Giấu đêm vào tóc

Người đàn bà mang nỗi sầu năm tháng
Giấu vào đêm từng sợi tóc bạc dần
Nghe tiếc nuối từng chiều trôi lãng đãng
Hiu hắt sầu chạm nỗi nhớ mênh mông …

Thao thiết nhớ thuở mây tràn trên tóc
Hương tình yêu đêm hạnh phúc đợi chờ
Hằn dấu môi khung ngực trần ngà ngọc
Sợi tóc nào ngơ ngẩn giữa cơn mơ

Tình đến vội trong mưa nhòa buổi ấy
Rồi bỏ đi cùng nỗi nhớ bên trời
Nghe thầm lặng cơn mê chiều hoang hoải
Từng đêm nằm đau sợi tóc nào rơi

Giấu nỗi nhớ vào đêm tràn chân tóc
Hong khô tình mờ sương khói chơi vơi
Đêm thiếu phụ cô đơn buồn bật khóc
Một vì sao
chập choạng
tắt ngang trời…

Nguyễn Minh Phúc

BUỔI TÓC LẠNH RỪNG PHAI

“Ta có đời độc hành vào bóng tối
Buổi đi về nghe sông núi quặn đau” thơ Hạ Quốc Huy

1.
Người phiêu bạt bật hồng soi tha thiết
Xé thời gian vào lật sách cổ thư
Em, trang nào bơ vơ trong cổ tích
Tìm em. Ta ngậm ngải đứng trầm tư

2.
Trong yên ắng có tiếng cười thỏ thẻ
Trốn vào trong một chum rượu bỏ hoang
Của trăm năm ủ âm dương đại ngàn
Của tri kỷ hồng nhan chờ hảo hán?

3.
Chàng lãng tử mang gươm làm tráng sĩ.
Tim yếu mềm lãng mạn, hóa ngu ngơ
Tưởng ôm em từng phút đến thẫn thờ
Thương đứt ruột màu bồ quân hoa gió

4.
Đã mấy lần sũng ướt một hồn đau
Ở chỗ đó lá vàng nghe ta kể
Tiếng thở dài thanh âm như rớm lệ
Em u hoài sóng biển ngóng xa khơi

5.
Ta có đời độc hành vào bóng tối
Buổi đi về nghe sông núi quặn đau
Núi thương ta và lòng ta thương núi
Rừng có cây. Con dã thú nhớ rừng
Em đừng khóc. Đừng liều thương lãng tử
Để mình ta ngồi đếm giọt rưng rưng.

6.
Rượu em ủ từ kiếp xưa để lại
Hâm nóng chờ tóc lạnh buổi rừng phai.

HẠ QUỐC HUY

NGƯỜI YÊU

1.
Đá rựng tà dương
Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ
Trườn cánh chim
Ôi còn mải miết chiều phai

Mải miết chiều phai em có hai bàn tay đầm đìa hối tiếc
Tôi hôn em môi cực cùng ly biệt
Không đậy kín hồn dĩ vãng quỵ dưới trăng ngàn
Lòng đẹp dã man.

2.
Tử hình tôi trong ngực tối
Chờ đợi gì ngoài nguyệt lạnh
Nhân loại còn ai
Kẻ lãng mạn cuối cùng cô xiết đá xanh
Rũ trăng
Rũ máu
Rũ cánh rừng vùng vẫy tà dương
Hỡi em
Còn đợi chờ gì bóng người ngực tối
Loáng ngời khuya
Đẫm suốt hư không
Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ
Ôi đời đời nhức nhối yêu nhau…

HUY TƯỞNG

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ nhạc thành bài hát “Máu biếc xanh và ngực tối”.

MÁU BIẾC XANH VÀ NGỰC TỐI
Nhạc: Lê Uyên Phương
Thơ: Huy Tưởng

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/mau-xanh-biec-va-nguc-toi-le-uyen-phuong

MƯỜI NĂM

Mười năm hoa trắng rơi vườn cũ
Tôi nhặt mùi hương thảng thốt- buồn
Mười năm áo lụa về qua ngõ
Biền biệt mùa thu ngơ ngác- vương

Mười năm chấp chới hồn mây tím
Lặng lẽ tàn đêm dáng nguyệt rằm
Mười năm con sóng xô cuồng nghiệt
Trôi dạt tình tôi tận cuối sông

Mười năm em có còn mắt biếc
Môi có còn thơm một chút trăng
Mười năm em nói lời ly biệt
Tôi vẫn hoài đau một vết thương
Mười năm tôi níu tàn phai- tiếc
Nghe gió về quanh lạnh chỗ nằm…

Tôn Nữ Thu Dung

những chiếc bóng

Có đôi lần tôi thử cố nhớ lại mình đã thật sự lớn khi nào. Tôi muốn biết liệu có một thời điểm mong manh mà ở đó, phía bên này là sự ngây thơ, còn bên kia là tâm trí của một kẻ vừa mới nhận chân được gương mặt cuộc sống. Khi ấy, giống như anh chàng đứng ngắm bóng mình trong hồ nuôi cá cảnh và tưởng tượng những con cá đang bơi sau lớp kính là tuổi thơ của mình, còn đám rong rêu cùng hòn non bộ kia là khung trời mộng mơ mà anh ta đã đắm chìm vào và lầm tưởng đó là thế giới đích thực.

Nhưng có vẻ gì đó như một sự đốn ngộ, một ánh chớp loé lên và chẳng để lại gì. Một ánh chớp loé lên và cái thế giới cũ vụt tan biến. Không biết có bao người may mắn nhớ rõ được thời điểm toả sáng ấy trong cuộc đời. Phải chăng, trong phần lớn những cuộc đời khác, nó thường trôi qua lặng lẽ và không để lại một dấu ấn nào – đó là một cuộc chuyển hoá chậm, dày và chẳng thể nhớ gì về nó. Nhưng tôi lại mơ hồ cảm nhận rằng nếu có đủ thời gian và sự tĩnh tâm để rà xét, có khi ta sẽ lần ra khoảnh khắc ý nghĩa ấy. Nó giống như chuyện thuở nhỏ khi tôi lần mò trong đêm tối để tìm viên bi bị rơi, tôi biết chắc nó đang nằm ở một xó xỉnh nào đó, chỉ cần tay tôi vươn tới tôi sẽ bắt được…

Đó là một thời đói triền miên, đói từ làng trên đến xóm dưới. Mọi thứ đều trông tiêu điều, người sống lặng lẽ như những chiếc bóng lẩn khuất sau luỹ tre hay lang thang trên cánh đồng. Những năm ấy, tôi đâu khoảng hơn mười tuổi, cao lêu nghêu, da đen nhẻm và tóc xơ xác như rễ tre. Tôi hay lang thang một mình, lúc trên rừng, khi ngoài đống nhưng thường nhất là lặn dưới sông. Tôi không biết người lớn họ chịu đựng cái đói ra sao còn đối với tôi lúc ấy chẳng khi nào tôi để cho cái dạ dày của mình phải khốn khổ vì trống rỗng. Khi đói bụng tôi ăn đủ thứ, từ bắt ốc bươu luộc ăn, đến hái trộm dưa hay đào trộm khoai lang, rồi đi bắn chim trên rừng đem nướng lá chanh…A, mà bạn biết chim nướng lá chanh không, món thượng hạng, tôi sẽ kể rõ ngay sau đây: vặt sạch lông, mổ bỏ hết bộ lòng, rửa sạch, nhét lá chanh vào, quấn mười lớp lá chuối tươi rồi nướng cho đến khi cháy đến lớp lá cuối cùng là được. Sau đó chấm muối tiêu và nhai ngấu nghiến từ đầu đến thân, rồi 2 cẳng và sau cùng là linh hồn của nó…

Tôi khởi sự nhớ lại từ mùa đông năm ấy. Đó là một mùa đông khắc nghiệt, cái đói cùng với cái lạnh đã vùi dập hầu hết những ước mơ và dự định tốt đẹp tôi đang có trong đầu. Bởi mùa đông là khi tôi chẳng thể lang thang trên rừng hay xuống sông để tự kiếm miếng ăn. Tôi mặc bộ đồ may bằng bao cát ấp chiến lược và nằm co ro trong một góc nào đó để nghe tiếng mưa rả rích trên mái tôn. Mưa dầm dề từ ngày này qua ngày khác, có khi cả tuần chưa thấy mặt trời. Tôi nằm im lặng chịu đựng và lắng nghe cái đói cồn cào trong dạ dày. Tôi nhận thức rõ thời gian đang trôi đi từ buổi sáng qua buổi trưa rồi bò chậm chạp đến buổi tối, nhưng tôi biết chắng có gì đang được nấu dưới bếp. Cũng có khi tôi rời chỗ nằm và mò xuống bếp để nhìn. Tôi nghĩ trên đời sẽ chẳng có gì thê thảm hơn một cái bếp nguội lạnh trong mùa đông mưa dầm.

Sau này tôi mới hiểu tại sao thường mùa đông lại là mùa đói quay quắt như thế. Bởi đó là khoảng trống mùa vụ, chẳng có cây gì đang được trồng vào mùa đó ngoài ruộng. Cánh đồng lúc ấy chỉ trơ gốc rạ nằm thối rục trong mưa, một vài con chất thọc cắm mỏ vào những ổ trùn vừa mới đùn lên trên những mô đất cao.

Mùa đông còn là mùa tôi nhớ nhiều chuyện nhất. Có lẽ là do tâm trí được yên tịnh, chỉ có nằm, lắng nghe và chịu đựng. Hằng đêm tôi khó ngủ nằm trằn trọc và lắng nghe mọi thứ âm thanh. Ngoài tiếng mưa, tôi còn hay để ý đến tiếng chuột. Bọn chúng chạy và kêu rất náo nhiệt trên xà nhà làm như có điều gì vui lắm. Nhưng mẹ tôi lại nói khác, bà nói bọn chuột cũng đói và đang chạy đi tìm thức ăn, “càng đói chạy càng gấp”. Thỉnh thoảng mẹ tôi cũng đùa nói bọn chúng đang hát tập thể:

“Chút cha chút chít,
Ỉa không chùi đít,
Không sợ dính quần…”

Tôi được một trận cười no nê và ngủ lúc nào không hay…

Rồi mùa đông nào cũng kết thúc khi tết đến. Tết là những ngày được tôi chờ đợi nhất dù thường tôi chẳng có gì, từ quần áo mới hay tiền lì xì. Tết như một chút dấu ấn nhắc nhở những con người cùng quẫn rằng thời gian vẫn đang trôi và họ vẫn đang sống. Hồi ấy tôi tưởng tượng nếu không có tết chắc tôi chẳng biết chờ đợi gì trên đời này nữa.

Nhưng tết không chỉ là dấu ấn của thời gian, nó còn được mong đợi hơn vì đó là những ngày sẽ được ăn no và ăn ngon. Chuỗi ngày ăn giỗ no nê được bắt đầu từ rằm tháng chạp, kế đến là đưa ông Táo về trời, rôi cứ tiếp diễn đến đầu xuân với rất nhiều lễ cúng. Nhưng khi lễ đưa ông bà được cúng vào ngày mùng ba, đó là lúc lòng tôi chớm buồn, nỗi buồn cố hữu quay lại, u ám và dai dẳng.

Rồi thời gian trôi thật nhanh khi ký ức vụt kéo tôi đến những ngày cuối xuân năm ấy khi mùa lúa đông xuân vừa gặt xong. Đó là những hình ảnh câm lặng đau buồn chẳng khi nào phai trong tâm trí tôi nhưng phải rât lâu sau này, khi đã thật sự trưởng thành, tôi mới hiểu rõ ngọn nghành. Và khi đó, bóng dáng của những ngày cùng khốn ấy lại hiện ra, tròn vành vạnh không sót một chi tiết nào…

Mọi thứ đều dồn vào buổi sáng hôm ấy, trong một khoảnh khắc thật ngắn ngủi, khi nắng vàng chiếu rạng rỡ trên những ngọn tre.

Trước khi có khoảnh khắc chấn động ấy tôi không nghĩ mình đã biết rõ về ông – ông xã Chiên, một ông già lụ khụ. Tôi không nhớ năm đó ông bao nhiêu tuổi, nhưng tôi nhớ rõ ông đã rất già, theo cái nghĩa phải đếm từng mùa đông đến.

Mùa đông, với những cơn gió bấc lạnh buốt là nỗi ám ảnh của người già. Thường là họ sẽ chết vào một mùa đông nào đó. Cái đói và lạnh sẽ lần lượt kéo những người già cả ốm yếu về âm ty. Khi chim cú báo hiệu, sẽ có người già nào đó phải chết. Vào những đêm đông, khi tiếng chim cú mổ từng âm buồn thảm, ba tôi thường lắng nghe rất chăm chú. Sáng hôm sau ông lọc ra một danh sách những người khả dĩ nhất trong xóm có tiếng chim cú đêm qua rồi ngẫm nghĩ. Tôi thấy lần nào ba tôi cũng đoán trúng và đó là điều kỳ lạ mà cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào hiểu được.

Ông xã Chiên chỉ sống một mình trong căn nhà tranh nhỏ, nằm ở góc một khu vườn có tre phủ kín mít tứ phía. Vườn nhà ông nằm kế những khu vườn hoang nối liền nhau. Đó là vương quốc của chim chóc và rắn rít. Những buổi chiều, khi mặt trời ngã bóng, những khu vườn hoang chợt trở nên u tối đến rợn người. Rồi chim vịt, bìm bịp,…thi nhau rền vang những âm điệu buồn đến nao lòng. Tôi cũng thường lai vãng vào đó để bắn chim. Khu vườn râm mát suốt ngày vì rất hiếm khi nắng chiếu lọt được vào trong, trừ những buổi trưa đứng bóng. Trong cái không gian tĩnh mịch ấy, tôi hay đi thơ thẩn từ đầu này tới đầu kia khu vườn, và cuối cùng dừng bước trước ngôi nhà tranh cũ nát. Trong nhà chỉ có cái chõng tre, một cái ảng nước, 3 cục gạch kê làm bếp và mấy cái nồi móp méo đen sì…

Căn nhà của ông lúc nào cũng đong đưa như răng người già nhưng không hiểu sao nó vẫn chưa sập dù năm nào cũng có bão thổi qua vài bận. Cái bí quyết đứng vững của căn nhà ấy phải sau này tôi mới biết rõ…

Hồi ấy tôi đã từng thắc mắc không biết ông ấy ăn gì để sống vì suốt căn nhà không thấy có một thứ gì có thể cho vào miệng được. Tôi có đem điều thắc mắc ấy hỏi vài người lớn nhưng chẳng ai giải thích họ chỉ cười ruồi. Chắc họ nghĩ tôi chỉ là một đứa con nít, mà con nít thì không cần phải biết những chuyện đại loại như vậy. Nhưng người lớn họ hay nhầm lẫn giữa sự hiểu biết và lòng trắc ẩn. Họ không nghĩ rằng có chút lòng xót thương đang nảy nở trong tầm hồn tôi khi nhìn cảnh cô đơn bần cùng của một ông già ốm yếu. Có lẽ, hồi ấy, cái đói, cái cùng quẫn của nợ nần đã cầm tù tâm trí họ. Còn lòng tốt ư, nó phải vượt qua được cái dạ dày sôi réo, phải thắng được cái tâm trí bấn loạn, trước khi lọt ra ngoài qua vài câu xuýt xoa tội nghiệp.

Trở lại buổi sáng cuối xuân năm ấy. Đó là một buổi sáng hứa hẹn một ngày nắng nóng gay gắt. Bởi từ sáng, mặt trời đã lên chói chang. Nhưng đó không phải là thời điểm tâm trí của những người lớn còn có thể nghĩ về thời tiết, họ đang lo lắng tụ tập về sân đội với nỗi ám ảnh hằn lên trên từng gương mặt khốn quẫn.

Sáng hôm ấy đội truy thu nợ của công an huyện về làm việc với những hộ còn nợ lúa hợp tác xã.

Ba tôi từ sáng sớm đã lên sân đội. Khoảng 3 hay 4 người mặc đồng phục màu vàng đang ngồi ở dãy bàn phía trên. Tôi chẳng biết họ nói gì, nhưng bên dưới tất cả đều im thin thít.

Phải sau này tôi mới biết câu chuyện sáng hôm ấy. Đó là họ bắt những người thiếu nợ phải bằng mọi cách trả thuế cho hợp tác xã. Họ hăm doạ rât nhiều khiến ai cũng lo sợ thất thần. Sau này ba tôi kể họ đập bàn, quát vào mặt ông, họ đe sẽ bắt nhốt nếu không trả nợ.

Hồi đó hình như nhà ai cũng nợ lúa nhà nước. Ba tôi giải thích, một mảnh ruộng được nhà nước quy định năng suất và người dân khi sử dụng phải đóng thuế 70% trên cái năng suất lý thuyết ấy. Vì năng suất được quy định quá cao, gần như chẳng khi nào đạt đến trong thực tế nên mùa nào cũng chẳng đủ lúa để đóng thuế. Đâm ra ai cũng nợ nhà nước đầm đìa.

Chuyện nợ nần ấy luôn làm tôi liên tưởng đến những chuyện khác, khủng khiếp hơn, xảy ra thường xuyên nhưng chẳng ai đặt câu hỏi vì sao. Có lẽ do nó xảy ra thường quá nên nhàm chăng, còn bọn con nít coi chúng chỉ như những trò hấp dẫn. Đó là các vụ tự tử bằng thuốc rầy. Tôi còn nhớ, cứ dăm bữa nữa tháng lại nghe một vụ uống thuốc rầy tự tử. Thường những chuyện như vậy tôi sẽ chẳng khi nào bỏ qua. Khi nghe tiếng la khóc từ phía trạm xá vọng lại, tôi sẽ ba chân bốn cẳng phóng đi. Khi ra tới nơi tôi cố chen lấn để luồn vào trong. Trên nền xi măng, kẻ tự tử nằm quặt quẹo ở đó, từ người họ mùi thuốc trừ sâu bay ra nồng nặc làm ngộp thở cả căn phòng. Một người dùng ống đút vào miệng rồi đổ nước vào, còn một người khác sẽ leo lên bụng đạp. Họ đạp cho đến khi nước trào ra lại đằng miệng. Họ làm như vậy nhiều lần cho đến khi nước súc không còn mùi thuốc nữa mới thôi…

Có điều, tất cả những thứ kinh khiếp ấy chưa bao giờ khiến tôi sợ hãi. Hồi ấy tôi chỉ coi nó như những chuyện bình thường khác vẫn xảy ra hằng ngày xung quanh, đơn giản như cãi lộn hay chửi bới của mấy bà bán cá. Có lẽ đó là lý do tại sao người ta gọi là trẻ thơ. Cũng như thời gian, nhận thức là quá trình một chiều và không thể đảo ngược, một khi bạn đã “biết” rồi thì chẳng có cách nào để bạn trở lại “không biết”. Nghĩa là, khi bạn nhận ra sự khổ đau thì đó cũng là lúc bạn đã bước vào một thế giới khác – thế giới người lớn. Và nó cũng khởi đầu cho sự trượt dài không lối thoát trong cõi nhân sinh, cho đến khi bạn hoàn toàn biến mất.

Và đã có một sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn tôi kể từ buổi sáng hôm ấy…

Đó là khi không khí của buổi họp được dồn đến căng thẳng tột độ, bất thình lình ông xã Chiên xuất hiện. Tôi nhớ mới hôm qua ông còn bịnh nằm liệt giường, sao hôm nay ông lại đến đây. Ông đi lừ đừ từ ngoài cổng vào. Lúc ấy nắng đã lên cao, chiếu bóng ông in hình đậm nét trên nền gạch. Chiếc bóng đen thẫm, nhấp nhô như trong phim hoạt hình, hết nghiêng bên này lại ngã bên kia và tiến về phía dãy bàn phía trên, nơi những vị mặc sắc phục màu vàng đang ngồi.

Tôi nhớ là cả sân người ngồi dưới và mấy vị quan chức đều im lặng dõi theo từng bước ông đi. Ông ngật ngưỡng đến đứng trước mặt họ. Hình như ông nói gì đó, và có vị đã cười. Tôi nghĩ họ đã nói chuyện không đến nỗi căng thẳng cho lắm. Nhưng bất ngờ, ông xã Chiên mở nắp cái chai mang theo và đưa lên miệng. Rồi tôi thấy ông ngã lăn ra sân. Chiếc bóng mất hút. Những tiếng la hét, gào thét bắt đầu vang lên cuồng loạn. Những người đang ngồi dưới bật đứng dậy và lao lên trước. Cho đến khi mùi thuốc rầy nồng nặc bắt đầu lan đến chỗ tôi đứng, tôi mới bừng tỉnh và hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Sau đó hình như người ta có đưa ông đi cấp cứu, nhưng chỉ được một quãng thì ông đã chết. Họ nói ông đã uống hết cả nửa chai thuốc rầy nên chẳng Trời Phật nào cứu nỗi…

Sau này ba tôi kể, trước hôm ấy vài ngày, ông xã Chiên được tuyên dương trước đội như một mẫu mực vì đã bán cây cột sơn để trả nợ. Đó là cây cột gỗ sơn lớn và đen bóng, nó là chỗ dựa duy nhất cho căn nhà tranh của ông.

Sau đó vài tháng, một cơn bão nhẹ thổi qua làm căn nhà đổ tan nát và vườn nhà ông trở thành vườn hoang. Chiều chiều, tiếng bìm bịp vọng ra từ đó nghe như tiếng gọi hồn buồn thảm. Thỉnh thoảng tôi có đi ngang qua, nhưng chẳng khi nào còn dám bước chân vào nơi ấy nữa.

TRÀ ĐÓA

CHẠM TUYẾT

* Gởi con LAT, thêm một mùa đông xứ người

Khi những bông tuyết đầu mùa bắt đầu rơi
Loài bông tuyết ùa về theo gió mùa đông bắc
Những mái nhà lợp tuyết – trắng màu trắng tinh khôi
Ba biết – con lại thêm một mùa đông xứ lạ.

Dòng sông đã đóng thành băng rồi chưa nhỉ
Mặt trời tròn và trắng – lạnh tựa ánh trăng đêm
Cây điểm trang – treo từng khối cầu pha lê kỳ lạ
Lấp lánh suốt mùa – chạy ngang dọc phố chưa quen.

Con mặc áo hoodies* ra đường có mỏng mảnh
Xuống tàu điện ngầm – chỉ thấy trắng mênh mông
Những nhánh tay xương khẳng khiu trong gió lạnh
Hàng cây buồn – công viên Boston Public Garden.

Tiếng chuông nhà thờ Trinity** có âm vang rộn rã
Chào đón một mùa giáng sinh rất đỗi yên bình
Quảng trường Copley – chắc thấy toàn người lạ
Con có nhớ nắng vàng – cái nắng phương đông.

Ôi cái nắng ngọt ngào – ngọt xanh từng cây trái
Con vẫn chưa về – ai thắp sáng chút niềm vui
Đã bao lần ba nằm mơ – thấy mình chạm tuyết
Như chạm vào tay con – thuở con mới chào đời.

Nguyễn An Bình

*Áo hoodies ; áo trùm đầu
** Nhà thờ Trinity: nhà thờ cổ xưa nổi tiếng của thành phố Boston –Hoa Kỳ

HOÀNG LỘC, NGẮN… DÀI TÌNH SI


(Hoàng Lộc)

“Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp “

(Hoàng Lộc)

Sau khi nhóm Sáng Tạo “hoàn thành sứ mệnh” làm mới nền văn học nghệ thuật Việt Nam bằng những tuyên ngôn, thảo luận bàn tròn, tung hê đầy dẫy trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ và mới với những tên tuổi “lớn”: Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế… thì có một khoảng trống lộ ra, nhưng không lâu.
Lấp vào khoảng trống của Sáng Tạo, giữa thập niên 1960, là các tạp chí Văn, Khởi Hành, Văn Học… nơi tụ hội của các cây bút trẻ, lần đầu thử sức với văn chương. Và họ đã thành công, với những tên tuổi như Y Uyên, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH. Cao Huy Khanh, Luân Hoán, Huy Tưởng, Lâm Chương, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Ngụy Ngữ, Phạm Ngọc Lư, Lê Văn Thiện… trải dài từ bờ nam sông Bến Hải tới tận Cà Mau. Nhưng công tâm mà nói, thì dải đất miền Trung xương xẩu, ôm gọn núi rừng, đồng bằng, duyên hải đã phải giang tay đỡ lấy máu, xương trắng, khăn tang… là chốn xuất hiện nhiều nhà văn nhà thơ trẻ. Số đông vẫn là Huế và Quảng Nam.
Thế hệ giữa thập niên 1960 trở đi như những chồi xanh vươn thẳng trên “phiến đá chưa mòn” (1) và cho dẫu có nhiều khuynh hướng dị biệt trong sáng tạo, song gia tài họ để lại như “một miền trái chín” cho văn học nghệ thuật Miền Nam, không thể phủ nhận.
Riêng với thơ, phong cách của mỗi người một khác, nhưng có một điểm chung là họ không chạy theo cái mới, cách tân, tự do của Sáng Tạo; cũng không ôm giữ vẻ cổ kính của Văn Hóa Ngày Nay cố gắng níu kéo thời hoàng kim Tự Lực Văn Đoàn. Trong thơ của họ, hơi thở của những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu hay Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp chỉ phảng phất bên lề trang giấy. Họ có cái riêng, một phong cách không cổ điển, cũng không quá mới theo các trường phái Tây phương (mà Sáng Tạo khởi xướng).
Thơ ca trong thời kỳ này như một vườn hoa muôn màu vạn sắc: Viễn mơ, lãng mạn, tình tự dân tộc, phản kháng lẫn phản chiến… cùng nhau xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Miền Nam, mỗi người mỗi vẻ, mỗi phong cách riêng, như nhận xét của Huy Tưởng: “nó vui nhộn, đa dạng, lôi cuốn, hấp dẫn và nhất là, tự do ngất trời!…từ đó tung ra nhiều trường phái, giọng điệu và sắc màu phong phú…đúng là trăm hoa đua nở thực sự mà không phải kiêng dè sợ sệt điều gì, để sau rốt nổi trội lên những tên tuổi ngời sáng, mỗi người đứng riêng một cõi, một tiếng thơ biệt lập nguy nga” (https://damau.org/archives/44584).

Trong số những tên tuổi ngời sáng đó, tôi chú ý đến Hoàng Lộc, không phải vì ông được giải thi ca của Trung Tân Văn Bút Việt Nam năm 1970, khi còn rất trẻ, (2) để khẳng định tên tuổi nơi trường văn trận bút, mà hơn hết là những bài thơ tình của ông, mượt mà như cô thôn nữ vừa tắm suối bước lên bãi cỏ non xanh, long lanh như giọt sương đọng trên nụ hoa hàm tiếu, như hương thơm thiếu nữ xuân thì. Tôi đọc và nhìn thấy như vậy từ giữa thập niên 1960 lúc còn là học sinh trung học, với những cơn tình mộng thuở đầu đời… cho tới tận hôm nay, đang bắt đầu chạm mốc bảy mươi, nhìn thấy thơ ông vẫn nồng nàn hơi thở tình yêu với những tình dài, tình ngắn, tình già, tình si, tình ngẩn ngơ ngơ ngẩn, tan bay theo một cơn gió, một nụ hoa, nơi chân cầu, một góc phố buồn…đến nỗi đã làm rung động biết bao trái tim giai nhân, như một cô nữ sinh Tường Vy đã chép những câu thơ của ông vào tập vở của mình:
Ta khổ quá chừng cô bé hỡi
Em như hoa cúc nở trong vườn
Mùa thu bay qua đời rất vội
Mà dấu tình chưa kịp lãng quên … (http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm)

Những gì mắt ông vừa chạm vào bóng giai nhân, tức thì len vào tâm hồn ông, đánh thức trái tim ông để ngơ ngác ngẩn ngơ. Rồi với những cuộc tình đã qua, đang có và sắp tới cứ đầy ắp trong thơ ông, như thể đó là những tình của tâm tưởng và tâm bệnh. Bệnh tình.
Và như vậy, có thể nói rằng, Hoàng Lộc là thi sĩ duy nhất “sống chết” với thơ tình trong suốt cuộc đời cầm bút của ông.
Từ tập đầu tiên, Thơ Học Trò, xuất bản năm 1965 cho đến những bài thơ gần đây nhất, tình yêu luôn quấn chặt lấy ông. Nó là hơi thở, là máu thịt, là trái tim luôn làm ông rung động và tan chảy với những mối tình thấp thoáng trong ánh mắt và trí não. Vì vậy “xếp” ông vào ngăn nhà thơ tình ái cũng không mấy sai lạc? Bởi trên một trang mạng, ông đã khẳng định trong cuộc phỏng vấn ngắn: “ “ Tôi làm thơ tình từ thuở tưởng đã biết yêu. Sau vài ba cuộc tình, tôi nghĩ tôi biết yêu thật. Tôi tiếp tục làm thơ tình. Tuy vậy, đời sống vẫn có nhiều chuyện làm cho mình điêu đứng như chữ tình – nên lắm lúc, tôi có những xúc động khác… Có thể nói, như bạn tôi, cố thi sĩ Vũ Hữu Ðịnh : ” tôi chỉ làm thơ khi tôi xúc động “. Với riêng tôì, hình như chữ tình dễ quyến rũ thơ tôi hơn !” (http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm).
Và trên FB của ông, tôi đọc được mấy câu này, như một khẳng định một đời thơ.
Thơ cứu đời anh những lần hụt hẫng
Để giữ trái tim nguyên vẹn tới giờ

Nếu như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…thơ tình của họ là những man mác mây khói, những rung động còn dồn nén e ấp, lãng mạn từ nền văn hóa phương Đông vừa bước ra ngõ sáng phương Tây, đủ để người đọc có cảm giác êm đềm, vỗ về với một chút hụt hẫng, thẫn thờ, nhớ thương; hay Tình trong thơ Du Tử Lê, Nguyễn Tất Nhiên là những mất mát không thể tìm lại, với những đau đớn tột cùng; thì đến Hoàng Lộc, thơ tình là những bùng vỡ thăng hoa, là những ngậm ngùi tiếc nuối, là ca tụng nhan sắc như một hệ lụy kiếp người. Tình với ông không là thiên sứ trần truồng nhan sắc “khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa/Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi”. Hay như tình khởi phát từ thị giác xa gần của Từ Thế Mộng như nét đẹp của trời ban tặng trần gian:
Ban mai
cõng áo lụa hồng
ngó em anh gửi cả lòng anh theo”.

Và:
Áo trắng ngây thơ đôi vú nhỏ
Áo xanh mơn mởm mông non
Áo hồng chúm chím môi vừa nụ
Ôi gái tơ nào hoa chẳng thơm (Từ Thế Mộng – Gái tơ)

Đọc Hoàng Lộc, cũng không thấy tình kiểu “ba trợn” mà thiết tha của Nguyễn Bắc Sơn:
Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt
Nhưng vì sao ta lại yêu em?
Ôi mắt em nhìn như là bẩy chuột
Ta quàng xiên nên đã sa chân (Nguyễn Bắc Sơn – Trên đường đến nhà Xuân Hồng)

Cũng không trần trụi để khơi gợi và chạm nhẹ vào sex như Linh Phương:
Đêm qua/ rớt xuống vai ngà/ Câu thơ tình/ đọng giữa tà áo em/ Cỏ hoa/ và bướm ngoan hiền/ Nương nhờ ngực/ chỗ xốp mềm/ nằm mơ/ Áo em/ cài cúc hững hờ/ Để cho gió/ nhẹ/ xoa bờ vú căng/ Môi em đỏ/ lúc anh hôn/ Ngã nghiêng/ trời đất Sài Gòn
đêm qua/ Đêm qua/ trăng xế nguyệt tà/ Có hai người nói:“ Mình là của nhau” (Linh Phương – Đêm qua rớt xuống vai ngà).

Ngược lại, tình của Hoàng Lộc đằm thắm, nhẹ nhàng, chân tình, sâu lắng với những gì đã qua đi hay sắp tới hay đang là. Cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều hiển lộ sự ngưỡng vọng nồng nàn, không điểm dừng về phái đẹp. Sự nồng cháy là điểm tựa cho tình si nhưng chưa đến dại khờ. Trong một bài thơ, ông thú nhận biết yêu từ “thuở mới lớn” khi còn là cậu học sinh có trái tim bắt đầu va đập lộn xộn không thành nhịp. Nó khởi đi bằng tận cùng cảm xúc, từ nhìn thấy để rung động sau đó:
Thuở mới lớn anh rình cô bạn học
Tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ
Khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp
Là khi lòng cậu bé rối như tơ. (Chuyện người đi theo thơ)

Bài thơ không thấy ghi ngày tháng, nên không biết ông làm từ lúc nào, nhưng chắc chắn cách đây không dưới 50 năm?
Chính mái “tóc thề ngang cửa lớp” là tác nhân chính để thơ tình của ông chiếm riêng một cõi, xuyên thấu đời thơ của ông:
Không thể theo nhau, thôi đừng ngó lại
Cô đi theo chồng – anh đi theo thơ”.

Sự khẳng định của ông là hệ lụy của một cuộc chơi dằng dặc. Và, ông chấp nhận làm một cuộc hành trình miên viễn nơi cõi mộng mị ba đào với những bóng hình bay ngang qua đời ông. Sự với cầm không nắm bắt được (ở trên) như tiếng chim họa mi đang hót rộn ràng, bỗng dưng nín bặt, như nụ hoa còn ngậm sương, bỗng tan chảy đâu đó quanh ông không nhìn thấy nữa. Cái còn lại cho ông là những mùi hương bay theo những bước đi. “Đi theo thơ”!
“Rình” cô bạn học đi ngang cửa lớp chưa hẳn là yêu hay yêu thầm, bởi chưa cầm tay bày tỏ, chưa đón nhận được nụ hôn đầu đời. Đó là những rung-động-xao-xuyến-cuộc-yêu một chiều, cuộc yêu bằng mắt bị đứt khúc như kiểu đứng bên này sông ngó bóng nàng bên kia khi chiều tắt nắng với chút bồi hồi, xúc động, man mác! Đó chỉ là một thị chứng của tình; thuộc nhóm tình si.
Trái tim Hoàng Lộc hình không có vách ngăn, bởi mỗi khi thần xác ngoại giới xuất hiện, thì liền ngay đó, giẫm nát phần hồn của ông, rồi nẩy bật ra tiếng thơ từ những ẩn ức nội tại trong tâm hồn ông? Điều này cho ta thấy, thế giới thi ca của Hoàng Lộc không hề là những ẩn ngôn. Thơ đến với ông và thoát ra là cả một phơi bày nội tâm luôn hướng đến cái đẹp. Cái mà cả thế giới mãi đổ xô kiếm tìm và chưa bao giờ định hình, thỏa mãn. Nó ở thật gần và cũng xa hun hút khiến thi sĩ luôn hụt hơi, luôn bị ám thị.
Đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ
Nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn
…Ai áo trắng của ngày xưa biền biệt
Vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà bay
Để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một
Trắng không màu là màu trắng không phai (Gửi cô giáo)

Câu cuối cùng đẹp và trong suốt tựa khí trời, tinh khiết như giọt sương mai mà không hề vẩn bụi “thiên khổ lụy, vạn cổ sầu” vì tình, như mấy câu thơ Bùi Giáng khóc Marylin Monroe, dẫu là “khóc giỡn”:
Giữa hư vô nếu em còn
Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta
Úp môi ôm mặt khóc òa
Cồn lê lên miệng là ba bốn lần (Bùi Giáng – Bốn lần)

Ở nơi ông, trắng không màu là màu trắng không phai, phải chăng là cuộc lữ thi ca tình tang tình tứ không mệt mỏi cả đời ông?
Hơn một ngàn năm trước, hoàng thành thi ca phương Đông lấp lánh một Lý Hạ khởi cuộc ngao du thi thơ một thuở nơi Đài Thành một thuở Thi Thơ/ Xe Vàng còn mộng quanh tà áo Thu/ Tóc Mai về, sương Ngô điểm mái/ Thân tàn như cỏ dại bờ đê…(Lý Hạ, bản dịch Tuệ Sỹ) với những mộng mị quỷ thi, hướng đến một thế giới cực kỳ quỷ dị, mãi vật vờ trong chốn u minh âm âm những bi lụy… thì hơn một ngàn năm sau khởi cuộc của Hoàng Lộc là những bay bổng trắng phau một trời mê mệt với tình một cách diễm lệ, chưa bao giờ nhòa phai; bởi tình từ thiếu thời đến thanh xuân, qua một thời bi thảm trại tù… và tới nay nơi xứ người, tình vẫn luôn sóng đôi với ông bước qua trời đông tuyết giá, qua những con đường mùa thu lá phong vàng, mùa xuân bướm hoa. Tình và ông cùng khoác vai nhau lúc ấm áp, khi lạnh buốt… như hai bóng hình trên con đường vạn dặm với những nhan sắc trần gian mà cả hai được “diễm phúc” diện kiến.
Không rõ tới khi nào thì trái tim ông giảm nhịp độ rạo rực để tình ông có những phút thanh lặng bên thơ và nhìn lại như ông tự hỏi rồi tự trả lời bằng những ngôn ngữ cười cợt, bông đùa, dù rằng, những cuộc tình bằng mắt ấy, nhiều khi cũng làm cho trái tim ông rơm rớm những run rẩy?
Ta đã ớn rồi cái nạn văn chương
bốn mươi mấy năm đi hoài không tới
bên quán trần gian ai người đứng đợi
có phải là em, cô vợ trần thân
có phải là em, thường gọi tình nhân?
ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp
bởi thứ giả vẫn nhiều hơn thứ thiệt
ngó trăm lần không rõ nổi vàng thau
nếu em hỏi ta ai là tình đầu
ta sẽ trả lời không ai tình cuối
như chú ngựa hoang mấy trời dong ruổi
gặm miếng cỏ nào cũng thấy thơm ngon
(bởi muôn năm ta thiếu đói trong hồn!) (Thơ viết dở cho vợ và tình nhân)

Ở một bài thơ khác, hồi tưởng lại mối tình cũ (không rõ thứ bao nhiêu) tan vỡ, Hoàng Lộc
không sử dụng ngôn ngữ bi lụy mà “cà rỡn” đến tận cùng cà rỡn, dốc bầu tâm sự với thế hệ thứ ba là cháu nội:
Tụi bây đâu cần biết ta là ai?
ta, như ông nội (mà hơn ông nội
chẳng quan trọng gì tiếng xưng tiếng gọi
ta là ai thì cũng chẳng ăn nhằm)
chỉ biết bà tụi bây thời thanh xuân
như trang kinh thi lắm thằng chụp giật
ta cũng có lần qua nhà đọc được
để đến nằm lòng từng chữ từng câu
chỉ biết bà tụi bây thời khuynh quốc
lòng hoa thơm học một tỏa mười
để hằng đêm ta chịu trời thức suốt
làm ngọn đèn chong cho bà bây vui
ta hồn nhiên yêu, hồn nhiên khóc
khi bà tụi bây yêu để lấy chồng
ông nội tụi bây ranh ma hết biết
bưng bà nội bây về bên kia sông
ấy thế mà nên giang hồ đại loạn
dẫu chút tình kia mơ hồ như mây
cả đời thơ ta là đời ân oán
(sinh du côn hơn ông nội tụi mày)
hãy nhận giùm ta một lời tạ lỗi
chuyện đời trước là chuyện chẳng may
tụi mày lớn lên chắc nhiều điều muốn hỏi
xin ngó lên trời mà hỏi mây bay… (Gửi lũ cháu một phu nhân)

Bàn về thơ tình và đời tình của Hoàng Lộc, có thể từ sáng tới chiều, từ tuần này sang tháng khác vẫn không thể nào luận cho tới hồi kết được. Và vì vậy, có lẽ mượn những nhận xét sau của bạn văn, đã viết về thơ và đời thơ của ông trên trang https://thotinhhoangloc.wordpress.com/ để ngã mũ bái phục tình thơ và thơ tình của ông:
-Du Tử Lê: “Không gian lãng mạn với ngôi ngữ mới và diễn tả trung thực, khiến những trang thơ tình của ông là những trang thơ tình rất đẹp. Tính đẹp của thơ tình Hoàng Lộc, đến nay không còn là một nghi vấn cho bất cứ ai từng đọc thơ ông”.
-Phan Xuân Sinh: “Viết về Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình. Mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mang mãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một”.
– Trần Doãn Nho: ““… tứ thơ, không khí thơ và trái tim nhà thơ thì dường như vẫn thế: yêu. Chan chứa yêu, đằm thắm yêu, say sưa yêu. Yêu không biết mệt mỏi. Ta có thể nói, anh bày ra “cuộc yêu” trong đời của anh và trong thơ của anh. Ở hoàn cảnh nào, Hoàng Lộc cũng có thể làm thơ tình một cách hồn nhiên, một cách bình thường, y như thể thế giới này không có gì khác hơn ngoài tình yêu trai gái, bởi vì suốt đời anh là một “đời tình”: Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình/ Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp”.
Bài thơ Mệnh Phụ là một minh chứng cho những nhận xét trên:
Em tóc gió trần gian kia quạnh quẽ
xưa tiểu thơ – nay mệnh phụ bên trời
khi diện kiến, ta run lòng ngưỡng mộ
nỗi bồng bềnh đau sắc áo hoa khôi
ta, có lẽ, bút nghiên chừng đã hỏng
tưởng không còn riêng ánh mắt tình si
sao vướng vất tiếng cười em sóng cuộn
mà oan khiên xanh ngắt buổi xa lìa
kể từ đó dấu đời ta mộng ước
quá chừng em áo mỏng thuở về ai
ta muốn chết một lần cho sắc nước
để em còn nguyên vẹn giữa tàn phai.

NGUYỄN LỆ UYÊN

_______________________

(1) Số chủ đề của tạp chí Văn về các nhà văn trẻ.
(2) Giải thưởng của TT Văn Bút Việt Nam tặng Hoàng Lộc với tác phẩm “Trái tim còn lại”

Tiểu sử:
Tuổi Quý Mùi (1943) Quê Hội An, Quảng Nam
Làm thơ, làm lính trước 1975. Sau 75 ở tù cải tạo và đang lưu lạc xứ người. Định cư tại Memphis Tennessee từ 1993.
Khởi viết năm 1958 trên Văn Nghệ Tiền Phong, Thời Nay. Sau đó có thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Khởi Hành tại Sài Gòn…Một số thơ trên các tạp chí văn học hải ngoại như Hợp Lưu, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21… và các trang mạng văn chương.

Tác phẩm đã in:
– Trái tim Còn Lại (giải thi ca Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1970)
– Qua Mấy Trời Sương Mưa, Văn Mới xuất bản 1999 ở Mỹ
– Cho Dẫu Phù Vân, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2012
– Ngắn ngắn Tình Si, nhà xuất Bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2016

Tác phẩm sẽ in:
– Thơ Tình Ở Hội An
– Thơ Viết Bên Trời,

MẮT LÁ

Hình như có mùa đông rất vội
Theo áo em về mấy bữa nay
Giòng sông xanh quá đôi bờ sóng
Ta bỗng nghe lòng chớm theo may

Hình như đôi mắt nào đi lạc
Len nhẹ vào tim một thoáng cay
Tình như là bụi hư không ấy
Phủi mãi, mà sao nhớ vẫn đầy

Hình như người ấy không đi lẻ
Có bạn lâu rồi ta đâu hay
Chiều nay qua phố nghe chim kể
Mới biết lòng không nhẹ hơn mây

Chục tách café trong quán đợi
Chẳng đắng bằng một thoáng mong ai
Chiều bâng khuâng rụng đôi bờ lá
Ngỡ mắt người dưng lúng liếng bay.

Mường Mán

Vọng cổ

anh nhấn nhá mần chi chiều châu thổ
thời gian thì có chờ đợi ai đâu
nước dưới kinh có nước lớn nước ròng
chớ ai biểu hẹn chi để ai lỡ bồi theo con nước
ngày anh đi
em giếm tay cọng cỏ bồng
bơi thúng nhỏ tiễn anh mà xoay tròn ửng hồng đôi má lúng
mẹ rầy em: là con gái giữ nết na châu thổ
không thương người mà phụ đất bỏ quê nghen!
em trở về
nghe chiều đứt mấy sợi dạ hoài lang
đưa ngón tay đếm nuột dừa chái bếp
tính tháng tính năm rồi tính mùa con nước nổi
nghe điên điển mé sàng lãng trước nhà rụng nhoè cả mùa em
hàng xóm hỏi em còn chờ đợi mần gì
người đến như sóng đưa lời ong tháng chạp
em tin mần chi trái mù u nhũng nước
phà qua sông rồi còn chở được mấy buồn mà ngoái theo
em giận đến tỉ tê cái la – dô sao hát hoài vọng cổ
mà ngộ, em mở đài nào cũng thiếu phụ, vọng phu
nằm đưa võng nhà sau lắc nhịp đời mà nấc nghẹn
em đưa tay ghì áo mẹ lén chùi nước mắt lại sợ cha
sáng nay nè
đi chợ xã hỏi thăm nhà
bà con ai cũng lắc đầu nói: người ở đâu tên nghe lạ quắc
nhìn mấy cái lắc đầu mà đau cả châu thổ anh ơi
em bị lạc giữa chợ chỉ có vài người
lạc tim châu thổ thì em còn biết chi nữa
mẹ vỗ vai chiếc bà ba em mặc
sao nghe tím người tím cả áo bà ba
về thôi con
về nhà với mẹ
cây ổi sau hè hồi nhỏ con trồng vừa chín trái đầu tiên
em xách cái giỏ trống không như lòng em trống
bơi xuồng dìa đựng tiếng bìm bịp dưới kinh
lòng nhắc lòng chiều nay con nước lớn
châu thổ mùa này buồn như vọng cổ quê em.


Trần Đức Tín

Hoạt Cảnh

Ngồi xuống đây, bạn hiền, cà phê đen hay sữa? Bạn tôi đứng lớ ngớ…rồi cũng ngồi thật ngoan!

Quán đó, người Việt Nam, Thứ Bảy thường…tao ngộ / bên tách cà phê nhỏ / người sữa hoặc người đen…

Tất cả đều…người quen, bởi đâu ai người lạ! Có người vượt biển cả, có người đi máy bay…

Tụ hội nhau ở đây…trên xứ người, rải rác. Ngồi tính sổ tản lạc, khói thuốc tản lên trời…

Hớp cà phê bay hơi / theo đời người viễn xứ. Có người cũng tư lự. Kệ nó, đây tự do…

Có người húng hắng ho…tại khói thuốc nhiều quá! Com xí và com xá. Đa tạ cái cuộc đời!

…nhìn cái cuộc đổi dời, nói vài câu…tục ngữ…mà cũng nghe đủ thứ / cái quá khứ nghẹn ngào!

*

Một người đứng dậy, chào
Hai người đứng dậy, chào
…rồi cái bàn trống hoác
Tiếng máy xe rời rạc, người về ngược, kẻ xuôi…

Ngày Thứ Bảy buồn, vui, rồi cũng thêm tuần lễ. Chữ Quê nhòa mắt lệ, chữ Hương mờ khói sương!

Trần Vấn Lệ