LÃM THÚY, TỪ THUỞ TRĂNG ĐI

Thuở đi trăng vẫn chưa tròn
Đến nay trăng úa, vẫn còn xa xôi
Sầu trông nhau, bặt tiếng cười
Chiều hôm gió tạt, bóng đời tịch liêu
Người ơi, ly biệt đã nhiều
Còn xa chi nữa cho hiu quạnh đời
Về thôi, trăng úa lâu rồi
Về thôi, mòn mỏi lắm, người chờ mong
Về thôi, sầu đã thành dòng
Về thôi, gió đã lạnh lùng từ lâu

Mười tám năm trước, tôi đọc được bài thơ này từ một người bạn ở Seattle gửi về, lồng trong một bức điện thư “than vãn” về thân phận của anh ấy ở xứ người. Cả bài thơ là tâm trạng kẻ cô đơn đến tận cùng; một sự chia ly mất mát không lấp nổi. Bài thơ không thấy ghi xuất xứ, chẳng đề tên tác giả nên tôi cứ ngỡ đó là những cảm hoài của bạn bật lên thành tiếng thở nao lòng. Nghĩ vậy và để bụng.

Bảy năm sau, anh PVN gửi về gói sách, trong đó có tập Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi do chính tác giả đề tặng. Đọc hết tập thơ và nhớ lại những câu thơ đã đọc, hóa ra bài thơ trên là của Lãm Thúy!
Phải mất cả tuần thư từ qua lại, mới biết tác giả tập thơ hiện cũng định cư ở Mỹ, bạn thân của Nhàn.
Lãm Thúy. Một bút danh nghe rất miệt vườn Nam bộ như tên của một trong các cô gái của nhà văn Bình Nguyên Lộc trong cuốn tiểu thuyết Đò Dọc.
Thực ra cái tên chẳng nói lên điều gì, nhưng những câu chữ trong thơ của Lãm Thúy thì đậm đặc màu đỏ phù sa, vàng bông điên điển, khói đốt đồng trắng trời cho đến trái bần xanh, mắm tép rong, trái cóc, cá lóc nướng trui… và đờn ca tài tử. Nhưng chúng không gần bên chị, chỉ hiện hữu trong tâm thức của kẻ biệt lưu thấp thoáng hình bóng quê nhà trong tâm tưởng để sau đó bật nức những câu chữ và rồi thành hình hài thơ ca mà giới phê bình văn học gọi là thi giới!
Và quê nhà luôn là nỗi ám ảnh, đeo bám bên chị!
Cứ tưởng tượng, một người buộc phải tách khỏi một vùng văn hóa đã thành hơi thở, máu thịt từ một nửa cuộc đời một cách đột ngột, để đến với một vùng văn hóa xa lạ thì chắc chắn, đời sống tinh thần và vật chất sẽ đụng chạm nhau một cách dữ dội trước khi thích nghi. Nó là mẫu số chung cho tất cả những người xa xứ, sống trong tâm thức của kẻ lưu vong, của những người con bị đẩy ra khỏi mùi bùn non, hương cau, hương lúa trổ đòng; và cuối cùng bị khép vào vòng tuyệt lộ.
Thơ ca đối với những trường hợp này là sự giải bày tâm trạng, là những tiếng kêu thảng thốt trong những cơn mê vàng đục những ưu uất. Vậy nên đọc thơ của chị là đọc những tiếng kêu thầm hiển lộ hình hài. Đó cũng là những hồi ức về tuổi thơ đầy ắp những âm thanh của con nước lên xuống, tiếng bìm bịp đâu đó bất chợt vang lên từ trong lùm đước, lùm mắm; trong bụi ô rô cóc kèn… ở một nơi tuyết phủ trắng trời.
Quá khứ được chị lấp đầy trong hiện tại đến dày đặc.
Nhưng những điều này, liệu có phần nào giải tỏa những muộn phiền, ẩn ức đối với những người làm thơ như chị hay không; riêng với độc giả cùng một cảm thức, có thể, một lúc nào đó, chữ nghĩa trong thơ ca sẽ xô đẩy nhau, len vào tận cùng những ngóc ngách cô đơn của kẻ lạ trên đất khách biệt lưu như một thổn thức bùng vỡ.
Ta – Một kẻ tha hương
Chiều nay đứng bên đường
Ngó quanh trời đất lạ
Bụi mù che cố hương

(Tha hương)
“Cố hương” trong nỗi nhớ nhung tận cùng của chị, giờ đây sẽ không còn phơi bày bằng những hình ảnh ẩn dụ mà, cụ thể là con đường, trời đất, bụi mù… tất cả được đẩy xa trong tâm tưởng ngắc ngoải, dày vò, đau khổ đến tận cùng của cảm xúc lúc nhớ về. Đó là nỗi nhớ nhung nghìn trùng xa cách; nhớ nhung đến thê thiết hơn nhiều trong những câu ở bài Đoản Khúc sau đây:
Quê hương ngàn dặm còn xa
Ngõ sau không thấy, nhớ nhà đứng đâu?
Đổ quyên khản giọng kêu sầu
Những hồn ứa máu còn thâu đêm chờ…
…Chín chiều đau khúc phân ly
Bờ sông, cố quận, trời chia nghìn trùng…
…Đành thôi xứ lạ quê người
Xót thân lưu lạc, lệ ngùi đêm thâu.

Đọc những câu thơ này, tự dưng tôi nhớ đến hình ảnh một Tô Đông Pha áo đẫm bụi đường, giày vẹt gót, lầm lũi dặm dài gập ghềnh gió mưa qua những chặng biếm trích nhiêu khê; hay một Lý Bạch rày đây mai đó và Tứ Xuyên luôn hiện trong tâm tưởng thi sĩ như một quê nhà chính thức của ông, đến nỗi mỗi khi nhìn thấy trăng ông lại nhớ đến trăng trên núi Nga Mi thời niên thiếu khiến ông nhớ đến quay quắt khôn nguôi, và phóng bút viết nên bài Tĩnh Dạ Tứ bất hủ, đã trở thành thi hứng cho các thi sĩ đời sau:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Và nữa, một Lamartine với bài Milly Ou La Terre Natale khiến người đọc cũng quặn thắt cõi lòng:
Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie ?
Dans son brillant exil mon coeur en a frémi ;
Il résonne de loin dans mon âme attendrie,
Comme les pas connus ou la voix d’un ami.
(Tiếng cố hương vì đâu nhắc đến ?
Lòng xa quê xao xuyến khôn nguôi,
Vẳng nghe vọng lại hồn tôi,
Bước chân quen thuộc, tiếng người bạn thân)

Dẫn ra là để minh họa chứ không phải để so sánh với các bậc thầy trong văn chương. Bởi có cả ngàn bài thơ từ cổ chí kim viết về quê hương, nhưng không bài nào giống bài nào theo cách mượn ngoại giới hay tâm giới để tạo ra thi giới, như Đặng Tiến đã nhận định: “Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định” (Đặng Tiến, Thơ thi pháp & chân dung, NXB Phụ Nữ, HN, 2009).
Cái “không giới hạn, không kích thước, mông lung bất định…” mà nhà phê bình Đặng Tiến đặt tên, dường như luôn thấp thoáng phía sau “nỗi nhớ” của chị. Chẳng hạn:
Vẫn tưởng như ta còn ở đó
Vàm sông ráng nhuộm, tím hoàng hôn
Mẹ nấu cơm chiều, đang nhuốm lửa
Mái nhà khói quyện, ấm cô thôn
Cuối vườn, có cội bằng lăng nở
Chiều nao rụng cánh, tím nương bèo
Nhà ai hoa giấy bay trong gió
Cánh mỏng manh buồn, nước cuốn theo…
(Cành hoa tím cũ vẫn chưa phai)

Trong những phút xuất thần chị có những câu thơ rất đẹp, bên trong chứa cả hội họa và âm nhạc, rất gần gũi với trường phái thơ lãng mạn Việt Nam với những Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu… giữa cuối thế kỷ trước:
Chiều ấy quê nhà mây xuống vai
Bến sông hong tóc nắng thu cài
Trong gió chợt nồng hương dã thảo
Quyện vị cơm chiều khói bếp ai
…Ở đó vườn trăng lá dát vàng
Đêm nhòa sương khói trắng không gian
Mái chèo chạm vỡ dòng sông bạc
Con thuyền về muộn chở đầy trăng
(Một cõi bồng lai)

Có điều, trong thơ Lãm Thúy, chúng ta không hề nhận ra sự cố tình làm mới câu chữ, cũng chẳng hề sắp đặt ngôn ngữ theo trường phái Tân hình thức, Hậu hiện đại hay Hậu hiện sinh gì cả để người đọc phải dùng lý trí mà khám phá ra “thế giới mông lung” kia. Ngôn ngữ thơ của chị hồn nhiên, chơn chất như bản tính vốn có của người dân đồng bằng Nam bộ:
Nhà nghèo, rách mặc, thiếu ăn
Cha đi câu cá, phơi thân nắng hè
Rô mề mẹ nướng gắp tre
Giầm nước mắm hạnh còn mê tới giờ
Miếng ngon gắn với tuổi thơ…
(Cha và tuổi ấu thơ)

Nếu gọi đây là câu thơ theo đúng với cách nhìn của các nhà phê bình văn học cổ điển, hẳn họ không chịu công nhận đó là thơ. Vậy nhưng loại trừ tính chính thống chính danh của phê bình cổ điển, lật ngược ra phía sau, đọc một cách tự nhiên như đọc một câu văn nói và… để cho sự đọc đó thấm dần tựa như thịt con cua đồng nướng, tan chảy trên đầu lưỡi vừa khi cời cua ra khỏi lửa rơm, hẳn ta sẽ cảm nhận được mùi vị của khói, hương thơm của đất trời trộn lẫn với mùi mồ hôi quen thuộc từ thuở chập chững trên cầu ao, ngoi ngóp trong đìa nước mát. Những hình ảnh câu cá, nướng gắp tre, giầm nước mắm… có thể bắt gặp bất kỳ miền không gian nào, nhưng với tuổi ấu thơ, chúng gây những ấn tượng khó phai. Chúng ngủ yên trong miền ký ức; rồi một hôm bổng bật dậy sáng rỡ,. hiện về trong con người ở tuổi 40, 50 thành một cô bé, cậu bé bên đìa nước, bên vàm sông, bên bếp lửa rực rỡ tuổi thơ.
Câu thơ trần trụi tựa lời kể cho bạn nghe về tuổi ấu thơ khốn khó, nhưng vượt lên trên cái trần trụi của lời kể thông thường lại là những âm sắc gợn xoắn đến nao lòng.
Trong rất nhiều bài thơ của chị đều viết dưới dạng này, mà tôi tạm đặt tên là dòng thơ tự sự, mượn ngôn ngữ để chia sẻ những tâm cảm của nhân vật thơ trước cái nhìn, suy nghĩ, cảm nhận của nhà thơ.
Viết ra một bài thơ hay đã khó, nhưng viết một bài thơ không gọi là hay, mà khiến mọi người phải vật vã, bật lên những rung cảm như người đồng điệu trong những cảnh ngộ bất ngờ tìm thấy bóng dáng mình, người thân của mình, những cảnh vật quen thuộc ở mỗi câu chữ, mỗi dòng… thật không dễ.
Viết về cha, về mẹ, về những người thân yêu thường được chị viết từ một khoảng cách xa, thời gian xa bằng những hồi tưởng ngậm ngùi gần gũi. Và ở đó, luôn mang âm hưởng của ca dao, của những câu hò điệu lý, điệu ru Nam bộ.
Lòng già như ngọn sầu riêng
Gió lay hiu hắt, muộn phiền, nhớ nhung

Chiều chiều ra đứng bờ sông
Ngó con đò dọc, nước ròng thêm xa
Chiều chiều, Cha vọng ngả ba
Nước đầy sông rộng, nhạt nhòa đò ngang
(Hoàng hôn trong mắt cha già)

Và viết về người mẹ:
Buổi sáng ra nhìn hoa bí nở
Ngùi thương quê cũ nắng vàng bông

Chiều nắng tắt sau vườn biếc
Mẹ thường ra quét lá bờ sông
Đò ngang, đò dọc người qua hết
Mẹ đứng buồn im, lệ ngập ngừng…
(Trồng rau nhớ mẹ)

Viết về con, với những mất mát đớn đau đến tận cùng của người mẹ, chị đã mượn ngôn ngữ, lời thơ để thay cho nước mắt; những dấu câu, ngắt dòng để thay cho trái tim lần hồi tan chảy;
Xe tang
dừng lại trước thềm
Đóa hoa cúc lạnh
im lìm dưới mưa
(Đưa con hỏa táng)

Chưa thấy ai, khi mất một đứa con yêu dấu lại bình thản như thể thịt da, xương cốt kia thuộc về kẻ lạ? Đến như Đỗ Hồng Ngọc, một nhà thơ, một bác sĩ vừa là “thiền giả” với hàng chục quyển sách viết về Đạo về Người… trước cái chết của con, ông cũng kêu lên tiếng thầm thì đau điếng:
Ba viết trăm lần lý lịch
Cứ mỗi lần viết đến tên con
Ba lại ngẩn ngơ
Như một kẻ mất hồn
Biết trả lời sao
Câu hỏi
Hiện con đang làm gì?
Ở đâu?
(Đỗ Hồng Ngọc – La Ngà 2)

Cả hai, Đỗ Hồng Ngọc và Lãm Thúy đều cùng chung một tâm trạng về sự mất mát đến tận cùng nỗi đau, nhưng một người thì tự hỏi “ở đâu?” còn người kia là “đóa hoa cúc… im lìm…”. Cách dùng từ ngữ, cách thể hiện tuy khác nhau nhưng khi câu thơ vẳng lên không khỏi khiến người đọc có cảm giác ngậm ngùi, đồng cảm với nỗi đau của người trong cuộc.

Nếu như thơ là tiếng nói riêng của thi sĩ, thì việc phác họa chân dung nhà thơ chỉ là sự phác họa mông lung tiếng lòng gắn liền giữa nội tâm và ngoại giới; là vẹt lá đan chéo nhau trong rừng sâu để tìm dẫn lối đi ra chốn phong quang. Và giữa chốn mông lung rậm rạp kia, ta có thể bất ngờ nhận ra mùi hương thoảng đâu đó, chút vạt nắng xiên khoai cùng sự im lặng đến khó lường của tận cùng ý thức. Vì vậy, mỗi câu thơ đều mang mùi hương khác nhau, màu sắc khác nhau và âm thanh khác nhau, phong vị khác nhau…để người đọc có thể khám phá điều mới lạ trong cái bình thường nhất.
Cả trăm bài thơ của Lãm Thúy đều có bóng dáng mới lạ trong cái bình thường đó. Nghĩa rằng, chị không cố công đào sâu ý thức của cái tôi để làm tình làm tội lời thơ và ý thơ. Những tâm cảm trong thơ chị gắn với ngoại giới theo phong cách dân gian mà tôi tạm gọi là thơ tự sự nêu trên: Bởi những hình ảnh, âm thanh, màu sắc trong từng câu thơ, bài thơ của chị rất gần gũi với đời thường. Chị sống trong, thở với, rờ chạm vào… với những cảnh vật quen thuộc, những sự kiện, tình cảnh dung dị ở vùng sông nước… nằm sâu trong tiềm thức, rồi lúc nào đó bổng bật ra tiếng thở… Tiếng thở của thi ca.
Những câu sau là một sự chia sẻ rung bật từ ngoại giới đã ngủ yên lâu nay trong tiềm thức:
Thương những “hàng thần lơ láo” ấy
Áo trận thay ra, mặc áo tù
Đêm tàn mộng gửi ngoài biên ải
Núi rừng Tây Bắc lạnh thâm u
(Đọc thơ Trần Hoài Thư)

Giữa trào lưu văn học Hậu hiện đại, Hậu hiện sinh, Tân hình thức với nhan nhản những cái Tôi dung nạp đầy ắp lý trí trong câu chữ, thậm chí mang cả tính dục vào nỗi cô đơn, như một ý thức phản kháng (và làm dáng), thì Lãm Thúy vẫn chọn con đường riêng, một lối đi đầy hoa cỏ, rộn tiếng chim hót, vang nhẹ tiếng mái dằm khua nước… thênh thang một cõi xưa nay và bước tới. Rất nhẹ nhàng, thanh thoát:
Ta về tịch mịch đường xa
Có trăng khuya dõi theo và cô đơn
Dường như đêm lạnh lùng hơn
Hỏi mùa đi gió có còn xuân không ?
(Thì thôi giã biệt)

Tôi nghĩ, mùa xuân vẫn còn trong thi giới Lãm Thúy (và của tất cả chúng ta, những con người luôn hướng về cái đẹp) như ánh nắng ấp áp đầu đông. Đó là kích thước của nhà thơ không ngừng nghỉ khắc họa những cảm xúc chân thật từ tận cõi sâu thẳm của tâm thức trước mọi vật, mọi việc.

Nguyễn Lệ Uyên

(xứ Xương Rồng,Tháng 8.2018)

Lãm Thúy sinh tại làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ. Tốt nghiệp ĐHSP/CT khóa 6.
Dạy học tại Cần Thơ và Huế. Định cư tại Gaithersburg Maryland HK từ năm 1992.
Viết trên các báo: Làng Văn (Canada), Đẹp, Trầm Hương, Kỷ Nguyên Mới, Tiền Phong, Thư Quán Bản Thảo, Đa Hiệu…
Tác phẩm đã XB: Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi, Thâm Tình, Từ Mẫu, Từ Biệt.

XÓA NHAU

(cám ơn những người, tôi đã xóa tên)

1.
xóa em. giữa ngữ ngôn tôi.
chọn riêng một chỗ nằm. phơi cơn buồn.
xóa hình. nhạt bóng nhòa gương.
dung nhan. hóa ảo. xin mường tượng em.
xóa. như vẽ sắc diện đêm.
trong khung bóng tối. vừa lem luốc đời.
xóa em. tôi cũng xóa tôi.
chọn riêng một chỗ nằm. chơi thơ tình.

2.
cám ơn em. cuộc hành trình.
quanh co cũng chỉ một mình. tôi đi.
cám ơn những giọt thơ. lì.
thương em. chẳng nỡ chia ly nửa chừng.
câu thơ. gạch nối. người dưng.
tôi và em. tới cuối cùng. thế thôi.

PHẠM HỒNG ÂN

GỌI MÙA THU TRỞ LẠI

Còn đây niềm hoài nhớ
Đàn ru khúc tiêu tao
Cuộc hành trình đã lỡ
Thương mùa trăng xanh xao

Gió bên đời tiễn biệt
Hoa rơi trên phím đàn
Môi dại khờ kỉ niệm
Vết hằn trên đá xưa

Nghe thân đau chín mùi
Tóc lấm bụi thời gian
Năm canh vườn gió gọi
Rừng xa réo trăng tàn

Ai nghe tiếng dòng sông
Rùng mình con gió xoáy
Lạnh lùng xuôi đại hải
Tang tóc mấy mùa đau

Gởi đôi lời cho mây
Bay xa cuối chân trời
Gọi mùa thu trở lại
Vẽ chân tâm con Người

Dòng máu nào đi hoang
Trái tim nào nguội lạnh
Có nghe mùa thao thức
Giữa cõi đời mong manh.

HƯ VÔ

ÔNG BÙI HIỀN NÊN ĐẾN NƯỚC MẶN ĐỂ TẠ LỖI VỚI NHỮNG VỊ KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ

Chuyện ông phó giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền xướng xuất việc cải cách chữ Quốc Ngữ một cách dị hợm tưởng chừng như đã chìm vào quên lãng, không ngờ ít lâu nay lại tái bùng nổ làm cho mọi người càng thêm xôn xao. Chính vì sự tái bùng nổ này mà chúng tôi kinh ngạc khi được biết bộ Giáo Dục Việt Nam không “lấy đó làm chơi,” trái lại đã nghiêm chỉnh hỏi ý kiến viện Ngôn Ngữ Học về bản đề xuất cải cách chữ viết của ông Bùi Hiền. “Hỏi ý kiến” tức là có sự cân nhắc nên áp dụng hay không. Viện Ngôn Ngữ Học đã bác bỏ đề nghị cải cách chữ Quốc Ngữ của ông này. Nếu không bác bỏ thì viện Ngôn Ngữ Học cũng “chả ra làm sao cả.”

Chuyện cải cách chữ Quốc Ngữ một cách dị hợm của ông Bùi Hiền thiết tưởng đã rõ rành rành ra đấy, không cần bàn thảo, cũng không cần phê bình thêm nữa. Ở đây, nhân chuyện “chả ra làm sao cả” này, chúng tôi nghiêm chỉnh đòi ông Bùi Hiền phải đến thăm Nước Mặn để tạ lỗi với những vị đã khai sinh chữ Quốc Ngữ.

Nước Mặn là một địa điểm thuộc thị xã Quy Nhơn (tỉnh Bình Định.) Nước Mặn được linh mục Alexandre de Rodes vẽ trên bản đồ vương quốc Đàng Trong vào thế kỷ 17 với tên phiên âm là Nehorman (theo cách viết của linh mục Cristoforo Borri.) Vào thế kỷ này, Nước Mặn là một hải khẩu giao thương quốc tế, ngang hàng với Cửa Hàn (Đà Nẵng) và Hải Phố/Faifo (Hội An.)

Năm 1615, linh mục người Ý tên là Francesco Buzomi đến Cửa Hàn. Năm 1617, ông bị chúa Nguyễn trục xuất, lại lâm bệnh nặng, nằm tại Quảng Nam. Ông được quan trấn phủ Quy Nhơn là Trần Đức Hoà đưa về Quy Nhơn chữa bệnh. Quan trấn phủ Trần Đức Hoà là em kết nghĩa (*) của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nên nhiều người tin rằng việc ông đưa linh mục Buzomi về Quy Nhơn không ngoài ý của chúa Sãi, nhằm tách linh mục ra khỏi những vị quan quá khích muốn trục xuất, cầm tù hoặc xử tử ông. Năm sau (1618), chính quan trấn phủ Trần Đức Hoà đã cùng linh mục Buzomi đến Cửa Hàn đón thêm những tu sĩ Công giáo khác về Quy Nhơn, trong đó có linh mục Cristoforo Borri (người Ý) và Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha.) Sau đó, quan Trần Đức Hoà cấp cho nhóm giáo sĩ này một ngôi nhà đẹp ở Nước Mặn làm cơ sở truyền giáo và chế tác chữ Quốc Ngữ.

Có chỗ ở an toàn và tâm trí thảnh thơi, bộ ba Buzomi, Borri và Pina đã chú tâm vào việc phiên âm tiếng Việt và chế tác chữ Quốc Ngữ, dựa theo các mẫu tự La-tinh. Về sau, linh mục Buzomi, là bề trên, đã tình nguyện lãnh hết trách nhiệm truyền giáo, để cho hai linh mục cộng sự của mình là Borri và Pina dồn tâm trí vào việc chế tác chữ Quốc Ngữ.

Cùng thời, hai địa điểm cũng được xem là những nơi xuất phát chữ Quốc Ngữ đầu tiên là Hội An và Dinh Chiêm (**), tuy nhiên nhiều tài liệu chứng minh rằng Nước Mặn vẫn là nơi đầu tiên phát sinh chữ Quốc Ngữ.

Linh mục Pina có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ. Ông có thể giảng đạo một cách trôi chảy bằng tiếng Việt mà không cần người thông ngôn.

Năm 1624, có bốn linh mục đến Đàng Trong. Hai linh mục Gaspar Luis (người Bồ Đào Nha) và Girolamo Majorica (người Ý) vào Nước Mặn học tiếng Việt với linh mục Buzomi. Trong khi đó, hai linh mục Alexandre de Rohdes (người Pháp) và Antonio de Fontes (người Bồ Đào Nha) đến Dinh Chiêm học tiếng Việt với linh mục Pina (lúc ấy linh mục Pina đã được thuyên chuyển về Dinh Chiêm.)

Có những tài liệu cho thấy một số chữ Quốc ngữ thời kỳ phôi thai đã được ghi lại trong các bản tường trình của: João Rodrigues Giram (1620), João Roiz (1621), Gaspar Luis (1621), Christoforo Borri (1618-1622), Francisco de Pina (1623), Alexandre de Rohdes (1625), Gaspar Luis (1626), Francesco Buzomi (1626), Antonio de Fontes (1626).

Linh mục Alexandre de Rhodes là một thiên tài kiệt xuất về ngôn ngữ. Ông đã tổng hợp, hệ thống và chuẩn xác hoá các tài liệu chữ Quốc Ngữ để cho ra đời hai tác phẩm bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên có tầm vóc quốc tế là “Phép Giảng Tám Ngày” và “Tự Điển Việt-Bồ-La,” ấn hành tại Roma năm 1651. Ông tôn trọng thầy của mình là linh mục Pina (người Bồ Đào Nha) nên tự điển có phần tiếng Bồ Đào Nha mà không có phần tiếng Pháp, mặc dù ông là người Pháp.

Từ Nước Mặn ngược về thành phố Quy Nhơn, chúng ta sẽ gặp tiểu chủng viện Làng Sông. Đây là một trong những nơi có cơ sở ấn loát chữ Quốc Ngữ đầu tiên của người Việt. Tiếc rằng năm 1946, Việt Minh trưng thu cơ sở ấn loát này, lấy làm nơi in tài liệu, truyền đơn. Sau đó máy móc bị phân tán đi nhiều nơi. Ngày nay tiểu chủng viện Làng Sông chỉ còn căn phòng ngày xưa vốn là cơ sở ấn loát, với hình ảnh những máy in được chụp lại, treo trên tường. Nay tiểu chủng viện Làng Sông là tu viện của các nữ tu Công giáo.

Nhìn lại lịch sử chế tác chữ Quốc Ngữ, chúng ta thấy đó là một công trình lâu dài, qua nhiều thế hệ với những trí tuệ kiệt xuất. Sau đó là đến các thế hệ Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, v.v… Đây mới là chuyện không thể “lấy làm chơi,” để rồi trong phút chốc, một ông “không phân biệt được các khái niệm ngữ âm – âm vị học, không phân biệt được âm và chữ; các con chữ mà ông đưa ra không liên quan gì tới đặc điểm ngữ âm của nó” (nhận xét của viện Ngôn Ngữ Học) là ông Bùi Hiền phá nát thứ chữ này bằng những đề nghị cải cách trái khoáy, phản khoa học, vi phạm một cách trầm trọng những nguyên lý cơ bản về ngôn ngữ học, tách chữ Quốc Ngữ ra khỏi khối ngôn ngữ quốc tế dùng mẫu tự La-tinh để ghi âm.

Tôi đề nghị ông Bùi Hiền nên đến Nước Mặn để tạ lỗi cùng những vị đã khai sinh chữ Quốc Ngữ, thứ văn tự quý báu của người Việt chúng ta.

QUYÊN DI

___________________
(*) Có người cho rằng quan Trần Đức Hoà là em rể của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
(**) Dinh Chiêm là thủ phủ của Dinh Quảng Nam. Ở đây “dinh” không có nghĩa là toà nhà, mà là một đơn vị hành chánh vào thế kỷ 17, gồm phủ Điện Bàn, phủ Thăng Hoa, phủ Tư Nghĩa và phủ Hoài Nhơn. Dinh trấn Quảng Nam nằm bên bờ bắc sông Thu Bồn.

CÕI MÌNH

Khẽ khàng ừ khẽ khàng thôi
Dăm con kiến liệng ngắm trời thênh thang
Bao giờ giông bão về ngang
Bao giờ dâu bể giăng hàng nhớ nhung

Rừng tâm là cõi mịt mùng
Ta tìm ta lạc chập chùng tỉnh mê
Nắng khuya mưa sớm dãi dề
Cô đơn là cõi bộn bề rỗng rinh

Em rao thất lạc cuộc tình
Mùa nao ký gửi trên cành trầm luân
Có ai vác nốt hư không
Trải lên thao thức lòng sông vỗ đầy

Sóng ngầm con mắt vẫn cay
Rơi trên mầm cỏ hạt gầy phiêu sinh
Về thôi mình nắm tay mình
Nắm tay mình giữ cõi mình về thôi…

Bùi Diệp

GIANG ĐẦU RỒI SAO… .

lệ rồi sao
mối tình
sầu
hay mưa tháng bảy trời ngâu khóc òa
mà môi mắt sớm chan hòa
trên cao trắng trút hạt nhòa thác mây

trên cao trắng hạt nhòa vây
xóa rồi sao
mối tình
dây dưa mù
cánh mây bụi bóng vân phù
qua khe lả tả thiên thu rụng tàn

khe tay lả tả muôn vàn
màu thời gian lấp bàng hoàng hư không
biệt rồi sao
mối tình
đông
mùa xui ta lạc bềnh bồng đường yêu

bềnh bồng trong chốn lãng phiêu
đôi buồn sóng bước chân chiều khói mơ
chiều em có đứa làm thơ
khổ rồi sao
mối tình
chờ ngàn sau

lìa rồi sao
mối tình
đau
bài thơ em viết tặng nhau nửa chừng
vẫn nguyên hơi thở anh từng
nguồn vào em đập nhịp đừng biển dâu

bình yên tình chớ lo âu
lời anh dặn
nước giang đầu
rồi sao… .

Hiền Mây

RƯỢU BUỒN

Khi Phương xuống taxi ở đầu con hẻm, anh nhận ra con đường dẫn vào khu vực nhà mình đã có nhiều thay đổi. Khu hàng quán chật chội, dơ dáy bán đồ ăn sáng và đồ nhậu chiều đã biến mất, thay vào đó là một dãy cửa hiệu bán quần áo thời trang với những cửa kính sang trọng và tiếng nhạc ầm ĩ. Mọi thứ thật nhanh chóng, mình vừa đi vài tháng… Phương nghĩ vậy. Chàng bước vào con hẻm với chỉ một chiếc túi du lịch nhẹ nhàng. Sau một khúc quanh nhỏ có những hàng rào bông giấy hồng, cánh cổng màu gạch hiện ra. Dừng lại trước cổng, Phương ghé mắt nhìn vào sân. Cánh cửa nhà không khóa ngoài chứng tỏ có người bên trong, nghĩa là Thu đang ở nhà. Phương huýt sáo miệng. Không thấy con Pit chạy ra nhưng có tiếng động nhỏ như tiếng khua chân tìm dép rồi bóng Thu xuất hiện sau ngạch cửa.

Nhìn thấy Phương, Thu không tỏ một chút ngạc nhiên. Như ngày xưa, khi chàng đi làm về, nàng nhẹ nhàng kéo cái then ngang, đẩy nhẹ cánh cửa sắt để Phương bước vào. Phương nhướng mắt với Thu, nói đủ cho nàng nghe: “Chào em, vẫn khỏe chứ hả”.

Phương cởi giày. Bước qua cửa, ngồi xuống cái ghế đối diện giá sách trống không. Ở bên trên, hơi cao là tấm ảnh cưới của họ. “Anh ăn cơm chưa?”- Thu hỏi, vẫn là những câu hỏi của ngày cũ. Phương liếc qua màn ảnh ti vi đang mở. Hai nhân vật trẻ trung xinh đẹp đang đối thoại với nhau. Một bộ phim Hàn Quốc chủ đề tình yêu. “Chưa, em có nấu cơm không? Hay mình ra trước hẻm ăn cơm gà?” “Có, em có nấu, em nghĩ bữa nay anh về, đợi em xíu vô dọn liền” “À, mà Pit đâu rồi em?” “Nó mất rồi, em mở cửa, nó chạy đi và không thấy quay về”.

Nàng vẫn hướng mắt vô màn ảnh, cái remote lăm lăm trong tay. Phương nhìn vào đó. Một nhân vật nam trẻ thuộc loại “kinh điển phim Hàn” đang nói với cô gái: “Thiên thần của anh, nếu bẻ gãy cánh để giữ thiên thần ở lại thì anh đã quá tham lam”. Thu liếc nhìn Phương, rồi nàng nhổm dậy, dứt khoát nhấn mạnh nút stop…

Bàn ăn vẫn trải cái khăn cũ, có in hình chìm những hoa loa kèn tím. Thu bước vào căn bếp nhỏ. Phương nhìn cái dáng phía sau của vợ đã dần đẫy đà lên dù nàng chưa qua tuổi ba mươi và chưa một lần sinh. Mâm cơm có cá chiên, thịt ba rọi xào đậu và canh mồng tơi nấu tôm khô. Phương với tay lấy cái túi du lịch, lôi ra hai chai rượu vang nhỏ: “Vang Đà Lạt. Nhưng uống hết chai cũng say”. Thu đứng lên, lấy hai cái cốc pha lê trong tủ gần tường và một cái mở nút. Phương rót gần đầy cả hai cốc…

Hai người uống gần hết chai rượu. Trên giường ngủ họ nằm sát vào nhau. Phương cảm thấy gò ngực vợ rất cứng. Khi bàn tay anh lần về phía dưới, Phương thấy nó cộm lên. Thu nói: “Em đang kẹt. Nhưng nếu anh muốn để em vô toilet rửa sạch đã”. Phương ôm ngang mình vợ: “Thôi em, mình ngủ đi!”

***

Phương ngồi cà phê với bạn bè đến gần trưa. Minh hỏi: “Mày lại lên Đà Lạt? Sao cứ bỏ Thu ở nhà một mình?” “Tao nhớ mấy cuốn sách và không khí trên đó, ước chi tao có hai đứa con gái dễ thương như mày, Thu vẫn vậy, lúc nào cũng phim bộ” “Hồi xưa tụi bay yêu nhau kinh lắm mà, mày nói nếu Thu có coi phim bộ cả đời mày cũng không chán!” “Thu cũng từng nói có thể bán nhà để mua sách cho tao đọc, nhưng nàng cũng chán nó và đóng gói gửi tất cả lên Đà Lạt đó thôi”. Phương nghe bạn thở dài “Tụi mày lạ lùng quá!”

Gần 12g, Minh dùng xe máy chở Phương ra tới bến xe miền đông. Chàng mua một vé Đà Lạt tại quầy. Ngay lúc chiếc xe khách “chất lượng cao” lăn bánh được vài mét, Phương bật dậy, bước về phía cửa nói với tài xế “Anh thông cảm, cho tôi xuống, tôi bỏ quên một món đồ quan trọng”. Người tài xế liếc nhìn Phương rồi cho xe dừng, nhấn nút cho cánh cửa mở ra. Phương lao ra cổng, nhảy lên một chiếc taxi…

Xuống taxi ở đầu con hẻm, Phương đi như chạy về nhà. Chàng đập cổng. Không nghe tiếng Thu. Phương thò một bàn tay vô trong. Thu chỉ cài then trên. Có thể mở được từ bên ngoài. Phương mở được cổng. Cửa nhà khép hờ một cánh. Phương lao vào. Thu nửa nằm nửa ngồi trên sàn nhà, từ phần nách của nàng tựa trên cái ghế thấp. Dưới chân Thu chai rượu vang Phương để lại đã mở nút nằm ngang. Từ trong đó một chất màu đỏ chảy ra nhưng đã đông cứng trên sàn nhà. Phương đưa tay sờ mũi vợ. Khuôn mặt nàng đã lạnh. Từ miệng Thu, một chất đỏ nhưng trong suốt và đông như hổ phách dính chặt vào nệm ghế. Màn hình tivi vẫn mở, rất lạ lùng là nó đang chiếu một bộ phim Hồng Kông xưa, nhân vật nữ đang nói với người tình khi từ biệt “Bảo trọng!”.

Nguyễn Đình Bổn

7.2014

CẢM NGHĨ KHI DỪNG Ở GA ĐÔNG HÀ

*Tặng anh Nguyên Minh người ngồi đối diện
cùng tôi chờ sáng khi tàu đến ga Đông Hà.

Toa nghiêng nhịp lắc lư ngừng
Đường ray bánh nghiến chợt dừng nghe đau
Lòng trôi theo tiếng còi tàu
Trời đêm vừa ửng vệt màu từ xa.

Ga vừa đổ lại Đông Hà
Sông chia Bến Hải tàu qua bến sầu
Câu hò ngày ấy giờ đâu
Còn đau đáu nhớ chân cầu Hiền Lương.

Một thời cách một dòng sông
Người bên bờ Bắc nặng lòng bờ Nam
Máu loang thành cổ điêu tàn
Bạn ta nằm lại vết hằn tháng năm.

Gió Lào đốt thịt xương tan
Đỏ dòng Thạch Hản tóc tang chưa già
Ai về tìm bến thả hoa
Nhắc chi xương cốt đã hòa đáy sông.

Nhọc nhằn câu chuyện văn chương
Biết ai chia sớt nỗi buồn cùng ta
Đất trời chìm nổi phong ba
Tiếng chim lẻ bạn lời ca bùi ngùi

May còn chút nắng buồn vui
Đường xa cách núi ngăn đồi lạ chi
Tàu dừng đón khách rồi đi
Hồn ta ở lại đã di quan rồi.

NGUYỄN AN BÌNH

bỏ dở

toan dừng bút
buổi hôm im tiếng nói
giọng hoàng oanh thỏ thẻ bên cung son
lòng nhốt lại những muôn vàn âm điệu
vào dòng thơ bỏ dở
dư âm còn

thu trải lá
em ra ngồi hiên cửa
nhặt niềm riêng tô sắc úa vàng trôi
im lặng quá những an hoà cùng tận
muốn bước đi lại sợ
vỡ cung phần

ơi mơ ước
quảng đời dài xuôi ngược
gom lại về sân lá đổ mưa mưa
em ngồi hát sao thanh bình rất lạ
nâng đàn tôi vào nhịp
rất ân cần

đừng khép lại
van em đừng khép cổng
để tôi qua như thể chưa có lần
hãy mở rộng một mùa thu quyến rũ
có chim xanh bay bổng
ngọn mây tần

thu em ạ
mỏng bay tờ áo lụa
nhẹ hơi sương run rẩy bụi hoa mơ
mà tưởng nhớ khung trời nào cổ điển
có em qua hoàng hậu
thuở đợi chờ

toan dừng bút
ô hay lòng đâu nỡ
phút giao bôi còn mãi chén rượu nguyên
ngồi yên đấy giấc hoàng hoa thức dậy
còn nghe ra sóng nước
vỗ mạn đời

sẽ ghi vội
cho tròn câu tình ái
và này em thu trắng lắm bên sông
gượm em nhé dù cơn mơ phù phiếm
vẫn tìm ra
em
với dáng thu hiền

Phạm Quang Trung

LABOR DAY- LỄ LAO ĐỘNG CỦA HOA KỲ

Tại Hoa Kỳ, Labor Day được mừng hàng năm vào ngày Thứ Hai đầu tiên của Tháng 9, như một ngày lễ của phong trào lao động, để vinh danh những thành quả về kinh tế và xã hội của công nhân Hoa Kỳ.

Ý tưởng lập một ngày lễ Labor Day là do Matthew Maguire (một người thợ máy) hoặc do Peter J. McGuire (đồng sáng lập Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ). Peter McGuire là người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, một chuyên viên về nghiệp đoàn, muốn các công dân “đã lao động” cả năm phải được tuyên dương và có một ngày nghỉ xả hơi. Ông đã chứng kiến lễ hội lao động hàng năm tại Canada (khởi sự từ Toronto năm 1872) nên đề nghị một ngày lễ tương tự tại Mỹ.



Matthew-Maguire

Cuộc diễn hành Labor Day đầu tiên tại Hoa Kỳ được Nghiệp đoàn Lao động Trung ương (Central Labor Union) tổ chức ngày Thứ Ba 5 tháng 9 năm 1882 với khoảng 10 ngàn thợ thuyền ở New York tham dự. Họ phải nghỉ việc không lương ngày hôm đó. Cuộc diễn hành bắt đầu từ Tòa Thị Chính, qua Union Square rồi đi lên đường 42, kết thúc tại công viên Wendel’s Elm Park, nơi gặp của đường 92 và đại lộ số 9. Tại công viên có một cuộc picnic, các bài diễn văn và một buổi hòa nhạc.

Cuối những năm 1800, khi Labor Day trở thành ngày nghỉ lễ tại HK, đa số công nhân Mỹ còn phải làm 12 giờ một ngày, 7 ngày một tuần lễ. Chính trong đỉnh cao của cuộc Cách mạng Kỹ nghệ mà công nhân phải làm việc nhiều giờ như vậy mới đủ sống. Vào thời gian đó, tuy nhiều tiểu bang đã ra giới hạn về tuổi của công nhân, nhưng một số tiểu bang khác vẫn còn những em nhỏ từ 5 đến 6 tuổi phải làm việc trong các hầm mỏ, xưởng thợ hoặc nhà máy xay. Trẻ em, người già, người nghèo và di dân thường phải làm việc trong những điều kiện không an toàn và lương bổng thấp. Ngày 3 tháng 9 năm 1916, đạo luật Adamson được thông qua, quy định ngày làm việc 8 giờ. Đây là đạo luật liên bang đầu tiên quy định giờ làm việc tại các công ty tư nhân.

Năm 1887, 5 năm sau ngày diễn hành đầu tiên, Tiểu bang thứ nhất tuyên bố Labor Day là một ngày nghỉ lễ là Oregon. Tiếp sau là Colorado, New York, Massachusetts và New Jersey.

Quyết định chọn tuần lễ đầu của tháng 9 để làm Labor Day là vì đây là thời gian giữa ngày Lễ Độc lập 4 tháng 7 và Lễ Tạ ơn.

Ngày 28 tháng 6 năm 1894 Quốc hội thông qua đạo luật chọn ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 9 hàng năm làm ngày nghỉ lễ chính thức cho District of Columbia và các lãnh địa (territories). Cũng năm này TT Grover Cleveland ký một đạo luật quy định Labor Day được chính thức công nhận là ngày nghỉ lễ toàn quốc.

Tuy ngày Labor Day là để vinh danh công nhân Hoa Kỳ, nhưng nhiều người còn dùng ngày này để ghi dấu sự chấm dứt của mùa hè. Vì thế có truyền thống không mặc quần áo trắng hoặc có sọc sau ngày này. Labor Day còn đánh dấu mùa tựu trường và mùa football bắt đầu (NFL thường chơi trận banh đầu mùa chính thức vào ngày Thứ Năm sau Labor Day). Nhiều cơ sở thương mại dùng Labor Day như ngày buôn bán lớn vì có nhiều người được nghỉ lễ để tự do đi mua sắm. Đây là ngày các tiệm “sale” nhiều hàng hóa chỉ thua ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu sau lễ Thanksgiving).

Labor Day được mừng tại Canada và Hoa Kỳ nhưng có nhiều nước kỹ nghệ hóa trên thế giới cũng mừng Labor Day vào thời gian khác nhau. Nhiều nước chọn ngày 1 tháng 5 hàng năm (May Day).

Phương Nghi