cùng, đễ không bao giờ còn gặp lại Hạnh, gặp lại người con  gài đã ban cho anh nụ hôn đầu đời và những giây phút ngọt ngào đằm thắm, thơ ngây !

Ngày ấy, ở Quảng Trị mà tình chuyện vào trọ học ở Huế  chỉ những nhà giàu mới dám nghỉ đến, nhà Hóa không giàu, nhưng không còn cách nào khác, anh vào Huế thi vô Trường Nông Lâm Súc, hy vọng đủ tuổi để học xong lớp đệ nhất, vì trường này hoãn thêm cho học sinh một năm.
Dì Thuận ngày đó ở cùng xóm với gia đình Hóa , có đứa con trai là bạn của anh. Danh, học hơn Hóa một lớp, cũng Trường Nông Lâm Súc Huế, chính Danh đã bày cho Hóa vào trường này. Hè năm đó anh thi vào lớp 10, cùng trọ nhà dì của Danh ở Gia Hội, dì Cảnh.
Những ngày đầu rụt rè của cậu học trò ở trọ qua nhanh nhờ sự cởi mở, dạn dĩ của hai cô con gái nhà dì Cảnh. Hạnh và Chanh xem Hóa như người than. Những tối xem phim ở rạp Châu Tinh, Hưng Đạo, về khuya ,co ro vì cái rét, Hạnh ôm lấy tay anh đi sát vào nhau và cố ý chậm hơn mọi người, Hóa cảm thấy  mình chơi vơi trong hạnh phúc, cậu học trò xa nhà quên đi những lo âu…
Một năm trôi qua, ba tháng hè đằng đẳng là ba tháng nhớ nhung, quay quắt, của cả hai. Ngày trở lại Huế tựu trường chao ôi là hạnh phúc, không phải vì anh lên lớp 11 mà chính là sự trưởng thành trong con người cậu trai học trò và sự chín muồi của tuổi xuân nơi Hạnh. Ngôi mộ cổ bằng đá ong sần sùi lại là nơi cho anh phút giây đắm say hạnh phúc một đêm hè !
– Làm chi ngoài nớ mà đen rứa ?
– Gió Nam và gió Lào thổi khô hết có chừa ai mô ! đen lắm à ?
– Ừ, Nhớ Hạnh không?
Hóa bóp bàn tay nhỏ nhắn của Hanh như để bù vào nổi nhớ từng phút, từng ngày…Hóa không tìm ra được ngôn từ nào để diễn đạt hết nổi nhớ nhung của anh, trong ba tháng qua, Hóa không nói vì tim anh như muốn chảy tan vì một cảm giác ngọt ngào trong giọng nói trong trẻo vui tươi của Hạnh.
– Nhớ không ?
– Nhớ, nhớ lắm !
Tình cảm lên ngôi, Hóa choàng tay ôm lấy vai Hạnh, run rẩy đặt lên đôi môi Hanh nụ hôn đầu đời , vụng về nhưng ngọt ngào , say đắm !
Đêm hôm đó, trong cùng một nhà, có hai tâm hồn thơ trẻ nằm thao thức nhớ nhung và thèm khát được gần nhau !
Giữa niên khóa ấy có lệnh đôn quân và sự xuất hiện của thầy Giám học, Anh quay về nhà chuẩn bị nhập ngủ….rồi biến cố 72, chưa kịp  tìm về thì 75 đến ! Lao đao mưu sinh cùng gia đình lúc này đã vào Nam, Hóa vẫn không hiểu sao số phận đẩy đưa anh trôi nổi mải cho đến hôm nay, 18 năm, bao  nhớ nhung nghi hoặc ! bao hy vọng  mong chờ một ngày có điều kiện về tìm lại Hạnh. Tuổi xuân trôi đi trong các nông trường, công trường , những cánh rừng âm u ngùn ngụt khói của rẩy nương và những hầm than … Thời gian qua mau đem theo những đổi thay không ngờ !
Hóa gần như tuyệt vọng

Đêm sập xuống như bức màn đen phủ trong lòng Hóa, anh lững  thững bước chầm chậm ra ngôi mộ đá ong, ngồi chỗ bờ thành ngày nào hai đứa cùng ngồi, anh vẩn còn hình dung rỏ ràng hình ảnh Hạnh , nụ hôn ngọt ngào khi môi chạm môi…
Hạnh ơi, sao không chờ nhau hả Hạnh ?
Nước mắt Hóa cứ tuôn ra như một chú bé thơ, đôi vai  rung lên theo từng tiếng nấc nghẹn ngào ! Sự hối hận dày vò  làm tim anh nhói lên, sao không tìm cách quay về sớm hơn nhĩ !
Có tiếng bước chân thật khẽ đến bên Hóa, anh nhìn lên, Tý đứng bên anh. Gương mặt ngày nào bé dại đã đỗi thay thành một thiếu phụ đẹp dịu dàng, Tý nhìn anh không nói, trong đầu Hóa lóe lên một câu hỏi bất ngờ “Sao chị em bạn dì lại giống nhau vậy nhĩ ?” Anh buột miệng gọi tên như ngày xưa thường gọi khi Tý còn bé .
-Tý !?
– Mạ nói anh vô ăn cơm. Răng anh không đi luôn đi mà về mần chi ?!
Hóa nắm tay Tý:
-Tý cũng trách anh à? Anh khổ quá mà Tý !
-Thôi vô ăn kẻo mạ chờ !
Buông bàn tay hơi thô cứng, Hóa đứng dậy cùng Tý  vào nhà. Ngọn đèn diện vàng vỏ soi bóng dì Thuận nghiêng nghiêng cô độc làm Hóa như ở trong một cỏi mơ hồ! Mâm cơm dọn sẵn cũng đơn sơ như khung cảnh buồn bả của mất mát, đau thương…
– Mi có nhớ mặt hắn không Hóa?
– Tý à, con nhớ chớ,
– Bựa ni đừng kêu hắn bằng Tý nữa, giấy khai sinh hắn tên Trâm, mi kêu Tý hắn ghét lắm !
– Dạ, con thì ưng gọi Tý như ngày xưa cho thân mật, mà vui nữa dì ạ,
Anh nhìn qua Tý, Tý cười, gương mặt giờ đẹp và càng giống Hạnh hơn làm Hóa bối rối,
– Ưng rứa thì cứ kêu rứa, chết ai mô mà sợ! Tý nói , giọng nói vui hơn lên với nụ cười vô tư .

Ngày ấy, khi còn ở Quảng trị, nhà không xa nhau là mấy  nên Hóa và Danh thường đến nhà nhau nằm nghe nhạc, chuyện trò hàng buổi. Hóa qua nhà Danh thường hơn, sau lưng nhà Danh có một ngôi mộ hoang, lâu lâu ngày rằm, Dì Thuận, mạ Danh thắp nhang với một dĩa trái cây đơn sơ…Nơi đây cũng là nơi hai đứa thường ôm đàn hát những ca khúc của TCS, Ngô Thụy Miên và Tiền chiến…
Tý là thứ tư trong nhà, hồi ấy, nhà có bán một cái quán nho nhỏ, Tý đi học về là trông quán giúp mạ. Cô bé còn nhỏ và mau miệng nên lắm lúc nói năng ngây ngô…Hóa nhớ có lần ngồi cả nhà, dì Thuận hỏi vui :
– Hóa, mi với thằng Danh lớn cả rồi, răng không thấy bồ bịch chi cả, cứ đeo nhau hoài rứa ?
– Dạ, có ai ưng mô dì !
– Bây kén quá chớ con gái chán chi !?
– Không biết ưng ai dì ạ !
Tý ngồi nghe, còn nhỏ lắm, vọt miệng nói làm ai cũng phì cười :
– Ưng em đây cũng được nì! Ngày mô cũng xin: “cho anh hai điếu Ruby Tý ; cho anh ca nước đá Tý…khi mô cũng cho, rứa mà không ưng người ta !!!
Năm tháng qua đi với những xáo trộn khôn lường !
Anh nhớ lại lúc chiều tối, khi anh nắm bàn tay Tý hơi thô sần vì ngâm nước và cắt rau muống. Giọng nói trong trẻo ngây thơ ngày xưa  và trách hờn hôm nay: “Ưng em đây cũng được nì…”. “Răng anh không đi luôn mà về mần chi ?! “
-Mi không dẫn thằng Hóa đi chơi à Trâm, lâu rồi  bữa ni hắn mới về có biết chi Huế mô, để đó mạ dọn cho.  Dì Thuận nói sau bữa ăn, không khí không còn u ám  như khi mới ngồi vào bàn !
Tý nhìn Hóa, anh hơi bối rối vì ánh mắt dịu dàng :
– Hai quán cà phê Sương Lan và Dạ Thảo còn không Tý ?
– Còn, mà không đẹp như trước mô, bỏ nhạc chi không à !
– Kệ, mình ra đó ngồi đi Tý, ngày xưa a
Hoa sứ rụng trắng ngôi mộ cổ và ven đường, quán ngày xưa không còn thú vị vì, ồn ào những chuyện làm ăn, đèn sáng trưng, có cả những bàn mang rượu từ ngoài vào, khách khứa huyên thuyên.
Hóa và Tý lang thang một quãng ngắn đọc đường Chi Lăng cũ rồi quay về, anh nhớ Hạnh, nhớ đôi tay Hạnh quấn lấy cánh tay anh ngày xưa, bất giác, anh nắm bàn tay Tý…
– Răng không lấy chồng ?
– Không ai ưa  mà cũng không ưa ai !
– Có nhớ hồi nhỏ nói gì không?
– Nhớ chớ, nhưng chừ lớn hết rồi !
Hóa vòng tay ghì Tý vào lòng, Tý đặt hai bàn tay vào ngực anh, ngước mắt nhìn Hóa đợi chờ…Nồng nàn, Hóa đặt lên môi Tý nụ hôn dài, ngọt ngào và ấm áp. Tiếng ve râm ran trong tĩnh lặng êm đềm và mùi hoa sứ dịu dàng…Những nụ hôn nối tiếp trong hạnh phúc chơi vơi…
– Tý có vô Nam cùng anh không?
– Mạ đi thì …đi.
– Mình đưa mạ vô luôn.
– Anh có muốn lên Ban Mê Thuột tìm thăm mộ Hạnh không?
– Vô trong đó ổn định rồi mình cùng đi nghe Tý.
– Dạ, anh tính khi mô đi?
– Mai đi thăm mộ anh Danh và dượng, rồi chuẩn bị…Nhưng mình không tổ chức đám cưới à?
– Khỏi, bà con có ai mô mà bày vẽ !
– Em có buồn không?
– Không, lâu ni em chờ anh !!!
Hóa nghèn nghẹn trong cổ, anh muốn nói gì đó với Tý, Nhưng đôi tay anh lại ghì Tý mạnh hơn, một nụ hôn tưởng chừng bất tận, bù đắp cho những tháng năm dài cô độc,  thay cho  những ngôn từ vô nghĩa !
Đêm ngọt ngào với những nụ hôn và mùi hoa sứ!

Trạch An-Trần Hữu Hội

Tương tư kinh

nguyenvanthien
“Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”
(Kinh Thánh)

Trước có em
Ta độc thân một mặt trời cao ngạo hào hoa
Từ có em
Ta vầng trăng sánh đôi trời xanh soi đáy nước
Từ đêm không còn em nữa
Ta hoá vì sao côi cút cuối thiên hà

Nhân danh sao và trăng và mặt trời
Quỳ gối nói yêu em bằng lời Kinh Thánh
Xin một góc tim em ta xây lại thiên đường
Nhân thơ và rượu và hương
Xin được gởi nhớ thương vào nước Chúa

Nhân danh cỏ và hoa và bông lúa
Xin được chôn tình mình trên cánh đồng quê
Bia đá xin đề:
Không tên không tuổi
Mắt nhớ môi mong đồng phụng lập
Mai lưu lạc khắp trời cao đất thấp
Biết chốn tìm về thắp nén hương yêu.

Nguyễn Vân Thiên

ĐÊM HÍ HOÁY VIẾT CHỮ GÌ CHẢ BIẾT…

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

buồn túi bụi ờ như mưa thay nắng
tóc buồn xo ngồi nhớ những chưa quên
dăm hạt ướt bò bò lên giấy trắng
là thơ ư ? chỉ xóa một cái tên

ờ lăn quay đã bao lần nhiều bữa
chân ngo ngoe hỗn láo đạp đất trời
mưa rồi xuống nắng rồi tuôn qúa sức
ta đen thui lem luốc giữa cuộc ₫ời

hôm ngồi khóc cho em nhìn yếu đuối
nói thương ta mà lại nhoẽn miệng cười
nhéo đầu mũi bảo ta đeo mặt nạ
gịọt lệ ta đành dậm đất … trời ơi

buồn luồn cúi trốn chân bàn vì sợ
lộ nguyên hình ta thân xác bi ai
sợ bom nổ trong phút giây tưởng tửởng
xác ta tan chết trăm bận khôi hài

em kéo cẳng đời kéo chân ôi rối
bù cuộc đời dài năm tháng nghêu ngao
đêm hí hoáy viết chữ gì chả biết
cửa tồn sinh huyễn mộng cứ ra vào…

NGÔ YÊN THÁI