Thi Sĩ Vũ Anh Khanh Và Bài Thơ Hận Tha La.

phamthangvu

Nếu bạn từng sống ở Sài Gòn và thường có lúc đi rảo mua sách thì chắc phải biết đến con phố sách báo cũ mang tên Đặng Thị Nhu thuộc phường Nguyễn Thái Bình, quận 1-Saigon. Lòng con phố hơi chật vì các quầy kiosk sách báo nằm đối diện, kề sát nhau và chỉ để một lối đi ở chính giữa cho khách (có khi dẫn xe máy đi cùng) ra vào. Một đầu con phố tiếp với đường Ký Con và đầu phố còn lại thông ra đường Calmette. Anh Hữu, một người bạn lớn hơn PTV cả chục tuổi mà nhân trong một lần đi vượt biên chung, đã quen nhau, có một kiosk bán sách ở con phố này và cả nhà dùng nó như một phương tiện mưu sinh sau cuộc đổi đời tháng 4 năm 1975. Nghề mua bán sách báo cũ, coi lèng xèng vậy mà kiếm ăn rất ngon chỉ kẹt cái là đọng vốn nhưng khi có khách cần đến thì cầm chắc có lời. Sách báo cũ được mua đi rồi bán lại ngay tại chỗ và chủ kiosk nào cũng có những mối quen trong nghề. Mối đây là người đến tìm mua sách về để họ bán lại và thường họ ở xa đâu đó ngoài miền Trung, thậm chí có mối ở tít tận Hà Nội. Mối cũng là những người có sách do họ lùng mua được rồi mang bán lại cho chủ kiosk. Thỉnh thoảng gặp khách cho địa chỉ mời đến tận nhà để xem sách họ có và muốn bán. Các dịp như vậy, chủ kiosk thường mua được một lúc khá nhiều sách giá trị và tất nhiên, sẽ là một món lời. Anh Hữu vẫn từng đến những chỗ mà khách cho địa chỉ nằm trong nội đô Sài Gòn hay ở Chợ Lớn, vùng Bình Thạnh hoặc khu dân Bắc di cư Gò Vấp. Ngoài những tựa sách quen có tiếng hoặc vì đã từng được khách lùng mua nên biết, còn thường thì anh Hữu vẫn lúng túng mỗi khi cầm quyển sách lạ trong tay. Đó là lý do mà anh hay rủ tôi đi chung cho vui, để có người góp ý với anh về các tựa sách lạ. Có lần, anh rủ tôi cùng đi Tha La.
Tha La, cái tên tôi thường nghe qua các bài hát như Tha La Xóm Đạo, Hận Tha La… và cũng biết nó nằm đâu đó trong vùng Trảng Bàng-Tây Ninh nhưng chưa lần nào có dịp đặt chân đến. Nhiều vùng quê miền Nam có các địa danh thật lạ như Hóc Bà Tó, Chắc Cà Đao, Muồng Luông, Soài Cả Nãi và Tha La… dường như từ gốc Khmer mà ra. Theo địa chỉ đã có, tôi và anh Hữu trực chỉ hướng Tây Bắc đi Hốc Môn rồi vượt qua Củ Chi và đến thành phố Trảng Bàng lúc gần trưa. Từ Trảng Bàng, theo một con đường đất đỏ (cũng về hướng Tây) mà hai bên là các thửa ruộng, rẫy chung với nhà dân hoặc các đám rừng cây lưa thưa, chúng tôi đi về một xã có tên là An Hòa khoảng 6, 7 cây số gì đó thì gặp Tha La. Đây là một xóm nhỏ với những nhà lợp tranh, mái ngói và cả nhà tôn nằm thấp thoáng sau hàng cây ăn trái như mít, xoài, ổi và dừa. Tha La, một miền quê do khung cảnh và cũng vì con đường chính cùng các ngõ nhỏ đều là đường đất đỏ. Mùi rạ, mùi đất bùn cùng mùi lá tre và cả mùi mít chín thơm thoang thoảng trong gió. Có những ngõ nhỏ đan chặt các hàng tầm vông, tre hoặc trúc trông thật mát mắt. Loanh quanh một hồi, chúng tôi tìm được nhà của người có sách muốn bán nằm riêng một ngõ với hai hàng trúc bao thành lối đi mát rượi dẫn vào bên trong. Chúng tôi chạy xe thẳng vào sân của một căn nhà vách ván gỗ xập xệ lợp ngói có chỗ đã bong mất hở cả mè cây đỡ mái. Căn nhà có một bàn thiên chính giữa mặt tiền cùng những cây cúc ngày tím sẫm, hoa vạn thọ vàng chóe chung với bụi mẫu đơn đỏ thắm. Chủ nhà ở phía sau nghe tiếng động liền ra xem rồi nhận ra anh Hữu, ông mời chúng tôi vào trong và lấy các sách muốn bán ra bày trên bộ ván ngựa xưa cũ. Mới trông qua thấy toàn sách xưa, những quyển mà dân bán sách cũ đang kiếm, anh Hữu chộp ngay các quyển: Kim Cổ Kỳ Quan, Châu Về Hợp Phố, Mai Hoa Dịch Tân Biên, Vạn Huê Lầu, Đông Chu Liệt Quốc, Long Trùng Quyết Sách… và số còn lại (khoảng hai chục quyển) là loại thường nhưng anh Hữu cũng mua hết nói dùng làm sách bày cho có trong kiosk. Theo lời gia chủ, sách vừa bán là do từ gia đình (ông ngoại) để lại từ lâu, nay vì cần tiền đành phải bán. Đồ đạc bài trí trong nhà ngoài các trang thờ bằng gỗ, tủ cẩn ốc xà cừ chưng hình ảnh ông bà, bộ ván ngựa thì còn có các tủ danh mộc đã cũ. Một nếp nhà khá giả xưa còn sót lại đang trong cảnh sa sút. Tôi hỏi thăm gia chủ ít điều về Tha La thì được biết nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của Khmer có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào, người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh này tồn tại cho tới bây giờ. Tha La hiện thuộc ấp An Hội của xã An Hòa (có 8 ấp) thuộc Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và là một xứ đạo Thiên Chúa. Theo ông, từ thời vua Minh Mạng, dân theo đạo trốn chạy, lánh nạn vào đây (khi đó còn là rừng) rồi khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin tâm linh. Ông cũng cho biết, trong Tha La nơi nhộn nhịp-trù phú nhất chính là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo. Cũng có một số người theo các tôn giáo khác như đạo Phật, thờ cúng ông bà… sống ở Tha La. Tôi hỏi thêm về bài hát mang tên Tha La Xóm Đạo, ông liền gật đầu rồi hát vài đoạn ngắn cho tôi cùng anh Hữu nghe như để khắng định và chỉ biết vậy, không hơn.
Chia tay với ông, chúng tôi chạy xe lòng vòng trong Tha La để biết thêm. Đến khu xóm đạo nơi đông dân cư nhất rồi vòng qua thánh đường là một nhà thờ vừa phải với tháp chuông cùng hang đá nằm êm ả dưới các bóng cây mát. Sau đó, tôi và anh Hữu dừng xe, nghỉ chân ở một quán nhỏ bán dừa tươi. Chị bán quán khi nghe tôi hỏi chuyện về Tha La Xóm Đạo, đã mau mắn lấy ra một băng cassette rồi dò tìm mở đúng bài hát đó. Vài khách đang ngồi uống nước trong quán cũng hát theo rành rẽ. Họ là dân ở đây, chắc vậy và họ đang hãnh diện vì có bài hát hát về địa phương mình. Ngay sau ngày 30-4, nhạc của miền Nam VNCH được chính quyền mới gọi bằng cái tên chung là Nhạc Vàng bất kể thể loại nào. Thực ra nhạc vàng (chiếm đa số) là các bài hát về tình yêu đôi lứa, về quê hương hoặc về nỗi niềm riêng tư nào đó… không thôi. Mà nếu vậy, các bài hát thời bây giờ như Lá Diêu Bông, Chị Tôi, Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa, Phượng Hồng, Tình Thôi Xót Xa… cũng là nhạc vàng và đó là lý do tại sao công chúng lại yêu thích loại nhạc này! Một khi bạn đã yêu đã thích nhạc vàng thì mỗi lần nghe nó, bạn sẽ nhớ đến quê hương nếu như bạn đang sống ở nước ngoài. Còn nếu bạn đang ở trong nước, hồi tưởng về tháng ngày hoa mộng cũ, những kỷ niệm (tùy từng người) sẽ lại về trong tâm tưởng bạn. Ngày hôm đó tôi cũng vậy, những lời hát tai đang nghe đã dẫn tôi về khung cảnh xa xưa của Tha La và tự dưng lòng tôi se sắt buồn. Tôi đã là người dân của Tha La xóm đạo.
… Tha La ơi! Xóm Đạo ơi! Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
đành khép kín khoác vào bộ chinh y. Lòng hờn căm một chiều
xưa lửa dậy, nghe não nùng chưa? Tha La sầu quốc biến
Xóm Đạo chất hận thù!
… Đây Tha La đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh mầu tang khói lửa,
Bao năm qua Tha La còn trơ đó, đoàn người
đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy, Long viễn
khách bồi hồi như thương tiếc mùa thu
nắng hanh vàng …
Trên đường về, tôi gặp một cụ già cởi trần gầy gò đang gánh một gánh dừa đi về phía quán nước. Cụ già với hàm râu trắng như hình ảnh trong bài thơ. Không biết thời bài thơ Hận Tha La ra đời, khung cảnh khi đó có giống như hiện tại? Vài bụi tre bị chặt trụi lũi bên đường trơ gốc cây mốc trắng và tất cả những mụt măng đã bị chủ gia cắt sớm để bán. Họ cần tiền cho một nhu cầu gấp rút nên không thể chờ măng thành tre được, y như chủ nhân căn nhà mà tôi và anh Hữu vừa ghé vào mua sách cũ gia đình để lại. Tha La là vùng đất lành, mầu mỡ do nguồn nước từ kinh Vàm Trảng dẫn từ sông Vàm Cỏ về tưới mát đất đai ở đây nhưng sao dân cư trong vùng vẫn mang vẻ buồn, hiu quạnh. Tôi cảm thấy… hay Tha La tự nó là như vậy.
Như nhiều bài hát nổi tiếng khác, Tha La Xóm Đạo được phổ từ một bài thơ của một thi sĩ và cũng là một người lính chiến thời chiến tranh Việt-Pháp. Đó là bài thơ Hận Tha La và tác giả là Vũ Anh Khanh. Tới tận bây giờ vẫn ít người biết về thân thế cùng số phận của nhà thơ Vũ Anh Khanh dù có thể họ vẫn hát bài hát Tha La Xóm Đạo. Vũ Anh Khanh có tên là Võ Anh Khanh nhưng cũng có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 quê quán ở Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận. Ông sống ở Sài Gòn, có thơ-văn đăng trên các trang báo từ những năm cuối thập niên 1940. Nước Việt trong giai đoạn này, bị xáo trộn bởi các ảnh hưởng chính trị, thời thế quốc tế và từ các vận động của các tổ chức-đoàn thể trong các địa phương. Giai đoạn này cũng là sự thức tỉnh tự thân của giới thanh niên-trí thức trẻ (trong đó có các văn nghệ sĩ), đưa đến cuộc đấu tranh chống Pháp năm 1945. Người ra chiến khu, vô bưng hoặc về lại thành phố trong tinh thần ái quốc chống ngoại xâm và được một làn sương lãng mạn-thi vị nhưng hào hùng phủ lên. Người yêu nước, khởi đầu gia nhập hàng ngũ kháng chiến chỉ một ý nghĩ là giặc Pháp tiếp tục muốn đặt lại ách thống trị thì phải chống chứ chẳng hề vì lý tưởng đại đồng, CS gì và Vũ Anh Khanh là một người trong số họ. Là một chiến sĩ, đi qua nhiều vùng đất nước, mắt ông đã thấy nhiều cảnh chết chóc, nhà cháy, tang thương của xóm làng sau một trận chiến. Và, không biết trong một lần nào đó, ông đã có dịp dừng chân tại Tha La rồi khung cảnh của một xóm đạo thời ly loạn… đã gây một xúc động ghê gớm nơi ông, khiến ông sáng tác ra bài thơ (chúng ta hãy nghĩ vậy).
Hận Tha La là một bài thơ dài kiểu hợp thể. Đoạn mở đầu là Ngũ Ngôn rồi chuyển sang Tám Chữ, sau đó thành Kịch Thơ (đoạn giữa) và kết thúc bằng hai câu Thất Ngôn. Một bài thơ hay, có hồi có cảnh. Tiết tấu thay đổi với khung cảnh và khung cảnh thay đổi với các nhân vật trong bài thơ.
Xin mời quý bạn đọc, đọc bài thơ Hận Tha La
HẬN THA LA
Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
” Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than. ”
Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và truyện ngắn như Ngũ Tử Tư, Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông, Một Đêm Trăng… Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ biết chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Hận Tha La.
Năm 1954, Hiệp Định Geneva về ngưng chiến được thực hiện, chia cắt nước Việt làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Người dân miền Bắc (khoảng gần 1 triệu người) ồ ạt di cư vô miền Nam thì đổi lại cán bộ-chiến sĩ thuộc phe CS ở trong miền Nam được chuyển ra miền Bắc (gọi tên chung là tập kết). Có 3 khu vực tập kết là Hàm Tân-Xuyên Mộc, Đồng Tháp Mười, Cà Mau và không biết Vũ Anh Khanh tập kết tại địa điểm nào kể trên. Ông ra Bắc rồi đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu (HNCNVAC) tại New Dehli (Tân Đề Li-Ấn Độ) tháng 12 năm 1956. Tham dự hội nghị là phái đoàn của 16 quốc gia (gồm 14 quốc gia CS và chỉ 2 quốc gia tự do là Ấn Độ và miền Nam VNCH). Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn miền Bắc VNDCCH chung với nhà văn Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Lý do Vũ Anh Khanh được nhà cầm quyền miền Bắc khi đó cử đi dự đại hội HNCNVAC là vì công an không thấy ông trong cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền-Hà Nội để phản đối sự chỉ huy văn nghệ của Đảng (nhân có phong trào Trăm Hoa Đua Nở-Trăm Nhà Đua Tiếng). Cuộc tụ tập đó do nhóm tập kết miền Nam phản đối các lãnh đạo CS Hà Nội. Sau khi dự đại hội HNCNVAC về, có lẽ đã thấy bộ mặt thật của chế độ CS tại miền Bắc nên khi Vũ Anh Khanh có giấy đi công tác (cách vài tháng sau) ở tỉnh lỵ Vĩnh Yên (phía Bắc Hà Nội) và thi sĩ đã sửa giấy công tác đó từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh (một đặc khu tương đương cấp tỉnh), địa danh gần sông Bến Hải. Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh và ông đã mạo hiểm vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng không thoát. Một mũi tên độc đã cắm vào người ông, lôi ông chìm xuống đáy và chết mất xác.
Sông Bến Hải (giới tuyến chia cắt hai miền Nam-Bắc) thuộc thôn Hiền Lương (cầu trên sông mang cùng tên) xã Vĩnh Thành huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị. Giai đoạn Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh thì ở phía bờ Bắc (do chính quyền miền Bắc VNDCCH kiểm soát) có 2 đồn công an đóng tại Hiền Lương và Cửa Tùng. Đồn Hiền Lương nằm sát bên cầu, đồn Cửa Tùng đóng ở bãi biển xã Vĩnh Quang. Đồn nào (theo quy định của bản Hiệp Định Geneva) chỉ có 16 nhân viên nhưng con số thực tế nhiều hơn. Vả lại, vì là giới tuyến trực diện với vùng đất phía Nam của chính quyền miền Nam VNCH nên dân chúng sinh sống sát bờ sông Bến Hải thực tế là các gia đình công an giả trang. Vũ Anh Khanh đến đây nhằm tìm dịp để vượt tuyến đào thoát vào miền Nam VNCH nhưng ông không ngờ trước đó (ngày 4 tháng 10 năm 1956), đã có 3 người dân miền Bắc liều mạng bơi qua sông và họ thành công. Chính quyền miền Nam VNCH đã không giữ kín việc này khi họ tổ chức họp báo để thông tin và miền Bắc VNDCCH biết được. Công an CS tại Vĩnh Linh đã họp và quyết không để trường hợp tương tự tái diễn. Họ đã kín đáo canh phòng nghiêm nhặt dù bên ngoài vẫn để các sinh hoạt dân dã bình thường và Vũ Anh Khanh đã mắc bẫy. Có lẽ vào ban ngày ông đã tìm cách bơi sang sông (chỉ rộng hơn 100 m) rồi bị công an phát giác và các mũi tên độc (được bắn ra từ nỏ lớn) của công an đã kết liễu đời ông. Việc dùng tên tẩm thuốc độc (thay cho súng) là cách mà công an CS muốn tránh bị Ban Liên Hợp Quốc Tế Giám Sát-Kiểm Soát việc áp dụng Hiệp Định (có mặt tại đây) phát giác việc họ truy sát dân lành vượt tuyến (Có tiếng súng nổ thì họ sẽ cho điều tra). Cái chết của Vũ Anh Khanh, có thể do công an CS đã thông báo cho dân chúng biết như một răn đe nên kể từ sau đó (tháng 4 năm 1957), không còn người vượt tuyến vào miền Nam bằng cách bơi sang sông Bến Hải nữa.
Là một người yêu nước tuy có lúc sai lầm khi đứng bên phía CS, sau cùng Vũ Anh Khanh đã đào tị nhưng không gặp may. Chính quyền CS đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền miền Nam VNCH cũng đối xử tương tự với ông khi gạt bỏ tên trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm lưu hành các sách in của ông. Họ xếp ông là văn-thi sĩ CS (do đã tập kết ra miền Bắc năm 1954 và dự đại hội HNCNVAC tháng 12 năm 1956) và đó là một đối xử bất công.
Bài thơ Hận Tha La được các nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ thành bài hát (năm 1964) mang tên Tha La Xóm Đạo, nhạc sĩ Sơn Thảo’S phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Hận Tha La và nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Vĩnh Biệt Tha La.

Phạm Thắng Vũ

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN.

ledachoanghuu

Sài Gòn gặp phải mùa áp thấp. Mưa triền miên cả ngày, mưa rỉ rả suốt tuần. Thành phố lại như một công trường. Người ta ra sức chống ngập như muốn xới tung cả thành phố lên, những con đường rào chắn chiếm gần trọn hết, đất đá vương vãi, bùn đất ngập ngụa càng làm cho thành phố buồn thê thảm. Anh ta cũng buồn thê thảm, trong đầu ngổng ngang những câu hỏi, và đập trực diện là câu hỏi giữa cái đống ngổn ngang này, ở đâu đó có hay không một căn phòng hội họp, có hay không một căn phòng tham mưu rồi dẫn tới những căn phòng với bọt bia tung tóe cùng những cô em chân dài thiều vải giống như căn phòng anh ta vừa ngồi với Khoát dùi, có hay không sự thực tâm hay bao nhiêu phần trăm là thực tâm muốn tốt đẹp xuất phát từ đây. Anh ta lê la hang cùng ngõ hẻm với những quán cà phê cóc, cà phê vỉa hè, cà phê của những người bán vé số, đánh giày, bán dạo ghé qua, những người nếu xếp lại có thể đầy đủ binh đoàn mà không có câu trả lời.
Mệt mỏi, anh ta dứt khoát bỏ ngoài ta những cuộc gọi của cò Lân, của Mẫm dược… Không biết đã bao lâu rồi anh ta mới lại thấy mình dũng cảm như vậy. Không nghĩ ngợi tới mưu mô chước quỷ, không suy nghĩ những toan tính thiệt hơn, không cần tới cây dùi của “thầy” Khoát, không cần biết nó có thành hay bại, nó có diễn ra hay không.
Có một điều làm anh ta nghĩ ngợi nhiều, chú Năm bị bắt, rồi hàng ngày mở trang báo ra ít nhiều cũng có một vụ bị bắt, không phải là loại tội phạm lưu manh côn đồ, đâm thuê chém mướn… loại này thì hà rầm. Đó là những tội tham nhũng, lừa đảo quy mô lớn nhỏ, đủ mọi thành phần, quan lớn quan nhỏ, doanh nghiệp này doanh nghiệp kia, ngành này ngành nọ… sao mà nhiều quá, nhiều, nhiều kể không xiếc. Anh ta nhớ tới cơn gió xoáy, phải rồi, đã ở trong nó theo nó thì bị xoáy theo là phải, xoáy thì càng ngày càng rộng như cái lồng phễu, anh ta rùng mình một ngày nào đó thôi rồi sẽ tới mình, tra hai tay vào cái cùm, không tàn lụi thể xác cũng mục ruỗng vì tra cổ vào cái thòng lọng vô hình mà thôi.
Anh ta muốn thoát ra. Bằng cách nào? Anh ta thử nằm sát xuống đất, bấu víu vào đất, đất âm ẩm hiền hòa tỏa một mùi thơm khó tả, anh ta như tan vào lòng đất, đất không khác gì mẹ, anh ta nghe một luồng không khí mát rượi lướt qua, một làn gió thoảng như không có gió làm nhẹ cả người, ru anh ta miên man, anh ta hỏi:
“Đây là cơn gió gì?”.
Cơn gió trả lời ngắn gọn nhưng thanh thoát:
“Vô thường”.
Anh ta khoan khoái hít đầy lồng ngực, có chút mơ hồ về sự vô thường nhưng cảm nhận được vô thường là cõi tuyệt vời, cõi thư thái tâm hồn, anh ta ước:
“Ta quý mi quá, ta muốn được như mi quá đỗi!”.
Cơn gió nhè nhẹ:
“Anh đã vừa mới có khoảng khắc vô thường, anh thoát khỏi vòng vây gió xoáy, tiếp theo thì anh tự định đoạt”.
Anh ta ngửa mặt lên trời:
“Linh hồn xoáy hãy biến vĩnh viễn khỏi đời ta”.

***

Tháng bảy lịch Ta, tháng có nhiều sự kiện. Tháng bảy âm hồn, tháng bảy mưa ngâu, mưa từ đôi mắt của đôi Ngưu Lang Chức Nữ, tháng bảy mùa Vu Lan báo hiếu. Có thể nói tháng bảy tuy không phải là tháng tư tháng trung tâm với ngày lễ Phật Đảng, nhưng tháng bảy mang nhiều âm hưởng thuyết nhà Phật.
Vô thường cũng là thuyết nhà Phật. Anh ta đang có vô thường, anh ta muốn giữ vô thường. Anh ta đội mưa như một kẻ khất sĩ đi lên chùa.
Cửa chùa rộng mở nhưng… lòng người ở chùa thì hông hẳn. Gã khất sĩ lang thang thì chắc chắn phải với một thể trạng bần hàn, héo úa – anh ta chua chát: “Đôi mắt ở chùa bây giờ là vậy sao, đôi mắt chẳng cần nhìn xuyên thấu tâm hồn, đôi mắt không khác gì người phàm mắt thịt, trần tục bụi mờ hay sao?”.
Ăn ta mặc xác, cái xác của anh ta lẫn những cái xác người chùa không rộng lòng. Anh ta dạo quanh chùa, phủ phục dưới chân tượng phật tìm bằng an. Rồi giữa chùa đập vào mắt anh ta một cảnh như là phiên chợ, nó không hỗn độn bát nháo như phiên chợ trời, ở đây là dòng người tươm tất từ đầu tới chân, y phục chỉnh tề, giày dép láng mượt cùng những vẻ mặt nghiêm nghị đôi khi toát ra những nụ cười bí hiểm. Những nhà sư cũng mang khuôn mặt và nụ cười bí hiểm. Họ trao đổi, rồi họ ký sổ, họ cúng dường, rồi họ ban phát và được nhận những ơn huệ. Những gương mặt tươm tất này anh ta gặp ngày một ở đời thường, những gương mặt cò Lân, Khoát dùi, Chín Của, Mẫm dược, Hội hè, Phán lụi, Ba Sậu… hiện rõ mồm một trước mặt anh ta. Anh ta thấy luôn cả gương mặt mình trong đó. Anh ta tự gật đầu: “Phải, phiên chợ mua thần bán thánh, mua một chỗ trên thiên đàng, có lẽ họ nghĩ sẽ được vậy”.
Anh ta không còn biết buồn vui, người anh ta mất nhận thức, đông như gỗ đá, anh ta lặng lẽ rời “phiên chợ chùa”.

***

Anh ta đổ bịnh.
Những cơn mưa dầm thấm sâu, những suy nghĩ mệt nhoài làm đầu óc anh ta nặng trĩu, anh ta lê thân tới bịnh viện. Bịnh viện người xếp hàng dài như rồng rắn, người ngồi chật cứng trước khu bốc số. Anh ta lắc đầu quay ra tìm cho mình một phòng mạch riêng, sực nhớ tới nhiều người đồn đãi, hữu xạ tự nhiên hương về ông bác sĩ Văn Khoa, một ông bác sĩ có cái tên thật đẹp, cái tên vừa nghe là gợi nhớ ngay tới những nhà văn nhà thơ, những lãng tử mộng mơ.
Anh ta bước vào phòng mạch, một cô gái ngồi ở bàn tiếp tân xinh đẹp cất tiếng lảnh lót chào:
“Dạ, chào anh, anh khám bịnh hay có việc gì?”.
Anh ta muốn bật cười, đã tới phòng mạch với tấm thân này thì còn làm gì nhưng uể oải nụ cười không đến được:
“Dạ, khám bịnh”.
Cô gái tiếp:
“Mời anh vô trong, bác sĩ Văn Khoa vừa tới”.
Cố gái dẫn anh ta bước vô, cô gái nhỏ nhẹ:
“Dạ thưa bác sĩ có khách”.
Vị bác sĩ đang ngồi trong phòng một mình, anh ta nói thầm: “Chà, không hổ danh lời đồn” – Bác sĩ với dáng phong độ, mái tóc bồng bềnh, đôi mắt sáng toát vẻ hiền hậu sau đôi kiếng, anh ta gật đầu chào:
“Chào bác sĩ, thưa bác sĩ tui muốn khám bịnh”.
Bác sĩ Văn Khoa đưa tay mời ngồi, và hỏi:
“Anh là ai?”.
Anh ta ngớ người, ú ớ:
“Dạ thưa, tui… tui là…”.
Bác sĩ cắt ngang:
“Tui là… tui phải hông?”
Anh ta cười và gật đầu đại:
“Dạ…”.
Bác sĩ với tay lấy cái ống nghe, một trong những động tác quen thuộc của các vị bác sĩ khám bịnh, cho dù đôi lúc chẳng cần tới nó, bác sĩ nhìn anh ta mỉm cười:
“Lần đầu mới có người trả lời như vậy, nhưng tui không nghĩ anh không biết mình là ai, chỉ có điều anh không nói hay bị bối rối mà thôi”.
Anh ta càng thấy vị bác sĩ lạ lùng, anh ta nhướng mày:
“Nhưng điều này có quan trọng để một bịnh nhân phải trả lời?”.
Bác sĩ đứng dậy đi qua lại anh ta:
“Hỏi hay lắm và cũng chưa ai hỏi tui như vậy. Đã vậy thì chúng ta nên thiệt tình với nhau nhé. Thú thực với tui là có, rất quan trọng”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Quan trọng hơn cả bịnh nhân nói đau gì, đau ra sao?”.
Bác sĩ đưa bàn tay cản lại điều anh ta hỏi:
“Không, mỗi cái có quan trọng khác nhau, tui chỉ hỏi cái nào trước cái nào sau mà thôi”.
Anh ta suy tư:
“Bác sĩ nói rằng ai cũng nói rằng mình là ai, riêng tui tui không trả lời có được hông?”.
Bác sĩ nhẹ nhàng lắc đầu:
“Không, đó là nguyên tắc của tui, không thể khác, đó là thủ tục đầu tiên”.
Anh ta bật cười:
“Nghe giống thủ tục tiền đâu”.
Bác sĩ đứng lại:
“Tui biết anh nói chơi cho vui, câu cửa miệng bây giờ nhưng là thực, đúng trăm phần trăm”.
Anh ta thất vọng:
“Thưa bác sĩ hông lẽ những lời đốn đoán là sai, những lời tốt đẹp về bác sĩ tài hoa và y đức là hoàn toàn trái ngược?”.
Anh ta chờ cơn phẫn nộ của vị bác sĩ nhưng không, bác sĩ bật cười:
“Tui không dám nhận những lời tốt đẹp đó nhưng đừng vội phán xét, phán xét dành cho cả con đường dài nhìn nhận – Bác sĩ Văn Khoa ngừng lại một hồi, rồi tiếp: Thôi, trò chuyện vậy đủ rồi, biết nhau chút đỉnh rồi, bây giờ anh có muốn khám bịnh?”.
Anh ta lưỡng lự chút rồi gật đầu, bác sĩ đưa tay mời:
“Hãy làm thủ tục đầu tiên”.
Anh ta kể sơ anh ta là ai. Chuyến đi trải dài từ tuổi thơ cho tới bây giờ. Anh ta chỉ lướt qua, chỉ những ngày gần đây thì anh ta nói kỹ một chút. Nghe xong, Bác sĩ gục gật:
“Tui cũng đã bắt thần sắc của anh rồi, anh chẳng bị gì nặng lắm, cảm lạnh đau ê ẩm mình mẩy, còn nhúc buốt, nhói lên tận óc là từ những cơn dằn vặt, những cơn dằn xé mà ra”.
Anh ta thấy đúng quá:
“Có lẽ đúng vậy, bác sĩ cho biết cách trị”.
Bác sĩ cười:
“Đau thì kê đơn thuốc dễ ợt, còn nhức óc thì tui bó tay, anh phải tìm nguyên căn từ đâu ở chính anh và anh phải loại bỏ nó”.
Anh ta gục gật và phát đồ cho mình cách loại bỏ như bác sĩ nói. Bác sĩ Văn Khoa viết đơn thuốc, bác sĩ đưa cho anh ta, anh ta cầm lấy:
“Cảm ơn bác sĩ rất nhiều, bác sĩ xin cho gởi tiền thù lao”.
Bác sĩ ngần ngừ:
“Tui chưa gặp người nào giống anh trong nhiều hạng người tui đã khám nên tui không biết tính thế nào, thôi coi như bữa nay tui chưa khám vậy, anh cứ tự nhiên”.
Anh ta không thể thấy lạ lùng hơn nữa, tự dưng anh ta muốn tìm hiểu kỹ hơn vị bác sĩ này, anh ta ngồi lại xuống ghế:
“Bác sĩ có thể nói khác nhau của nhiều hạng người hông?”.
Bác sĩ nhìn anh ta:
“Anh muốn biết, muốn trò chuyện”.
Đúng ý, anh ta gật ngay, bác sĩ tiếp:
“Được nhưng tui không thích trò chuyện ở phòng mạch, ta kiếm chỗ nào đi”.
Anh ta ngại ngùng:
“Còn phòng mạch?”.
Bác sĩ kêu cô tiếp khách mua dùm anh ta đơn thuốc, kéo anh ta đi và nói:
“Còn nhiều đệ tử khám bịnh, cần kíp lắm thì sẽ gọi chớ lo gì”.

***

Kéo ghế ngồi ở quán bên bờ sông, bác sĩ Văn Koa vương người thở sảng khoái:
“Tui rất khoái dòng sông Sài Gòn, nước không ồn ào dữ dội, đều đều lên xuống và mang theo từng mảng lục bình xanh ngắt đôi khi có những nụ hoa tim tím”.
Anh ta cũng thích:
“Bác sĩ lãng mạng quá!”.
Bác sĩ kêu hai chai bia cho hai người, anh ta hỏi:
“Uống có sao… ?”.
Bác sĩ phẩy tay:
“Một hai chai chẳng đưa anh về chầu ông bà ông vãi đâu mà lo”.
Anh ta khơi chuyện trở lại:
“Bác sĩ khám hàng ngàn hàng vạn người rồi, chắc gặp biết bao hạng người…”.
Bác sĩ nhấm nháp ly bia:
“Đúng, tui đã khám không thể nhớ bao nhiêu người, chung quy lại thì chỉ có vài hạng người, hạng thứ nhứt sẽ ấp a ấp úng gần giống anh, nhưng sẽ không bao giờ dám hỏi, sẽ trả lời là dân đen dân nghèo, đây là những người bịnh nặng, bước đường cùng mới tới. Hạng thứ hai như vậy không thấy đường nào khác nhưng không đến nỗi mạt hạng, đó là những tay anh chị du côn du đãng…”.
Anh ta hỏi:
“Bác sĩ có sợ hạng người này?”.
Bác sĩ lắc đầu:
“Không, hoàn toàn không, cho dù anh là gì đi nữa thì đối diện cái chết anh cũng sẽ run rẩy, hiếm có người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Hạng này sẽ phủ phục dưới chân và đôi khi có những tay có nghĩa khí, coi ân tình là trên hết, sẽ nhớ ơn suốt đời”.
Anh ta dần dần thấy chân dung của vị bác sĩ, bác sĩ tiếp:
“Hạng người nữa là sẵn sàng dõng dạc tuyên bố ta là ai…”.
Anh ta thử chen vô:
“Đây là hạng tự cao tự đại và phải có của cải quyền cao?”.
Bác sĩ gật đầu:
“Chính xác, thường là như vậy, họ sẽ chỉ thẳng vào ngực mình mà cho biết ta là doanh nhân, là những người làm ăn lớn, là quan chức, dĩ nhiên phải bỏ những doanh nhân những quan chức có đủ tri thức, hạng người này thì hiểu biết xử thế, tiếc thay thời nay hiếm có”.
Anh ta được cái mạch:
“Hạng tự đại sẽ buộc phải chữa cho họ dù họ hông nói thẳng thừng ra?”.
Bác sĩ tiếp gật đầu:
“Đúng vậy, coi như cái lịnh vô hình”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Bác sĩ chữa hết cho tất cả?”.
Bác sĩ nhìn ra dòng sông, một chiếc ghe nhỏ có người chèo lướt qua, có lẽ người đi câu cá trên sông, bác sĩ đáp:
“Phải chữa hết, đó là thiên chức của người thầy thuốc”.
Anh ta đã hiểu, anh ta cười khà:
“Vậy là những lời đồn đoán về bác sĩ là thiệt sự, không sai chút nào, kể cả người nghèo, người giàu, người quyền cao chức trọng hay dân dao búa, bác sĩ khám bịnh kên đơn và kê giá tùy cho mỗi hạng người bởi vậy mới hỏi là ai?”.
Bác sĩ gật gù:
“Anh đã hiểu phần nào – Chợt bác sĩ thở dài nhìn lên bầu trời: Còn một hạng người nữa mà tui rất sợ, chẳng muốn vác mặt tới phòng mạch của mình, hạng này chữa không khỏi”.
Anh ta nói từ dân dã:
“Bó tay, hết thuốc chữa. Dạ, hạng gì mà ghê gớm vậy?”.
Bác sĩ cười mà vẫn buồn:
“Hạng đã đánh mất linh hồn”.
Anh ta chợt giật mình, anh ta nhớ lại ngày cơn gió tuổi thơ nói với mình, anh tự hỏi vậy đã đánh mất linh hồn chưa? Lúc anh ta cho rằng chưa lúc thì đã. Lúc chưa thì chưa tìm đủ tội lỗi, chưa nghĩ tội như vậy là nặng tột cùng để xóa linh hồn. Lúc đã thì với anh ta, tội lỗi là tội lỗi dù nhỏ nhặt, mà anh ta cũng hàng hàng tội lỗi. Ngày rời rừng rú anh ta một mực không quên một ai ấy vậy mà chưa một lần trở về nơi như là quê hương thứ hai của mình, người bạn học người bạn xóm làng người từng giúp anh ta không chút vụ lợi cũng chẳng màng tới huống gì nói về những ước mơ, những khao khát ngày nào, sau này sẽ góp sức làm thay đổi quê hương… và còn để mình cuốn ào ào vào cơn gió xoáy… Anh ta mụ người, như người bước rón rén:
“Người ta nói đánh mất tuổi thơ là đánh mất linh hồn, bác sĩ thấy sao?”.
Bác sĩ suy ngẫm, từ từ đáp:
“Có, nhưng không hẳn là hết tất cả. Đánh mất tuổi thơ để lại nỗi ám ảnh buồn tủi, nghèo hèn, đau thương để về sau những người như vậy không muốn thấy điều này tồn tại với mình với đời con cháu mình, họ dễ lắm dù phải bán linh hồn cho quỷ để xóa bỏ nó. Nhưng đó chỉ là một phần, những phần còn lại là những biến cố xấu xảy ra trong đời hay tác động của môi trường mình đang sống và kể cả môi trường xung quanh làm thay đổi nhận thức, dĩ nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ như tự dưng ý thức, thay đổi ý thức. Những điều này là ngọn gió thổi bùng đóm lửa âm ỉ, thổi bùng mầm móng ung nhọt trong con người – lòng tham vị kỷ – một bản năng tồn tại trong tất cả con người, lòng tham vị kỷ cháy trong đầu sẽ đốt cháy linh hồn”.
Anh ta bị cuốn vô cách nhìn nhân của bác sĩ Văn Khoa, anh ta đưa tiếp lập luận:
“Tác động làm cho ngọn lửa vượt giới hạn”.
“Không sai, luôn luôn tồn tại một lằn ranh giới hạn nó chỉ mang trạng thái ảo hay thực mà thôi. Thực ta thấy là những chuẩn mực con người đúc kết đề ra, là phong tục, tập quán, là luật pháp… ảo là trạng thái của lương tâm, một chân thiện mỹ đối nghịch với sự gian tà”.
Anh ta gục gật:
“Bác sĩ nói hay quá, ý bác sĩ có phải là xã hộ tốt đẹp là đa số phải ở trong chuẩn mực, nếu vượt qua cái lằn ranh này thì sẽ trượt dài chắc chắn sẽ mang tới tồi tệ”.
Bác sĩ đồng ý:
“Đúng như vậy. Đơn cử về cái lằn ranh, cái vạch sơn trắng kẻ dừng ngay ngã tư, tất cả phải dừng sau nó khi đèn đỏ và chỉ được phép tiếp đi khi đèn xanh. Tuân thủ điều này thì ngã tư không loạn xạ, phá bỏ thì tai nạn dễ xảy ra, con đường lưu thông không tốt có khi phải kẹt cứng. Nói về với thực tại, hầu hết từ vượt qua cho tới lấn tới, cái này bắt đầu từ đâu, bắt đầu từ một vài người ban đầu rồi nó lây lan, học trò nhìn thấy thầy cô lấn vượt sẽ làm theo, nhân viên thấy sếp cũng vậy, bà con thường dân cũng sẽ lấn bởi cán bộ lấn tới mà. Và một khi ta vượt được cái lằn ranh này thì tại sao lại không vượt cái lằn ranh khác, những lằn ranh đâu phải sờ sờ trước mắt như cái vạch kẻ, những lằn ranh khó nhìn thấy, khó giám sát…”
Anh ta nghe tới sự lây lan, anh ta nói:
“Giống như con vi rút lan truyền?”.
Bác sĩ tiếp tục gật đầu:
“Cái ung nhọt như con siêu vi rút vô hình lây lan ghê gớm, nó ngang nhiên đi trên xa lộ, bay chờn vờn trong không trung, đi xuyên thấu những bức tường, thâm nhập hang cùng ngõ hẻm, nó còn tới thẳng cả những nơi tôn nghiên nhứt, nơi xưa nay gần như bất khả xâm phạm, đó là những giáo đường, những chùa chiền… Tiếp tục với thực tại, bởi vậy ngày càng có những ngổng ngang, đâu đâu cũng có. Tràn lan tham nhũng, tràn lan hám danh, hám quyền, hám lợi, tràn lan đấu đá quyền lực, lo chăm bẳm những điều này thì những điều khác bị phớt lờ, ngay cả những lớn lao đau thương, vận mệnh non sông đất nước cứ thay kệ thì những đói nghèo của đồng loại có hề chi. Tràn lan mua quan bán chức, anh đã từng nói mua cả xuất lên thiên đàng mà. Rồi tràn làn suy đồi đạo đức, cửa miệng ngày nay không còn ngượng miệng với những câu tục tĩu, những dục vọng thấp hèn không chỉ có trong tầng lớp kém hiểu biết, thất học. Tràn lan bạo lực và sự vô cảm, sự mặc nhiên với cuộc đời, bạo lực và vô cảm ngay cả với người thân trong gia đình, sự vô cảm nó còn góp phần giết chết sự sáng tạo, không một sáng tạo nào xứng tầm được ra đời trong tất cả các lĩnh vực từ khoa học công nghệ cho tới văn học nghệ thuật. Tràn lan sự gian manh, dối trá lừa gạt, lòng trung thực thành thứ xa xỉ. Nghiệt ngã thay ung nhọt nó đã gậm nhấm tơi tả luôn cả hai nơi, hai cơ quan một đào tạo nên con người, một cứu người, tiến sĩ giấy như giấy tiền vàng mã thì nó tha cho nơi nào, mối mọt từ gốc cho tới ngọn. Cái ung nhọt lòng tham vị kỷ ghê gớm này đã di căn làm người ta đánh mất lòng tự trọng, lòng tự trọng thì tỷ lệ nghịch với tự ái, mất tự trọng thì tự ái leo thang, càng kinh khủng… – Ngừng mộ chút, nhấp ly bia bác sĩ tiếp giọng nhỏ đi: Cứ tiếp nối như thế này thì băng hoại cả một thế hệ, sẽ đến ngày thối nát, mục rữa mất thôi”.
Anh ta nghe choáng váng nhưng rất đúng, đúng ngay với cả bản thân anh ta. Có điều nghe lùng bùng quá, anh ta thử chuyển qua vài điều tốt đẹp hơn, anh ta nói:
“Nhưng cũng có những điều tốt đẹp tồn tại trong xã hội”.
Bác sĩ gật đầu:
“Dĩ nhiên vẫn có sự tốt đẹp, nhưng phải lấy đa số, lý ra phải ngược lại, đi mò tìm sự xấu xa mới đúng chứ. Vẫn có những điều làm xã hội tốt đẹp lên, không ai phủ nhận được. Tuy chỉ vì đã mất lòng tin, lòng tin đã khô héo nên mấy ai dám cho rằng đó là từ cái tâm sáng mà thành hay là phục vụ cho ý đồ riêng, một nhóm riêng. Dẫu sao thì nó vẫn tốt. Những ngôi nhà những ngôi biệt thự khang trang ngày càng mọc nhiều nhưng một khía cạnh khác thì lại cho thấy sự phân hóa rõ rệt, một nhóm người đang ở trên mây với bồng lai tiên cảnh, còn đa phần thì lại vẫn ở dưới đáy khốn khó, người trên cao thì chẳng muốn nhìn xuống, họ phớt tỉnh, họ chỉ chú tâm để còn mãi ở nơi này, những người ở dưới thì không dám ngước lên, một đám mây mờ áng ngữ phủ đầu – Bác sĩ xòe bàn tay qua hướng anh ta: Anh có thấy điều này, chắc chắn thấy phải hông?”.
Anh ta gật đầu:
“Thấy rất rõ”.
Bác sĩ hỏi tiếp:
“Nhưng anh biết chứng minh cho điều này ở dễ nhứt ở đâu không?”.
Anh ta thấy thì nhiều nhưng chưa nghĩ tới, anh ta lắc đầu, bác sĩ cười:
“Anh cứ đi dọc theo con đường rày xe lửa thì anh sẽ rõ, hai bên đó bao nhiêu căn nhà có phải là nhà, chỉ vài mét vuông, bao nhiêu mảnh đời lúc nhúc cơm hàng cháo chợ, chạy ăn từng ngày từng bữa, anh sẽ so sánh được mà thôi, một căn biệt thự bao nhiêu căn như vậy…”.
Anh ta gục gật:
“Bác sĩ tinh ý quá”.
Điện thoại của bác sĩ Văn Khoa reo, phòng mạch có ca cần tới, anh ta đứng dậy, chào bác sĩ:
“Trò chuyện với bác sĩ quên cả thời gian, cảm ơn bác sĩ rất nhiều”.
Bác sĩ từ tốn:
“Không có gì, tui rất vui vì có người chia sẽ, hẹn gặp lại”.

***

Anh ta đã đỡ hẳn đau đầu, nhức buốt óc cũng ít đi bởi cố không suy nghĩ nhiều. Mang gói quà tới gặp bác sĩ Văn Khoa, đa tạ là một phần phần chính anh ta muốn gặp lại vị bác sĩ lãng tử và rất giỏi, bác sĩ gặp anh rất vui:
“Chà bày đặt quá, đỡ chút đỉnh nào chưa?”.
Anh ta cười tươi:
“Dạ đỡ rất nhiều, bác sĩ rảnh rổi?”.
Bác sĩ nhướng mày:
“Trò chuyện chơi hả, ừ thì đi chớ rảnh rỗi thì tui khó à”.
Anh ta và bác sĩ kéo tiếp ra bờ sông Sài Gòn, vẫn là những ly bia, anh ta khai cuộc:
“Bác sĩ nói lòng tham vị kỷ, vậy có lòng tham khác nữa?”.
“Phải, tui gọi đó là lòng tham nhân bản”.
Anh ta tròn đôi mắt:
“Đã tham sao còn nhân bản?”.
“Chỉ là cách nói, cách hiểu, lâu nay động tới từ tham thì người ta nghĩ ngay tới xấu xa. Người ta quên rằng có những lòng tham chân chính, có người cảm thấy yêu thương là đủ, chẳng hạn yêu thương gia đình, quê hương… nhưng có người thì lại không họ phải là yêu thương vô bờ bến, như vậy họ chẳng tham yêu thương hơn là gì. Ở trường lớp, ở môi trường làm việc… vẫn có người muốn hơn người khác chứ, là lòng tham, lòng tham này dẫn tới sự cạnh tranh, sự cạnh tranh lành mạnh bằng sáng tạo, bằng con tim, bằng sự chia sẽ, bằng tài năng, bằng sức làm việc thì đó là lòng tham chân chính, tất cả cho sự tốt đẹp hơn. Trọng danh dự cũng là một loại tham này, tui gọi là lòng tham nhân bản, còn ngầm hiểu cần nhân lên nữa như cấp số nhân càng tốt”.
“Bác sĩ nói chí lý quá, bác sĩ phán xét giỏi quá”.
Bác sĩ Văn Khoa chựng người lại, đưa bàn tay cản:
“Tui không phải là quan tòa nên không có phán xét, chỉ có cái nhìn nhận và là một kẻ làm nghề”.
Anh ta biết đã lỡ lời, anh ta sợ bác sĩ giận:
“Dạ, không không, xin lỗi bác sĩ tui hông có ý đó”.
Bác sĩ hiểu ý xua tay:
“Đó cũng có thể là cách phản biện, mà phản biện thì cần phải nghe chứ”.
Anh ta cười xuề:
“Tui làm gì đủ tư cách phản biện, à chỉ xin hỏi bác sĩ điều này, nhìn nhận coi như một mệnh đề bác sĩ đưa ra, vậy chắc chắc còn một mệnh đề phía sau đó”.
“Anh cũng khá lắm, lâu rồi chưa trò chuyện với ai được nhiều và có phần hiểu tui, ý anh là mệnh đề giải quyết những điều này? Tìm lời giải cho bài toán có ẩn số?”.
Anh ta công nhận:
“Đúng vậy”.
Bác sĩ uống cạn ly bia, bác sĩ Văn Khoa uống cũng rất khá, ông từ từ đáp:
“Có hai lời giải”.
Anh ta khấp khởi mừng:
“Bác sĩ có thể chia sẽ?”.
Bác sĩ mỉm cười:
“Dĩ nhiên rồi. Lời giải đầu là xuất hiện một bộ óc và trái tim tuyệt vời, bộ óc vĩ nhân như trên bầu trời xuất hiện một ngôi sao sáng, sự lấp lánh của nó sẽ lấn át tất cả. Trái tim này đè bẹp được lòng tham vị kỷ và thôi thúc lòng tham nhân bản. Bộ óc sẽ sản sinh siêu vi rút lòng tham nhân bản, siêu truyền nhiễm để chống lại sự siêu truyền nhiễm xấu xa từ lòng tham vị kỷ gây ra. Bên cạnh đó bộ óc này phải là bộ óc không hề ảo tưởng, tìm đúng con đường để đi. Không thể có con đường trải đầy hoa hồng cho tới đích là một cánh đồng hồng tươi. Ai còn vọng điều này là quá ảo tưởng bởi sự phức tạp trong bộ óc con người, bản ngã của con người khó đo đếm được, không thể triệt tiêu được lòng tham vị kỷ, chỉ kìm nén trong cái lằn ranh là quá đủ. Không thể có sự tuyệt đối, tất cả chỉ là tương đối như thuyết tương đối trong vật lý của thiên tài Einstein”.
Anh ta hơi thất vọng:
“Phải chờ đợi ngôi sao sáng xuất hiện”.
Bác sĩ cụng ly với anh ta:
“Anh không nghe câu truyền khẩu bao đời à, thời nào cũng có anh hùng thời nào cũng có kẻ khùng kẻ điên, rồi sẽ xuất hiện”.
Anh ta thở phào:
“Hy vọng sẽ nhanh chóng, dạ, còn lời giải thứ hai?”.
Bác sĩ tiếp:
“Lời giải thứ hai không có ở đây, nếu anh muốn biết thì mai tới tui sẽ dẫn tới một nơi, lời giải của chính tui nhưng chưa biết có thành”.
Anh ta muốn biết lắm chớ anh ta vồn vã:
“Dạ mai tới, chắc chắn mai sẽ tới, thưa bác sĩ”.

***

Sáng sớm thức dậy, anh ta nóng lòng tới ngay phòng mạch bác sĩ Văn Khoa. Bác sĩ chưa đến. Anh ta ra quán cà phê đối diện ngồi đợi.
Hai tiếng sau vị bác sĩ mới tới. Bác sĩ ngồi nhấm ly cà phê với anh ta:
“Chà tới sớm quá hả?”.
Anh ta thật thà:
“Dạ rất sớm, rất muốn biết lời giải thứ hai”.
Bác sĩ đưa anh ta tới một căn nhà khang trang, đi xuyên qua phòng khách gặp một hành lang nhỏ hẹp, quẹo qua lại hai ba lần gặp bức tường chắn, hết thấy lối đi. Bác sĩ rút cái vật giống cái điều khiền ti vi và bấm bấm, phút chốc bức tường xê dịch mở ra, bên trong một ô trống như thang máy, bác sĩ mời anh ta cùng bước vào, bức tường đóng lại tối om, tia ánh sáng yếu ớt bật lên, cái sàng di chuyển đi xuống, anh ta nghĩ là xuống tầng hầm, cũng trong phút chốc thì ngừng lại. Bức tường lại xê dịch mở ra, bác sĩ kéo nhẹ anh ta ra bước ra ngoài. Vừa bước ra thì ánh sáng được bật lên sáng trưng, hiện ra trước mắt anh ta là một phòng thí nghiệm sáng choang làm anh ta choáng ngợp, đầy đủ máy móc, những cái máy vi tính, những cái máy anh ta không thể biết… Anh ta thốt lên:
“Tuyệt vời quá, quá ư là hiện đại”.
Bác sĩ xoa xoa những cái máy:
“Hiện đại này là nhờ những người… tự cao tự đại đó”.
Bác sĩ dẫn anh ta vào bên trong, căn phòng mổ, cái bàn mổ cũng hiện đại không kém. Chợt anh ta giựt bắn người, lạnh cả sống lưng, trên những cái bàn xung quanh nằm la liệt những bộ não, bộ còn nguyên bộ bị mổ làm đôi, bô bị mổ làm tư, có bộ mổ ra từng mảnh nhỏ, trong đầu anh ta một luồng suy nghĩ xấu về vị bác sĩ chạy qua, anh ta nghĩ không thể ngờ được, đúng là điều gì cũng cần nhìn kỹ chân tướng, bác sĩ đứng lại quay qua anh, anh ta run lên muốn quay đầu bỏ chạy rồi anh ta lại nghĩ, chạy đi đâu, anh ta tìm thế thủ, bác sĩ Văn Khoa bật cười:
“Anh nghĩ tui sẽ hại anh à, tui sẽ mổ xẻ não anh sao? Ồ, đừng hiểu lầm chứ, đây là những bộ não phỏng theo thôi, chúng được làm bằng sợi tổng hợp, nhìn như thiệt phải không?”.
Anh ta vỗ trán:
“Xin lỗi bác sĩ, đúng là tui có ý nghĩ quái đảng vừa rồi”.
Bác sĩ ngúc ngoắc đầu:
“Đó là lẽ thường tình thôi”.
Anh ta đi tới chỗ mấy bộ não:
“Giống quá, y như đúc, cả hàng ngàn mạch máu li ti – Bác sĩ nói đây là lời giải của ông, anh ta nghiệm ra và hỏi: Bác sĩ đã tìm ra điều gì phải hông?”.
Bác sĩ ngồi xuống ghế, chỉ vào bộ não xẻ nhiều mảnh:
“Não bộ điều khiển tất cả các hoạt động của cơ thể và tạo ra suy nghĩ, tính toán tưởng tượng, có cả sự phán xét… Mỗi vùng của não điều khiển một hoạt động, sau bao nhiêu năm nghiên cứu từ hình ảnh não thật mà các loại máy hỗ trợ, chụp cắt lớp, máy siêu âm, máy vi tính… và cả cái máy tui với các cộng sự chế tạo mà tui gọi là máy leser soi não cùng mổ xẻ mô hình tui đã phát hiện ra một vùng sâu kín trong não, vùng tui muốn ngàn lần loại bỏ, vùng điều khiển lòng tham vị kỷ”.
Anh ta vui mừng muốn hét lớn:
“Vậy là bác sĩ đã tìm ra, đã có lời giải”.
Bác sĩ trầm ngâm trở lại:
“Tìm ra chưa phải tất cả, loại bỏ nó mới là việc đau đầu tiếp theo”.
Phấn khích quá, anh ta nghĩ dễ khô mà:
“Thì chỉ việc cắt bỏ nó đi”.
Bác sĩ ngã người ra ghế dựa:
“Nói như anh thì việc gì tui đau đầu, anh nghe tới chấn thương sọ não là thất kinh rồi phải không, mổ xẻ não là một vấn đề nan giải, chưa nói đây là một vùng sâu thẳm, động tới nó là động ngay tới những vùng khác. Rồi thí dụ như có được đi chăng nữa hổng lẽ phải mổ xẻ hết những cái đầu?”.
Anh ta tiu nghỉu:
“Vậy phải làm sao, bác sĩ phải có cách chớ?”.
Bác sĩ thở phù:
“Dĩ nhiên tui đã nghĩ cách khác, tui đang tìm ra loại thuốc tiêm để triệt tiêu nó, nhưng lại phải chờ thời gian”.
Anh ta hồi hộp:
“Sao lại phải chờ?”.
Bác sĩ từ tốn:
“Thuốc này phải thử ngay trên người, tui chờ đào tạo cho đứa học trò nó thành thạo, ít nhứt là bằng tui bây giờ lúc đó bộ não này… – bác sĩ chỉ vào đầu mình -… mới là bộ não để thí nghiệm được”.
Anh ta trợn trừng:
“Thí nghiệm ngay trên bác sĩ?”.
Bác sĩ Văn Khoa cười:
“Dù sao thì tui cũng đã kinh qua gần trọn một đời”.

***

Hai ba bữa sau hình ảnh phòng thí nghiệm của bác sĩ Văn Khoa cứ lảng vãng trước mắt anh ta. Anh ta cứ nghĩ tới nghĩ lui, đúng là vị bác sĩ tài năng và đức độ, ông dám đánh đổi cả mạng sống của mình, một hành động không phải của kẻ hèn nhát. Trong đầu anh ta bỗng xuất hiện ý nghĩ hay mình sẽ là chỗ thay thế, vừa xuất hiện thì anh ta rụt người lại như có luồng điện chạy dọc trên người, anh ta vội xua ngay cái ý nghĩ này đi, có đau đầu nhưng cuộc sống vẫn đang tốt đẹp với anh ta mà. Người anh ta như mớ tơ vò, anh ta chạy một mình ra bên bờ sông. Một con tàu kéo chiếc xà lan chở đầy hàng chầm chậm chạy qua, sóng nước ùn ùn đập vào bờ, một cơn gió cũng rùn rùn thổi vô, cơn gió làm anh ta càng rụt người, anh ta hỏi:
“Ngươi là cơn gió gì?”.
Cơn gió oằn cong xuống:
“Ta là kẻ đê hèn”.
Anh ta bức bối:
“Ngươi tới đây làm gì? Ta đâu cần cái loại như ngươi”.
Cơn gió không đổi dáng:
“Ta đang ngự trị trong ngươi kẻ đê hèn ạ”.
Anh ta điên tiết, tay huơ loạng xạ:
“Ta đâu phải kẻ đê hèn, biến đi cho ta, biến mất xác đi cho ta, ta hông cần những loại như ngươi”.
Cơn gió cười rè rè:
“Ngươi can đảm lên rồi đó, ta sẽ đi, ta sẽ cho ngươi gặp cơn gió khác”.
Anh ta hỏi:
“Là cơn gió gì?”.
Cơn gió bay đi và nói với lại:
“Cơn gió xám hối, linh hồn tội lỗi ạ”.
Chỉ lát sau cơn gió khác bay lại, anh ta đã biết đây là cơn gió xám hối, anh ta chào:
“Chào mi, chẳng lẽ ta đã nhiễm?”.
Cơn gió nhỏ nhẹ:
“Ngươi đã nhiễm từ lâu, ngươi còn chút lực còm để chống trả nên chưa gây hậu họa lớn, nhưng ngươi cũng đã tiếp tay thì đã mang tội lỗi, trước sau gì ngươi cũng sẽ bị di căn”.
Anh ta nghe mà hồn vía lên mây, anh ta chưa bao giờ muốn điều này xảy ra, anh ta rối rít:
“Bây giờ ta phải làm sao, phải làm sao?”.
Cơn gió bay vòng anh ta:
“Thì có ta đây, hãy xám hối và làm một điều tốt để được hãnh tiến”.
Anh ta phân vân:
“Điều tốt như thế nào, điều tốt gì đây nhưng ta chẳng muốn hãnh tiến?”.
Cơn gió bóng gió:
“Ngươi không muốn hãnh tiến cũng được, chỉ nên đừng làm kẻ đê hèn”.
Anh ta nghĩ hồi lâu, tại sao ai cứ kêu ta là kẻ đê hèn rồi anh ta nhớ lại, ừ ta đúng là kẻ đê hèn, anh ta thều thào:
“Chí ít cũng phải làm một việc tốt?”.
Cơn gió khẳng định:
“Hãy làm việc tốt mà ngươi nghĩ và ngươi sẽ mãi mãi được vinh danh, xám hối của ngươi xóa nhòa những tội lỗi”.
Anh ta thở ra:
“Ta chẳng cần vinh danh, xóa tội lỗi là quá tốt rồi, nhưng hãy cho ta thêm chút thới gian”.
Cơn gió gật đầu và lượn đi.
Một tuần nghiền ngẫm một mình anh ta quyết định lớn – sẽ không làm người đê hèn. Anh ta vừa thề xong lòng thanh thản ngước lên nhìn trời mây thì lướt qua bên đối diện thấy một gương mặt thân quen, nhìn lại, người anh ta tự nhiên run run bật bật, trước mắt là hình bóng không thể nhạt phai trong mắt, trong đầu anh ta được, cô nàng tình đầu, anh ta đứng dậy bước qua:
“Em… khỏe không?”.
Nàng tình đầu đôi mắt đỏ hoe, chớp chớp:
“Dạ, em… khỏe… còn anh?”.
Anh ta ngồi xuống:
“Anh có lúc khỏe, có lúc mệt mỏi, nhưng hiện tại thì khỏe rồi và luôn nhớ tới em, em sống ra sao?”.
Cô nàng lý nhí:
“Em cũng vậy, luôn nhớ tới anh, em đã lập gia đình và có một đứa con nhưng không may ảnh đã mất trong một tai nạn, anh thì thế nào?”.
Anh ta chia sẽ:
“Chia buồn với em, mất mát quá lớn, anh thì vẫn cô độc, từ ngày xa nhau có vài mối tình nhưng chẳng đi tới đâu”.
Anh ta và nàng tình đầu trò chuyện rất lâu, hết cả buổi chiều cho tới khi trăng đã lên cao. Trăng lên ánh vàng rất đẹp, dưới dòng sông hai bên bờ hắt bóng ánh đèn vàng cũng rất đẹp, rất lung linh. Anh ta kể khá nhiều chuyện kể cả chuyện vì sao lại trốn mối tình đầu. Nàng tính đầu nhìn chăm chăm anh ta rất lâu rồi mở lời:
“Chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu”.
Anh ta định gật đầu sực nhớ lại anh ta nhẹ nhàng lắc đầu:
“Tiếc quá em à anh đã thề, có lẽ chúng ta có duyên nhưng không có phận”.
Nàng tính đầu tuy mắt rưng rưng nhưng đành chấp nhận, nàng biết người như anh ta là trọng lời thề:
“Có lẽ đó là số mệnh như vậy đã an bài, chúng ta hông có thời gian để thay đổi. Em và con tới thăm anh được chứ?”.
Anh ta gục gật:
“Dĩ nhiên là được”.
Trăng đã tới gần đỉnh đầu. Anh ta và nàng là hai người cuối cùng rời bờ sông. Anh ta dìu nàng trong cơn gió khẽ lay lay cành lá, và nụ hôn nàng đặt trên môi anh ta mới cảm nhận được thế nào là nụ hôn, hồn anh ta là cơn gió lâng lâng quyện vào hồn nàng.

***
Anh ta gặp bác sĩ Văn Khoa, anh ta nói ngay:
“Thưa bác sĩ, tui muốn dành bộ não cho thí nghiệm”.
Bác sĩ quá bất ngờ nên giãy nãy:
“Đâu có giỡn chơi được, không không, không tui chưa bao giờ có ý này hết”.
Anh ta hỏi với giọng rất cứng cỏi:
“Tại sao hông được?”.
Bác sĩ than vãn:
“Trời ơi! Tui biết giải thích sao đây, tui đâu chắc thành công, tui đâu thể giết cuộc sống của anh được, mỗi người sanh ra là để được sống”.
Anh ta hỏi lại:
“Vậy bác sĩ thì sao, rồi lỡ bác sĩ đào tạo học trò không kịp thì sao?”
Bác sĩ bối rối nhưng vẫn giữ ý mình:
“Hãy chờ thêm chút thời gian, tui đang đào tạo sắp thành với lại tui đã nói rồi, tui đã gần đủ một đời”.
Anh ta nhìn thẳng mắt bác sĩ:
“Bác sĩ có thấy thời gian ngừng lại để chờ đợi bao giờ chưa? và thưa với bác sĩ không nói về thời gian sống, chỉ nói về trải qua thì tui cũng đã nếm trải gần hết những hỉ nộ ái ố của cuộc đời và cả những giây phút hạnh phúc, như vậy cũng là quá đủ, chỉ có một điều tui chưa làm được điều gì tốt đẹp cả, vậy đây chắc chắn phải là lúc cần làm, ta không còn thời gian”.
Vị bác sĩ bần thần:
“Anh có biết là trước khi tiến hành thí nghiệm phải làm tê liệt toàn thân, toàn thân không còn cử động, chỉ còn mấp môi, cử động mắt và suy nghĩ…”.
Anh ta móc ra một tờ giấy đưa cho bác sĩ:
“Dạ thưa, đây là tờ cam kết quyền sử dụng thân xác này tùy nghi của bác sĩ dù sống hay đã chết”.
Bác sĩ vẫn không chấp nhận:
“Không, không, không thể được”.
Một tháng ròng rã ngày nào anh ta cũng tới thuyết phục bác sĩ Văn Khoa, có khi anh dắt cả mẹ con nàng tình đầu tới nữa. Với sự cứng cỏi và quyết đoán, cuối cùng vị bác sĩ phải bị thuyết phục, anh ta không còn sợ không thực hiện được lời thề.

***

Anh ta nằm bất động trong phòng thí nghiệm nhưng anh ta không cô đơn. Bác sĩ Văn Khoa và học trò chia ca theo dõi gần trọn thời gian cùng với hai mẹ con nàng tình đầu tới thăm thường xuyên, à mà còn máy móc ống dẫn đủ thức chụp đủ thứ cắm trên đầu, đủ thứ cắm khắp người anh ta nữa, chúng ở bên lâu cũng như bạn bè thân thuộc, anh ta cười thầm cho ý nghĩ này. Anh ta cũng không bị tách biệt mấy với thế giới bên ngoài bằng cái ti vi và cái máy vi tính mà bác sĩ đặt thiết kế riêng cho anh ta, sử dụng bằng giọng nói.
Ba tháng trôi qua chưa một dấu hiệu tiến triển. Bác sĩ đã đổi hai ba loại thuốc. Tháng thứ năm, một ngày bác sĩ bật dậy khỏi ghế rút tấm phim dưới kính hiển vi chạy vào, mừng rỡ:
“Có dấu hiệu rồi, có dấu hiệu rồi, tui vừa tăng liều lượng chất xâm nhập vào máu, thuốc đã đi tới được vùng bí hiểm này mà không bị đồng hóa, bị tan mất, đây nè anh thấy không?”.
Anh ta cũng vui mừng lắm:
“Thấy rồi, thưa bác sĩ, hy vọng tiếp tục có tiến triển bác sĩ sẽ bào chế được phương thuốc độc đáo”.
Bác sĩ gục gật:
“Hy vọng là vậy, phải cảm ơn anh trước tiên”.
Anh ta trả lời:
“Tất cả phải cảm ơn bác sĩ, một thế giới tốt đẹp hông còn xa nữa”.
Bác sĩ trở lại bàn làm việc:
“Anh cũng đừng quá mơ mộng để rồi thất vọng”.
Năm tháng sau trên bức vách cạnh bên anh ta là năm tấm phim, tấm phim gắn lên sau cái vùng xấu xa bị tan biến mất một ít cho tới cái thứ năm thì đã biến hoàn toàn. Anh ta vui quá đỗi:
“Có thể ăn mừng được rồi phải hông bác sĩ?”.
Bác sĩ khoan thai:
“Khoan đã, phải còn một thí nghiệm nữa, chờ coi thử vùng này có dấu hiệu mọc trở lại không đã và hồi sinh cho anh trở về nguyên trạng đến lúc đó ăn mừng cũng chưa muộn”.
Người học trò nói vô, anh ta chưa nghe người này nói chuyện gì khác ngoài chuyênn môn:
“Đã chín mươi phần trăm rồi, nếu nó có mọc trở lại thì tăng liều lượng hoặc tiêm liều nữa, chỉ cần tính toán định kỳ”.
Bác sĩ gật đầu:
“Một trong hai cách đó thôi”.
Bác sĩ và người học trò bước ra phòng ngoài, bác sĩ nói:
“Thôi anh về nghỉ ngơi đi, anh đã thức cả đêm hôm qua thêm cả ngày nay nữa, nhìn anh mệt mỏi lắm rồi”.
Bác sĩ vừa dứt câu thì anh ta nghe tiếng ngã cái rầm, anh ta lịnh cho các máy quay quanh phòng và điếng hồn không thể tin vào mắt mình, người ngã nằm vật ra giữa sàn là bác sĩ Văn Khoa, người bắt đầu co giựt, miệng sùi bọt mép, bác sĩ chỉ kịp nói câu cuối cùng: “Tại sao vậy, tại sao, tại sao phải giết tui” rồi tắt lịm. Người học trò rút cái ống tim cắm nơi cổ bác sĩ, tay nắm chặc thành nắm đấm vả mím môi tỏ vẻ đắc thắng.
Anh ta quá đau đớn, anh ta muốn nhắm nghiền mắt để không phải thấy cảnh này, hai dòng nước mắt không ngăn được trào chảy xuống. Anh ta lấy hết sức mấp mấp môi cho máy tính gởi những hình ảnh này cho nàng tình đầu. Người học trò nghe được quay người trừng trừng nhìn anh ta rồi lao lại hét lớn:
“Anh vừa làm gì, vừa làm gì?”.
Anh ta bình thản:
“Anh đã quên những máy quay rồi”.
Người học trò điên tiết xô đẩy đập đá máy vi tính và ti vi. Anh ta nói:
“Anh hãy trả lời câu hỏi của bác sĩ, tại sao?”.
Người học trò gầm lên:
“Công lao là của ta, của ta, đâu để ông ta hưởng trọn được”.
Anh ta nói khinh bỉ:
“Anh điên rồi, tham lam vị kỷ làm anh điên rồi”.
Người học trò cười ha ha:
“Ta điên, ta điên cũng được nhưng ta sẽ vĩ đại”.
Anh ta mỉa mai:
“Anh đã thất bại, chút xíu nữa thôi những hình ảnh này sẽ chứng minh anh là kẻ thất bại thảm hại”.
Người học trò lại gầm lên điên tiết:
“Mày, mày đã gởi đi, mày phải câm miệng, mày phải bị tê liệt cả khuôn mặt, rồi người ta sẽ tin tao – Người học trò lao lại rút ống tim tim anh ta một mũi, khuôn mặt anh ta lập tức đơ cứng, mắt sụp xuống, miệng không còn mấp máy. Người học trò la hét cuồng loạn: Người ta sẽ tin ta, người ta sẽ tin ta”. Hắn lảo đảo chạm vào mấy cái máy nằm ngổn ngang, dây đứt chạm điện bị nẹt lửa lẹt xẹt, trở thành “con mồi ngon” cho đòng điện, người hắn bị giựt bắn liên tục rồi đổ gục, máy móc nổ lụp bụp bung bể tung tóe…
Nàng tình đầu tới được nơi thì phòng thí nghiệm chỉ còn là một đống hoang tàn. Hai cái xác một nám đen như sét đánh và một cơ thể bất động thoi thóp thở.

***

Tiếng lào xào, gào thét, hú hí ghê rợn bay tới nhưng lần này anh ta không thấy lạnh buốt sống lưng, anh ta đã biết là gì rồi, cơn gió mang linh hồn chết đã trở lại.
Cơn gió hỏi:
“Anh đã biết được mình là ai chưa?”.
Anh ta đáp:
“Ta đã biết, ta đã biết tường tận hết rồi, cảm ơn ngươi đã cho ta thời gian, bây giờ ta ra đi cũng hông có gì hối hận, ta chỉ tiếc là sự việc của bác sĩ mà ta góp sức đã không thành”.
Cơn gió an ủi:
“Ngươi cũng đừng quá đau buồn, ta nghe nói là đã có định mệnh”.
Anh ta đồng ý:
“Có lẽ vậy”.
Cơn gió tiếp:
“Vậy bây giờ theo ta được rồi chứ?”.
Anh ta định ừ, chợt nhớ lại:
“Ngươi đã giúp ta nhiều xin giúp lần cuối cho trót, cho ta thêm chút xíu nữa thôi, ta biết nàng tình đầu của ta sẽ tới ngay bây giờ”.
Cơn giớ nghe nàng tình đầu nên thông cảm:
“Cũng được, nhưng ngươi đâu cử động gì được?”.
Anh ta nói luôn:
“Hay ngươi cho ta chút sinh lực đi, đủ cho ta ngọ ngoạy ta báo cho nàng ta thương yêu nàng lắm và nàng phải chấp nhận số phận thôi”.
Cơn gió mủi lòng:
“Ta phá lệ một lần vậy”.
Lát sau anh ta nghe hai tiếng bước chân như ngày hôm trước tới, vậy là của vị giáo sư và nàng tình đầu. Sau tiếng tra chìa mở khóa nàng đứng sát bên anh ta. Vị giáo sư khám và nhìn vô máy móc rồi lắc đầu:
“Dấu hiệu xấu rồi, không thể cứu vãng”.
Nàng tình đầu cầm tay anh ta, đưa lên môi lên mũi, chợt bàn tay từ lạnh ngắt chuyển dần sang nóng hòa lẫn những giọt nước mắt của nàng nhỏ xuống, mấy ngón tay anh ta ngọ ngoạy, nàng mừng rỡ tưởng chừng có tia hy vọng nhưng nàng chưa kịp kêu lên thì bàn tay im và bắt đầu chuyển lạnh trở lại. Biểu đồ trên máy nhảy cao mấy bước sóng rồi từ từ hạ xuống và tắt. Nàng hiểu thông điệp của anh ta gởi cho nàng, nàng thì thầm: “Hẹn gặp ở thế giới khác”.
Hồn anh ta tạm biệt cái xác mình rồi bay lên theo cơn gió mang linh hồn chết. Vút một cái anh ta đã ở trong bầu trời màu tối đen và bao la, xa xa hình như anh ta thấy một ngôi sao nhấp nháy đang chừng chờ tỏa sáng. / HẾT

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

SÔNG HƯƠNG

nguyenducbatngan

Trong nắng sớm phải em vừa trỗi giọng
Tiếng dội trào hôn ngấn nước đang gieo
Ngày thúc đuổi ngày lăn trườn ước vọng
Bên kia trời sương khói cũ bay theo

Sum họp đó biết qua miền hờn giận
Đôi chân rung từ vạn lý ai chờ
Cùng ngã quỵ em giữa vời lận đận
Ngàn lá thơm chia rẽ mộng hai bờ

Mùa hạ chảy theo thu đầu lãng mạn
Tình hoài em rủ xuống tóc mông lung
Anh ngồi uống những mạch đời đã cạn
Chờ mong nhau dù phiêu lạc muôn trùng

Em đưa tiếng thôi giọng hò đã bặt
Anh đưa tin tình mất dấu phương mô
Nước vẫn ngủ thuyền vẫn chèo khoan nhặt
Mùa điêu tàn mùa bấc lụn mùa khô

Chút khói ấm quyện từng vòng đưa đẩy
Buổi đầu tiên còn xao xuyến hôm nay
Còn thanh thoảng như tình lau với sậy
Có ngại ngùng hãy yên ấm trong tay.

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

NGỌC TRONG TIM

diemchaunguyen

Từ ngày mẹ chết, Ngọc thường hay ngồi khóc…cô khóc liên hồi, nhất là mỗi khi trời mưa… Hôm nay ngoài trời, những tiếng sấm chớp giống tiếng súng cà nông, như đang gầm gừ, phẫn nộ… báo hiệu trời sắp có cơn mưa lớn!
…Thời tiết dạo nầy thay đổi khá nhiều… Trên TV, hình ảnh và giọng nói của cô xướng ngôn viên đang loan báo tin nhiều người ở chính tiểu bang nầy, và các tiểu bang lân cận bị lũ cuốn trôi…
Ngọc vẫn ngồi đó bất động, hai mắt rưng rưng… Cô đã đổi qua đài Việt Nam, một bài nhạc êm êm vang lên từ chiếc loa, nhưng lâu lâu lại bị át bởi tiếng sấm nổ dữ dội, và những ngọn gió mạnh kéo lê trên mái, quất vào những gốc cây cành lá trong vườn rung quằn, gây ra những tiếng động kinh hãi…
Cô vẫn ngồi im không phản ứng! Chỉ thấy nỗi sợ hãi trong người càng lúc càng tăng, tê liệt cả chân tay… như hôm cô nhìn thấy mẹ bị dòng nước hung dữ kéo băng băng vào ống cống lớn cạnh nhà, cuốn đi mất tăm… mà cô không làm gì được!!!
Ngọc gục đầu xuống thẫn thờ… chợt cô nghe bụng mình kêu lên rột rột… cô đói… hình như từ hôm qua đến giờ, Ngọc đã ngồi như thế này, trên chiếc sofa phòng khách, và chưa có gì bỏ bụng!
Chắc là Ngọc phải đi tìm cái gì đó để ăn.. Cô từ từ đứng lên, thân thể hơi ngã nghiêng vì đuối sức… dáng đi chao đảo. Thì cũng phải… cô đã ngồi quá lâu rồi còn gì. Đêm qua có vào giường ngủ đâu! Hai mắt cô cứ thao láo nhìn ra cửa sổ, mà bên ngoài trước có đường mương và ống cống lớn ở đó, cơn nước lũ tràn vào thành phố bất ngờ, các miệng cống đầy ắp nước cuồn cuộn chảy xiết… đôi bàn chân Ngọc bị tê cứng, giờ mới được di động, tê rần, mỏi nhừ…
Căn bếp im lìm và lạnh ngắt. Tủ lạnh chẳng còn gì có thể ăn được… Bà chị đã lấy về hết bên nhà khi sự cố xảy ra cách đây vài tháng… Chỉ còn thùng gạo và mấy gói bún, bánh phở khô chưa luộc! Ngọc thở dài mệt mỏi… đôi chân lại rung lên từng cơn!
Bụng Ngọc lại réo lên sùng sục… Khó chịu, cô lần ra phòng khách, nằm úp mặt xuống cái gối trên ghế sôfa, nơi mà Ngọc đã ngự trên đó hai ngày. Phải ngủ thôi, để cho quên cơn đói, quan trọng là làm cho Ngọc tạm quên hình ảnh mẹ đang chới với kêu gào trên dòng nước xoáy cuốn đi…
Khi Ngọc thiếp vào giấc ngủ, thì mưa bắt đầu rơi xuống, mưa lớn và nặng hạt… Mưa năm nay nhiều quá, trái đất có thay đổi rõ rệt! Khi cô đã chìm sâu vào giấc ngủ, thì cảm nhận giấc mơ ấy lại hiện về….
– Mẹ ơi… trời ơi…. ai cứu mẹ tôi…! Mẹ ơi…!
Ngọc thấy mình đang đứng trên miệng cống, ở dưới chân dòng nước hung hãn chảy ào ào… Mẹ đứng gần đó bỗng dưng ngã ùm xuống nước vì mảng đất dưới chân bị xụp một khoảng lớn… Ðôi mắt mẹ mở căng đầy kinh hãi… Cô cuống quýt nhìn quanh để tìm một vật dài khả dĩ cho mẹ bám vào, nhưng hoài công… cô không thấy cái gì có thể tìm ra ngay lúc đó, trong khi mẹ đang bị dòng nước kéo dần tới miệng cống…
Cô giật mình, mồ hôi tuôn ra đầy người và hốt hoảng ngồi bật dậy! Lại nữa, cũng là giấc mơ tàn nhẫn đó.
– Mẹ chết thật rồi!!!
Ngọc ôm đầu lẩm bẩm… vẫn chưa hết nỗi sợ hãi trong giấc mơ, dù cố gắng trấn áp.
Ai cũng bảo cô bị tâm thần sau cái chết kinh hoàng của mẹ. Cô cứ thẫn thờ hối tiếc, tự trách mình mãi… sao lúc đó không tìm được một cái cành cây nào để cứu mẹ! Ngọc thỉnh thoảng lại nói lầm bầm một mình, còn khóc thì nhiều vô kể.
Ngọc đang sống yên ổn với mẹ thì tai nạn đến, mẹ mất đi và cô trở thành vô hồn, “mát mát”…
Khi Ngọc tỉnh lại trong bệnh viện, cô gào khóc như điên… sau đó, cô nói lảm nhảm! Cô cố gắng làm nỗi đau trong tim giảm bớt.
Sau khi tai nạn xảy ra, chị Hai đưa cô về nhà chị ở một thời gian, nhưng rồi nhận thấy phải để cô về ngay chính ngôi nhà cũ cô đã sống thì sẽ tốt hơn… dù cô đơn độc một mình!
– Mẹ cho dì Út về đi… con sợ dì Út quá!
Ba đứa con chị Hai đã kêu lên như thế, vì thấy dì Ngọc cứ khóc thầm, rầu rĩ như một bà điên, làm chúng nó sợ!
– Em không sao… em muốn về nhà…
Thế là chị Hai lại đưa cô về, với một túi thức ăn cho ngày hôm ấy… rồi sau đó, cô thường hay bị đói, ăn kem triền miên! Vì chỉ có ông bán cà rem là đẩy qua trước nhà cô, lắc cái chuông kêu leng keng… bạc cắc thì cô có cả thau…
Cô cứ sống một mình qua ngày như thế, cô độc trong ngôi nhà có mẹ ngày xưa, và không nhớ đến phương hướng…
Người thường xuyên đến thăm là chị Hai. Chị hay nhìn vào tủ lạnh, rồi mua cho cô vài thứ thức ăn làm sẵn từ nhà hàng, nấu cho cô nồi cơm điện, các thứ trái cây cô thích… Chị Hai ngạc nhiên khi thấy trên ngăn đá, có nhiều loại kem cây trong đó…
Ngoài ra, chẳng còn ai quan tâm đến cô…
Ðêm nay lại mưa…. Mưa lớn… Mấy ngày nay chị Hai không sang, chắc là vì trời mưa và bận gì đó, vì lần sau cùng gặp, chị hỏi cô có cần gì không, cô đã đáp, rất tỉnh táo:
– Không cần… em lo được mà…
Chị cười khi thấy cô em Út có vẻ bình thường hơn:
– OK… có gì kêu chị nghe cưng…
Thế nhưng chị đâu có biết là khi chị về, nhiều khi cô Út ngủ và vẫn khóc rấm rức một mình quên cả không gian, thời gian! Cô cảm thấy cô độc chi lạ!
Trời vẫn còn mưa rả rích…Ngọc choàng tỉnh dậy, thấy nhức mắt khủng khiếp. Chắc tại ngủ nhiều? hay khóc nhiều? Cái bụng lại kêu lên rột rột!!!
Cô ngồi lên, lần ra trước mở cửa nhìn trời. Trời buồn mưa màu xám! Ông cà rem cũng nghỉ bán! Mưa mà bán cho ai! Nếu có, chắc cô cũng mua vài cây cất trong tủ đá ăn cứu rỗi khi đói! Bỗng dưng Ngọc cảm thấy chóng mặt, và cô lao đao, quờ quạng, rồi ngã vật xuống trước thềm thật nhanh!
Một lúc khá lâu, thấy có gì ướt ướt trên mặt, Ngọc mở to mắt và nhìn người thanh niên đối diện đang đắp cái khăn ướt lên mặt cô với vẻ ngạc nhiên:
– A, cô tỉnh rồi…
Ngọc nhìn anh ta, nhận ra là người hàng xóm, nhưng vẫn hỏi:
– Anh là ai?
– Tôi ở kế bên nhà cô… hôm trước bác rớt xuống nước, tôi có chạy dọc theo đường mương tìm cả ngày, mà không được…
– Sao tôi không biết?
– Cô gào khóc đến xỉu, sau đó tôi kêu xe cứu thương đến chở cô vào nhà thương thì làm sao biết được!
– Là anh cứu tôi à… Sao mấy hôm nay không thấy anh?
– Cô không thấy tôi nhưng tôi thấy cô… Cô đừng sợ, tôi chỉ dòm chừng cô thôi… và qua đây khi thấy cô bị té xuống, với lại mang cho cô một chút súp và bánh mì…
Nghe anh ta nói, Ngọc ngửi thấy mùi súp thoảng khắp không gian, khứu giác của cô làm cho cái bụng lại cồn cào lên!
Người thanh niên mặc áo pull màu xanh đứng lên:
– Ðể tôi đem thức ăn cho cô… chắc cô bị đói phải không? Hôm nay không có ông cà rem đâu!
“Ủa, sao anh ta lại biết mình hay mua cà rem? Anh ta làm gì mà để ý mình kỹ thế?”
– Sao anh biết tôi mua kem?
– Ðã nói là tôi theo dõi cô mà… thôi, ngồi lên ăn nhé…
Chàng trai đưa cho cô chiếc muỗng sắt cùng tô súp gà thơm ngon, thêm miếng bánh mì lát màu trắng.
Ngọc ăn uống hấp tấp trước ánh mắt thương hại của anh ta. Chợt bắt gặp nụ cười nhếch miệng của anh khi cô bưng tô súp húp đến giọt nước cuối cùng, không dưng Ngọc nổi giận! Không, cô không thể nhận sự thương hại của bất kỳ ai… Có thể họ cho cô là con nhỏ mồ côi bị khùng đây mà.. Khốn kiếp!!!
Ngọc bỗng dưng hất tung mớ chén bát lên, mảnh vỡ văng trúng vào chân chàng trai… Anh ta đau quá, rút lui thật nhanh…
Cô lặng lẽ nhìn những thứ mình vừa đập phá văng tứ tung khắp nơi… một lúc sau, co ro trên ghế và thấy hơi đau đầu, có lẽ cô hối hận vì hành động của mình trước mặt anh chàng nọ!
Nhìn bốn bức tường lạnh lẽo trong căn nhà, cô nhớ lại khi mẹ còn sống, buổi tối hai mẹ con hay ngồi coi TV ngay trong phòng, trên chiếc ghế nầy…. bây giờ chỉ còn mình cô! Vậy mà Ngọc đã làm cho chàng ta bỏ đi!
Ðêm đã qua, buổi sáng Ngọc dậy muộn khi có tiếng chuông điện thoại reo… Ngọc không bốc phôn, ngồi lên nghe tiếng chuông reo… và sau đó nghe lời nhắn:
– Tôi là Tim… Trong tủ lạnh tôi có để súp, bánh mì và trái cây cho cô, đừng ăn kem lúc đói không tốt đâu… bye…
Tim… Một cái tên nghe êm ái, như là “Ngọc trong Tim”… Bất giác Ngọc đứng lên đi vào nhà bếp, cẩn thận tránh những miếng vỡ dưới đất. Mở tủ lạnh, cô thấy nhiều bánh trái, hoa quả, mấy hộp súp, xâu bánh mì lát, phô mai đầu bò và cả hộp chocolate gói nơ hồng xinh đẹp…
Lâu quá rồi Ngọc không có ai quan tâm ân cần như vậy, ngoại trừ chị Hai đôi khi ghé ngang…
Ngọc cảm thấy sung sướng bất chợt! “Tại sao đêm qua tôi lại quá cà chớn với anh như vậy!”… Cô cắn miếng bánh mì và phô mai, ngậm trong miệng để thấy vị ngọt toát ra đầu lưỡi… Lần nầy, Ngọc ăn trong trạng thái vui vẻ, khác hẳn với những lần trước, từ khi mẹ mất đi!
Mưa vẫn chưa dứt, không rền rĩ như trước mà nghe giống bản nhạc tình da diết ngân vang… Có bóng người ngoài cổng… Ngọc nhìn thấy chàng thanh niên trên tay có cây dù xanh đậm, còn một tay thì cầm bó hoa….
– Chào cô… Hôm nay cô đỡ chưa?
Anh đưa cho cô bó hoa… lúc nầy thì Ngọc không giấu nổi nụ cười, nhưng cô vội cúi xuống để tránh ánh mắt đang nhìn mình…
Tim bắt đầu dọn dẹp khắp mọi ngõ ngách trong nhà, những mảnh vỡ đêm qua được bỏ vào thùng rác… Trên bàn ăn, một bình hoa hồng làm rạng rõ căn phòng…
Thỉnh thoảng Tim nhìn cô, ánh mắt âu yếm… Một lát sau, họ ngồi trong bếp, trước mặt là ly trà xanh bốc khói, và hộp bánh bơ thơm phức… Tim nhỏ giọng:
– Lý do anh hay để ý đến em là vì anh thương em, anh đã thích em từ lâu rồi, nhưng chưa được làm quen… Từ khi mẹ em mất, anh muốn được che chở cho em mỗi ngày…
Trái tim của Ngọc như nhói lên, cô bỗng ước muốn được ở trong vòng tay người thanh niên này, người mà mẹ cô khi còn sống đã từng nhận định:
– Có thằng Mỹ ở kế bên nhà mình mẹ thấy nó tử tế lắm, hay giúp những người già quanh đây…
Ngọc đã trở lại bình thường, là con người trước kia của cô…Tim đã đem cô ra khỏi sự u buồn, phiền muộn…
+++
Một năm sau họ làm đám cưới. Buổi tiệc nhỏ nhưng đầy thân mật và ấm cúng, tổ chức ngay tại nhà cô dâu. Tim đã bán ngôi nhà của mình để về ở với Ngọc trong nhà cô, căn nhà nhiều kỷ niệm…
Ngọc ngồi bên Tim, nhìn vào mắt chàng, hỏi:
– Tại sao hồi đó anh không nghĩ em bị điên mà lại yêu em?
Tim quàng tay ôm vợ:
– Vì anh thường nhìn thấy em khóc khi ra đứng ở đường mương phiá trước cổng… Lúc đó, anh thấy em cô đơn và bé bỏng lạ lùng… anh cầm lòng không đậu… muốn được ôm em vào lòng… à… mà em coi chừng nhé…
Ngọc ngơ ngác:
– Coi chừng gì anh…
– Mấy hôm nay mưa nhiều, đừng có bao giờ ra phiá trước đường mương nhé!!!

Diễm Châu

SONNET KHÔNG SỐ

huytuong
Nén nhang cho bạn thiết cuộc đời: Nguyễn Tôn Nhan,

Tôi trở về M. đằm thắm
Đêm tủa ngọn cô đơn tráng lệ
Đêm mọc từng nhánh mầu hung bạo cũ
Đêm treo tôi lờ lững tháng ngày. vang
Đêm nâng tôi kiết già giàn mây bạc
Đêm gói tôi. ủ dột quanh hiu
Đêm nuôi tôi bằng giọt máu đen của gió
(hay giấc mơ của bạn vẫn chưa tan?)
Đêm xốc tôi trườn lưng ngựa trắng đồng hoang
Cơn cầm chướng lồng lên bạo ngược…
Ôi! Tôi muốn giết tôi tức khắc!
Tôi giết tôi. lời im như ngói cháy
Con đường câm nhễ nhại tình bằng!

Đêm hú gọi. giọng đen ngòm man dại
Tôi tru khàn. nỗi chết quánh mù theo
Đêm thắp tôi sáng choang linh hồn chó sói
Tôi chồm lên!
Tôi chồm lên. Rách nát một mình tôi!…

Rách nát một mình tôi.
Bạn nơi đâu trong mái nhà không. ấy
Có nghe lời máu lệ. một tờ hoa?!

HUY TƯỞNG

tháng 6 & kỉ niệm

khalycham

mây chớp trắng theo đường bay rỗng gió
cầm trên tay bí ẩn vọng âm cuồng
hơi thở mỏng ủ sắc màu của nắng
sao ngùi lòng trôi dạt mộng trầm hương

bao năm rồi đi lặng lẽ vào mưa
lời niệm khúc mùa hạ vàng trong mắt
hoa đỏ rực giữa ngực đời rất thật
với bóng mình em chải tóc trăm năm?

lỡ nhịp rồi thuở lặng im tinh khiết
bài thơ yêu chết trẻ với câu thề
con chữ xám màu tro tàn phán quyết
không còn gì! hình ngả xuống cơn mê

chỗ chúng ta ngồi dường như đã cũ
chắc em không còn nhớ đến tôi đâu
xin giữ mãi một chút gì như khói
ảo ảnh buồn rụng xuống hóa niềm đau

KhaLy Chàm

*tp tn mưa tháng 6

MẸ KHÔNG ANH HÙNG

khuatdau

Người đàn bà trong ang lúa

1
Lần đầu thấy kinh nàng khóc suốt 3 ngày đêm. Nàng cứ tưởng mình sắp chết đến nơi. Không một ai nói cho nàng biết, đó là chuyện bình thường của một người con gái đã đến tuổi dậy thì. Người đầu tiên có thể nói là mẹ, nhưng từ khi bập bẹ cho đến lúc thấy kinh nàng chưa hề một lần được gọi cái tiếng mẹ như những đứa bé khác. Nàng chỉ thấy cha nàng hốt hoảng đuổi những người đàn bà lúc nào cũng cầm một cái mo cau mệt mỏi bước đi giữa đám ruồi nhặng muốn bước vào nhà. Ông gọi đó là những người “gãy cẳng”. Nó vừa dơ dáy vừa xui xẻo, có thể làm nổ tròng mắt của những người đang đau mắt.
Nàng nằm khóc trong cái buồng của mẹ. Nó tối đến nỗi nàng tưởng mình cũng đã tan ra thành bóng tối. Trên trần là một cái lẫm đựng lúa, nơi lũ chuột ngày đêm rúc rích hết cắn lúa lách tách lại cắn nhau chí choé. Bên phải nàng là cái vách bằng gỗ ngăn cách chỗ ở tối tăm của người đàn bà với cái giường của người đàn ông. Mỗi đêm nàng đều nghe tiếng cha trở mình, tiếng rên và tiếng ngáy.
Chỉ một tấm vách thôi, nhưng khoảng cách giữa cha và nàng trong đời sống sao mà xa cách quá. Cứ như một người họ hàng đã phai nhạt đến bao nhiêu đời. Nàng rất ít khi được gặp cha, hay nói đúng hơn là không dám gặp. Chẳng phải vì ông đánh mắng mà vì, cũng chẳng hiểu vì sao nữa, nàng thấy trống ngực đập thình thình mỗi khi ông từ nhà trên bước xuống. Đó là chưa nói tới lúc phải đến đứng trước mặt ông mỗi khi có lỗi hay nghe ông dặn dò điều gì. Như lúc này đây, thà giết chết nàng còn hơn bảo nàng mang cái quần ướt đẫm máu đến gặp cha.
Sự xa cách ấy không hẳn dành riêng cho nàng mà dành cho tất cả đàn bà con gái trong nhà. Ngay lúc còn sống mà mẹ nàng cũng chưa bao giờ dám bước qua cái ngạch cửa cao ngang đầu gối, là ranh giới bất khả xâm phạm giữa nơi thờ tự, ăn ngủ của đàn ông. Mỗi khi có khách, nếu phải ra chào, mẹ nàng cũng chỉ đứng bên này cái ngạch cửa, nghiêng một nửa người mà cúi chào rồi lặng lẽ lui xuống bếp. Ngày giỗ tết, họ phải tắm gội sạch sẽ, phải mặc áo dài, phải ngồi bẹp xuống sàn nhà, xếp hai chân qua một bên, trải vạt áo trước ra che hai đùi, kéo vạt áo sau phủ kín mông rồi mới chắp tay kính cẩn vái lạy trước bàn thờ…Nếu lúng túng vụng về, trải vạt áo không ngay ngắn để hở đùi hở mông dù có mặc quần liền bị chê là không biết lễ phép.
Ông có biết đứa con gái út đã 3 ngày rồi không thấy mặt, nhưng ông không buồn lên tiếng hỏi nó đi đâu. Bởi vì cơm vẫn được dọn ra trên cái mâm bằng đồng được lau sạch bóng, đũa vẫn không bị so le, ngay cả bát nước để cho ông súc miệng trước khi ăn vẫn trong vắt. Đĩa rau luộc vẫn xanh và sắp ngọn theo ngọn, gốc theo gốc. Con cá liệt gần như vẫn không mất đi chút nào cái màu bạc óng ánh trên lưng. Nghĩa là vẫn như mọi ngày, vẫn có bàn tay của nó đụng vào hay ít ra cũng được nó để mắt tới.
Bảo rằng ông không biết thương con là nói quá cho ông. Cha sao lại không thương con. Vì thương con nên dù chỉ mới lọt lòng mà mẹ đã chết, ông vẫn không cho bà sơ đứa con gái đỏ hỏn vừa mới cắt rún. Ông phải vất vả tốn kém bao nhiêu mới nuôi được nó sống đến bây giờ. Nào phải kiếm cho ra chị vú, mà phải đến 3 chị thay nhau mới đủ sữa cho nó bú đến thôi nôi. Nào phải tìm đứa ở để bồng bế, phải lo sài đẹn ghẻ chóc. Gà trống nuôi con, mà lại là con mọn, cái khổ ấy ông cho trên đời không gì khổ bằng.
Đến ngày thứ tư, cái thứ nước lạ lùng ấy không còn âm ỉ chảy ra nữa và nàng thấy mình vẫn còn sống. Rồi những lần sau, những tháng sau, nàng vẫn tiếp tục sống như bao người con gái khác. Lúc ấy nàng mới biết hai tiếng “gãy cẳng” là gãy như thế nào. Cũng may, nhờ có chị dâu chỉ cho nàng biết cách giữ gìn để khỏi phải lúc nào cũng mang theo một cái mo cau như những người đàn bà mà cha nàng thường xua đuổi
Cuối năm ấy, sau 3 lần kinh nguyệt , nàng tròn 14 tuổi! Chị dâu may cho nàng một chiếc áo dài bằng lãnh đen. Nàng e thẹn bước qua cái ngạch cửa, lúng túng trải vạt áo ngồi lạy trước bàn thờ dưới cái nhìn nghiêm nghị của người cha. Sau đó, nàng lạy cha để mừng tuổi. Ông hơi mỉm cười, giọng nói cũng có vẻ ấm áp dịu dàng hơn thường ngày, nhưng nàng nghe như có một tiếng pháo nổ trong đầu. Nàng bàng hoàng lo sợ còn hơn cả lúc thấy mình “gãy cẳng”. Ông không nói với nàng mà bảo với chị dâu như ra lệnh:
“ Ráng lo năm nay em nó đi lấy chồng!”
Có một người cha như thế nên dù chưa biết lấy chồng là sao và dù có biết cũng không muốn, nàng vẫn chỉ có hai lựa chọn: một là lấy, hai là chết. Chỉ có vậy thôi, không kêu ca, không than thở gì hết. Nhưng cả hai việc lấy chồng và chết nàng chưa biết là gì thì làm sao chọn lựa được! Chính vì vậy mà nàng khóc mãi đến nỗi thâm quầng như bị ai đánh. Chẳng có ai lau cho nàng một giọt nước mắt, chẳng có người chị nào an ủi nàng một câu. Chỉ có lũ chuột tinh quái trên lẫm lúa là cười rúc rích suốt đêm.
Vừa qua khỏi rằm tháng giêng, đã thấy một ông trạc năm mươi quần cháo lòng ống cao ống thấp, cặp nách một cây dù, theo sau là một chàng mặt đầy mụn bước vào ngõ. Cha nàng chừng như đã biết trước, nên dù là người lạ chưa từng gặp vẫn bước ra chào hỏi ân cần. Họ bước vào nhà, ngồi xếp bằng trên phản gõ. Chàng trai đứng ngoài hiên. Cha nàng bày khay đựng bốn cái tách quý và gọi nàng từ dưới bếp lên nấu nước pha trà. Nàng định đi lên nhưng chị dâu nàng cười bảo để chị đi cho, người ta đến coi mắt đấy, em vào trong buồng mà thay áo quần cho sạch sẽ.
Một lúc sau nước sôi, chị dâu châm nước vào bình trà. Nàng chỉ có mỗi một việc bưng lên nhưng nàng thấy sao mà khó quá. Người ta thường bảo khó như đường lên trời nhưng nàng thấy giờ đây đường lên trời còn có vẻ dễ đi hơn. Một tay nàng cầm cái quai bình một tay nàng đỡ bình, nước sôi mới rót nóng đến bỏng da nhưng nàng cảm thấy tay mình như đang lạnh cóng. Khi bước qua cái ngạch cửa, ngón chân cái va vào gỗ cứng làm nàng lao chao suýt ngã . Cũng may là nàng bước qua được nhưng để giữ cho bình trà khỏi đổ, nàng phải chịu đau để cái vòi rót nước vào ngực. Sau này chỗ lõm xuống giữa hai cái vú nhỏ phồng rộp, khi lành còn kín đáo để lại cái vết sẹo xấu xí như trâu bò bị đóng dấu. Đó là kỷ niệm thấm thía trước ngày đi lấy chồng.
Lúc ấy, chàng trai đã lén vào nhà từ lúc nào đang đứng dựa cây cột. Chàng tuy nhìn xuống nhưng vẫn thấy được khuôn mặt vừa ửng đỏ vừa tái xanh của cô gái. Như thế là chàng đang “coi mắt”. Dĩ nhiên với cái mặt đầy mụn mà so với làn da ửng hồng trên mặt nàng thì với chàng, nàng quả là xinh đẹp. Còn nàng, dù sợ muốn đứt hơi nhưng vẫn lén nhìn chàng nhưng chỉ có thể nhìn hai ống quần trắng thả xuống sát đất che hai chiếc dép da màu đen mà thôi. Chẳng biết chàng cao hay thấp, đẹp hay xấu.
Những việc sau đó diễn ra nhanh đến không ngờ. Cha nàng tưởng là khó nhưng thật ra rất dễ. Hay là ông chỉ khó với con cháu trong nhà còn người ngoài thì không? Ông đã bỏ qua hết năm lễ bảy lễ gì đó, chỉ duy nhất một lễ ăn hỏi và rước dâu mà thôi. Ngay cả chuyện chàng trai phải ở rể đến 3 năm cũng miễn luôn.
Ông Hai Nhẫn, người làm mai của họ nhà trai chưa phải uốn cái lưỡi dài bảy tấc của mình ra, đã được ông thủ bản bỏ qua hết mọi chuyện để việc cưới xin trơn tru khiến cho ông thấy mình đúng là được sinh ra chỉ để làm cái nghề phước đức này.
Thực ra ông gặp may. Mọi sự trở nên dễ dàng đến quá nửa cũng là nhờ bà thủ bản đã không còn sống ở trên đời này. Dù cho người cha có dễ như cho không, nhưng người mẹ vì mang nặng dẻ đau không dễ gì để người ta đem đứa con rứt ruột của mình về nhà họ như thể đi mua một con heo. Bà sẽ đòi nào là kiềng chạm, xuyến ngọc, quần lãnh áo lụa cho con, sẽ đòi “bạc nát” tuy không thấm với công của bà đã nuôi con trong bấy nhiêu năm nhưng cũng đủ làm cho họ nhà trai chóng mặt. Gả chồng, ấy là lúc cái nữ quyền của người mẹ to đến nỗi lấn át cả người cha, là lúc màkhông có tôi thì lấy đâu ra con gái để cho ông muốn gả bán thế nào thì gả bán! Là lúc mà tiếng “hứ”của bà đanh gọn còn hơn cả tiếng pháo lệnh. Là lúc mà cái lưỡi của mai dong dù có dài đến ba thước cũng không dễ làm xiêu lòng bà!
Ông Hai Nhẫn mừng rơn khi nghe ông thủ bản nói,” anh về nói với chị bên ấy lo sao cho phải thì thôi, mẹ nó mất sớm, tôi chẳng biết đòi hỏi gì cho nó”. Ông Hai nhẫn khúm núm: “dạ, dạ” “Vậy thì cuối tháng ba này, ngày hai mươi mốt tôi đưa nó về làm dâu bên ấy”. “Dạ, dạ , hai mươi mốt tháng ba, dạ dạ…”
Hai ông vui vẻ uống hết bình trà. Chỉ có nàng đứng núp trong buồng nghe như đất sụt dưới chân mình. Hai mươi mốt tháng ba, chẳng biết ngày ấy mình có bị “gãy cẳng” hay không!

2
Tháng ba, lúa chín trĩu hạt. Ruộng vàng ươm như những nong kén. Đã nghe tiếng đập lúa và mùi cơm lúa mới thơm hương đất trời. Chưa bao giờ nhiều sao như những đêm tháng ba. Đêm của những giọng hò, đêm của hát bội. Đêm bình yên của đôi lứa bình yên.
Hai mươi mốt tháng ba, chắc là ngày đẹp nhất trong tháng và trong năm.
Chỉ còn hai hôm nữa là nàng sẽ về nhà chồng. Chỉ còn hai đêm nữa, nàng không còn được nằm trên giường của mẹ. Cái giường khô cứng, vạt đã gãy, chiếu đã sờn dù đã nhiều lần thay vẫn không hết rệp. Cái giường quen thuộc đến nỗi nàng quên mất nó đêm đêm vẫn nâng đỡ thân mình. Cái giường ấy, từ đây trong đời không còn là của nàng. Rồi cái bếp với ba ông táo bằng đất mà chỉ có ông táo chúa ở giữa là có rún. Tại sao là ông mà không là bà mặc dù truyện kể vì bà mà hai ông phải chết cháy. Rồi những gióng, những rế, cái đòn ngồi, cái que cời lửa, những chiếc đũa bếp, những chiếc đũa con, những trã những trách, những nồi đất nồi đồng, những sàng những nia, những thúng những rổ, cái dao phay nhọn mũi, cái thớt gỗ trũng sâu, những chén những bát… những thứ thân quen sẽ không còn gần gũi với nàng.
Hai ngày nữa, sao mà mau quá vậy hở Trời!
Không biết trên đời này có người con gái nào như tôi vừa mới sinh ra là mẹ đã bỏ tôi mà đi. Mẹ phải chết để cho con được sống. Mẹ đâu có phải con rắn lục trong bụi tre tự xé bụng của mình ra để cho lũ con bò đi. Tôi cũng đâu có phải hạt lúa tự nảy được mầm. Tôi lớn lên không có mẹ. Tôi sống bên cha như sống với người dưng. Tôi chưa hề được ve vuốt ẵm bồng. Tôi muốn yêu cha mà yêu không được. Cha tôi không phải là giếng nước trong để cho tôi thấy bóng mình in xuống. Cha tôi là cây cột cái đứng giữa nhà lúc nào cũng nhẵn bóng nhưng không phải để cho tôi đứng tựa đầu. Cha tôi như cái đòn dông cao tít trên nóc nhà với một lá bùa bát quái. Cha tôi chỉ để ngó từ xa chứ không để tới gần. Cha tôi có thể khom lưng xuống cho con trai đứng lên, nhưng không thể cúi xuống để nâng dậy một đứa con gái. Cha tôi là người của xóm làng, của đình miễu, của họ hàng giỗ chạp. Cha tôi tồn tại là để cho tôi khỏi mang tiếng con không cha như nhà không nóc. Và cái tình thương yêu lớn nhất mà ông có thể dành cho tôi, là gả tôi lấy chồng một cách đàng hoàng. Là để tôi làm dâu nhà con trai một. Là biến tôi thành một cái “toi” của cái “đó” giữa đồng. Cha tôi gần như biết tất cả. Biết ai sinh ai mất năm nào, biết ai đỗ ai đạt, ai làm quan, ai làm giặc, ai có vợ hiền ai có chồng dữ, ai nhà ngang dãy dọc, ai chòi tranh cột sậy…ai mồ cao mả đẹp, ai chết không có được chiếc chiếu mà đắp lên mình. Biết hết ngoại trừ biết một đứa con gái mới lớn nghĩ gì, muốn gì!
Vì nhà trai ở xa phải đón dâu trước giờ ngọ, nên mới giờ dần họ đã đến đầy trước ngõ. Một phong pháo nhỏ được đốt nổ đì đẹt để báo tin. Trong sân cũng đáp lại những tiếng nổ đì đẹt. Ông Hai Nhẫn mai dong quần không còn màu cháo lòng mà trắng như bông bưởi, cũng không xắn ống cao ống thấp mà thả xuống đề huề. Ông lấy đôi guốc gỗ móc ở cán dù ra đặt ngay ngắn, cẩn thận cạ chân nọ vào chân kia cho bớt lớp bụi đất trộn với sương đêm dính ướt nhẹp, rồi mới xỏ vào. Ông xăng xái đi vào nhà xin giờ. Được nhà gái thuận tình, họ nhà trai cứ sắp hàng một tiến vào. Đi đầu là trưởng họ Bùi bát phẩm mặc áo tía ngực đeo thẻ bài ngà đu đưa theo mỗi bước chân. Tiếp sau là hai cửu phẩm mặc áo thụng xanh, sau nữa là các ông biện ông câu mặc áo the đen, chú rể mặc áo gấm đỏ đội khăn đóng. Trịnh trọng như đi rước sắc thần.
Hai cây đèn tạ đăng giữa nhà được vặn bấc cao hết mức vẫn không đủ sáng để soi rõ từng khuôn mặt, nhất là chàng rể sau khi xuống ngựa cố tình nghiêng mặt để che những cái mụn đáng ghét. Đồ sính lễ đã được nạp trước gồm một quả sơn đỏ đựng nữ trang, một quả đựng khăn áo, một quả đựng “bạc nát” và một quả đựng trầu cau. Giờ chỉ có một con heo đựng trong cũi, một ché rượu được bốn người trịnh trọng khiêng đặt giữa sân. Chỉ tiềm tiệm thôi mà lo được như thế là quá tươm tất, ông nghĩ thầm. Điều làm ông vừa lòng nhất là những người đi họ bên ấy có cả bát phẩm cửu phẩm cũng tàm tạm ngồi nói chuyện được với ông nghè trưởng họTrần và ông tú em họ. Ông sợ nhất là hai bên không bằng vai phải lứa, một bên thì chữ nghĩa đầy mình còn một bên thì dốt đặc cán mai. Trò chuyện với nhau mà cứ như nói chuyện với đầu gối!
Sau khi trưởng họ nhà trai thưa gửi lễ phép, cụ nghè trưởng họ Trần liền khấn trước bàn thờ: Việt Nam quốc, Bình Định tỉnh, An Nhơn huyện, Thuận Thới thôn a… nhị thập nhứt nhựt…a, Trần gia…hiệp cùng Bùi gia…nhơn duyên ..a…Trong khi đó cô dâu đã được các bà cô bà chị họ dỗ ngon dỗ ngọt đã hết khóc, xúng xính trong hai lớp áo màu đỏ và vàng, tai đeo bông lủng lẳng, cổ đeo kiềng chạm, tay đeo xuyến, chân mang hài thêu đang được dìu đứng ở phía bên này ngạch cửa chờ ra lạy cùng chàng rể.
Rồi đó, chàng rể và cô dâu đứng trước bàn thờ thơm ngát hương trầm. Hai họ đứng hai bên, nét mặt người nào cũng lộ vẻ thành kính trang nghiêm đến độ tưởng chừng như có ông tơ bà nguyệt đang cỡi mây đáp xuống. Chưa bao giờ người ta thấy bốn chữ bách niên giai lão lại có sức mê hoặc đến thế. Cũng chưa bao giờ, con trai con gái lại được nâng niu chìu chuộng như lúc này. Chàng và nàng đã tập lạy và biết lạy từ nhỏ, nhưng vì chàng đứng lạy còn nàng thì ngồi nên dù đã dặn trước cả hai vẫn không thể nào cùng một lúc rập đầu xuống chiếu. Tuy vậy hai họ đều châm chước bỏ qua.
Vừng đông đã phơn phớt hồng, sao mai đã nhạt, giờ đưa dâu đã đến. Lúc này là cuối dần đầu mẹo. Phải đi làm sao cho kịp giờ tị. Cái giờ ngọ đứng bóng kia là giờ của những kẻ khuất mặt, giờ của quỷ ma trốn nắng trên những cây cao bóng cả. Nhập gia giờ ấy là đưa cả quỷ ma vào nhà. Ai cũng chộn rộn, ai cũng vội vội vàng vàng, chỉ có nàng ngồi yên không nhúc nhích. Các cô các chị đều hối nhưng không hiểu sao nàng thấy hai chân cứ nặng như chì. Lúc này mà kêu lên được một tiếng Mẹ ơi thì hay biết chừng nào. Mẹ ơi, mẹ ơi, nàng kêu thầm trong trí. Nhưng giả như Mẹ có linh thiêng trở về ngồi kia thì nàng cũng không biết mẹ là ai. Nàng đã bao giờ thấy được mặt mẹ đâu. Ngay cả một tấm hình cũng không.
Bất chợt nàng nghe tiếng của cha:”bộ nó muốn làm giặc hả?” Tức thì nàng đứng bật dậy, tưởng chừng như được nhấc bổng lên.
Đoàn đưa dâu đều đi bộ, trừ nàng đi cáng và chàng đi ngựa. Nằm trên võng được bốn người thay nhau khiêng, nàng thấy mình như một khúc gỗ. Tệ hơn, có lúc nàng tưởng mình như đang nằm trong hòm để người ta khiêng ra nghĩa địa. Cùng đi với đoàn có lúc là những người ra đồng gặt lúa, có lúc là vài con trâu con bò đủng đỉnh. Con ngựa bị che hai bên mắt nên mặc trâu, trâu cứ đi, mặc bò, bò cứ chạy. Nó gõ những cái móng buồn bã xuống mặt đường. Dây cương buông thõng nên trông nó giống như một con nghẽo. Chàng cũng không được đẹp nên cả người và ngựa đều có vẻ lạc lõng khổ sở. Dù nắng chưa lên, các ông già vẫn giương dù lên che nắng, không quên móc đôi guốc hay đôi giày hạ lên chỗ cán uốn cong. Cứ thế, từng bước một, con đường dù khá xa vẫn cứ ngắn lại dần. Ngắn dần, ngắn dần trong khi quê mẹ thì xa tăm tắp.
Vừa tới đình Đại Hữu đã nghe tiếng pháo nổ vang. Nhà trai trải mấy đời độc đinh, nên cậu Hai cưới được vợ là cả làng đều mừng. Người ta đồn cô dâu đẹp, nên mới tới đầu làng đã thấy có rất đông người đứng xem. Bà Cửu theo tục lệ phải lánh đi, còn cô dâu thì xuống cáng vạch rào mà chui vô. Hai người đàn bà vội dìu cô dâu chạy tuốt vô buồng. Nàng ngồi gục đầu lấy tay che mặt y như một con cù lần bị bắt đem xuống núi.
Giờ đây cái giường này là giường của tôi? Căn nhà này là nhà của tôi? Cái làng này là làng tôi? Người đàn bà xa lạ đứng nép sau cánh cửa kia là mẹ tôi? Lấy chồng là đổi thay? Lấy chồng là đổi mẹ đổi cha? Lấy chồng đau xót như thế sao người ta vẫn cứ lấy? Ai cũng khóc mà vẫn cứ phải đi!
Hai cây đèn sáp ong được trịnh trọng thắp lên thơm phức. Sẽ phải cháy cho đến giọt sáp cuối cùng. Sẽ phải sống cho đến răng long đầu bạc. Nàng được dìu ra lạy chào tổ tiên nhà họ Bùi. Và dù ưng hay không ưng, muốn hay không muốn, nàng cũng đã là con dâu của họ Bùi. Sống cũng họ Bùi. Mà chết cũng họ Bùi. Nàng như một cái cây được ươm cho mọc lên, chăm bón ở Thuận Thới rồi đem trồng ở Đại Hữu. Nàng phải bám rễ ở nơi đây, hút chất màu ở nơi đây, thở khí trời ở nơi đây nếu nàng muốn sống.
Cả chục bàn tiệc đã được bày sẵn. Cả một cái rạp to bằng tranh vẫn không che được hết nắng. Người ta ăn uống, chúc tụng. Ai cũng thấy mình nghiêng ngửa. Khi người ta gọi nàng ra chào từ biệt họ nhà gái, nàng thấy mắt cha rưng rưng. Lần đầu tiên nàng nghe ông nói trong nước mắt:”Thôi cha về!” Ước gì nàng có thể nhào tới ôm chặt ông mà khóc. Ước gì nàng bật ra được hai tiếng Cha ơi! Nàng chỉ biết đứng cúi đầu, nghe hai vai mình rung rung như bị ai giật.
Vậy là xong một cuộc cưới xin. Vậy là tròn công cha như núi Thái Sơn. Vậy là yên nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nàng biết mình đã sang một chuyến đò và đậu vào một trong mười hai cái bến. Chỉ có Trời mới biết nàng vào bến trong hay bến đục!

3
Đêm tân hôn nàng ngủ trong ang đựng lúa!
Có lẽ đó là chuyện hi hữu cổ kim. Sau này mỗi khi nhớ lại nàng vẫn thấy hãi hùng.
Khi cha nàng cùng với họ nhà gái ra về, mẹ chồng bước vào buồng giúp nàng thay quần áo. Hai cái áo dài cặp đôi được xếp cất vào tủ. Kiềng chạm, xuyến vàng, bông tai vẫn còn đeo. Nàng được bà dẫn ra chào bà con trong họ. Ai cũng tươi cười chào nàng. Ai cũng thấy nàng xinh đẹp dễ thương. Nhưng trong mắt nhìn, ai cũng thấy ái ngại cho nàng. Mới mười lăm tuổi đầu mà phải đi làm dâu. Biết bao nhiêu nỗi khổ đang chờ đợi.
Bà Cửu lâu nay nổi tiếng là một người khó tính. Bà là người xứ Huế. Tuy không phải con nhà quyền quý, nhưng cung cách ăn ở vẫn phảng phất một chút gì đó của những nhà danh gia vọng tộc. Không chỉ riêng mình bà, dường như cái mùi vương giả ở chốn kinh thành nó lan toả ra khắp nơi khiến những cô gái Huế trở nên đài các, hay cố làm ra vẻ đài các, khác hẳn với những người thô lậu quê mùa ở thôn Đại Hữu.
Thực ra, trước kia bà chỉ là một cô hàng xén ở chợ Đông Ba. Chồng bà, một anh phó mộc khéo tay được tuyển vào làm thợ để chạm trổ những cột những kèo ở chốn cung đình. Những lúc rỗi việc anh thường lượn qua lượn lại trước các gian hàng xén. Chắc hẳn miệng anh khéo nói cũng như anh khéo tay đục đẽo nên đã làm xiêu lòng nàng, mặc dù phải theo anh về tận phía bên kia đèo Hải Vân xa tít. Xong việc, anh được bộ công thưởng cho cái tước cửu phẩm. Vì vậy, anh được gọi là anh Cửu và nàng được gọi là chị Cửu.
Được mấy năm, sau một trận thương hàn nhưng chữa trị bằng nước lã tàn nhang nên ông Cửu mất. Cũng may ông còn để lại cho bà một cậu con trai bốn tuổi. Cha mẹ gọi bà đem con về Huế, nhưng bà không chịu. Bà nói, lấy chồng thì phải gánh giang san nhà chồng, ra ngoài nớ thì cái gánh họ Bùi biết để cho ai. Bà ở vậy nuôi con cho đến tận bây giờ.
Như bao cô dâu khác, nàng không ăn uống được gì trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng. Ăn làm sao được dưới cái nhìn săm soi của bao nhiêu con mắt. Nhưng làm thì nàng làm được và nàng cố sức làm nhiều hơn ở nhà mình. Bao nhiêu bát đĩa một mình nàng giành lấy rửa sạch. Mãi đến tối nàng vẫn còn loay hoay dọn dẹp trong bếp. Nàng muốn bận tay bận chân để khỏi phải nghĩ đến chuyện làm vợ. Chẳng ai nói cho nàng biết làm vợ là làm thế nào. Ai cũng giục nàng: mợ Hai nghỉ tay đi, mợ Hai tắm rửa còn gặp cậu Hai chớ. Nghe nói gặp cậu Hai là nàng cảm thấy run.
Họ hàng nhà Bùi sau một ngày ăn uống nói cười đã chào bà chủ, ra về. Ngoài sân, nắng đã tắt. Bóng tối chẳng mấy chốc từ mấy lùm tre ùa ra ôm kín căn nhà. Văng vẳng có tiếng ếch nhái từ ruộng xa đưa vào. Thỉnh thoảng, một con cóc coọc ngồi đâu đó nghiến răng nghe thật buồn. Có tiếng mẹ chồng: “con Hai đâu lên mạ bảo”. Nàng hồi hộp đi lên gặp bà. Vẫn giữ cung cách của một đứa bé trước mặt người lớn, nàng đứng vòng tay cúi đầu.” Con ngồi xuống đây đi. Mạ cho phép con không phải vòng tay nữa. Mạ biết là con mồ côi mẹ, tội lắm. Từ nay, mạ là mẹ của con, con cứ ăn uống đi đứng tự nhiên như khi còn ở bên nhà, không việc gì phải cáy náy e sợ. Mạ đã già rồi, con phải lần hồi học cách làm chủ ngôi nhà này, nghe rõ chưa. Thôi con vào buồng của con đi.”
Nàng ngơ ngác đi vào. Một ngọn đèn nhỏ soi không đủ sáng căn buồng. Nhưng nàng thấy nó ngăn nắp sạch sẽ hơn buồng của mẹ nàng. Một cái giường rộng, hai đầu có những thanh gỗ tiện giống chân đèn. Một chiếc chiếu mới còn thơm mùi lát. Hai cái gối màu hồng, một cái mền bông. Và trùm lên tất cả là một cái mùng phơn phớt hồng. Không có một chiếc ghế nào, nàng đành ngồi bên mép giường.
Một lúc sau, chồng nàng vào. Anh chàng cũng ngồi xuống bên mép giường. Nàng dịch sát một góc, cố sức thu mình thật nhỏ. Nàng nghe trống ngực đánh liên hồi. Nàng lặng im. Chàng cũng lặng im. Rất lâu, hai người ngồi như hai tượng gỗ. Bỗng nàng nghe:”thôi nằm xuống đi, xê vào bên trong.” Nàng làm theo, nằm quay mặt vào trong vách. Nàng kẹp tay giữa hai đùi, co gối lên tận ngực, như một con cuốn chiếu.
Nàng nín thở khi chàng tắt đèn. Lần đầu tiên nàng biết có người đang nằm xuống cạnh mình. Người đó nằm im. Nàng nghe người đó thở dài. Rồi mấy ngón tay lạ đặt lên vai nàng. Những ngón tay lóng cóng, vụng về đang cố sức kéo cái vai để lật ngửa nàng ra. Nàng hít một hơi thật dài, sợ đến nỗi muốn hét lên. Có tiếng nói của mẹ chồng. Dường như bà hỏi cậu con trai đã đóng cửa ngõ lại chưa. Và cậu ta hơi bực mình đứng dậy ra khỏi buồng.
Đúng lúc ấy, nàng cũng vén mùng chui ra. Nàng nín thở chạy xuống bếp. Nàng ngồi co ro bên mấy ông táo hãy còn nóng. Nàng muốn được ngồi suốt đêm ở đây. Nàng muốn nấu cơm, nấu nước, muốn rửa bát rửa chén. Nàng muốn làm việc nhà chứ không muốn làm vợ.
Anh chồng đi ra ngõ. Con chó mực quắn quít chạy theo. Anh cài lại cửa, cùng con chó dạo quanh nhà. Khi biết chắc không có kẻ trộm nào đang rình, anh vào nhà, đóng chặt cửa. Anh lại chui vào giường, lại nằm xuống, lại thở dài, rồi đưa bàn tay một lần nữa tìm nàng. Trong bóng tối anh thấy cái giường như rộng hơn, rộng đến nỗi anh đã dịch mình vào cả thước mà vẫn không đụng đến vai nàng.
Ủa, sao mà lạ thế. Anh lăn mạnh một vòng, hai đầu gối đụng vách nghe cái cộp. Vẫn không đụng phải nàng. Anh xoay qua bốn góc, vẫn không đụng nàng. Anh loay hoay một lúc rồi ngồi dậy đi tìm đèn. Anh lấy cây đèn trên bàn thờ cha đi vào. Ánh đèn tuy mờ nhưng vẫn đủ soi cho anh thấy cái giường trống không, bốn góc buồng cũng không có nàng đứng hay ngồi. Chắc nàng đi xuống bếp. Anh để đèn lên tủ, ngồi chờ.
Chờ mãi không thấy nàng lên, anh cầm đèn đi xuống bếp. Vẫn không có nàng. Anh lại đi lên nhà trên. Vẫn không có nàng. Anh đi quanh vườn. Vẫn không có nàng. Vậy nàng đi đâu? Anh gọi nho nhỏ, sợ mẹ nghe:” Hai, Hai ơi”! Anh gọi một tiếng, hai tiếng, ba tiếng. Không nghe đáp lại. Anh gọi to hơn. Cũng không có tiếng ơi hỡi gì hết. Không còn sợ mẹ la nữa, anh gào lên: “Hai ơi, Hai ơi!” Chỉ nghe tiếng mẹ xô cửa tông ra:” Mi la cái gì vậy, không sợ xóm làng người ta cười cho à?” Anh nói như mếu:”nó đi đâu không có trong buồng!” Chừng đó mẹ anh mới tá hỏa cùng anh đi tìm. Giọng mẹ anh nhỏ nhẹ hơn: “Hai đâu con, dại chi mà dại rựa” !
Một con người chứ đâu phải cây kim mà tìm hoài không thấy. Đến nước này đành dựng đầu ông mai dong dậy mà hỏi cho ra lẽ. Có chê chồng xấu thì đừng ưng, chứ sao ưng rồi lại trốn đi đâu mất. Cũng may, nhà ông Hai Nhẫn ở gần. Mắt nhắm mắt mở ông hỏi:” có chuyện gì vậy chị Cửu”? Khi nghe anh kể, ông vỗ đùi đánh bép.”Tao biết rồi, ông nói, mày bộp chộp quá làm nó sợ chớ gì.” Nhưng anh cãi: “đã làm gì đâu mà bộp chộp. Mới tắt đèn mà nó đã biến mất, cứ như ma.” “ Đừng có nói bậy, ông nói, chắc là nó chạy về bển. Thôi để tao qua đó đưa nó về. Thiệt là cực. Cái nghề mai dong đã mấy lần định bỏ mà bỏ không được”. Rồi ông quay sang nói với bà Cửu: “chị kêu giùm thằng Bồng đi với tôi, đêm hôm rắn rít làm sao một mình tôi đi được”. Bà Cửu thở ra một tiếng: ừ!
Cô dâu bé bỏng của chúng ta, thực ra chỉ muốn được ngồi một lúc trong bếp, là nơi dẫu sao cũng không xa lạ gì lắm. Mùi khói vẫn như mùi bên nhà. Hơi lửa vẫn ấm áp. Giống như đi ngoài trời mưa lạnh, được ngồi bên bếp lửa, nàng không còn cảm thấy run sợ nữa. Nàng định, khi chồng ngủ rồi, sẽ lén chui vào một góc giường. Nàng sẽ nằm co quắp đợi sáng ra lại đi nấu nước pha trà như đã từng làm bao nhiêu năm với cha. Nhưng khi thấy chồng cầm đèn đi xuống bếp, nỗi lo sợ lại nổi lên. Nàng hốt hoảng chạy ra sau hè, đứng nép sau một cây cột. Khi chồng cầm đèn đi lên nhà, nàng cũng tưởng chàng sẽ tắt đèn đi ngủ. Không ngờ chàng lại đi tìm quanh vườn, rồi lại gọi, lại la lên, lại gào… khiến nàng quá khiếp phải chui vào trốn trong một cái ang đựng lúa bỏ không. Nàng hãy còn quá bé, ngồi lọt thỏm trong cái ang lạnh ngắt. Mấy con kiến nhỏ đang ngủ bị nàng đánh thức bò lung tung, leo cả lên mình nàng. Cũng may là kiến hôi nên nàng không bị cắn.
Ông Hai Nhẫn cùng thằng Bồng đến nhà ông lý đúng nửa đêm. Sau một ngày mệt mỏi ông ngủ say như chết. Tiếng ngáy của ông rồ rồ như xay lúa. Phải mấy lần nắm chân ông lay mới đánh thức được ông. Chuyện ông mai dong đến nhà ông vào giờ này là chuyện lạ. Chẳng lẽ tới mắng vốn nó không còn trinh à. Làm gì có chuyện đó. Mà dẫu có chăng nữa thì cũng phải đợi đến ngày nhị hỷmới cắt cụt cái tai heo mà ném vào nhà chớ. Có đâu lại dựng đầu ông dậy lúc đang ngủ ngon. Mấy cái thằng cha mai dong thật đáng ghét. Ông không còn nhỏ nhẹ như ngày thường mà đâm ra gắt. Ông gằn giọng hỏi trống không: “Chuyện gì vây?” Ông mai dong cũng dấm dẳng:” con Thãi có về đây không?” “ Nó đâu có về đây, mà ai cho nó về?” “ Vậy chớ nó đi đâu?, ông mai nói, chẳng lẽ nó bỏ theo thằng nào. Tôi chưa thấy đứa con gái nào hư như con gái ông.” “ A, coi chừng tôi vả vào miệng ông bây giờ. Sao ông dám bảo con gái tôi hư?” “Không hư, sao lại bỏ chồng mà đi?” “ Tôi đánh chết cha ông bây giờ, đừng có nói tầm bậy. Được rồi, tôi cũng đi sang bên đó ngay bây giờ đây. Làm mất con tôi là ở tù rục xương đó chớ không phải chuyện chơi đâu”. “ Thì ông cứ qua mà tìm”.
Hai người không nói không rằng đi suốt đêm qua Đại Hữu. Sinh con gái thiệt là cực, ông nghĩ. Chẳng lẽ cứ nuôi báo cô mãi trong nhà. Gả chồng thì khóc lóc làm như thể đem đi cống Hồ. Rồi lại chê chồng không chịu ăn nằm. Đang đêm mà phải lặn lội như vầy thà đừng sinh nó ra còn hơn. Càng lúc ông càng giận con. Phải như còn ở nhà, tóm được ông sẽ quật cho một trận tơi bời.
Đến nơi, trời vẫn chưa sáng. Khi hỏi ra cớ sự ông cũng chỉ biết dậm cẳng kêu trời. Biết nó trốn núp ở đâu, hay là dại dột nhảy xuống sông xuống giếng. Lúc này ông lại thấy thương nó quá. Mới có mười lăm tuổi đã phải đi lấy chồng, ai mà không sợ. Ba bà vợ của ông, bà nào cũng sợ chết khiếp khi thấy ông lần đầu leo lên giường. Đàn bà mà, cái khó nhất là lần đầu. Phải như có mẹ nó còn được dặn dò chỉ bảo chút đỉnh. Đàn ông làm sao nói được với nó chuyện khó nói ấy. Ông thở dài, mong cho trời mau sáng.
Trong ang lúa nàng đã ngủ tự lúc nào. Nỗi sợ hãi của một đứa bé con dù to lớn đến đâu cũng không làm cho nó thức suốt đêm được. Vả lại, sau bao nhiêu ngày đêm mệt mỏi, nàng không thể nào chống chọi được với giấc ngủ. Chồng nàng cũng vậy, sau một hồi đập tay đập chân, thở vắn than dài rồi cũng nằm ngủ chèo queo ở một góc giường. Cái đêm tân hôn kỳ lạ này chắc chắn hai người nếu sống được đến đầu bạc răng long vẫn không thể nào quên.
Trời sáng. Mọi người lại quanh quất đi tìm. Có người ra tận bờ sông, có người leo xuống giếng. Vừa tức vừa sợ, ai cũng chỉ biết nhìn nhau thở dài. Đang lúc tuyệt vọng thì chính bà mẹ chồng tìm thấy nàng dâu ngồi ngủ trong ang lúa. Bao nhiêu tức giận trong người bà đều tiêu tan hết. Không còn than ạc chi mô rựa mà bà kêu lên tội nghiệp quạ con ơi. Bà vuốt tóc, xoa má nàng. Mọi người ai cũng mừng chảy nước mắt. Ông lý Bản và ông hai Nhẫn lại làm lành. Sẵn rượu cưới hãy còn, hai ông lại khề khà coi như không có chuyện gì vừa xảy ra..
Đêm thứ hai chính bà Cửu nằm cùng giường với nàng. Bà rủ rỉ kể chuyện ngoài nớ cho nàng nghe. Dù không hiểu gì mấy nhưng cái tiếng trọ trẹ đều đều như ru khiến nàng ngủ thiếp lúc nào không hay. Cứ như ru con mọn ngủ xong, bà nhẹ nhàng đi ra ngoài để con trai bà sẽ lén vào nằm bên vợ. Và mọi sự sẽ diễn ra êm thắm như lúa mọc trên đồng, như hoa nở trên cây.
Nhưng nàng đâu có ngủ. Nàng chỉ giả bộ ngủ thôi. Nằm bên cạnh bà nàng lại càng sợ và càng không sao ngủ được. Nàng biết bà sẽ đi ra khi nghe có tiếng ngáy. Nàng cũng biết người đó đang rón rén đặt lưng xuống bên cạnh. Dù có biết mình sắp chết, đêm nay nàng cũng không bỏ trốn đi đâu được. Nàng đã làm khổ bao nhiêu người, nhất là cha. Hơn bảy mươi tuổi mà giữa đêm khuya phải chống gậy sang tìm. Con gái như thế là bất hiếu. Nàng đâu có muốn làm đứa con bất hiếu. Thôi thì đành vậy, người ta chỉ muốn nằm bên nàng chứ có muốn giết nàng đâu.
Bây giờ nàng lại tò mò muốn biết làm vợ là làm như thế nào. Không như đêm qua, lần này nàng cảm thấy anh ta vuốt nhè nhẹ tóc, rồi lần xuống ngực, xuống bụng. Những ngón tay anh như chân rắn mối. Nó sục vào cái giải yếm rồi lần tới giải rút. Trời ơi, nàng muốn la lên, gào lên. Nhưng miệng nàng như bị ai khóa chặt, nàng đành trân mình ra mà chịu đưng. Đàn bà sinh ra là để chịu đựng. Nhỏ thì chịu đựng tính khí ngang trái của cha. Lấy chồng thì chịu đựng những trò kỳ cục của chồng. Mai sau có con chắc cũng phải chịu đựng con! Thế rồi cả thân nàng giống như bị xẻ ra làm đôi. Đau buốt tận óc. Nàng tê điếng rồi mê man trong giấc ngủ chập chờn với nhiều lần bị cưa xẻ. Sáng ra, bên người lạ đang ngủ say như chết, nàng thấy một vệt máu khô trên chiếc chiếu mới. Nàng bàng hoàng, còn khủng khiếp hơn là “gãy cẳng”.

4
Giữa lúc cái tấm thân bé nhỏ của nàng có những đổi thay xé lòng như thế thì cả thế giới cũng nát tan vì đại chiến. Những lò thiêu người của Đức quốc xã ngày đêm nhả những đám khói nghẹn uất lên bầu trời châu Âu. Máy bay Mỹ gầm thét trên biển Thái Bình. Hai chiến hạm Nhựt bị đánh đắm ở biển Quy Nhơn. Người ta kéo nhau ra biển vớt sáp nổi lều bều. Có cả những thùng đựng đầy đường của Nhựt. Đường cát trắng nén chặt đến cứng như đá. Người ta dùng búa đập cho vỡ để chia nhau ăn. Không ngờ đó là những thùng ướp đầu của lính Nhựt tử trận! Bao nhiêu người lỡ ăn đều phải móc họng mà nôn ra.
Không hiểu sao nàng cũng đang thèm đường. Đường tán mà nàng cứ bỏ vào miệng nhai cộp cộp vẫn chưa đã thèm. Suýt chút nữa, nàng cũng đã ăn phải một cục đường to của Nhựt. Chưa ăn, nhưng nàng đã ụa mửa suốt ngày. Nàng trốn mẹ chồng ra ngồi ngoài bụi chuối. Cứ nghĩ tới cái đầu trọc ấy là nàng rùng mình. Nàng mửa đến ói cả mật xanh mật vàng. Nhưng mẹ chồng lại rất vui vì nàng đã ốm nghén. Thường thì người ta thèm chua. Me sống, xoài xanh, cốc ổi, ăn suốt ngày thay cơm. Nhưng cũng có người thèm ăn đất sét, thèm hít mùi ống nhổ bã trầu, thèm những thứ lạ lùng mà khi còn con gái chẳng ai nghĩ sẽ thèm như thế.
Bà Cửu đem tất cả kinh nghiệm sinh đẻ của mình ra truyền lại cho con dâu. Bà dặn nàng không được bước qua võng, không được nhảy ào xuống tam cấp, không được ăn thịt bò đen, không được ngủ ngày, không được mang vác vật gì nặng, nói chung là phải hết sức cẩn thận nâng niu cái hạt mầm bé xíu trong bụng. Bà nói, con thèm ngọt chắc sẽ sinh con trai và bà đi mua hai cái trứng ngỗng to như hai quả đu đủ bắt nàng ăn để cháu trai bà sẽ được thông minh học giỏi.
Còn anh ta ư? Suốt ngày anh ta nói chuyện Mỹ Nhựt đánh nhau. Anh đi bộ lên tận Bình Định mua nhựt trình để theo dõi tin tức. Anh đang lưỡng lự không biết sẽ đặt tên con là Mỹ hay Nhựt. Mỹ thì mạnh hơn, nhưng Nhựt thì gan dạ. Nhiều người trong làng đặt tên Đức, tên Nga. Nghe cũng hay hay, nhưng anh có vẻ thích Mỹ hơn. Nó đang đổ bộ đâu đó trên đất Pháp.
Sáng ba mươi tháng chạp chưa kịp lo cúng rước ông bà, nàng đã đau bụng. Lúc đầu râm ran, đến trưa thì đau đến nỗi phải cắn cả một con găng võng để khỏi phải la lên. Một bà mụ già đến những bảy mươi tuổi được mời đến. Người ta nói bà mát tay, sinh cho ai cũng mẹ tròn con vuông. Bà lụm cụm đi vào nhà, cái túi đựng ống ngoáy và trầu cau buộc lủng lẳng trước bụng.
Đúng giao thừa nàng sinh một cái bọc màu đỏ. Bà mụ luýnh quýnh chưa biết làm sao thì mẹ chồng đã la lên:”xé bọc ra, xé ra không nó ngộp”. Cái bọc như một cái bong bóng lợn, loay hoay một lúc bà mới xé được. Một đứa bé được lôi ra với cái dây nhau lòng thòng. Tuy mệt đứt hơi nhưng nàng vẫn nghe được tiếng reo mừng của hai người đàn bà: “con trai! đẻ bọc điều là khôn lắm đây”! Anh chồng ở bên ngoài cũng reo lên: “con trai hả, sướng quá! đặt tên cho nó là thằng Mỹ, Bùi văn Mỹ!”
Nàng nằm trên chiếc chõng tre mà sau khi đầy tháng sẽ đem đi đốt. Tục lệ không cho phép nàng sinh trong nhà nên phải nằm ở hiên sau. Có người phải làm chòi ở bụi tre để sinh. Dù được che chắn cẩn thận, nhưng giun dế vẫn rên rỉ suốt đêm. Thỉnh thoảng con cắc kè núp đâu đó trên mái nhà buông những tiếng to và khô vào đêm tối sâu thẳm. Nàng được bôi nghệ đầy mình, mỗi sáng phải uống một bát nước đái của thằng bé hàng xóm. Một bà nuôi đẻ được thuê để săn sóc hai mẹ nàng. Bà nghèo, cũng già khú, mỗi buổi tối lại mang một chậu lửa hừng hực, cởi tuột quần áo nàng ra hơ háp như người ta nướng thịt.
Suốt một tháng, nghệ và mồ hôi trộn lại thành một lớp dày như mo, trông nàng như một mụ ăn mày giữa chợ, nhưng mẹ chồng bảo phải chịu đựng như thế sau này mới chống chọi được với nắng mưa, sương gió. Chồng nàng thì không thèm tới mà cũng không ai cho bén mảng tới. Đây là nơi ố trọc chỉ để dành cho những người nằm nơi. Một nhánh xương rồng được treo trước cửa buồng, chỉ khi nào khô thì chồng mới được gần vợ. Cái lệnh ngộ nghĩnh ấy nàng thấy thế mà hay, biết bao giờ cho nó khô. Nửa năm hay một năm, càng lâu càng tốt. Nàng đã có đứa con bên cạnh, chẳng còn cần ai nữa.
Khi thằng cu Mỹ biết bò lổm ngổm thì trống đình thôn Đại Hữu muốn vỡ tung vì Việt Nam đã giành được độc lập. Bà mẹ trẻ hơn mười lăm tuổi bồng con ra trước sân xem người ta rầm rập đi biểu tình. Chồng chị ta lăng xăng chạy tới chạy lui. Cây cờ đỏ trên tay anh quơ qua quơ lại như đang đuổi gà. Ba ngày sau anh nói khào khào trong cổ họng như vịt đực vì mãi hoan hô, đả đảo. Anh nói,” độc lập rồi sướng quá”! Bà mẹ hỏi ”có ăn được không mà sướng.” Anh nói, “ăn được chớ. Lúa gạo từ đây không cho thằng Pháp đốt nữa. Ai đời nó tàn nhẫn quá sức. Ngoài Bắc không có gạo mà ăn, còn trong nam thì nó đem đốt coi chơi”! Từ đó anh lăn vào diệt giặc đói và giặc dốt.
Nàng mặc kệ anh ta, có con là có tất cả. Nàng thường áp môi mình lên mặt con lay lay cho thằng bé cười. Mùi thịt da thơm ngọt của nó khiến nàng đê mê. Như con ong say mật, nàng uống từng chút, từng chút.
Tôi đang có một đứa con, ơn Trời. Tôi cũng rất biết ơn cha, biết ơn mẹ. Như người ta nói, đúng là có con rồi mới biết ơn cha mẹ. Còn ơn chồng ư? Tôi coi anh ta một kẻ chèo đò giúp tôi qua sông. Cái việc mà anh làm hằng đêm ấy là để cho anh chứ không phải cho tôi. Tôi chẳng thích thú gì trong chuyện ấy. Nỗi lo sợ lúc nào cũng như muốn làm tôi ngạt thở. Tôi không dám nói xấu anh, nhưng anh xộc vào tôi cứ như con heo đang đói xục vào cái máng đựng đầy cám. Tồng tộc, tồng tộc rồi nằm dảnh cẳng ra ngủ. Giờ đây anh có bỏ nhà đi theo ai cũng kệ anh. Tôi không theo ai hết. Tôi theo con tôi. Con tôi là tất cả.
Nhờ cái bằng yếu lược, nhờ hăng hái đi đầu trong mọi công tác nên anh được làm cán bộ xã. Anh liền mua một chiếc xe đạp cũ và với cái chuông kính coong, đạp từ làng này sang làng nọ. Một đôi khi anh lên huyện đóng ở Phù Cát. Có lần anh chở một nữ cán bộ xuống tận Cách Thử. Trời tối, đường còn xa, không dám chở về nhà, anh gửi tạm một nhà đầu xóm. Không ngờ có người mách lẻo, bà Cửu liền tốc thẳng đến tận nơi kêu mụ chủ nhà ra chửi bắt đuổi đi. Về nhà, bà lại lôi anh đang trốn trong bồ đựng lúa ra vừa chửi vừa phết vào mông anh cả chục cán chổi. Nàng nằm trên võng đưa con, biết hết cả nhưng chỉ mỉm cười.
Bà Cửu chẳng ưa gì cái cuộc cách mạng mà anh đang chìa lưng ra đỡ. Khi không nổi trống nổi mõ, khi không kéo nhau đi như giặc dậy ma dương, khi không phá đình phá miễu mà bảo là xây dựng đời sống mới. Đau xót nhất là anh đã đem hết cả bao nhiêu vòng vàng của vợ ra nộp để được khen là gương mẫu. Những hai lượng vàng Kim Thành có đến ba hòn núi chứ ít sao. Cả một gia tài mà đem cho không. Trong khi chẳng cách mạng nào cho đứa con anh được một cái áo chứ nói gì đến nhà cao cửa rộng. Khi nghe Bảo Đại bị xuống ngôi, anh đã định ném cái thẻ bài ngà trên bàn thờ cha ra ngoài bụi tre. Anh rất khó chịu vì đó là tàn tích của phong kiến. Anh không còn cho người ta kêu mẹ anh bằng bà Cửu mà phải kêu bằng bà Hai Bang. Chính vì mới cũ xung khắc nhau mà ít khi hai mẹ con ngồi ăn chung trong một mâm cơm. Anh lại còn rằng rực con mụ vợ vì nó có vẻ như theo mẹ anh. Cái trận đòn mười cán chổi cứ bị nó nhắc lại rồi tủm tỉm cười hoài. Bầu máu nóng cách mạng trong anh cứ sôi sùng sục trước bao nhiêu người, nhưng khi về đến nhà thì lại nguội lạnh vì gặp phải hai người đàn bà. Thật là xấu hổ. Cả nước cùng một lòng chỉ có nhà anh là hai, ba lòng!
Thằng cu Mỹ đã biết gọi ba. Nghe tiếng chuông leng keng nó đã biết chạy ra chờ ba về. Nó rất thích được anh ôm trước ngực chở đi lanh quanh. Nó có vẻ thông minh. Không thông minh sao biết đòi bấm chuông. Anh rất mong nó mau lớn để vào đoàn thiếu niên nhi đồng cứu quốc. Nó sẽ đội mũ ca lô, sẽ hát những bài ca cách mạng. Nó sẽ được anh dạy dỗ để trở thành một công dân mới. Nó sẽ không lạc hậu như bà nội thấy cách mạng làm được cái gì cũng chê. Nếu không có cách mạng thì anh cũng chỉ biết theo nghiệp cha mà cầm cái dùi đục vậy thôi, có đâu được vẻ vang như bây giờ.

5
Đã đến tuổi thằng bé đi học. Dĩ nhiên đó là một ngày trọng đại. Dù cha nó không tin thánh thần, nhưng bà Cửu nhất định phải cúng khai tâm.” Không cúng thì cái đầu mi có đựng được mấy chữ mà đỗ Yếu lược”, bà nói. Một ông đồ xưa mà tay run đến nỗi cầm đũa vẫn rơi, nói gì đến cầm bút lông, được mời đến. Dù gì ông cũng đã từng biết chữ thánh hiền. Chỉ có dạy chữ nho mới đáng được bà cung kính gọi bằng thầy, còn những người dạy bình dân học vụ thì bà hứ nghe cái cốc không thèm nói tới. Mâm cỗ gồm một con gà trống, một đĩa xôi, một cây bút và quyển vở. Thằng bé được húi carê nhẵn bóng. Thầy khấn lầm rầm xong bắt nó lạy hai lạy. Nó chưa biết lạy, suýt chút nữa làm đổ cả ly rượu. Lạy xong, nó cầm bút vẽ ngoằn ngoèo trên giấy. Sau đó, nó được ăn nguyên một cái đầu gà, mà là phải ăn hai con mắt để cho nó “sáng”.
Hôm sau tới trường. Bà và mẹ đã thức dậy từ sáng sớm. Vì sợ bị zêrô nên bà không cho nó ăn trứng gà mà ăn cháo nếp với mật ong. Nó được mặc áo sơ mi bằng đũi, chân mang giày, lưng đeo cặp của cha nó để lại từ xưa. Trông nó ra dáng một cậu công tử.Bà cửu dặn vói theo: “học giỏi, trưa về bà cho bánh”. Mẹ nó dẫn con đi như chị dẫn em. Hai mẹ con líu ríu chuyện trò. Nhiều người trong làng hỏi: “ủa, dẫn ai đó?” Nàng tươi cười, hảnh diện nói:”con em đấy chứ ai”. “Dẩy na, mới đó mà đã đi học rồi”.
Nàng vừa đúng hai mươi tuổi, gái một con, đẹp đến nỗi cả trường ai cũng muốn nhìn. Lúc gặp hiệu trưởng, nàng bỗng mắc cỡ, lúng túng không biết thưa gửi làm sao. Thầy nói: “con đồng chí Bang hả, dễ thương quá, chắc học giỏi lắm đây”. Thầy vui vẻ dẫn nó vào lớp vỡ lòng. Đến lúc ra về, nàng lại nhớ hồi còn bé, vòng tay cúi đầu khiến ai cũng bật cười.
Thằng bé học ê a nghe rất vui. Nó học rất mau, viết chữ đẹp. Không như nàng và các chị phụ nữ đi học bình dân. Học mãi cả tháng mà đánh vần không xong. Đọc không được thì tụi du kích chăng dây dừa không cho vào chợ. Đó là chưa kể lúc đọc được rồi nó vẫn bảo là chưa. Nó lại bày đặt để dấu lung tung. Nhiều đứa còn viết những chữ tục tĩu làm cho ai cũng mắc cỡ đỏ mặt. Khi tập viết thì chị nào cũng như nằm bẹp trên bàn. Mấy ngón tay cắm lúa xuống ruộng thoăn thoắt nhưng uốn cho cong một chữ U hay chữ O sao mà khó quá.
Nghỉ hè, nàng xin phép mẹ chồng đem con về thăm ông ngoại. Hai mẹ con đi đường tắt cho gần. Chỉ vòng qua khỏi núi Đất, qua Mương Đôi là đã tới chợ Rượu, quê cha.
Ông ngoại đón cháu với chòm râu bạc dài tới ngực. Những giọt nước mắt hiếm hoi của ông lăn tăn trên râu như những hạt sương. Cậu và mợ đã mấy lần sang thăm cháu nhưng không ngờ nó lớn mau và đẹp quá. Hai thằng anh con cậu liền lấy cần câu dẫn nó đi câu cá. Nàng bày ra trứng và cà chua tặng cha để ông ăn cho bổ. Ông cứ ngồi nhìn mãi nàng, không ngờ đứa con út bé bỏng tội nghiệp, mới đó mà nay đã thành một thiếu phụ đẹp. Chị dâu vội cắp rổ đi ra chợ Rượu. Nàng muốn đi theo nhưng cha bảo “mấy khi con về, ở nhà chơi với cha”. Lần đầu tiên nàng nghe mấy tiếng “chơi với cha” sao mà dịu ngọt quá. Nàng rưng rưng muốn khóc.
Chợ đã tan. Chị Thừa chỉ mua được một con cá tràu nhỏ của một bà già. Nhưng ngoài vườn có chuối mốc, măng tre và rau răm nên bát cá ám rất thơm và ngon. Cả nhà ai cũng muốn nhường cho nàng và thằng bé. Cha hỏi chị Thừa, “làm mang kỹ chưa, coi chừng còn lưỡi câu trong đó. Mắc lưỡi câu là chết chứ không có chưn rái nào mà cào ra được”. Chị Thừa nói, “dạ con làm kỹ rồi, cá tuy nhỏ nhưng có trứng, thằng Mỹ không được ăn đó nghe. Dượng Hai bên ấy chắc ăn trứng cá nên mặt nhiều mụn, may mà không bị cô Thãi chê”. Cả nhà ai cũng cười.
Đêm hôm đó thằng bé ngủ với ông ngoại. Nằm bên này nàng nghe nó ngậm đường phèn lộp cộp. Cái buồng của mẹ mấy năm không có ai nằm, ẩm mốc và lạnh lẽo, nhưng nàng cảm thấy rất thích. Nàng nhớ lại những đêm mưa, những lần có kinh nguyệt, những giấc mơ nho nhỏ, những tiếng ngáy của cha và cả tiếng con mèo đực tội nghiệp của nàng. Đã năm năm qua rồi vậy mà nàng tưởng như mới hôm qua. Những trăn trở, hoảng hốt lo sợ trước khi lấy chồng. Chưa khi nào nàng thấy mình hẩm hiu và đơn độc như lúc ấy. Nghĩ lại nàng thấy giật mình. Không hiểu sao mà nàng vượt qua được.
Năm hôm sau nàng khóc xin cha về. Thằng bé nghe về lại nhảy tưng tưng rất thích. Nó nghĩ tới những bông và trái dúi dẻ thơm vàng, những chùm chim chim đỏ như xâu chuỗi. Cả nhà đưa hai mẹ con ra bến chợ Rượu. Nàng cõng con qua sông, nước mắt nhỏ xuống sông long lanh. Nàng đâu ngờ đây là lần gặp cha cuối cùng. Năm tháng sau ông mất. Nàng thì không dễ gì quên cha, nhưng thằng bé sau này chỉ nhớ chòm râu bạc và những miếng đường phèn.

6
Khi thằng bé lên tám tuổi, bỗng dưng cha nó đổi tên trong khai sinh. Không còn Bùi văn Mỹ nữa mà là Bùi văn Liên Xô. Bà nội và mẹ đều chưng hửng. Nhưng ông bây giờ đã là cán bộ huyện, nói:”cả nước đang đả đảo can thiệp Mỹ, đặt tên như thế để người ta chửi vào mặt nó à. Lẽ ra đặt Sít ta lin nhưng không ai cho lấy tên lãnh tụ đặt tên con. Liên xô là thành trì của cách mạng thế giới. Liên xô sẽ đánh đế quốc Mỹ để giải phóng giai cấp vô sản!” Bà mẹ hứ nghe còn to hơn pháo nổ. Bà nói: “Tau thì cứ gọi nó là Mỹ, nỏ thèm gọi Liên Xô mô. Tên của nó đã được ghi trong “phái” đeo trước ngực rồi. Tau cứ Mỹ là Mỹ, ai dám chửi tau!”
Nhưng trừ bà và mẹ nó, đúng là cả nước đang chửi Mỹ. Thằng bé mấy lần khóc với mẹ: “cha đặt tên kỳ quá, con bị bạn chọc hoài”. Mẹ bảo, ông ngoại nói Mỹ là đẹp chứ không phải Mỹ là đế quốc. Nhưng hơi đâu mà giải thích với đám học trò. Ngay cả thầy giáo cũng ngại khen nó giỏi, khác gì khen Mỹ giỏi, nên điểm chưa khi nào lên đến bảy chứ nói gì đến mười! Ngược lại, từ khi thay tên bỗng dưng nó tiến bộ nhanh như gió, lúc nào cũng chín cũng mười. Nó nhiều lần được khen dưới cờ, cái tên dài thòng Bùi văn Liên Xô được thầy cô đọc lên một cách trịnh trọng, âu yếm. Thằng bé rất thích, nó bắt đầu cảm thấy yêu cha hơn yêu mẹ. Con chó mực già rụng lông, bắt chước cha, thằng bé kêu là chó mỹ. Hai cha con bây giờ cùng một lòng, ông Bùi văn Bang rất hả hê!
Mấy tháng sau Sít ta lin chết, ông hú hồn.
Chiến tranh đang đến hồi khốc liệt. Đã thấy nhiều người cụt tay, cụt chân. Nhiều nhà bị đốt, đập nước bị phá. Máy bay gầm rú suốt ngày đêm. Pháp đổ bộ lên Quy Nhơn, nhảy dù xuống Sa Huỳnh. Nhưng khắp các mặt trận ta đều thắng. Điện Biên Phủ bị vây. Mấy mươi ngàn tên giặc đang khóc la xin đầu hàng.
Ông Bùi văn Bang được gọi ra Bồng Sơn học lớp chính trị đặc biệt để chuẩn bị Cải cách ruộng đất. Thằng Bùi văn Liên Xô được vào đội thiếu niên tiền phong, cũng bỏ mẹ và bà nội đi tập nhảy xôn đố mì
Nhà vắng. Vườn chuối đã già cỗi rũ xuống. Trong đêm, những tàu lá phất phơ như những cánh tay khiến nàng nhớ tới một đêm kinh hoàng.
Đó là một buổi tối mùa hạ. Trời nóng đến chảy mỡ. Dỗ con ngủ xong, nàng đi ra giếng tắm. Như thường lệ, nàng mặc nguyên quần áo, xách nước từ giếng lên xối qua mình. Mặc dù trời tối nhưng nàng vẫn đứng nép vào bụi chuối. Nàng đang kỳ cọ, bất ngờ có hai cánh tay cứng như thép từ sau vòng ra ôm lấy nàng. Rồi cả một tấm thân to như cái phản áp sát vào lưng. Hai chân hắn cũng quắp chặt chân nàng. Một cái cằm râu lởm chởm cạ vào cổ vào má. Một tay hắn giựt đứt lưng quần. Nàng xấu hổ không dám la lên, chỉ cố vùng vẫy trong tuyệt vọng. Bỗng nàng nhớ tới mẹ chồng, bà đã từng dạy nàng cách dùng cây nhím cài tóc. Nàng liền rút nó ra, nghiến chặt răng đâm thật mạnh vào đùi hắn. Nàng đâm với tất cả sức mạnh và nỗi căm hờn. Hắn rú lên một tiếng như bị đâm vào tim, liền buông nàng ra.
Từ đó không bao giờ nàng ra giếng tắm nữa.
Và, những đêm vắng chồng, nàng cầm đèn run run đi soi khắp nhà. Mẹ bảo phải soi cả gậm giường, lấy chổi mà quơ vì trộm thường đu mình lên nép sát vào vạt giường, qua loa là chết với nó. Nhưng nhà đâu còn gì mà sợ trộm. Nàng sợ những thứ khác kia, sợ những thằng phải gió. Lúc này, ăn uống kham khổ, lại phải đi cấy, đi gặt, nên trông nàng khô đét, già háp. Nhưng với nhiều người, nàng vẫn còn đẹp. Các đồng chí vẫn thường đến hỏi thăm đồng chí Bang. Ai cũng lề mề, dây dưa, con cà con kê ngồi mãi không chịu về. Lấy cớ thằng Liên Xô học giỏi, kẻ cho cây bút máy Caolô, người cho cuốn vở giấy trắng trong vùng bị chiếm…Các bà vợ thấy thế tụm nhau lại nói xấu đủ điều. Ngày mới về làm dâu, bao nhiêu người đổ ra xem đều khen nàng đẹp, dễ thương. Giờ đây nàng là cái gai trong mắt họ, là con hồ ly tinh, mắt liếc mày la rủ rê chồng con họ. Đi tới đâu nàng cũng bị nguýt háy xa lánh.
Đêm nay, trời mưa rả rích. Đồng chí Thanh mang áo tơi đi vào nhà. Con chó già mỏi mệt cũng không thèm sủa. Đồng chí đập nhẹ cửa hỏi đồng chí Bang đi học đã về chưa. Nàng đứng bên trong nói chưa, nhưng đồng chí Thanh vẫn chưa chịu về. Đồng chí nói, “mưa lạnh quá, cho vào nhà uống miếng nước”. Đồng chí cứ năn nỉ mãi, cực chẳng đã nàng mở cửa. Đồng chí Thanh liền ôm lấy nàng, giả bộ run nói “lạnh quá”. Nàng đẩy ra, gắt: “ông làm cái trò gì thế? Tôi la lên bây giờ”. “Có gì đâu, đồng chí nói, lạnh quá mà”. Bất ngờ hai người đàn bà ập vô, một người nắm áo đồng chí Thanh, một người nắm tóc nàng cùng la lớn: “sao mày dám lấy chồng tao?”.
Bà Cửu thức dậy. Khi rõ mọi chuyện bà bảo:”đêm hôm mà đàn ông tới nhà đàn bà là có ý dâm. Ngày xưa thế nào cũng bị quan căng nọc ra đánh đòn. Hai con mụ kia, khép cái mỏ lại mà về ngủ. Còn nếu muốn trị tội thì cứ đè cái thằng cán bộ kia ra mà cắn mà xé, cớ sao lại dám vào làm ầm ĩ nhà tau”? Vừa nói bà vừa cầm lấy cây chổi dựng bên cạnh quơ lên trước mặt vợ và con gái của đồng chí Thanh khiến hai người vội lôi chồng và cha ra khỏi nhà.
Bọn họ đi rồi, bà ngồi thịch xuống giường. Giận con dâu thì it mà giận con trai thì nhiều. Cứ đi theo đảng mãi như thế này có ngày bị người ta lấy mất vợ như chơi. Suốt ngày nghe nó nói leo lẻo: bảo vệ đảng như bảo vệ hai con ngươi của mắt mình. Đảng là cái thằng cha, con mẹ nào mà gìn giữ hơn cả vợ con. Vợ bị làm nhục không lo lại đi lo nước nhục dân nhục. Khéo lo ba cái chuyện bao đồng. Chửi đã, như thường lệ bà hứ một tiếng rõ to rồi mới chịu đi nằm.
Nhưng bà cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được. Lúc nhỏ nó là một đứa con ngoan, bảo đâu nghe đó. Giờ bị ma nhập hay sao mà phế bỏ cả nhà cửa vợ con để đi theo mấy cái ông râu xồm. Nghe nó hò hét mà bà thấy tức lộn ruột. Thà nó cầm súng ra mặt trận đi. Đánh nhau với Tây có bị giết thì cũng được cái tiếng chết vì nước vì vua, chứ làm cán bộ thì chỉ có nghe dân chửi hết làng trên xuống xóm dưới mà thôi. Nghĩ mà thương cho con vợ nó. Ngày trước, khi bỏ xứ Huế theo chồng về đây, bà ăn đứt đám đàn bà con gái trong làng. Biết bao con mắt thèm thuồng. Nhưng dẫu có thèm rỏ dãi nỏ có ai dám động đến bà một sợi tóc. Có mà cái dùi đục của ông Cửu nện cho vào đầu. Khi ông mất đi, cũng có nhiều người lảng vảng muốn ghẹo nguyệt thương hoa, nhưng cũng một vừa hai phải chứ có đâu càn ngang phả sét như bây giờ. Rõ đúng là thời loạn. Chỉ khổ cho đàn bà con gái mà thôi!
Nằm ôm con, nàng khóc ướt hết cả vai áo nó. Khóc vì thương mẹ chồng, thương thân mình, khóc vì nhục. Cái nhục của đàn bà không như của đàn ông. Không thể rút súng rút gươm ra mà trả. Nó như một vết chàm trên da thịt không cách gì rửa sạch được.
Sau ba tháng trở về, cùng với những đồng chí khác, đồng chí Bùi văn Bang làm nổ tung xóm làng bằng những cuộc phóng tay phát động quần chúng để tiêu diệt địa chủ. Những đêm học tập, những đêm đấu tố đã xé nát làng quê yên tĩnh cả bao nhiêu đời thành nhiều mảnh. Bần cố nông được đẩy lên ngôi vị ngất ngưởng thay cho phú nông địa chủ bị vùi dập xuống tận bùn. Nhìn thấy cảnh những ông tổng, ông lý bị bắt quỳ giữa sân đình để bao nhiêu người hét hò mắng chửi, bà Cửu không chịu được. Bà cho rằng, ngày xưa, vua còn biết tha tội cho những người ăn năn hối cải, còn biết để họ lấy công chuộc tội, cớ sao bây giờ cách mạng lại hành hạ họ. Từ bao nhiêu năm nay họ đã đóng góp bao nhiêu của bao nhiêu công, đã quyên góp bao nhiêu vàng, ngã hàng chục con heo con bò cho dân quân, bộ đội ăn, lại đóng thuế nông nghiệp nhiều hơn ai hết sao lại đem ra sỉ nhục họ trước đám đông? Họ đáng cha đáng chú sao lại đá lại đạp họ? Đạo lý của con người để ở đâu? Bà rất đau xót, xấu hổ khi thấy con trai của giòng họ Bùi lại đi làm cái việc bất nhân đó, mà lại là kẻ hùng hổ nhất, tàn nhẫn nhất.
Từ đó, sự xung đột giữa mẹ và con trở nên gay gắt đến nỗi bà Cửu nói,” tau coi như không đẻ mi ra. Ai đời mi dám bảo tau là phản động, là cản trở cách mạng”.“Chứ không phải à, người ta ai cũng mẹ cứu quốc, mẹ chiến sĩ, còn bà là mẹ gì? Mẹ mìn thì có! Bà không xứng đáng là mẹ tôi. Đồng chí gào lên. Chính vì bà mà tôi bị phê bình là thiếu năng lực. Người ta nói, không giác ngộ được mẹ và vợ thì giác ngộ được ai. May mà tôi còn có người cha là thợ mộc tức là công nhân nên vẫn còn được đứng trong hàng ngũ tiên phong. Nhưng có một bà mẹ như bà lúc nào cũng chửi cách mạng ra rả, một con vợ ù lỳ như con vợ tôi, cứng cổ cứng đầu không chịu tham gia công tác, nên cũng có ngày tôi sẽ bị đá văng ra ngoài như một con chó ghẻ”. “Thì mi đi đâu cho khuất mắt tau, đừng có mà về cái nhà này nữa”. “Chính bà phải đi ra cái xứ Huế phong kiến của bà chứ không phải tôi”. “Mi câm cái họng thối tha của mi lại, không tau cắn lưỡi chết bây chừ”! Rồi bà bù lu bù loa: “ông ơi là ông ơi, ống chết sớm làm gì để thằng con trời đánh nó chửi tui như thế này”! Bà nằm vật ra giừa nhà, khóc suốt mấy ngày đêm. Năn nỉ dỗ dành bao nhiêu bà cũng không chịu ăn, chỉ có mỗi một việc đòi chết. Thằng bé lại càng làm cho bà bứt đầu bứt tóc kêu gào thảm thiết hơn. Nó nói, “bà không chịu tiến bộ, chỉ làm khổ cha”. Nàng lấy tay bịt miệng con, nhưng nó vùng vằng đứng dậy, đá văng mâm cơm bỏ đi. Nàng thở dài:” Đúng là cha nào con nấy!”
Chiến thắng Điện Biên cũng đem lại thắng lợi trên bàn hội nghị. Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết. Một nửa nước đã được giải phóng. Bao nhiêu cán bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc. Cả hai cha con Bùi văn Bang đều được đi.
Cái tin Bùi văn Liên Xô được tập kết theo cha khiến hai người đàn bà, một già một trẻ không họ hàng gì với nhau, ôm nhau khóc suốt. Còn lờ mờ gì nữa, đi tập kết là mất con mất cháu rồi. Hai năm trở về, ai biết được là hai năm hay hai mươi năm. Mà dẫu cho chỉ hai ngày hay hai tháng cũng đã không thấy yên bụng rồi. Có bao giờ nó xa hai người nửa bước đâu. Giờ đây ai lo cho nó ăn nó mặc. Ai buổi tối đưa nó vào giường ôm ấp cho nó ngủ. Ai thức dậy sớm nấu cháo luộc trứng gà cho nó. Ai hái cho nó cả nón dúi dẻ chim chim. Ai kể chuyện đời xưa cho nó nghe. Ai thức suốt đêm bên cạnh khi nó đau. Ai lo cho nó từng cái mụt ghẻ. Ai gãi lưng cho nó khi nó kêu gãi gãi. Ai ? Buồn như nhà có tang. Nhưng thằng bé thì vui như tết.
Nó hí hửng vì được đưa ra Bồng Sơn, được học tập vui chơi với hàng ngàn trẻ em khác của liên khu 5. Lần đầu tiên được đi camnhông ray nó cảm thấy như được bay lên trời. Khi xe qua hầm nó sung sướng tung mũ lên, cái mũ bay mất. Nhưng không sao, nó sẽ được phát mũ calô đội lệch rất chi là oai vệ. Ngoài những bước nhảy xôn đố mì, nó còn được học nhảy sạp, được xem bao nhiêu là phim của Liên xô và Trung Quốc, được phát huy hiệu có ảnh Bác Hồ. Nó được các”mẹ“các”chị“may cho những cái túi dết, những chiếc khăn mùi soa có thêu chim bồ câu hoà bình. Nó cùng với các bạn như đang ở trên thiên đường. Nó quên mất hẳn bà và mẹ.
Một tháng sau nó về thăm nhà, trông nó khác hẳn. Nó như cao hơn, rắn chắc hơn. Nó đòi mẹ đan cho chiếc áo len và thương làm sao, nó muốn mẹ chụp với nó một tấm hình. Hai mẹ con đi bộ vào tận Đập Đá. Nó đứng cao gần bằng mẹ, một tay chống nạnh, một tay vịn lưng mẹ, trông đĩnh đạc cứ như một cậu con trai đã lớn.
Rồi đến lúc nó theo đoàn xuống Quy Nhơn để lên tàu ra bắc. Bà nội quá già, chỉ một mình nàng đưa tiễn. Lần đầu tiên nàng đi một quãng đường rất xa, những bốn mươi cây số. Con đường trải nhựa đen từ thời Pháp bị đào xới trong kháng chiến trông như một cái xương cá khổng lồ, bị ngắt ra nhiều khúc vì những cây cầu sập và những hố bom chưa lấp lại.
Không có tàu bay, không có súng đạn nên người ta đổ ra đường đi khơi khơi như để hít thở không khí của tự do và hoà bình. Suốt chín năm, giờ mới có được những ngày bình yên. Ai cũng vui, mặc dù người nào cũng hốc hác teo tóp. Nàng tưởng ai cũng như mình, đi tiễn chồng con đi tập kết. Thực ra họ đi gỡ dây thép gai, lượm lon đồ hộp của Pháp để lại. Ngược chiều với nàng là những người hai vai nặng quằng những khoanh dây kẽm, những đứa bé kéo cả chùm lon loảng xoảng trên đường. Đó là những thứ có thể làm ra gạo ra khoai.
Thành phố Quy Nhơn trong những câu chuyện mở đầu bằng “hồi xưa” của cha nàng với những phố lầu, những ngựa xe giờ chỉ là một đống gạch vụn mênh mông. Chỉ còn sót lại cái nhà thờ họ đạo với tháp chuông cao ngất và nhọn hoắc. Hết bị đập phá để tiêu thổ kháng chiến lại bị Pháp san bằng để chống lại du kích, cái thành phố nguy nga trong trí nhớ của cha nàng cũng đã theo ông đi xuống mồ. Nhưng hai mẹ con rất thích vì lần đầu tiên được thấy máy bay của uỷ hội quốc tế. Nó nằm phơi mình dưới ánh nắng, sáng loáng như một con thuyền sơn màu bạc. Không biết nó to và nặng như thế làm sao lại có thể bay lượn trên bầu trời như chim chèo bẻo. Không dùng để bắn giết, trông nó hiền lành như một con trâu đang nằm nhai cỏ.
Tại bến cảng, một con tàu Ba lan to như hòn núi Đất đang há cái mồm rộng để nuốt những khẩu đại bác nòng dài thòng, những xe tăng nặng chình chịch. Sau cùng, nuốt những đứa bé sắp hàng một trong đó có con nàng! Bọn nhỏ tuy hơi sờ sợ, nhưng khi được đưa lên boong, chúng lại thích thú dùng khăn tay đưa ra vẩy. Đáp lại là những giòng nước mắt, những tiếng gọi ’’ con ơi”thống thiết.
Rồi con tàu ngậm cái miệng đen ngòm lại, rúc lên những hồi còi xé ruột. Nó nhả những cuộn khói xám xịt lên trời, lừng lửng tiến ra khơi.
Nàng và bao người mẹ khác đứng chôn chân rất lâu trên bến cảng. Họ nhìn theo con tàu cho đến khi nó trở thành một cái chấm nhỏ rồi tan biến ở đường chân trời.
Đó là chuyến đầu tiên chở những mầm non ưu tú nhất của cách mạng ra bắc. Bùi văn Bang phải ở lại lo thu dấu tài liệu, chôn vũ khí, sắp đặt bố trí ai đi, ai ở, ai đổi vùng ..cả núi công việc. Mãi đến chuyến cuối cùng tức là mười tháng sau, ông mới đi. Dù cho hờn giận đến đâu thì tình mẫu tử và nghĩa vợ chồng vẫn khiến cho ba người ruột thịt của Bùi văn Liên Xô không khỏi ngậm ngùi trước lúc chia ly. Bà Cửu nước mắt lưng tròng nắm chặt tay con và anh ta đã cúi xuống ôm ngang lưng mẹ rất lâu. Vợ anh dặn phải nhớ chăm sóc con. Anh hứa hẹn: “không sao đâu, mười bốn tháng nữa thôi, cha con anh sẽ về”. Lần đầu tiên ông xưng anh với nàng và cũng lần đầu tiên nàng nghe lòng mình tan ra trong nước mắt.

Bùi Văn Liên Xô
1
Chẳng có tổng tuyển cử. Chẳng có thống nhất. Sông Bến Hải như một nhát chém cắt đôi đất nước ra làm hai miền thù địch. Miền Bắc thề đốt cả dãy Trường Sơn để giải phóng. Miền Nam cũng đòi lấp sông Bến Hải để giải phóng. Những cái “giải phóng” ấy đụng nhau nảy lửa ở khắp các mặt trận.
Như cá trong chậu, những người có chồng con đi tập kết bị gọi lên xã, lên huyện cứ như cơm bữa. Người ta hỏi có biết chồng con ở đâu không, đã nhận bao nhiêu lá thư gửi từ Pháp về, nhận những công tác gì, có gặp bọn nằm vùng hay không …Bọn họ tối đến còn phải đi ngủ tập trung, giống như trâu bò sau một ngày đi cày lại vào trong chuồng mà ngủ. Nhưng trâu bò còn được thả rơm cho mà nằm nhai lại suốt đêm. Bọn họ thì cứ bị dựng dậy bất cứ lúc nào. Nhất là những người có chút nhan sắc như nàng. Những cái nhìn như xé toang quần áo nàng ra, những câu nói tục tĩu, những tiếng cười dâm ô của bọn lính gác, của quan chức lớn bé làm cho nàng cảm thấy những năm tháng không có chồng con ở nhà thật là ô nhục.
Dù nàng chưa bị lột truồng ra, nhưng cuộc đời của nàng đã trần truồng như nhộng. Chẳng có một bàn tay đàn ông nào che chắn bảo bọc. Những người khác, mong đợi một ngày được chồng con trả thù rửa nhục, chứ nàng thì chẳng mong đợi gì hết. Nàng sống mà không một chút hy vọng. Sống như một lưu đày ngay chính quê hương mình. Sống như đốt cháy mọi niềm tin. Sống như tự mài mòn đi để trở thành đá cuội trong lòng thác. Nói như mẹ chồng: sống mà như đã chết rồi.
Bà Cửu tuy không phải đi ngủ tập trung, không phải bị gọi lên gọi xuống, nhưng với một đứa con ngỗ ngược, một đứa cháu hót những điều trái tai như sáo khiến bà còn chán nản tuyệt vọng hơn cả nàng. Lấy chồng xa, mấy mươi năm chưa một lần về thăm quê, cha chết rồi mẹ chết cũng chỉ biết khóc sưng mắt mà thôi. Chồng chết, bao nhiêu năm ở vậy nuôi con, những tưởng lớn lên nó đã có thể thay cha đưa mẹ về thăm nhà. Nào ngờ chiến tranh, rồi tập kết và nhất là nó coi bà như kẻ thù giai cấp, thì chắc đến lúc nhắm mắt bà cũng không thể trèo qua đèo Hải Vân mà thắp cho cha mẹ một nén nhang của đứa con bất hiếu.
Đã hơn mười năm, bà đã sống những tháng ngày nhạt nhẽo nhất trong đời. Sống với con dâu thì mặn nồng làm sao được. Cho dù nàng dâu của bà cũng đã làm tròn, có khi là hơn, bổn phận của mình với mẹ chồng, nhưng khác máu tanh lòng, sao bằng đứa con đứa cháu ruột rà. Nhiều đêm bà nghĩ thương cho phần số của cả hai người. Giống như hai cái cây bị róc hết cành nhánh, hai người sống cạnh nhau như hai cay cau bị gió bão làm cho trốc gốc, nằm vật lên nhau cũng chỉ đợi người ta cưa xẻ mà thôi.
Những tưởng bà sẽ phải chết dí ở cái nơi xa xôi này, không ngờ một ngày tháng năm, người em trai út của bà tìm đến thăm. Hôm đó, một người đàn ông trọ trẹ mới tới đầu đình đã làm cho mọi người tin chắc là ông ta đi tìm họ hàng. Những đứa bé nhanh chân đã chạy nhong nhong đến báo tin cho bà. Chúng nó nói, bà Huế ơi, cái ông mô mô tê tê gì kia có phải bà con của bà không? Trống ngực đánh thình thình, bà không tin vào đôi tai đã bắt đầu nằng nặng cho đến khi người em trai lúc bà đi theo chồng mới có 5 tuổi đứng trước mặt bà.
Khỏi phải nói là họ đã ôm nhau khóc một bữa đã đời. Khóc và tranh nhau nói. Những tê, những mô, những răng, những rứa, những hỷ, những tề, những tiếng lâu nay chưa có dịp tuôn ra giờ chảy ào ào như mưa nguồn thác lũ. Bọn trẻ con há hốc mồm ra nhìn cuộc trùng phùng sau hơn 40 năm. Bà cho chúng quà, nào kẹo gầng nào mè mè xững, những thứ lâu nay chúng chưa hề thấy bao giờ.
Bà Cửu cũng cảm thấy mình như được trẻ lại đến mấy chục tuổi. Bà nhớ lại hơn 40 năm trước đã từng bồng ẵm cậu em út, đã từng nựng nịu tưng tiu nó và thầm mong khi lấy chồng cũng sinh một đứa con xinh như thế. Bà hỏi han đủ thứ chuyện và mặc dù cậu lặn lội đường xa, bà vẫn muốn được chuyện trò suốt đêm. Cậu em đã nói cho bà nghe chuyện cha mẹ, chuyện các anh chị thương nhớ bà như thế nào, nhất là trong chín năm không biết bà sống chết ra sao. Khi nghe đình chiến đã muốn vào thăm, nhưng tang cha, tang mẹ, rồi bận lo con cái học hành đi lính đi tráng mãi đến nay mới vào được. Cậu tha thiết muốn được đưa bà về thăm quê.
Về thăm quê, còn gì vui hơn nữa. Mà lại về bằng máy bay thì đúng là dẫu có nằm mơ cũng không thấy!
Ở Huế hai tháng bà nhận ra được một điều: Chiến tranh dù đã xảy ra trên 20 năm nhưng ở tận đâu đâu chứ không ở thành phố. Bảo Đại dù xuống ngôi nhưng kinh thành Huế vẫn nguy nga đường bệ. Vẫn còn đó cửa Ngọ Môn, điện Thái Hoà. Vẫn còn đó cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba. Phố xá ngày càng tấp nập hơn. Những người bán hàng xén ngày trước như bà giờ là chủ những cửa hàng đồ sộ. Họ giàu ngất trong khi bà còm cõi dưới luỹ tre, hết chín năm kháng chiến đấu tố lại đến mười năm tố cộng.
Ở đây đâu có ai đi tập kết, đâu có ai phải đi ngủ tập trung. Giữa thành phố và làng mạc cách xa một trời một vực. Ở đây đèn điện sáng choang, còn ở làng quê đèn dầu leo lét. Ở đây, những người cỡ tuổi bà vấn khăn nhung, đeo chuỗi ngọc đi chùa, cỡ con trai bà mặc áo vét đi giày tây, cỡ con dâu bà áo dài màu tha thướt, cỡ cháu trai bà đi xe đạp sáng choang…Chiến tranh đâu có trùm lên tất cả.
Sao không bỏ nơi thù hằn, nơi ô nhục mà đi tìm nơi ánh sáng, nơi đồng tiền sẽ đẻ ra tiền. Việc gì phải chui rúc trong gian nhà mà cứ tối đến là phải thắp đèn đi soi từng hang hốc, việc gì phải còng lưng gánh từng gánh khoai gánh lúa chỉ để đổi lấy một đôi dép mới mang ba bữa đã đứt quai, một cái áo mới giặt vài nước đã tã ra, việc gì phải run sợ trước những thằng cha con mẹ còn thua bọn khuân vác hay đạp xích lô mà lên giọng này giọng nọ, việc gì phải cúi đầu chịu khổ khi trong tay mình có cả chục lạng vàng.
Đó là tài sản của cha mẹ để lại được anh em chia cho bà. Bọn họ còn đưa bà ra chợ Đông Ba để xem người ta mua bán, nhất là xem hàng vải của đứa cháu dâu. Bọn họ nói nếu không về Huế thì cũng phải bỏ cái xứ Đại Hữu tối tăm, cái xứ mà đêm đêm thường nghe cộng sản đánh trống khua chiêng ở phía bên kia sông, cái xứ mà con dâu bà không trước thì sau cũng bị làm nhục. Với ngần ấy vốn hai mẹ con dư sức mở một cái sạp nhỏ. Nếu buôn may bán đắt thì chẳng mấy chốc sẽ phất lên.
Bà nghe bùi tai quá và với cái nhìn và suy nghĩ còn hơn cả làm cách mạng, bà quyết đinh giao căn nhà họ Bùi cho người cháu họ. Cùng lúc ấy những ấp tân sinh ở gần núi đã bị đốt. Không đắn đo gì nữa, bà và con dâu chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất lặng lẽ đi xuống Quy Nhơn.
2
Đầu tiên hai mẹ con thuê một căn nhà nhỏ ở gần kho xăng ông Tề. Phía sau là đầm Thị Nại, trước mặt là núi đá vôi với những con dê thả rong suốt ngày kêu be be trên những gộp đá. Hàng xóm cũng là những người đã sớm rời bỏ làng quê, những Trung Lý, Trung Định, những An Đông, An Ngãi, An Nhơn. Vẫn chỉ có một mình bà nói trọ trẹ mô tê giữa những âm thanh dẩy na chói tai ngộ nghĩnh. Tuy tiếng nói có đôi chút âm sắc khác nhau, nhưng tim họ như cùng đập một nhịp khi nghe nói tới hai tiếng cộng sản. Chẳng còn ai lạ gì những tiếng đấu tố, địa chủ, khả năng. Chín năm đủ cho họ dù không ruột rà thân thích hay bè bạn, chỉ một cái liếc nhìn cũng hiểu nhau những nỗi niềm lo sợ còn dội mãi trong lòng.
Cô cháu dâu nằn nì: “o vào trong nớ cố mà sang một cái sạp vải dù trong chợ nhỏ cũng được. O và chị Hai nghe nói dễ thương lắm thế nào cũng bán được mà. Cháu sẽ giới thiêu o với các đại lý ở Sàigòn, thấy bán được người ta sẽ cho o gối đầu lo gì mà không đủ vốn”. Mặc dù đã có người bày cho đi buôn, nhưng bà vẫn chưa dám. “Thôi hãy thư thả rồi sẽ liệu, bà nói với cô con dâu, giờ mình bày ra bán bánh canh cua hay bánh bèo kiếm sống qua ngày đã”. Cô con dâu dĩ nhiên là thuận theo ý bà. Nàng tất tả đi mua những thứ vật dụng cần thiết. Bà đi chợ xem cách người ta mua bán cua, học cách chọn cua gạch và tìm người thuận bỏ mối cho bà.
Với sự khéo tay của bà, cộng với sự ngăn nắp sạch sẽ của con dâu, chỉ dăm bữa là cái gánh bánh canh cua của hai mẹ con bà đã được cả xóm cây xăng ông Tề biết tiếng. Người ta khen sợi bánh canh mềm mà lại dai, thịt cua chắc và nhất là gạch cua đỏ như son chen lẫn với hành ngò xanh trông rất bắt mắt. Một bát chỉ hai đồng bằng giá một ổ bánh mì thịt, mà ăn tới đâu ngọt lịm tới đó.
“Cũng chẳng có bí quyết chi mô, bà nói, cái khó là phải lựa cho được cua gạch. Bánh canh cua mà không có cua gạch cũng như một cô gái thiếu phấn son. Đẹp thì có đẹp nhưng chưa chắc đã giữ được ai lâu dài”. Tuy không nói ra, nhưng bà tin sở dĩ đắt hàng, một phần cũng nhờ cô con dâu có con mắt đen ướt khiến bà cũng phải xiêu lòng huống hồ là đàn ông. Ngu chi mà ngu lạ rựa, bà nói, khi nghĩ tới cậu con trai đi theo đảng không biết đói no thế nào trên đất Bắc. Vợ đẹp như rựa mà bỏ đi đành đoạn!
Sống được với gánh bánh canh, hai mẹ con cũng quên luôn cái sạp vải trong dự tính. Thực ra họ có nghĩ tới. Bán vải thì nhàn hơn, chỉ ngồi trong mát khỏi phải kĩu kịt gánh từ xóm nọ sang xóm kia, khỏi phải lặn lội dưới mưa nắng và bà, nhất là, bà khỏi phải thức khuya dậy sớm trong khi tuổi già làm cho lưng cổ lúc nào cũng đau nhức. Nhưng bán vải thì to thuyền lớn sóng, lỡ trộm cướp hay cháy chợ cháy nhà thì tiêu ma cả vốn liếng. Sống cái nhà, thác cái mồ, chi bằng mua một căn nhà, dẫu có bị pháo kích cháy cũng hãy còn lại cái nền đất. Ở thành phố, một tấc đất là tấc vàng., giữ vàng trong mình đâu bằng giữ đất. Thế là một năm sau họ mua được một căn nhà bề ngang bốn thước, bề dài mười hai thước cũng ở trong xóm cây xăng ông Tề.
Vậy là an cư lạc nghiệp.
Và, nàng trở thành cô hàng quà.
Chẳng còn bị ai gọi tới gọi lui, chẳng còn ai lăm le làm nhục. Nàng thấy cuộc đời bỗng dưng trở nên dễ sống, đáng yêu. Và còn đáng yêu, còn đẹp hơn nữa nếu bên cạnh nàng có Bùi văn Mỹ. Nàng chi xiết nhớ con. Mặc dù lúc này nó đã 20 tuổi nhưng trong tâm trí nàng nó hãy còn là một đứa bé. Nàng nhớ xiết bao cái tiếng gọi mẹ ơi, mẹ ơi. Nàng nhớ hai bàn tay bé bé xinh xinh với những ngón đỏ hồng của nó xoè ra nâng niu những bông dúi dẻ, nhớ hàm răng lòi xỉ khi nó cắn những trái chim chim đỏ mọng, nhớ cái đầu hơi méo của nó tựa trên đùi nàng khi hai mẹ con ngồi nghỉ ở tảng đá đen trên núi Đất. Nhớ quá chừng, quá đỗi, mẹ nhớ quá con ơi! Không đêm nào là nàng không khóc khi nghĩ tới nó.
Giờ nó đang ở đâu trên đất Bắc xa xôi? Nó đang đi học hay đi lao động ở các nông trường. Nó ở Liên Xô, Trung Quốc xa tít tắp hay đang lẩn trốn ở núi rừng Trường Sơn đầy ma thiêng nước độc. Làm sao tôi lại để nó đi được nhỉ? Sao tôi không đu lên tàu mà kéo nó xuống, sao tôi cứ lặng lẽ khóc mà không biết đấu tranh cho sự sống còn của chính nó và của tôi?
Đằng đẵng hơn mười năm trời, chồng nàng gần như chưa bao giờ hiện diện trong tâm trí. Có những cặp vợ chồng, nàng thấy, họ mắng chửi nhau thậm tệ, nhưng sau đó dường như người nào cũng thấy mình có ít nhiều lầm lỗi, nên lại thấy người kia tội nghiệp, lại thấy thương, lại làm lành, lại chăm sóc nhau như lúc ban đầu. Nàng thì chưa bị chồng tát cho một bạt tai nào chứ đừng nói tới chuyện nắm tóc cột vào chân giường, xé đốt quần áo. Nhưng mà sao cứ thấy nhạt như nước ốc. .
Nghĩ lại, nàng thấy mình cũng còn may. Có một bà mẹ chồng biết phải biết trái, không hà khắc con dâu là xưa nay rất hiếm. Ngày trước nghe bà nổi tiếng khó tính nàng rất lo sợ, nhưng có ở với nhau nàng thấy bà cũng đâu có khác gì mẹ ruột dù nàng chưa biết mặt mẹ. Cái lần nàng ngủ trong ang lúa, cứ tưởng bà sẽ chì chiết suốt đời, không ngờ bà nói như nói với con gái: dại chi mà dại rựa! Đến bây giờ nàng vẫn thấy mấy tiếng dại chi mà dại rựa nó dịu ngọt làm sao. Một lời nói như vậy, dẫu có chết vẫn còn muốn mang theo xuống mồ cho nó ấm áp.
Hai mươi năm.
Không như ngày trước, chiến tranh không chỉ là bom rơi đạn nổ ở làng quê, mà bây giờ còn là đạn pháo kích vào thành phố,là lựu đạn nổ trong bar, là cầu bị gài mìn, là truyền đơn trong rạp hát, là xe hụ còi inh ỏi, là máy bay trực thăng bay lên bay xuống mệt nhoài để tải thương, là bồng bế gồng gánh, cả người và trâu bò chen chúc nhau vào thành phố. Cái bộ mặt chiến tranh trở nên đểu cáng hết chỗ nói. Thả bom cho nát bét ra rồi hội này hội nọ tới cứu trợ. Đốt làng đuổi dân chạy như chuột rồi dựng lều dựng trại tiếp cư. Đùn đẩy đàn bà trẻ con đi biểu tình chửi mắng để cho lính bắn rồi lu loa lên là tàn ác dã man. Chiến tranh quy ước, chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế… đủ thứ chiến tranh trút xuống như mưa trên đầu những người dân vô tội.
Một sáng nọ có một người đàn bà ăn bánh canh xong lại lẽo đẽo đi theo nàng. Đến một chỗ vắng người, bà ta dúi vào gánh nàng một xấp truyền đơn. Bà bảo bà biết rõ chị là ai và vừa khuyên vừa doạ chị hãy tỏ ra xứng đáng với chồng và con. Nàng sợ đến nỗi không dám đi bán nữa mà gánh chạy tuốt về nhà. Mẹ chồng hỏi “sao về sớm”, nàng bảo “con thấy chóng mặt nhức đầu quá”. Bà bảo,” thôi còn bao nhiêu để lại ăn khỏi nấu cơm. Ngã bệnh thì khổ”. Nàng dạ, rồi vội vàng xuống bếp ném thẳng vào lửa. Mãi đến khi tất cả đã thành tro, nàng vẫn còn run.
Hai hôm sau, cũng người đàn bà đó cố ý bỏ quên một cái xách tay trong một tiệm ăn. Đến trưa thì nó phát nổ.
Thế là người ta bắt đầu chú ý đến những gánh hàng rong, những thúng xôi, những rổ bắp. Những gã đàn ông không ăn quà chỉ đứng xa xa hút thuốc. Là công an chìm, là mật vụ. Những con mắt cú vọ theo đuổi nàng như những con ruồi bay theo nồi bánh canh. Cả trong giấc ngủ nàng cũng mơ thấy những tờ truyền đơn bay chấp chới và những trái lựu đạn nằm lăn lóc.
Nàng sợ tưởng sắp phát điên, đành nói thật với mẹ chồng. Bà cụ thở dài. “Đồ vô hậu, bà nói, thôi để mạ sang cho một sạp bán quần áo cũ. Mạ chỉ còn chút ít để dành lo đau bệnh. Cũng đành dốc hết ra mà làm ăn chớ biết sao! Loạn chi mà loạn rựa tề!”
3
Sạp bán quần áo cũ sang lại ở chợ nhỏ khu Năm. Mỗi bề rộng một thước rưỡi chỉ đủ đặt một cái thùng gỗ cao hơn nửa thước. Có đến nửa thùng là đồ viện trợ gồm những cái váy to như bồ lúa, những chiếc quần kaki rộng thùng thình mà dân tản cư thường chọn mua lấy vải để may cho chồng con. Nó vừa rẻ vừa chắc. Nhiều bà, trời lạnh, cả mấy mẹ con cùng chui vào một cái váy là đủ ấm, khỏi cần phải chăn nệm. Các bác xích lô, bốc vác lại thích quần áo lính ta, trong khi thanh niên, công chức thích vải gabacdin của Mỹ. Ngoài ra còn có giày bố, giày bốt đờ sô… Cửa hàng tầm tầm nhưng cũng đã vét của bà Cửu đến những lạng vàng cuối cùng.
Được ngồi suốt ngày trong mát, được ăn mặc sạch sẽ dễ coi, nên dù không phấn son như mấy cô bán hàng khác, nàng vẫn có một nét đẹp mặn mà. Không ai nghĩ là nàng đã quá ba mươi.Trái lại người ta cứ tưởng là nàng kén chồng hơi kỹ nên tận bây giờ vẫn chưa có ai.
Trong số những người để mắt đến nàng có một anh công chức làm ở toà hành chánh. Anh đã mua của nàng cả chục bộ quần áo treo đầy tủ nhưng không mặc bao giờ. Cứ mỗi lần ghé lại là anh mua một bộ. Anh chỉ chọn lựa, trả tiền rồi đi, không nói với nàng tiếng nào. Chừng như, mối tình của anh tính theo quần áo, đã đến lúc chạm nóc tủ, anh liền mua tặng nàng một chiếc nhẫn.
Nàng ngạc nhiên bảo là nàng có chồng rồi nhưng anh không tin, anh bảo là anh sẽ cưới nàng làm vợ và nàng sẽ chỉ ở nhà lo cơm nước khỏi phải buôn bán chi cho khổ cực. Nàng hơi bối rối, nhưng cái ý nghĩ lấy chồng một lần nữa làm cho nàng cười thầm.
Ừ nhỉ, sao không bỏ quách mà đi lấy chồng khác như nhiều người vợ có chồng tập kết mỏi mòn không chờ đợi được. Có chồng, còn là một cách vứt bỏ cái mũ thân cộng đang đội trên đầu, là xoá sạch quá khứ tối tăm hướng đến một tương lại sáng sủa. Có chồng, được quá đi chớ. Nàng đâu đã già.
Nhưng, dù anh Bùi văn Bang yêu đảng hơn yêu vợ, và Bùi văn Mỹ dù đã được đổi thành Bùi văn Liên Xô cũng vẫn là con nàng, cho nên dẫu có phải đội hàng chục cái mũ thân cộng trên đầu thì nàng cũng không thể nào hất xuống mà đi lấy chồng được.
Chỉ khổ một điều, trong bóng tối người ta vẫn tưởng là nàng chung thuỷ với chồng và trung thành với đảng nên vẫn tìm cách liên lạc để xin được tiếp tế hay mua thuốc tây. Những lần như thế, nàng phải lén lút mua gửi lên núi mà xong việc rồi đến cả tháng vẫn còn sợ. Nếu mật vụ biết được thì chẳng những nàng bị đi tù mà sạp hàng, cơ nghiệp của mẹ chồng cũng bị tịch thu sạch!
Đồng tiền trong chiến tranh như nước chảy vào chỗ trũng. Dân càng chạy loạn nhiều thì túi càng rổng, trong khi những người phố thị túi lại cứ càng ngày càng đầy lên. Nàng tuy chẳng thấm vào đâu so với những nhà buôn lớn, nhưng cứ thêm nhiều làng bị đốt là nàng lại bán thêm được nhiều hàng. Ngoài chuyện đủ ăn đủ mặc, nàng còn dành dụm gửi mẹ chồng mua vàng. Giờ đây, nàng đẹp hơn, tươi tắn hơn, áo hoa quần lụa chứ không phải thô nhám, xấu xí và đã biết lén thoa một chút phấn, bôi một chút son mỗi khi ra chợ. Có người rủ nàng phi dê nhưng nàng lắc đầu không chịu. Ai lại để cái đầu như tổ quạ. Nhưng nàng cũng biết để cho thợ hớt bỏ cái búi tóc và kẹp bằng một cái kẹp đồi mồi. Những người quê cũ gặp lại nàng đã phải kêu lên: chu cha sao bữa nay đẹp dử dẩy?
Mặc dù nàng không chịu nghiến răng cắt đứt quá khứ, nhưng cái tuổi xuân hơ hớ cứ như gọi như mời, hết anh thư ký tỉnh lại đến một anh thượng sĩ.
Đó là một người cũng ngoài ba mươi như nàng. Một người Bắc di cư ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ. Anh không tán tỉnh, không chọc ghẹo nàng. Anh chỉ làm như tình cờ một bữa trưa ghé qua hàng của nàng không mua mà xin đổi một đôi bốt đờ sô vừa chân, bù bao nhiêu cũng được. Sau một hồi xỏ chân thử hết đôi này đến đôi khác, anh chọn được một đôi giày Mỹ mới toanh. Anh hỏi nếu bán thì giá bao nhiêu. Theo lời mẹ chồng dặn, nàng nhìn mặt anh một lúc rồi nói năm trăm. Anh rút bóp đếm tiền trả đủ, không cò kè thêm bớt. Anh lại để đôi giày của mình nói, tôi không cần đến nó nữa, rồi anh đi. Tuy được món lời kha khá, nhưng nàng cũng thấy bình thường, chẳng một chút gì để ý đến anh ngoài cái ý nghĩ là anh ta làm ra bộ bảnh.
Nàng quên mất anh ta cho đến một hôm trời mưa như trút, nước trong chợ dâng lên đến chân sạp. Nàng loay hoay lo dọn dẹp. Đúng lúc ấy anh ta xuất hiện và giúp nàng che chắn cho khỏi dột. Để cảm ơn anh, nàng kéo mấy chồng quần áo vào trong cho anh ngồi ghé lên sạp.
Anh đem kẹo lạc ra mời, nàng lắc đầu. Nàng lờ mờ cảm thấy anh ta cười cái tiếng nẫu, nên nàng chỉ ngồi im nghe anh nói. Không ngờ cũng giống như trời mưa, anh tuôn ra hàng bao nhiêu chuyện. Anh nói tới những miền quê xa xôi của anh, những con đê cao vút, những mái chùa xanh rêu, những cổng làng với cây đa, rồi tới những ngọn tháp Chàm ở Bình Định…
Với một giọng ấm áp, thân tình anh đưa nàng đi từ chùa này đến tháp nọ. Nàng trố mắt ra nhìn anh như một cô bé ngây thơ mười lăm tuổi. Mãi đến khi anh đi rồi nàng vẫn còn ngẩn ngơ vì lần đầu tiên nàng được nghe một người đàn ông ăn nói dịu dàng đến thế. Không như chồng nàng lúc nào cũng dấm dẳng nếu không muốn nói là như dùi đục chấm mắm nêm!
Rồi sau đó, thỉnh thoảng những buổi trưa chợ vắng khách anh lại tới.
Vẫn những câu chuyện thương nhớ quê hương xa xôi, vẫn những nỗi buồn trầm trầm lành lạnh. Dường như tất cả những thứ ấy đang ẩm mốc trong lòng anh cần phải đem ra phơi nắng và nàng chính là thứ nắng mới ấm áp mà anh cần. Lạ lùng làm sao, là chính nàng cũng có những thứ cần đem ra phơi dưới ánh nắng của anh. Không còn sợ anh cười cái tiếng xứ nẫu nữa, nàng cũng nói về con sông chảy qua làng, những cánh đồng lúa chín, những trái chim chim dúi dẻ ở núi Đất, về bộ râu dài và trắng như bông lau của cha, về tiếng goi mẹ ơi nũng nịu của con trai.
Dĩ nhiên nàng không nói về chồng. Nhưng anh nói về vợ anh. Cô ấy đẹp, thích chưng diện, thích phiêu lưu tình ái, nên không chịu bay về cái tổ nghèo nàn không được ấm của anh.
Thế rồi người nọ thấy nhơ nhớ người kia và người kia thấy thinh thích được gặp người nọ.
Một ngày đẹp trời mùa hạ, bỗng nàng bằng lòng chịu để anh đưa đi chơi. Anh đã đưa nàng lên tháp Đôi sờ những viên gạch đỏ thắm dù đã ngàn năm, đưa xuống gành Ráng thăm mộ Hàn Mặc Tử, rồi đi ăn cao lâu ở tiệm người Tàu.
Lần đầu tiên nàng được một người đàn ông gắp bỏ vào chén những con tôm bóc vỏ, những miếng mực trắng bong, rót nước ngọt cho nàng uống.
Lần đầu tiên nàng thấy mình được chìu chuộng cứ như một khách quý.
Suốt một ngày, nàng như một con nhộng được anh ta trói buộc bằng những sợi tơ mềm. Cho nên khi anh nằm xuống bên nàng nhẹ nhàng cởi cúc áo, nàng đã không bỏ chạy trốn vào ang lúa! Nàng cũng không cảm thấy mình bị cưa xẻ ra làm đôi và dường như nàng có kêu lên nhưng không phải là tiếng thét hãi hùng.
K.B.C của anh là…
Số quân của anh là…
Đơn vị của anh là …
Nơi đóng quân của anh: Phú Tài.
Nhiệm vụ của anh: giữ kho đạn.
Anh hứa tháng tới anh sẽ cưới nàng cho dù nàng là vợ của cán bộ đi tập kết. Anh nói, “anh không đủ sức giải phóng miền Bắc. Anh chỉ đủ sức giải phóng em”.
Và họ tạm xa nhau.
Anh về kho đạn, nàng về sạp hàng.
4
Một tháng sau không thấy anh.
Hai tháng sau không thấy anh.
Ba tháng sau cũng không thấy anh.
Nhưng nàng thấy mất kinh đã hai lần!
Một hôm, đang ngồi ăn cơm, mẹ chồng bỗng hỏi, sau khi nhìn sững vào cổ nàng.: “mi có mang rồi hỉ?”
– …ơ mà…!
– Có mang mà không biết à?
– Dạ…con chỉ thấy tắt kinh!
– Rựa là có mang rồi! Ai? Chẳng lẽ thằng Bang mò về?
– Dạ không…!
– Với người khác hả? To gan chưa tề! Thế hắn ở mô?
– Dạ ở Phú Tài.
– Làm chi?
– Dạ lính.
– Rứa là tiêu đời mi rồi. Lính tráng làm sao tin được. Nay chỗ này mai chỗ khác, hắn quất ngựa thì biết tìm mô!
– Ảnh hứa sẽ cưới con.
– Ai cho hắn cưới mà cưới. Nói sướng chưa. Vậy mà mi tin hắn?
– Dạ con lỡ dại!
– Đã ba lăm tuổi đầu mà dại à?
– Dạ, thưa mạ tha tội cho con.
– Tội lệ chi mi. Chỉ có tội con gái già này thôi. Cả tiền oan nghiệp chướng của cả nhà họ Bùi chỉ trút lên đầu tau mà thôi!
Bà buông đũa đứng lên. Ngay cả những lần bị gọi lên quận để tra hỏi về tung tích của chồng con cũng không làm cho nàng sợ như vừa rồi.
Đêm hôm đó nàng khóc ướt cả gối.
Chẳng lẽ anh ta quất ngựa như mạ nói. Nhiều người trong chợ bảo chớ tin những cái miệng người Bắc. Nàng cũng đã phát khùng với những cái miệng như thế. Nhưng với anh, không hiểu sao nàng lại tin. Tin hơn cả cha, hơn cả mẹ (nếu còn mẹ). Anh đâu có nói nhiều, cũng không trao nhẫn. Anh chỉ đón nhận một cách trân trọng những gì nàng đã trao và nói như đinh đóng cột: “coi như chúng mình đã là vợ chồng”.
Không thể chờ đợi được nữa, nàng nghỉ một ngày chợ, đi xe lên Phú Tài. Có phải ra Bắc đâu mà không thể tìm tới.
Người sĩ quan trực sau khi nghe nàng nói là vợ chưa cưới, liền chỉ tay về phía những bức tường ám khói, những miếng tôn vặn vẹo, cháy đen. “Đấy là cái kho đạn vừa mới bị pháo kích, ông ta nói. Chẳng tìm được chút gì của anh ta. Thành thật chia buồn. Phải chi đã cưới nhau thì đơn vị sẽ làm hồ sơ để cô nhận chút ít tiền tử”
Nghe chưa xong, nàng đã ngất xỉu tại chỗ.
Phần số của tôi như thế này sao? Tôi biết mình sinh ra là để chịu đựng, nhưng cũng một vừa hai phải thôi, chứ cay nghiệt như thế này làm sao tôi chịu đựng nổi! Tôi có tội tình gì? Anh có tội tình gì? Chẳng lẽ thương nhau là một cái tội. Hay là tôi ngu dại quá. Phải chi tôi lấy một anh thư ký hành chánh thì tôi đã được yên thân rồi. Còn anh, sao không chọn làm lính văn phòng mà lại đi giữ những thứ giết người để nó làm cho anh tan xác. Ai chết đi cũng có một nấm mồ. Còn với anh như thế, tôi biết tìm đâu mà thắp cho anh một nén nhang.
Trở về nhà, nàng nằm suốt ba ngày không ăn uống. Mẹ chồng cũng hơi lo. Bà vào buồng, ngồi xuống bên cạnh nàng. Bà nói trong tiếng thở dài:” Dại chi mà dại rựa! Hắn trốn mất rồi phải không?” Nàng bỗng ngồi dậy ôm chầm lấy bà khóc nức nở. “Anh ấy chết rồi mạ ơi!” “Ủa, răng mà chết”, bà hỏi dồn. “Dạ bị pháo kích”.” Trời, ạc chi mà ạc rựa” Bà lại kêu lên câu nói quen thuộc. Một lúc sau bà nói “ Thôi đừng khóc nữa. Cũng may còn được giọt máu của hắn, đừng có dại dột mà đi phá. Mạ sẽ giúp cho con sinh nở đàng hoàng.” Rồi bà lại nói tiếp một cách ngậm ngùi:” cũng hay đấy, vậy là mạ sẽ có cháu bồng!”
Năm ấy, trời bỗng mưa suốt hai tháng. Bà Cửu nói, chắc Diêm vương đi lấy gỗ về xây cung điện. Hà bá phải dâng nước lên mới đem đi được. Ngọn núi trước mặt sạt một mảng lớn. Chợ lúc nào cũng ngập. Nàng lội nước mãi, chân trắng bệch, sưng phù lên. Bà Cửu bảo ở nhà nhưng nàng nghĩ sắp đẻ chửa, kiếm được đồng nào hay đồng nấy. Ngồi không mà ăn, dù của núi cũng lở huống hồ là cái sạp đồ cũ bé nhỏ của nàng.
Lúc này, VC áp sát thành phố. Chỗ nào cũng bị gài chất mổ, ném lựu đạn. Liên gia đại biểu lập danh sách đen những gia đình thân cộng. Nhà nàng đứng đầu sổ. Đây có thể là đầu mối giao liên, là cơ sở. Sạp hàng của nàng bị dòm ngó rất kỹ.
Một hôm, trên đường ra chợ, không có một cớ gì hết, nàng vẫn bị bắt đưa về đồn. Một nữ an ninh hỏi nàng:
– Chửa ai đó? Nàng lặng im.
– Câm à? Mụ đập bàn quát.
– Tôi chửa ai thì việc gì đến bà!
– Chồng đi tập kết, không chửa chồng thì chửa ai?
– Không chửa chồng bà là được rồi.
– A, mày dám láo với bà hả. Bà sẽ cho mày tù rục xương.Chồng mày ở đâu, nói mau!
– Tôi không biết!
– Chỉ biết chửa thôi à?
Mụ nguýt nàng một cái rõ dài rồi tống giam. Mãi ngày hôm sau bà Cửu mới tìm được chỗ giam nàng. Như một con gà mái xù lông để che chở đàn con trước diều hâu, bà cũng xù lông ra trước bọn an ninh. Bà lớn tiếng:
– Răng mà nhốt con tui?
– Con gái bà ?
– Con dâu
– Vậy bà là mẹ Việt cộng?
– Thì đã sao!
– Có chứ. Bà phải nói con bà trốn ở đâu. Nếu không cũng bị giam đấy!
– Thì cứ giam tau đi!
Nói thế chứ không ai muốn giam bà.
Buổi chiều bà lại đến. Rất bất ngờ, bà lôi từ trong bụng ra một chai xăng:”Tau tự thiêu như Thích Quảng Đức cho mà coi.” Người ta vội vàng ôm chặt lấy bà. Và cũng vội thả nàng ra. Từ đó, cả xóm cây xăng ông Tề đều gọi bà là bà Huế lựu đạn.
Cuối năm, nàng sinh một đứa bé trai, tính ra thiếu mất một tháng. Nó được ghi trong khai sinh là con tư sinh. Và vì sinh ở Quy Nhơn nên nàng dặt tên nó là Trần văn Quy Nhơn. Nó èo uột khóc ngằn ngặt suốt cả ngày lẫn đêm. Cả nàng và mẹ chồng đều phải khổ vì nó. Mặc dù chẳng phải máu mủ ruột rà, nhưng bà Cửu lại rất thương thằng bé. Bà nói” chẳng đứa mô tội nghiệp như nó. Mới tượng hình trong bụng mẹ mà đã mồ côi cha. Chết chi mà chết oan chết ức. Từ nay lấy ngày kho đạn nổ mà cúng kỵ.”
Thật hiếm có người mẹ chồng nào như bà. Chỉ cần thấy con dâu vác cái bụng chang bang về nhà là đã nổi xung thiên lên rồi. Không tống cổ ra khỏi nhà đã là may. Lại còn cho phép giỗ thằng chồng mới trong nhà, lại xưng bà ngoại với thằng bé. Vậy thì có khác gì là mẹ đẻ. Nàng xúc động nói:”con xin cảm ơn mạ. Không có mạ, con chẳng biết day trở ra làm sao”! Bà nói:”ừ, nghiệp chướng chẳng phải riêng gì tau mà còn cả mi cũng phải chịu. Thôi ráng mà ăn uống giữ gìn. Nghĩ mà thương cho thằng Mỹ, chẳng biết lúc nào nó về! Còn thằng cha nó nữa, dại chi mà dại rựa”!
Nghe nhắc đến hai cha con, nàng ngồi ôm mặt khóc nức nở.
Đúng là khôn ba năm dại một giờ. Dù sao tôi cũng có lỗi với anh. Có khác gì tôi đi ngoại tình. Nhưng anh cũng biết đấy, sống với anh tôi héo hắt biết chừng nào. Chỉ đến khi gặp anh ta, tôi mới biết cuộc đời tôi có thể tươi lên đôi chút. Tôi chẳng ham gì chuyện ân ái, nhưng buổi chiều hôm đó, dưới bóng nắng lưa thưa, tôi thấy mọi sự tự nhiên như nước sông là phải chảy, giọt mưa là phải rơi. Tôi lại càng có lỗi với con tôi. Chính mẹ mới phải xấu hổ vì con, chính mẹ mới bị con mắng té tát vào mặt. Nhưng mà con ơi, suốt bao nhiêu năm không thấy mặt con, lòng mẹ lạnh lẽo quá. Mẹ là đàn bà, mẹ cũng cần có tiếng khóc tiếng cười để sưởi ấm cho mình. Dù cho thế nào thì nó vẫn là em con, vẫn trong bụng mẹ mà chui ra, vẫn cùng bú sữa của mẹ. Vả lại, anh ta đã không còn trên đời này nữa thì nó chính là giọt máu linh thiêng mà tôi phải thờ phụng. Tôi phải nuôi nó thành người. Tôi sẽ không để cho ai cướp đoạt con tôi một lần nữa.
5
Nhờ được chăm chút, nâng niu, thằng bé rồi cũng qua khỏi cái “đốt” khó nuôi. Nó đã biết chạy biết chơi như những đứa trẻ khác. Trong căn nhà nhỏ lúc nào cũng rộn vang tiếng nói tiếng cười. Giữa hai người đàn bà bao nhiêu năm khô mục héo hắt, nó vươn lên như một mầm xanh tươi mới.Tết này nó được ba tuổi. Nó đã có thể nắm áo theo bà đi lễ chùa.
Hàng họ khá đắt, nàng định năm nay sẽ ăn một cái tết to. Sẽ mua một nhành mai để giữa nhà, sẽ đốt pháo, sẽ mua cho con quần áo đẹp, giày trắng và mũ kết đỏ. Tuy chưa dám nói ra nhưng nàng dự tính sẽ thuê xích lô để hai mẹ con lên thăm tháp Đôi. Rồi lớn thêm một chút nữa, nàng sẽ đưa nó đi ăn ở tiệm cao lâu, sẽ đi thăm gành Ráng, nơi mà từ đó như hương hoa của đất trời, nó đã được sinh ra. Nó càng lớn, nàng càng nhớ người cha tội nghiệp của nó, nhớ cái phút giây kỳ lạ như một ánh sao băng bay qua giữa trời.
Dù vẫn không ngớt bị pháo kích, dù cái vòng đai an ninh đã bị thu hẹp lại dần, nhưng dân thành phố vẫn rộn ràng chuẩn bị một cái tết có lẽ là sẽ to hơn mọi năm. Dường như chiến tranh kéo dài lâu quá khiến người ta chai lỳ. Biết đến bao giờ có hoà bình mà chờ. Biết chết nay sống mai đâu mà đợi. Thôi thì sống được ngày nào hãy cứ sống. Vả lại, tết năm nào chẳng có hưu chiến. Hai bên cũng phải nghỉ xả hơi chứ. Thế là rượu cứ chảy tràn, bia cứ việc rót tới, áo quần là lượt cứ đem ra mà mặc, xe cứ chạy như bay…
Pháo đã nổ ran từ hăm ba tháng chạp để đưa ông táo về chầu trời cho nhanh. Pháo lại nổ suốt chiều ba mươi để đón rước ông bà tổ tiên. Rồi pháo lại rền vang hơn lúc nào hết trong đêm giao thừa. Cái phút giờ huyền bí linh thiêng ấy đã mở ra trong lòng mọi người cánh cửa của bình minh. Người ta chúc mừng nhau đã sống thêm được một tuổi, đã tai qua nạn khỏi, đã tránh được hòn tên mũi đạn…Tủi tủi, mừng mừng, những người lính xa nhà thay tiếng pháo bằng tiếng súng. Bắn cho đỡ nhớ người yêu, bắn cho tan nỗi buồn “xuân này con không về thăm mẹ”. Súng to, súng nhỏ đều ngửa nòng lên trời mà bắn.
Nào ai có ngờ, cộng sản cũng muốn ăn một cái tết to bằng…súng đạn! Súng của họ không chỉa lên trời mà chỉa vào những đồn bót “ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng”! Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau, đạn của lính miền Nam xé nát bầu trời, còn đạn của lính miền Bắc xé tan những lồng ngực. Những người lính đang nhớ mẹ, nhớ người yêu, ai ngã xuống thì cứ ngã, ai tỉnh giấc mơ thì cứ đều quay ngang đầu súng mà thi nhau vãi đạn về phía những người anh em lật kèo. Đạn đan nhau còn dày hơn lưới một. Mọi người đều nằm rạp xuống sàn nhà.
Bỗng một tiếng nổ to: kho xăng ông Tề đã bốc cháy.
Bà Cửu và nàng ngồi ôm thằng bé nép sát vào một góc nhà Ánh sáng của ngọn lửa kho xăng soi rõ như ban ngày. Nó nhắm mắt, rúc sâu vào ngực mẹ.
Vậy là hết tết, hết mặc quần áo đẹp, hết đi lên tháp Đôi. Chưa bao giờ nàng thấy buồn như lúc này.

Ba ngày sau phía bên kia rút. Bên nào cũng nói chiến thắng. Chỉ có cửa nhà đổ nát, người chết và bị thương là thất bại hoàn toàn. Mặc dù rất bàng hoàng, lo sợ, nhưng mọi người cũng phải lao vào cuộc sống. Chợ vẫn nhóm và tại đây người ta kháo nhau đủ thứ chuyện mà ai cũng bảo là chính mắt mình trông thấy. Cảnh bắn nhau, cảnh rượt đuổi trên đường phố. Và nhất là những xác VC được đem ra phơi nắng như những chiến công. Có người rủ nàng đi xem. Nàng rùng mình lắc đầu.
Buổi chiều, đang lay hoay dọn dẹp, có một người ngó trước nhìn sau, lén đưa nàng một tấm hình.
Đó là tấm hình đen trắng đã ố vàng. Nàng cũng có một tấm hình như thế, chụp hai mẹ con ở Đập Đá. Nàng muốn hỏi xem ở đâu mà có được. Người ấy nháy mắt ra dấu bảo dọn hàng. Nàng liền tộng tất cả vào thùng, khoá lại rồi đi theo.
Quanh co một hồi ở khu Sáu, hai người đến một căn nhà không số. Cửa hé mở cho nàng vào nhà, người ấy ở lại bên ngoài cảnh giác. Chủ nhà là một cơ sở đưa nàng ra sau. Trong gian buồng tối tăm chật chội, một người bị thương nhuộm đầy máu đang nằm thở thoi thóp. Đó là chủ nhân của tấm hình.
Đây là con tôi, đứa con bé bỏng tội nghiệp đã xa mẹ gần mười lăm năm.
Đây là con tôi, là con của tôi, cho dù nó có là Việt cộng.
Con ơi, sao lại về với mẹ trong tấm thân rách nát như thế này?.
Sao con không đi Liên Xô Trung Quốc như cha con bảo?
Còn cha con sao không bảo bọc che chở, sao để con tết đến không được một chiếc áo mà mặc, trên người chỉ có mỗi một chiếc quần cụt!
Sao con về mà không đi thăm mẹ, sao không để mẹ mua quần áo mới cho con, sao không để mẹ dọn cơm ngon canh nóng cho con, sao không nằm ngủ bên cạnh mẹ một đêm, sao con không mừng tuổi bà nội?
Trời hỡi, tôi biết kêu ai, biết gọi ai! Ai cũng lặng câm, những người chỉ biết đứng sau lưng đàn bà và trẻ con mà hò hét, mà xúi dại như xịt chó vào bụi.
Nàng gục đầu lên ngực con muốn gào khóc thật to. Nàng nghe tiếng thì thào: “mẹ ơi, mẹ đấy hả mẹ?”
Nàng vừa khóc tấm tức, vừa bế con lên. Người ta hỏi:”Làm gì vậy?” “Đi nhà thương”, nàng nói thảng thốt. “Không được đâu. Đem đi là lính bắt ngay”
“Dù có bị bắt, dù có tù đày, tôi cũng phải cứu được con tôi”.
“Đã bảo là không được. Đưa bà tới đây là để cho đồng chí ấy được nhìn mẹ lần cuối, chứ cứu chữa được gì”
“Vậy sao? Không ai cứu được con tôi sao. Thì bom đạn hãy rơi xuống đây cho mẹ con tôi cùng chết”. Nàng không giữ gìn gì nữa, gào to lên.
Người chủ nhà hốt hoảng bịt miệng nàng. “Lộ ra là chết cả đám!”
Trong tay mẹ, Bùi văn Liên Xô bỗng rùng mình như một con gà vừa bị cắt tiết, rồi tắt thở.
Phải khó khăn lắm nàng mới đưa được xác con ra khỏi thành phố. Nhiều chốt kiểm soát được dựng lên để ngăn không cho VC thoát ra ngoài. Người ta nghĩ rằng VC nhiều mưu mẹo có thể chui vào hòm giả người chết để trốn đi. Vì vậy, ngang qua chốt nào cũng bị bắt mở nắp. Người ta lật khăn liệm, sờ nắn, xem đã chết thật chưa.
Xe đến Đập Đá, chủ xe không chịu đi tiếp xuống làng vì sợ mìn. Phải mướn tám người thay nhau khiêng mới đến được chân núi Mồ cu, là nơi thằng bé từng hỏi mẹ sao con chim nhỏ mà mồ lại to thế. Người ta chôn vội chôn vàng để kịp về khi trời tối.
Thôi con hãy nằm lại đây, còn hơn là phơi xác trên rừng Trường Sơn hay làm mồi cho cá mập ở dưới biển. Chim cúc cu sẽ gù cho con nghe, bông dúi dẻ sẽ toả hương cho con ngửi. Ông ngoại sẽ chống gậy đến thăm con, sẽ cho con đường phèn để con nhai lộp cộp. Mai mốt hoà bình, mẹ sẽ xây cho con ngôi mộ to và đẹp. Mẹ sẽ đặt bia đề tên là Bùi văn Mỹ chứ không phải Bùi văn Liên Xô. Giờ con là con của mẹ, không ai rù quến phỉnh gạt con được nữa. Con vẫn trong trắng ngây thơ như ngày nào. Con sẽ gọi mẹ ơi mẹ ơi khi mẹ đến thăm con.
Giữa cây cỏ hoang vu, nấm mồ trông bé xíu như những cái mả chuồn chuồn mà lúc nhỏ hai mẹ con thường chơi trò đám tang. Những sợi khói mong manh, khói của nhang và của trấu tan nhanh trong bóng hoàng hôn.
• Năm ấy là năm Mậu Thân, hãy nhớ lấy!

Trần Văn Qui Nhơn
1
“Nó là đứa nào?”, người đàn ông hỏi.
“Là con tôi”, người đàn bà nói.
“À ra là vậy. Thảo nào thằng Bùi văn Liên Xô chết!”
“Ông đừng nói với tôi cái giọng như vậy”
“Thế thì giọng nào. Con bị thương mà rửng mở với thằng lính ngụy, bảo sao nó không chết”.
“Ông câm cái họng lại. Nó chết là do ông và cái đảng đáng nguyền rủa của ông. Sao ông không đi giải phóng mà bắt nó đi?”
“Tôi cấm bà nói thế. Tôi cũng cấm bà và cái giòng giống Mỹ ngụy kia không được ở trong nhà này nữa”
“Ông không cần phải đuổi. Cái nhà này là của mẹ ông mua mặc dù đã làm giấy cho tôi. Khi thằng Bùi văn Mỹ chết rồi thì tôi và ông chẳng còn là gì với nhau nữa”.
Đó là những lời đối đáp của những người đã xa nhau trên hai mươi năm, giờ gặp lại.
Đó cũng là buổi tối mà cái quạt máy trên trần nhà quay 360 độ, cứ nghiêng qua nghiêng lại như máy bay sắp thả bom, khiến hai mẹ con của một người đàn bà khác cứ nép vào nhau, sợ sợ làm sao ấy!
“Đồ của tụi Mỹ, cái gì cũng như muốn giết người”, người đàn bà thầm thì với chồng.
Hai người rù rì với nhau, ước tính giá trị của những vật dụng đang bày biện trong nhà: cái T.V, cái radô, cái máy hát đĩa, cái tủ lạnh, bộ xa lông trắc cẩm lai…dù đã cũ, vẫn là một tài sản khổng lồ, cứ như trong nhà của bộ trưởng.
Người đàn bà, lặng lẽ xếp áo quần bỏ vào trong túi xách. Đến trước bàn thờ bà lấy khung ảnh của một người đàn bà tóc bạc trắng, bọc giấy báo, buộc dây thun, nói với người đàn ông:
“Đây là ảnh của mẹ ông. Cũng là mẹ tôi. Tôi xin giữ lấy để thờ. Ngoài ra không lấy thứ gì khác”.
Bà bước ra khỏi nhà, dắt con theo.
Đằng sau vọng lại những tiếng nói, tiếng cười của người đàn bà giọng Bắc, vui còn hơn khi nghe miền Nam được giải phóng.

2
Đạn bom trong những ngày tháng tư tăm tối thực ra không tàn phá bằng những bàn tay của con người. Bọn hôi của làm chủ thành phố khi quân miền Nam rút đi trong khi quân miền Bắc chưa kịp tới. Bọn chúng bắn vào các ổ khóa, mở toang các cửa sắt những căn phố mà chủ nhân đã di tản, khuân hết gạo thóc, bột mì, nước ngọt, bia rượu, vải vóc, tủ giường, chăn nệm…Chúng cũng mở toang các sạp hàng ở chợ, vơ vét hết hàng hóa rồi châm lửa đốt chơi.
Cái sạp quần áo cũ của bà cũng giống như xương thịt của người chồng thượng sĩ, không còn lại một chút gì.
Hai mẹ con lầm lũi đi về phía ngoại ô. Nơi đây không có được cái ang lúa như ngày nào. Cũng không có được cái giường ngập trong bóng tối của mẹ. Nhưng có hai cái tháp đứng cạnh nhau gọi là tháp Đôi. Họ chui vào đó, ở chung với dơi, chuột.
Thế cũng xong.
Bà trở lại nghề cũ: bán bánh canh. Nhưng là bánh canh giả cua, vì người bán không mua nổi cua và người mua cũng không đủ tiền mua. Dù vậy, cái gánh hàng rong chỉ bán trong buổi sáng sớm cũng đủ tạm nuôi sống hai mẹ con.
Chiến tranh đã qua đi nhưng những người chiến thắng vẫn chưa thôi đánh những người chiến bại. Hết đánh tư sản mại bản đến đánh những tàn dư của Mỹ ngụy. Lại khám nhà, lại kìn kìn từng đoàn xe chở hàng bị tịch biên. Lại đốt sách, phá những miếu âm hồn trên khắp nẻo đường quốc lộ.
Đánh xong đến xây.
Xây dựng đời sống mới. Từng đoàn thanh niên xung phong (thực ra là bắt buột) đi đào kênh, đắp đập không công. Từng đoàn tù không mặc áo tù đi vào chốn rừng thiêng nước độc, gọi là học tập cải tạo. Và cũng từng ấy đoàn trẻ già trai gái lếch thếch bồng bế nhau lên núi, gọi là xây dựng kinh tế mới.
Trôi đi, trôi giùm cho mau những tháng năm dài không biết sống để làm gì!
Và mười năm trôi mau để cho con bà trở thành một thanh niên.
Giờ là lúc những người chiên thắng cao giọng. Mỹ còn đánh được thì Campuchia và Thái Lan là cái thá gì. Đặng Tiểu Bình bênh đàn em Pôn Pốt thì chơi luôn.
Chiến tranh lại nổ ra.
Con bà tuy không đi thi vẫn trúng tuyển nghĩa vụ quân sự.
Buổi tiễn đưa rộn ràng cờ xí, khẩu hiệu. Một màu đỏ nặng nề đang cố sức thổi bùng ngọn lửa cách mạng mùa thu đã tắt ngúm từ lâu. Hàng chục cái loa phóng thanh đang mở hết công suất để át đi những tiếng gào tiếng khóc. Của mẹ, của cha, của anh, của chị.

3
Thư viết vội của Trần văn Qui Nhơn:
Mẹ ơi, con đang ở trên đất giặc. Trời rất nóng. Chúng con thiếu nước uống. Thiếu cả lương thực. Thiếu cả đạn. Bọn giặc cởi truồng bôi lọ nghẹ, đợi đến đêm bò vào trại, gặp ai có áo quần là cắt cổ. Con sợ lắm. Lén viết mấy dòng gửi mẹ.
Thư được dấu trong một cái tượng con cóc nặn bằng đất sét.
Người đàn bà ngửa cổ nhìn lên đỉnh tháp. Ở đó có một khoảng trống hình vuông. Một chút da trời xanh thẳm.
Trời hỡi, làm sao cứu được con tôi, hỡi Trời!
Tiếng thét của bà vọt thẳng lên như một ngọn lao. Một bầy dơi bay qua, rải phân xuống đỏ như máu.

4
Lời kể của một người sau hai năm làm nghĩa vụ, cụt một tay, trở về:
“Bạn ấy chết thật rồi, thưa bác. Bọn cháu bị bao vây, nhưng chúng rất khôn, không tràn vào trại mà cố tình để ngỏ một đường rút. Chúng cháu trốn ra, bị chúng giết gần hết.”.
“Thế cậu có giữ được chút gì của em nó không?”
“Chỉ có một tấm hình hai đứa chụp chung, cháu xin tặng bác”
Người đàn bà nâng tấm hình trên hai tay. Hình đã cũ, nước thuốc ố mờ. Một tấm hình rất giống với hình của thằng anh đã chết. Hai đứa cùng một kiểu chống nạnh, rất chi là nhà quê. Nhưng đẹp xiết bao, quý xiết bao!
“Tôi xin cắn cỏ cắn rơm cảm ơn cậu”
Năm ấy là năm 1990, hãy nhớ lấy!

5
Lại mười năm sau.
Tháp Đôi đã trở thành di tích lịch sử. Và là điểm tham quan du lịch của thành phố. Những người tá túc vật vạ như bà, tuy thần không đuổi nhưng người đuổi, phải tìm chỗ khác. Trên lưng chừng một ngọn núi đối diện, bên cạnh những người thợ làm nghề đá chẻ, bà dựng một căn lều bằng những thứ nhặt nhạnh được trong các kho đồng nát.
Có hai con đều chết trong hai cuộc chiến tranh, nhưng bà không được cấp nhà “tình nghĩa”. Dĩ nhiên cũng không được phong tặng “bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Bà lại sống trong tăm tối và cô đơn như hơn sáu mươi năm trước đây trong căn buồng của mẹ. Chỉ còn một chút an ủi, là từ đây, sáng trưa chiều tối, ngay cả những đêm không trăng, lúc nào bà cũng nhìn thấy hai ngọn tháp đứng cạnh nhau như hai anh em.
Bà nghĩ, chúng là con của bà. Chúng đỏ rực một màu khi nắng lên và vàng óng khi chiều xuống. Chúng đẹp xiết bao, rực rỡ xiết bao, cho dù một ngàn năm nữa sẽ trôi qua.

Khuất Đẩu
Viết lần 1, 2008
Viết lần 2, 2013

chiều hát dáng tiểu thư

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

em ngồi níu nắng xuống
mà anh ngã lăn kềnh
xin em đừng mắt liếc
đời anh lại chênh vênh

chỗ em xanh rợp bóng
che mát một bên người
khổ thân anh lén lút
bỗng chợt hồn tối thui

hai chân em nhớ võng
đong đưa tuổi ô mai
lắc lư anh kiếp trước
theo em đoạn đường dài

em ngồi trong chiều hát
môi cắn tóc thơm hương
anh mơ làm trái táo
vết răng dấu thiên đường

em ngồi mưa chưa xuống
mắt trong và nắng trong
vai em như phiến lụa
đợi chờ gì có… không?

Ngô Yên Thái

ĐÊM VÀ TA

truongdinhphuong

Vét đêm, ta gầy cuộc nhớ
Chiếu, chăn lạnh: nửa góc nằm
Em giờ, như trang cổ tích
Mơ hồ, bóng khói, xa xăm…

Ngoài kia, phố chừng đã ngủ
Chỉ còn lá, gió buồn hiu
Hiên cũ, chìm vào mỏi mệt
Nghe, dòng ký ức lên rêu…

Trương Đình Phượng

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN (TT)

ledachoanghuu

Cò Lân nhắn cho anh ta muốn gặp, gặp cò Lân ngồi ở quán bên bờ sông thoáng mát rất đẹp, cò Lân nâng ly bia:
“Khỏe rồi phải hông, xong xuôi ngon lành hen”.
“Dạ, cũng tàm tạm, chú kêu con có gì hông?’.
Cò Lân cười:
“Từ từ, đâu còn có đó, ăn uống chút đi, kêu vài em phục vụ ngồi chung cho vui hen”.
Anh ta giãy nãy:
“Dạ thôi, con hông cần, chú kêu cho chú”.
Cò Lân vỗ vai anh ta:
“Cái thằng nhà quê một cục, mà kêu ra ngồi cho vui chớ mần ăn gì mà la bài bãi dữ vậy, có bóng hồng cho có không khí”.
Anh ta vẫn một mực:
“Dạ, con thôi, chú cứ kêu cho chú”.
Cò Lân thấy anh ta kiên quyết, đành thôi, kêu hai cô một ngồi cạnh mình một cho ông bạn giới thiệu làm sếp lớn tên Hưởng. Có Lân thủng thẳng:
“Nhà chú em mày xây kiểu đẹp quá chừng, ai cũng khen hết nước”.
Anh ta khiêm tốn:
“Dạ, cũng được được, may có thằng bạn giới thiệu thêm thằng bạn làm kiến trúc sư, chỗ bạn bè thâm tình nó vẽ hết ý”.
Cò Lân vỗ vỗ vai cô em phục vụ:
“Đó, ăn tiền là chỗ đó, như bờ vai em đây thấy hông, ai hổng mê, biết bao thằng chết cũng vì đây mà ra” – Cò Lân cười ha ha, xoa xoa vai em phục vụ, phía bên kia ông bạn cũng vậy, kề môi hun cái chóc vô má cô em bên mình, rồi đưa ngón tay cái lên:
“Cò Lân nói chí phải, chí phải, cái đẹp là số một, phải biết thưởng thức”.
Anh ta giả lả theo:
“Dạ, cái đẹp là phải mê”.
Cò Lân chỉ anh ta:
“Thằng em mày trúng mánh rồi đó nhen”.
Anh ta nhíu mày:
“Dạ, trúng gì chú?”.
“Thì căn nhà mới xây đó, có người mê mệt nên trả giá một trăm hai chục cây, gật đầu là họ chồng tiền tiền, đúng giá là một trăm vậy lời hai chục hông vô mánh là gì – Cò Lân tiếp: Một trăm hai chục cây, dành vài chục cất lại căn nhà còn vài chục đầu tư tiếp, đất cát đang lên, biết chỗ sẽ vô mánh lớn”.
Anh ta suy nghĩ:
“Nhưng mà con đâu có biết mấy vụ này, làm gì biết ở đâu”.
Có Lân nảy người:
“Cái thằng y như vợ thằng Đậu, khờ hết chỗ nói, bộ người ta sanh ra tự nhiên biết hết à, vậy cần gì trường lớp, cần gì học hỏi. Học trường đời cũng là học, học theo chú mày nè, đi theo chú mày nè thì từ từ sẽ biết, chú mày ngày xưa cũng vậy, có mấy lão tiền bối dẫn dắt rồi gặp thêm nhiều bạn bè mần ăn, gặp những sếp lớn, Trời! tối ngày ngồi ở đáy giếng riết có biết gì, có nhìn thấy Thái Sơn đâu, chú Hưởng đây mày biết làm gì hông, ổng làm trùm quy hoạch đó, ở đâu ổng hông biết, ở đâu ỏng hông rành, tao chơi là chơi trực tiếp như vậy mới khá chớ mậy, đúng hông anh Hưởng?”.
Ông Hưởng buông tay đang ôm riết cô em phục vụ, quay qua cười hề hề:
“Ai nói tui hổng nghe chớ anh nói sao trật được – Đưa tay chỉ qua bên kia sông ông nói tiếp: Đó, bên đó đó là tương lai, đã có hướng mở rộng qua bển nhưng chưa ai biết nhiều đâu, đất bên đó còn rẻ òm, đất như chổ nhà thằng này hồi trước, đất ao hồ với đất ruộng hông thôi”.
Cò Lân gục gật:
“Có dự án rồi hả anh?”.
Ông Hưởng gật đầu:
“Đang làm quy hoạch, đầu tư ngay bây giờ là vừa, nửa năm nữa thôi nó lên vùn vụt cho mà coi”.
Cò Lân quay qua hun cô phục vụ cái chóc:
“Hà hà hà, hun cái lấy hên coi, mai tui qua bển tui coi, tui mua đứt vài miếng – Quay qua anh ta, cò Lân nói: Tao biết chú mày còn sợ, cứ về suy nghĩ vài bữa, mày làm vài vố bằng cả đời mày đi cày, nhịp giò mà ăn, mà nói thiệt đi theo tao tao chỉ cho rồi tự làm ăn riêng, tự đầu tư chẳng có hùn hạp sinh mích lòng, chủ yếu đông đông cho có tụ nó vui, tao làm ăn uy tín chẳng lừa gạt ai”.
Anh ta gật đầu:
“Chú cho con vài bữa”.

***

Về nhà tiếp tục gát tay lên trán suy nghĩ, gát tay là cố tật không bỏ được. Lời vang vọng của cò Lân cũng không sai, chỉ có vụ lén phéng với em út, chơi bời, chuyện này thì anh ta chống chọi được. Anh ta áp vài tiêu chí phủ lên tên lý trí, dằng lòng tham lam, không vượt ranh giới phi pháp. Cuối cùng anh ta theo vậy mà làm, bán căn nhà đẹp, xây tiếp căn nhà mới và sang mấy miếng đất cạnh đất cò Lân và ông Hưởng, dĩ nhiên ông Hưởng đâu có ra mặt, đâu có đứng tên. Không nằm ngoài dự đoán, đất ngày càng lên chớ không giảm, những nơi trước còn như đồng hoang nay vụt biến thành đô thị, giá cả nhảy cóc lên trời. Anh ta cũng gần như một bước lên tới đỉnh.
Trong cuộc đời có những cái dài vô tận, không có giới hạn tận cùng. Ở trên đỉnh này ta lại thấy đỉnh khác. Và thông thường cái gì nó cũng phải tương hợp với nhau, ở dưới đáy xã hội thì anh ta gắn chặc với chiếc xe cừ tràm, lên đỉnh anh ta cũng phải đổi khác, phải vác vợt tenis đi đi về về trên chiếc xe cáu cạnh. Anh ta quen biết rộng hơn, cấp cao hơn. Danh dự cũng cần cao hơn, cần cắt đi cái đuôi là tay cò. Bây giờ phải là nhà môi giới, phải là công ty dịch vụ… Anh ta sai thằng em, đã thu nạp làm mấy đệ tử lâu nay:
“Ê, mai mày chạy lại thằng Báo hỏi cần bao nhiêu giấy tờ gì để lo một thể, bỏ bao nhiêu vô phong bì, làm nhanh cho tao ra cái giấy, sắm sửa máy móc bàn ghế văn phòng gì thì báo tao rồi làm luôn”.
Tay đệ tử dạ:
“Anh đứng làm giám đốc?”.
Anh ta vuốt râu:
“Hay mày thay tao đứng?”.
Tay đệ tử nhún vai:
“Anh nói giỡn hoài” – rồi cười hề hề chạy răm rắp.
Nửa tháng sau một văn phòng khang trang mọc lên. Trên giấy tờ bây giờ là chữ ký rẹt rẹt của anh ta cùng con dấu tròn đỏ chót, công ty TNHH dịch vụ… Ngày khai trương xe hơi đậu hàng hàng, lẳng hoa chúc mừng rợp trời, tiếng trống lân rộng ràng như ngày hội. Khui vài chai champagne nổ bóc bóc, bọt trào và bắn tia vút vút với tiệc đứng nhẹ nhàng, xong là cùng kéo ra nhà hàng, bia tuôn xối xả, tiếp ai còn nhã hứng thì tới tăng ba, quẹo vô chỗ có em út, vui chơi chút đỉnh. Nhóm anh ta đang nhậu nhẹt, ca hát, vài người chăm chú hú hí chợt bà chủ chạy ào lên, líu ríu:
“Mấy anh thông cảm, cho các em nó tạm nghỉ chút, chút thôi thì trở lại liền”.
Có người thắc mắc:
“Có chuyện gì, đang vui mà”.
Bà chủ nho nhỏ tiếp:
“Dạ, mấy anh thông cảm, kề bên nhà hàng giống mình đang bị kiểm tra, hốt mấy đứa, mình thì hông có gì tụi em lo rồi nhưng cũng tránh chút, được báo động tạm lánh, chút xong thì cho mấy em trở ra”.
Cò Lân phẩy tay:
“Tưởng khỉ mẹ gì, cứ chơi tiếp đi để tui lo, đừng làm mấy anh đây mắc hứng, mấy cái thằng bên đó làm ăn bố láo mới bị vậy chớ gì – Cò Lân móc điện thoại nói chuyện một hồi rồi đưa điện thoại cho bà chủ nói tiếp một chập, nói xong bà chủ rối rít:
“Dạ, em cảm ơn mấy anh, hông ngờ mấy anh quen lớn dữ, mấy anh cũng thứ dữ không đây, có gì nhờ mấy anh giúp đỡ thêm. Thôi mấy anh chơi tiếp, chầu này coi như em đãi, mấy đứa nhỏ phục vụ mấy anh tận tình nghe chưa, anh nào có nhã ý kiếm phòng riêng thì liệu mà tiếp đàng hoàng – bà ta cười cợt nhả: mấy anh đại gia đây sẵn lòng lo gì – Ba ta đưa tay xoẹt xoẹt kiểu đếm tiền cười he hé”.
Cò Lân khề khà:
“Để tui giới thiệu mấy mối, anh em lo cho đứng vững như bàn thạch, khỏi sợ kiểm tra kiểm chiết”.
Bà chủ rón rén chào đi ra, cảm ơn không ngớt…
Vài năm sau cơn sốt nhà đất chững lại nhưng với anh ta thì đều đều thăng tiến. Ai hỏi đường mần ăn anh ta gục gật: “Lai rai, lai rai đủ xài”.

***

Chuông điện thoại reng, cô trực bàn nghe máy, có người cần gặp giám đốc, anh ta cầm máy:
“Dạ, alô, tui nghe”.
Đầu dây bên kia:
“Tui đây, Phán đây, Phán lụi nhớ hông, Phán chỗ hay ngồi với cò Lân”.
Anh ta nhanh nhảu:
“Nhớ, nhớ chớ sao hông, lâu quá chưa gặp, anh dạo này khỏe hông?”.
Phán lụi trả lời:
“Khỏe, khỏe ru bà rù nên mới định gầy sòng rủ chú em mày ra chơi rồi sẵng bàn chút chuyện”.
Anh ta nói được, trưa gặp.
Trưa, đệ tử đưa anh ta tới, gặp Phán lụi đã ngồi chờ sẵn, tay bắt mặt mừng, Phán lụi khen:
“Ngày càng phong độ ra hen”.
Anh ta khen lại:
“Anh cũng vậy, làm ăn vẫn đều đều chớ anh”.
Phán lụi đưa ly:
“Cạn trăm trăm nghen, làm ăn cũng đều đều, mà mới có vụ này, dự án hơi lớn phải ba bốn người mới làm nổi nên định kéo chú mày vô, vụ này ngon hết ý, vô là trúng đậm”.
Anh ta cạn ly:
“Chơi thì chơi, bịnh gì cử”.
Phán lụi đập tay xuống bàn:
“Anh mày khoái mày chỗ đó, làm ăn phải vậy, bây giờ nhậu thôi, mai anh dẫn đi coi đất, hông ngon hông làm anh mày”.
Đúng hẹn sáng hôm sau anh ta cùng Phán lụi và mấy người nữa đi coi đất. Rảo một vòng quanh quanh đất muốn mỏi chân. Khu đất độ khoảng hai hecta, có nhiều ngôi nhà nhỏ chủ yếu là nhà lá và nhà cây gỗ lợp tôn, một vài căn nhà xây. Đi dạo đất này nhớ lại giống ngày nào ở quê, những ký ức ùa về nên anh ta có chút thơ thẩn, mọi người đi đã ra hết anh ta còn một mình lững thững, lâu sau mới trở ra tới căn nhà đầu đường đi vào, đang rất vui thì bất ngờ sựng lại, bên cạnh đường có hai người một già một trẻ đứng sát cổng chống tay tựa cây cuốc nhìn anh ta chằm chằm, anh chàng trẻ bặm môi với anh mắt đằng đằng sát khí. Anh ta khó hiểu đem chuyện hỏi, Phán lụi vỗ vai:
“Chuyện nhỏ, hai cha con cứng đầu đó hả rồi cũng phải mềm thôi, mày cứ để anh mày lo”.
Anh ta hỏi lại:
“Có chuyện gì?”.
Ba Sậu làm ăn chung đáp:
“Cả khu này ai cũng đồng ý bán hết rồi, anh mày đưa cái bản quy hoạch treo ra ai cũng ngán hết, chỉ còn hai cha con này thôi”.
Anh ta thắc mắc:
“Họ chưa chịu giá sao, mình nâng cho họ chút chớ có gì, hông mua được chỗ này thì bên trong coi như đâu giá trị, ủa mà nãy anh nói đã nằm trong quy hoạch?”.
Phán lụi cười khẩy:
“Thằng em mày tệ thiệt, chỗ đó mới ăn đậm, quy hoạch mình chạy điều chỉnh mấy hồi, còn chuyện giá cả thì một căn mình nâng gấp đôi cũng được nhưng hổng phải, hai cha con kêu đất hương hỏa, cha ông để lại phải giữ, mà nhà đó gần chục người chia hai phe, phe ăn chơi đòi bán còn phe ông bà già với thằng nhỏ và một hai người nữa thì giữ. Chú mày cứ yên tâm để anh mày lo, đã có cách nắm thóp phe kia”.
Ba Sậu hỏi:
“Mày có cách rồi hả Phán”.
Phán lụi hề hề:
“Đi theo tui về quán nhậu. tui cho thấy, Phán lụi này trăm mưu ngàn kế”.
Cả đám kéo nhau tới quán nhậu. phán lụi móc điện thoại ra bấm:
“Tài đại ca phải hông, Phán lụi nè?”.
Bên kia hỏi lại:
“Dạ, anh Phán có gì hông anh?”.
“Mày ra đây với anh mày chút coi, nhờ chút việc”.
Chừng mười lăm phút sau Tài đại ca tới, Ba Sậu chỉ vào cái ghế:
“Ngồi đi, chạy nhanh dữ đại ca”.
Tài đại ca kéo ghế:
“Mấy anh kêu em lại liền chớ đâu dám trễ, gặp mấy anh em là tiểu ca chớ làm gì còn đại ca”.
Cụng bia lốp cốp, Phán lụi mở lời:
“Tao có vụ này nhờ mày”.
Tài đại ca uống ừng ực, uống bia như nước lã:
“Mấy anh cứ nói, xử được là em xử”.
Phán lụi chậm rãi:
“Mày biết nhà cha Hai Nẫm gần xóm mày đó, có hai thằng con ăn chơi mượn tiền chị tao hông chịu trả…”.
Tài đại ca ngắt lời:
“Đ.m nhà Hai Nẫm đầu đường chớ đâu, đại ca để em, ba mươi giây nó trả hông thiếu một cắc, mấy thằng này bao lăm hơi”.
Phán lụi đưa tay cản lại:
“Hông hông, chưa cần đòi, nghe theo anh mày – Phán lụi móc ra hai cọc tiền dày, đầy qua cho Tài đại ca: Mày giữ một cọc anh em xài, cọc còn lại mày gài người cho hai anh em kia mượn”.
Tài đại ca thấy tiền mắt sáng rỡ:
“Nhiều quá đại ca”.
Phán lụi hất đầu:
“Bi nhiêu đó chưa ăn thua, xong vụ việc tao cho gấp mấy, mày cho nó mượn viết giấy đàng hoàng, chừng tháng sau kêu trả, nó lấy tiền đâu trả, tụi bây cho người xuống nhà quậy banh cho tao”.
Tài đại ca cười lớn:
“Nghề của em, mấy đại ca đừng lo, đ.m. quậy tới luôn hả?”.
Tài Phán gật đầu:
“Má nó quậy tới, có chuyện gì tụi bây tao lãnh, tao dàn xếp”.
Tài đại ca hề hề:
“Em hiểu mấy đại ca mà, em làm hông đẹp hông ăn tiền”.

***

Phán lụi cho kế thâm độc, anh ta đắn đo mấy bữa rồi gặp lại, anh ta nói thiệt tình:
“Anh Phán à, vụ này em thấy ngan ngán sao á”.
Phán lụi phì môi:
“Ngán ngán cái con mẹ gì, làm ăn là phải vậy, phải có kế phải có chước”.
Anh ta nhỏ nhẹ:
“Nhưng chước quỷ quá chẳng có hay”.
Phán lụi cằn nhằn thêm:
“Mày cứ lo nhiều thằng quỷ kế hà rầm, ăn thua đủ đầy đống, có chơi là phải có chịu”.
Anh ta mín môi:
“Hay anh cho em rút”.
Phán lụi trợn mắt:
“Nói chơi mậy, làm ăn gì kỳ cục, hứa phải có uy tín chớ, mày làm như cái chợ muốn vô thì vô muốn ra thì ra, rồi tao ăn nói với anh em sao đây?”.
Anh lý nhí:
“Em đâu có nghĩ làm như vậy”.
Phán lụi ngẫm nghĩ một hồi rồi xuống giọng:
“Tao cũng nói tình thiệt có mày hùn nữa mới đủ, phải chi mày nói sớm tao còn chạy được, giờ tao biết chạy đâu, thôi vầy mày cứ yên chí, mấy cái vụ này coi như mày hông dính tới mày chỉ bỏ tiền, tao lo hết tao chịu hết, dĩ nhiên xong chia thì thằng nào nhiều công sức thằng đó được chia nhiều, mày thấy sao?”.
Anh ta đã lỡ leo lưng cọp, đâu có thể nhảy xuống, cọp quay lại vồ không còn miếng xương, mưu ma chước quỷ trước mắt anh ta đó thôi, chẳng dám nghĩ ngợi thêm nữa anh ta đành miễng cưỡng gật đầu, hứa với mình sẽ một vụ này thôi không dính dáng Phán lụi nữa.
Tài đại ca theo y quỷ kế của Phán lụi cùng với sự tiếp tay của vài người công quyền chẳng bao lâu sau gia đình ông Hai Nẫm buột phải bán căn nhà. Nhưng đó chưa phải là nỗi bi đát, kết cục còn mang một nỗi đau tận cùng. Trong một phút nóng giận, người con út của ông Hai Nẫm, người cương quyết giữ lại mảnh đất hương quả của cha ông để có chỗ mà thờ tự đã ra tay oánh trọng thương một đàn em của Tài đại ca, nhận một bản án tù đè nặng lên người, thêm một bản án lương tâm, nhà tan cửa nát, nồi da xáo thịt, anh em gia đình từ mặt nhau, mỗi người mỗi ngã, cha mẹ già chẳng hưởng được phúc phải oằn lưng ra vào trại giam lo cho người con út. Và sau này những người ăn chơi tiền chia từ bán nhà chưa kịp ráo tay, xe mới chưa chạy tróc xi đã quay ra ở nhà thuê nhà mướn, chúi mũi xuống vũng bùn.
Phán lụi, Ba Sậu và bộ sậu hả hê với món lợi kếch xù. Ngày chia chác anh ta cũng ôm một bọc tiền, một bọc tiền tổ bố lại đè lòng nặng trĩu, duy chỉ có chút an ủi, anh ta đã âm thầm tự bỏ tiền chạy chọt, cái án dành cho con ông Hai Nẫm đã nhẹ đi bảy tám phần.

***

Anh ta trở lại với công việc như trước đây, cố quên phi vụ vừa qua với Phán lụi.
Một đêm yên lành, người rất thư thái anh ta bỗng gặp giấc mơ. Không phải là những cơn ác mộng như đã từng gặp, không phải thấy mình chết không toàn thây, không phải bị neo mình xuống chín tầng địa ngục, không phải bị quỷ dữ hay những đàn ma bu quanh cấu xé, xiết họng không còn thở… Giấc mơ này khi tỉnh giấc anh ta lại run cầm cập, người thất thần mất hồn vía, mồ hôi mồ kê vã ra như tắm bởi nó giống thật. Anh ta thấy mình nằm giữa cơn gió xoáy, gió xoáy cuồn cuộn nhiều vòng rất lâu rồi cuốn lên cao, anh ta bị cuốn theo trong vòng xoáy với bao quanh là những đồng tiền cũng bị cuốn tung theo mù mịt, chới với, lúc anh ta với tay chụp lấy những tờ tiền giữ khư khư, lúc anh ta buông xuôi, người lơ lửng lộn ngược lên xuống, lúc tìm chỗ bấu víu nhưng xung quanh chỉ là những bức tường thành vô hình, lúc anh ta muốn thoát ra khỏi vòng xoáy… Anh ta thức tỉnh giấc mơ vẫn chưa kết thúc, không biết mình ra sao, cơn gió xoáy như thế nào, lồm cồm ngồi dậy pha trà như ông cụ già không ngủ vì tuổi tác bởi anh ta nằm xuống chợp mắt thì ám ảnh giấc mơ lại hiện về, hiện về rõ y như ban đầu và không đoạn kết.
Nhấm từng ngụm trà thì sực nhớ tới những cơn gió và những linh hồn, anh ta đã quên bẵng bấy lâu nay. Anh ta gọi, và cơn gió xoáy xoáy tới, anh ta ôm mặt không dám dòm:
“Giấc mơ là sự thật, ta đang mang linh hồn của ngươi?”.
Cơn gió xoáy trả lời gọn lỏn:
“Phải”.
Anh ta bối rối:
“Ta phải làm gì bây giờ, ta phải sao?”.
Cơn gió lúc lắc như người ta lúc lắc bàn tay:
“Tùy anh mà thôi, ta không biết, ta đang trong cuộc chiến, ta mạnh thì ta thắng, ta yếu ta thua” – Cơn gió cười ha ha xoáy bay mất.
Anh ta sững người nhìn theo cơn gió, không nghĩ được điều gì, khuất cơn gió anh ta lại nhìn trời, hết trời rồi cuối xuống ôm đầu, có phần tuyệt vọng, chán chường.

***

Cả ngày hôm sau anh ta cứ tới lui, lui tới trong văn phòng, ai hỏi gì tự dưng anh ta cũng gắt gỏng thậm chí còn nộ nạt. Một thái độ mà chưa bao giờ nhân viên từng thấy, ai cũng muốn hỏi có chuyện gì, muốn chia sẻ nhưng vừa mở miệng đã bị anh ta chặn họng. Tay đệ tử ruột đi theo anh ta từ ngày đầu mon men lại:
“Dạ, có chuyện gì ghê gớm quá vậy anh?”.
Anh ta quay ngoắc lại:
“Chuyện gì hỏi làm chi… đi… – May vừa lúc đó có chuông điện thoại, cô trực bàn nói có cò Lân gọi. Anh ta sẵn giọng: nói hông có ở đây – suy nghĩ lại anh ta kêu để nghe: có gì hông chú Lân”
Cò Lân nói:
“Có chuyến đi Đà Lạt nghỉ ngơi, đi chơi với anh mày?”.
Anh ta nghe nghỉ ngơi, tránh xa cái xô bồ, cái cơn gió ám ảnh, nhưng hỏi lại:
“Đi đông hông, có đám Phán lụi hông?”.
Cò Lân đáp:
“Hông, đông làm gì mệt, có ba anh em thôi, thêm chú em mày là bốn hông có đám Phán lụi”.
Anh ta như vớt được phao cứu sinh:
“Đi luôn, chừng nào?”.
Cò Lân trả lời:
“Sáng mơi”.
Anh ta gật đầu:
“Rồi, sáng mơi gặp”.

***

Sáng sớm chiếc xe bảy chỗ láng cóng của cò Lân rà trước cửa, bóp kèn mấy tiếng, anh ta với tay lấy cái ba lô vọt ra nhảy lên. Trên xe ngoài cò Lân còn hai người nữa, đưa tay bắt anh ta cười:
“Trời, tưởng ai, chà cũng gần chục năm mới gặp lại hen, sao khỏe hông anh Mẫm, anh Hội?”.
Tay Mẫm mau mắn:
“Khỏe chớ, khỏe mới đi chơi được chớ”.
Anh ta tiếp:
“Giờ hai ông làm gì rồi?”.
Cò Lân ngồi ghế trước quay lại:
“Đù, hai thằng này giờ ngon, thằng Mẫm có bằng bác sĩ đàng hoàng, còn thành đại gia, có hàng chục cái đại lý thuốc tây chú mày chẳng biết gì sao?”.
Tay Mẫm đính chính:
“Bằng dược sĩ chú ơi, người ta kêu Mẫm dược đó”.
Cò Lân nói lại:
“Thì cũng gần như nhau, bác sĩ dược sĩ”.
Anh ta ngỡ ngàng:
“Hay quá vậy cha, nhớ lúc trước tui chỉ chỗ cho ông chạy cái bằng tốt nghiệp mười hai”.
Mẫm dược nhún vai:
“Thì chạy tiếp, có tiền mua tiên cũng được mà, mua xong lại làm ra tiền” – Mẫm dược cười ha ha. Anh ta nói vui:
“Cha bán thuốc mà cha biết đọc tên thuốc hông đó?”.
Cò Lân chen vô:
“Nó đọc được tao chết liền”.
Mẫm dược vỗ đùi cười the thé:
“Đó, chỗ đó đó, tui chẳng biết đọc tên thuốc chớ tay nào không muốn chết liền, muốn sống là phải tìm tới tui mua thuốc à nha, nhiều thuốc chỉ tui mới có à hông giỡn chơi đâu”.
Cò Lân hí hí:
“Thì mày cũng chạy, cũng kiếm mối ăn chia độc quyền”.
Mẫm dược chẳng ngần ngài:
“Thời buổi giờ cái gì hông chạy, à, thằng Hội hè này cũng vậy chớ gì, mẹ nó từ học chuyên tu tại chức khỉ gió gì đó giờ cũng sắp làm luận án tiến sĩ như ai”.
Hội hè nãy giờ ngồi mỉm cười lên tiếng:
“Cha nội, hồi học đại học có học đàng hoàng chớ hông như cha, chỉ khi lên cao học mới tà tà, nhậu nhẹt với mấy ông thầy là chính, còn để làm luận án tiến sĩ cũng chua bỏ mẹ, bộ lót tay ít à”.
Mẫm dược cười khà:
“Kệ mẹ đi, ai nói gì nói, giáo sư tiến sĩ giấy gì cũng được, có cái để lòe để làm ăn là ngon cơm”.
Cò Lân, Hội hè gục gật, anh ta dù buồn buồn cũng gục gật theo.

***

Xế chiều Đà Lạt mộng mơ xuất hiện trước tầm mắt. Xe tới một khách sạn sang trọng, bốn người bước ra dang tay hít mạnh bầu không khí. Anh ta thấy sảng khoái:
“Chà mùa thu Đà Lạt tuyệt vời!”.
Cò Lân lúng liếng:
“Vậy mới rủ chú em mày đi thưởng thức chớ”.
Chừng tiếng sau, tài xế đưa chiếc xe láng cóng vòng một vòng Đà Lạt rồi tấp vô một nhà sang trọng không kém ai.
Năm giờ rưỡi có hai vị khách xuất hiện. Cò Lân cho rót đầy ly rượu vang giới thiệu, chỉ người già hơn:
“Đây là anh Chín Của, ảnh cán bộ gộc, ở tuốt luốt trên á chớ hổng phải sở, phòng đâu à nha”.
Mẫm dược đưa ly cụng:
“Dạ, tụi em hân hạnh được gặp anh”.
Cò Lân chỉ tiếp người trẻ hơn:
“Chú này là chú Khoát, ở Sài Gòn mình luôn, kêu Khoát tham mưu, tham mưu có hạng, kiểu như ở nước ngoài người ta kêu là vận động hành lang”.
Khoát tham mưu đắc chí đưa ly cụng tiếp:
“Nâng ly chúc mừng hội ngộ”.
Khoái tham mưu trịnh trọng:
“Rất mừng được gặp anh em, tụi tui đi dự hội thảo trên Đà Lạt này, còn hai ngày, anh em ở chơi bao lâu?”.
Cò Lân thủng thẳng:
“Chú với anh Chín ở bao lâu tụi này ở bấy lâu, mà nói vậy nè, bữa nay lo hội thảo mệt rồi hông bàn chuyện làm ăn gì nghe, chơi xả cảng vài bữa đi, xong xuôi công việc rồi tính”.
Khoát tham mưu gật đầu:
“Ý anh đúng ý tui, giải trí cái đã”.
Vậy là cả bàn chỉ nói chuyện ăn nhậu và em út. Lúc ngà cò Lân rỉ tai anh ta:
“Mẹ, thằng này đao to búa lớn tỏ vẻ thấy ớn, muốn làm oai với thiên hạ, ở dưới kêu nó là thằng thầy dùi, Khoát dùi chớ mẹ gì”.

***

Hai ngày hôm sau lòng vòng cho hết Đà Lạt và nhậu nhẹt, ngày thứ ba tụ họp với băng Khoát dùi. Có Lân mở màn:
“Có phi vụ làm lớn gì mà mấy anh hú tụi này lên đây?”.
Chín Của trả lời:
“Đà Lạt mùa này mát mẻ, thư thả bàn chuyện làm ăn cho nó nên chuyện, chú Khoát vừa tham mưu cho tụi tui thấy có lý lắm, vụ này nếu thành, mà chắc phải thành chớ là cần rất nhiều vốn liếng, cần tập hợp nguồn vốn đó – Chỉ Khoát dùi, Chín của tiếp: Chú mày trình bày anh em nghe đi”.
Khoát dùi nhè nhẹ:
“Thằng Khoát này mà tham mưu là tính toán rất kỹ lắm, thấy ăn mới chơi, bảo đảm phải thành. Là vầy, các anh thấy hiện nay cả nước biết bao nhiêu cán bộ nhân viên nhà nước, người có công… được cấp nhà cho ở, cho thuê, nhiều lắm đúng hông. Mình chỉ cần tính tới những căn lớn, biệt thự. Nhiều căn ngon lắm ở trung tâm thành phố, ở ngay thị tứ nữa, giá cả đâu có ít, giá trị khỏi phải bàn. Mà giờ đùng cái nhà nước kêu lấy lại thì sao được, loạn lên liền à, người ta ở đâu, bán luôn thì người ta lấy tiền đâu mua, ngay cả theo giá của nhà nước, đa số những người làm lương ba cọc ba đồng, những cán bộ, người có công ngày trước có gì xơ múi, chấm mút được bao nhiêu, nếu cắc ca cắc củm cũng chỉ có dư chút đỉnh…”.
Chín Của chen vô:
“Chú em mày nói đúng như chú đây nghèo xác nghèo xơ”.
Cò Lân cười khà:
“Anh Chín mà nghèo hen, chục căn anh cũng có chớ nói chi một, mà chú Khoát nói tui thấy lại đi về chỗ cũ, tui hiểu chú là muốn những căn nhà đó…”
Chín Của ngắt lời:
“Anh nói quá, tui nghèo thiệt, thôi bỏ qua chuyện này, trở về chuyện tham mưu độc của chú Khoát, nói tiếp đi”.
Khoát dùi tiếp:
“Tham mưu với anh Chín tính là cứ cho hóa giá những nhà đó nhà nước được tiếng, có chế độ chính sách chăm lo chu toàn nhưng phải cho thời hạn ngắn thôi”.
Cò Lân đập tay xuống bàn:
“Hiểu chú rồi, thời gian ngắn là người ta hông đủ chạy vạy, mượn đầu này đầu kia để mà chồng đủ”.
Chín Của gật đầu:
“Hiểu ra rồi hen”.
Mẫm dược xen vô:
“Nhưng người ta vay ngân hàng?”.
Khoát dùi phẩy tay:
“Lấy cái gì thế chấp, nhà nhà nước chớ bộ cha nội”.
Mẫm dược gục gật:
“Ờ hén, rồi bước kế tiếp”.
Khoát dùi tiếp:
“Để tui nói hết đã mấy anh cho ý kiến, giá nhà hóa giá thì chỉ bằng góc giá thị trường, mình đưa ra bằng một nửa luôn nhà nước sẽ có lợi đôi điều, vừa có tiền vừa có tiếng, lợi nhuận mình có được cũng phải hứa chia bao nhiêu cho mấy ông ký duyệt thì sao hông thành được – Nghỉ nhấp ly bia, Khoát dùi búng tay cười hà: Bây giờ mới cần mấy ông nè, mấy ông cứ bỏ tiền ra, tui sẽ cho đội ngũ tới nói chuyện với họ, mình đi với người công quyền chỗ như anh Chín đây thì họ tin chắc. Mình sẽ ứng toàn bộ tiền để họ mua hóa giá nhưng với điều kiện xong phải bán lại cho mình, mình mua cao lên một bậc nữa, chắc chắn họ sẽ đống ý, có một khoản tiền mà lớn chớ đâu nhỏ còn hơn tự dưng mất trắng sao”.
Hội hè vỗ đùi cái bốp:
“Hay, cha này kế như thần, hay quá hay”.
Mẫm dược lẩm nhẩm:
“Tỷ như một căn như vậy hóa giá chừng năm trăm cây, đúng giá nhà nước chỉ chừng hai trăm, nhà nước có thêm ba trăm, mình mua lại tám trăm, người ta nháy mắt có ba trăm là quá ngon dễ hông chịu, sau mình bán lại hông dưới một ngàn, lời hai trăm nhưng lấy số nhiều, nhiều vô kể”.
Khoát dùi đắc chí cười he hé, cả bàn cùng cười theo, cò Lân gục gật:
“Diệu kế, diệu kế”.
Anh ta thắc mắc:
“Nhưng làm sao thay đổi giá, nhà nước có quy định giá cả hết trơn rồi”.
Chín Của ngồi gần vỗ vai anh ta:
“Chú mày còn nai quá, đã có mưu kế lớn, thì sẽ có sách lượt, có hàng hàng chiêu nhỏ đi kèm, thiếu gì cách, sửa cái này chút cái kia chút, thêm thắc cái nọ chút cái ấy chút là xong, mấy cái đó tui lo”.
Hội hè tán đồng:
“Nghề của anh Chín mà, ảnh lo tuốt luột – Hội hè cười hé hé: ấy ấy chút, ấy ấy còn gin ảnh còn có mà ”.
Chín Của được tâng càng khoái chí:
“Vậy đi nghen, mưu này tui khoái, làm êm đẹp bằng trí chẳng đính dáng gì với binh đao máu lửa, anh em cứ chuẩn bị vốn liếng ta oánh một trận, thắng lên luôn thiên đường, vô cạn hết nè, bây giờ chơi tới luôn”.
Cả bàn nâng ly vui như hội.

***
Trở về Sài Gòn ba bốn ngày sau anh ta còn chưa lấy lại nhịp, Sài Gòn nóng bức, tất bật, Đà Lạt thì thời gian chầm chậm trôi, người tĩnh lặng. Anh ta chạy ra bờ sông vừa hóng mát vừa đắm chìm với mưu kế của Khoát dùi. Đang ngồi trầm tư nhìn dòng sông êm đềm chảy thì tay đệ tử chở dì Năm su ào ào chạy tới, dì Năm bu lu bu loa:
“Chú ơi, cứu ổng với, cứu giúp với chú ơi”.
Anh ta thảng thốt”
“Có chuyện gì vậy dì, có chuyện gì dì từ từ nói”.
Dì Nằm mếu máo:
“Ổng bị bắt nhốt rồi, tui cũng chẳng biết chuyện gì nữa, người ta nói ổng lừa đảo”.
Anh ta không thể ngạc nhiên hơn:
“Chú Năm lừa đảo, chú Năm mà lừa đảo hả trời, làm gì có được, mà người ta nói chú lừa của ai”.
Dì Năm lắc đầu:
“Nói lừa tùm lum, lừa cả nhà nước”.
Anh Ta thở dài:
“Chắc người ta lộn hay sao đó dì ơi, không thể có được chuyện này, chú Năm con rành lắm, để con coi sao – Anh ta đứng dậy: Dì cứ yên tâm, để con lo”.
Chạy ngay lên gặp được chú Năm đang ngồi sau song sắt tiền tụy, thiểu não, anh ta nghẹn ngào:
“Con xin lỗi chú, bấy lâu nay cứ chạy theo mần ăn, chẳng ngó ngàng gì tới chú”.
Chú Năm cũng nghẹn ngào:
“Lỗi tại chú mà, cháu đã kêu chú về mà chú đâu có chịu, chú cũng đâu cần tiền gì nhiều, chú chạy xe ôm cho vui với mấy người mối quen kiếm tiền cà phê thuốc lá, hông ngờ một phút yếu lòng, ham damh mà ra nông nổi”.
“Chú bị gạt phải hông?”.
Chú Năm cúi đầu:
“Hổng biết có phải bị ăn bùa mê thuốc lú hông mà vậy, từng này tuổi đầu còn bị, thiệt là ê chề”.
Anh ta an ủi:
“Đừng nói vậy chú, bảy mươi chưa chắc là lành, chuyện là sao chú nói đi để con còn gỡ”.
Chú Năm lý nhí:
“Chú bị mụ mẫn với cái văn phòng đẹp mắt, cái thằng giả Việt kiều, mượn chú giấy tờ để đăng ký nhờ chú đứng làm giám đốc dùm, nó làm ăn gian dối lừa đảo, vay tiền đầu này đầu nọ tứ tung rồi biến mất để lại một đống cho chú, đã vậy chú còn lôi kéo thêm thằng bạn nữa, nó làm phó giám đốc, thiệt là oan khiêng”.
Anh ta hiều ra:
“Đúng là lừa đảo, chú chỉ bị lừa gạt thôi hông sao đâu chú, con sẽ cố lo chú khỏi tù tội, hậu quả con lo phần nào”.
Chú Năm cảm động:
“Chú cảm ơn cháu, cháu là người tốt”.
Chú Năm và ông bạn được thả nhưng cái nghiệt ngã thì chưa hết đeo bám. Một tuần sau bị cú sốc nặng, tiếng đời dèm pha, bạn chú Năm không chịu đựng nổi phải tìm tới cái chết. Anh ta và chú Năm tức tốc lên bện viện nơi lưu xác. Người bệnh viện cứ lấp la lấp lửng lúc khám ngiệm, lúc chưa, lúc chờ… Một người đàn ông chạy xe bảnh tỏn tới gặp, hỏi anh ta và chú Năm:
“Hai ông là người nhà của người tự tử vừa chết?”.
Anh ta và chú Năm gật đầu, anh ta đưa tờ giấy cười tươi:
“Tui là dịch vụ mai táng, tui đưa báo giá hai anh coi tham khảo bảo đảm giá mềm, hàng tốt, đầy đủ dịch vụ…”.
Anh ta lắc đầu:
“Xin anh để yên cho, ở đây đang bối rối lắm, cần lấy xác ra đã rồi tính”.
Người đàn ông sắt mặt lại:
“Tui nói hông nghe, ờ ở đó chờ tới tết công gô đi” – Ông ta rồ ga phóng vèo đi.
Anh ta lắc đầu:
“Vô cảm quá, họ không còn biết nỗi đau là gì”.
Chú Năm quay qua hỏi:
“Thằng chả nói vậy là ý gì hay là cấu kết với nhau, làm khó không cho lấy xác, bây giờ mà còn chưa khám nghiệm thì làm sao mà kịp giờ nhập quan, nhà đã coi ngày giờ rồi, tính sao đây cháu”.
Anh ta vỗ trán:
“Quên lửng, để con gọi cho mấy tay công an”.
Xác được lấy ra. Chú Năm lắc đầu:
“Ác giả ác báo, nó vô tới cả cái chốn này, đã chết oan nghiệt còn không được yên”.