Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch trước những quán cà phê, quán ăn tạm bợ của những người chủ kê những chiếc ghế nhựa ra ngoài đón du khách. Về cuối hàng rào có một khoảng trống nhiều cỏ mọc, phía trước là vịnh biển nhìn qua bờ Vũng Tàu, và sau lưng có một xí nghiệp hải sản bỏ hoang. Nhiều đá xanh bỏ thành đống trên bờ, chắc để tiếp tục xây bờ kè.

Buổi chiều. Cô gái ngồi một mình trên đống đá nhìn ra biển. Nắng nhạt trên những ngọn sóng nhỏ. Bãi biển gần như không có du khách vì cát ở đây khá bẩn. Bỗng nhiên cô quay mặt nhìn lại hướng hàng rào của xí nghiệp hải sản vì nghe những tiếng kêu là lạ. Và từ phía sau hàng rào bỏ hoang đó, qua một khoảng trống nhỏ từng chú dê chậm rãi bước ra. Có khoảng chục con như vậy, đi sau chúng là một chàng trai, tay cầm một nhánh cây vung vẩy. Trước sự ngạc nhiên của cô gái, đàn dê vẫn tiếp tục đi về hướng cô ngồi. Chàng chăn dê cũng đã nhìn thấy cô và anh tự nhiên mỉm cười đưa bàn tay không cầm nhánh cây vẫy vẫy. Cô gái cũng dùng tay chào lại nhân vật làm mình chú ý này. Khi đã đến gần, chàng trai la to: “Stop chút đi các chú dê!”, và bước đến nhìn cô gái, nói một cách tự nhiên: – Hi, lần đầu tiên anh thấy một người xinh đẹp ra ngắm biển Cần Giờ như em đó nhen!

Định tán tỉnh đây. Cô gái thầm nghĩ nhưng vẫn trả lời:- Cũng lần đầu tiên em thấy một anh chăn dê mang kính cận!

Chàng trai ngồi xuống một tảng đá:- Anh ngồi chút xíu được chớ? Ba ngày rồi không nói chuyện với ai.

Cô gái gật đầu, cười mỉm, dạ nhỏ.

Chàng trai ngồi xuống, cũng nhìn ra hướng biển với cô nhưng lại không nghe anh nói gì. Cô gái nhìn cái túi vải chàng để trên mấy phiến đá, nó cộm lên, rõ hình là một cuốn sách dày. Cô cười nụ: – Em tò mò xíu, cái gì trong cái túi của anh?

Chàng trai quay lại, thoáng chút bối rối: – Hì, không có gì, chai nước…
– Và một cuốn sách?
– Hì…
– Em có thể biết anh đọc gì không?
– …

Chàng trai nhắc cái túi lên, mở ra và đưa cho cô một cuốn sách khá dày. Đó là cuốn Istanbul – Hồi ức và Thành phố của Orhan Pamuk bản tiếng Việt.
– Dạ, em cũng có cuốn này, đã đọc nhiều lần.
– Ừ, một thực thể huy hoàng đổ vỡ…

Họ nói một chút về sách, nhưng rồi lại im lặng nhìn ra biển như thể không muốn những tò mò về nhau làm tan mất không gian yên bình đến lạ lùng này. Nắng tắt, đàn dê kêu be be, chân chúng dẫm loạt soạt trên cát vẻ như sốt ruột nhưng vẫn đứng quanh đợi chủ.

– Tụi nó đòi về kìa anh?
– Không sao, hì tụi nó quen rồi.
– Anh có mấy con dê?

Cô hỏi xong, nhìn chăm chú đàn dê và đếm: Một, hai, ba…
– Chín con, à mười, vì một con sắp có em bé.

Cô bật cười vì cái chữ “em bé” của anh. Gương mặt anh sạm nắng nhưng hiền lành như nụ cười. Anh bỗng hỏi:

– Sao em ngồi đây một mình?
– Dạ, em… thích vậy.

Im lặng. Cô nhìn ra mặt biển đang thẩm màu, rồi như thấy câu trả lời của mình dẫn vào lối cụt, cô nói:
– Em đi nghỉ dài ngày với anh chị, họ dự tiệc trong nhà hàng còn em trốn ra đây!

***

Buổi chiều, cô gái vẫn ngồi chỗ cũ nhưng đến sẫm tối, vẫn không thấy đàn dê trở về như hôm qua. Cô ngồi đến tối mịt, cho đến khi nhìn thấy những ánh đèn bên kia vịnh Gành Rái. Cô bỗng thấy tiếc là mình đã không hỏi bất cứ một thông tin để kết nối nào từ anh, mà anh cũng vậy, nhìn thân thiện mà vô tình. Có tiếng ai gọi tên cô. Là bà chị đang đi kiếm. Cô vội vàng lên tiếng vì sợ chị mình hốt hoảng. Hôm sau, thứ sáu, mai là họ về lại thành phố, nhưng qua dò hỏi một chị bán cà phê, cô đã biết đó là đàn dê duy nhất ở đây…

Khi cô bước qua chiếc cổng cùng người chủ nhà, những con dê bị nhốt trong chuồng dường như nhận ra cô, bọn nó kêu be be mừng rỡ. Đó là một khoảng đất rộng xây tường bao chung quanh. Có một căn nhà xây cao, nơi đó phát ra tiếng chim yến gọi bầy và từng đàn yến lượn quanh xung quanh mái nhà. Thì ra là một trang trại nuôi yến nhưng lại có chuồng nuôi dê. Bà chủ là một phụ nữ ngoài bốn mươi hơi ngạc nhiên khi thấy cô hỏi về anh, người chăn dê đeo kính cận và đọc Orhan Pamuk.

– Quốc ha? Nó là em trai chị, hay về đây chơi. Tuần rồi không biết sao ở đến mấy ngày. Ông xã chị về đây kinh doanh, chị theo về đây rồi muốn ở lại luôn, nuôi mấy con dê cho vui thôi.
– Dạ..
– Nó học luật, hội họa… nghiên cứu cái gì đó mà về đây thường thức đến gần sáng, nói chung là… lung tung. À, lại nói muốn sau này yên bình về đây sống nữa chớ.
– Dạ, em gặp ảnh hôm trước, khi ảnh dẫn bầy dê về. Em cũng sống ở Sài Gòn nên muốn làm quen, học thêm về ảnh mà hôm đó quên xin facebook, số điện thoại.

– Ừ, vậy em có muốn hỏi chị thêm điều gì không?
– Dạ… thôi. Em về đây!
– Ừ, ghi số điện thoại của nó chưa?
– Dạ, em ghi rồi, cám ơn chị!

***
Trung tâm thành phố.

Sáng Chủ Nhật. Cô thỉnh thoảng vẫn cùng bạn bè đi mua sắm nhưng lần này không khí cực kỳ ngột ngạt. Có rất nhiều cảnh sát và những người mặc áo dân phòng. Khuôn mặt họ căng thẳng, nhiều người trông dữ tợn, trên tay cầm bộ đàm và dùi cui. Hôm qua cô đã gọi cho Quốc và anh hẹn chiều Chủ nhật đi uống cà phê nhưng khi cô cho biết buổi sáng mình mới rảnh, anh có vẻ đắn đo rồi nói:

– Sáng Chủ nhật tại trung tâm thành phố có thể có biểu tình, anh sẽ ra đó.
– Em có đọc trên facebook, em gặp anh tại đó được không?

Quốc có vẻ ngần ngừ:
– Em đã từng đi biểu tình chưa? Như vụ chống Formosa hồi 2016?
– Dạ chưa…
– Hay chiều mình hẹn cà phê đi, anh nghĩ em chưa nên ra đây vào sáng mai.
– Tại sao vậy?
– Anh không biết, mà thôi tùy em. Ra thì gọi cho anh!

Những con đường đổ về trung tâm như nén lại trong một không khí ngờ vực từ các đám đông, các đội dân phòng áo xanh và cảnh sát cơ động. Khi nói chuyện cùng Quốc, cô không nghĩ tình hình căng thẳng như vậy. Lảng tránh ánh mắt soi mói của đội quân áo xanh và cảm thấy sờ sợ, cô bước vô phía trong công viên, nơi có nhiều bạn trẻ trạc tuổi mình vẫn điềm nhiên ngồi uống trà sữa mua từ các xe đẩy lưu động. Vừa đứng đó vừa nhìn quanh và định gọi cho Quốc thì bỗng nhiên có rất nhiều tiếng còi tuýt tuýt chói tai vang lên. Tiếng chân người chạy sầm sập. Trong thoáng chốc những người trẻ tuổi cách cô chừng 10m đứng vụt dậy thành vòng tròn và rút từ trong túi ra những tờ giấy A4 có ghi những dòng chữ đậm phản đối Luật đặc khu. Rất nhiều người mặc đồng phục xanh quây kín các bạn trẻ và dùi cui đã vung lên. Những người trẻ tuổi vẫn đứng yên và họ hô vang các khẩu hiệu phản đối.

Giờ thì cô sợ hãi thực sự. Lần đầu tiên trong đời cô nhìn thấy bạo lực ngay tại trung tâm thành phố. Cô không còn nghĩ đến cuộc hẹn với anh và nhanh chóng rời khỏi công viên. Trong lúc chạy cắt ngang con đường đã bị chặn xe, cô nhìn thấy rất nhiều người trẻ tuổi, cả phụ nữ bị khóa chặt tay, quăng lên những thùng xe cảnh sát. Cô thoáng nhìn thấy một khuôn mặt giống như anh, với khóe miệng rướm máu đang bị ba người mặc thường phục khóa tay nhưng không còn chiếc kính cận, hoặc chính là anh nhưng chiếc kính đã văng mất.

Những dòng nước mắt hổ thẹn rơi dài trên hai gò má cô nhưng nỗi sợ hãi đã lấn át tất cả. Khi đã rời khá xa khu vực bị đàn áp hỗn loạn, cô ngồi thụp xuống một góc tường, run rẩy lấy điện thoại ra bấm vào tên “chande” nhưng chỉ nghe những tiếng tút ngắn ngủi…

***

Đã vài tuần kể từ hôm chạy trốn, cô chưa dám bấm lại vào cái số điện thoại mà ngày nào cô cũng mở ra nhìn. Giờ thì cô đã dần quen với không khí nặng nề tại trung tâm thành phố trong những ngày nghỉ với các barrier tua tủa. Sáng chủ nhật này, cô mang theo một bó hồng nhung và nhẫn nại cài từng đóa trên hàng rào kẻm gai. Cô lẩm nhẩm lại câu nói của anh hôm ở Cần Giờ: “Một thực thể huy hoàng đổ vỡ…”.

Nguyễn Đình Bổn

CÓ MỘT THÁNG CHÍN KHÓ QUÊN

ngập ngừng theo chân tháng chín
gã về ngang cổng trường xưa
các em rộn ràng khai giảng
té nhào gã vấp cơn mưa!…

khi không ông trời chơi ác
đem mưa trút xuống cái ào
con gái làm sao chạy kịp
áo dài ướt trước ướt sau!…

vờ đưa bàn tay vuốt mặt
các em tin gã khù khờ
năm ngón xoè không chịu khép
mấy nan rẽ quạt cứng đơ!…

mưa thương tình chàng lính trẻ
xáng thêm cây nữa bộn bàng
gã vui như người trúng số
trái tim ngoác miệng cười khan!…

Nguyễn Đăng Trình

JOHN McCAIN

Trong mấy ngày qua, TTDC và cả đảng DC xì xụp vái lạy và tung hô cố TNS John McCain như chưa bao giờ thấy. Những lời ca tụng ông này lên đến không phải 9 mà là 19 tầng mây.

Công bằng mà nói, ông McCain cũng đáng được ca tụng so với hầu hết các chính khách thời cơ hay tham nhũng của cả hai đảng. Riêng đối với dân VN như Diễn Đàn này đã viết nhiều lần, chúng ta không thể không nhớ ơn ông McCain, vừa trong tư thế một quân nhân đã chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam của chúng ta bất kể trong hoàn cảnh như thế nào hay vì lý do gì, vừa trong tư thế một thượng nghị sĩ uy quyền đã tranh đấu cho các cựu quân nhân của VNCH và gia đình được qua Mỹ định cư.

Cá nhân tôi rất tôn trọng và ghi ơn ông McCain trên hai vấn đề đó. Tôi có nhiều bạn được qua Mỹ nhờ ông McCain. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, tôi đã viết nhiều bài ủng hộ ông McCain và đã cực kỳ thất vọng khi thấy ông bị TNS Obama hạ.

Nhưng, những năm cuối đời của ông, ông đã khiến tôi thất vọng khi ông đã để cái ‘TÔI’ của ông che mờ những quyết định chính trị, nổi giận chống TT Trump, đả kích ông này hơn cả các ông bà trong đảng đối lập DC, và quan trọng hơn cả, đã để ý muốn trả thù cá nhân chi phối đến độ biểu quyết chống việc thu hồi Obamacare trong khi chính ông, trong lúc vận động tái tranh cử thượng nghị sĩ, năm 2016 đã khẳng định với cử tri sẽ chống Obamacare tuyệt đối và sẽ tìm mọi cách thu hồi nó, chưa kể khi ở Thượng Viện, ông đã nhiều lần biểu quyết thu hồi Obamacare. Chỉ vì thù ghét, muốn phá TT Trump, khi phải quyết định thực sự, lá phiếu cuối cùng của ông đã cứu sống Obamacare.

Một hành động ‘không đẹp’ khác: theo dặn dò của ông chồng trước khi qua đời, bà quả phụ Cindy McCain quyết định không cho mời bà Sarah Palin dự tang lễ. Mà cũng không mời luôn 3 phụ tá chính của ông trong cuộc tranh cử tổng thống năm 2008, ông Steve Schmidt, giám đốc Ban Vận Động, ông John Weaver, cố vấn chiến lược, và bà Nicole Wallace, cố vấn. Trước đây, ông McCain đã công khai lên tiếng cho rằng đám phụ tá và nhất là bà Palin quá dở khiến ông thất bại, thua ông Obama.

Người hùng McCain đã thiếu can đảm để nhìn nhận hai chuyện:

– Trước cũng như sau khi lựa chọn bà Palin, không ai tin ông McCain sẽ thắng. Khi đó, ông là người hùng thật, nhưng là người hùng của một cuộc chiến mà giới trẻ không biết đến và giới già muốn quên đi. Ông thua không phải lỗi của bà Palin hay các phụ tá.

– Nếu bà Palin và đám phụ tá thật sự quá dở thì trách nhiệm là chính ông McCain khi đã chọn họ. Những quyết định quan trọng nhất của ông trước khi làm tổng thống đã là một chuỗi sai lầm thì khi ông làm tổng thống thật, ai biết được còn sai lầm lớn nào khác?

Nhỏ mọn hay không thì đó vẫn là những quyết định của ông McCain và gia đình, họ hoàn toàn có quyền. Ông McCain cũng chỉ là người bằng xương bằng thịt, nhiều đức tính và công trạng, nhưng cũng không thiếu sai sót.

Điểm đáng bàn là thái độ giả dối thô bỉ của phe cấp tiến và TTDC. Tất cả những lời ca tụng ông McCain mà ta đang nghe hay đọc trên TTDC, những lời ca tụng đó ở đâu khi ông McCain tranh cử tổng thống chống lại ‘Đấng Tiên Tri’ năm 2008?

Khi đó, những báo lớn như Washington Post và New York Times, và nhất là đài CNN, đã không tiếc lời thoá mạ ông McCain như là ‘chó con’ –lapdog- của Bush, là kỳ thị chủng tộc, là thiên hữu cực đoan, là phát xít, là già lú (vì đã lựa bà Sarah Palin đứng cùng liên danh), là diều hâu hiếu chiến (vì muốn đánh mạnh Iraq và Afghanistan), là đầy thành kiến phe đảng, là tham nhũng có quan hệ mật thiết với các tài phiệt trong vụ án Keating Five (quý độc giả muốn biết thêm, có thể vào Google truy cứu), là ‘tù binh giả’ (“phony POW”) vì đã hợp tác với CSBV khi bị tù, là bất nghĩa khi bỏ bà vợ tàn phế đã chờ ông bao nhiêu năm để lấy bà vợ vừa giàu, vừa trẻ đẹp, vừa có nhiều quan hệ chính trị có thể giúp sự nghiệp chính trị của ông, là đủ thứ đáng khinh ghét.

Don Lemon, anh phóng viên da đen của CNN hiện nay suốt ngày mạt sát TT Trump, khi đó tố ông McCain là “người đã tạo ra một không khí kỳ thị và hận thù”. Bây giờ, thì cũng chính anh Lemon này suốt ngày thổi ông McCain lên mây.

Theo một nghiên cứu của trung tâm Pew Research, tin tức và bình luận khi đó có cảm tình với McCain chỉ là 14%, còn 86% đả kích hay bất lợi, chỉ hơn TT Trump hiện nay một chút.

Bây giờ cũng chính cái TTDC đó ca tụng ông McCain lên mây, tuyệt hảo hơn một ông Thánh, quên hết những sỉ vả trước đây.

Ca tụng là chuyện bình thường với người quá cố, nhưng trong trường hợp ông McCain, đã mang thêm ý nghĩa khác mà không ai không thấy: dùng ông McCain để đánh xéo Trump. Một cách ghi ơn không thật lòng mà chắc ông McCain sẽ buồn nhiều hơn vui.

FBI MÁNH MUNG

Một dân biểu CH, ông Mark Meadows đã cho biết một viên chức FBI, Jonathan Moffa trong cuộc điều trần trước Hạ Viện, đã nhìn nhận FBI dưới thời ông Comey đã xì tin mật ra cho báo chí, rồi dựa trên tin do báo đăng, xin trát tòa FISA để điều tra về ban vận động tranh cử của ông Trump. Ông Moffa cho biết khi đó, FBI xì tin mật cho báo chí là việc làm bình thường mỗi khi có nhu cầu.

Ông Moffa khi đó làm việc cùng với ông Strzock là nhân viên FBI mới bị sa thải, trong vụ điều tra về emails của bà Hillary rồi sau đó được chuyển qua điều tra về vụ Hồ Sơ Nga.

Một nguồn tin FBI đã cải chính tin này, cho rằng việc xì tin mà ông Moffa nói không liên hệ trực tiếp đến trát tòa FISA, và việc xì tin cũng không phải là việc thông dụng.

Ông Meadows không nói rõ FBI đã xì tin gì và lấy trát tòa điều tra ai. Điều này hiển nhiên các dân biểu trong Ủy Ban điều tra biết rõ hơn.

Trong vụ lộn xộn này, còn rất nhiều chuyện mà chúng ta không biết, trong khi TTDC tìm cách dấu dùm tội của đám Nhà Nước Ngầm khi đó tìm đủ cách hại ông Trump, giúp bà Hillary.

MỸ THỎA HIỆP VỚI MEXICO

Chính phủ Mỹ cho biết đã đạt được thỏa thuận với chính phủ Mexico về việc hủy bỏ Hiệp Ước NAFTA để thay thế bằng một hiệp ước khác, công bằng hơn cho Mỹ.

Có vài chi tiết đã được công bố tuy còn nhiều điều khoản khác chưa bàn xong, trong đó có những chi tiết về thuế quan đánh trên thép và nhôm, có thể vì có liên quan nhiều đến Canada nên phải bàn tiếp với Canada. Đại cương thì

– 75% trị giá các bộ phận xe ráp tại Mexico phải xuất phát từ Bắc Mỹ Châu (tức là từ Mỹ);

– 40% đến 45% việc ráp xe phải được thực hiện bởi các nhân công lãnh lương tối thiểu 16 đô một giờ (tức là lương tương đương với lương Mỹ để tránh việc chuyển job từ Mỹ qua Mễ);

– Không tăng thuế quan trên các sản phẩm canh nông trao đổi giữa Mỹ và Mễ.

Việc làm tới là Mỹ và Mễ đều phải có thỏa hiệp mới với Canada thì việc thay thế NAFTA mới được hoàn tất.

Việc thương lượng lại NAFTA do con rể của TT Trump, ông Jared Kushner âm thầm điều đình từ nhiều tháng nay. Nếu chuyện này thành công thì sẽ là một thắng lợi lớn của TT Trump trong kế hoạch tìm những thỏa ước thương mại quốc tế công bằng hơn cho Mỹ. Đây là loại chiến thắng sẽ bảo đảm TT Trump tiếp tục được hậu thuẫn mạnh của giới lao động Mỹ và sẽ là nhức đầu lớn cho đảng DC. TTDC dĩ nhiên đã đăng tin thỏa hiệp với Mexico một cách rắt ngắn gọn cho có thôi.

KINH TẾ MỸ TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG

Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang tại Atlanta đã tiên đoán tăng trưởng kinh tế có thể sẽ lên tới 4,6% trong tam cá nguyệt 3 của năm nay. Mức tăng trưởng của các đầu tư vào máy móc kỹ nghệ được dự đoán sẽ lên tới mức kỷ lục 7,5%, là chỉ dấu việc các công ty tiếp tục đầu tư mạnh vào khu vực kỹ nghệ.

Những mức tăng trưởng kỷ lục này không phải là không có mặt trái: Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang sẽ phải tiếp tục tăng lãi suất để kềm hãm nguy cơ lạm phát vì tăng trưởng quá nhanh.

Trong khi đó, một văn phòng nghiên cứu kinh tế đã cho biết ‘chỉ số tin tưởng vào tương lai’ của giới tiêu thụ đã leo lên mức cao nhất từ 18 năm nay. Chỉ số này được tính dựa trên nhiều yếu tố, trong đó ‘khả năng có thể tìm được việc làm dễ dàng’ là yếu tố chính, và ‘khả năng của giới tiêu thụ có thể mua các sản phẩm lớn’ [đắt như xe, tủ lạnh, máy lạnh,…] là yếu tố quan trọng khác.

Theo một thăm dò mới, 83% các doanh gia nhận định kinh doanh chưa khi nào tốt đẹp như hiện nay, trong khi 76% tin tưởng kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh.

Thị trường chứng khoán tiếp tục leo thang mạnh, với Dow Jones vượt qua mức 26.000 và Nasdaq qua khỏi mức 8.000 điểm. Cả hai đều là những kỷ lục chưa bao giờ thấy. Chứng minh các nhà đầu tư đã chẳng quan tâm một ly nào về những ‘đại họa’ và ‘tận thế’ của TT Trump mà TTDC đang hô hoán.

Việc này có lẽ giải thích rõ ràng một thăm dò mới của đài TV phe ta CBS. Theo một chuyên gia thăm dò của CBS, ông Anthony Salvanto, ‘cơn thủy triều xanh’ tràn ngập cuộc bầu quốc hội cuối năm nay [ý nói DC sẽ đại thắng] là điều khó có thể xẩy ra.

Nhớ lại TT Obama đã từng lớn tiếng tuyên bố “Thời đại của tăng trưởng kinh tế trên 2% đã qua rồi, nước Mỹ sẽ không bao giờ thấy được mức tăng tưởng này nữa”. Bây giờ thì trên 4% là chuyện bình thường. Thế mà không ít người vẫn nằng nặc cho rằng tăng trưởng kinh tế hiện nay là ‘thành quả lâu dài’ của chính sách kinh tế của Obama.

Ta thử tưởng tượng nếu kinh tế bây giờ bị trì trệ xem mấy vị này có dám nói đó là ‘thành quả lâu dài’ của Obama không? Tiêu chuẩn của họ: tốt là của Obama hết ráo, xấu là tại … một vạn lý do không dính dáng gì đến Obama hết.

PHỤ TÁ CỦA BÀ HILLARY VÀ MUELLER

Cuộc điều tra của công tố Mueller bị phe TT Trump chống trong khi phe cấp tiến hoan nghênh là điều dễ hiểu. Cái đáng nói là cuộc điều tra đã gây tranh cãi ngay trong đám cận thần và phụ tá của TT Clinton và bà Hillary.

Phe hợp tác hay hoan nghênh ông Mueller đáng nói nhất là LS Lanny Davis đang bênh vực LS Cohen của ông Trump. Ông Davis trước đây là luật sư biện hộ cho TT Clinton trong vụ công tố Kenneth Starr điều tra về vụ Whitewater và Monica, sau đó làm cố vấn trong ban vận động tranh cử tổng thống của bà Hillary; bây giờ là LS biện hộ cho ông Cohen, tìm đủ cách giúp công tố Mueller đi vồ ông Trump, có vẻ như là hành động trả thủ dùm bà Hillary đã thất cử.

Các phụ tá của nhà Clinton bây giờ đả kích ông Mueller cũng không phải là những người nhẹ ký gì.

Đứng đầu là giáo sư luật của đại học Harvard, Alan Dershowitz, luôn luôn viết báo và lên TV đả kích ông Mueller đã lạm quyền, tố cáo TT Trump những chuyện vô lý, chẳng có gì là vi phạm luật lệ hết. Ông Dershowitz là DC kỳ cựu, cấp tiến nặng, rất thân cận với TT Clinton trước đây.

Thứ nhì là ông Mark Penn, trước đây là cố vấn chuyên làm thăm dò dư luận và thống kê cho ban vận động tranh cử của bà Hillary. Ông Penn cũng không tiếc lời đả kích công tố Mueller đã đi quá xa. Ông này cũng tố giác việc bắt các ông Manafort và Cohen rõ ràng là cách ông Mueller giăng bẫy để vồ Trump, chứ những tội của hai ông này chẳng liên hệ gì đến việc Trump ‘thông đồng’ với Nga hay cản trở công lý.

Ông thứ ba mới nhất là LS nặng ký Bob Bennett, là người đã biện hộ cho TT Clinton trong vụ bà Paula Jones thưa kiện vì xách nhiễu tình dục, đưa đến vụ điều tra cô Monica và đàn hặc. Ông Benneth còn đi xa hơn hai ông trên: ca tụng thẩm phán Kavanaugh hết lời.

TTDC TIẾP TỤC XUYÊN TẠC

Báo phe ta Washington Post đăng bài, chỉ trích việc một số ‘công dân Mỹ’ đi Mexico về bị chặn tại biên giới để truy cứu thông hành vì nghi là thông hành giả hay thông hành cấp dựa trên giấy khai sinh giả. Ý muốn tố TT Trump tìm cách trục xuất dân gốc Mễ dù là đã có quốc tịch Mỹ.

Việc chặn xét thông hành có nguyên nhân rõ rệt. Chính phủ Mỹ biết rất nhiều bác sĩ và nữ hộ sinh sống trong những vùng sát biên giới thường bán giấy khai sinh giả, chứng nhận đã sanh trên đất Mỹ để đứa trẻ tự động được quốc tịch Mỹ. Do đó, phải chặn xét để kiểm tra.

Điều WaPo không viết ra là việc tra xét này đã có từ hồi nào đến giờ, ít ra cũng từ thời TT Johnson chứ không phải là biện pháp do TT Trump mới chế ra. Trái lại, theo thống kê chính thức của bộ Ngoại Giao, con số di dân bị bắt vì thông hành giả hiện đang ở mức thấp nhất.

Cách đây ít năm, dưới thời TT Obama, WaPo cũng đã viết bài về vấn đề này và ca tụng việc chính quyền lùng bắt di dân lậu với thông hành và giấy khai sanh giả, cũng như việc lùng bắt bác sĩ và nữ hộ sinh.

Thế mới thấy cái gian trá một chiều của TTDC. Cùng một việc làm, dưới thời Obama thì được ca tụng, dưới thời Trump thì bị chỉ trích. Cụ nào giải thích được, kẻ này xin tình nguyện tiếp tay phổ biến cho thiên hạ biết.

WaPo cũng đã mở ra mục mới, chuyên kiểm tra dữ kiện –fact check- các quảng cáo chính trị của các ứng cử viên quốc hội của CH. Cũng là chuyện tốt, giảm được các quảng cáo phịa của các chính trị gia. Vấn đề là tại sao WaPo lại chỉ kiểm tra các ứng cử viên CH, mà lại không kiểm tra các ứng cử viên DC?

KINH TẾ KEYNESIAN VÀ OBAMA

Cách đây ít lâu, đã có bài viết về Kinh Tế Obama-Trump trên Diễn Đàn này hồi đầu tháng 8 vừa qua. Một vị nhân sĩ đã ‘phản ứng’ bằng cách chuyển lại một bài viết bằng tiếng Anh về “Kinh Tế của Keys”, Keynesian economics, được gọi là chính sách kinh tế mà TT Obama đã ‘ứng dụng’.

Phản ứng này thật ra hết sức quan trọng và hữu dụng để hiểu thêm vấn đề kinh tế rất phức tạp của Mỹ. Nhân dịp này, tôi xin bổ túc thật vắn tắt để quý độc giả của DĐTC hiểu rõ hơn.

Keynesian economics là kinh tế theo lý thuyết của John Maynard Keynes (không phải Keys). Ông Keynes là một đại lý thuyết gia kinh tế người Anh, có thể nói là tác giả của sự phục hồi kinh tế của Âu Châu ngay sau Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhì chấm dứt.

Khi đó dĩ nhiên có nhu cầu tái thiết. Vấn đề là cả Âu Châu là đống gạch vụn, chẳng còn ai có tiền, cũng chẳng còn bao nhiêu nhà máy hãng xưởng hoạt động ngoài hãng xưởng của Anh Quốc. Việc tái thiết chỉ có thể thực hiện được qua nỗ lực của Nhà Nước. Nhà Nước sẽ đứng ra lập hãng xưởng, tạo dự án để cung cấp việc làm cho cả nước. Chi phí sẽ do Nhà Nước gánh chịu bằng bội chi ngân sách và công nợ. Nhà Nước sẽ mắc nợ ngập đầu và ngân sách bị thâm thủng rất nặng. Nhưng ông Keynes biện giải tất cả chỉ là khó khăn nhất thời, vì sau đó, kinh tế sẽ sống lại, sẽ có tăng trưởng mạnh, Nhà Nước sẽ thu thuế lại để lấp bội chi cũng như trả nợ. Ông Keynes tính toán rất đúng và Âu Châu đã phục hồi, nhất là với sự trợ giúp của Kế Hoạch Marshall của Mỹ, bơm 100 tỷ đô (tính theo đối giá tương đương với năm 2106). Sách lược này được coi như là nền tảng của chính sách kinh tế Nhà Nước Vú Em của khối cấp tiến.

Sau này, chính sách này được cải sửa ít nhiều cho hợp với thế kỷ 21, được gọi là kinh tế neo-keynesian, hay là tân-keynesian.

TT Obama áp dụng chính sách kinh tế tân-keynesian này, và kết quả là đã thất bại.

Ông cho ra luật kích cầu kinh tế, dựa trên việc Nhà Nước tung ra khoảng 800 tỷ tiền các dự án đủ loại, nhằm giúp tạo công ăn việc làm. Vài tháng sau khi luật được ban hành, tỷ lệ thất nghiệp thay vì giảm mạnh như TT Obama hứa, đã vọt từ 6% lên tới 10% và khựng tại đây trong hơn 5 năm trời trước khi suy giảm. Kinh tế có phục hồi, nhưng là cuộc phục hồi yếu và chậm nhất lịch sử, theo CNN.

Tại sao thất bại? Vì nhiều lý do từ thực tế đến lý thuyết. Đại khái:

– Việc xử dụng số tiền đó là một sai lầm vĩ đại, vì phần lớn bị xẻ nát ra phân tán cho 50 tiểu bang vì nhu cầu chính trị, một cách ‘hối lộ’ các dân biểu và nghị sĩ để họ biểu quyết thuận cho luật kích cầu. Đã vậy một số lớn được chi cho những dự án vớ vẩn mà phe cấp tiến coi trọng như… trồng hoa các nhà tù, các nghiên cứu khoa học cực kỳ tốn kém mà kết quả cụ thể chẳng bao nhiêu, và nhất là tài trợ các khoản trợ cấp xã hội và tiền thất nghiệp trong mục tiêu tái phân phối lợi tức (ưu tiên số một của TT Obama), không giúp gì cho tăng trưởng kinh tế hay tạo công ăn việc làm.

– Kinh tế Mỹ cũng chẳng có gì để tiêu xài. Dự án lớn nhất có thể làm được là nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, nhà máy điện nước,… (là việc TT Trump đang muốn làm) thì tốn quá nhiều tiền, hơn xa mức được TT Obama cung cấp. TT Obama sau đó đã tuyên bố một câu để đời, đại khái là “chúng ta đã không tìm ra được những dự án sẵn sàng để dùng xẻng cuốc” (We couldn’t find enough shovel-ready projects).

– Kinh tế Âu Châu sau Thế Chiến là con số không, chỉ có Nhà Nước, qua viện trợ ào ạt của Mỹ là có tiền và có phương tiện. Kinh tế Mỹ thập niên 2010 dù khủng hoảng, vẫn là nền kinh tế thị trường cực kỳ lớn và hùng mạnh. Tám trăm tỷ chỉ là muối bỏ biển, chẳng có một tác dụng nào hết, trong khi các tác nhân thực tế của kinh tế Mỹ là hàng triệu doanh gia chứ không phải là một ông Nhà Nước. Và các doanh gia này đều lo âu trước viễn tượng bị đóng thuế nặng hơn, nên lo gửi tiền ra ngoài nước chứ không đầu tư mở mang hãng xưởng. Ngay khi đó, rất nhiều kinh tế gia cấp tiến đã chỉ trích TT Obama rất nặng vì cho luật kích cầu đó chỉ là chuyện màu mè chính trị. Nếu muốn có kết quả thật phải chi ra cỡ năm bẩy lần số tiền đó và tập trung vào một số dự án lớn rõ ràng. Đây là yếu tố quan trọng nhất mà TT Obama đã đánh giá sai: kinh tế Mỹ quá lớn để có thể áp dụng thuyết Keynesian một cách nhỏ giọt.

Kinh tế bảo thủ của TT Trump giảm thiểu vai trò Nhà Nước tối đa, chỉ lấy những biện pháp gián tiếp như ấn định thuế suất hay lãi suất, giảm thiểu các thủ tục luật lệ kinh doanh để ‘cởi trói’ cho các doanh gia. Nhà Nước không tung một xu nào ra để kích cầu kinh tế. Khác một trời một vực với kinh tế tân-keynesian. Những người nói kinh tế hiện hữu là thành quả lâu dài của kinh tế Obama là những người không biết gì về kinh tế, chỉ bàn góp theo tính phe đảng ngớ ngẩn.

VŨ LINH ( Diễn Đàn Trái Chiều)

(Trong phạm vi giới hạn của bản Tin Vắn, DĐ này không thể phân tích chi tiết hơn)

HÃY NGOAN NHÉ,CHIA LÌA

gió khép cửa hay em khép cửa
mà căn phòng hương sắc vỡ đôi
ôi dung nhan xám.môi đào đỏ
vạt áo dâng sính lễ qua đời !

nắng hoe nụ vàng thu mấy thuở
mà linh lan suối mãi trong veo
anh cúi xuống lần tay tìm vết
ngọt sâu dâu bể đắp tình theo !

gió khép cửa hay em khép cửa
lắng nghe xa vắng tự nghìn khuya
mười ngón tay vỗ ngoan…ngoan nhé
khúc tình bơi trong vũng.chia lìa !

anh hắng giọng mù mờ trí nhớ
em.khúc tình theo gió mang đi
cửa đã mở.chia lìa đã mở
ngoan thật ngoan em nhé…đường về !

Lê Hát Sơn

SƯƠNG NÁT

Tôi về chốn cũ, một mình
Cây cau đột quỵ, mái đình ung thư
Sông già nằm thở ngất ngư
Trời ơi, bến cũ lau mù mịt lau

Hỏi thăm gốc sắn, đọt dâu
Bốn mươi năm, vẹn nguyên màu xác xơ
Tìm ai trong cõi hoang mờ
Cỏ tranh phủ kín mả mồ vô danh

Đốt chưa cháy hết chiều xanh
Lạnh lùng tro xám vây quanh nỗi mình
Thở đầy một túi lặng thinh
Đã nghe nát bét tiếng kinh trong chiều.

nguyễn lãm thắng

NGÔ ĐÌNH LỆ THỦY HỒNG NHAN MỆNH YỂU

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
(Đoạn Trường Tân Thanh)

1. Niên khóa 1962-63, tôi học năm cuối của chương trình Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Còn nhớ cùng lớp tôi lúc ấy có nhạc sĩ Hùng Lân, người hiền lành,dễ mến, như một thầy tu, thỉnh thoảng nổi hứng bất tử ngồi lén ghi nốt nhạc ngay tại chỗ, trong lúc thầy giảng bài. Có bà sơ Phạm Thị Nhâm, mà tôi thường hỏi mượn cua mỗi lần trốn học đi chơi, sau trở thành hiệu trưởng trường Nữ Thánh Tâm Nha Trang, và đã nhận ra tôi ngay khi vừa thấy tôi lò dò đến trường xin dạy. Có Đặng Tiến, da vàng ủng như người bị sốt rét kinh niên, tóc bờm xờm không chải, nói tiếng Pháp đặc giọng Quảng Nam, trước 75 ở phòng tùy viên Tòa đại sứ VNCH tại Thụy Sĩ, đào ngũ qua Pháp sống cho đến bây giờ, chuyên viết báo nịnh hót Cộng sản và phê bình gia văn chương có hạng. Có Đại úy Bộ Binh Ngô Văn Minh, sau lên chức Đại tá Tham mưu trưỏng Quân Đoàn III, Biên Hòa. Có Wang Seng, cô bạn Tàu, Bùi Thế Cần, Lương Thị Nga, Thái Thị Nhân, Lê Thị Bích, Thái Tuyết Lê, Lê Thị Ngọc Loan, và Irène Công Huyền Tôn Nữ Phụng Tiên -đồng hương Nha Trang và đồng môn trong lớp Latin của M. Le Menn- tất cả đang ở Pháp. Có Nguyễn Nương Minh Châu, sau thành vợ Bác sĩ Đinh Hà, cả hai là cựu JECU (viết tắt của Jeunes Etudiants Catholiques Universitaires, Thanh Sinh Công Đại Học), đang sống rất thầm lặng tại một nơi nào trên đất Mỹ.
Đầu niên học, từ lầu ba, tôi và Bùi Thế Cần (học giỏi nhất lớp, con của dân biểu Bùi Tuân, Huế) hay xuống lầu một, vào giảng đường Dự Bị, để tìm người quen giữa đám nai vàng ngơ ngác, hay đúng hơn tuyển mộ tân binh cho JECU. Lúc ấy, Cần là trưởng JECU Liên Trường, Nguyễn Ánh Tuyết (con trai), thư ký, còn tôi, trưởng Nhóm Văn Khoa Pháp. Một hôm, tôi thấy đứng trước cửa giảng đường một sĩ quan mang ba hoa mai bạc, đầu đội béret đỏ, tay cầm một xấp cua. Ông dáng cao gầy, vẻ tươi cười. Gặp ông, tôi khẽ gật đầu chào, và ông lịch sự chào lại. Có người cho biết, đó là Đại tá Cao Văn Viên. Mấy năm sau, ông lên tướng, trở thành xếp quá lớn của tôi, và lấy bằng Cử Nhân Pháp. Có kẻ xấu mồm nói, ông nhờ người đi học và đi thi thay cho ông. Tôi không tin. Vì ở Văn khoa Pháp, thầy cô không phát cua, phải vào lớp ghi chép hoặc mượn ai, và kỷ luật thi cử lúc bấy giờ khá gắt gao, ít sinh viên, lại phải thi oral, thầy trò biết mặt nhau hết, rất khó gian lận.
Vào trong giảng đường, Cần và tôi ngồi lẫn lộn với đám tân sinh viên, nghe cha Cras giảng về Socrate và Hégel hay thầy Kiết dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt mà phát mệt trở lại. Một hôm, chúng tôi thấy Yvonne Lan Hương, cô bạn trong JECU, học dưới một lớp, đang ngồi trò chuyện với một cô. Bèn sà đến. Yvonne giới thiệu, đây Thủy, Ngô Đình Lệ Thủy. Lần đầu gặp cô, chúng tôi không nói gì hơn ngoài vài câu xã giao thông lệ.
Về sau, khi Lệ Thủy gia nhập JECU Văn khoa Pháp, tôi tiếp xúc với cô thường hơn, nhưng thường chỉ để thông báo ngày và chương trình họp của Hội. Cô có dáng thanh thanh, vẻ thùy mị, thông minh, ít nói, ít cười, đôi mắt linh hoạt, khuôn mặt hơi vuông, cằm hơi nhọn, tóc dày, cài bandeau trắng hoặc đỏ. Chúng tôi nói tiếng Pháp với nhau, cho nên bây giờ tôi không biết cô nói tiếng Việt ra sao, giọng miền nào. Đó là một điều mà sau gần nửa thế kỷ, già đi, nghĩ lại, tôi thấy “dị hợm”, mắc cỡ, mặc dù do thói quen, giống như các em Việt Nam hiện tại ở Mỹ nói chuyện bằng Anh ngữ, chứ chẳng vì “snobisme”, thời thượng, lòe thiên hạ. Lệ Thủy thường mặc váy đỏ, áo sơ mi trắng đi học, đôi khi cả đồng phục Thanh Nữ Cộng Hòa. Nói chung, cô khá đẹp, nhưng không lồ lộ, sexy như Irène, không tươi lộng lẫy như Lương Thị Nga. Một sắc đẹp trang nhã, đài các. Tôi để ý, cô ở đâu là luôn luôn có hai anh chàng gorilles (hộ vệ), giả dạng sinh viên, ngồi phía dưới, cách cô một dãy bàn, nhìn chòng chọc vào mọi người.
JECU Văn Khoa Pháp lâu lâu ra một tờ Bản Tin (Bulletin), bằng tiếng Pháp, do Bùi Thế Cần, Ánh Tuyết, Minh Châu và tôi viết gần hết, vì không ai gửi bài. Trong đó, thỉnh thoảng có đăng một vài bài thơ tình lẩm cẩm của tôi, không đối tượng, chỉ là gửi gió cho mây ngàn bay, mà bây giờ tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:

Je veux tremper mes lèvres
Dans l’ eau pure de ton coeur
Et émerger frissonnant
D’ une aube de lumière…
(Anh muốn nhúng môi anh
Vào nước tinh tuyền tim em
Và bừng lên run rẩy
Dưới ánh sáng bình minh…)

hay những câu dịch của John Keats, hoặc Tennyson, đại khái:

Ce n’ est pas toi que je regrette
C’ est le rêve par toi brisé
(Không phải em mà anh tiếc nuối
Mà giấc mơ vì em vỡ tan)

Lệ Thủy đọc xong, mày hơi nhíu, bảo tôi, nghiêm trang như một cô giáo la rầy học trò: “Je n’ savais pas que tu es si romantique. Les poèmes d’amour, ça c’est vraiment beau, mais ils désespèrent aussi” (tôi không biết anh lãng mạn dữ thế. Những bài thơ tình hay thật, nhưng cũng làm người ta tuyệt vọng). Tôi khoát tay, ấp úng chối tội như ăn vụng bị bắt quả tang: “Un peu, oui, j’ n’ les ai faits que pour m’amuser. Rien de sérieux!” (Chút chút, đúng, tôi chỉ làm để chơi vui thôi mà. Không có gì quan trọng!).
Lệ Thủy không bao giờ đến CLB Phục Hưng để họp, ngoại trừ một lần, tôi nhớ, tham dự thánh lễ đầu tháng cho toàn JECU do cha Pineau cử hành, rồi về ngay sau lễ. Chúng tôi chỉ gặp nhau tại giảng đường Propédeutique, trong giờ nghỉ giải lao, năm sáu đứa ngồi cuối phòng, có khi tại bàn của Lệ Thủy, thảo luận, hay trao đổi vài thông tin cần thiết. Hai anh chàng gorilles, chắc đã được báo trước, đứng xa xa
hút thuốc, để chúng tôi yên.

Một ngày thứ bảy, JECU Liên Hội tổ chức đi thăm trại cùi và nhà thương điên Chợ Quán. Mỗi người góp mười đồng, làm chi phí lặt vặt, và ăn trưa. Số tiền không nhỏ, hơn ba tô phở vào thời ấy, đối với ngân quỹ khiêm tốn của sinh viên còn lãnh lương cha mẹ. Lệ Thủy đưa cho tôi một trăm đồng, trước mặt Cần, nói là tiền của “maman cho Hội”, nhưng “tiếc là bận việc bên Thanh Nữ Cộng Hòa, không đi với tụi toa
được.” Tôi nhận tiền, cám ơn, rồi nói nhỏ vào tai Cần: “Như thế cũng hay. Có Thủy tham gia, hai gorilles phải theo, phiền phức, mà trông ngứa mắt lắm!”
Hôm ấy, tất cả chúng tôi, khoảng bốn chục người, chia nhau lên hai xe buýt, tuyến đường Chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo. Hoặc tự túc, có xe hơi riêng, như hai chị em Anh Thư, Hạp Thư, hay “đại ca” Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ. Tổ y tế gồm các sinh viên Y khoa, trang bị ống nghe và túi cứu thương, do Đinh Hà hướng dẫn, làm công tác khám bệnh, phát thuốc. Tổ ăn uống do Rosa điều động. Tổ văn nghệ gồm một cây guitare và một số ca sĩ mầm non, do các cô bên Dược phụ trách, trong số có Yvette Trương Tấn Trung, đang ở Pháp. Bùi Thế Cần làm tổng tư lệnh, Nguyễn Ánh Tuyết phụ tá.
Đầu tiên chúng tôi thăm nhà thương điên. Toàn đàn ông. Vài ông, tóc dài rũ rượi, biểu diễn nhiều màn rất… điên, như xé áo xé quần, rú lên những tràng cười kinh dị, khiến các cô sợ quá, mặt mày tái mét. Nhưng đa số hiền lành đứng nhìn chúng tôi đi qua, vẻ thẫn thờ, ngây dại. Tôi cười, chào, hỏi thăm, họ vẫn vô cảm. Rồi cả toán chuyển sang thăm trại cùi. Thói quen nghề nghiệp, Đinh Hà phát sẵn mấy chai
alcool, để tùy nghi. Bệnh nhân rất đông, sống theo khu, gồm cả con nít, trông rất tội nghiệp. Tôi không lạ với cảnh này, vì gần xóm tôi ở Nha Trang, khu Lạc Thiện, cũng có một trại cùi do các tu sĩ dòng Franciscains sáng lập và đảm nhiệm, nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ là một khán giả bàng quan, đi ngang tò mò đứng nhìn vào qua những vòng rào kẽm gai dày. Bây giờ, lần đầu tiên có dịp thấy tận mắt những thân hình gầy còm, lở lói, những bàn tay, bàn chân co quắp, hoặc mất ngón, những cặp mắt mờ đục, mù lòa. Và lòng dâng tràn một niềm cảm thương vô hạn. Tổ y tế bắt đầu khám, phát thuốc cho những bệnh nhân cùi bị cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, do trưởng trại giới thiệu, yêu cầu. Các cô tập họp những cháu bé lại, phát kẹo, tập chúng hát theo nhịp đàn guitare của Nguyễn Ánh Tuyết, vỗ tay, rồi cười lớn tiếng
với nhau. Vài cháu chưa bị nhiễm bệnh, mặt mày trông rất sáng sủa, thông minh, phải theo sống chung với cha mẹ.

Tháng sáu 1963, mãn trường. Bùi Thế Cần, Nguyễn Nương Minh Châu đậu Cử Nhân liền một khi. Tôi rớt oral chứng chỉ Văn chương Quốc âm, bắt buộc cho sinh viên Văn khoa Pháp-Anh, vì trong buổi thi vấn đáp với giáo sư Vương Hồng Sển tôi không nhớ Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị ông nào theo Tây, ông nào chống Tây,
và đem thơ ông này cắm vào cằm ông kia. Với giáo sư Bửu Cầm, kết quả còn tệ hơn, tôi không biết chiết tự bốn câu thơ chữ Nôm của thi sĩ Tuy Lý Vương, đứng chịu chết như Từ Hải, nhìn thầy cười cầu tài. Phải thi lại hai môn vấn đáp này. Còn những nàng tiên nga “trong đám xuân xanh ấy”, mà tôi đã kể tên ở trên, chưa có ai “theo chồng bỏ cuộc chơi”, như trong thơ Hàn Mặc Tử, nhưng đã lần lượt đi du học Pháp một cách lặng lẽ từ năm thứ hai, thứ ba. Cần ra Huế, tôi về quê Nha Trang, dạy tại Collège français môn Việt văn cũng nhờ cái chứng chỉ Văn chương Quốc âm khó ác ôn ấy.

Không bao giờ tôi gặp lại Lệ Thủy, đã biến mất, từ ngày cô tặng JECU chúng tôi một trăm đồng. Tôi biết cô cũng đã đậu Propédeutique, qua bản niêm yết dán trước của trường, với tên chính thức, đầy đủ: Anne-Véronique Ngô Đình Lệ Thủy, sinh năm 1945. Chiến sự mỗi ngày leo thang. Khủng hoảng chính trị gia tăng. Sinh viên và Phật tử xuống đường hàng ngày. Cảnh sát dàn chào với dùi cui, lựu đạn cay.
Những tờ báo chui chửi thậm tệ chế độ. Làm tôi rất quan tâm vì, qua Lệ Thủy, cảm tình của tôi với cụ Diệm rất sâu nặng, không như một vài bạn JECU khác. Tôi lờ mờ hiểu rằng thế nào bàn tay lông lá của người Mỹ cũng đã nhúng vào nội bộ Việt Nam. Nhưng tôi tin tưởng và cầu mong cụ Diệm sẽ vượt qua hết như lần đảo chánh hụt 1960. Thời gian sau đó, nhiều biến cố xảy ra, dồn dập. Lựu đạn nổ tại đài phát thanh Huế. Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu. Nữ sinh viên Quách Thị Trang biểu tình bị cảnh sát bắn chết tại chợ Bùng Binh Sài Gòn. Rồi đảo chánh. Ngày 2/11/1963, nghe tin hai anh em cụ Diệm bị giết, ba tôi chảy nước mắt và trong giờ kinh tối ba bắt cả nhà đọc thêm kinh cầu hồn cho hai cụ. Còn tôi tự nhiên thấy buồn vô hạn, suốt mấy bữa, mặc dù chưa hề lãnh được một tí ơn mưa móc nào từ chế độ. Lúc ấy Lệ Thủy đang ở ngoại quốc với mẹ trong chuyến công du giải độc. Liền sau đảo chánh, các phản tướng chia nhau tiền thưởng của CIA, nhảy đầm thả giàn, phá bỏ các ấp chiến lược. Báo chí, sách vở (của anh chàng Hoàng Trọng Miên nào đó chẳng hạn) mở chiến dịch bôi nhọ gia đình họ Ngô, và bà Nhu, Lệ Thủy cũng bị dính miểng. Nào là bà Nhu có một chiếc ghế khích dục, trong dinh Độc lập, nhưng sự thật đó chỉ là chiếc ghế làm răng thường thấy trong phòng nha sĩ. Nào là ông Nhu bất lực. Nào là bà Nhu tư tình với cụ Diệm, với ông tướng này, ông tướng nọ. Nào là Lệ Thủy có nhiều bồ, kể cả một anh người Nhật, Lệ Thủy thất tình, học Văn Khoa, chỉ ghi danh, không đến lớp mà cũng có bằng, v.v… Tôi đọc và thấy buồn nôn. Vô lý quá, vậy mà dân chúng ít học hoặc quá khích vẫn tin, thế mới kỳ lạ. Thì cũng giống như dân quê miền Bắc mười mấy năm sau, đã ném đá vào sĩ quan cải tạo chúng tôi một cách thật tình, nguyền rủa chúng tôi là “quân mọi rợ giết người, ăn thịt con nít, hiếp dâm phụ nữ.”
Công việc và đời quân ngũ làm tôi quên Ngô Đình Lệ Thủy. Kỷ niệm với JECU những ngày có cô cũng dần phai theo thời gian.

2. Cho đến đầu năm 1967. Bốn năm sau. Tôi được tăng phái cho Tiểu đoàn 4/44 Bộ Binh trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn tại quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), nổi tiếng nguy hiểm, thuộc tỉnh Phan Thiết. Ngày đi hành quân tìm địch, qua các thôn xóm, đêm đóng quân ven rừng, mắc võng giữa hai thân cây nằm nghe tiếng đại bác ầm ì xa xa, nhìn hỏa châu từng hồi loé sáng trên ngọn Tà Dôn, mà thương cho kiếp lính tráng nay đây mai đó, trực diện cái chết cận kề.
Một buổi trưa, tôi đang nói chuyện với ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng, một viên đạn rít ngang nón sắt, cách đầu tôi một đường tơ, xuyên ngay cổ binh nhất H., mang máy truyền tin PRC 25 đứng gần đó, làm anh gục chết tại chỗ. Tên du kích bắn sẻ vụt bỏ chạy, bị lính Tiểu đoàn rượt theo và lãnh trọn một tràng carbine, phơi thây.
Một người lính, bà con của H., giận dữ chửi thề và muốn xẻo tai tên này để trả thù, tôi phải khuyên ngăn mãi, mới thôi. Cảnh tượng quá thảm cho bên này, bên kia. Tôi nghĩ thêm, những người lính chiến miền Nam, hơn ai hết, là những người thực sự yêu chuộng hòa bình, và vì yêu chuộng hoà bình họ phải hy sinh mạng sống đánh đuổi giặc xâm lược từ Miền Bắc. Nếu phải chống đối chiến tranh thì họ mới là những người có quyền lên tiếng trước tiên, chứ không phải những anh làm thơ, làm nhạc ấm ớ ở hậu phương, sợ chết, trốn quân dịch, núp bóng các ông sĩ quan văn phòng cao cấp mê văn nghệ, để mà gào thét ngưng chém giết, nối vòng tay lớn, tay nhỏ. Rồi tại sao lại phản chiến một chiều? Tại sao không ra Bắc kêu gọi Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp ngưng gây hấn và tấn công miền Nam? Tại sao chỉ to mồm lên án miền Nam là nơi đã cho họ cơm ăn, áo mặc, tự do sáng tác, tự do phản bội?
Bao nhiêu câu hỏi cứ lẫn quẫn trong tôi, cho mãi đến hôm nay, khi những dòng nhạc dòng thơ góp phần làm mất nước ấy vẫn còn được yêu chuộng, mê man, và các tác giả được thổi bằng ống đu đủ lên tận mây xanh.

Trở lại với Ngô Đình Lệ Thủy. Một ngày cuối tuần và cuối tháng 4, 1967, tôi cùng với vài sĩ quan bạn được phép lên Phan Thiết, cách Thiện Giáo khoảng mười lăm cây số, để nghỉ xả hơi qua đêm, và nhậu bia. Tại quán bánh căn “còn ướt sền sệt”, chúng tôi gọi mỗi người hai tô, mỗi tô hai mươi lăm cái, đổ đầy nước mắm, ăn cho bõ những bữa cơm sấy, đồ hộp ngán đến tận óc. Tôi mua một tờ nhật báo, và giật mình đọc tin Lệ Thủy đã chết trong một tai nạn xe hơi tại Pháp, chính xác tại Longjumeau, vùng Essonne, ngoại ô Paris. Chết tại chỗ. Lúc ấy cô vừa hai mươi hai tuổi. Bài báo kể, ban đêm, cô lái xe nhỏ và bị một camion ngược chiều húc thẳng, đầu xe của cô nát bấy. Sau này, đọc trên tờ Time, số Friday April 21, 1967, thấy cũng đăng đúng tin ấy.
Mặc dầu tình cảm của tôi đối với cô, và ngược lại, chưa bao giờ thắm thiết, gắn bó, đong đầy, đủ để những giọt lệ trào dâng chan chứa, như trong mắt nàng kỹ nữ Tầm Dương làm đẫm vạt áo xanh của người Giang Châu Tư Mã thuở trước, tôi vẫn thấy bàng hoàng, xao xuyến. Tôi bỏ dở bữa nhậu đã bao lâu chờ đợi, ngồi thừ người, nghĩ đến những kỷ niệm thời sinh viên, JECU, những buổi họp, những bài thơ tình lẩm cẩm và lời phê bình nặng ký của cô, một trăm đồng “maman cho”. Đêm về, qua cửa sổ khách sạn, tôi nhìn trời xanh thẳm không gợn mây và nửa mảnh trăng mới mọc vàng úa trên ngọn núi Tà Dôn mà nhớ câu thơ của Mạc Đĩnh Chi khóc nàng công chúa Tàu: Y! Vân tán, tuyết tiêu / Hoa tàn, nguyệt khuyết (Ôi! Mây tản, tuyết tan / Hoa tàn, trăng khuyết).

3. Hai tháng sau, tôi được lệnh thuyên chuyển đi Qui Nhơn. Tôi đáp chuyến bay Air VN đến Sài Gòn trước, dự trù ở chơi vài hôm, rồi về Nha Trang nghỉ phép một tuần, trước khi ra Qui Nhơn đáo nhậm đơn vị mới. Hành trang là túi ba lô và cây carbine đeo vai, cây Colt bên hông, và bộ quân phục mặc trên người. Trong chuyến bay có một số sĩ quan trẻ từ các đơn vị tác chiến về, cũng trang bị tận răng như tôi, báo hại các cô tiếp viên phải gom hết súng lại, đem cất đi một nơi phía sau phi cơ. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, đang đứng chờ taxi, tôi bất ngờ thấy Thái Tuyết Lê cũng từ chuyến Air France xuống. Tôi hỏi dồn:
– Tuyết Lê phải không? Toa về từ Pháp? Không ai đón sao?
– Không, moa không báo trước ngày giờ, muốn dành ngạc nhiên cho gia đình.
Tuyết Lê, người Huế, cựu JECU mặc dầu ngoài Công giáo, là em bà chủ tiệm kem Phi Điệp, chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo, du học Pháp từ năm thứ ba Văn Khoa.
Tay bắt mặt mừng, tôi mời Tuyết Lê đi chung chuyến taxi về thành phố. Trong xe,Tuyết Lê nhìn tôi đăm đăm, tấm tắc khen, “toa trông đen, nhưng có vẻ nam nhi, hùng dũng, khác với hồi còn là thư sinh.” “Dĩ nhiên, tôi vênh mặt đáp, bắt chước nghệ sĩ Hùng Cường, lính mà em!” Cả hai cùng cười vui.
Câu chuyện xoay quanh bạn cũ bên đó, bên này, và tôi được biết Irène Phụng Tiên học ở Grenoble, quê hương của Stendhal, tác giả mà tôi yêu mến từ thời còn học tại Jean-Jacques Rousseau. Rồi cái chết của Ngô Đình Lệ Thủy. Đổi sang tiếng Pháp, để tài xế taxi không nghe hiểu, Tuyết Lê kể:
– Tại Paris, tụi moa có đi viếng xác Lệ Thủy và dự lễ cầu hồn và đưa nó ra nghĩa trang. Đầu Lệ Thủy bị kính trước cắt gần lìa cổ. Khi liệm, được khâu lại và quàng bằng chiếc khăn lụa màu thiên thanh, trông mặt nó đẹp quá, thanh thản như một thiên thần. Bà Nhu từ Rome bay sang, ôm xác con mà khóc ngất, khiến tụi moacũng khóc theo. Chiếc xe bị nạn là chiếc Peugeot còn mới do Tổng giám mục Ngô Đình Thục mua cho Lệ Thủy. Tài xế xe poids lourd không việc gì cả, bị thẩm vấn qua loa, rồi cho về.
Tôi hỏi:
– Lệ Thủy học môn gì ở Paris?
– Trường Luật.
– Tụi toa có gặp Thủy lần nào trước đó?
– Thỉnh thoảng. Thủy vẫn gentille (dễ thương) như trước kia.
Tôi bỗng thở dài:
– Tội nghiệp nó quá! Đúng là hồng nhan bạc phận!
Xe ngừng trước tiệm kem Phi Điệp. Tuyết Lê giành trả tiền, mời tôi vào chơi, ăn kem.
Nhưng tôi thoái thác, “thôi, toa mới về, cần gặp gia đình, để dịp khác”, rồi vác túi ba
lô và cây súng lững thững bước đi, gọi xích lô chở về nhà ông bác họ ở đường Nguyễn Trãi.

4. Nếu còn sống, năm nay Lệ Thủy cũng đã 66 tuổi. Quá khứ xa rồi, nhưng khi ngồi viết bài này, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi, bởi kỷ niệm. Tôi vẫn nhớ lời cô “la rầy” tôi một lần về những bài thơ tình làm tuyệt vọng. Và hôm nay tôi sửa lại câu thơ ngày đó:

C’est bien toi que je regrette
Ce n’est pas le rêve par toi brisé
(Chính em mà anh tiếc nuối
Không phải giấc mơ vì em vỡ tan)

Nhưng trong một nghĩa nào, vì mang bệnh kinh niên lãng mạn, tôi nghĩ rằng mỹ nhân Ngô Đình Lệ Thủy mất sớm như vậy cũng hay. Để không bao giờ cho thế gian thấy tóc mình bạc màu.

NGUYỄN KIM THANH

ĐÊM HUYỀN THOẠI

Ly rượu nồng mình tôi uống đêm nay
Mình tôi uống đêm say
Cây cỏ vườn trời mãi xanh tươi hương ngát
Yến tiệc trăng sao lấp lánh một mâm đầy.

Đêm Cô Đơn tĩnh lặng ôi đêm diệu kỳ !
Đêm huyền thoại ngọt ngào tiếng hót họa mi
Tôi uống giọt nồng thơm lừng trong từng hơi thở
Trong từng khoảnh khắc môi chạm vành ly !

Sự sống như hoa báu nở trần gian
Mặt đất thánh đường lộng lẫy hào quang
Tôi nâng ly,Tôi hiện hữu
Đêm trắng mênh mông sương trắng lau ngàn.

Mặt trời ngủ đêm trong đóa hoa quỳ
Đêm huyền thoại ngọt ngào tiếng hót họa mi họa mi
Ly rượu nồng ngất ngây hồn cô độc
Ngoài song khuya vườn tinh tú thầm thì

Muôn tiếng côn trùng như mền dạ nhung êm
Tôi một mình tôi cùng tường vách lặng im
Xương máu tôi đâu chỉ là thân tứ đại
Một tiếng đàn nghe cũng rụng con tim !

Đêm Một Mình Tôi ôi đêm mê ly!
Đêm huyền thoại ngọt ngào tiếng hót họa mi
Ly rượu nồng cuộc đời tôi nâng lên uống cạn
Dưỡng chất trần gian muôn thuở vẫn xuân thì!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Thu Biếc Tình Sầu

Tôi nhớ thơ Huyền Kiêu, bài Tình Sầu, sáu chữ…nói về một đứa nhỏ được người lạ hỏi thăm…

Thơ Huyền Kiêu, Thời Gian, miên man con đường mộng, bốn mùa một cái bóng tỏ mờ không-gian-thơ!

Xuân, Hạ, đã đi qua, tôi yêu mùa Thu biếc, người con gái biền biệt, tôi hỏi như…người kia:

“Chị đẹp em đi, về, mô mà anh không thấy?”. Đứa nhỏ cứ chạy nhẩy, nghe rồi đáp…đâu đâu…: “Chị tôi khăn trắng ngang đầu / đi hái tình sầu trong núi…”.

Đi hái tình sầu trong núi…
Đi hái tình sầu trong núi…
Tôi nghĩ mình có tội để người ta lang thang…

*
Lá mùa Thu đang vàng / là hết rồi Thu biếc! Từ ngày xa Đất Nước, mỗi ngày tôi: Mùa Thu!

Em khăn trắng ngang đầu / lụa Mã Châu óng mướt / đằng sau chân em bước / con tằm chắc nhớ em?

Và, anh cũng không quên: Tại sao em đẹp vậy? Cả giang sơn nát bấy, em còn nguyên, em ơi!

Em. Còn nguyên. Đang trôi. Những vầng mây Thu xám…Rồi mùa Đông ảm đạm…rồi mùa Xuân xa xôi…

Tôi ngó cuối chân trời, thấy mình thành người lạ…quanh quanh rừng thay lá, em khăn quàng cười duyên…

Trần Vấn Lệ

ÁO BIẾC XƯA

Ờ thì chắc gì như năm trước
Gió thốc ngoài hiên thổi tạt buồn
Tay trắng-trắng tay anh trơn trợt
Tuột dốc tình níu chẳng chịu buông

Níu lấy em một thời hoa mộng
Mộng ngày e ấp tuổi hai mươi
Chở theo hương tóc ngàn kỷ niệm
Đậu giữa ngực mềm bao giấc mơ

Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Thu rắc vai em chút phấn vàng
Anh gánh gian nan mùa ly loạn
Đi tìm dấu vết bóng kim lan

Ờ thì chắc gì không đau điếng
Lần tiễn đưa bỏ lại nụ cười
Hạt lệ nào rưng rưng em khóc
Rơi từ khóe mắt xuống bờ môi

Bỗng thấy cỏ hiền ngoan nằm ngủ
Dưới bàn chân trắng ngó sen hồng
Anh khẽ hôn dịu dàng năm ngón
Để thương hoài năm ngón em thơm

Bỗng thấy chiều sông xanh quá đỗi
Nắng xế tàn chim lạc cánh bay
Người lâu rồi trở thành người cũ
Buốt lòng anh trong tiếng thở dài

Ờ thì chắc gì em đã giữ
Tờ thư anh và khói quê nhà
Quê nhà . Chao ôi ! Xa vời vợi
Tờ thư anh màu mực phôi pha

Xuân chưa chớm mà xoan vội muộn
Tình chưa phai sao biệt bóng hình
Anh dặn anh thôi đừng nhớ nữa
Nhưng trời ơi nỗi nhớ vây quanh

Con đường nào anh qua trăm bận
Khổ gì đâu hoa rụng tơi bời
Khổ gì đâu tim anh nhoi nhói
Bởi em giờ có cặp-có đôi

Ờ thì chắc gì anh còn sống
Đợi kim lan áo biếc quay về
Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Bịn rịn ngày giấu vạt mây che

Bịn rịn ngày chấm lưng tóc rối
Lá bùa yêu rớt xuống sân đời
Sân đời anh ngã không gượng nỗi
Nên đành lặng lẽ bỏ cuộc chơi

Sông bỗng rộng và dài từ thuở
Anh mất em chim lẻ bạn tình
Trăng uất nghẹn vì ai trăng vỡ
Từng giọt hồng thắm đỏ thơ anh

LINH PHƯƠNG

DẠT BÊN ĐỜI CHỈ CÓ BÓNG VÀ TA

Chân lướt thướt giẫm lên buồng trăng rụng
Bóng và ta ẩm ướt cả thời gian
Ta với bóng lênh đênh và tình cũng…
Dạt bên đời chỉ có bóng và ta.

Lòng sột soạt nơi đầu cây ngọn cỏ
Trăm bơ vơ chụm lại ở chân mày
Một bát sầu đọng lại ở chân mây
A con nhạn lẻ bầy kêu thắt ruột!

Nghe rờn rợn yêu ma trong kẽ núi
Trên rừng kia phơ phất một trời đông
Có con quạ rỉa lông nơi bóng núi
Bảo mùa xuân đâu phải mùa đông.

Ta quậy quạ với đất trời buồn lạ
Mây ngu ngơ và gió cũng ngỡ ngàng
Chim ngược bước rơi tiếng kêu lạnh quá
Kiếm hộ chim sợi nắng ở đông sang!

E ta ngã giữa xó đời chật chội
Trong sớm mai bên cỏ lá đìu hiu
Mắt không vuốt để nhìn ra trăm cõi
Chốn ta bà sao quá đỗi hoang liêu.

Phương Tấn.