CÁNH DÙ TRÊN ĐỒI 31, HẠ LÀO ANH KHÔNG CHẾT ĐÂU ANH

sonnghi

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm tấn công vào hệ thống tiếp liệu của cộng quân Bắc Việt ngay trong lãnh thổ Ai-lao khởi sự vào một ngày đầu tháng 2/1971. Bọn việt cộng tải quân vào miền Nam theo con đường bắt đầu từ Hạ Lào, men theo đường mòn HCM và đến B, mật mã của Trung ương Cục miền Nam.

Đến bây giờ ai cũng phải nhìn nhận rằng chiến dịch Lam Sơn vào đầu năm 1971 là một thảm bại. Tổng thống Thiệu ra lệnh đưa 3 lữ đoàn bộ binh nhằm triệt hạ đơn vị tiếp liệu và hậu cần của cộng quân với một kế hoạch khá lộ liễu. Một chuẩn bị sơ sài nhằm phô trương thanh thế cho mục đích Việt nam hóa chiến tranh và lợi ích cho cuộc tái tranh cử của Tổng thống Nixon sắp diễn ra vào cuối năm 1971 đã đẩy hàng nghìn binh sĩ VNCH vào chỗ chết.

Một trong những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh là Đại úy Nguyễn văn Đương.

Đúng ra, ông tự sát tại căn cứ 31 chứ không hề hàng địch. Ông dành viên đạn cuối cùng để tự tử. Xác ông vĩnh viễn nằm tại ngọn đồi 31. Bây giờ có lẽ ngọn đồi hoang vu ngập cỏ xanh, như một lần quân bắc việt tràn ngập với chiến thuật biển người. Cuộc hành quân đã bị lộ tẩy vì tin tức lọt ra ngoài từ cấp chỉ huy. Một thất bại từ nội bộ dẫn đến 1483 sinh mạng chiến sĩ VNCH tử vong, và 691 xác thân chôn vùi trên ngọn đồi 31 khốc liệt.

Cái tin tuẫn tiết của Đại úy Nguyễn văn Đương đưa về hậu phương như một nỗi buồn giống như bao nỗi buồn của mẹ già ngóng đợi con khi tiếng đạn pháo kích nổ vang bầu trời bào mòn niềm hy vọng, như nỗi đau đớn của người vợ trông vời bóng người chồng từng ngày khi tiếng súng đêm đêm vọng về từ vùng ngoại ô là nỗi bất an, như sự mong chờ của đàn con thấy bố oai hùng trong bộ quân phục hơn là chiếc hòm gỗ phủ cờ vàng. Bà, phải gọi là chị thì đúng hơn vì lúc đó chị Nguyễn thị Mai mới ngoài 30, mơ thấy chồng về bị thương ở chân, bảo em ráng nuôi con vì anh không về được nữa. Chị giật mình tỉnh dậy và òa khóc. Ba ngày sau giấc mơ kỳ lạ, chị nhận được giấy báo tử chính thức từ chính quyền VNCH, và lặng lẽ khoác áo sô, chít mảnh khăn tang lên mái tóc mượt mà, và cả lên đầu 4 đứa con, nước mắt lại tuôn mà ngỡ như đã cạn kiệt sau 3 ngày khóc thương chồng kể từ đêm anh Đương hiện về trong giấc mơ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cảm động về mối tình, về cái chết bi hùng của Đại úy Nguyễn văn Đương, đã viết thành ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh”, (https://www.youtube.com/watch?v=Juf048ZAR1c).

Mặc dù Đại úy Đương bỏ xác trên đồi 31 vào cuối tháng 2 năm 71 nhưng mãi đến đầu năm 1972, ca khúc này mới được giới thiệu cùng đồng bào miền Nam qua phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông. Tác giả của bản nhạc đóng vai Đại úy Đương, Thanh Lan trong vai Lệ, người yêu và là vợ của Đại úy Đương. Tôi còn nhớ một buổi tối, cơm nước xong, cả nhà ngồi chăm chú vào màn truyền hình đen trắng, và truyện phim dài 45 phút bắt đầu xuất hiện trên màn ảnh. Tôi, đúng hơn cả nhà, bị cuốn hút vào câu truyện. Đoạn phim quay ngoại cảnh là một điều mới mẻ trên đài truyền hình vào đầu thập niên 70 vì cảnh thật chứ không như những tuồng cải lương quay tại phim trường. Chuyện bắt đầu cảnh 2 anh lính lái xe Honda vô tình đụng phải cô sinh viên Văn khoa, (https://www.youtube.com/watch?v=awSG7dmGHhw). Thanh Lan ngã ngồi ở góc phố, nét mặt phụng phịu muốn khóc, lố nhố những người bao quanh. Một trong 2 người lính nghỉ phép rong chơi trên đường phố SG là Thiếu úy Đương. Quen nhau rồi yêu nhau như bao chuyện tình khác xảy ra trong thời kỳ chiến tranh sôi động của miền Nam. Thanh Lan năm đó đang độ xuân thì, đẹp thùy mị trong phim. Tuy màn hình đen trắng, nhiều hạt mưa nếu thời tiết xấu, nhưng khán giả vẫn nhận ra một Thanh Lan xinh xắn, một tiêu biểu của nữ sinh viên trường Luật, và Văn khoa. Cuối cuộc tình là đám cưới rồi con cái. Thân phận của thiếu nữ miền Nam thời đó hầu như đều làm vợ lính. Lấy chồng lính đồng nghĩa gánh lấy nhọc nhằn, sống trong phập phồng lo sợ vì tin dữ đưa đến bất cứ lúc nào.

Như những lần lên đường diệt giặc phương Bắc trước đây, Đại úy Đương từ giã vợ tung cánh dù vào cuộc hành quân Lam Sơn 719. Có khác chăng là lần này Đại úy Đương đi luôn không về nữa. Xả hết đạn vào đám giặc thù, anh dành viên đạn cuối cùng để tuẫn tiết.

Tin dữ đưa về. Lệ ôm lấy con khóc ngất. Tôi còn nhớ buổi tối hôm đó, Thanh Lan khóc nức nở trong phim, cả nhà ngồi lặng yên, không ai nói với ai một lời nào. Lòng tôi xúc động khi thấy anh Đương trong phim khuôn mặt đầy máu, ôm lấy vai vợ và nói, “anh không chết đâu em…” Em gái tôi mới học lớp 7, ngồi im như tượng gỗ, đôi mắt đỏ hoe. Và tôi kịp nhận ra cặp mắt tôi cũng đã ươn ướt.

Năm đó tôi sửa soạn thi Tú đôi. Tối hôm đó, xem phim xong, không hiểu sao tôi nghĩ khi lấy xong mảnh bằng thế nào tôi cũng lên đường nhập ngũ. Cái chết oan nghiệt của Đại úy Đương không hề làm tôi sờn lòng, nhưng tôi thật sự cảm phục những cái chết hào hùng như thế và muốn noi gương anh để cầm súng bảo vệ quê hương. Thi đậu xong, tôi nộp đơn vào khóa Biên tập viên của Sĩ quan Cảnh sát. Thêm thằng bạn rủ tôi nộp đơn vào khóa 29 của Sĩ quan Đàlạt. Chúng tôi gửi thư ra Nha trang để xin Phiếu lý lịch số 3. Tôi còn nhớ tờ giấy màu xanh gửi về thông báo tôi được quyền gia nhập quân đội. Đang phân vân không biết chọn ngành nào thì ông cụ tôi khuyên nên tiếp tục học vì khả năng tài chánh của gia đình còn cho phép. Thế là mộng khoác áo chiến y của tôi không thành.

Đồng bào miền Nam chỉ muốn đất nước thanh bình, yên ổn làm ăn, sống cho xứng đáng với nhân phẩm con người. Bọn việt cộng xua quân đánh phá với chiêu bài cứu đồng bào miền Nam khỏi ách thống trị của Mỹ Ngụy. Thật ra chính quyền Bắc việt đang áp đặt cái ách độc tài lên đồng bào miền Bắc từ năm 1954. Dân quân miền Nam cố bảo vệ mảnh đất hiền hòa, chẳng hề muốn gây hấn một ai. Đại úy Đương sẽ không chết tức tưởi nếu bọn việt cộng đừng tấn công miền Nam. Chị Trần thị Mai sẽ không trở thành góa phụ nếu quân bắc việt đừng theo chủ thuyết cộng sản. Không một ai thích chiến tranh cả vì chiến tranh tàn phá, nghiệt ngã, chết chóc, chia lìa, và để lại nhiều đau thương. Như bạn tôi, rớt Tú tài I, đăng lính cấp bậc trung sĩ. Mùa hè năm 72, khi tôi đang học lớp 12, thì xác bạn tôi phủ cờ vàng đem về đến tận nhà. Bạn tôi đền nợ nước khi tuổi chưa tròn 18. Chúng tôi còn đi chơi với nhau năm trước, nào cắm trại, nào du ngoạn, nào cưỡi xe gắn máy rong ruổi đến tận làng quê. Thế mà chưa đầy một năm sau, bạn tôi nằm và tôi đứng lặng lẽ trước hòm gỗ lung linh hương khói, ngọn đèn bạch lạp cháy leo lét như nỗi cô quạnh của người mẹ với đôi mắt sưng húp, vật vã kể lể bên quan tài buồn hiu hắt.

Đau đớn ở cái chết. Oan nghiệt ở tuổi còn xanh.

Nếu thân phận Kiều bấp bênh, trôi nổi, lưu lạc suốt 10 năm trời qua câu, nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương, nhưng cuối mảnh đời lưu lạc Kiều cũng được sum họp với Kim Trọng. Còn thân phận của phụ nữ miền Nam thời chiến, cuối mảnh đời bấp bênh là sự chia lìa, là đơn côi, là lẻ loi, là cực nhọc một tay nuôi đàn con mất cha. Bà Trần thị Mai đã chịu đựng một cuộc sống nghèo khổ cơ cực như thế đã hơn 40 năm nay.

Lẽ ra, thủ đô SG phải có con đường mang tên Nguyễn văn Đương để vinh danh một cái chết hào hùng. Lịch sử giở sang trang khi sự dối trá thắng sự ngay thẳng, tàn ác thắng thiện lương, độc tài thắng dân chủ, vô tâm thắng nhân tâm, khỉ thắng người. Tên đường ở SG bây giờ mang tên một anh thợ điện, được vinh danh vì gài mìn giật sập cầu Công lý. Nhà nước cộng sản dạy trong sách giáo khoa rằng trước khi chết anh ta hô to ba lần tên HCM. Thật ra những người lính hành quyết tối hôm đó bảo anh thợ điện run rẩy đứng không vững trên đôi chân, miệng lắp bắp nài xin sự khoan hồng. Lừa dối ở chỗ đó. Lại có đường mang tên Lê văn Tám, một em bé dám tẩm xăng vào người làm nổ tung kho đạn. Một nhân vật huyền thoại, vì sau này một người cộng sản thú nhận ông đã nặn ra nhân vật Tám để kích động lòng “yêu nước” (sic). Lịch sử là viết lại sự thật nhưng lịch sử của nước cộng sản lại có nhiều huyền thoại, đi ngược với sự thật. Đường SG bây giờ mang rất nhiều tên lạ lẫm, và không thể nào có một con đường mang tên Nguyễn văn Đương vì kẻ chiến thắng viết lại lịch sử, (history is written by the victors) như lời của Thủ tướng W. Churchill.

Bà Mai chẳng hề muốn một con đường nào mang tên chồng cả, bà chỉ muốn có chút tiền lộ phí, tìm đến ngọn đồi 31 năm nào, để tìm lại xác chồng. Ngọn đồi nằm chơ vơ, lặng lẽ qua từng ấy năm. Đây là mồ chôn hàng nghìn xác cộng quân, kể cả 691 chiến sĩ VNCH bị mất tích, trong đó có thân xác của Đại úy Nguyễn văn Đương. Ngày tháng trôi, thân xác anh đã hòa lẫn với thiên nhiên cây cỏ từ năm đó. Người vợ đến tận nơi có ngửi được mùi chồng thoảng trong gió như trong đêm ân ái nồng nàn năm nào. Có lẽ không. Nhưng bà Mai phải đến nơi, để thấy lại cảnh xưa và thấy hình ảnh của người chồng trong đôi mắt nhắm, và để thắp lên một nén nhang cho vong linh chồng phiêu du ở chốn vĩnh hằng. Đời sống cơ cực của bà không cho phép bà thực hiện được ước mơ đó, dù chỉ một lần.

Ước mơ của bà bay tỏa không gian, vang đến tận hải ngoại. Đồng bào động lòng quyên góp cho bà chút đỉnh. Trước là để bà thực hiện được ước mơ, sau là giúp bà và anh con út (giờ đã 47 tuổi) có chút vốn sinh sống thoát cảnh nghèo. May mắn có ông Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí, người Việt đầu tiên được bầu vào chức Thị trưởng, đứng ra tổ chức một cuộc gây quỹ trên mạng để giúp mẹ con bà Nguyễn thị Mai, (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=224698&zoneid=1).

Xin cám ơn ông Trí có tấm lòng với gia đình những người lính VNCH. Rất mong bà Mai thực hiện được ước mơ gặp chồng trên đồi 31, Hạ Lào.

SƠN NGHỊ

lục bát tình đầy,

tranngochuong

Cho nhau lục bát tình đầy,
Cho nhau tròn một vòng tay hồng trần.
Em từ thăm thẳm bước gần,
Tuyệt vời năm tháng căn phần đôi ta.

Tiếng đàn xưa chạm phím ngà,
Hiên trưa quán vắng, em qua dáng gầy.
Mang theo chút gió heo may,
Đất trời riêng một chốn này lứa đôi.

Lá thơm thương phút tuyệt vời,
Môi anh quấn quýt quyến môi em hồng.
Theo từng hơi thở rướn cong,
Chắt chiu khoảnh khắc bế bồng tình yêu.

Bên nhau mới sáng đã chiều,
Biết âu yếm đến bao nhiêu mới vừa.
Sài Gòn gió lộng quán trưa,
Lá màu xanh tím đong đưa cội tình

Trần Ngọc Hưởng

CHIỀU NAY QUA BÊN KIA PHỐ

tranvannghia

Chiều nay qua bên kia phố
Thấy mưa chạnh nhớ quê nghèo
Thấy bông giàn bầu giàn bí
Xót đời mẹ lắm gieo neo

Thấy con sông mùa nước lũ
Thương cha gồng giữ tay chèo
Thấy dây trầu xanh giậu cũ
Quê chồng chắc chị hẩm hiu?

Thấy mùa đông đầy sương giá
Ngại em áo mỏng gánh bèo
Nghe bên hè con dế gáy
Vo tròn tuổi nhỏ buồn thiu

Chiều nay qua bên kia phố
Sững sờ tóc đã muối tiêu!

TRẦN VĂN NGHĨA

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Nó đưa hồ sơ cho thằng Chí xong quay trở vô rừng.
Trong rừng vừa mới có thêm người gia nhập. Anh Mười thọt, anh nói có tật ở chân đi cà thọt. Nó được phân công làm củi chẻ với anh này. Làm gần tuần lễ thấy ở anh Mười có nhiều biểu hiện rất lạ, nghe tiếng động lớn là anh giựt mình, dáo dát ngó nghiêng ra vẻ cảnh giác, nó chọc:
“Anh Mười bị yếu bóng vía hả?”.
Bị chạm tự ái Mười thọt cự nự, mỗi câu nói ra luôm kèm một tiếng chửi thề:
“Đ.m. yếu con c.”.
“Chớ sao thấy anh hay sợ sệt”.
Mười thọt quắt mắt:
“Đ.m. tao sợ kiểm lâm chớ sợ gì”.
“Mình làm củi chẻ, coi như đi mót nhánh kiểm lâm nào bắt, kiểm lâm bắt hạ cây lấy gỗ chớ”.
Mười thọt giả lả:
“Thì tao ngờ ngợ đang hạ cây, đ.m. mày nói nhiều quá”.
Mười thọt làm biếng, đòi nghỉ hoài, nó thì bị cằn nhằn chửi thề suốt. Lúc đưa củi chẻ về lán, tới dốc Bà già bật ngửa chỉ lại giống anh Lãm đã chỉ nó, nó nhảy tót lên oánh xe, Mười thọt cũng chửi:
“Đ.m. đó giờ tao ra lịnh, tao chỉ người khác chớ chưa có thằng nhóc nào dám chỉ tao”.
Xe trượt băng băng xuống, Mười thọt theo không kịp, thả cây thắng xe luôn, xe càng băng băng trượt, ngồi oánh xe nó muốn hú vía.
Buổi chiều lúc tắm nó nói nhỏ với bác Hai:
“Dạ, ngày mai bác Hai cho ai thay chỗ con đi, con có chuyện quan trọng này nói”.
Bác Hai gật đầu ờ.
Lúc ngồi nhâm nhi khề khà, bác Hai chỉ nó hỏi:
“Ê nhóc, muốn học đẽo hông mậy?”.
Nó bật ra liền:
“Dạ, muốn chớ bác Hai, con xin hoài mà bác hông cho”.
Bác Hai chỉ Chú Thiện:
“Mai thằng Thiện làm với Mười thọt nghe, tao chỉ vài chiêu cho thằng nhóc coi như truyền nghề chớ để nghề này mai một”.
Chú Thiện ực ly rượu:
“Chà, coi bộ chú Hai khoái thằng nhóc quá ta, bao nhiêu người kêu truyền nghề mà bác có đếm xỉa gì đâu”.
Bác Hai xì một tiếng:
“Khoái gì, thằng nào cũng như thằng nào, tại tao thấy nó khéo tay”.
Sáng hôm sau nó vác rìu theo bác Hai. Chỗ đẽo gỗ khá xa với với chỗ củi chẻ. Bác Hai hỏi nó:
“Có chuyện gì nhóc”.
Nó nho nhỏ, sợ sệt kể lại bữa giờ làm với anh Mười rồi nói:
“Con thấy cái ông Mười thọt này lạ lắm bác Hai, có gì đó mờ ám, ghê ghê, cái chân ổng hổng phải bị tật đâu, con có lén theo dõi thấy bị thương, băng bó”.
Bác Hai đăm chiêu nghe:
“Vậy hả, bữa giờ bác hông có để ý, ờ mà đâu bao giờ thấy nó cởi cái quần dài ra đâu hen”.
Chú Ba lém nói vô:
“Thằng nhóc nói có lý, tui cũng thấy vậy, thằng này bị cụt một ngón tay, nhớ gặp hay nghe danh mang máng đâu đó”.
Chú Ba Tỷ gật gật:
“Nghe thằng nhóc tui mới thấy đúng là lạ, tối tối thằng này biến mất tiêu cả buổi rồi mới vô nhậu”.
Nghe chú Ba lém nói nghe danh, nó nhớ lại thời còn đi học nghe đồn thổi về tên cướp điên cuồng lắm:
“Dạ, có phải chú ba nói là tên cướp Lũng cụt vượt ngục hông?”.
Chú Ba vỗ tay cái bốp:
“Đúng rồi, thằng tướng cướp Lũng cụt, thằng này lưu manh số một, cướp của giết người hông gớm tay, bị bắt vượt ngục mấy lần, nghe đâu lần này chưa bắt được, dám nó lắm”.
Bác Hai nhíu mày:
“Nhưng chưa chắc là thằng Lũng cụt tướng cướp, còn nếu thiệt thì tính sao”.
Chú Ba Tỷ ngần ngừ, chú Ba lém phẩy tay:
“Ái dà khổ ghê, để tối nay tui kiếm cách kêu tên thử thằng này phản ứng thế nào, đúng thì kêu đi cho, chú cháu anh em mình mỗi người một hoàn cảnh, người trốn tránh, người tu chí, người làm ăn, mang tiếng là lâm tặc đủ rồi, đâu chứa chấp được mấy thằng cướp mà mang tiếng xấu cả đời”.
Bác Hai, chú Ba Tỷ gục gật:
“Ờ, vậy đi”.
Buổi tối quây quần bên ly rượu, kể vài câu chuyện đời xong, bác Hai hỏi chú Bá lém:
“Ba lém mày một thời nổi tiếng ngang dọc, chắc mày là đệ nhứt chớ ai qua nữa hen”.
Chú Ba lém cười khà:
“Đệ nhứt gì chú ơi, tui hạng tép riu – chỉ Mười thọt chú Ba tiếp: Thằng Lũng cụt này mới là số một nè”.
Vừa nghe dứt câu nói, Mười thọt phóng cái ào lại ngay dàn dắt dao rựa, cưa búa, rút cây rựa dài, bén ngót ra thủ thế hét lớn:
“Đ.m. ngồi im đó hết, đ.m. thằng nào bước qua đây tao chém chết, muốn bắt tao hả, đ.m hông dễ đâu”.
Cả bàn nhậu ngỡ ngàng, bác Hai đưa tay chặn lại:
“Mày bình tĩnh Mười thọt, đâu ai bắt mày làm gì, nói thiệt vậy mày là thằng Lũng cụt nổi danh, tụi tao là dân làm ăn hông dính dáng gì mày, chẳng phá đám gì mày, chỉ muốn mày đi khỏi đây thôi”.
Mười thọt hất hàm:
“Tụi bây biết tao là Lũng cụt rồi, đ.m đừng xạo hông bắt, đ.m ai gặp thằng này lại hông muốn bắt lập công”.
Chú Ba lém nhỏ nhẹ:
“Chú Hai nói thiệt đó mày, nếu bắt mày tụi tao đã lập kế chuốt rượu chớ để vậy à”.
Vậy là đúng Mười thọt là Lũng cụt, Lũng cụt hăm he:
“Đ.m nói gì cũng được nhưng đứng yên đó hết, tao nói rồi, bước lên một bước là tao chém chết, đ.m. muốn tao đi cũng được, đi thì đi – hắn cười ha ha: Đ.m. muốn tao đi hả, thằng nhóc kia vô lấy ba lô của tao, đ.m. tụi mày gom hết tiền đưa bỏ vô ba lô tao sẽ đi”.
Nó đang tầng ngần, bác Hai hất đầu:
“Làm theo đi nhóc”.
Nó làm theo, ai nấy lấy tiền ra đưa nhét vô ba lô, chú Ba lém cầm ba lô thảy lại chỗ Lũng cụt, Lũng cụt vừa đưa một tay chụp thì cùng lúc một sợi dây thòng lọng tròng vô người, chú Ba Tỷ là người thảy dợi dây, chú giựt mạnh, Lũng cụt ngã cái rật chổng vó, mấy chú, mấy anh nhào vô đè, tó Lũng cụt lại không đường dãy giụa, chú Ba lém xiết chặc Lũng cụt vô gốc cây và nói:
“Giỡn mặt với anh em hả, mày khét tiếng ở đâu chớ ở đây thì quên đi, đã cho đi còn láo còn cướp à”.
Lũng cụt cựa quậy nhưng không nhúc nhích nổi:
“Đ.m thả tao ra, đ.m. tao mà ra được là chết mẹ tụi mày hết”.
Bác Hai cầm mớ giẻ nhét vô miệng Lũng cụt cho im bặt. Bác Hai gục gật:
“Vô ngồi uống tiếp rồi bàn tụi bây, thằng Ba Tỷ ngón nghề còn ngon hen, tao tưởng mày lụt nghề rồi chớ”.
Chú Ba Tỷ làm thinh thinh vậy chớ võ nghệ đầy mình, chú từng sợ về nhà gặp tay tình địch lang chạ với vợ mình sẽ nổi nóng cho một cước không chết cũng ngáp ngáp, đi tù có ngày.
Uống cạn ly rượu, bác Hai hỏi:
“Giờ thằng này tính sao?’.
Chú Ba lém có ý:
“Mẹ, thằng này ác, cướp của giết người hông gớm tay, để nó nhong nhong ở ngoài nó gây tội nữa, mà mình muốn nó đi vậy mà nó còn cướp của mình, phải cho nó vô tù”.
Ai cũng đồng ý với ý của chú Ba lém. Bác Hai nói:
“Thôi vậy sẵn dịp này, thằng Tỷ đưa về giao cho xã và về thăm nhà luôn nghe mậy, tao với mày cùng thằng nhóc về, thằng nhóc nói tuần sau nhưng thôi về luôn đi”.
Chú Ba Tỷ im lặng, vậy là đồng ý rồi. Anh Lãm hỏi:
“Ủa thằng nhóc về làm gì vậy?”.
Nó lý nhí chưa kịp ra tiếng, bác Hai trả lời thay:
“Nó về lên huyện làm việc”.
Anh Lắm lãng uống cái ực:
“Mày bỏ tụi tao hả mậy?”.
Bác Hai phẩy tay:
“Lãng dữ mậy, có chữ nghĩa để nó đi làm là mừng cho nó mày ơi!”.
Anh Lắm lãng cười hề hề:
“Nói chơi vậy mà bác Hai, mừng cho thằng nhóc nè, mừng cho anh Ba Tỷ luôn nè, uống cạn nghen”.
Nó đứng dậy:
“Con kính ông Bảy, bác Hai, mấy chú với mấy anh một ly, con về nhưng hông bao giờ quên những ngày ở rừng rú này đâu”.
Cả lán trại bỗng im lặng như tờ. Mọi người rưng rưng. Bác Hai ực cái mạnh:
“Thôi nghỉ, mai đưa thằng quỷ cô hồn các đảng này về sớm”.

***

Xếp mấy bộ đồ, mùng mền vô túi xách, thằng Chí đi ngang hú, nó chào má nó rồi đạp xe ra theo.
Lên huyện, mó được nhận vô làm chân thư ký một phòng kiêm luôn thằng lon ton, chạy gởi lá thư này gởi cái công văn kia cho cơ quan đó đây. Công việc dễ ẹc, chỉ tập đánh máy vài bữa cho nhuyễn tay, việc cũng chẳng gì nhiều.
Nó ở chung với thằng Chí, hai thằng một phòng rộng thênh thang. Huyện nằm cạnh ngay đường lộ nhưng bao bọc gần như là đồi núi. Từ phòng ở nhìn ra sau thấy dãy núi, nhìn trước cũng dãy núi, quang cảnh xa xa chẳng khác mấy khi nó ở rừng, buồn buồn chiều chiều hai thằng thôi nấu cơm, ra làm vài xị đế rồi ghé rạp phim coi ké. Rạp không còn chiếu màn ảnh rộng, cái ti vi bự mấy chục in chiếc băng video, chiếu phim chưởng, phim kiếp hiệp của Hồng Kông cho bà con coi nức mắt. Không còn cảnh chen lấn, leo trèo đạp trên đầu nhau, dành chỗ mua vé để coi, dành vé bán chợ đen.
Ngày ngày trôi qua, một tháng, hai tháng trôi qua và lặng lẽ hơn một năm trôi qua.
Một buổi trưa thứ bảy từ cơ quan về, thằng Chí nói:
“Tuần này hông về nghen mậy, mai đi nhậu với tao”.
“Nhậu ở đâu?”.
“Nhậu chùa, mai khánh thành con đập gần đây, đập lớn chắc khánh thành hoành tráng lắm”.
Nó chao mày:
“Làm sao tao đi được, ai cho vô”.
“Đi với tao, tao có giấy mời đàng hoàng, mà mày ở đây cũng lâu, nhiều người biết mặt, biết bạn tao rồi”.
Huyện xây đập lớn thiệt. Xây bờ đê phía cuối thung lũng chắn ngang tạo thành lòng hồ lớn trữ nước, ba mặt kia là đồi núi bao bọc, bờ đê hình thang dài chừng hơn cây số, cao gần chục thước, bề dày cũng lớn, có con đường bên trên xe tải chạy được.
Giống như con đập, lễ khánh thành hoành tráng không thua gì. Có cả từ trung ương, tỉnh và đủ các huyện về dự. Xe bốn chỗ, mười hai chỗ xếp hàng nối đuôi nhau đậu kín hết con đường vô đập. Sân khấu và nhà bạt được đựng lên với cờ xí rợp trời, âm thanh nhạc oai hùng mở vang trời đất. Trước và sau lễ có đoàn ca múa nhạc của tỉnh múa hát phục vụ. Báo đài cũng chộn rộn, quay phim chụp ảnh, phỏng vấn người này người kia, ai nấy nói thao thao bất tuyệt, không thấy vấp chỗ nào kể cả anh công nhân, nói chẳng thấy cảm xúc có lẽ chăm chú quá vào bài cần nói, sợ quên bài học thuộc lòng sẵn. Thằng Chí cầm cái máy hình Canon nó cắc ca cắc củm mua được chạy tới chạy lui.
Chừng hơn tiếng đồng hồ là lễ xong. Mấy ông đứng đầu huyện lên xe đưa mấy ông trung ương, tỉnh và các huyện khác về thị xã chiêu đãi. Phần còn lại, người các ban ngành ở huyện, đội thi công liên hoan tại chỗ. Món ăn, mồi mỡ được đặt sẵn chở đầy hai xe lam vào. Bia cũng xe lam chở đầy, hết xe này chở xe khác. Ăn uống độ từ mười giờ cho tới tối mịt mờ, vừa ăn uống vừa hát ca, đoàn văn công về thì còn đội thông tin lưu động của huyện, và ai khoái ca hát thì lên. Bia uống bia đổ tràn lan xối xả, người ói người cắm đầu xuống lòng hồ không ít, may mùa nắng, hồ chưa tích nước. Nó với thằng Chí cũng xà càng.
Tuần lễ sau thằng Chí lôi ra xấp hình đã rửa đưa nó coi, chụp đầy đủ hết từ lễ hoành tráng cho tới ăn nhậu be bét, bia bọt chảy như suối, nhỏng đầu nhỏng cẳng ói cũng không khác gì. Thằng Chí khề khà:
“Đã hông mậy?”.
Nó nhún vai:
“Dữ quá, đi đứt hông biết là bao nhiêu”
Thằng Chí thảy thêm xấp hình:
“Đây mới dữ hơn nè, cái này mới tốn dữ nè”.
Nó mở ra coi, thằng Chí chụp hình những chiếc xe chở vật liệu từ con đập, rồi hình lại thấy mấy chiếc xe này đổ xuống nhà mấy ông đứng đầu huyện. Nó thật thà:
“Là sao mậy, hổng lẽ…?”.
Thằng Chí nhếch mép:
“Hổng lẽ hổng chẳn gì nữa, mấy ổng chia chác chớ sao, rút ruột hay kê thêm vật tư rồi chở về nhà mình chớ sao, mày hông thấy à, đập chưa xây xong mà nhà đã hoàn thiện bự tổ chảng à, ăn mừng tân gia có thua gì đâu, bởi vậy mới cho trận nhậu lễ khánh thành hoành tráng đó”.
Nó trợn mắt:
“Giống như bịt miệng hả?”.
Thằng Chí gật đầu:
“Thì vậy”.
Nó chỉ vô hình:
“Mấy ông luôn”.
Thằng Chí cười ruồi:
“Thì kéo ban kéo bệ, mỗi người một chút, kể cả mấy ông thi công, mấy ông trên duyệt nữa mầy ơi, một danh sách dài lắm, một mình dễ nuốt à”.
Nó ậm ừ:
“Mày nói tao mới biết, chớ tao biết khỉ mốc gì”.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

TÔI NGỒI …

nguyenhuynh

Tôi ngồi cạnh tuổi thơ qua
Không đi lớn nữa đường xa mệt nhoài.
Xoa lên ước vọng thiếu thời
Một câu xin lỗi một lời tri ân.

Tôi ngồi bên những dòng sông
Nơi tôi đã đến mà không thấy về
Vỗ lên mặt nước sông quê
Tìm con sóng nhỏ lăn về mênh mang.

Tôi ngồi qua những đường làng
Kiếm chân gót sót thênh thang năm nào
Hỏi vào viên sỏi vì sao
Đường xưa phong tỏa dấu nào chân tôi!

Tôi ngồi trên cuộc đời rồi
Qua phong vũ biểu biết đời tôi ương!
Thôi thì mộng gửi Trùng Dương
Vào câu thơ với vào hương hoa đời.

NGUYỄN HUỲNH

dụ ngôn 5

phuonguy

những dự cảm già
phập phồng cơn áp thấp xám
trên những biển báo mang biểu tượng loài hoa tím
trận mộng du đã tràn qua

ngày ngọt lịm đã trôi qua
giới hạn trong đường biên chocolate bị nung chảy
thời khắc những giọt lạnh cuối mùa ngấm vào người
tình yêu cũng chỉ là một thứ xa xỉ phẩm
đặt bằng nỗi tò mò nhưng không liên quan

những ngày ngọt lịm đã trôi qua
bước chân đếm một .. hai … ba
máu của hoa hồng đã đổ xuống
những bông hoa màu tím nở ngát trên bàn thờ
giáo đường nhỏ
chiều vắng
là tiếng chuông nguyện người đi trước
” nay là chúng tôi….”

ngày những loạn ngôn trôi qua trên dòng bát nhã
là chân là tay
bộ não đã hoại tử từ mùa xuân thế kỉ trước
bắt đầu là những cơn mưa trong mùa mê sảng mới
“… mai là mọi người”

Phương Uy

NGƯỜI TỬ TÙ (TT)

khuatdau

6. Đôi khi nắng khuya làm tôi nhớ
ồn ào như những người bạn lâu ngày mới gặp nhau, những cơn mưa đầu mùa cũng kéo tới ồn ào và tươi vui như thế, những cơn mưa nở trắng như cả một rừng cúc trắng mênh mông và mùi thơm của nước mưa thấm qua lá tranh khô và những bông lau trắng ngẩn ngơ như một cái vẩy tay của kẻ gọi đò trong những ngày đông lạnh, những cơn mưa hào sảng đã xối ướt cả thân thể ta và nàng
ta đã làm gì
và nàng đã làm gì
sau khi đã nằm lặng thinh trên đỉnh đồi nhìn con diều giấy
ta đã hỏi nàng có muốn diều lên đến tận mây xanh
lên cao và lên cao mãi
nhưng nàng im lặng lắc đầu
một lúc sau, nàng nói, lên cao để làm gì khi mắt mình chẳng nhìn thấy được, em không thích chơi diều đứt dây
ta cũng vậy, ta chỉ muốn sống một cuộc đời vừa phải, một hạnh phúc mỏng mảnh vừa tầm, không xe cả lòng mình thành sợi chỉ dài để thả trái bóng hão huyền lên chín tầng mây, ta phải đi chân trần trên cuộc đời này, phải xắn cao ống quần lên mà cất bước, lúc mệt mỏi cứ ngồi phệch xuống đất mà nghỉ ngơi hay thoải mái nằm dài trong lòng nó
và cuộc đời nồng ấm nào có xa lạ gì với ta, đang nằm sát bên ta hé đôi môi xinh ấm đợi chờ
ta hôn nàng
hôn nhẹ hều dè sẻn,
như đứa bé chưa muốn ăn hết chiếc bánh trong tay mình
ừ, thì hôn nhin nhín, hôn chút chút
hôn cho đỡ thèm
môi nàng thơm như là nước mưa chảy qua những cánh hoa hồng thơm ngát và ta nhẩn nha liếm từng chút một như uống mật ong
những cơn mưa đầu mùa đã bất ngờ kéo tới
thực ra, cơn mưa đã báo trước bằng hơi thở mát lạnh và ta chẳng việc gì vội vã trong khi nàng mỉm cười chờ đợi
chúng tôi đã hôn nhau giữa lúc những giọt mưa reo vui nổ ròn trên khuôn mặt hai đứa, những giọt mưa như muốn xé rách quần áo chúng tôi, len lỏi vào tận những nơi sâu kín cho đến khi nàng cảm thấy giật mình e thẹn, vụt chạy đi mà vẫn không dấu che được hết đôi mông núng nẩy rất phì nhiêu
cho đến khi về được tới nhà thì cả hai đều ướt đẫm, tất cả những gì xinh đẹp nhất của nàng đều lộ ra đến nỗi có thể sờ nắn được
ta giục nàng đi thay quần áo
và ta nghe nàng cười khúc khích khi thấy mình xúng xính trong bộ đồ mới rộng rinh của ta, nàng reo lên ngộ quá, nhỡ có ai vào thì sao
nhưng chẳng có ai thèm vào
và cơn mưa đã đến lúc nhè nhẹ buồn buồn như thể những người bạn nhậu xong nằm lăn ra ngủ,
đang hong thả ngáy khò khò
lửa đã được đốt lên và chúng tôi ngồi sát bên nhau
chúng tôi hong tay lên lửa rồi áp lên thịt da của nhau, một đôi khi nàng đè mạnh tay tôi sát ngọn lửa hơn để phạt tôi vì cái tội đã áp cả hai bàn tay thô ráp lên đôi vú nhỏ nhắn và kiêu hãnh của nàng
khi đó, tôi nhớ tới những ngày tấm bé đã tắm không quần áo cùng nàng, tôi là nước và nàng cũng là nước
và lúc này nàng tỏa mùi thơm như hương đồng lúa trỗ, chẳng mấy nữa nàng sẽ đến ở hẳn trong ngôi nhà nhỏ này và điều đó giản dị tự nhiên như mưa là phải rơi xuống đất, như sông suối là phải chảy
và cũng bên ngọn lửa thơm mùi nhựa cây, giữa lúc những cây củi nhỏ đỏ rực thành than, khuôn mặt hai đứa nhập nhòa trong ánh lửa lung linh, tôi trông thấy đôi mắt nàng sáng ướt nhìn tôi cũng rực đỏ như đang bốc cháy và chắc nàng thấy tôi cũng vậy, tôi nghe nàng thì thào
anh muốn chúng mình có bao nhiêu đứa con
bốn đứa, có lẽ thế
em cũng muốn như vậy
có tham lam quá không
không đâu, bốn đứa mới chia hai được chứ
sao lại chia hai
chia để đánh nhau chơi ấy mà, em yếu hơn chọn hai đứa trai, còn anh hai đứa gái
a, vậy thì tập đánh nhau trước đi
tôi đã rất nhanh ôm gọn nàng vật xuống, nằm đè lên
tôi nghe nàng hét la dãy dụa, nhưng thịt da nàng lại đỡ nâng tôi âu yếm
thân thể nàng nhỏ, thơm và ấm nóng, quấn quít cùng thân thể tôi như muốn bứt tung cả quần áo
chúng tôi là hai con sông nhỏ xa nguồn, suốt một quãng đường dài chảy bên nhau, giờ sắp hòa thành một để đủ sức chảy vào biển rộng
suốt đêm hôm đó, chúng tôi đã nuôi mãi ngọn lửa êm đềm ở giữa nhà, suốt đêm chúng tôi đã ôm lẫn nhau giữa lúc tiếng mưa không ngừng thủ thỉ kể cho ngọn lửa nghe những chuyện dọc ngang trời biển và tôi không bao giờ quên được tiếng đập nũng nịu của trái tim nàng bé nhỏ
một đôi khi tôi nhìn thấy thân thể nàng sáng rực lên, ngực nàng thơm như là sáp quý và bụng nàng chơn mát như thạch
và ở những nơi mê đắm như thế, những nơi mà người con gái hằng nâng niu để đợi chờ, không biết tại sao tôi chỉ có thể đặt đôi môi của mình lên, ngoài ra không làm điều gì xúc phạm
lửa bên ngoài, lửa trong tôi và nàng không hiểu sao chưa đốt cháy được chúng tôi
có lẽ vì đêm thanh khiết quá, đêm thiêng liêng đầu đời đã nâng chúng tôi lên đỉnh trời thanh tịnh
cho đến sáng ra, trong khi đất trời cỏ cây tươi mới, chúng tôi cũng cảm thấy mình mới tươi trẻ trung, chúng tôi nhìn thấy trong mắt nhìn của nhau lòng biết ơn còn bao la hơn cả tình say đắm.

7. Bước vào cuộc giác đấu
Vọt thẳng lên cao với tất cả kiêu kỳ hiếu thắng, mặt trời khoái trá xua đám thổ phỉ hung hãn ra sức vây hãm người tù bé nhỏ. Mặt trời cười oang oang như cồng chiên được đánh lên rộn ràng trước lúc con trâu tội nghiệp bị thọc sâu con dao vào cổ họng. Và núi đá cũng đang reo hò bất tận với những âm thanh rền rĩ. Núi uống hút cái sức nóng dữ dội của mặt trời, rồi dùng trái tim nham hiểm tôi luyện cho đến khi bốc khói. Và như những cuộc hành quyết bằng cách ném đá cho đến khi tội nhân gục xuống, đá và cả mặt đất đều ném không ngừng vào thân thể người tù những hòn lửa nóng ran. Người tù gục xuống trên cây gậy trong khi xác chết phơi mở tênh hênh, căng phồng như con nhộng vừa ném vào chảo dầu.
Đã nhiều lần, người tù đuối sức ngã quỵ, nhưng chỉ ít lâu sau, anh cố gượng dậy, nghiêng đầu trên cây gậy khốn khó bước đi từng bước một. Nằm được một lần là nằm mãi, anh nghĩ, mình không được nằm, mình phải gượng đứng lên thôi. Mình phải đi, phải đi, muốn sống là phải bước đi, không thể không đi. Mà anh đi đâu vậy? Đào thóat chăng? Không. Mình phải đi như là phải thở. Mình phải bước tới chứ không thể dừng lại.
Đứng lại là chết.
Bước tới, mặc dù phía trước là đá khô đỏ khé.
Bước tới, mặc dù trên cao kia là thành lũy khó vượt qua.
Anh chẳng hề hy vọng tìm được một bờ khe hay hang hốc nào êm mát giữa cái nhà tù kheo khu này. Anh đi khập khiễng, xiêu vẹo từng bước thấp, hụt hẫng từng bước cao. Cái xác trên lưng cũng nghiêng ngã theo như một người đồng hành cùng số phận. Mỗi bước đi của anh bây giờ là cả một năm dài. Cuộc đời anh, tuổi thọ anh, giờ được tính theo từng bước chân. Đi để được sống nhiều hơn, sống dài hơn cho dù chỉ là một bước ngắn.
Đi,
đi, và đi.
Ngay cả trong xà lim chỉ nửa mét vuông.
Nắng mỗi lúc một đỏ chát và mặt trời nghiệt ngã dường như thu nhiếp tất cả sức mạnh tột đỉnh của mình, chỉ để hành hạ một con người đơn độc yếu ớt. Cái xác được sức nóng hà hơi càng lúc càng phồng căng như một cái bong bóng của cá ươn. Nó phơi cái mặt vàng ệch với hai con mắt ốc nhồi như muốn rớt ra ngoài, cái mũi đầy lông và cặp môi vểnh cong không che nổi cái miệng đang xì hơi thúi hoắc. Nó nằm ngửa trên lưng anh, phơi cái bụng to kềnh như một thằng trọc phú đang đùa giỡn với lũ gia nhân.
Nó là ai vậy cà? Nó từ đâu tới, sao bỗng dưng nhảy xổ trên lưng tôi. Sao bắt tôi phải làm phu đòn để đưa tới huyệt. Sao chết rồi mà vẫn còn muốn dạo chơi vào nơi quỷ quái này? Là đàn ông hay đàn bà, là già hay trẻ, giàu hay nghèo, quyền quan cỡ bự hay không cửa không nhà, cùng một quê hương nghèo đói hay xứ lạ giàu sang, là bậc trí giả hay kẻ tiện nhân?
Anh mơ hồ nhớ lại những cơn sóng ngầm đã không ngớt lay động đời anh, nhớ tới cái đêm hãi hùng khi thức dậy thấy mình bị buộc chặt với một cái xác không phải của một tù nhân vừa bị giết đêm qua, mà cũ xì, mốc thếch, hôi hám khiến anh có cảm giác như mình đang bị chôn sống trong huyệt mộ hay một lăng tẩm nào đó vừa mới khai quật.
Trong cái nhà ngục chật hẹp bằng đá, lớn không hơn một chiếc chiếu, đã không còn những mặt người đầy sẹo, những con mắt sắc lạnh, những bàn tay thép nguội, không còn những tiếng cười man rợ, những tiếng quát tháo âm ào, không còn những khảo tra man dã thời trung cổ, không còn những lục vấn về nguồn gốc cha ông, không còn truy đuổi bè đảng này hay bầy đàn nọ. Chỉ còn một mình anh với cái xác được buột chặt trên lưng, như một quái thai là một cặp song sinh dính liền nhau ở lưng, mà một đứa thì đã chết từ lâu trong tử cung, đứa còn sống phải một mình mang tới bờ huyệt.
Anh đã bật dậy với tất cả sức mạnh của một người trai trẻ và một nỗi căm giận tràn đầy. Anh quay mấy vòng, cố hất tung cái xác trên lưng, nhưng với bao nhiêu là thừng là xích, cái xác vẫn đeo cứng trên anh như một cái bướu khốn nạn. Anh gào lên, hãy bỏ cái xác này ra, hãy băm vằm bắn giết gì tôi cũng được, nhưng đừng bắt tôi phải sống với nó. Trời hỡi, làm sao có thể sống được với một xác chết mục rữa!
Anh đã thức suốt phần đêm còn lại để suy đoán cái xác là của ai. Anh cầm cái bàn tay đang chìa ra không phải để bắt tay chào đón mà để thử đoán xem là của một người nào. Cái bàn tay không còn thiết tha gì đến phép xã giao, không còn chút sinh khí đó làm anh giật mình.
Mặc dù nắng nóng, anh vẫn cảm giác như đang chạm vào tử khí lạnh lẽo. Một nỗi hãi sợ truyền kiếp chạy suốt dọc sống lưng anh. Có một điều gì đó bi phẩn như vừa mở ra một cánh cửa tuyệt vọng. Anh biết chắc đây là bàn tay của một người đàn ông vì những ngón tay thô và ngắn nung núc như củ khoai. Bàn tay của một người nông dân hay của một người thợ, thì anh chưa biết và cũng không muốn biết. Nhưng không hiểu sao anh lại nghĩ đây là bàn tay của kẻ đã từng giết người, không chỉ một người mà nhiều người. Có thể bóp cổ, có thể siết cò, cũng có thể chỉ một cái phẩy tay ra lệnh là có hàng trăm kẻ đầu rơi máu chảy. Cái ý nghĩ ấy làm anh buồn nôn và tức giận. Anh, kẻ yêu đồng loại còn hơn chính bản thân mình, giờ đây phải kề vai sát cánh với một tên giết người, quả là điều ô nhục.
Vẫn chưa hết những điều lạ lùng khi cánh cửa ngục được mở ra, anh lại bị nhét vào một cái thùng sắt. Một đoàn người ngựa đưa anh ra khỏi những ruộng đồng phố quận, đến những miền hoang vắng không dấu chân người. Suốt một ngày dài, anh bị nhồi xóc trong chiếc hôp tối đen tưởng chừng như đang đi vào địa phủ. Rồi họ đốt đuốc đưa anh qua một đường hầm sâu hút dài thăm thẳm, sâu và dài như xuyên vào ruột đêm. Họ bố thí cho anh một ít nước, một ít bánh và diễu cợt cho anh thêm cây gậy.
Và như thế, người ta đâu có muốn anh chết không kịp ngáp như cha anh đã từng lãnh một đai cuốc sau gáy. Họ muốn hành hình anh mà không phải tốn một chút công sức nào. Cái xác trên lưng anh sẽ thay họ nhục mạ anh, nguyền rủa anh, khiến anh sống dở chết dở, vừa vâng phục nó vừa hèn hạ kêu xin. Cay độc hơn nữa, họ muốn tâm hồn anh vật vã, lụn bại trước khi xác thân mục rã.
Anh dừng lại, nhìn bốn hướng và nhận ra cái miệng hang xa tít đen ngòm mà bọn họ đã đưa anh vào. Đấy là con đường ra, là cái cuốn rốn chưa lìa nối với chùm nhau xã hội bên ngoài. Biết rằng không cách gì thoát ra được, nhưng anh vẫn cảm thấy một niềm yêu sống mạnh mẽ. Anh quyêt phải đi tới đó. Phải đi cho dù không bao giờ tới. Phải đi cho dù cái xác nhọc nhằn cứ muốn lôi anh nằm xuống.
Trưa.
Ở đây lúc nào chẳng là buổi trưa, anh cảm giác núi non nghiêng ngửa vì uống nắng say khật khừ. Anh cũng say, cũng thấy mình cuồng quay điên đảo. Anh gục xuống, tưởng chừng mình đang biến thành hơi và bay lờ đờ trong nắng đỏ. Nhưng mặt đất bỏng rát làm cho anh tỉnh lại. Anh cố gượng dậy. Anh cầm bầu nước nhấp một chút cho ướt môi, mặc dù anh muốn ngửa cổ nốc một hơi dài. Anh phải dè sẻn cho tới giọt nước cuối cùng. Anh đi lảo đảo. Cái xác trên lưng anh như muốn sôi lên. Độ căng phồng của nó đã đến lúc sắp vỡ ra. Phải chi là một người tù còn sống thì hắn và anh sẽ đổi vai cho nhau. Anh sẽ nói, tao mệt quá, mày thay tao cõng tao một lát. Anh sẽ nằm ngửa ra mà nhìn đất trời. Anh sẽ cười lớn, coi khinh hết thảy mọi sự. Anh sẽ thách đố mặt trời, xem ai có thể nhìn lâu mà không chớp mắt.
Nhưng con gì kia, phải chăng là một con dòi?!
Anh chợt rùng mính nghe lạnh tận tim óc. Một con dòi, tức là một sinh vật, với những hàng lông trắng như tóc bạc đang cố níu cánh tay anh để khỏi rơi xuống đất. Một con dòi như trong xác chết thối rữa của gà vịt, trong các hố xí công cộng, sao lại xuất hiện ở đây. Nó từ đâu ra nếu không phải từ thịt da đang tự hủy của cái xác trên lưng anh. Có nghĩa, nó sinh ra từ chính con người.
Mà sinh ra từ đâu?
Từ hai lá phổi khép mở như cánh quạt, từ trái tim nhún nhẩy phập phồng, hay từ óc não ngọt mềm như sữa đặc? Nó được sinh ra từ ruồi hay đã được sinh ra cùng lúc với hắn ta từ trong bụng mẹ?
Chưa bao giờ anh ngao ngán và tuyệt vọng như lúc này. Anh lắc tay cho con dòi rơi xuống đất, nhìn nó ngo ngoe chống chọi với cái nóng, cảm thấy nó chẳng khác gì mấy so với thân phận anh. Cũng được sinh ra không biết vì sao, rồi cũng chết mà chẳng biết vì lẽ gì. Nhìn cái cách nó cong mình lên đợi chết, anh thấy nó dẫu sao cũng còn may mắn hơn anh. Ít ra nó cũng không phải mang trên mình một con dòi thối rữa nào, và, điều này mới dễ chịu làm sao, nó chẳng cần tra vấn, hồi tưởng hay trông đợi điều gì ngoài cái chết đang đợi chờ nó trong chớp mắt.
Nhưng, có lẽ nào một con người với trái tim quý hơn mọi viên đá quý, với đầu óc chứa đầy tri thức, với môi miệng để hôn, để nói để cười, một con người được cho là tác phẩm hoàn mỹ nhất của tạo hóa, được sinh ra để thống lĩnh muôn loài, một con người chỉ thua thượng đế có mỗi cái chết, một con người như thế rốt cuộc cũng chỉ để sinh ra dòi sao? Không phải chỉ một con mà nhiều con, cả ngàn cả vạn nhung nhúc trong từng thớ thịt đường gân. Không phải chỉ một người mà nhiều người, tất cả những sinh vật thượng đẳng từ xưa tới nay và tới tận mai sau, đều sẽ sản sinh ra dòi.
Ở tôi, trong tôi, từ tôi cũng sẽ sinh ra dòi! Tôi, với thân thể đã từng tỏa mùi thơm nồng nàn làm ngất ngây một người con gái, tôi và trời ơi, cả nàng nữa sao, nàng với thân mình láng cuộn, với ngực và bụng thơm như hoa quỳnh, với môi miệng ngon ngọt hơn hết thảy mọi thứ ngon ngọt của trần gian, cái tấm thân xinh đẹp đáng quý nhường ấy, trời hỡi, rồi cũng sinh ra dòi sao!?
Người tử tù cảm thấy như chảy tuột tất cả mọi sinh lực. Anh đánh rơi mình xuống đất như một chiếc tháp cũ xưa ngã nhào trong cơn địa chấn. Mặt trời ý chí lặn xuống trong anh. Trên nền cao rỗng của lý trí đã bao lần rực sáng giờ chỉ còn hắt hiu chút phấn của hoàng hôn ngậm ngùi. Anh không thiết gì gậy, không thiết gì nước, không thiết gì bước đi, anh muốn được chết ngay, dễ dàng và vô vị như con dòi vừa chết. Chết như đầu hàng, như trốn chạy, như gì gì cũng được, miễn là chết. Chết và mặc kệ tuốt. Mặc kệ nắng, mặc kệ nóng, mặc kệ cái xác đang là hang ổ của dòi.
Và dòi, nếu các ngươi đã chật ứ thịt da ta thì cứ việc thức dậy đi. Các ngươi cứ hò reo đập phá cái thân thể tù ngục này mà mở hội cuồng say. Ta mỏi rụi cả rồi.
Ta đuối sức và thua cuộc.

KHUẤT ĐẨU

PHÙ VÂN MỘT ĐÓA

tranvanle

Tại sao Ngô Phù Sai yêu Tây Thi đến vậy?
– Rắc hoa vàng sau mỗi bước giai nhân!
Trong kim cổ dễ chi tìm được thấy
Một người như em để ta bâng khuâng…
Em không phải Tây Thi, em không phải Đông Thi, em là trái tim ta nằm giữa ngực
Ta nâng niu em ta muốn nói ân cần:
Không có em ta không có hơi thở
Nhưng đầu trời cuối đất mênh mông
Ta ôm em vào lòng Phù Vân một đóa!

Trong buổi chiều sương nắng tỏa ngập ngừng
Xin cảm ơn em đã dìu ta vào con đường tình sử
Hai đứa mình hai người dưng
Bởi vậy đó mà đem lòng thương nhớ!

Trần Vấn Lệ

TREO ĐẦY TIẾNG CHIM

levanhieu

Vài cụm hoa kịp nở
Để đi vào hoàng hôn

Vầng Trăng kia kịp khuyết
Để mốt mai đón rằm

Đôi mắt nào xa xăm
Như đã là hội ngộ

Ta kịp làm sợi gió
Thổi vờn lên tóc mây

Hồn vừa ngấm men say
Ta kịp thương kịp nhớ

Cây trĩu oằn những quả
Kịp treo đầy tiếng chim .

Lê Văn Hiếu

Đen hơn bóng tối

nguyentri

Sáng nào cũng thế. Sau lễ Misa là bốn mái đầu muối tiêu ghé quán cóc làm ly đen. Nhìn bốn lão là thấy một trời trí thức. Mục kỉnh trên mắt và anh nào cũng chúi mũi vào, không báo thì cuốn sách dầy cộp. Chủ quán khoái lắm bởi họ là linh hồn của quán. Không có họ dân chơi xứ ruộng không thèm ghé thứ quán cóc keng năm nghìn một ly đen nóng.
– Nầy – một tóc muối tiêu lên tiếng – hôm nay mời mấy ông đi phở bò Lý Quốc Sư với tôi nhé.
– Có gì vui mà đãi thế bạn già? Mà tôi thấy chớ nên vô cái thằng Lý giả hiệu đó. Thua cái xe bình dân của bà Bẩy Phở xa lắc.
– Nhưng bà Bẩy thì nóng quá ông ạ. Biết giả hiệu nhưng mà dù sao cũng có cái quạt hơi nước. Thời tiết nầy ăn tô phở mà mồ hôi chảy ròng ròng thì có ngon cũng vô vị
– Ừ thì lý quốc. Nhưng ông vô cái gì mà đãi thế? Đô la con gái gửi về à?
– Hơn cả đô la, hơn cả trúng độc đắc ông ạ. Tôi vừa hút cái chết.
– Ghê thế?
– Mấy ông biết không? Hôm trước tôi đi nghĩa trang giáo xứ đọc kinh cho bà chị. Đạp trúng một kim tiêm đầy máu. Sợ quá, tôi lên trung tâm y tế dự phòng xin xét nghiệm. Mấy ngày nay tôi đọc có cả nghìn thời kinh cầu cho bình an. May quá, hôm qua cầm kết quả xét nghiệm. Không bị hát có ết tôi như sống lại lần nữa các ông ạ.
– Ôi dào…Ông nói tôi mới nhớ. Đừng nói chi nghĩa trang. Ngay cả khu công viên cây xanh của thị trấn cũng đầy kim tiêm ông ạ.
Một tóc bạc khác góp chuyện:
– Đời sống bây giờ tăm tối quá. Tôi nhớ những năm mới thống nhất, tuy kinh tế có khó nhưng không có cái nhìn đâu cũng ra hiểm nguy như hôm nay. Ngoài đường thì bầy trẻ chạy xe như ăn cướp, trong nhà thì con giết cha, vợ đốt chồng… cầm tờ báo là thấy toàn cướp của giết người, lừa đảo. Thậm chí người tu hành cũng uống rượu ăn thịt chó ôm gái ngay trong nơi thờ phượng.
Một khách trẻ trong quán ý kiến:
– Mấy bác cho con góp một ý. Chuyện nhà ông Đa còn bi bội phần.
– Ừ – tóc bạc thứ tư nói – Tôi thấy ông Đa chả còn gì bi hơn.
– Ông ấy ra sao rồi?
– Dạo nầy khốn đốn vì thằng con hư hỏng lắm.
– Vẫn cứ đường cũ mà đi à? Mà tôi thấy chừng như ông ấy cũng quen rồi với những bất hạnh mà thằng khốn đổ lên đầu cha mẹ. Tôi thấy ông ấy đã biết chấp nhận khi sống chung với lũ. Đâu chừng tháng trước gặp tôi ông Đa còn hả hả cười nữa kìa.
– Bây giờ thì không như vậy. Bi và tối lắm các ông ạ.
***
Một khách trong quán nói:
– Chỉ khi nào thằng Vũ chết đi thì may ra ông Đa sáng lên một tí.
– Bây giờ nó có chết thì vẫn cứ tối tăm thôi.
– Còn chuyện gì thằng khốn mang về cho ông ấy nữa vậy?
– Lúc thằng Vũ bị bắt vì tội tổ chức sử dụng chất cấm tôi nghĩ rằng ông Đa thoát hiểm rồi. Ai ngờ không đủ chứng cứ để tống ông con đi tù nên công an phải thả.
– Sao không tống nó vào trung tâm cai?
– Ông làm như dễ lắm. Phải test máu. Phải cũng cố hồ sơ, đến đợt mới đưa đi tập trung, đâu phải muốn đưa đi lúc nào cũng được. Kinh phí ở đâu để chỉ đưa một thằng đi cai? Ông Đa bây giờ còn có cái gì để đưa đi tự nguyện? Mấy ông thấy đó, ba lần cai hết sáu năm, thêm một năm tù mà nó vẫn cứ ngựa quen đường cũ. Ma tuý đã dính vào là xem như bỏ. Một nghìn thằng may ra được một.
– Nhưng bây giờ thì làm sao rồi?
– Sau khi được thả thằng Vũ dẫn về nhà một đứa con gái buộc ông Đa nhận làm con dâu. Nhưng mấy ông và mấy cháu biết con nhỏ đó là đứa nào không?
– Đứa nào vậy chú?
– Con vợ thằng Thành, dâu ông Thạch bán vé số.
– Trời đất ơi!
Thiên hạ xứ nầy ai cũng biết ông Thạch vé số. Ông nầy chả hiểu vì sao mà chỉ một cu Thành là con, nghe đâu khó quá nên cô vợ quăng con lại và biến mất. Mười sáu tuổi Thành ham vui nên đòi lấy vợ. Cả xóm bu lại khuyên chớ có nên, một là dưới vị thành niên không thể đăng ký kết hôn, hai là, ông Thạch người thiên chúa giáo, chả có vị linh mục nào làm bí tích hôn phối cho đâu. Nhưng thằng Thành con một được nuông từ nhỏ. Nó quyết theo kiểu con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó. Ông Thạch bỏ tiền ra hỏi cưới. Xe hoa đưa về một cô dâu hơn Thành ba tuổi. Nhỏ nầy dân chơi hết phép. Nó ở được hai tháng là dông tuốt. Hỏi sao bỏ chồng nó nói:
– Ông già lựu đạn khó quá. Tui hồi nhỏ giờ đâu biết nấu ăn. Kho nồi thịt bị cháy mà ổng chửi tui hư. Nghe thằng Thành nói nhà nó ngon ai ngờ dân vé số dạo, tui xù.
Vậy là Thành qua một đời. Đến năm mười chín nó dẫn về một con mặt xinh như diễn viên điện ảnh. Vòng một vòng ba trông cũng bắt mắt chỉ có cái vòng hai quá khổ vì bầu. Lại đồn rằng nhỏ tên Nhí nầy trước yêu đương với một anh tên Lộc. Lộc thấy đẹp thì qua đường tí thôi chứ chịu trách nhiệm cái em đang mang thì không có tên anh, anh nói đâu phải mình tao là người yêu của nó. Thành đưa đầu ra chịu là nó yêu Nhí thiệt, tin trăm phần trăm cái trong bụng ẻm là con mình. Ông Thạch dân vé số dạo nên nghe cũng tràn hai lỗ tai, nhưng biết làm sao khi con mình thương. Chừng con Nhí lâm bồn ra một trai cũng tai mắt mũi họng chim cò tốt như bất kỳ thằng liền ông nào là ông Thạch mê ngay. Ông nâng thằng cu như nâng trứng ẳm đi khắp xóm khoe cháu nội, nhưng bà con cô bác xì xầm rằng nhìn thằng nhỏ là ra cái mặt thằng Lộc. Thiệt là hết biết.
Tò mò Lộc cũng đến thằng bạn Thành xem hư thực. Chả biết nó xem cái gì mà một hôm kia thằng Thành quả tang Lộc và Nhí trong nhà nghỉ Nhị Kiều. Đúng là tình cũ không rủ cũng tới. Mà cũng thông cảm cho. Đã nói Nhí đẹp như diễn viên. Đẻ xong cô đẫy ra và mơn mởn người phàm ai chả động? Lòng đầy cay đắng Thành dẫn vợ về. Nhưng cái nết vụng trộm Nhí không bỏ được. Thành buộc phải trả cô về nguyên quán, dù lúc về bụng cô đã vượt mặt. Thành không tin cái bụng ấy là con mình. Lộc cũng không. Nhưng bên ngoại Nhí thì tin cháu ruột họ trăm phần trăm. Bà má goá chồng và mấy bà dì ế ẩm sẵn sàng cứ đẻ tao nuôi.
Tù về Vũ gặp Nhí trong một Karaôkê. Mầy thằng xì ke tù tội miệng mồm ghê gớm lắm. Không ghê dễ gì chúng lừa cha dối mẹ tạo niềm tin với xóm giềng để kiếm tiền. Vợ Vũ quăng hai đứa con một trai một gái cho vợ chồng ông Đa rồi ôm cầm theo thuyền khác khi Vũ đi cai nghiện lần thứ hai. Cũng đúng thôi. Chả có con ma nào ngu mà đi chờ đợi một thằng lấy ma tuý làm mạch sống. Ông Đa vừa chăm cháu vừa thăm nuôi thằng con hư hỏng thiếu điều sói trán, cũng mong nó về mà làm lại đời. Ai ngờ mới về được một tháng thằng Vũ cùng đồng bọn tham gia trộm xe, lại tù thêm một năm. Hai mươi bảy tuổi mà có thành tích bảy năm ở trại. Thiên hạ mới bình rằng:
– Gặp con tao, tao cho một búa chết cho rồi.
– Rồi mày đi tù hả?
– Tù cũng được. Phá quá chịu sao xiết?
– Mày có nghe câu nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại không? Mày người ngoài nên nói vậy thôi, có lâm cảnh mới biết. Con dại thì cái mang, chồng hoang vợ phải chịu. Ông bà dạy vậy.
Chả biết cặp Vũ Nhí yêu nhau đến cỡ nào mà Vũ dẫn Nhí về nhà. Nhí cũng giới thiệu với ba quân trong giới bụi rằng Vũ là chồng.
– Rồi ông Đa phản ứng ra sao?
– Dữ dội lắm. Ông Đa và già Thạch vé số là bạn. Ông ta mặt mủi nào cho con nhỏ hư hỏng đó vào nhà? Mấy ông nghĩ coi. Thằng Vũ quăng hai đứa con cho ông bà Đa. Con Nhí một đứa cho già Thạch, một đứa cho má nó. Tệ hại như vậy thánh thần còn không dung nói chi ông Đa.
– Ông ấy bảo sao?
– Ông Đa nói với thằng Vũ rằng mày muốn lấy ai đó kệ mày. Nhưng đừng dẫn bất kỳ ai về nhà của tao. Thằng khốn liền đưa con kia đi thuê phòng trọ.
– Vậy thì kệ chúng nó. Có chi mà tăm tối với tối tăm?
– Ông có biết vì sao mà thằng Thành buộc phải bỏ con Nhí và má con nhỏ chấp nhận nuôi cháu và mặc kệ con ruột ra sao thì ra không?
– Không?
– Con Nhí khi tư thông với thằng Lộc đã bị thằng nầy cho hít đá. Nó mê đắm vô cái chất gây nghiện nầy nên…
– Bà mẹ nó – một thằng trẻ kêu lên –. Nhưng mà bọn nầy ráp vô vui chơi có thưởng chứ có chi mà tối hả chú?
– Tối ở chỗ là con Nhí đang vun cái bụng lên mày ạ.
Cả quán cóc lại tiếp tục ồ lên. Lần nầy thì kinh dị thật sự. Bàn tán một lúc rồi ai đó cất giọng:
– Nhưng chắc gì con thằng Vũ. Con Nhí vẫn gặp thằng Lộc kia mà?
– Thằng Lộc bị tập trung cai nghiện sáu tháng rồi con ơi. Con Nhí bá vô thằng Vũ mới ba tháng nay. Vậy cái bầu là của ai chắc mày rõ?
– Vậy đẻ ra thì chúng nó phải nuôi.
– Nuôi hay không không biết. Nhưng trước mắt chúng nó đã quăng con chúng cho ông bà nội ngoại. Hôm qua tao gặp ông Đa. Nghe ông ấy than thở mà tao muốn sa nước mắt.
Ông Đa nói với bạn thân rằng e là đẻ ra chúng sẽ quăng cho ông nội. Con Nhí và thằng Vũ đã không ngó đến những đứa con chúng đã sanh thì bây giờ có vất thêm cũng không có chi lạ. Hãy hình dung một đêm nào đó trước cửa nhà ông có tiếng trẻ con khóc, mở cửa ra thì một hài nhi không cha mẹ, và chắc chắc rằng đó là cháu mình ông Đa sẽ làm sao?
Ông Đa kể cho bạn già nghe chuyện một cầu thủ lừng danh của Manu hồi thập niên chín mươi của kỷ hai mươi tên Dright Yorke. Cầu thủ nầy cặp kè với một người mẫu cũng lừng danh. Cả hai đều nghiện rượu. Chỉ rượu thôi mà khi ra đời đứa con của họ đã bị mù bẩm sinh. Vậy một đứa bé mà cả cha và mẹ nghiện ma tuý sẽ ra sao?
Ra sao hỡi bóng tối?
Nguyễn Trí