THƯ GỬI CHA BÊN KIA SÔNG BẾN HẢI

phuongtan

Tay ốm quá làm sao con che hết
Biển xô nhanh trên cùng suốt dân mình
Con rẽ bóng sống chung cùng rệp muỗi
Nỗi thật đen xòe đôi cánh đao binh.

Ơi giải phóng
phóng bùa vong bản
Tiêu máu nhân dân
đỏ phố đỏ cờ
Chân vô thức bủa quanh đầu cách mạng
Con gõ hồn thân bỗng úa mênh mang.

Trong hiu hắt dòng chim rừng quẫy cánh
Dắt dìu nhau trôi dạt bến bờ xa
Lửa cuồn cuộn chìm sâu vào sử sách
Cội chia nguồn và bóng cũng chia ta.

Con bấu mặt con tưởng mình xa lạ
Buồn đong đưa
buồn đọng xuống hoang mang
Nỗi chết đó đột nhiên thành ân huệ
Quê hương kia ôi màu máu kinh hoàng.

Con dại
con ngu
cam mình bất hạnh
Xin quay về chong đôi mắt xanh xao
Đứng ngó tổ tiên
ngó cùng dân tộc
Ngó xuống hồn thân bỗng úa mênh mang…

PHƯƠNG TẤN
(1964)

VỀ LẠI PHÙ DU

daolam

còn dăm tờ lịch cuối
đã meo mốc trên tường
làm răng ta dám gỡ
những tháng ngày yêu thương

ta cột thân vào đá
từng đêm nghe sấm rền
úp mặt vào gối lã
nghe mằn mặn nhớ…quên

con chim bay về núi
chiều thả nắng lên trời
còn dăm tờ lịch cuối
ta mô dám đánh rơi

dẫu chi rồi cũng hết
cũng mãi là thiên thu
ta nghe chừng thấm mệt
về lại chỗ phù du

Săm soi tờ lịch cuối
đã rớt xuống một ngày
biết đời là cát bụi
mà lòng vẫn khôn khuây

TA VỀ
LẠI CHỖ PHÙ DU
NGHE LAO ĐAO NHỚ
THIÊN THU MỘT NGƯỜI!

DAO LAM

Gió mùa thu anh ru em ngủ

nguyentri

Trước đám hỏi và sau đám cưới, thời gian áng chừng ba tháng, cho đến lúc cô Thu đẻ cư dân xóm Cây Me, bất kể, rảnh hay không, đụng mặt là cứ chuyện cô Thu mà loạn bình.
Thiên hạ chả hiểu cô Thu ôm cái ngàn vàng trong trèm những bốn mươi xuân, tại sao không chiếc bóng luôn cho rồi để chết làm con ma trinh nữ, lấy chồng chi cho khổ không biết nữa. Mà khổ, khổ thiệt chứ không hề giả.
Cô Thu bảnh lắm. Cha mẹ chết sớm để lại cho cô một cậu em trai và một mảnh vườn. Tuấn – tên cậu em -chuyên gia làm rau củ quả nên ngon lành ra phết. Cô Thu lĩnh lương giáo viên và thêm cái kèm cặp thì để sắm vàng. Tình thiệt mà nói phụ huynh thấy cô dạy giỏi là một , mẫu mực là hai, đẹp và hiền như cô tiên là ba nên năn nĩ lắm cô mới nhận kèm, cũng với điều kiện là học sinh kém còn trung bình đổ lên thì gia đình tự quyết lấy. Nhà cô dư ăn dư để, kèm lấy tiếng chứ không phải vì tiền đâu nghe.
Từ khi còn là nữ sinh áo dài trắng tha thướt cho đến tốt nghiệp ra trường ít cũng năm mươi anh theo cô. Con nhà giàu đẹp trai học dỡ cho đến nghèo vượt khó học giỏi, cả mấy tay đàn anh đàn ang cũng bám theo Thu. Có lẽ là anh hào đông quá nên Thu không biết chọn ai chăng? Vậy rồi các anh thấy không ăn thua chi với trái tim băng giá nên lấy vợ sạch bách. Chỉ còn lại một thằng, thằng nầy, sáng xỉn xỉn chiều xỉn thiệt. Sư bố nó, đồ ngu như bò – thiên hạ chửi đổng – Chửi cũng phải, người ta không yêu mình thì thôi, thất tình rồi dụng rượu giải khuây là đồ nhu nhược không bản lĩnh. Riêng cô Thu thì thơm và đẹp như tài tử cô còn lơ nói chi mùi hèm.
Thiên hạ mới hỏi thất tình tên Được rằng:
– Chừng nào lấy vợ mậy?
Được cười:
– Chừng nào Thu có chồng thì tui lấy vợ.
Mẹc xà lù – Vậy mà linh ghê nghe. Cô Thu có chồng thì đúng một năm rưởi tức mười tám tháng sau Được có vợ.
Vợ của Được đã có một con và chồng chết.
Mà khoan, để nói chuyện cô Thu trước cái đã.
***
Hai mươi tuổi Tuấn bồ bịch yêu đương với một cô thường đến nhà lấy rau củ quả. Cô gái mười tám tuổi tuy nghèo nhưng lễ phép và xinh xắn lắm. Năm đó Thu ba mươi tám xuân tình. Để kể cho nghe vì sao mà chị em chinh nhau chừng đó tuổi.
Số là bà má tội nghiệp của Thu đẻ duy nhất một mình cô, ở chơi với cô được mười bảy năm rồi cưỡi hạc về cõi trên. Cha Thu vốn nông dân chân chỉ hạt bột, ở vậy nuôi con thề không bước thêm bước nào nữa. Hai mươi tuổi Thu đẹp như tiên sa, ta nói… trai theo nườm nượp. Thu mà lấy chồng chắc ông cha héo rũ mà chết vì buồn. Vậy nên cô nói với cha như vầy:
– Ba lấy vợ rồi con mới lấy chồng. Con đi rồi ba ở với ai?
Tình thiệt mà nói. Trên đời nầy người ta có thể thiếu đủ thứ nhưng thiếu tình dục thì, xin thưa, thầy tu còn phá giới nói chi người phàm. Cha của Thu cũng người, mà đã là người thì chánh tà lẫn lộn. Chả phải trong chùa còn có ông thiện ông ác đó sao? Vậy nên trên đường đi cà phê với bạn chủ yếu đấu láo cho vui. Một hôm kia lời đồn lọt đến tai Thu có một sương phụ nửa chừng xuân lớn bụng với cha. Thu mừng lắm. Vì sao? Vì cô thèm lắm một đứa em. Một mình trong ngôi nhà thênh thang lắm nỗi cô đơn mà cô gậm nhấm. Sương phụ về nhà và cu Tuấn ra đời. Lan – tên bà mẹ kế – ở với chị em và cha cô được ba năm thì qua đời vì bạo bệnh. Buồn quá, ông cha tội nghiệp cũng ra đi một năm sau đó. May cho Thu là Tuấn còn nhỏ, mới bốn tuổi nên không đau lòng lắm khi cha mẹ ra đi, với lại năm hai tuổi Tuấn đã được cha gửi đi nhà trẻ trong giáo xứ nên ngoan lắm.
Cô giáo Thu nuôi em ăn học ngon lành. Kẹt cái Tuấn không đại học cao đẳng chi ráo. Tốt nghiệp mười hai xong cu cậu ở nhà làm vườn. Tốt chán. Số phận đã định cho mỗi người một căn phần, đâu phải muốn là được. Học không ra gì mà đòi đại học lấy đâu ra? Mà có ra chăng nữa thì cũng làm sao lớn khi đi không đúng hướng. Tuấn chăm chỉ với rau củ quả và bông hoa nên chả thua ai trong việc kiếm ra đồng bạc. Người vậy mà không yêu thì yêu ai hỡi các nữ lưu từ quyền quý đến quyền không quý? Tuấn yêu và quý chị hai lắm. Chị nói sao Tuấn nghe vậy. Chị kêu người đến cưa mấy cây mít, đào gốc lên dọn một nền để cất cho em trai cái nhà trước khi lấy vợ. Cô muốn đôi trẻ có không gian riêng muốn yêu đương hay làm chi đó tuỳ thích.
Và một trung niên bốn mươi lăm tuổi, vai u thịt bắp bởi sống bằng lao động tay chân đến nhận đào mấy gốc mít lên. Anh lấp cái thiếu, san bằng cái dư cho ra một nền nhà. Mười lăm ngày, vâng chỉ chừng ấy thời gian chả hiểu làm sao mà anh làm trái tim Thu bừng bừng dậy sóng.
Nhận thiếp mời đám cưới của người mộng. Được buồn như chấu cắn.
***
Càng buồn hơn khi sau một chuỗi những ngày đóng vai hiền, gã vai u thịt bắp lộ diện là một thằng không những vũ phu mà còn đào mỏ. Chao ôi cô giáo ngây thơ và hiền diệu đâu ngờ mình sa vô bẫy tình do giang hồ gộc giăng sẵn. Nó tạm trú tại xứ cô. Nó tán tỉnh cô bằng chiêu ít nói và đăm chiêu. Nó huýt sáo nhạc buồn nghe hay khôn tả. Chỉ vì cái ngón huýt sáo nầy mà cô Thu đắm đuối vô tình. Cái tình yêu thuở con gái do kiêu hảnh là một, do bổn phần là hai bị nén lại nay có dịp bung ra. Nó khiến cô thấy đời đẹp quá, xinh tươi quá. Nó xinh cho đến độ mà chỉ sau hai tháng quen biết cô đã lo tổ chức đám cưới gấp. Đám ra mắt cũng do cô tự biên tự diễn bởi người tình của cô chỉ có cái các tút. Không làm cho lẹ cái bụng nó đội áo thì danh dự một cô giáo quăng vô đâu? Thiên hạ nói khôn ba năm dại một giờ. Nói vậy là sai. Yêu thì khôn dại biết ngõ nào mà lần. Đúng không?
Ở đó mà đúng với sai. Ngay lập tức kẻ gian manh hiện nguyên hình. Rất nhanh chóng dây chuyền cà rá trên cổ trên tay cô gái lỡ thì ngây thơ bốc hơi. Kẻ lậm tình thì mù con mắt chứ người ngoài cuộc thì đâu có đui. Chuyện gã chồng nướng tiền vô sòng bạc và đề đóm nhanh chóng đến tai cô Thu. Khi cô hỏi chiếc xe tay ga cô sắm cho đâu rồi? Nó liền xáng bạt tai vô mặt kẻ bụng mang dạ chửa không thương hoa tiếc ngọc chi ráo. Vậy là cậu em tên Tuấn nổi điên lên và anh em ra xung đột. Thằng giang hồ mạnh hơn, kinh nghiệm chiến đấu nhiều hơn, lý lẽ hơn. Nó gối lên chỏ xuống sao đó mà Tuấn bị trặc tay phải đi bó thuốc nam. Thằng khốn lí luận rằng vợ tao tao tao dạy không mắc chi tới mày. Yến – vợ Tuấn – na cái bụng lặc lè như chị chồng – lôi chồng về nhà mình. Chả là hai chi em kẻ lấy chồng người lấy vợ chinh nhau có một tháng – Tức ói mật nhưng mà biết làm sao?
Tội nghiệp cho gã si tình tên Được. Gã chép miệng khi thấy cô gái thường xuyên không mắt trái thì mắt phải bị bầm. Nhân danh bằng hữu Được hỏi thì cô nói bị té va vô cạnh bếp mà ra vậy. Cái chép của si tình nghe buồn gấp chục lần con thạch sùng. Thạch sùng chỉ tiếc của mà thôi còn Được tiếc cái tình mình ban ra mà không hề thu lại. Buồn cũng là phải lắm. Chao ôi người Được yêu biết khổ rồi. Cô con một nên sướng như tiên sa. Thậm chí nuôi em lúc mới bốn tuổi, cho em ăn học tuy vất nhưng lúc ấy cô đã là cô giáo. Với lại Tuấn còn có bà ngoại chăm sóc đỡ đần. Bây giờ tươi vui đã mất trong mắt cô. Thu đi ngang qua Được mà đăm đắm về trước như không thấy gã. Buồn ơi buồn. Và buồn nên Được mua xị rượu ngồi nhâm nhi. Đúng là đồ nhu nhược.
Nhưng chuyện đâu chỉ ngừng ở đó. Một hôm kia đang nhâm nhi Được nghe có tiếng ầm ỉ bên nhà người mộng. Thấy ta bà hiếu kỳ xúm xít. Được chạy lại thì thấy thằng vũ phụ nằm úp sấp xuống nền gạch. Trong tay Tuấn đang là một cây cuốc. Được chạy đến bên gã vũ phu, lật người lại thì gã chết rồi.
Láng giềng kể rằng:
– Ổng đánh cô Thu. Ừ… tui thấy rõ ràng ràng… Anh Tuấn chạy vô can ổng đánh luôn anh Tuấn, rồi chửi thề inh ỏi, tui nghe ổng nói mày không đưa là tao cho mày chết bữa nay. Ý là ổng đòi tiền đi đánh bài, cô Thu không đưa là ổng chửi. Vụ này diễn hoài nên tui rành… Tui đứng bên bờ rào thấy anh Tuấn chạy, ổng rượt theo. Anh Tuấn chụp được cái cuốc nên đánh lại…
Đơn giản vậy mà gã vũ phu chết. Tuấn bị bắt.
Thiên hạ bàn tán xôn xao. Ai cũng thương cho hoàn cảnh của hai bà bầu. Vợ Tuấn thì còn có cha có mẹ có anh em. Họ đưa con về nhà chờ đợi. Còn Thu? Người ta thương là thương vậy thôi chứ ai đâu mà gánh chuyện bao đồng?
Vậy là thằng si tình tên Được nhân danh bằng giúp cho hữu đi qua thì nguy biến. Thiệt là quý hoá. Bè bạn giúp nhau lúc nầy chứ lúc nào nữa? Vậy mà thiên hạ lại nói thằng si tình Được là đại ngu. Người ta ăn ốc còn mình đi đỗ võ. Đúng là miệng thế không biết đâu mà lần.
Ai nói chi nói Được cứ làm cái mình thích.
***
Trời ạ! Không phải gì thích cũng thú vị đâu nghe. Cô Thu héo queo như tàu chuối khô. Khóc mà chẳng biết khóc cho ai. Cho mình, cho em trai hay cho thằng vũ phu khốn kiếp. Khóc kiểu nầy hại cho thai nhi lắm Thu ơi. Được khuyên nhủ cô giáo như vậy. Chuyện dạy học xem như bỏ rồi chứ còn chi nữa. Gã si tình ngoại trừ an ủi vỗ về còn phải chịu đựng cái trái người dỡ tính của kẻ lần đầu vượt biển. Cô Thu ói mữa, thèm chua. Vừa ăn chua cô vừa khóc. Lâu lâu cô lau nước mắt nhìn Được sụt sùi mà rằng:
– Em cám ơn anh không biết sao cho xiết anh Được ơi. Không có anh chắc em chết. Mẹ con em qua thì nầy là đội ơn anh kiếp nầy thêm kiếp nữa anh ơi.
Chưa hết đâu nghe. Cô Thu vượt biển thành công cho ra đời một bé gái xinh như mẹ vậy. Ô hô… thiên hạ bò ra cười. kháo rằng thằng Được nó nựng con nhỏ như con nó mấy cha ơi. Thiệt là… là sao? Là cái gì? Thì nó chăm từ khi trong bụng con nó cũng được chớ có sao. Đúng không? Đây rồi hai đứa nó vô một cặp cho mấy ông coi. Nói vậy chứ vô công rỗi nghề, nhất là những kẻ trước đây có thời thất vọng vì Thu cong môi mà mỉa mai, chê tao hả? cho đáng đời. Rồi ngồi bên bàn tửu hậu trà dư chúng hát ru rằng gió mùa thu anh ru em ngủ, em ngủ rồi anh cạy tủ anh đi í i đánh bài. Thằng khác tiếp thu đi để lại lá vàng, anh đi để lại cho nàng đứa con.
Được nghe hết. Nhưng anh yên lặng. Cả những lời mai mỉa dành cho mình Được cũng chẳng quan tâm. Anh có quá nhiều việc phải cáng đáng. Nào ru con bé cho Thu ngủ, nấu cơm cho sản phụ ăn. Còn phải giặt tả và áo quần cho sản phụ nữa. Anh không làm thì ai vô để giúp Thu đây? Thậm chí ngồi nhâm nhi chén rượu cho tiêu sầu cũng không có thời gian. Hơi sức đâu mà nghe lời thiên hạ. Được còn phải tiếp một tay với gia đình của Yến, năn nĩ kẻ làm chứng duy nhất ra toà nói thiệt đuôi đầu để – sao cho – Tuấn chỉ ngộ chứ không hề cố sát. Bận lắm, lắm lắm.
Nhưng mà Được là ai vậy kìa? Động cơ nào khiến gã đàn ông bốn mươi lăm tuổi nầy lao vô chuyện bao đồng? Yêu chăng? Tất nhiên rồi. Xứ nầy ai chả biết Được yêu Thu và thất vọng những chừng ấy năm trường. Nhưng bây giờ sự thật rất chi cay đắng và nặng trịch. Cô ây đang ôm con của cô mà khóc. Phải chi ôm mày thì còn có thể…. Mày ngu quá xá Được ơi. Thiên hạ nói vậy. Lại thêm rằng:
– Ê… tui nói cho mấy ông nghe nè. Vụ nầy bây giờ tuy bất thường nhưng còn thở được chứ hai mươi năm nũa là nghẹt thở cho mấy ông coi.
– Sao?
– Hai chục năm nữa con con Thu sẽ biết cha nó bị cậu nó cho một cuốc mà chết. Lúc đó sẽ có hài kịch Dương Quá vung chưởng đánh vợ chồng Quách Tỉnh như trong phim Thần điêu đại hiệp cho mấy ông coi.
– Ừ há… có lý đa.
Nhưng ở đời có kẻ ghét ganh đố kỵ thì cũng có người thương:
– Ừ há với có lý cái con khỉ. Thằng Dương Quá được ông Kim Dung diễn tả ra giang hồ từ tấm bé, nó chơi với Âu Dương Phong và học Hàm mô công với ác ma nầy khi chưa sạch cứt mũi. Vậy nên hoang dã và rú rừng. Còn cô Thu là cô giáo. Mấy ông còn gửi con mình cho cổ kèm. Chả phải là cả xứ nầy ai cũng khen con mình ngoan hơn khi học với cổ sao? Vậy thì liệu con người ta có ác khi được nuôi dạy trong môi trường nhân ái? Tui nói vậy mấy ông nghe kịp không?
– Ờ… thì… nhưng mà… cũng tội nghiệp cho thằng Được quá…
– Có gì mà tội với chả chả nghiệp? Xứ nầy ai cũng biết nó yêu đến mụ người. Yêu thì đỡ cho người mình yêu có chi đâu lạ? Đúng không? Mấy ông tin đi. Rồi đây nó và cô Thu sẽ ra một cặp cho mà coi.
Quả là nhân bảo như thần bảo. Bây giờ thì Được có con luôn rồi nói chi vợ.
Chỉ mười tám tháng sau khi Thu lấy chồng Được cưới vợ.
Vợ của Được có một con riêng.
Nguyễn Trí

Trượng phu (2)

tonnuthudung

Trượng phu đâu cần nốc rượu
Vẫn say lúy túy quên về
Trái tim đâu cần loạn nhịp
Vẫn chìm đến cuối cơn mê.

Trần gian muôn đời mắc nợ
Sao không khoác áo lên đường
Tội chi ngồi ôm tâm sự
Từng chiều gặm nhấm cô đơn !

Tôn Nữ Thu Dung

DẤU CHÂN CHIM.

ngoducdiem

Em mang mùa thu vào lớp học
Phấn trắng ngỡ ngàng trên tay anh
Mây trời bỗng hạ xuống thật thấp
Chữ nghĩa vỗ cánh bay rất nhanh.

Mắt nào xa xôi như huyền sử
Bước ai nhẹ quá bàn chân chim
Thơ ngây len vào từng ngón nhỏ
Áo lụa chập chờn nắng thủy tinh.

Mùa thu cúi mặt trên trang giấy
Nét buồn lay ngọn cỏ ngất ngây
Mười ngón rưng rưng trời muốn khóc
Môi hồng sỏi đá lên cơn say

Bàng hoàng gió qua hồn bỏ ngỏ
Bụi phấn lất phất theo mưa bay
Bảng đen chiều nay thênh thang quá
Vòng tay lạc lối ngoài chân mây…

Ngô Đức Diễm
(1972)

Ở ĐÓ…

buidiep
Mỗi khi nghe Khánh Ly hát Căn nhà xưa của Nguyễn Đình Toàn lòng tôi xao xuyến khôn nguôi. Một nỗi ám ảnh mơ hồ như là một món nợ ân tình nào đó cứ cồn cào, cắt cứa bằng những kỷ niệm buồn đau và u uẩn vào tháng ngày ngỡ đã bình yên và khuất lấp giữa dòng đời.
Ở đó…
Xóm Cồn nhỏ bé và hiu hút bên cửa sông Dinh lao mình ra biển. Những ngôi nhà vách đất mái rạ hoặc lá dừa nước. Những khu vườn nhỏ trồng ngẫu hứng rất nhiều cây trái vì chỉ để nhà ăn chứ chẳng bán buôn gì. Những đứa trẻ hàng xóm vui đùa với nhau bất kể ngày đêm, chẳng thiết tháng năm. Chúng chạy từ nhà đứa này sang nhà đứa khác không theo cửa ngõ mà chỉ leo rào tre hoặc chui xuyên vách lá dừa. Nhiều đứa không được đến trường hay chỉ vài ba lớp đầu đời chỉ đủ “đánh vần xuôi, vần ngược và viết mấy chữ thăm bồ” là được. Tuổi thơ còn ở đó…
Đôi chân ta đi, sông còn ở lai (TCS). Tôi xa quê nhiều năm theo chữ nghĩa. Người thân vui mừng, bạn bè xóm nhỏ hy vọng. Nhưng rồi tôi cũng trở về. Ở đó sông Dinh…. Có những chiều sau những nhọc nhằn công việc ruộng đồng, phút thảnh thơi ngồi ngắm sông trôi mới biết đời còn lắm bao dung. Hình như bờ lau trắng tóc vẵn thản nhiên vi vu trong mùa gió bấc. Hình như bờ xương rồng ngày thằng bé bẻ gai cho má lên chợ Dinh bán rổ ốc gạo, ốc quắn, vẫn hồn nhiên trong nắng nở hoa. Hình như những đứa trẻ xóm Cồn mấy mươi năm rồi vẫn vậy, đen nhẻm, gầy hiu, ồn ã và chân tình. Nhìn thấy tôi mướt mồ hôi cuốc đất có thằng bé dẫn bò gặm cỏ dọc bờ sông cười cười rồi phán, chú cuốc đất chậm rì mà còn dồn đống, làm vậy ai thuê. Tôi cười rồi hỏi lãng sang chuyện khác. Hỏi cháu học lớp mấy rồi, cháu bảo lớp 6 mà nghỉ rồi. Vì sao? Ba con nói học nhiều như chú rồi cũng đi làm rẫy…
Ở đó. Tôi nợ xóm làng và bạn bè tôi một lời xin lỗi. Tôi ray rức vì mình chưa minh oan cho “chữ nghĩa” rằng không nhất thiết đi học để làm gì. Nhưng cơ hội cho tôi thật ít ỏi. Tôi không thể vẽ vời bướm hoa trước một đời sống không có chỗ cho những điều mộng mị.
Tôi lại ra đi. Hỏi có còn thương nhớ quê xưa. Sao mà quên. Vậy sao bỏ làng bỏ xứ. Chẳng lẽ tự nhận mình là con chim bay đi tìm đất lành lượm thóc. Nhận vậy chim sẽ trách mà rằng, chim dù biết chiều tối mà vẫn bay về núi, có ra sao thì ra.
Ở đó. Bao giờ? Chỉ mong sao…

BÙI DIỆP

 

DƯỚI THỀM CỎ HOA

nguyenducbatngan

hoàng uyên dừng gót chân cầu
hồn mưa ngại nắng hoen sầu cỏ cây
em còn lại nhịp đôi tay
trao anh phiến nguyệt theo ngày lãng du

này em đừng ngại sương mù
theo anh về kịp mùa thu cõi ngoài
uống hoài những giọt sương mai
này em cụng chén quan hoài lãng quên

thôi thì ép lại trong hồn
có ăn năn cũng phai mòn dấu chân
này em nhớ lối hồng ân
để mai sau trở lại trần nghe em

à con nước ngủ êm đềm
theo giòng nhật nguyệt dưới thềm cỏ hoa
thôi em đừng ngại trăng tà
mốt mai rồi cũng chia xa cõi lòng

nắng vàng sợi tóc em hong
hồn say bóng động nghe lòng viễn du
mai rồi ướt giọt mưa thu
vàng cơn nắng lụn sa mù dưới chân

ngày, mắt em đẹp vô ngần
nước mây cũng luống phân vân ngại ngùng
đêm, mắt em biếc như nhung
anh nhìn lòng bỗng vô cùng reo vui

đừng nghe mưa xuống hiên ngoài
bâng khuâng lòng chợt u hoài rưng rưng
này em năm ngón ngập ngừng
đại hồ đã vỡ xin đừng xót thương

chừ nghe tình đã phai hường
em xuôi về mộng hoang đường gió se
rồi mai mốt có quay về
xin em đốt hết hẹn thề nghe em

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

THIÊN SỨ SỐ 3

linhphuong

Ly nữa rồi ly nữa
Rượu uống hoài không say
Trái tim nồng muôn thuở
Máu nhỏ xuống bàn tay

Ngực gầy run tiếng nấc
Cho buổi sớm mai này
Ta xa nhau mãi mãi
Cuộc tình như bóng mây

Thôi thế nhé ! Từ đây
Ta ngàn năm cách biệt
Thiên sứ giờ đã chết
Giữa đời thường- đời thơ

Ly đầy rồi ly vơi
Rượu uống hoài chưa cạn
Tình yêu thì quá ngắn
Tựa một giấc chiêm bao

Thiên sứ làm ta đau
Hết kiếp đời khốn nạn
Trời ơi ! Sao ta vẫn
Thương hết dạ- hết lòng

Ta uống rượu- ta buồn
Viết những lời trăng trối
Gởi em -người tình phụ
Ta theo Chúa về trời…

LINH PHƯƠNG

NGƯỜI GÙ

trusa

Một tủ gỗ chẳng có gì ngoài những cuốn sách đã nát bươm tới mức không thành một trang giấy. Loại gỗ gụ nên rất bền. Theo lời kể, cái tủ này là gia bảo của dòng họ ông. Từ đời tằng tổ để lại. Riêng thứ sách cũ mốc thì do ông tích trữ. Rất nhiều sách. Nếu đếm từng quyển có lẽ tôi phải mất hơn ngày. Cái tủ xây cao sát trần và kéo dàiốp quanh bốn bức tường. Lúc mới bước vào, trừ việc ho sù sụ vì bụi thì tôi đã lầm tưởng rằng tường hầm được khoét sâu để cất sách. Như mọi tủ kệ, cái tủ này cũng được chia tầng. Các ngăn bằng phẳng và sâu ướm vừa một bàn tay. Sách chất chật cứng. Chúng xếp ngang, chếch chéo, nằm chồng lên nhau, quay gáy ra ngoài. Bụi và mạng nhện bện dày như cái kén màu xám đục. Lối ra vào, cũng là cửa thông gió duy nhất luôn mở. Tôi nghĩ cổng cầu thang mở để không chết ngộp trong hầm. Ông, một người quá già so với những thượng tuế ở Phố. Tôi ít được nghe về ông ngoài việc ông từng giết vợ. Ngộ sát, hoặc đại loại thế khi ông cố rút mũi tên cắm trong lồng ngực vợ mình. Có lẽ ông đã rút quá mạnh, hoặc vợ ông quá yếu để trụ vững sau lực chấn động khi rút tên. Phố này kéo dài, nối liên miên. Tôi ở dãy đầu còn ông ở cuối. Thời thơ ấu, tôi đã chẳng biết ông. Mọi bàn tay trong phố ít nhiều đã sờ lên người tôi, trừ ông. Tôi chắc ông đã chẳng để ý dãy phố có bao nhiêu đứa trẻ và là con nhà ai. Ngày đầu gặp tôi đã nói tên, số nhà, tên cha mẹ như một sự thành thật.Tiếng “Vào đi” thay giấy thông lệ để từ đó tôi lui tới thường xuyên chỗ ông. Cũn gngày đầu, ông đã mời tôi kẹo, bánh. Một ấm trà được pha lại từ bã buổi sáng. Trong nhà ông chẳng còn ai. Người nhà ông li tán khắp năm châu. Đứa con ôngchết trong bụng mẹ trong lần sơ tán cuối cùng, trước khi về Phố. Vợ cũng đã qua đời.Ông không bị tù, chỉ nhận án treo. Với ông, mất đi người vợ đã là bản án nghiệt ngã nhất. Ông bị gù, không do tuổi già. Râu tóc ông bạc phếch, da bèo nhẽo với nhữngchấm đồi mồi và gân xanh, đấy là tuổi già. Vốn là người siêng lao động nên đến từngtuổi này bước chân ông vẫn vững. Chuyện cắt tỉa sân vườn, nhổ cỏ dại hay sửa mái ngói ông đều tự làm. Cái lưng gù của ông nhiều khi như đường móc của cầu vồng.Tôi nói với ông “Gù bẩm sinh, có phải trò đùa của Tạo Hóa.” Ông nói “Tạo Hóa chẳng bao giờ nghiêm túc, còn con người thì luôn thích đùa.” Ông ít giao du với người ở Phố. Thực ra những người đồng tuế thì đã quá yếu và chỉ quanh quẩn trong nhà bằng những bước chầm chậm như con rùa kéo lê bộ mai.Lớp người sau ông một chút, thuộc vào thế hệ tiếp nối hoặc hạt giống như tôi, ông cũng không bắt chuyện, ai chào thì ông chào lại còn thì đường ai nấy đi. Ông như con đại bàng ẩn dật cả cái bóng dù vẫn đủ vuốt, mỏ để lột xác một lần nữa. Có lẽ vì vậy không mấy người chú ý đến ông. Những ngày lễ bắn pháo hoa, cả phố tưng bừng. Ai cũng ra đường sau khi đã trang trí cửa nhà thật đẹp. Ông ở nhà cấp bốn, mái nhà nửa ngói nửa tôn, gạch nhà nứt toác thành những rãnh dài, tường rụng rời. Từ ngày buồng vệ sinh bị sập ông thành khách quen của vệ sinh công cộng. Việc tắm giặt ở ngayngoài trời, với một chậu một gáo. May rằng bể nước nhà ông không hỏng chứ khéoông phải tắm lúc trời mưa hoặc tắm khô như mèo. Ông có cái sân rộng nhưng ông chỉ1
tỉa cỏ dại, loại cây nào vô tình mọc trên đất nhà ông thì ông chăm chút. Tôi gõ cửa.Ông bảo tôi vào với ông hoặc giúp ông kéo cửa như một lần đóng cửa thật chặt. “Ông không thích người ta à?” “Con người, quý lắm. Chỉ là càng sống càng khó kiếm người.” “Ở đâu chẳng có người hở ông.” “Ở đâu chả có người nhưng người ở đâu.” Hầm sách của ông luôn làm tôi khó thở. Dường như đã quá lâu ông không quét dọn. Tủ chưa hề mục. Riêng sách thì đã mủn nát. Mấy cuốn lành, thì cũng nham nhở như bị xé nhỏ. Tôi chẳng đọc được chữ nào. Cuốn long bìa, cuốn bìa đã bạc hết màu,có cuốn thì vừa cầm lên đã rụng lả tả. Mở trang nào cũng thấy bụi. Nhiều lúc tôi còn thấy mọt chạy thành đàn. Giữa gian hầm, có dựng cái ghế mây. Ghế cũng cũ, bụi đóng trắng như một mô hình tuyết. Dù ghế lúc nào cũng cót két nhưng ngồi vẫn chắc.Cạnh ghế, luôn có một ngọn đèn cầy. Thứ ánh sáng vàng mỡ cháy quanh hầm như một mặt trời tí hon. Đã nhiều lần tôi vào đây, rồi ho sù sụ. Mấy lần sau tôi đeo khẩu trang. Riêng ông thì vẫn lui tới thường xuyên. Không một mảnh khẩu trang hay khăn tay. Nhiều khi ông còn hít ngửi rất sâu. Lúc tôi mang đến cây phất trần và chổi để cùng ông dọn hầm, ông đã bẻ đôi từng thứ một. “Cũng phải dọn dẹp cho sáng sủa chứ ông.” “Kì cọ, lau rửa, chỉ làm gương sáng chứ chẳng sạch bụi. Hầu hết chúng ta tin cậy ảnh chiếu trong gương là mặt mình. Trăng trong hồ cũng là trăng nhưng chẳng phải trăng. Các bản sao đã thống trị cả sơn hà này và đội lốt bằng ti tỉ thế thân.” “Bụi bặm thế sẽ sinh bệnh đấy ông.” “Quỷ đồng lõa với bụi bặm hơn là dịch bệnh.” Lối cầu thang lên xuống hầm luôn mở. Ông ngồi trên ghế mây, lửa đèn cầy chao nghiêng như điệu nhảy chú lùn. Mắt ông nhìn quanh những giá sách. Bụi bặm rụng từng mảng hễ ông giậm chân quá mạnh. Tay ông lúc vắt trái, khi vắt phải. Rồi ông ôm đầu. Tôi từng thấy ông mở sách. Từng cuốn, từng cuốn. Không cuốn nào nguyên vẹn, dù chỉ một phần tư trang. Tôi tự hỏi ông tìm gì ở số sách cũ đã nát bươm đó.Hay, ông vốn đọc làu chỗ sách đấy. Ông mở sách chỉ để kiểm tra lại trí nhớ. Suy nghĩcủa tôi bị bẻ ngoặt khi thấy ông sờ lên mặt sách. Ông lật từng trang. Lật bìa, rồi lật đi lật lại. Mắt ông nhìn đăm đăm, thế rồi ông gấp sách và cất trở vào tủ. Ông đi lại mộtlúc quanh tủ sách bốn mặt, lần tay vào từng gáy sách. Ông lấy đúng cuốn mình đã cất trước đó và mở. Việc quan sát ông chầm chậm, không để vang tiếng thật thích thú.Bụi và mạng nhện lúc nào cũng dính trên tóc, vương mảnh trên mặt, vai áo. Nhữnglúc ông trầm ngâm nhìn trang sách, tôi tưởng rằng ông đang mặc niệm cho một thế kỷ bị lãng quên. Một lần nữa, ý nghĩ tôi bị bẻ ngoặt. Đấy là khi tôi thấy ông miết nhẹ ngón tay lên cuốn sách và liếm. Cái liếm chậm rãi lúc thì lên bìa, khi thì ở gáy, có lúc lại ở một trang bất kì. Một cái vấp chân, rồi tiếng ho vì bụi hầm không làm ông giật mình. Vẫn cử chỉ dấu yêu bằng cái liếm, cái dụi mặt. Sự nâng niu quá đà của ông với tủ sách cũ khiến tôi nghĩ đến việc ông đang ngấu nghiến những hồi ức về người vợ.Đã nhiều lần tôi hồ nghi việc liếm sách đấy là một tưởng tượng về cuộc tái sinh các phế tích từ một cái lưỡi lão hóa. Nếu còn đủ răng, liệu ông có nhai…
Người ở Phố bảo ông gàn. Số sách của ông vẫn nhiều người biết. Hẳn có người còn thấy nó khi còn vẹn nguyên. Mấy bô lão chỉ xua tay, tránh né lời thắc mắc của tôi. Sách gì, thể loại gì. Chữ gì, và viết gì. Những câu hỏi đổ dồn, chạy vòng quanhđầu tôi trong những ô trống. Có lần, ông nói với tôi. “Sách là cái tim đen luôn bị đánh tráo của quá khứ. Dù bao nhiêu thời đại nữa thì sách vẫn là bửu bối của trời. Văn minh của loài người là ngôn ngữ và chữ viết, trong đấy chữ viết là thứ trường cửu khi đóng thành sách. Những điển thư bất tử. Thập kỷ qua, chữ viết đã xuống mồ và bị quật mả nhiều lần để thành bù nhìn, đồng sự của quỷ dữ. Chúng tụng ca bằng những bài hát nhai xương uống máu, nhảy nhót trên những xác người còn ấm, còn nhúc nhích, chúng trồng cây trong óc người sống và tận diệ tthủy tổ bằng năm mươi cuộc săn trên rừng, năm mươi cuộc săn dưới biển. Sách đổ máu không đổ chữ. Chữ là máu không là sách. Trong lúc ông ngồi trong hầm, huơ hoắng tay, hít ngửi thứ bụi chồng chất hàng thế kỷ thì tôi đi lùi phía cầu thang. Nếu đèn cầy đột ngột tắt, ông vẫn ngồi. Ông hỏi tôithấy gì khi đèn đã tắt. “Không gì cả.” “Thế khi đèn bật.” “Tất cả.” “Chắc không?” “Cháu nhìn được. Trời sáng hơn bởi đèn.” “Người mù luôn thấy tối nhưng không phải trời phủ bóng đêm. Người mắt sáng khó nhìn ra bóng tối của người mù và không thấy đường dù không mù. Nguyên thủy của bóng tối không màu đen.” “Sau cơn mưa trời lại sáng mà ông.” “Sau cơn mưa, trời tạnh. Vẫn tối.” Vợ ông chết vào một buổi tàn minh, tôi tin thế. Viễn cảnh của sự lìa đời là hơi thở trút cạn không còn gì. Cái chết chậm rãi như cánh cửa khép từ từ, hoặc đột ngột như mặt trời cuối cùng bị bắn rụng giữa ban ngày. Hơi thở vợ ông sẽ bay vút như đôi cánh, mỏng mảnh như khói thuốc lá hay chờn vờn đứt đoạn như con cá bay khỏi mặt biển chốc lát rồi lại chìm xuống biển? Tôi không biết, cũng không dám hỏi ông. Vườn nhà ông nhiều bia mộ. Chia hai dãy và chẳng có tên. Người nhà ông chẳng nhiều đến thế. Ông vẫn nói rằng sinh mạng là những gì sống và từng được sống. Một nhành hoa, một xác người đều bình đẳng khi vùi trong đất. Người ở Phố đã quên béng ông. Tôi nghĩ họ vờ quên. Một dị hợm so với những đồng đẳng bằng nhau. Phần khác vì cái sân với đầy rẫy bia mộ lại là một xúi quẩy. Mỗi tai ương xảy đến người ta có quyền đổ thừa ông. Trước những vu khống ông đều im lặng. Cái bóng gù lẩn khuấttrong cộng đồng lưng thẳng, lưng dài nhưng sẵn sàng còng trước mũ cánh chuồn. Nhà ông không treo biển Gia Đình Văn Hóa. Phố không cấp cho ông và ông cũng không xin, mặt khác một ông già sống cô độc thì chẳng thể gọi là có gia đình. Tôi vẫn tìm đến ông. Một ngày, tôi thấy ông cắm bia sau vườn. Không hề có áo quan. Dưới lòng đất chỉ có sỏi và đất. Ông đào một rãnh, rồi táng mộ. Tôi hỏi ông “Tại sao nhiều bia mộ đến thế.” Một tiếng thở nửa chừng, rồi một cái cười nhẹ cũng tiêu biến nửa chừng nhường chỗ cho một tiếng ho ngắt quãng. “Quả đất này đã quá nhiều ma. Chúng ta sinh sống, ăn lộc từ ma và tranh luôn đất của ma.” “Bởi vậy ma đành nương náu trên thân xác người.” – Tôi nói với ông. “Nguồn gốc của ma là người.”- Ông nói với tôi, nói với vườn bia mộ. Rồi, ông xòe đôi bàn tay – “Hóa thân của người?” – Lời ông rót vào hai lòng bàn tay dày kín những lớp sẹo. Chẳng thể thấy dù nửa cái hoa tay hay nửa nét chỉ tay. Ông không ở ngoài vườn. Lúc này, ông xuống hầm. Những cuốn sách sẽ được lật ra và ông hít hà lớp bụi đóng. Ông vươn người, xòe tay trong tủ sách bốn mặt. Có thể lúc này ông đang xâm nhập vào những thế kỉ cũ, đối ẩm với các đế vương và và vụng trộm với những vưu vật thời hồng hoang. Ông. Một người gù. Dãy Phố nhộn nhịp cờ đèn. Biểu ngữ giăng khắp nơi. Các lễ hội, những tiệc tùng thâu đêm, rồi thì những cuộc đua xe mừng thắng bóng đá, pháo hoa đỏ ngầu trời nối dài từng ngày, tháng. Đâu đấy, những trung tâm nạo phá thai mọc chồng chéo để đồ tể giống người. Đâu đấy, bạt ngàn cây bị chém đổ cùng lúc như bản án tru di dòng tộc. Đâu đấy, mỗi giây Thần Chết bắt được một hồn. Cũng đâu đấy, đàn đàn người quần tụ, lắc lư trên bàn nhậu như lật đật. Cái hầm sách cùng hai hàng bia mộ là điềm gở của Phố. Một thứ lạc hậu, hão huyền và nằm ngoài lề thời đại này. Đám trẻ lớn lên, già đi mà chẳng biết có một người gù luôn lang thang trong bóng tối, mong tìm một bát nước cứu khát. Tôi về lại chỗ ông. Lần này ông không đón tôi. Cửa xuống hầm vẫn mở. Bụi đóng dọc quanh lối lên xuống. Đèn cầy đã tắt. Tôi mang theo một ngọn nến. Bụi đóng dày mặt sàn, ngập đến mắt cá chân. Tơ nhện giăng khắp ngóc ngách và cũng dày lên,trắng đục như lớp mây khổng lồ. Không thấy bóng nhện nào. Một cái hắt hơi làm bụirụng từng mảng. Như tiếng hét trong xứ tuyết phủ, bụi chuyển động rồi rơi ầm ầm.Tôi phẩy tay, hất mạnh để tránh những mảng bụi quá to nện vào đầu. Ông ngồi trên ghế mây. Ông đã chết. Bụi kết tảng, vùi lấp chỉ để chừa cái đầu lâu. Phủi bụi, tôi thấy một bàn tay xương chống cằm. Không thể gỡ bàn tay khỏi cằm, tôi để thế. Một khung xương người gù suy tư. Tôi gạt ngọn đèn cầy trên bàn và nhỏ sáp, cắm nến. Hầm sáng rõ. Sách đã không còn trên bốn mặt tủ. Chúng nằm xếp thành những hàng, những tầng dài dưới đất và bao quanh chỗ ông ngồi. Tủ sách ngủ trong lớp bụi dày. Số sách nằm mặt đất không biết đã ngủ chưa hay hẵng còn thoi thóp chừng nào những chữ bị cắt xẻo còn chưa bạch hóa. Tôi hít một hơi sâu. Bụi đi vào mũi và tôi nuốt lấy như đang nhai một phần quá khứ ông. Trong kho sách tàn mục, rách nát ông là một nét phẩy. Mang theo hài cốt ông, tôi lên cầu thang và ra sân. Những bia mộ rêu phủ. Cỏ mọc rậm cả mảnh sân. Nhiều cây dại mọc chồi, đâm xẻ um tùm thành bụi gai. Mạng nhện và bụi thời gian kết trắng vườn mộ. Vợ ông, một mũi tên trước ngực. Theo lời ông, tên đâm qua ngực vợ từ rất lâu.Cơn đau luôn hành hạ vợ ông. Mũi tên không cắt đôi quả tim mà xuyên thấu và tồn tại như một chi trên cơ thể. Ông đã rút mũi tên khỏi lồng ngực vợ. Mũi tên được ông bẻ đôi. Vợ ông vẫn sống. Bà được giải thoát nhưng cái tự do này đã không mang bà đến nước Trời. Mất mũi tên trên ngực, vợ ông thấy rỗng tuếch. Sẽ không còn cơn đau nào âm ỉ lồng ngực. Những liều thuốc giảm đau và cơn oằn mình quy thuận khôngcòn nữa. Cơ thể bà nhẹ như được Chúa trao cánh nhưng bà đã không biết phải làm gìvới đôi cánh. Cái chân này là của bà, cái tay này là của bà. Lưng bà không gù nhưngvẫn cong xuống như bị bẻ cột sống. Ông chỉ ngón tay. Mắt vợ ông nhìn vào đầu ngóntay ông. Chưa thấy đường. Vợ ông khiếp sợ cuộc sống mới mẻ cùng hai bàn taytrắng. Bà đã lấy trộm hai nửa mũi tên. Khi cắm lại tên vào ngực, bà gục xuống. Hóa thân của người… Hóa thân của người… Tôi nhìn hai hàng mộ. Phần mộ trái bảy mươi tư bia, mộ phải sáu mươi tư bia. Tôiđứng ở phần sân chia đôi hai cánh mộ. Phố vẫn huyên náo như mọi ngày. Người ở Phố đi lại như đàn người cô độc. Tôi đứng mãi ở mảnh sân. Mấy người nhìn thấy tôi qua hàng rào cửa. Họ xì xào, lẩm bẩm và cười the thé cùng nhau. Theo lời họ, người ngợm tôi trắng phau. Cả áo quần, tóc tai lẫn mắt, mũi, miệng. Tôi như cái bóng gác mộ cỗi tuổi. Người, vốn một hóa thân… Bình minh lên rồi tàn. Hoàng hôn tưới vàng đỏ hai lối mộ rồi cũng tàn. Bóng đêm đổ dày, kéo chìm muôn nơi như cái xòe cánh khổng lồ của con sâu hóa bướm. Trời chưa tối. Cõng trên lưng bộ xương người gù, tôi vòng vào vườn mộ. Mỗi một tấm biatôi đặt một cái khấu đầu. Tôi sẽ bước ra bằng cổng lớn để tìm và tắm trong thứ ánh sáng chưa từng biết đến.

TRU SA

NƠI TÔI Ở

trantuan

Nơi tôi ở
thường dày sương mỗi sáng
Hay mưa trưa
và rất gió khi chiều
Đêm se lạnh
lạc loài dăm tiếng vạc
Khuya não nùng
xa vọng tiếng cú kêu.

Nơi tôi ở buồn hiu,
em đừng đến
Nhánh phong lan còn đói nắng mặt trời
Không hương sắc làm sao em sống nổi
Tôi dám nào đem rượu tẩm môi tươi!

Nơi tôi ở rừng vơi màu diệp lục
Sông quên trôi và suối nghẹn lâu rồi
Hoa với cỏ bây giờ thành xa xỉ
Kiếm tìm hoài không gặp chút tinh khôi.

Nơi tôi ở là một nơi rất thật
Em không tin?
Ừ hãy cứ không tin!
Rồi mai mốt khi đời đày mỏi mệt
Đi lang thang em sẽ tỏ tia nhìn!

Nơi tôi ở mãi dày sương mỗi sớm
Vẫn mưa trưa,
vẫn gió rít ban chiều
Đêm vẫn buốt
lạnh ghim từng thớ thịt
Nơi em từng tha thiết gọi…
Dấu Yêu!

TRẦN TUẤN