BUỔI SÁNG ĐÀ LẠT 1

Giấc mơ chưa kịp bay đi
Màn sương nhón chân níu lại
Nắng chạm vào em thủy tinh
Mặt trời hình như ái ngại.

Con ngựa ăn cỏ trên đồi
Thời gian dừng chân đứng đợi
Con chuồn chuồn nhỏ ngủ quên
Trên cành thông khô năm ngoái.

Gió là một lượt ngàn thông
Giọt sương vỡ trên lá biếc
Đà Lạt choàng chiếc khăn voan
Hoa dại cài trên áo cưới.

Những đóa hoa quỳ tàn vội
Nhường bước cho mặt trời lên
Núi đồi vẫn cứ ngủ yên
Kéo cho dài giấc mộng đẹp.

Dũng KQD
Đà Lạt 1988

bao giờ tôi xóa tôi

(nhớ anh Phạm văn Bình và bài thơ Chuyện tình buồn, mất ngày 22/7/2018 tại Cali..)

tôi ôm đời mỏi mệt
với trăm năm phận người
những vui buồn số kiếp
lăn qua ngày phù hư…

tình yêu như sương khói
treo dốc đời héo khô
một tôi và bóng tối
trên nẻo về hư vô…

nỗi buồn như khách lạ
quanh tôi những sớm chiều
đợi hồi còi nghiệt ngã
đậu vách sầu cô liêu…

nghe một trời giông bão
tạt xuống đời tôi trôi
ôi trần gian hư ảo
bao giờ tôi xóa tôi…

nguyễn minh phúc

ÔI! PSYCHÉ

Em biết anh đau khổ dường nào
vì sự hiện thân giữa lòng sám hối nầy.

Ôi! Psyché!
Em vuốt lại mái tóc màu hạt dẻ của em đi
và nhìn thật sâu vào mắt anh.

Trong ánh sáng long lanh
em đã thấy gì?
Thấy biển xanh?
Và những bến bờ hò hẹn?

Hay em thấy một dòng sông ngăn cách,
cùng sóng nước điêu linh?

Trong ánh sáng long lanh
em có thấy cánh đồng?
Và người nông dân đã hơn nửa đời gieo hạt.

Ôi! Những thân cây trên một miền sỏi đá
có những bông hoa mộng mơ
những trái cành đắng khổ.

Em hãy hái bông hoa cài lên tóc
và hãy ăn trái đắng nầy
để hiểu nước mắt chim câu
và sự thất trận của thanh bình.

Anh sám hối vì sự hiện thân nầy
lâu quá rồi
những cơn đau cùng nỗi dằn vặt
có khi anh muốn đi tìm cái điều tuyệt vọng nhất
nằm trong tay người chết
có khi anh muốn đi tìm tội ác
với lòng vô lương.

Em hãy nhìn sâu vào mắt anh
ôi! Psyché!
Và em sẽ thấy
bóng một người nghèo ngồi trên núi cao giá lạnh
đang hát bài ca về tình yêu – sự thực
bóng một người nghèo đang hát với trời xanh
bài ca sự thực
về sự thất trận của thanh bình
và giọt nước mắt chim câu.

II

Ôi! Psyché!
Mưa đã cho anh màu xám của nỗi buồn
bão còn cho anh thêm màu vàng của nỗi biệt ly.

Nhưng em
em đã cho anh màu xanh của chiếc lá
và màu hồng của bông hoa.

Ôi! Psyché!
Anh sẽ không may cho em chiếc áo bằng màu tro ấy đâu.
Anh sẽ không dệt cho em chiếc khăn tay bằng màu vàng ly biệt ấy đâu.

Anh chỉ dành cho em
màu của ngọn lửa nhiệt nồng
của con tim đắm đuối tình yêu.

Ôi! Psyché!
Tình yêu có muôn màu sắc
nhưng không có nơi cho nỗi lo âu thường trú.

Ôi! Psyché!
Tình yêu có muôn màu sắc
em hãy dành cho anh màu giấc ngủ trong mắt em
để màu xanh của chiếc lá còn xanh
màu của bông hoa còn hồng
và màu của môi em
vẫn là sắc màu bất tuyệt tình yêu.

VƯƠNG KIỀU

DOANH DOANH NGOẠI TRUYỆN

Trường Giang cuồn cuộn về đâu
Sóng xưa vùi hết anh hào mỹ nhân
Được thua thành bại chẳng cần
Thiên thu còn lại chỉ ngần này thôi
( Tư Mã Doanh Doanh)

Tôi, người chấp bút, phải nói đôi điều về Tư Mã Doanh Doanh:
Cô là cháu nhiều đời của nhà sử học Tư Mã Thiên ( dĩ nhiên trước khi bị cung hình, sử gia Tư Mã Thiên đã có con trai nối dõi), có tội với triều đình nên dòng họ này phải lưu lạc vong thân, thay tên đổi họ.
Tư Mã Doanh Doanh, mấy ngàn năm sau, thương cảm cho những nguồn lịch sử bị vo tròn bóp méo, cô ngồi vào bàn phím, gõ gõ hằng đêm, thức cùng cô là con cú mèo lim dim trên ngạch cửa, những khi xao lòng hay mệt mõi, cô nhìn vào bạn mình và tìm kiếm ở nó sự kiên nhẫn và khôn ngoan cần thiết, nó gật gù nhìn cô, mỉm cười xoa dịu: Cố lên nào , bạn ta. Cuộc đời ấy, có bao lâu để đợi chờ…
Nên, những điều cô viết có thể là chính sử hoặc chỉ là ngoại truyện, tâm niệm của cô là làm giảm nhẹ mọi uẩn khúc, mọi tranh chấp, mọi hoài nghi… để lịch sử mãi mãi là một giòng trôi của định mệnh, mà ta tìm ở đó- ngàn năm sau- một tiếng thở dài!

VÀO TRUYỆN:

Năm này, tháng nọ, ngày kia.
Thời Nam Bắc giao tranh, Ngô Quốc Sư là thầy dạy của mấy chục ngàn môn sinh đệ tử và được toàn thể học trò yêu kính, thuở ấy tuy ngài danh tiếng lẫy lừng nhưng có một điểm nhượt trầm trọng là quá khôi ngô lồng lộng nên dù có 5 lần 3 lượt nộp đơn xin dạy ở một trường Dòng dành cho nữ sinh đã bị ban giám hiệu gồm các nữ tu Dòng Notre Dame rất tiếc mà phải e ngại lắc đầu.(Đó chỉ là ngoại truyện chứ thật sự các Soeurs đã mấy lần tam cố thảo lư để thỉnh cho được Quốc Sư về khai tâm mở trí cho bọn đệ tử của mình)
Quốc Sư, rất khiêm tốn không bao giờ chịu tôn mình là Quốc Sư như nhân gian truyền đạt mà chỉ nhã nhặn xưng mình là Quốc Sĩ, nội điều đó đã nói lên cái tâm của một vị thầy – tâm sáng như gương, lòng khiêm cung như nước!
Ở đâu không biết, chứ ở ngôi trường Notre Dame De… Nha Trang thì mỗi giờ dạy của Quốc Sư, ngoài tiếng giảng bài trầm hùng bi thống chỉ có nghe thêm những tiếng rơi khe khẽ của những chiếc lá bàng khô. Yên tĩnh tuyệt đối đến độ ngoài sân bọn Bồ Câu cũng nhỏ nhẹ nghiến những hạt thóc, rón rén bước trên cỏ không dám gây tiếng động… ngoại trừ tiếng tằng hắng của Soeur Hiệu Trưởng khi bất chợt đi tuần qua qua lại lại bắt gặp quả tang một cô học trò nào đó đang mộng ngoài cửa lớp!
Dù Quốc Sư thông đạt thiên kinh vạn quyển nhưng vẫn dễ dàng đỏ mặt khi những cô học trò ngoan ngoãn khoanh tay dạ thưa thầy, con…( này kia khác nọ…)
Để tránh tình trạng nguy cơ vòng tay học trò, Soeur luôn bắt đệ tử xưng con với các thầy dù vẫn cho phép xưng em với các cô
Năm ấy, Quốc Sư tuổi trẻ tài cao, chừng hăm mấy tuổi đời thôi mà học trò thì có đứa đã mười tám tuổi… Nhưng trái tim Quốc Sư đã rơi vào chốn khác.
Cũng năm ấy, Tiểu Siêu( không phải Tiểu Yêu) 17 tuổi. Mặc dầu học ban B nhưng cô khá là văn hay chữ tốt, có bài vở đăng đều đều trong các tờ báo thiếu nhi và được xuất bản hẵn một cuốn truyện nhi đồng!
Tiểu Siêu hay theo dõi các tình hình diễn biến văn nghệ văn gừng liên quan đến các văn nhân thi sĩ toàn địa phương, toàn quốc lẫn toàn thế giới.
Một buổi sáng mây mù âm u khắp chốn,cô hớt hơ hớt hải đến lớp thông báo một tin quan trọng ngang ngửa với tin cô sẽ dẫn cả lớp đi ra biển ăn gỏi bò khô đu đủ và uống nước dừa khi nào nhà xuất bản Tuổi Hoa trả tiền nhuận bút tác phẩm đầu tay của cô ( Uổng thật, đến gần tháng 4/75, khi cả lớp tan tác lìa nhau rồi cô mới nhận được số tiền lớn kinh khủng này- đối với cô- nên lời hẹn bất thành)
– Nghe nè, nghe nè:
em mang mùa thu vào lớp học
phấn trắng ngỡ ngàng trên tay anh
mây trời bỗng hạ xuống thật thấp
chữ nghĩa vỗ cánh bay rất nhanh…

Cả lớp xôn xao, Tiểu Siêu đưa ra tờ tạp chí Nha Trang Nghĩa Thục có in bài thơ trên, cả lớp xúm coi và Tiểu Siêu nghe nhiều tiếng thở dài
– Thầy viết cho ai vậy Tiểu Siêu?
– cho Tiểu Long Nữ đó!
– Tiểu Long Nữ đẹp quá hèn chi…
Tiểu Siêu duyệt bài thơ của Quốc Sư, duyệt thêm Tiểu Long Nữ dù chẳng ai cần cô phê duyệt!

Sau biến cố 4/75, Quốc Sư cùng nhiều đệ tử ra đi tìm đường cứu nhân độ thế… Tiểu Siêu gặp lại Thầy ở một nơi bình yên chim hót, thung lũng hoa vàng mấy độ. Thầy, với micro cầm tay, head phone đeo tai, hùng hồn biện thuyết vào mỗi chiều thứ ba, năm, bảy cho chương trình radio Tiếng Nước Tôi
Quốc Sư,vẫn phong độ như thuở nào dù đã là ông nội.
Tiểu Siêu , vẫn là cô học trò nghịch ngợm dù đã là bà ngoại, vẫn luôn luôn lễ phép kính trọng Thầy. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư… huống chi Quốc Sư đã dạy dỗ Tiểu Siêu từ triết đông tới triết tây lẫn một phong cách sống thật khiêm cung mà cũng thật ngấm ngầm kiêu hãnh. Phong cách sống của các bậc hiền nhân quân tử mà Tiểu Siêu dù cố gắng cách mấy cũng chỉ được chưa tới nửa phần…


Thầy và các học trò Thánh Tâm ở Nam CALI

Năm này, Tháng nọ, Ngày Kia.
Có một chàng chiến binh thi sĩ, chán cảnh chiến tranh, chàng bèn làm thơ phản chiến:

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân

(Còn tiếp)

LỜI CHIM THỔ HUYẾT

Khi thiếp ngủ trên vùng hủy diệt
Xin ghi lời cô biệt
một mùa yêu
Con chim hót
tiếng vang nồng máu đỏ
Tôi nằm nghe
héo cạn trút trong chiều.

Cũng muốn viết câu thơ tình
vĩnh quyết
Gói trong hồn bi thiết
giọt tàn phai
Con chim rúc
đỏ au từng sợi biếc
Tôi nghe mình bỏng kiệt
nỗi bi ai.

Nằm xuống
và ngủ yên
đời khánh kiệt
Cả giấc mơ cũng biền biệt
không về
Con chim nhỏ
bay ra ngoài chiếc bóng
Vàng xưa ơi
buốt lạnh đến buồn tê!

Bài thơ viết
ròng ròng câu tuyệt huyết
Bài thơ đi
ngờ nghệch
vân vi
Tôi nhuộm bóng lên lời chim lộ diệc
Tiếng lặng câm vang mộng
xót đau
vì…

HUY TƯỞNG
(Melb, tháng 9/2016, những khuya hôm lặng lẽ)

Em Bọc Làm Chi Mặt Trời Trong Áo Đỏ

Thông cáo báo đăng: “Chớ ra đường, nóng lắm, đừng mặc áo màu đen mà nên màu trắng !”. Em biết mà tại sao em bình thản, hôm nay ra đường mặc áo đỏ trêu ngươi?

Áo đỏ, em đi, đỏ một góc trời. Em bọc làm chi mặt trời trong áo đỏ? Phải chi em mặc áo màu của gió…đem về mưa, một chút, chút, vui sao!

Lá vườn anh lại xanh như bữa nọ, hôm nào, em tóc xỏa gió vờn vai áo lụa…em bước nhẹ như mây vờn đám lúa…em khoan thai như con mèo nhỏ dễ thương!

Em người Nam, em nói đỏ là hường, em chúm miệng, ghét vô cùng cái miệng! Em có biết không, em làm anh đau điếng…Đêm nay Rằm, Nguyệt Thực, cũng vì em!

Đêm nay trăng không rọi ánh lên thềm. Trời buổi tối, dĩ nhiên không có nắng. Chỉ em thôi, không có ai thay đặng để bắt đền áo đỏ nắng hồi trưa…

Nắng hồi trưa, hồi trưa hay hồi xưa? Em áo đỏ qua đò ngang mất biệt! Bốn mươi năm hơn một mối tình tha thiết…rồi, Quê Hương cũng mất biệt theo em!

*

Anh làm thơ không có chữ nào êm. Anh lọc, lựa, đẽo mòn tim óc. Nóng đến nỗi, em ơi con sóc, đứng làm thinh, vẫy, vẫy cái đuôi xù!

Anh biết rồi, anh vẫn sống trong mơ…Em áo đỏ giấu mặt trời trong áo đỏ…Anh tưởng tượng em vừa ngang qua ngõ, nụ hoa hồng anh gửi gió…hôn em!

Em cười đi cho cái miệng thêm duyên…cho mắt biếc chao giùm anh đại hải…cho mãi mãi em là con gái…cho muôn đời anh ngưỡng mộ chiêm bao!

Trần Vấn Lệ

Nhìn Larung Gar lần cuối

Một Lạt ma trẻ nhìn xuống học viện Larung Gar và có thể đó cũng là lần cuối. Nếu không có áp lực nào, và chắc cũng không một áp lực nào, buộc Trung Cộng thay đổi ý định, vài hôm nữa một phần lớn của tu viện nổi tiếng thế giới này sẽ bị phá hủy.

Larung Gar không chỉ là học viện mà còn là biểu tượng văn hóa Phật Giáo Tây Tạng và lý do phá hủy cũng không phải vì đông đúc, thiếu an toàn như Trung Cộng viện lý do nhưng chính là nhằm xóa bỏ giá trị văn hóa.

Bởi vì, như tổ chức Human Right Watch phản bác, nếu chính quyền Trung Cộng cho là đông đúc thì thay vì phá hủy mà giải pháp đơn giản là xây thêm nhiều tu viện khác.

Từ khi chiếm đóng Tây Tạng năm 1950 đến nay, mục tiêu cuối cùng của nhà cầm quyền Trung Cộng là xóa bỏ Tây Tạng, một quốc gia có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, có chính phủ và đơn vị tiền tệ riêng.

Chính sách xóa bỏ Tây Tạng của Trung Cộng được thực hiện bằng hai cách, (1) diệt chủng văn hóa (ethnocide) nhằm hủy diệt các giá trị văn hóa và (2) đồng hóa chủng tộc qua việc định cư ồ ạt người Hán vào Tây Tạng.

Năm 1949, chỉ vỏn vẹn 300 đến 400 người Hán định cư ở Lhasa, thủ đô Tây Tạng, nhưng hiện nay tính trên toàn lãnh thổ, người Tây Tạng đã trở thành thiểu số trên chính quê hương mình. Lịch sử vàng son của Tây Tạng đang chìm dần vào quá khứ.

Trong lúc tình cảm của nhân loại yêu chuộng tự do và hòa bình dành cho Tây Tạng luôn tràn đầy, thực tế chính trị cho thấy khả năng Tây Tạng được độc lập lần nữa phải gắn liền với sự tan rã của Trung Cộng, giống như trường hợp của các nước vùng Baltic trong cơ chế CS Liên Xô trước đây.

Tây Tạng là một bài học trước mắt cho người Việt Nam còn quan tâm đến tiền đồ đất nước.

Như người viết đã có lần viết đến, nhìn Tây Tạng để thấy nếu chỉ biết tôn vinh quá khứ mà làm ngơ trước hiểm họa Trung Cộng hôm nay, rồi lịch sử dân tộc Việt với những chiến công hiển hách của các thời Ngô, Đinh, Lý, Trần cũng sẽ chỉ là những tấm bia trong một ngôi đền cổ.

Nếu tất cả chúng ta đều im lặng, làm ngơ, chịu nhục trước hiểm họa Trung Cộng, rồi bốn ngàn năm nữa, những đứa trẻ dòng Việt tộc đi ngang qua di tích đền Hùng, sẽ căm hận biết bao khi nghĩ về tổ tiên nhu nhược của chúng vào bốn ngàn năm trước đó.

Đừng để lại một ngôi đền.

Trần Trung Đạo

trống

này tôi
ghé cõng ngày chiều
đội lưng quán gió
nhạc chiêu hồn
trầm…
bỡi vì ai
mắt lá dăm
mà đường chim lạc
vô tâm
cuối trời

ngón vàng
sợi trắng khói hơi
thuốc tàn đóm lửa
đau môi
bất ngờ
đường về ngang
bóng mơ hồ
guốc giòn gõ điệu
hững hờ
mênh mông…

quán đầy duy nhất chỗ không
em chưa ghé ngự héo cong ngọn chiều

Phạm Quang Trung

ban mai và áp thấp mưa

tôi trong tĩnh lặng cùng ban mai điềm nhiên
tất cả những hiện thể dù trước hay sau cũng phải thức dậy
tinh tuyền mùi ánh sáng từ hơi thở tỏa ra
chỉ có những ngọn đèn đường của vi mạch thông minh ý thức nhiệt lượng vừa nhắm mắt

dường như áp thấp mưa muốn khuôn mặt thời gian mờ xám
lũ dơi ngậm giọt trái chín treo mình dưới mái ngói phố rêu cổ kính
con mèo tam thể trở về nằm khoanh trong góc khuất
chắc nó đang nghĩ về chuyện mộng du đêm qua
vẫn thế, không là bất ngờ khi hai bàn tay em như loài bướm đậu trên vai tôi

có thể, trong lắng nghe hiện hữu
mùa xanh gõ nhịp đều chưa một lần héo úa rụng xuống vô thanh
người ta đang trượt nhanh trên những phiến nắng đang trổ hoa màu ngũ sắc
đừng hoài nghi nhé em
ước mơ không thể như dòng chảy cuộn trôi vào thăm thảm lòng ngày
xin đừng nói lời phiền muộn sẽ làm rạn vở niềm tin

khaly chàm

Củ Chi 7/2018

Cái Bánh

(Ngày 21-10-2013, chiếc máy bay ATR 72 của Vietnam Airlines (VNA) thực hiện chuyến bay số hiệu VN 1673 từ Hải Phòng đi Đà Nẵng đã rơi mất 1 bánh ở phía trước ngay trên vùng lũ!)

Nước réo ầm ầm bên dưới. Thằng Bi run lẩy bẩy. Từ hôm qua gói mì tôm sống cuối cùng đã được bẻ ra chia làm bốn và sáng nay cả bốn người đói lả và lạnh cóng nằm phủ phục trên mái nhà. Bầu trời thấp, nặng mây đen như báo hiệu những cơn mưa điên cuồng sẽ tiếp tục trút nước xuống. Gần cả xóm đã được dời đi từ ba hôm trước. Lúc đó mấy người mặc áo mưa dày, đội nón cối có hứa là sẽ quay lại ngay lập tức để đón những người còn lại nhưng qua một đêm mưa như trút nước, nước dâng càng cao hơn mà vẫn chẳng thấy ai quay lại, cho đến hôm nay, hình như họ đã bị bỏ quên!

Thằng Bi rướn người, quờ tay xuống cố khum bàn tay lấy một chút nước vả vả vào đôi môi khô nứt. Bác Quyết, bác Nhân và chú Hùng gần như chỉ còn sức bám tay vào những viên ngói cũ để khỏi rơi xuống dòng nước lạnh. Bác Quyết thì thào “Cháu lấy cái nón… cái nón cối múc cho bác ít nước, bác đói quá”. Bi nhìn quanh, chẳng còn thấy vật gì xung quanh trên mái nhà. Những cơn gió đêm qua đã thổi bay tất cả. Nó cố trườn người về phía lỗ thủng, những viên ngói dịch chuyển dưới thân hình quắt queo của nó. Bi đã trườn được tới cái lỗ trên mái, thò đầu nhìn xuống nơi mấy đêm qua cả bốn người nằm co quắp vì lạnh và đói trên những thanh gỗ lót trên các kèo nhà. Phía dưới là dòng nước trắng nhờ nhờ đầy rác rưởi trôi nổi và cuốn tròn, xoáy ra phía các cửa giờ trống hoác. Không còn thấy bất cứ vật dụng nào trên các miếng gỗ họ nằm. Chắc đêm qua, họ đã làm rơi hết xuống phía dưới mà căn nhà nơi họ trú ngụ, dù được xem là vững chắc nhất vùng cũng chỉ còn lại mấy vách tường. Cơn lũ dữ, ngay từ ngày đầu đã làm bật tung mọi cánh cửa và cuốn tất cả vật dụng đi theo, căn nhà gần như chìm ngập trong nước, và cả bên trong lẫn bên ngoài chỉ có rác và các cành cây gãy trôi vùn vụt theo dòng nước. Không tìm thấy vật gì có thể đựng nước, thằng Bi ráng hết sức lực còn lại, rướn người ngồi dậy, tìm cách leo xuống sát mặt nước. Nhờ nhỏ người, nó cũng đặt chân sát mặt nước và ráng hết sức kêu lên: “Các bác lại gần đây, cháu dùng tay hớt nước lên”. Ba người đàn ông có lẽ không khát nhưng cơn đói và lạnh làm họ thấy cần có nước, cùng cố dịch người về phía lổ thủng nơi thằng Bi ló nửa thân lên. Nó gỡ thêm vài viên ngói ném xuống bên dưới, cố dùng tay hớt nước lên cho từng người. Mấy ông già cựa quậy, cố há miệng, le lưỡi hớp từng giọt nước, thân hình họ quắt queo, áo quần đã bắt đầu rách, da thâm lại như da trâu, đã có những vết loét, cả ba cái miệng đều thều thào “đói, đói quá, chết mất thôi”.

Bi dừng tay vì mệt. Nó leo lên mái nhà, nằm sát bên ba người đàn ông lớn tuổi. Bụng nó quặn đau vì trống rỗng. Nó nghe thân thể mỏi nhừ và cảm thấy như muốn ngủ nhưng không thể ngủ vì rã rời. Nó nghĩ đến những người thân, những đứa bạn chăn bò giờ không biết ở đâu nhưng chắc không đói và lạnh như mình và các bác bị bỏ lại. Bi không có cha mẹ để nhớ, từ bé nó lớn lên với chú Hùng, cũng sống một mình cuối xóm, giờ đây cả hai chú cháu đều kẹt lại cùng bác Quyết và bác Nhân. Bỗng nó nghe bác Nhân chóp chép miệng: “Ngon thật! Ngon thật!”. Bi ngạc nhiên, mở to mắt nhìn người đàn ông thường ngày bơm xe đầu làng. Rồi bác Quyết cũng rên rỉ: “Ừ, ngon quá, miếng dồi này béo ngậy!”. Thằng Bi nuốt nước bọt ừng ực. Trong trí nó bỗng hiện ra những bữa thịt chó hiếm hoi chú Hùng dẫn nó đi ăn tại quán Mụ Béo khi có chút tiền. Những miếng mỡ chó vàng ươm, khúc dồi thơm phức, mùi riềng ngào ngạt… Nó cũng nằm xuống, nhưng không nhắm mắt mà ngước nhìn bầu trời xám đục như đang thấp dần, chú Hùng của nó cũng lây vào cơn ảo giác vì đói. Cả ba người đàn ông, không, cả thằng Bi cũng bắt đầu nói về những món ngon mà mình từng được ăn, những món mình thèm ăn mà chưa được hưởng, nước dãi họ túa ra ào ạt và thỉnh thoảng tay chân họ co giật…

Không biết mê man bao lâu, bỗng nhiên thằng Bi nghe có tiếng rì rầm như một loại xe gì đó đang tiến tới và lớn dần. Bản năng được sống cũng đánh thức thính giác của những người đàn ông còn lại. Chú Hùng tỉnh trước, thều thào “Máy bay, máy bay!”. Bác Quyết rồi bác Nhân cũng ráng ngước đầu, nhìn về phía trước và há mồm lắp bắp: “Ồ, máy bay, máy bay. Họ đến cứu mình, họ đem thức ăn cho mình”.

Cả bốn người ráng hết sức tàn, nửa nằm nửa ngồi nhìn về phía chân trời. Nơi đó hiện dần ra một chiếc máy bay cánh quạt. Nó bay khá thấp, có vẻ như đang bay tìm họ. Tiếng động cơ lớn dần, lớn dần. Bốn con người ngồi trên mái nhà đói lả sung sướng vì họ nhìn thấy rõ ràng trong khoang máy bay chất đầy thức ăn. Họ cố đưa những cánh tay gầy vẫy vẫy và hét vang: Ở đây! Ở đây!

Và rồi họ thấy, từ trong cánh cửa máy bay, một ông tiên hiện ra, ông vung tay. Một vật thể sáng ngời, thơm phưng phức bay vút về phía họ. Chiếc máy bay lướt ngang đầu. Cái vật đó rơi đúng vào lổ thủng mái nhà. Cả bốn người gào to mừng rỡ: “Ôi bánh! Cái bánh to quá”. Bác Quyết, bác Nhân thì thào: “Ôi, cám ơn đảng, cám ơn nhà nước”.

Hai ngày sau nước rút. Dân làng lục tục trở về. Giữa cảnh tang thương họ tìm thấy thằng Bi và ba người đàn ông chết còng queo trên mái ngói. Họ nằm châu đầu vào nhau. Răng cả bốn người nhe ra như cố gặm vào một cái bánh bằng cao su màu đen.

Không một tờ báo chính thống nào đăng tin về những cái chết bi thảm này. Chỉ có những dòng tin về việc hãng hàng không quốc gia thông báo tìm một cái bánh trước của máy bay bị rơi trên đường bay đầy trục trặc từ Hải Phòng đi Đà Nẵng.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN