Ngày về không nắng

 

Cơm nước xong, không khí trong nhà đột nhiên căng thẳng khác thường. Mọi người đều thấy bứt rứt, tuy ai ai cũng cố gắng chứng tỏ mình bình tĩnh, hơn thế nữa, thản nhiên, bất cần. Bà mẹ ngồi bệt trên mặt nền đã bóc mất lớp gạch hoa, bỏm bẻm nhai trầu như mọi bữa. Cô em gái rửa chén ở dưới bếp mải suy nghĩ làm vỡ mất cái dĩa sứ độc nhất còn lại. Đứa cháu lẻn ra sân trước chơi không ngủ trưa mà không bị bà nội la rầy. Còn chàng thì dụi hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, cổ khô, uống liên tiếp nhiều ngụm nước trà vẫn không dằn được cơn ho. Mẹ chàng lo lắng hỏi:

– Con không bị đau phổi đấy chứ? Có mỏi ở hai bả vai không?

Chàng vội đáp:

– Không đâu, mẹ yên tâm. Thuốc điếu bây giờ tệ quá. Hút đắng cả cổ.

Mẹ chàng trách móc:

– Biết thế mà còn hút. Mẹ nghe nói toàn là lá đu đủ.

Rồi sợ không còn cơ hội nào để xóa tan nỗi lo canh cánh, mẹ chàng hỏi đột ngột:

– Con đã viết sẵn đơn xin tạm trú chưa?

Chàng liếc nhìn mẹ. Mẹ chàng chăm chú têm tràu, làm như chưa bao giờ đặt câu hỏi, hoặc nếu có, thì cũng hỏi qua loa cho có chuyện vậy thôi, một câu hỏi không đáng quan tâm.

Chàng cố làm ra vẻ ơ hờ, đáp:

– Con đã viết rồi. Gớm, mọi bữa có nóng như hôm nay không hả mẹ? Bữa nay ăn cơm muộn. Chắc hơn một giờ chiều rồi!

Mẹ chàng nói:

– Ờ, khoảng đó.

Hai mẹ con im lặng. Chàng vừa ho vừa hút thuốc. Mẹ chàng nhìn quanh như định tìm cái lon nhổ bã trầu, rồi se sẽ bước ra sân. Chàng đoán thằng bé bỏ ngủ trưa sắp bị bà nội mắng cho một trận. Nhưng chờ mãi chàng không nghe thấy gì. Đứa con chàng mở cửa ngõ chạy đi đâu mất. Một lúc sau, có tiếng thằng bé nói lớn:

– Chưa tới hai giờ, bà nội.

Chàng giật mình hồi hộp. Theo thói quen từ hơn sáu năm về trước, chàng ngước lên nhìn chiếc đồng hồ Odo. Ở chỗ vách vẫn treo chiếc đồng hồ quả lắc có chuông báo giờ chỉ còn dấu vết một khoảng vôi mới hình tròn chập trên hình chữ nhật đứng. Chàng chợt hiểu vì sao con chàng phải chạy đi hỏi giờ hàng xóm. Hơi thuốc lá đắng chát trong cổ chàng. Cơn ho lại kéo đến, lần này dữ dội hơn lúc nãy. Nhưng mẹ chàng không vào trách móc con. Ngược lại, đằng sau bếp, dường như có tiếng trách mắng và tiếng phân bua. Lắng tai chăm chú hơn, chàng nghe em gái đang nói :

– …mẹ dặn nên con bỏ thư bảo đảm. Trong thành phố, nhất định phải tới tay rồi. Thư thường hai ngày. Thư bảo đảm có chậm cũng không thể quá một tuần. Không. Con nhớ rõ địa chỉ. Vả lại…

Em gái chàng phân bua đến đó rồi im. Chàng nghe mẹ chàng thảng thốt hỏi :

– Vả lại thế nào ? Hay mày có viết thêm cái gì trong thư, nó giận không tới ?

Em gái chàng đáp, giọng pha chút bực bội :

– Thì con đã đọc lại thư cho mẹ nghe trước khi ra bưu điện, mẹ không nhớ sao ? Vả1ại… vả lại… hôm qua con gặp chị ấy, con có nhắc…

Chàng đứng bật dậy lúc nào không hay. Có lẽ mẹ chàng cũng kinh ngạc như chàng. Mẹ chàng hỏi vội :

– Mày gặp nó ở đâu?

– Dạ ở trường thằng Vinh.

– Mày gây chuyện với nó phải không ? Nó đến đó làm gì ?

– Lúc con đến đón cháu thì đã thấy chị ấy đến trước rồi. Chị ấy bồng thằng Vinh từ trong sân trường đi ra. Con định đến nạt bảo thằng Vinh bước xuống đi, nhưng… nhưng thấy mắt chị ấy đỏ hoe, con không nói gì. Con chỉ nhắc buổi hẹn chiều nay.

Mẹ chàng hạ thấp giọng rất khó nghe, gần như thì thào :

– Nó… nó đến một mình hay với…với…

Em gái chàng đáp nhỏ :

– Không đi một mình. Cái thằng cô hồn lắm! Người với ngợm! Mặt mày đăm đăm. Chị ấy vừa ghé ngồi lên yên sau nó đã rú ga phóng đi, làm chị ấy suýt té. Thằng Vinh sợ quá kêu Má! Má!.

Chàng không thể chịu đựng thêm nữa. Chàng ngồi xuống ghế, đưa hai tay bịt tai lại. Tiếng lùng bùng âm u cùng với sức ép lên thái dương phần nào lấn át nỗi đau của chàng. Lúc tĩnh tâm trở lại, chàng nếm thấy vị nước mắt mằn mặn ở đầu lưỡi, và thằng Vinh con chàng đang kêu khóc : “Của Má cho Vinh mà! Trả lại đây. Trả lại đây!”.

Em gái chàng quát lớn :

– Từ đây về sau, cấm không được nhận gì của nó nghe chưa! Nó không xứng là má mày nữa! Không được kêu Má.

Con chàng nín khóc. Có lẽ nét mặt cô nó dữ dằn quá, thằng bé đâm sợ hãi. Lạ một điều là mẹ chàng không nói gì để an ủi cháu. Sau bếp hoàn toàn im lặng. Chàng lắng tai chờ. Chờ. Chờ. Chàng giật thót cả người khi có tiếng xe Honda ngừng nổ ngay trước cổng.

***

Đôi mắt mờ yếu sau sáu năm học tập cải tạo, cộng với nắng loá bên ngoài khiến chàng hoang mang không nhận ra ai. Nhíu mày nhìn kỹ hơn, chàng yên1òng, nhờ bám vào hai điều: thứ nhất, khách mới đến không phải đàn bà, và dù khuôn mặt khách có nhoè đi, chàng vẫn ghi nhận được vệt trắng của một hàm răng cười. Chàng nghĩ nhanh : “Nhất định không phải thằng đó rồi! Nó không dám cười với mình”.

Chàng nghe tiếng cười rổn rảng thật đặc biệt, mang máng nhớ giọng cười của một người bạn thân. Cùng lúc đó, khách hỏi lớn :

– Quên cả bạn bè sao cậu ?

Chàng không lầm được nữa. Đúng là Vui bạn chàng. Chàng mừng rỡ hơn cả nỗi mừng được gặp một người bạn cũ. Như vừa thoát khỏi một tai nạn chết người vào phút chót. Vui, bạn chàng cười hô hố, nhắc :

– Thì mở cửa cho người ta vào! Có phải công an khu vực đâu mà sợ!

Chàng rộn rã cả lòng, lật bật mở cánh cửa sắt mãi không được. Khi đứng qua một bên nhường chỗ cho bạn dắt xe vào sân, chàng hớn hở nói :

– Nghe giọng cười của cậu từ xa một cây số đã nhận ra cậu rồi. Nghe tin mình về hồi nào ? Ai cho biết? Cứ để đó, không cần khoá đâu !

Vui vẫn tiếp tục khoá xe bằng cái xích loại lớn, ngửng lên nói :

– Cậu chỉ cần nói một câu đó thôi, công an cũng đủ biết cậu là dân mới nhập cư trái phép. Ở đây lúc nào cũng phải kè kè theo bên mình một cái khoá. Bài học đầu tiên đấy !

Chàng mỉm cưởi không nói gì, quá quen thuộc với lối phóng đại khôi hài của người bạn cũ. Vui khoá xe xong, hỏi liền :

– Bà xã đâu rồi ?

Chàng giật mình, nhìn bạn ngờ vực. Chàng chuẩn bị để thủ thế. Nhưng hình như Vui chỉ hỏi để mà hỏi, nên không chờ chàng trả lời, bước trước một cách tự nhiên vào phòng khách. Gặp mẹ chàng, Vui liến thoắng ngay :

– Chào bác ạ ! Chắc bác không nhớ cháu ! Cháu là Vui, bạn học cùng lớp với Tịnh hồi còn ở Chu văn An. Một lần cháu có đến xin phép bác cho Tịnh đi học thêm toán, thực ra hai đứa hẹn ra nhà thờ Đức Bà ngắm các cô đi lễ. Bác thấy cháu hiền hậu ít nói, bác tin ngay. Bác còn nhớ không ?

Mẹ chàng biết ông khách chỉ muốn tếu cho vui, nên cười dễ dãi, đáp lại :

– Vâng, tôi nhớ.

Chàng vẫn khâm phục đức tính lạc quan và khả năng có thể biến mọi chỗ mình đến thành nơi ấm cúng, thân mật, cởi mở, ngay từ lúc ban đầu ngỡ ngàng của Vui. Ngồi chưa ấm ghế, Vui lại hỏi :

– Bà xã đâu ? Đem trình diện coi. Mày thật tệ. Cưới vợ mà không thèm gửi cho tao lấy tấm cạt báo hỉ. Hồi 74 tao ở Tổng tham mưu, mày hay về Sài gòn họp chẳng lẽ không nghe ai nhắc đến tên tao ?

Một lần nữa, chàng bỏ thế thủ. Lối chuyển sang xưng hô mày tao chứng tỏ vui hỏi thành thực, không có hậu ý. Chàng liếc nhìn mẹ trước khi đáp :

– Bà xã mình vừa đi đâu đó. Chắc ra chợ.

Vui cười lớn, hỏi liền :

– Lại chợ trời chứ gì ? Đúng là cái nghề thời đại. Hay nói theo cách bây giờ, cái nghề mang tính quần chúng. A ha! Đàn bà lăn lóc ở chợ trời, còn đàn ông thì lui cui nội trợ.

Mẹ chàng thấy vui, chen vào hỏi :

– Cậu có phải đi học tập không ?

– Thưa có chứ ạ.

– Về lúc nào ?

– Cháu may mắn hơn Tịnh. Về từ 78.

– Thế từ đó đến nay làm gì ? Có chỗ nào kiếm đủ tiền mua gạo, cậu rủ thằng Tịnh theo với !

Vui đáp liền :

– Thưa cũng có đấy. Chỉ sợ bác không thích thôi !

Mẹ chàng vui mừng hỏi :

– Nghề gì vậy ?

– Nghề chà đồ nhôm, bác ạ.

– Ờ ! Nghe nói hiện nay ngành làm đồ nhôm khá lắm. Cháu làm ở tổ hợp hay xí nghiệp quốc doanh ?

Vui cười lớn :

– Xin lỗi bác,cháu chỉ đùa thôi. “Chà đồ nhôm ” là “chôm đồ nhà ” . Nghề của cháu là mỗi sáng chờ vợ đi làm xong, đi ra đi vô tính lui tính tới xem nên lén vợ lấy thứ đồ đạc nào bán được giá, mau mắn, mà vợ không dễ nhận ra. Phải có tí tiền còm hút thuốc và uống tách cà phê dỏm chứ bác !

Cả nhà cùng cười. Mẹ chàng yên tâm, bỏ đi ra phía sau. Có lẽ bà nhận thấy khỏi cần phải ở lại để giúp chàng đương đầu với những nỗi khó khăn. Chỉ còn hai người trên phòng khách. Vui thôi đùa cợt, nhìn quanh phòng nói :

– Căn phòng này cũng mang tính thời đại. Trống trơn, đúng là chỗ dành cho những khách qua đường. Nơi tạm trú!

Chàng thấy đau nhói ở tim. Chàng trầm ngâm một lúc, rồi hỏi bạn :

– Hồi cậu về, việc xin giấy tờ có rắc rối như bây giờ không ?

– Giấy tờ gì ?

– Chắc vẫn bấy nhiêu giấy. Như đơn xin tạm trú.

– Tạm trú ở đâu? Hồi 78, tụi này có được về Sài gòn đâu!

– Thế cậu về chỗ nào ?

– Đi thẳng khu kinh tế mới.

– Cậu có đi không ?

– Cậu hỏi gì kỳ ! Người ta lũ lượt kéo nhau về nằm đầy trên sân ga, vỉa hè, mình điên hay sao mà lên.

– Cậu dám ở lì ở Sài gòn à ?

– Còn cách nào khác đâu ! Mình tự cấp giấy phép. Thuộc loại thường trú ? Không. Thuộc loại tạm trú ? Không. Mình thuộc loại đặc biệt: Loại tự trú. Bây giờ hình như khá hơn thì phải.

– Hình như thế. Đầu tiên cho tạm trú ba tháng để tìm việc làm ở ngoài thành phố. Phải làm đơn xin, nộp cho “cơ quan quản lý người đi học tập cải tạo về” ở đường Phan Thanh Giản. Đơn phải có chữ ký chấp thuận của chủ hộ. Thật oái oăm! Phải xin tạm trú ngay trong căn nhà của mình !

– Thế ai đứng tên chủ hộ?

Chàng do dự trước khi đáp :

– Vợ mình !

Vui tưởng chàng giả vờ do dự để khôi hài, phá lên cười :

– Vậy là phải xin phép bà xã cho tạm trú. Phái nữ lên chân quá lắm ! Chuyến cậu có ai quen được về cùng không ?

– Tất cả 78 người, ở rải rác từ Huế trở vào. Đến ga Bình Triệu chỉ còn 9 mạng. Toàn lạ cả. Có thằng Sửu không biết cậu có quen không ?

– Sửu nào ?

– Chắc cậu không biết đâu ! Bên hải quân. Chính nó hôm 2 tháng 5 còn lái tầu từ Singapore đem về nộp cho nhà nước. Tiếp đón linh đình lắm, sau đó…

Vui chợt nhớ, cắt lời chàng :

– À, nghe nói thằng Hiển Gà Tồ cùng học một chỗ với cậu, đã về chưa ?

Chàng ngửng lên nhìn bạn, hơi ngờ vực. “Vui chưa biết tin sao ?”. Chàng e dè trước khi hỏi :

– Cậu không biết gì à ?

– Chuyện gì thế ?

– Nó chết rồi !

– Thật sao ? Không nghe gia đình nó nói gì cả. Hôm kia còn gặp con em gái nó ra chợ Tân Định mua cốm dẹp, mì khô, thuốc lào… để gửi đồ thăm nuôi…

Chàng xác nhận ngay cho Vui khỏi dài dòng :

– Nó ở cùng chỗ với mình. Treo cổ tự vận cách đây một tháng.Vui kinh ngạc kêu lên :

– Việc gì phải thế ?

– Bạn bè cũng nghĩ vậy. Nhưng về sau thấy nó biến đổi khác thường. Nói xuống tinh thần thì không đúng hẳn, hình như đột nhiên nó tìm ra được một chân lý nào đó. Nó ăn, ngủ, nói, cười bình thường, tinh ý lắm mới thấy nó hay bàn về cách chết. Nó chê cách ngậm nòng súng lấy chân đạp cò của Hemingway là yếu. Nó cũng chê cách đứng lên chồng sách đưa đầu vào thòng lọng của Tam Ích là quá “sách vở”. Cả hai còn yếu đuối, sợ sệt, phải tự đặt mình trước sự đã rồi. Đạp vào cò súng hay đu người đẩy ngã chồng sách, chỉ cần tí xíu can đảm trong cái tích tắc. Anh em chán, chê nó lập dị. Không ngờ nó đang dự tính cách chết mạnh cho mình.

Vui hấp tấp hỏi :

– Nó chết cách nào ?

Chàng cố dằn xúc động bằng cách kể thật chậm :

– Nó chọn cách thắt cổ. Nó lén xé quần đùi bện thành dây thòng lọng. Cậu biết đấy, mái láng trong trại thấp lắm. Nó lại phải tự vận ở ngoài láng, nên cột được dây vào đầu kèo, nút thòng lọng thấp đến ngực là cùng. Thế mà nó vẫn tự vận được. Cậu thử tưởng tượng, muốn chết, nó phải dùng bao nhiêu sức mạnh ý chí để co hai chân lên ! Và làm sao sức mạnh ấy, ở chỗ giáp ranh sống chết, có thể thắng được phản xạ tự nhiên của bản năng sinh tồn .

Vui lặng người bần thần, một lúc lâu mới hỏi :

– Chắc họ chửi bới tùm lum ?

– Có, nhưng không nặng nề như các vụ đào thoát. Sau khi chôn Hiển, cả trại nặng trĩu như một nhà mồ. Không khí đột nhiên thê lương u ám hẳn, tuy khoảng đó trời rất đẹp. Ban giám thị cũng nhận ra điều khác thường , nên tập trung toàn trại thuyết cho một hồi. Vẫn bấy nhiêu. Hèn nhát. Trốn trách nhiệm. Kỳ cục nhất là cái tội “tự vẫn để trốn học tập cải tạo ” !

– Thật thế à ? Rồi tụi mình phản ứng ra sao ?

– Nghe đến câu “hèn nhát tự vẫn để trốn học tập cải tạo”, anh em cười ồ. Rừng dội tiếng cười vang xa, giữa đêm tối. Thật vừa bi tráng vừa khôi hài !

Vui lắc đầu, như không muốn dây dưa đến chuyện đau lòng.

Bạn chàng hỏi :

– Sao giọng cậu kể chán chường như của một người cùng cảnh ngộ ? Cậu có chuyện gì không vui? Ban đầu mới về, ai cũng thế. Ở trong đó, mình yên tâm hơn, thế mới ngược đời. Biết gia đình khổ, nhưng chữ KHỔ chung chung, trừu tượng. Về nhà, chữ KHỔ hiện ra cụ thể, chi li, ngay trong mắt vợ con, anh em… Mình cảm thấy hụt hẫng, hơi tiêng tiếc. Cảm thấy hoang mang không biết làm gì với cái tự do mình chờ đợi bao nhiêu năm. Có phải cậu đang ở trong tâm trạng đó không ?

Chàng cảm động, biết Vui có thiện chí an ủi chàng, đem những kinh nghiệm của ba năm được tự do trước chàng ra để ngừa giúp bạn những thất vọng, những tiếc nuối… Đi xa hơn, Vui còn muốn tìm cách hướng câu chuyện sang phía có tiếng cười. Vui nhìn quanh, tìm đề tài. Bắt gặp hình đôi chim vành khuyên rỉa lông cho nhau trên tấm sáo trúc ở cửa ngăn, Vui hớn hở nói :

– Hơn nữa vợ chồng có nhau thì mọi sự êm đẹp hết. Lấy kinh nghiệm vợ chồng mình, mình biết. Có thể nói là ba năm nay, tụi này rất hạnh phúc. Luật bù trừ chăng ? Có thể lắm ! Cậu còn có… nhưng ơ kìa, sao lâu quá bà xã cậu chưa về? Này, hình như cậu có khách thì phải! Hồi mình mới về cũng thế, khách khứa lu bù. Hình như bà ta muốn hỏi thăm gì đấy, vì lúc nãy thấy lấp ló một lúc, ngập ngừng định gõ cửa, rồi lại bỏ đi. Bây giờ bà ta trở lại. Thôi, cho mình về.

Chàng hốt hoảng kéo áo Vui:

– Không, cậu cứ ngồi chơi.

Chàng đoán không sai! Vợ chàng đã đến.

***

Chàng vét hết sức mạnh của ý chí, thu được có thể không thua sức mạnh co đôi chân lên ở biên giới sống chết của Hiển, để trấn tĩnh. Giờ phút nghiêm trọng đã đến ! Chàng nấn ná, không dám ra mở cửa. Em gái chàng, nặng nề, chặm rãi đi từ sau bếp ra cổng trước để mở cửa cho chị dâu.

Vợ chàng vào sân xong, em gái chàng dập thật mạnh cánh cổng sắt. Hình như vợ chàng có nói cảm ơn, nhưng chỉ có tiếng chân bước thình thịch của Bích ở hẻm phụ đáp lại. Không thể trốn tránh được nữa, chàng đứng dậy. Tiếng guốc ngập ngừng, rồi dừng lại ở cửa lớn. Chàng tiến thêm hai bước. Vợ chàng gầy ốm hơn chàng tưởng. Đôi vai so trong chiếc áo dài mầu hoa cà có in hoa trắng trang nhã, quà chàng tặng vợ sau một chuyến đi xa. Da mặt nàng tái xanh, hai bên má phơn phớt hồng. Vợ chàng có thói quen dùng sáp môi xoa một lớp mỏng lên hai bên má thay cho phấn, và ngay từ ban đầu, chàng nhận thấy nàng vẫn còn giữ thói quen cũ.

Có lẽ trước khi đến gặp chàng, nàng điểm trang vội nên một vệt son còn rõ ở má phía trái. Chàng chú ý nhất đến đôi mắt vợ. Đôi mắt hớt hải, ngượng ngùng, chới với, giống y đôi mắt Sonia trong tranh bìa cuốn tiểu thuyết Crime et Chatiment của nhà xuất bản Marabout nàng mua tặng chàng hồi còn học ở Văn khoa. Chàng cảm thấy thương hại, chứ không thù hận nàng, như chàng đã chuẩn bị để thù hận từ buổi sáng.

Vợ chàng dừng lại ở chỗ ngạch cửa, chờ chàng tiến đến. Chàng bước thêm hai bước nữa, chỉ còn cách nàng không đầy một thước. Nàng liếc nhanh nhìn chàng, rồi cúi xuống nhìn chiếc guốc phải đang di di trên nền xi măng loang lở, nói nhỏ trong hơi thở :

– Em xin đến thăm con !

Chàng xúc động đến ngộp thở. Bắt gặp cái nhìn đầy ngỡ ngàng tra hỏi của Vui, chàng vội nói :

– Em vào chào anh Vui đi ! Bạn cũ của anh hồi cùng học ở Chu văn An. Nhà tôi đấy, Vui ạ!

Vui reo lên mừng rỡ :

– Thế à! Té ra chị. Nãy giờ tôi cứ tưởng một cô dâu mới về nhà chồng. Chị tưởng tôi là công an khu vực đến “làm việc” với thằng Tịnh hay sao mà đi thẳng một lúc mới quay lại? Giá cả chợ búa hôm nay ra sao hở chị ?

Vợ chàng ngợ đi một lúc, nhưng ngay sau đó, hiểu rằng người bạn chưa biết cảnh ngộ éo le của hai người. Có thể trước lúc nàng đến, Tịnh đã phải nói dối nhiều điều về mình. Câu chuyện bịa đặt có liên quan đến chợ búa, giá cả. Nhanh trí, nàng lấy giọng tự nhiên đáp :

– Chán lắm, anh ạ. Giá cả cứ lên vùn vụt. Một nải chuối tuần trước 50 đồng, nay lên 80. Nghe nói xăng dầu khan hiếm không có xe chở về. Trên Long Khánh chuối để chín ối mà dưới này đắt như vàng .

Vui tự nhiên như chủ nhà, lên tiếng mời :

– Chị ngồi xuống đây đã. Không. Ngồi bên thằng Tịnh cho bõ những ngày xa cách. Gần hơn nữa. Đấy đấy. Được rồi! Chị có thấy nó được “cách mạng ” cưng chìu quá đáng không? Chỉ lo ăn rồi học tập, nó chậm hiểu, học mãi hơn sáu năm mới thuộc bài! Tệ quá!

Nàng bật cười, quên cả ngại ngùng. Mẹ chàng, có lẽ kinh ngạc vì sự vui nhộn không hợp cảnh, vén tấm sáo nhìn ra phòng khách. Vui không bỏ lỡ cơ hội, nói ngay :

– Cháu vừa bảo Tịnh học bài lâu thuộc quá, một bài ngắn học những hơn sáu năm. Về đây bù khú vợ con, sợ lại quên. Công an khu vực, công an quận, công an sở sẽ đến khảo bài đều đều. Phải thế không bác ?

Thêm một người nữa bị buộc phải đóng kịch! Mẹ chàng cười, hỏi nàng dâu :

– Con mua thứ đó có được không ?

Nàng lễ phép đáp :

– Thưa mẹ, họ đòi giá cao quá. Con hẹn chiều mới trả lời mình có lấy hay không.

Mẹ chàng trề môi :

– Hàng ôi hàng thôi mà cũng làm giá! Đã ngã giá rồi, hẹn hai giờ chiều tới lấy, bây giờ còn nói hàng hai.

Vừa lúc đó, con chàng chạy về. Nó trố mắt nhìn mẹ, rồi phóng đến ôm chầm lấy nàng. Giọng thằng bé thảng thốt :

– Má, má ! Má về luôn hở má ?

Mẹ chàng mắng át :

– Vinh, nhà có khách không được hỗn. Đã vòng tay thưa bác chưa ?

Thằng bé tuân theo lời bà nội như cái máy, rồi lại sà vào lòng mẹ. Nó hỏi dồn:

– Má ở với con luôn nha má ! Cô Bích lấy mất con khỉ nhựa má cho con rồi. Đòi lại cho con nha má !

Vui vuốt má con chàng, nhận xét:

– Cháu nó làm nũng với má quá nhỉ. Gớm, má mới đi một chút đã sướt mướt thế kia.

Chàng liếc nhìn mẹ, e ngại. Vợ chàng tận dụng cơ hội, ôm lấy con hôn lấy hôn để. Vừa hôn, nàng vừa khóc :

– Con tôi hư quá. Để mũi chảy thò lò thế này! Khăn của con đâu? Mất rồi à? Má sẽ mua cho con cái khác. Nhưng con phải nhớ lấy kim băng ghim vào ngực áo nghe chưa. Ừ, làm như lũ bạn con đó. Lúc cần, đưa lên lau mũi như thế này, tiện biết mấy. Chiều về đưa cho má, à quên, đưa cho nội hay cô Bích giặt giùm cho. Nào, hỉ mạnh đi, mạnh nữa. Đấy, được rồi, chùi nhẹ thôi, mạnh quá đỏ cả mũi.

Giọng mẹ chàng nghiêm khắc, dứt khoát hơn :

– Vinh, đứng dậy ra sau bếp rửa mặt mũi cho sạch đi. Đã bảo đứng dậy. Không được mếu! Con thả tay cho nó đi, cưng riết nó hư lắm. Nghe nội nói đây: Con rửa mặt sạch sẽ, rồi nói cô Bích đưa tiền qua bà Tám mua cho nội gói thuốc Hoa Mai. Nhớ thưa gửi đàng hoàng. Thưa bà Tám nhà con có khách, bà Tám bán cho nội con một bao Hoa Mai thứ thiệt.

Con chàng líu ríu vâng lời. Thằng bé đi rồi, vợ chàng chới với không biết phải làm gì, như vừa mất chỗ tựa cuối cùng khiến cuộc đời trở nên chênh vênh. Vui lại nhận xét :

– Trông chị khổ sở quá !

Mẹ chàng vội nói :

– Trời ơi, thật vô ý vô tứ quá chừng! Khách đến từ lâu mà thằng Tịnh không bảo đi pha nước.

Vui can :

– Bác cứ để cháu tự nhiên. Cháu không khát đâu.

Mẹ chàng không trả lời Vui, nghiêm mặt bảo vợ chàng :

– Con xuống xem nước đã sôi chưa. Lấy trà Tam Thai ở trong cái hộp thiếc vuông ấy.

Nàng hiểu ý mẹ chồng, đứng dậy đi xuống bếp. Tấm sáo kêu lách cách một lúc rồi im.

Vui bắt đầu cảm thấy có cái gì không được tự nhiên xảy ra trong gia đình này. Trong cách liếc dò chừng của Tịnh, cách săn đón thái quá hay cứng rắn thái quá của bà nội che giấu một điều bất thường. Vui cảm thấy thừa thãi. Bạn chàng đưa tay nhìn đồng hồ. Ba giờ kém năm. Đoán được ý Vui, chàng khẩn khoản :

– Hãy nán lại ít lâu nữa. Chờ uống nước đã.

Thấy bạn vẫn chưa lấy lại được vẻ thoải mái ban đầu, chàng cố tìm cách phân bua:

– Thằng bé được má nuông chìu, đâm ra yếu đuối. Kể cũng tội. Lúc mình đi trình diện, nó còn nằm trong bụng mẹ. Hôm mình về, nó không cho bồng. Nội đẩy mãi, ép phải hôn ba. Nó sợ hãi, mắt hớt hải như mình là ông kẹ không bằng. Nội khuyến khích “Ba con đấy. Hôn ba đi. Ngoan lên, ngoan nào!’. Nó tiến vài bước, lại dừng. Mình phải tiến gần hơn, ngồi xuống, giơ sẵn má để chờ. Cậu biết không, nó đến sát mình, run lẩy bẩy thật tội nghiệp. Và vào lúc bất ngờ nhất, nó tát cho mình một cái, rồi khóc oà. Dỗ thế nào cũng không nín, kêu mãi “Má ơi, má ơi !”.

Chàng bị chính lời chàng kể cuốn hút. Chàng xúc động, cảm thấy vừa thương hại mình, vừa ghen tức vợ. Khi nàng bưng khay nước trà bốc khói lên mời Vui:

– Anh xơi nước ạ.

rồi bưng tách nước thứ hai đến đưa cho chàng, chàng không đưa tay nhận.

Nàng yên lặng, kiên nhẫn chờ. Chàng ngước lên, và lần đầu tiên, thấy trong cách nàng mỉm cười, trong ánh nhìn mời mọc âu yếm, có cái gì đĩ thõa tráo trở. Lòng chàng sôi lên hận thù. Phải, nàng đã nhìn hắn hằng trăm lần, hằng nghìn lần một cách mơn trớn vuốt ve như thế, có thể còn mơn trớn vuốt ve hơn lúc này nữa. Bây giờ, chàng thấy lối trang điểm vội vàng qua loa là dấu hiệu sự chểnh mảng, xem thường. Đi với hắn, nàng có dám trang điểm cẩu thả thế đâu! Nàng còn cả gan mặc chiếc áo tím hoa cà ngày xưa ! Thêm thái độ tự tung tự tác của người chủ nhà nữa chứ! Không, nói đúng hơn là chủ hộ. Nàng nắm đằng cán. Nắm vận mệnh của đời ta. Không có chữ ký chấp thuận của nàng, chàng thành kẻ vô sở trú, không nhà cửa, không nghề nghiệp, lang thang đầu đường xó chợ. Càng nghĩ, hận thù càng dâng trào.

Bàn tay bưng tách nước của nàng bắt đầu run. Mọi người, kể cả Vui, đều chăm chú quan sát thái độ chàng. Đã đến giờ phút của sự thật. Chàng ngồi im không nhúc nhích. Vợ chàng mất kiên nhẫn, nhưng cố bình tĩnh đặt tách nước xuống bàn, ngay trước mặt chồng. Vui vội đứng dậy nói :

– Mình quên có cái hẹn lúc ba giờ. Bây giờ đã 3 giờ 15 rồi. Thôi xin phép bác cháu về. Hôm nào rảnh đến chơi, nhé Tịnh. Vẫn ở chỗ cũ. Xin phép chị.

Không ai lưu khách lại. Và khi cửa cổng khép, căn nhà chàng trở thành tầng đầu của địa ngục.

***

Chỉ còn hai vợ chồng ở căn trước. Bích đã dẫn cháu đi mua thuốc lá, và theo lời mẹ dặn, cố ý nấn ná đâu đó chờ chị dâu đi ra khỏi mới được trở về. Mẹ chàng lui ra sau bếp sau khi đặt trước mặt hai vợ chồng tờ đơn xin tạm trú viết sẵn và cây bút bi mở nắp. Cả hai hiểu ý nghĩa của hành động đơn giản ấy. Mẹ chàng muốn nói gọn : “Ký vào đây, rồi cút đi cho khuất mắt”.

Ban đầu, chàng cũng mong ước như mẹ, nhưng khi thấy vợ chàng nhìn theo mẹ chồng nước mắt doanh tròng, chàng bùi ngùi thương hại. Chàng không nỡ. Chàng biết đằng sau tấm sáo in hình đôi vành khuyên rỉa lông cho nhau, mẹ chàng không bỏ sót một lời thì thào, một cử chỉ nhỏ nhặt nào của hai người. Nhưng chàng không thể tàn nhẫn. Hận thù lại tan dần, thay thế bằng lòng thương hại. Chàng đẩy tách nước về phía vợ, mời nho nhỏ bằng câu hỏi :

– Em có khát không ?

Nàng ngước lên bỡ ngỡ, và khi nhận ra nét mặt dịu dàng của chàng, nàng vui mừng nói:

– Em không khát.

Nàng trầm thêm giọng :

– Em không dám oán trách ai cả. Em đáng kiếp. Anh hiểu cho em được chút nào, em cảm ơn anh chút ấy. Anh ghét bỏ, hay từ chối như lúc nãy, em cam chịu.

Nàng thút thít khóc. Chàng thấy khó xử, không biết phải làm gì. Nếu bình thường, chàng đã choàng tay ôm lấy vai nàng, ấp cái đầu nhỏ tóc thơm mùi chanh vào ngực và tìm ngay một câu khôi hài. Bây giờ thì… làm thế nào đây? Chàng đâm bực bội, giọng hỏi hơi xẳng:

– Nhưng tại sao các người lại giấu tôi cho tới phút chót? Làm như vậy có ích gì ? Thà cho tôi biết ngay từ hai năm trước, để hôm về, trời không đổ sập lên đầu tôi. Làm như vậy là lừa dối tôi tới hai lần. Phải thương hại tôi một chút chứ!

– Em có định tâm dối anh đâu!

– Thế sao mỗi lần gửi đồ thăm nuôi đều có thư của cô ?

– Em thương con quá. Xa con, em đứt cả ruột.

– Chuyện đó ăn nhập gì đến chuyện này? Nếu nghĩ đến con từ đầu, nếu thương con, cô đã… cô đã…

Chàng nghẹn lời, không dám nhắc đến điều đau lòng. Nàng cũng sợ, vội nói:

– Mẹ cấm em không được gặp con. Về sau, phải đi với cô Bích gửi quà ra cho anh, viết cho anh vài dòng, em mới được dẫn nó đi chơi sở thú vài giờ.

Chàng chua chát :

– Hoá ra những lời lẽ trong thư – tôi còn giữ đủ đem về đây – đều do mẹ tôi cưỡng ép cô viết cả. Tội nghiệp tôi cả tin.

– Không phải thế. Em muốn viết cho anh nhiều hơn, muốn anh mắng chửi em, chà đạp em…

– Không dám.

Nàng khựng lại, nhìn chàng dò dẫm. Thấy khuôn mặt chàng không có gì khác thường, nàng tiếp :

– Em van anh, cho em được đến đây thăm con. Cho em…

Chàng cắt lời nàng :

– Chỉ sợ đến một lúc nó không chịu gặp cô nữa thôi!

Nàng lịm người vì sợ hãi bất chợt. Lần đầu tiên nàng nghĩ đến cảnh huống đau xót ấy. Tưởng nàng không tin vì quá tự tín, chàng nói dỗi :

– Vả lại, cần gì cô phải xin. Cô là chủ hộ. Cô muốn làm gì trong nhà này chẳng được.

Nàng mím môi lại. Không nói năng, nàng chụp lấy cây bút bi, ký vào phần ý kiến của chủ hộ. Cây bút bi để lâu ngày không ra mực, nàng phải di di đầu bút lên lòng bàn tay nhiều lần. Chữ ký của nàng run rẩy. Nét gạch bên dưới không được ngay, trông giống như một chữ ký giả mạo.

Chàng lấy giọng khách sáo :

– Nhờ cô mà tôi được tạm trú trong nhà mình. Cảm ơn cô.

Phần nàng, nàng trở lại van lơn :

– Em van anh, cho em được ở tạm đây với con đến sáng mai. Em ao ước được ôm con ngủ trọn một đêm. Em van anh!

Giọng nàng rạn đi, pha lẫn nước mắt. Chàng cảm động, nhưng vẫn cố cứng cỏi :

– Tại sao lại xin tôi? Xin một người tạm trú để được tạm trú? Có ai xin phép một khách qua đường để ngủ tạm trong cái quán trọ?

Nàng tưởng đó là lời từ chối khéo léo nhưng dứt khoát. Nàng khóc nức nở. Chàng đâm hối hận, muốn ôm lấy vai nàng, muốn nói điều gì đấy để an ủi. Nhưng cổ họng chàng nghẹn. Rụt rè do dự mãi, đến lúc không thể dằn được, chàng run run đưa lưng bàn tay lên gạt nước mắt trên má nàng. Ban đầu, hình như nàng chìm đắm trong nỗi thống khổ da diết, không hay biết gì. Về sau, nàng hiểu thiện chí của chàng. Nàng càng nghẹn ngào hơn, đưa hai bàn tay ôm bàn tay chàng, gượng nhẹ, như e sợ nắm phải một điều gì không thực.

Có tiếng tằng hắng đằng sau tấm sáo. Rồi tiếng trúc va vào nhau lách cách. Mẹ chàng ngơ ngác nhìn hai người. Tấm sáo trúc bị rẽ đôi, đôi vành khuyên đang rỉa lông cho nhau xao động biến dạng không còn hình thù gì nữa…

Nguyễn Mộng Giác

Advertisements

TÂM SỰ NHẠN MÔN QUAN

nguyenmonggiac

Vách núi sừng sững như chọc thủng khoảng mây, ngăn tầm mắt người Khất Đan bên nầy và người Tống bên kia. Những cuộc nam chinh của nước Liêu từ cửa ải này xuất phát, cuồn cuộn chảy vào Trung Nguyên để nổi lửa đốt cháy nhà cửa và bật cung khơi nguồn máu chảy. Rồi nếu muốn bắc phạt để trả nợ máu, quân Tống cũng từ cửa ải này tuôn vào những sa mạc nước Liêu dậm nát không còn ngọn cỏ xanh hay một tiếng khóc tiếng cười.
Nhạn môn quan là tuyến đầu, biên giới giữa nước Liêu và nước Tống. Quân lính hai bên sẵn sàng ở thế tác chiến, đôi mắt xoi mói hoài nghi. Trừ trường hợp do nội tình, một bên bị suy yếu để bên kia thừa cơ lấn áp cướp bóc, bình thường cửa ải đóng kín, không ai được qua khỏi. Chỉ có chim hồng chim nhạn nhờ góp gió vào đôi cánh, từ ngả nhạn môn quan bay xuôi về phương nam tìm hơi ấm.
Tâm sự Nhạn môn quan là hoài bão của kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xóa hết biên giới nhỏ hẹp để sống theo tình người. Kẻ đó vẻ mặt hiên ngang, tính khí cao ngạo, to lớn hào sảng như con hùng sư 1, lớn mật mà cẩn thận, trí dũng song toàn 2, là nhân vật mà Kim Dung tha thiết đặt hết niềm tin, cố gắng thâu góp tất cả mọi đức tính lý tưởng giao cho hắn, nhờ hắn thay mình vào đời để bình thiên hạ.
Nhân vật tuyệt vời ấy là TIÊU PHONG, trong Lục Mạch Thần Kiếm. Cuộc đời của Tiêu Phong gắn liền vào cửa ải này.
Nếu Tiêu Viễn Sơn và người vợ bất hạnh không bồng con về thăm ngoại, thì Tiêu Phong vĩnh viễn là một vương tử Khất Đan, suy nghĩ theo quan niệm thuần túy Khất Đan, hành động theo quyền lợi người Khất Đan, nghĩa là ông sẽ bằng lòng với thế đứng của kẻ ở mạn bắc Nhạn môn quan.
Cuộc đời run rủi cho mọi sự bi đát mâu thuẫn có thể xảy ra, do mưu ly gián Liêu Tống của Mộ Dung Bác, quần hào trung nguyên tưởng một nhóm võ sĩ Đại Liêu âm mưu tấn công Thiếu Lâm tự để đoạt kinh, nên cùng nhau ra Nhạn môn quan phục kích. Vợ chồng Tiêu Viễn Sơn vô tình mắc nạn, mẹ Tiêu Phong bị thảm sát, cha Tiêu Phong tuyệt vọng tưởng vợ con chết hết nên ôm xác thân nhân nhảy xuống vực sâu tự vận. Nhưng như lời Trí Quang đại sư thuật lại:
“Gã người Liêu trong lúc lơ lửng chưa xuống đến đáy vực mới phát giác ra con mình chưa chết. Gã liền lập tức quăng con lên. Tâm linh gã mau lẹ đã đành, nhưng tung con đúng chỗ không sai mảy may thì võ công này ai mà không khiếp sợ. Tôi nhìn anh em chết thảm, khóc ròng một lúc rồi nhấc đứa nhỏ lên toan đập nó vào tảng đá cho chết đi. Nhưng vừa toan liệng vào; bỗng nghe nó khóc thét lên. Tôi nhìn mặt nó một cái, thấy má nó bụ bẫm đỏ hây, mắt nó đen láy và trong sáng đang nhìn tôi. Nếu tôi không trông vào mặt nó, thì đã quật chết tươi rồi, chả còn chuyện gì nữa”.
Cậu bé Tiêu Phong sống sót nhờ một cái nhìn. Trí Quang đại sư đã nhìn thẳng vào gương mặt đứa bé, để thấy trong đôi má bụ bẫm đỏ hây quyền sống thiêng liêng của một con người, trong đôi mắt đen láy chan chứa niềm vui, tình thương yêu, tình liên đới giữa người với người, không phân biệt Liêu hay Tống, già hay trẻ.
Tiêu Phong được quyền sống sót nhờ ở tình người, và dĩ nhiên lớn lên, cũng phải có nhiệm vụ phụng sự cho tình người.
THỰC TRẠNG PHÂN TRANH CỦA CÁC CHỦNG TỘC
Bọn Uông Bang chúa, Thủ lãnh đại ca, Triệu thiền tôn, Trí Quang đại sư… hối hận vì đã vô tình giết oan vợ chồng Tiêu Viễn Sơn nên không nỡ giết đứa con, đem nó qua hẳn bên này biên giới, thật xa về phía nam Nhạn môn quan, giao cho vợ chồng họ Kiều ở dưới chân núi Thiếu Thất nuôi dưỡng. Chùa Thiếu Lâm rèn luyện võ công và đạo đức, rồi Uông bang chúa hướng dẫn đào tạo cậu bé thành một người Tống hoàn toàn. Sau nhiều trắc nghiệm thử thách gay go, Tiêu Phong mới được giao cây Đả cẩu bổng cho. Quần hào trung nguyên giấu nhẹm gốc gác của Tiêu Phong, và chính ông cũng cư xử như một người Hán thuần túy. Cái nhìn Tiêu Phong giống y cái nhìn mọi người, hạn chế trong biên giới quyền lợi dân tộc, nhắm mắt tuân hành theo hệ thống huyền thoại nhằm đề cao Hán tộc và phỉ báng bọn man di chung quanh. Những huyền thoại đó là căn bản của lịch sử tất cả các nước trên thế giới, nó là chất liệu chính của mọi chặng huyền sử, là nguyên tố, mục tiêu để các sử gia sưu tập tài liệu chứng minh diễn tiến sinh tồn của dân tộc. Chúng ta thử điểm mặt các anh hùng dân tộc, sẽ thấy thành tích lớn lao nhất của họ là giết được hằng hà sa số người lân bang để bảo vệ quyền lợi chủng tộc, mở mang bờ cõi. Cho nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy bên này biên giới, nhân vật ấy là một tên đại ác, còn ở bên kia biên giới lại là một nhân vật lịch sử siêu việt oai hùng từng làm sáng đôi mắt ấu thơ. Cũng chính vì tinh thần dân tộc này mà người ta tự cho phép làm ngơ trước những hành động phi nhân, như nỗi vui sướng phấn khởi của một đứa trẻ da trắng Hoa kỳ khi xem trên màn ảnh cảnh quân biên phòng tàn sát không thương tiếc bọn mọi da đỏ. Tự tôn dân tộc, tự ái quốc gia là một thực tại trường cửu, cho nên dù cùng theo một chủ nghĩa, người cộng sản bên này biên giới vẫn gườm súng thủ thế với đồng chí bên kia biên giới. Hơn thế nữa, khi do một nguyên nhân riêng, những người cùng chủng tộc chém giết nhau, người ta vẫn thường trấn an lương tâm bằng cách gán cho người đồng bào là tay sai ngoại bang, nghĩa là không còn đáng được cư xử như một kẻ đồng giống nòi (một bên bị gọi là tay sai đế quốc Mỹ, một bên bị gọi là tay sai đế quốc đỏ Nga Tàu).
Lòng tự tôn quốc gia đã là một thực tại trường cửu thì biên giới quốc gia, muôn ngàn Nhạn môn quan, càng được phòng thủ cẩn mật. Sức người khó có thể xô ngã hay chui qua lọt. Họa hoằn chỉ có thể lọt qua được là những loài chim.
Tiêu Phong lớn lên, nuôi dưỡng trong truyền thống, mê hoặc bởi huyền sử, căm hận đến tận xương tuỷ bọn Khất Đan độc ác, và hãnh diện là người Hán. Ông ở xa biên giới quá, nên không thể thấy được những thực tại Nhạn môn quan.
Phải chờ đến lúc vì vấn đề chủng tộc, ông bị truất ngôi bang chúa, Tiêu Phong mới trở về Nhạn Môn quan để thấy rõ thực tại phân tranh.
Ông đã thấy gì? Trên Nhạn môn quan chất ngất, mây phủ chập chùng, không khí thanh khiết và yên tĩnh thần tiên. Ở cõi cao nhìn xuống nhân gian, chắc chắn mọi sự trở thành bé nhỏ tầm thường mà dễ thương như đồ chơi con nít: từ một khoảng vườn hẹp, một mái nhà nhỏ, một cánh đồng xanh. Nhưng Tiêu Phong về lại đây với một nỗi hận trùng trùng. Ông thắc mắc: Có phải mình là người Khất Đan không? Khất Đan có tàn ác không? Người Hán có đẹp như huyền sử không?
Thực tại đã trả lời:
“Trong lúc Tiêu Phong đang băn khoăn nghĩ ngợi, bỗng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Ông giật mình như người trong giấc mơ, tự hỏi: Tại sao lại có trẻ nít khóc?
Kế đó, ông lại nghe thấy tiếng đàn bà lanh lảnh, liền thò đầu trông ra để xem cho rõ thì thấy bọn quan binh nhà Đại Tống tên nào cũng cướp đêm về một vài người đàn bà con nít. Bọn người bị bắt đều mặc quần áo Khất Đan theo kiểu chăn trâu bò. Nhiều tên quan binh nhà Đại Tống đưa tay sờ nắn vào những người đàn bà con gái Khất Đan trông rất bỉ ổi và khả ố. Người đàn bà nào kháng cự là bị quan binh đánh đập…
Đột nhiên một đứa con nít đang ngồi trong lòng mẹ khóc thét lên. Người mẹ Khất Đan hất tay tên quan binh Đại Tống ra, quay lại gọi đứa nhỏ đang khóc. Tên quân cả giận, nắm lấy đứa nhỏ quật xuống đất, rồi cho vó ngựa xéo lên mình. Lập tức ruột gan đứa nhỏ lòi ra, Người đàn bà Khất Đan sợ, mặt xám ngắt, muốn khóc mà không khóc thành tiếng. Cả bọn quan binh xúm lại cười rộ…
Lũ quan binh này đi qua rồi thì lại một toán hơn mười tên khác la ó đi tới. Toán quan binh Đại Tống này cũng đều cưỡi ngựa, tay cầm đao dài giơ lên. Đầu mũi đao đều có bêu một cái thủ cấp máu chảy đầm đìa. Khúc đuôi một con ngựa có buộc quãng dây dài trói năm người đàn ông Khất Đan. Cách ăn mặc những người Khất Đan này cũng toàn là hạng bình dân chăn trâu bò. Hai người đã già lắm, đầu tóc bạc phơ, còn ba người nữa là thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi. Tiêu Phong hiểu ngay: Khi thấy quan binh Đại Tống đến ăn cướp, bọn tráng niên Khất Đan khỏe mạnh đều chạy thoát nên lũ quan binh chỉ cướp được những người già nua yếu đuối và đàn bà trẻ con đem về.”
Cảnh ấy khiến Tiêu Phong hết còn hãnh diện là người Tống. Ông thành thực thú nhận với A Châu trên Nhạn môn quan là ông hãnh diện được làm người Khất Đan. Tiêu Phong không giữ được lâu niềm kiêu hãnh ấy. Lần thứ nhì lên Nhạn môn quan, Tiêu Phong được mục kích một cảnh khác:
“Ông thấy đội quân binh Khất Đan ước chừng dư tám trăm người trên lưng ngựa chất đầy vải lụa cùng đồ vật, và số người bị bắt cũng đến dư tám trăm, phần đông là con gái ít tuổi, và một số trai tráng. Họ đều mặc y phục người Tống, ai nấy khóc lóc kêu gào, vẻ mặt cực kỳ buồn thảm…
Ngày trước Tiêu Phong đến ngoài ải Nhạn môn quan chính mắt ông đã trông thấy bọn quan binh nhà Đại Tống hiếp đáp nhân dân Khất Đan, lần này ông lại thấy binh Khất Đan đi bắt con dân Đại Tống. Vẻ mặt của những người bị bắt bữa nay cũng sầu khổ chẳng khác gì những người Khất Đan bị bắt ngày nọ.”
Trong những tên quân Đại Tống bỉ ổi khả ố với đàn bà Khất Đan, có thể sau này nhiều người trở thành anh hùng bảo vệ biên cương bờ cõi. Cũng như nếu một trong số 800 tên Khất Đan thảo khấu rủi ro bị chết, hắn sẽ được long trọng quốc táng, vì VỊ QUỐC VONG THÂN. Đó là bản chất của mọi huyền sử, cũng như vẻ mặt sầu khổ của những người dân Tống lẫn bọn bình dân chăn trâu bò Khất Đan là bản chất của lịch sử nhân loại. Sâu bên trong các kinh kỳ, bên trong các tuyên ngôn huấn từ, bên trong các sách sử yếu dành cho quần chúng, ý niệm quốc gia và sự duy trì niềm tự tôn chủng tộc đủ chất men khích động đám đông, để họ sẵn sàng tham dự vào tất cả mọi mưu đồ. Nhưng người đứng trên những Nhạn môn quan phải là những người sáng suốt. Cái nhìn của Tiêu Phong là cái nhìn của chim nhạn chim hồng:
” (Gần Nhạn môn quan), là một khu đồng ruộng bát ngát hoang vu, lúa má cùng cỏ dại mọc chen nhau, chỗ nào cũng đầy chông gai vì lâu ngày không người đi lại. Tiêu Phong nghĩ thầm:
– Người Tống vì sợ Khất đan đến đây cướp lương thảo nên đành bỏ hoang mấy trăm vạn khoảng ruộng tốt này. Mỗi một khoảng ruộng này đều nuôi nấng được bao nhiêu sinh linh. Họ đã tốn bao nhiêu huyết lệ mới làm thành ruộng tốt như vậy…”
Từ trên cao nhìn thấu được niềm vui nỗi buồn của một bác tiều phu người Tống, ao ước thái bình, để hằng ngày đem củi xuống chợ đổi nồi gạo trách mắm, nhìn thấu được màu xanh huyền diệu của một đọt cỏ, màu vàng ửng của trái chín, sắc vàng mênh mông của mùa. Nhìn được như vậy, Tiêu Phong mới sa vào niềm băn khoăn chưa từng có nơi mọi người Tống và mọi người Khất Đan. Thân thế đặc biệt của ông đưa ông đến một vị trí đặc biệt buộc ông nhận một thân phận đặc biệt.
NỖI BĂN KHOĂN CỦA TIÊU PHONG
Sự thức tỉnh đưa đến những hậu quả không mấy may mắn. Ông trở thành người cô đơn, xa lạ với đồng loại từ lúc ông tự hỏi:
– Làm sao đã là người cả lại còn phân chia làm người Khất Đan, người Đại Tống, rồi Nữ Chân, người Cao Ly… Bọn người bên này sang bờ cõi nước kia để kiếm lương, rồi bọn người bên kia lại qua đất bên này để giết người đốt nhà? Người bên này mắng người bên kia là CON CHÓ LIÊU, người bên kia mắng lại người bên này là CON HEO TỐNG.
Hay xa hơn nữa, từ khi ông dùng trực giác và sự tha thiết đến tình người để phân biệt phải trái, chân nguỵ trong lời kể chuyện Nhạn môn quan của Trí Quang đại sư.
Trí Quang kể lại cuộc phục kích quân Khất Đan mấy mươi năm về trước để giải thích thân thế Kiều Phong:
” Thủ lãnh đại ca thấy quân Liêu cẩu đến gần liền hú lên một tiếng dài để ra hiệu. Sau các tảng đá lớn, ám tiễn tới tấp bay ra: nào cương tiễn, nào tụ tiễn, nào phi đao, nào thiết chuỳ đều tẩm thuốc kịch độc. Bỗng nghe những tiếng oai oái vang dậy, cả bọn Liêu cẩu nhốn nháo, ngã ngựa đến quá nửa. Lúc nầy tôi đã đếm được rõ ràng bọn võ sĩ Khất Đan có mười tám tên cả thảy, mười một tên trúng ám khí, thế là chỉ còn bảy tên. Chúng tôi liền nhất tề xông ra khoa đao lên chém giết một lúc sạch cả, không còn một mống chạy thoát.
Nghe xong cuộc thắng lợi vẹn toàn này, do lòng tự ái quốc gia, nhiều người trong Cái bang hoan hô nhiệt liệt.
Bọn chó Liêu dĩ nhiên tàn ác như dã thú, giết được càng nhiều càng tốt. Vậy mà các bậc tiền bối anh hùng đã giết sạch trong chớp mắt mười tám tên chó chết. Quần chúng nhiệt liệt tán thưởng, giống như khán giả vỗ tay khi thấy quân biên phòng da trắng giết sạch cả bộ lạc da đỏ, giống như độc giả nhật báo vui mừng đọc tin thắng trận ở Sơn Mỹ: Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ thuộc sư đoàn Americal phối hợp với không quân và pháo binh, đã tấn công vào một làng chiến đấu phòng thủ kiên cố của cộng quân sáng ngày 16-3-1968 vừa qua. Giao tranh diễn ra ác liệt suốt buổi sáng và xế trưa. Kết quả: 128 xác địch đếm được tại trận, 13 tình nghi bị bắt giữ và 3 vũ khí bị tịch thu.
Nhưng sau những vui mừng đột khởi ban đầu, một hai tháng hay một hai năm sau, phải có những hoài nghi nhân bản: Tại sao 128 tên địch bỏ xác tại trận mà quân bạn chỉ tịch thu được có 3 vũ khí? Chính câu hỏi này đã đưa đến vụ án thời danh Calley. Đoàn Dự và Tiêu Phong khi nghe Trí Quang đại sư kể chuyện, cũng có những hoài nghi tương tự. Tiêu Phong thầm hỏi: Đại sư vừa nói bọn võ sĩ Khất Đan này tất được tuyển chọn rất kỹ mà sao chỉ trong khoảnh khắc, chúng đã bị giết hết. Đó là những băn khoăn xuất phát từ lòng nhân đạo, đòi phân biệt người dân vô tội chịu đựng lịch sử và kẻ chiến đấu. Bên kia Nhạn môn quan, chưa phải là vùng oanh kích tự do, nên cả hai con người chí tình Đoàn Dự và Tiêu Phong đều tỏ vẻ hoài nghi, trong lúc quần hào vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Tuy nhiên sự thức tỉnh chỉ mới bắt đầu, nên Tiêu Phong chưa dám có thái độ nào. Ông vẫn im lặng, nghe Trí Quang đại sư kể tiếp:
Chúng tôi đành ỷ bên mình đông người xúm lại uy hiếp, sáu bảy người nhảy xô lại tấn công gã đàn ông và bốn năm người xúm lại đánh thiếu phụ, Không ngờ thiếu phụ này chẳng biết chút võ nghệ nào. Vừa bị chém một đao, cánh tay nàng đã đứt lìa mình. Thiếu phụ bồng con té nhào xuống đất. Một người khác bồi thêm phát nữa hớt mất nửa đầu nàng. Gã đàn ông tuy võ nghệ cao cường nhưng bị bảy tám cao thủ vây đánh thì còn tài nào có thể rảnh tay giải cứu cho vợ con. Mấy chiêu đầu gã chỉ dùng thủ pháp kỳ dị cướp lấy vũ khí chúng tôi, chứ không chém giết ai. Nhưng khi thấy vợ con bị giết rồi thì mắt gã đỏ ngầu, vẻ mặt hung dữ trông mà phát khiếp. Gã người Liêu tưởng đã giết hết bọn cường địch liền chạy lại bên thi thể vợ, ôm lấy thây nàng khóc rống lên, tiếng khóc cực kỳ bi thảm. Tôi nghe tiếng khóc không khỏi mủi lòng. Thì ra tên Liêu cẩu này ác như quỷ, dữ như dã thú mà hãy còn nhân tính. Giọng khóc bi ai của gã tưởng chẳng kém gì người Hán chúng ta.
Hoá ra chính Trí Quang đại sư cũng thức tỉnh như Tiêu Phong, Đoàn Dự. Đại sư hơi có chút kinh ngạc, thú nhận tiếng khóc Khất Đan không khác mấy với tiếng khóc Đại Tống.
Triệu Thiền Tôn, một cao thủ cũng tham dự vào trận phục kích ấy nói:
– Loài dã thú còn có thâm tình giữa cha con và vợ chồng vị tất nó đã thua loài người. Thế thì người Khất Đan cũng là người, người Hán cũng là người, sao nó lại không thương xót bằng người Hán?
Mọi người nghe Triệu Thiền Tôn nói đều la ó phản đối, Triệu Thiền Tôn chỉ cười nhạt không đáp. Nụ cười khinh miệt ấy khai ngộ cho Tiêu Phong, con người bị xâu xé giữa cuộc phân tranh khốc liệt về chủng tộc. Không một chút do dự ông tự vạch cho mình một lý tưởng: cố gắng xoá bỏ hận thù giữa các quốc gia chủng tộc, nhìn con người không qua lòng tự ái tự tôn tích luỹ lâu đời do âm mưu chính trị, mà qua tình thương giữa người với người.
Con người ra đời với đôi má hây hây bụ bẩm, và đôi mắt trong sáng đen nháy, lớn lên trong tiếng nô đùa hồn nhiên, vào đời hệ luỵ với tình cha mẹ, tình vợ chồng, tình tương thân hàng xóm láng giềng, tình quê hương quyến luyến, từ một cổng làng một bụi tre, một hòn đá bên đường, một cây đa cỗi, con người nguyên vẹn niềm vui và nỗi buồn, dù phút vui phù phiếm mà buồn da diết, vẫn được quyền sống nốt cho hết khoảng thời gian thiên phú. Sự thực phân tranh, cùng với bản tính chân thực chí tình, đã giúp Tiêu Phong ngộ đạo, Từ TỰ GIÁC, ông bắt đầu GIÁC THA.
TIẾNG GẦM CỦA CON HÙNG SƯ
Không phải bằng những bài kệ. Không phải bằng những câu quát tháo phẫn nộ nơi cửa miệng các vị thiền sư. Là một cao thủ võ lâm, Tiêu Phong có một lối khai ngộ riêng của con nhà võ. Những vấn nạn khai ngộ của ông liên quan đến võ học, đã thức tỉnh từ một vị tăng Thiếu Lâm cho đến đám đông kiếm khách.
Có thể có nhiều lối khai ngộ khác. Như bài kệ Trí Quang đại sư viết cho Tiêu Phong trước khi viên tịch:
Chúng sinh đều một cuộc
Vạn vật thế bình quân
Thánh hiền hay súc loại
Thảy tới chỗ đồng nhân
Khất đan với Hán nhân
Bất luận giả hay chân
Ân oán cùng vinh nhục
Không hơn đống bụi trần
Đã thức tỉnh đầu óc những kẻ mang nặng thành kiến, oán thù, khiếp sợ trên cái thế chông chênh ở Nhạn môn quan.
Nhưng Tiêu Phong chọn một lối khai ngộ thích hợp với đối tượng: khai ngộ bằng võ học. Điều đó không có gì ngạc nhiên, vì triết lý của sự sống không hạn hẹp trong các suy niệm nghiêm túc về vũ trụ, nhân sinh, mà bàng bạc trong lời chim sớm, nụ cười trẻ thơ, trăng tròn rồi khuyết, bèo hợp rồi tan. Vậy thì tại sao lại không có thể tìm thấy một lẽ sống, một hướng đi trong cách sử một chiêu kiếm, vung một đường quyền, luyện một nội lực. Lấy võ để khai ngộ là đã vượt qua được cái chấp đầu tiên: trọng lý thuyết và các suy niệm thuần lý, xem nhẹ sinh hoạt bình thường của thực tại. Nhờ vậy, cách giác tha của Tiêu Phong đã thức dậy niềm băn khoăn trong mọi người, khiến họ xao xuyến bàng hoàng, đặt ngược vấn đề, tra hỏi về những điều lâu nay tưởng là chân lý vĩnh cửu.
Con hùng sư giữa đám quần hùng đã dùng tiếng gầm của võ công để giác tha. Trước hết, ông thức tỉnh tăm tối cho một kẻ tưởng đã xoá hết hình sắc, ý thức vô thường: nhà sư Huyền Tịch.
“Lúc này, đôi bên cùng sử dụng toàn Thái tổ trường quyền, ngoài việc so bì các võ công cao thấp, không còn chỗ nào để nhiếc móc nhau nữa. Huyền Tịch thấy Huyền Nạn chỉ trong chớp mắt là nguy hiểm đến tính mệnh, không nói nữa, phóng véo một chỉ ra, điểm huyệt tuyệt kỹ này của phái Thiếu Lâm gọi là Thiên Trúc Phật Chỉ. Tiêu Phong thấy Huyền Tịch phóng chỉ điểm ra, vừa nghe tiếng vù vù rất nhỏ nhẹ, đã nói ngay:
– Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ ngón Thiên Trúc Phật Chỉ quả nhiên lợi hại. Nhưng ngón này là võ công của người Hồ bên Thiên Trúc mà đại sư đem ra để đấu với huyền phát chính tông của Đức Thái Tổ bản triều, thì dù đại sư có thắng được tôi, há chẳng mang tiếng là kẻ thông Thiên bán nước, làm nhục cho bản triều ư?
Huyền Tịch vừa nghe, bất giác rùng mình.
Hôm nay quần hùng sở dĩ đến đây vây đánh Tiêu Phong vì ông là giòng giống rợ Hồ nước Khất Đan. những môn phái võ Thiếu Lâm được truyền vào Trung Quốc từ lâu. Các môn phái ở Trung nguyên chẳng nhiều thì ít đều có liên quan đến những môn võ của phái Thiếu Lâm. Mọi người cơ hồ quên lãng mối liên quan giữa người Hồ và phái này.
Quần hùng nghe Tiêu Phong nói, ai nấy trong lòng rung động, vì trong các vị anh hùng ở đây, có nhiều nhân vật kiến thức rất rộng, không khỏi nghĩ thầm: Bọn ta đã kính cẩn Đạt Ma Lão Tổ như một vị thần minh mà sao lại căm hận người Khất Đan đến xương tuỷ? Cả người Khất Đan cho chí người Thiên Trúc đều là nói giống rợ Hồ chứ đâu có cùng chủng tộc với mình? Xét cho cùng thì hai giống người này khác nhau xa: người Thiên Trúc trước nay không tàn sát đồng bào Trung quốc, còn người Khất Đan thì tàn ác vô cùng.
Như vậy thì không phải cứ thấy người Hồ là giết, mà bên trong còn phân biệt kẻ thiện người ác. Thế thì giòng giống Khất Đan không có ai là người tốt ư?
Tiêu Phong lấy ngay cái eo hẹp của lượng người để làm vấn nạn. Người Hán có mặc cảm tự tôn của người Hán, hãnh diện với Thái Tổ trường quyền do vị vua sáng lập ra nhà Tống sáng chế. Từ đó, quần hùng Trung nguyên xem thường bọn tây hồ, bắc địch, nam man, đông di. Bây giờ, trong lúc nguy nan, nhà sư nặng lòng dân tộc mà quên đạo pháp lại đem võ công của người Hồ ra tranh đấu với võ công bản triều, không chú ý đến sự nghịch lý trớ trêu của hành động. Nếu vì muốn thắng Hồ mà phải sử dụng võ công của rợ Hồ, thì làm sao phân biệt được phải trái, đen trắng?
Huyền Tịch bất giác rùng mình vì Tiêu Phong đã chứng tỏ cho đại sư thấy sự mê lầm, và hơn thế nữa, đánh đúng được niềm băn khoăn bấy lâu Huyền Tịch chưa tìm ra lối thoát: Làm sao giải quyết được mâu thuẫn quyền lợi dân tộc và đao pháp? Nếu tu sĩ phải đứng trước một hoàn cảnh trớ trêu, một bên là sự tồn vong tối thượng của quốc gia một bên là lý tưởng tôn giáo, thì tu sĩ phải dung hoà thế nào giữa đạo và đời? Huyền Tịch trước hết tự nhận là một đại sư xem tất cả không hơn đống bụi trần hay trước hết là một công dân Đại Tống? Nếu vì quyền lợi của Đại Tống mà mê lầm, Huyền Tịch có quyền tiếp tục mặc bộ áo cà sa. Chỉ có các nhà sư Việt Nam thời Lý Trần mới có quyết định cởi áo nâu cầm gươm giệt giặc, rồi rửa tay gác kiếm, thanh thản trở về dưới cội Bồ đề. Mà cho dù có dứt khoát được như vậy, trên toà sen, Đức Phật cũng không khỏi nhìn nhà sư ái quốc với đôi chút ngậm ngùi. Huyền Tịch bất giác rùng mình, rồi từ đó cập thuyền vào bến Giác.
Sau đó, Tiêu Phong đặt câu hỏi khai ngộ rõ ràng hơn cho đại sư Huyền Độ:
“Đột nhiên Tiêu Phong hỏi:
– Huyền Độ đại sư, gia gia tại hạ (chỉ Tiêu Viễn Sơn, người Khất Đan, cha của Tiêu Phong, bây giờ đang tu ở chùa Thiếu Lâm) ở quí tự có mạnh giỏi không?
Huyền Độ sửng sốt đáp:
– Lệnh Tôn đã quy y, vào thanh tu trong hậu viện chùa Thiếu Lâm. Lúc bần tăng đi Nam Kinh, không muốn đến chào lệnh tôn để khỏi bận lòng trần tục.
Tiêu Phong nói:
– Tại hạ muốn gặp gia gia để hỏi người một câu.
Huyền Độ hắn giọng một tiếng chưa nói gì, thì Tiêu Phong lại tiếp:
– Tại hạ muốn hỏi gia phụ: Nếu Liêu binh đến đánh chùa Thiếu Lâm, thì người xử trí ra sao?
Huyền Độ đáp ngay:
– Bần tăng nghĩ rằng dĩ nhiên cư sĩ sẽ giết địch để bảo vệ Phật pháp.
Tiêu Phong nói:
– Nhưng gia phụ là người Khất đan, chẳng lẽ lại vì người Hán mà giết người Khất đan ư?
Huyền Độ trầm ngâm một chút rồi nói:
– Bang chúa (chỉ Tiêu Phong) quả là người Khất đan mà bỏ chỗ tối để theo chỗ sáng, thật là đáng kính phục.
Tiêu Phong nói:
– Đại sư là người Hán thì nghĩ người Hán sáng mà người Khất Đan tối. Tại hạ người Khất đan cũng tưởng Đại Liêu sáng còn Đại Tống tối, Tổ tiên tại hạ bị giống người Yết tàn sát, lại bị người Tiên ti hà hiếp cực kỳ khốn khổ, chạy hết chỗ này đến chỗ khác. Đời nhà Đại Đường, người Hán võ công cực thịnh, đã giết không biết bao nhiêu là dũng sĩ, cướp bao nhiêu là phụ nữ Khất đan. Bây giờ đời Tống, võ công người Hán kém cỏi, nên lại bị người Khất Đan tàn sát. Hai bên thù oán đời đời biết bao giờ mới hết?
Huyền Độ lẳng lặng một lúc, rồi cất tiếng niệm Phật nghĩa là bất đầu nhận thức được lẽ sắc không, vượt qua những cố chấp về kỳ thị chủng tộc và tự ái quốc gia. Sự thức tỉnh của một đại sư ngộ đạo đưa tâm hồn người đến chỗ sáng suốt, nên có thể Huyền Độ đại sư lâm râm niệm kinh Kim Cương hay Viên Giác.
Nếu tất cả đều ngộ tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình. Mọi người sẽ thành thật thương yêu nhau, tôn trọng lẽ sống và quyền tự do tối thượng, đề cao nhân phẩm. Khổ nỗi tôn giáo chỉ là cái mộc tự vệ, an ủi của kẻ yếu, khi chưa giải quyết được sự bất công. Khi chưa giải quyết được nguồn nheo nhóc trên địa hạt hữu hình cụ thể, khuynh hướng giải thích siêu hình để con người chấp nhận thực trạng khốn khó gần giống như sự làm ngơ, thoả hiệp. Chính đó là nguyên nhân sự lúng túng thụ động của Thiếu Lâm trước những vấn nạn cấp thiết đòi hỏi một giải pháp cấp thời, nhãn tiền. Nhiều lúc các đại sư lại còn hiện diện cho kẻ khác lấy cớ hành động mê muội. Quần hào Cái bang truất ngôi bang chúa của Kiều Phong, các đại sư Thiếu Lâm có mặt để đóng vai chủ toạ. Quần hào Trung nguyên tụ họp ở Tụ hiền trang, để xếp đặt kế hoạch tiêu diệt một người chỉ có mỗi cái tội làm người Khất đan, các nhà sư vẫn sẵn sàng tham dự. Với uy tín cao cả môn phái được xem là võ lâm bắc đẩu, nếu các vị sư Thiếu lâm muốn hoà giải giữa hai dân tộc Liêu Tống, muốn ngăn cản một cuộc đổ máu vô ích, muốn giác ngộ kẻ đại ác, muốn bảo vệ công lý, thì hoài bão đó có thể thực hiện được dễ dàng. Ở đây, họ không làm gì hết, chỉ nhìn mọi diễn tiến kỳ quặc của đời sống thế tục với nhãn quan siêu hình.
Cho nên Tiêu Phong đã khai ngộ cho các thiền sư, mà sự tranh chấp đố kỵ giữa hai dân tộc láng giềng vẫn không giải quyết được. Những âm mưu tranh bá đồ vương vẫn tiến hành, và tiến hành ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm: Mộ dung Bác âm mưu phục hưng cho Đại Yên, Tiêu Viễn Sơn âm mưu thu thập tinh tuý võ học của Trung nguyên cho quyền lợi ưu thắng của Đại Liêu. Chính Mộ Dung Bác hùng hồn chứng minh rằng sở dĩ mình hùng hồn phao vu cho Tiêu Viễn Sơn, chỉ vì muốn gây hiềm khích giữa Liêu Tống. Hai nước giao tranh, họ Mộ Dung mới có thể nhân cơ hội phục hưng nhà Yên.
Ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm, Mộ Dung Bác đề nghị với Tiêu Phong:
“- Nếu nhà Mộ Dung dựng cờ khởi nghĩa dấy quân vào cướp Sơn Đông, mà được Đại Liêu hưởng ứng, đồng thời mấy nước Thổ phồn, Đại Lý cùng Tây Hạ cũng đứng lên thì năm nước chúng ta chia cắt nhà Đại Tống không phải là chuyện khó. Nước Yên của tại hạ không dám động chạm đến một tấc đất của Đại Liêu. Nếu công cuộc phục hưng thành tựu thì chỉ lấy đất Nam triều. Vụ này rất có lợi cho Đại Liêu, sao Tiêu huynh lại không vui lòng cử sự?
Tiêu Phong nghiêm nghị nói:
– Mối đại thù giết mẹ đâu có thể đem ra làm chuyện mua bán? Báo được thù thì báo, cha con ta chịu chết nơi đây. Những chuyện tham lam hèn hạ, cha con họ Tiêu này đâu có thể làm được.
Mộ Dung Bác ngửa mặt lên trời cả cười rồi lớn tiếng nói:
– Ta thường nghe nói Tiêu Phong đại hiệp là tay anh hùng quán thế kiến thức phi thường. Dè đâu bữa nay mới thấy rõ y là kẻ không hiểu đại nghĩa mà chỉ sính cường theo cái dũng của kẻ thất phu. Ha ha! Thiệt là đáng tức cười.
Tiêu Phong biết lão dùng lời nói khích, lạnh lùng nói:
– Tiêu Phong là anh hùng hào kiệt cũng được mà là phàm phu tục tử cũng được, nhưng không thể để kẻ khác dùng làm cái bung xung cho thoả tâm nguyện của họ.
Mộ Dung Bác nói:
– Kẻ ăn lộc vua phải biết trung quân mà đại hiệp lại nghĩ đến tư cừu của cha mẹ, không đem lòng tận trung báo quốc, há chẳng bất nghĩa với Đại Liêu?
Tiêu Phong tiến lên một bước hiên ngang nói:
– Ngươi vừa mới nói ngoài biên cương hai nước Tống Liêu thù hận giết nhau gây nên thảm trạng. Ngươi đã thấy cảnh người Tống và người Liêu chia lìa vợ con nhà tan người chết rồi chớ gì? Hai nước Tống Liêu bãi cuộc binh đao mấy chục năm xâm lấn Nam triều, rồi sẽ có bao nhiêu người Tống phải phơi thây? Bao nhiêu người Liêu phải uổng mạng?
Cuộc chiến chinh thảm khốc trên thế gian này ai là người nắm chắc được phần thắng? Nhà Đại Tống binh nhiều lương đủ, chỉ cần mấy viên đại tướng hết sức chống cự thì nước Đại Liêu và nước Thổ Phồng có hợp lực chiến đấu mà thắng được cũng phải máu chảy thành sông, thây chất thành núi, để cho họ Mộ Dung nhà ngươi thừa cơ phục hưng Yên Quốc. Việc kiến công lập nghiệp cần phải giữ đất yên dân như thế sao?
Tiêu Phong nhìn con người như nhìn một sinh vật tối thượng không thể nhân danh bất cứ điều gì, đưa ra bất cứ chiêu bài nào để hành hạ huỷ diệt. Dù biên giới có là sông rộng nước chảy tràn hai bờ xa lạ hay là những ngọn núi chất ngất đi lại khó khăn, bên này Nhạn môn quan và bên kia Nhạn môn quan, Tiêu Phong chỉ thấy những người dân sống trọn vẹn liên kết với tình cha mẹ vợ chồng anh em láng giềng, hệ luỵ với đất đá cây cỏ ruộng nương. Ngược lại, Mộ Dung Bác chỉ xem con người như một phần tử của cộng đồng thuần nhất bởi nòi giống quyền lợi vì vậy chịu tất cả những áp lực của gánh nặng của áp lực tinh thần, siêu hình, kinh tế, văn hoá. Con người, theo Mộ Dung Bác chỉ xứng đáng tồn tại nếu chịu tuân theo những quy luật có lợi cho cộng đồng, thích hợp với guồng máy chung.
Những lời tâm huyết của Tiêu Phong đã thức tỉnh được phần nào Mộ Dung Bác, kẻ chỉ mới mơ ước vươn tới chiếc vương miện uy quyền. Mộ Dung Bác chưa mắc kẹt trong mê hồn trận của sức mạnh uy quyền, chưa đạt danh vọng nên có thể tha làm phúc. Nhưng Tiêu Phong đã thất bại khi muốn can gián một ông vua tại vị dấn mình vào cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cõi: Gia Luật Hồng Cơ.
Tiêu Phong không làm gì được để ngăn cản cuộc nam chinh của hoàng đế Đại Liêu, đành liều thân uy hiếp Hồng Cơ để bắt thề độc là từ nay về sau không bao giờ có ý định xua quân vượt qua Nhạn môn quan. Sau hành động tuyệt vọng ấy, Tiêu Phong chỉ còn một ngõ cụt: cái chết.
Đối với Đại Liêu, Tiêu Phong hết còn đất sống, vì đã dám bức bách hoàng đế. Đối với Đại Tống, trước sau ông cũng chỉ là một kẻ xa lạ không thể hoà đồng vào cuộc sống chung của Hán tộc. Kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xoá hết ranh giới nhỏ hẹp để sống theo tình người, kẻ muốn Nhạn môn quan hạ thấp và nâng cao thương yêu, liên đới nhân loại, không thể nào có đất đứng giữa xã hội này.
Ông chỉ còn có cách tự vẫn, để cho vó ngựa Khất đan không vượt qua ải. Ông đã thành công một cách tuyệt vọng:
“Vó ngựa lộp cộp vang lên một lúc, hàng vạn nhân mã nước Liêu vừa đi vừa ngoảnh cổ lại nhìn thi thể Tiêu Phong nằm thẳng dưới đất ra chiều thương cảm.
Trên vòm trời, tiếng chim líu lo gọi nhau. Một đàn hồng nhạn vượt qua đầu đoàn quân Liêu từ phía bắc xuống phía nam lại vượt qua bức tường thành Nhạn môn quan rồi bay mãi đi. Quân Liêu đi mỗi lúc một xa, tiếng vó ngựa dần dần biến thành những tiếng sấm rền khe khẽ phía sau núi.
Cuối cùng, vượt qua được biên giới quốc gia, chỉ có loài chim. Loài người hai chân dính chặt vào đất bùn lầy, lòng đầy thành kiến và hận thù, hai tay với mãi không tới được dự ước, làm sao ngông cuồng bắt chước Tiêu Phong?
Lục Mạch Thần Kiếm chấm dứt với tiếng thở dài của Kim Dung và lời ríu rít líu lo chế diễu của một loài chim.

NGUYỄN MỘNG GIÁC

Đêm trên thung lũng

nguyenmonggiac

Xin cảm tạ Mai Phương và Trần Viễn Phương về những kinh nghiệm sống ghi trên báo Đời.
Xin cảm tạ những người bạn đã từng tham dự vào trận Hạ Lào, và đã cung cấp cho tôi những chi tiết quí giá của cuộc giao tranh.
Xin viết tặng những người vừa là anh hùng vừa là tội đồ của cuộc chiến tương tàn.

1. LỜI KHAI CỦA BINH NHẤT CỦA.

Tôi tên là Nguyễn Của, binh nhất, số quân 69/506.632. Lý lịch chi tiết của tôi, quí vị dễ dàng tra cứu trong quân bạ. Tôi xin lấy danh dự một người lính chiến, hằng ngày chạm mặt với cái chết, xin lấy tình yêu của Trần thị Lan người tôi nguyện thương yêu suốt đời, và tính mệnh đứa con trai hai tuổi ( thằng bé Nguyễn Trần Cải ) để thề rằng tôi viết ra đây toàn sự thật :

… Tiểu đoàn chúng tôi hôm ấy được bỏ xuống một ngọn đồi trọc. Phía đông dốc thoai thoải còn ba phía kia dốc khá đứng, xuôi tuột xuống một thung lũng xanh già. Có lẽ mưa gió liên miên tháng năm đã xoi mòn đỉnh núi cao, mang đất cát mầu mỡ về miền hạ lưu, nên sườn đồi chỉ toàn một loại cây cằn thấp bé. Đã quen với công việc, chúng tôi lo hệ thống phòng thủ. Một toán lo đào những giao thông hào chi chít ngang dọc ngoằn ngoèo. Một toán lo di tản đạn dược để phòng bị pháo kích. Bấy giờ khoảng một giờ trưa. Trung đội tôi yểm trợ cho một trung đội khác đi chặt cây lớn làm xà ngang cho mái hầm. Phải chọn loại cây lớn nhất có thể tìm được, vì những cây đà nầy phải chịu đựng hàng thước đất dày. Có như vậy mới chịu nổi xuyên pháo 122 ly của cộng quân. Xa đỉnh đồi độ năm trăm thước, chúng tôi đã gặp dấu vết của địch. Đầu tiên là những ngọn cây đọt cỏ ngọt dấu dao, nhựa thơm còn ướt. Chen vào những đọt héo, vài đọt lá xanh. Dấu chân người dậm nát một khoảng đất lầy mầu cỏ úa, thường thường nấp sau một khóm lá tươi. Xa hơn chút nữa, một khoảng đường mới đắp còn in dấu vết xe vận tải. Bánh xe lún khá sâu trên nền đất cứng, chứng tỏ trọng tải nhiều. Một người bạn của tôi hớt hải chạy từ phía trước lại :

– Có dấu xe gì lạ lắm. Không phải bánh cao su. Lại đây xem.

Chúng tôi cẩn thận tiến lên, tay trỏ đặt sẵn trên lảy cò. Người bạn đi đầu len lỏi khéo léo giữa các nhánh cây sà thấp. Đến nơi, nhìn vết in trên đất, tôi biết chắc là vết tăng.

Tôi bảo :

– Không biết bộ chỉ huy biết chưa ? Địch dùng xe tăng ở chiến trường nầy.

Tin ấy làm cho các sĩ quan trầm ngâm. Những ngày sau việc bố phòng càng cẩn thận hơn. Giao thông hào đào thêm xuống đến triền đồi. Bãi mìn và bom lửa dày đặt. Số người xuất trại ít hơn, chỉ đi khi thật cần thiết. Tiểu đoàn lo gấp rút múc nước dự trử, chấm các tọa độ khả nghi trong trường hợp địch tấn công. Pháo của ta bắt đầu nổ quanh đồi khi dấu hiệu địch được các toán viễn thám phát giác không xa đơn vị mấy. Đôi khi sau một loạt pháo, có nhiều tiếng nổ phụ. Đôi khi là một cột khói đen đùn đùn vươn lên cao, nhập vào sắc mây ám.

Mức độ pháo kích và oanh tạc càng tăng khi dấu hiệu địch càng hiện gần. Không khí trong trại căng thẳng, khẩn trương. Tiếng bom B 52 ầm ầm liên hồi, vang vọng qua mấy chặng thung lũng như một trận giông chưa bao giờ có từ thủa khai thiên. Cobra khạc đạn giống như tiếng heo bị chọc tiết. Phản lực F4 gầm gừ, mỗi lần rú xé mây là một lần chớp lửa để dội tiếng ầm về đỉnh đồi, tung bay cát bụi lên những người lính đăm chiêu.

Tình trạng trên kéo dài suốt tuần lễ. Đến đầu tuần thứ nhì thì pháo của ta nổ ngay dưới chân đồi. Phản lực như cắm sâu xuống lòng hào, và chúng tôi vừa thấy chớp sáng đã nghe tiếng nổ xé.

Hôm ấy suốt ngày tạm yên, nghĩa là còn có thể đứng trong giao thông hào nhai gạo sấy và ruốc. Đến chín giờ tối, địch bắt đầu tấn công lên phía chúng tôi tử thủ. Bốn phương tám hướng đều có pháo địch rót về, nào 82 ly, nào sơn pháo 57 ly, đại liên 32 ly… Chúng tôi không có thì giờ ngóc đầu lên nổi. Nhưng qua khe mũ sắt và bờ hầm, ném nhìn xuống phía thung lũng đen, ánh lửa đom đóm chớp lòe. Tiếng địch xung phong từ dưới vọng lên, từng đợt tràn qua bãi mìn và lựu đạn bẩy. Mạn đông thoai thoải nên áp lực địch mạnh nhất. Chúng tôi ghìm cây súng bắn liên miên không cần nhắm ra phía trước. Một vài người bị đạn, rên la phía sau lưng. Một số đã nằm yên trong poncho. Tiếng xung phong của địch càng gần. Lệnh trên cho hệ thống mìn nổ. Claymore hướng xuống phía dưới, bật cháy các bom lửa. Ánh bom soi rõ từng đám địch lố nhố chạy lên, mỗi tên đều cầm thủ pháo. Từng xác ngã gục dưới ánh lửa đêm thủ pháo nổ tại chỗ.

Cobra và phản lực dập tắt dần các đợt xung phong và pháo kích. Trực thăng võ trang bắn như mưa bão xuống sau lưng địch, ngay dưới chân đồi. Mỗi lần bom đạn lóe sáng là một lần chiếu hắt ánh sáng xanh lên mặt mọi người, tô đậm không biết bao nhiêu đụn khói cuồn cuộn. Mãi đến gần khuya, áp lực của địch mới nhẹ dần. Tiếng súng thưa thớt. Bấy giờ chúng tôi mới cảm thấy đói cồn cào, húp vội mấy lon trái cây hộp hay nhai cơm sấy. Tiếng thương binh rên la rõ hơn, ma quái nhọc nhằn trong đêm rừng. Tôi vẫn đứng trong phòng tuyến chăm chăm nhìn xuống khoảng đêm phía trước. Mấy người bạn đến đọc tên những đứa đã vĩnh viễn nằm xuống, trong đó có trung sĩ Hạ, thượng sĩ Chất. Trung đội tôi có bảy người bị thương khá nặng, trừ năm người chết, số còn lại tiếp tục đứng chỗ cũ. Không ai nói với ai lời nào, gục đầu vào tường giao thông hào bập điếu thuốc. Bên ngoài trời rả rích mưa. Tôi nhớ nhà da diết. Em lo lấy quần áo vào kịp không hở Lan ? Có nhớ đắp mền lên ngực con không đấy ? Chúng tôi mệt quá không ngủ được, ở trong trạng thái lơ lửng giữa mê và tỉnh. Hạ sĩ Bền đập vai tôi :

– Tao nghe nói họ bỏ mình lên đây để nhử Việt cộng. Như cột dê bắt cọp đó.

Tôi ậm ừ, giả vờ ngủ gật. Bền bỏ lại chỗ cũ.

Tình trạng chiên đấu đẫm máu giống vậy kéo dằng dai hai ngày hai đêm. Chúng tôi vừa chợp mắt là đạn pháo kích lại dồn dập đánh thức dậy. Khi nào có trực thăng hay phản lực, B52, chúng tôi mới có thể tạm dừng bắn nghỉ ngơi chút ít để hút điếu thuốc thoa chút dầu nhai nắm cơm.

Sang tuần thứ ba có lệnh Đại Bàng cho rút quân sang cứ điểm bên cạnh. Sĩ quan đại đội trưởng họp trên bộ chỉ huy tiểu đoàn. Binh sĩ trông ngóng tin tức, lo âu về phương tiện di chuyển. Trung úy Hân về cho biết đại đội phải chận hậu cho các đại đội khác lui binh.

Đại đội một xuống đồi trước, thận trọng mở đường. Hai đại đội còn lại chia nhau khiêng poncho xác, băng ca thương binh nặng, cõng hoặc dìu các thương binh nhẹ. Ba lô quần áo và đồ đạc cồng kềnh bị quăng cả lại. Hầu hết anh em không nói gì, nhưng nhìn theo ngậm ngùi, băn khoăn. Cứ điểm mới cách đồi chỉ 3 cây số đường chim bay. Khi ba đại đội trước rút binh an toàn , phản lực và trực thăng võ trang sẽ yểm trợ, cho chúng tôi rút tiếp.

Tình trạng đại đội chúng tôi về sau quí vị đã xem báo và nghe đài phát thanh tường thuật nhiều lần. Đại khái là áp lực địch mạnh hơn, thời tiết lại xấu khiến không quân khó yểm trợ hữu hiệu. Do đó, chúng tôi không thể rút kịp theo tiểu đoàn như dự tính. Chúng tôi bị vây chặt, trong khi vòng phòng thủ không kiên cố như lúc đầu.

Đạn đủ loại của địch tiếp tục nổ trên đầu chúng tôi. Để ngăn chặn các đợt tấn công của địch, chúng tôi chỉ còn một bãi mìn mỏng và vũ khí cá nhân, đại liên. May mắn trong hai ngày kế tiếp B52 hoạt động mạnh và Cobra xạ kích hữu hiệu. Tuy vậy không lực chỉ có thể ngăn phủ đầu các toan tính xung phong tràn ngập đỉnh đồi, không thể làm tắt các họng pháo. Địch theo dõi chúng tôi bằng viễn kính. Bất cứ lúc nào chúng tôi nhô người lên khỏi giao thông hào là ít nhất có hai loạt đạn nhắm tới. Chúng tôi chỉ còn hy vọng ở trực thăng. Thương binh được băng bó sơ sài, nằm rên la lăn lộn trên đất vì băng ca đã đem đi hết. bạn tôi bị tươm cả đùi, cắn răng chịu đựng trong khi nước mắt sống chảy ròng ròng. Một vài người bạn bị lòi ruột băng không kỹ, ruột phồng căng khi thở. Hầu hết chúng tôi đều thất thần vì nhọc và mất ngủ, đó là chưa kể sự căng thẳng do tiếng la hét của các bạn bị thương.

Trung úy Hân lâu lâu dùng vô tuyến xin trực thăng tải thương. Sáng thứ ba hai chiếc bay đến sà vội vã, vừa đáp xuống một chiếc bị bắn cháy, một chiếc bốc đứng vụt lên. Lửa tỏa trên bãi đáp, hai phi công chạy nhanh vào giao thông hào, một xạ thủ bị kẹt trong phi cơ, một xạ thủ bị thương nằm trân giữa bãi. Chúng tôi biết hai hoa tiêu là Đại úy Hường và Trung úy Luyến. Đại úy hăng hái nói chuyện với trung úy Hân, rồi giật ống liên hợp gọi tới tấp. Cuối cùng ông ta bỏ mạnh ống xuống, ngồi thừ nhìn mông lung.

Chiều thứ ba hai chiếc Cobra và ba chiếc F4 đến oanh kích tàn nhẫn vùng quanh đồi. Một trực thăng tải thương nhân cơ hội từ trên cao chúi xuống đáp an toàn trên bãi. Có lẽ trực thăng đã báo trước cho trung úy Hân nên từ giao thông hào bên phải hai lính dù khiêng một thương binh chạy nhanh ra. Hai lính khác vừa khiêng một thương binh nữa ló ra khỏi hầm thì hàng tràng đạn pháo kích rơi dày trên bãi. Khói mù tỏa che lấp mấy người lính. Trực thăng vụt lên cao. Chúng tôi lo cho số phận họ may không ai việc gì chỉ trầy trụa sơ sài vì lăn trên sỏi cát. Trực thăng bay luôn không trở lại.

Tối thứ ba, chúng tôi nghe thấy lẫn trong tiếng súng lẻ tẻ có một thứ âm thanh khác lạ. Không hẳn là tiếng máy phi cơ. Cũng không hẳn là tiếng xe Molotova vận tải. Không ai nhận ra tiếng gì. Sáng hôm sau vừa tinh sương, trung úy Hân tập họp cho toàn thể anh em biết hai điều : một là có thể hôm nay địch tấn công đồi, hai là Đại Bàng cho biết không lực sẽ can thiệp mạnh để trực thăng có thể đáp xuống di chuyển hết thương binh, hoặc nếu được, toàn thể đại đội về.

Mọi người có vẻ mừng, hăng hái đi lo chuẩn bị chiến đấu. Đạn chất cao quanh hai cây đại liên. Trong các hào sâu bên trong, chỉ còn vài tiếng rên nhỏ, những thương binh nặng đều mê man không la hét nữa.

Cả hai điều trung úy báo trước đều đúng. Khoảng tám giờ, xe tăng địch rầm rập xuất hiện, quay súng lên chúng tôi. Rồi cứ lừ lừ tiến lên. Chúng tôi dùng súng chống chiến xa thụt xuống, nhiều quả trúng đích, nhưng xe tăng vẫn tiến. Địch tự thị núp sau xe xông lên đồi. Vừa lúc đó phản lực cơ, và trực thăng ào ạt bay đến, lồng lộn dữ dội. Tôi cảm phục tài ba các phi công F4. Napalm đốt cháy số lớn xe tăng địch và thả bom chận đứng các đợt sóng người núp sau xe.

Địch có lẽ đã núng, rút bớt vào thung lũng xanh đen. Áp lực pháo cũng dịu bớt. Tin vô tuyến báo cho biết sẽ có một trực thăng đáp xuống đồi. Đôi mắt mọi người rạng rỡ. Trung úy Hân ra lệnh cho toán tải thương sẵn sàng, bắt mọi người xuống hết dưới công sự để ngừa pháo kích lúc trực thăng đến. Phản lực vẫn nhào lộn trên khoảng rừng ngã đen thẫm, bom nổ chát chúa và khói vươn lên trùng trùng lớp lớp.

Chiếc phi cơ tải thương hạ thẳng xuống, máy quạt sàn sạt bốc bụi, một phi công chạy nhanh vào hào chúng tôi gọi to :

– Hường đâu ? Tao đến vớt mầy về. Còn chỗ cho vài thương binh.

Trung úy Hân chạy ra, kéo phi công vào hào trong. Hai người có vẻ tranh luận gay go, tay chân múa may. Một lúc sau trung úy ra lệnh bốn đứa chúng tôi khiêng thương binh ra bãi đáp, theo thứ tự ưu tiên xếp sẵn. Viên phi công mặt mày có vẻ bất mãn, đứng nói chuyện với phi hành đoàn trực thăng rơi hôm trước. Khi toán tải thương chúng tôi chuyển được đến người thứ chín thì pháo địch lại rơi dày trên bãi. Chúng tôi lăn mình núp dưới thân trực thăng, quên rằng đây là mục tiêu ngon lành của địch. Lúc ấy tôi không chú ý sự việc chung quanh diễn tiến ra sao. Tôi không hiểu viên phi công chạy ra lúc nào, và ba người bạn làm gì. Riêng tôi, đột nhiên tôi da diết nhớ vợ nhớ con. Tôi thèm được xa hẳn cái chốn hiểm nguy này, thèm được ôm Lan thật chặt, thèm nựng đôi má thơm của bé Cải. Khi trực thăng bốc lên tôi ôm đại cái càng. Hai người kia cũng làm vậy, một người khác chới với giữa bãi khói. Trực thăng lên vút khiến lưng tôi bị kéo mạnh về phía trước. Tôi gắng lấy hết sức ôm chặt. Vừa qua khỏi địa phận đồi, trực thăng bỗng nhiên nghiêng trái, quặt phải, nghếch lên, chúc xuống. Mỗi lần như vậy, sức giằng rứt tôi ra khỏi thân phi cơ. Gió lạnh cóng, hai tay và chân tê cứng. Tôi hãi hùng nghĩ đến cảnh rơi từ đám mây nầy…

Trực thăng quật mạnh sang trái, một người rú lên rồi rơi mất. Tôi chỉ nghe tiếng rú một thoáng, rồi gió tạt đi, đứt đoạn. Trực thăng rướn mạnh lên cao, một tiếng rú khác.

Lúc về đến bãi đáp hậu cứ, tôi không tin mình còn sống. Tôi đã gục đầu, ngồi ngay bên trực thăng và khóc nức nở…

2. LỜI KHAI CỦA TRUNG ÚY THỤC

Vâng, nếu quí vị giở lại quân bạ của tôi, trung úy phi công Lê Trịnh Thục quí vị sẽ thấy Hường là người bạn thân nhất của tôi. Trong khoảng hồ sơ đòi mỗi tân binh ghi rõ ba người bạn biết mình nhiều nhất, tôi đã ghi tên Nguyễn Hường lên hàng đầu. Không cần suy nghĩ. Hai người kia chỉ cốt lấp hai khoảng trống.

Chúng tôi cùng học chung với nhau từ thủa còn mài đũng quần trên băng trường trung học Chu văn An. Quê tôi ở Qui Nhơn, còn Hường người Bắc. Tôi chuyển từ trường Võ Tánh vào, dân ngụ. Còn Hường học Chu văn An từ mấy năm trước. Tính Hường lém lỉnh, hoạt bát, hơi xạo một chút, giống y mẫu người Bắc theo thành kiến dân Trung chúng tôi thường phác họa. Hường lại là dân cựu, nên biết hết các ngõ ngách tập tục của trường. Riêng tôi, đây là lần đầu bước chân vào thủ đô hoa lệ, hòn ngọc viễn đông. Lúc mới xách cái va li kẽm bước xuống nhà ga Sài Gòn, tôi bắt chóng mặt vì cảnh xe cộ ngược xuôi tấp nập và tiếng ồn ào. Tôi cảm thấy bơ vơ hơn, không biết phải ngủ đâu đêm nay. Ba tôi cho địa chỉ chú tám Bình, ở miệt Phú Nhuận. Tôi kêu taxi, họ từ chối không đi xa. Chịu đựng những lời hỗn láo thô tục của bác cyclo máy mãi cả giờ đồng hồ, tôi mới tìm ra địa chỉ nằm sâu trong hẽm ngoắt ngoéo, để người chủ nhà mở cửa cho biết chú Tám đã dọn đi nơi khác từ lâu. Chắc bấy giờ hình dáng tôi thảm não lắm, nên bác cyclo đổi thái độ, nổi từ tâm, rủ tôi về ở tạm đằng nhà ở bến Vân Đồn.

Bác tên Chín Đen, nhà cất trên vũng lầy ven sông dưới hãng thuốc lá. Khi nước rút, rác rưới bùn lầy tỏa mùi hôi thối, khiến tôi muốn ngạt thở. Lúc nước lên, không khí mát mẻ trong sạch hơn. Tôi điều đình với bác Chín gái, xin kê cái ghế bố ngủ ở chái ngoài mé sông, móc ngược cái xe đạp lên mái lá, kê sách lên giường ngồi bệt trên sàn gỗ để học, bác ăn gì tui ăn nấy. Giá tiền mỗi tháng là bảy trăm đồng.

Bác gái bằng lòng. Ngay hôm đầu, bác Chín hỏi :

– Biết nhậu không cháu ?

Tôi lắc đầu. Bác chê :

– Dở ẹt. Thời buổi nầy, trai vô tửu như kỳ vô phong.

Rồi kê tai tôi dặn nhỏ :

– Cháu ở nhà coi giùm, con mẽ có đi đánh bạc về mét bác.

Đến Chu văn An tôi cũng gặp những may mắn tương tự. Ngày đầu đến trường, tôi ngơ ngác không hiểu văn phòng nhận đơn chuyển trường ở đâu. Thấy một học sinh có vẻ khả ái tươi cười, đứng hút thuốc, nói chuyện huyên thiên với một đám ba bốn người bạn tôi rụt rè đến hỏi :

– Thưa anh, làm ơn chỉ giùm văn phòng nhận đơn ở chỗ nào ?

Cả bọn ngưng nói chuyện, chăm chăm nhìn tôi. Có lẽ bấy giờ tôi có vẻ quê mùa lắm. Người học sinh tôi vừa hỏi đứng ngay ngắn, nghiêm nghị vòng tay lễ phép :

– Thưa em, văn phòng ở lầu hai, ngay phòng đầu tiên bên trái đấy ạ.

Cả bọn ma cũ cười khả ố. Thấy vẻ bất mãn của tôi, Hường đâm ra hối, ân cần dẫn tôi lên văn phòng, đem giấy tờ vào đưa thẳng cho thầy giám học quen, và trong vòng mười lăm phút trở ra cho tôi biết hai đứa sẽ học đệ nhất B sáu, thời khóa biểu thế nầy thế nầy…

Chúng tôi ngồi ở cuối lớp, thuộc xóm nhà lá. Lý do : Hường hay nghịch sợ ngồi đầu bàn giáo sư dễ để ý, còn tôi mang đầy mặc cảm dân ngụ. Có lẽ còn một lý do khác nữa, lý do kỹ thuật : tôi dốt toán nhưng khá sinh ngữ triết lý, còn Hường dốt sinh ngữ lười nhai triết nhưng lại cừ khôi về toán. Đó là chưa kể thứ tình bạn bè càng ngày càng gắn chặt cuộc đời hai đứa. Cuối năm ấy, cả hai đều thi hỏng khóa đầu, tôi vì làm không ra bài toán và Hường vì đã nguệch ngoạc những dòng triết lý bí hiểm đến độ giám khảo cho rằng thí sinh cố ý hỗn xược phỉ báng thứ khoa học của tất cả mọi loại khoa học. Tôi qua nhà Hường học suốt mấy tháng hè, khóa hai cả hai đứa đều đậu bình thứ. Đậu xong, các trường cao đẳng chuyên nghiệp đều đã thi tuyển, nên chúng tôi không biết làm gì hơn là vác hồ sơ ghi danh MPC. Bất cứ ở đâu, Hường luôn luôn đóng vai trò anh cả : chen chúc cả buổi để xin đơn ở khoa học, lấn đến đứt hết nút áo mồ hôi mồ kê để nộp lệ phí trên viện, đi sớm thật sớm để giành chỗ ngồi trong giảng đường. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy bơ vơ, như bị đánh lừa, khi bước chân vào Đại học. Tôi vốn không khá toán lắm, lên Đại học lại càng vất vả. Hường dốt sinh ngữ, đọc mãi một tờ “cua” tiếng Pháp chỉ hiểu lờ mờ, huống hồ là nghe một giảng sư người Việt giảng tiếng Pháp cho sinh viên Việt. Cuối năm, chúng tôi không cần đi coi bảng cũng biết kết quả.

Năm sau tôi chạy qua Dự bị Văn khoa còn Hường sợ sinh ngữ trôi giạt về trường Luật. Tuy vậy chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhiều hôm bỏ học la cà trên phố, lang thang suốt ngày không biết làm gì, hút liên miên hết điếu thuốc này sang điếu khác. Đó là thời kỳ Hường đổi tính, hết cả hăm hở và hoạt bát. Hường đâm mê thi ca, triết lý, ông ổng ngâm mãi mấy câu của Nguyễn Trãi :

…Đã buồn vì ngọn mưa rào.
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông.
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng.
Chiếc thuyền hờ hững trên sông một mình.

Cuối niên khóa, Hường lại hỏng Luật I, còn tôi tuy đậu dự bị nhưng quá thất vọng về mọi thứ văn chương trường ốc. Do đó, chúng tôi mới rủ nhau vào không quân.

Mất đi một thiên thần hộ mệnh, tôi vất vả nhiều trong binh nghiệp, chuyên ở những chỗ xấu và bị cấp trên trù. Hường lên đại úy, tôi vẫn trung úy. Hường khá bằng lòng với đời sống nhà binh. Hường viết thư cho tôi :

– Mày biết không. Tao vừa khám phá ra một thứ triết lý. Trên đời, chỉ có hai loại người thực sự hạnh phúc : tu sĩ và quân nhân. Cứ cuối đầu tuân theo thánh ý và lệnh thượng cấp, không thắc mắc băn khoăn gì hết. Cuộc sống trở nên đơn giản trong sáng. Mày nên noi gương tao.

Có lẽ, Hường đã tìm ra chân lý thật. Trong các bức thư gửi tôi, giọng Hường yêu đời. Hường tha thiết yêu một thiếu nữ miền Nam, và dành cả một bức thư dài tám trang để tả cho tôi thấy hết vẻ đẹp đôi môi giai nhân khi nói : Ngộ quá héng.

Tôi mong được như Hường. Nhưng không thể!

Cuộc chiến ngoắc ngoéo xếp đặt cho tôi gặp lại Hường trong cuộc hành quân nầy. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cảm động quá không biết nên nói gì. Hường yêu đời nên trẻ hẳn, từ cử chỉ lời nói y phục đều ngay ngắn thứ tự, cái thứ tự của người có vợ. Tôi bị chê già trước tuổi. Chúng tôi ở chung với nhau một phòng trong căn cứ, và cố xếp đặt để bay chung trong một phi đội.

Khung cảnh ở đây làm chúng tôi khó chịu. Thiếu hẳn màu xanh, mà dư nỗi trống trải đìu hiu. Sự rộn rịp chát chúa. Bãi đáp luôn luôn ngùn ngụt cát bụi, hơi không khí nóng bỏng, khét lẹt. Trực thăng lểu nghểu trên khắp bãi đáp. Phi công Mỹ có vẻ uể oải, chưa có kinh nghiệm nhiều trên chiến trường nầy. Cả chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi đã quen với những cánh đồng bát ngát chằng chịt mương rạch, từ trên cao có thể nhìn thấu được suốt hai ba tỉnh kế cận. Chúng tôi đã thuộc lòng từng con sông nước đục, từng nhánh lạch nhỏ cong queo như những cộng rêu héo trên thảm xanh non, từng cụm cây mọc là trên mặt nước thường là ổ ngụy trang của các khẩu 37 ly, từng khoảng cỏ cao lá lã quị xuống run rẩy mỗi lần đổ quân.

Ở chiến trường nầy, mọi sự hoàn toàn đổi khác. Núi lúc nào cũng muốn vươn lên ôm lấy hai càng, và vực sâu luôn luôn chờ đợi. Từ buồn lái nhìn xuống, một bên là những thung lũng xanh già mây giăng ngút ngàn chỉ hé lộ những đáy sâu thăm thẳm, quay nhìn bên kia sườn núi án ngữ ngay trước mặt, sừng sững vòi vọi, rõ ràng từng cành cây khóm lá. Trực thăng phải bay nghiêng nghiêng trườn lên cao cao mãi, và tầm mắt không thể nào trải dài trên một khoảng rộng bao la, đàng giới hạn giữa hai đỉnh núi.

Chúng tôi phải kiên nhẫn len lỏi theo các sườn núi quanh co, cố gắng cua qua quẹo lại lượn lờ ven khoảng mây để khỏi va vào đỉnh cao hay rơi xuống vực sâu. Lúc chiến trường chưa sôi động, tôi và Hường cứ đều đều chuyển quân và vũ khí như vậy từ hậu cứ đến các cứ điểm trấn thủ, từ bảy giờ sáng cho đến chiều tối.

Nhưng càng ngày hỏa lực địch càng mạnh, các phi vụ trở nên khó khăn. Chúng tôi vừa xuất hiện là đạn địch bắn lên như mưa : 37 ly, 50 ly, 23 ly. Bay cao trở thành nguy hiểm, nên chúng tôi áp dụng chiến thuật bay thật thấp ngay trên ngọn cây rừng, lướt sát theo các dốc núi. Thà để thân tàu lỗ chỗ dấu đạn AK còn hơn giơ bụng nhận đạn 37 ly. Với lối bay giỡn mặt với vũ trụ đó, nếu không lanh tay lẹ mắt như một nhà ảo thuật, chúng tôi đã tự đè bẹp thân xác vào vách đá núi. Vừa vụt qua một khóm kiến lửa nguy hiểm, chúng tôi chúi đầu vào một khoảng mây mù. Chưa kịp định kiến, sườn núi đen đã lù lù trước mặt…

Tuy thế, khó nhất là lúc đáp xuống. Pháo địch đã điều chỉnh sẵn tọa độ bãi đáp. Vừa hạ xuống, đạn địch chụp lên tơi bời.

Trung úy Hiển ở phòng bên cạnh tản thương, vừa đáp xuống, khiêng được một thương binh lên thì địch pháo kích dữ dội. Phải bay nhanh lên nhờ Gunship làm im súng địch rồi mới hạ trở lại. Chờ mãi không được, Hiển chỉ chở được một binh dù cụt chân về đây. Tôi dài dòng nói đến những khó khăn của không quân, để quí ông thấy chúng tôi cần những phi công kinh nghiệm biết chừng nào.

Bây giờ xin nói đến điểm các ông muốn hỏi.

Hôm ấy là thứ ba. Tôi và Hường có phận sự đến đồi 17 tải thương. Chúng tôi bàn định cách bay. Từ hậu cứ đến đó, phải bay sát trên ngọn cây để tránh các ổ phòng không đặt trên các đỉnh núi. Nhưng đến cứ điểm 17, làm thế nào xuống được an toàn và bay an toàn? Hường đề nghị đáp theo lối cũ. Chúng tôi đồng ý với nhau qua vô tuyến, rồi liên lạc với Cobra xin oanh kích thật gắt để tụi nó lo núp không pháo kích lúc hạ cánh lúc hạ cánh. Chúng tôi kéo cho trực thăng vút lên cao, rồi Hường cho nhào thẳng xuống trước. Pháo địch từ trước đến giờ im tiếng, tự nhiên nổ ran. Tôi thấy trực thăng của Hường có vẻ lắc lư chòng chành. Hường họi tôi :

– Tao bị rồi. gãy đuôi.

Trực thăng của Hường bốc cháy khi rơi trên bãi. Bóng Hường và Luyến chạy vụt bên dưới, tiến tới phía mấy mô đất đỏ. Lửa dưới trực thăng bỗng chớp sáng bùng lớn lên, khói đen bốc dần lên gần. Không còn cách nào nữa. Tôi gọi phi cơ trinh sát :

– Sao tụi nó bắn dữ quá vậy? Tôi xuống được không?

OV 10 bảo thời tiết xấu, Mỹ chỉ yểm trợ ít phi cơ võ trang, không đủ làm nghẹn hết mọi họng pháo. Hôm đó, tôi đành quay về. Vậy là Hường kẹt lại đồi 17.

Chiều hôm ấy về phòng, quân bưu có mang đến hai lá thư của vợ Hường. Tôi sợ căn phòng trống trải, bỏ ra phố. Tôi gọi rượu nốc hết hết ly này đến ly khác. Hình như tôi có đập lộn với mấy thằng Mỹ đòi độc quyền gái. Hình như tôi bị quân cảnh xúc đem về đồn. Tôi nói hình như vì sáng hôm sau thấy mình vẫn còn trong trại, soi gương chỉ thấy vài vết bầm trên mặt. Hai lá thư của vợ Hường làm tôi nôn nao. Tôi chạy ra bộ chỉ huy, tình nguyện trở lại đồi 17. Lời tôi yêu cầu phù hợp với kế hoạch tải thương tiếp vận ngày thứ tư, sẽ có hai chiếc đáp xuống đồi 17. Tôi một chiếc. Trung úy Lạng một chiếc. Đại úy Tín đi với OV 10 của Mỹ hướng dẫn Coibra và phản lực oanh kích. Hôm ấy thời tiết tốt, không lực Mỹ yểm trợ tối đa. Phản lực sẽ xới nát vùng thung lũng chung quanh, vãi đạn tàn nhẫn để xạ thủ địch không có thì giờ câu pháo vào bãi đáp. Trong lúc ấy, tôi và Lạng sẽ hạ xuống đem thương binh và Hường Luyến về. Lúc ra đi Trung tá dặn :

– Cậu rán đem tụi nó về, cử cậu đi vụ nầy là phải nhất. Đừng để cho chim kẹt dí dưới đất.

Gần đến 17, Lạng bị bắn rát, máy trục trặc phải lết rán đến đồi 19. Chỉ còn có tôi đến 17.

Như lần trước, tôi kéo trực thăng vút lên cao, rồi tắt hết tay ga cho phi cơ rơi như chiếc lá, đến gần sát mặt đất mới điều khiển cho phi cơ vào bãi đáp. F4 nhào lộn chung quanh. Thấy đáp được dễ dàng, lại không bị pháo kích, tôi ngạc nhiên. Tín vừa báo cho biết nên cẩn thận, địch vừa dùng xe tăng cảm tử xung phong lên đồi nửa giờ trước. Thực vậy, vì bận lo đáp tôi chỉ thấy những cột khói nghi ngút dưới thung lũng, quên suy luận xem có gì vừa xảy ra.

Mặc kệ, tôi để cho trực thăng sẵn sàng, nhảy xuống sân chạy vào giao thông hào. Tôi hớt hải gọi Hường. Tên chỉ huy dù chạy lại kéo vào hào trung ương. Vừa lúc ấy Hường và Luyến cũng đến. Hường mừng :

– Mày đến được thật tài. Tụi tao về chuyến này chứ ?

– Ừ, còn chỗ tải thương. Vợ mày mới gửi thư ra.

– Trời, sao không mang cho tao?

– Chiều về đọc. Rõ lẩm cẩm. Nhanh lên.

Bấy giờ viên trung úy dù mới nói, giọng lạnh như dao chém :

– Các ông ở lại đây. Phải dành ưu tiên cho thương binh.

Tôi cãi lại :

– Lệnh của không đoàn là cho các hoa tiêu về. Sau mới đến thương binh.

– Tôi chỉ huy ở đây. Chính tôi mới có quyền quyết định. Các ông mạnh khỏe. Phải nhường chỗ cho những người cần cấp cứu. Họ sắp chết nếu không được giải phẫu, tiếp huyết.

Hường và Luyến không nói. Tôi bảo :

– Chính vì cần tản thương gấp nên phải cho hoa tiêu về trước. Chúng tôi cần những hoa tiêu giỏi để tránh được hỏa lực địch._

Viên chỉ huy dằn giọng :

– Không có thời giờ cãi vã nữa. Địch vừa định xung phong lên đây. Các ông còn có thể cầm súng chiến đấu. Các ông không thể bỏ về. Anh em dù sẽ bảo là các ông trốn.

Bây giờ Hường mới nói :

– Thôi, chờ chuyến sau đi Thục. Trung úy cho toán tải thương làm việc nhanh nhanh lên. Mai mốt nhớ mang thư cho tao.

Tôi lớ ngớ không biết phải làm thế nào. Toán tải thương đã khiêng thương binh ra gần đủ. Tôi chạy ra sân không nhìn lại phía sau. Bấy giờ súng địch tự nhiên nổ ran. Có quả đạn rơi ngay phía trước buồng lái. Không chần chờ gì nữa, tôi leo lên cho ngay trực thăng bốc thẳng khỏi vòng nguy hiểm. Tôi không còn đủ bình tĩnh nhìn về phía giao thông hào, cũng không đủ bình tĩnh để ghi nhận sự kiện lạ : Tự nhiên F4 bỏ đi hết để địch có thể pháo kích bãi đáp trở lại.

Trong trường hợp nguy hiểm như bấy giờ, tất cả mọi phi công đều áp dụng một lối bay độc nhất : tránh theo một phi đạo nhất định. Tôi cho trực thăng vừa bay thẳng tới trước, vừa nghếch đầu chếch lên không, vừa quặt mạnh về phía trái. Cho nên trực thăng phải chòng chành.

Nhờ ơn trời, tôi đã mang được chín thương binh về hậu cứ bình yên. Xin lỗi, mười chứ không phải chín, vì khi đáp xuống, tôi mới biết có người đeo cứng dưới hai càng.


3. LỜI KHAI CỦA ĐẠI ÚY TÍN

Tôi hoàn toàn không biết gì về trung úy Thục, ngoài phi vụ yểm trợ tản thương hôm ấy. Cho nên tôi chỉ khai những việc xảy ra từ sáng thứ tư mà thôi.

Tôi được lệnh trình diện gấp tại phòng thuyết trình hành quân. Lúc tôi vào, hầu như tất cả những người cần thiết đều đủ mặt. Tôi ngồi bên cạnh trung úy Thục. Dáng người cao lớn, vạm vỡ, nước da nâu, tóc cắt kiểu bàn chải. Đôi mắt của trung úy làm tôi chú ý nhất. Sâu, sáng, buồn,cái vẻ khổ não u uất như thường xuyên hiện ra ở đó.

Đôi mắt đặc biệt nầy làm tôi có cảm tình ngay với ông từ lúc đầu. Chúng chứng tỏ sự xúc động vô cùng của ông trước hình ảnh chiến cuộc diễn đều hằng ngày trên bãi đáp. Chúng tôi vẫn thường gọi đó là hai chuyến khứ hồi : chuyến khứ mang anh em từ Nam ra : mạnh khỏe, hăng hái, tươi cười, băng năng bô hô như gà mắc đẻ; chuyến hồi mang anh em từ phương Tây về : hốc hác mệt mỏi, dãy dụa rên la trên băng ca hay nằm yên trong poncho.

Tôi càng cảm phục trung úy Thục hơn khi biết ông tự nguyện xung phong thi hành phi xuất nầy. Chúng tôi ở hậu cứ, được đọc nhiều nhật báo tuần báo tiếng Việt, tiếng Mỹ, nên biết tình hình hiện không thuận lợi mấy. Đồi 17 đang bị nặng, đại đội tử thủ đang kêu cứu và chưa biết sẽ bị tràn ngập lúc nào. Đồi 19 đang bị đe dọa. Thời tiết lại xấu. Phi công Mỹ có vẻ e ngại thi hành những phi vụ quá sức hiểm nghèo, nhất là sau lúc họ vẽ nguệch ngoạc khẩu hiệu “Peace now. Make love nót war” trên hông trực thăng.

Kế hoạch hành quân khá tỉ mỉ, chắc chắn thành công. Tôi ngồi OV 10 của Mỹ để hướng dẫn F4 và phi cơ trực thăng võ trang oanh kích. Nếu cần, có thể gọi pháo binh yểm trợ. Mục tiêu hành quân là ngăn chận cuộc tấn công chiếm đồi 17 của địch, cứu thoát phi hành đoàn bị kẹt hôm trước và tải thương. Qua một vài câu ngắn tôi biết một đại úy bị kẹt trên đồi 17 là bạn thân của Thục. Tôi cảm phục ông hơn.

Chiếc OV 10 lượn qua chao lại như con diều trên không phần đồi 17. Tôi ghi nhận các mục tiêu có thể ẩn dấu xe tăng và trọng pháo địch, quan sát mọi phương để dự đoán hướng tấn công. Mạn đông nguy hiểm nhất vì dốc thoai thoải. Sâu phía dưới cây cối um tùm, lại thêm mấy quả đồi rậm nhìn thằng vào bãi đáp. Tôi gọi F4 thả bom các chỗ khả nghi. Lúc 8 giờ, địch dưới đất bắt đầu tấn công. Các chiếc PT 76 lừ đừ bò khỏi rừng rậm leo lên sườn đồi. Hoa tiêu Mỹ chúi đầu bắn một hỏa tiển khói ngay bên cạnh chiếc xe tăng. F4 nhào xuống, napalm trúng ngay mục tiêu. Khói lửa tỏa mù bên dưới. Địch chạy túa ra chung quanh, giạt xuống chân đồi. Mấy chiếc F4 khác dùng bom bươm bướm thả phủ xuống đàn kiến di động tơi tả, hoặc cày nát đỉnh đồi thấp và khoảng thung lũng rậm.

Hỏa lực ào ạt khủng khiếp ấy làm địch im tiếng súng. Bấy giờ trực thăng trung úy Thục cũng vừa đến. Tôi gọi cho Thục :

– Cậu coi chừng. Tụi nó vừa tấn công xong. Pháo của địch còn mạnh lắm.

Thục cảm ơn, hỏi ý kiến về an ninh bãi đáp. Tôi bảo :

– Các ổ pháo trên hai ngọn đồi thấp vừa im tiếng. Không biết đã thực sự nghẹn chưa. Tốt hơn hết, cậu đáp theo kiểu lá vàng rơi.

Thực đồng ý, bắt đầu cho chúi xuống. Tôi điều khiển các chiếc F4 và Cobra bắn rát hơn vào phía thung lũng và hai đỉnh đồi đối diện. Thục đáp an toàn. Không thấy có pháo địch, chỉ còn những tiếng bom nổ dòn và các đụn khói dâng cao đây đó trên thảm xanh đậm của rừng.

Bỗng trên tầng số cấp cứu có tiếng một phi công Hoa Kỳ :

– Tôi bị rồi. Phi cơ sắp cháy. Tôi nhảy dù đây.

Nhìn sang phía phải, một chiếc F4 bốc khói đằng đuôi, và hai chiếc dù trắng đỏ vừa nở. Tôi gọi cho mấy chiếc F4 :

– Coi chừng hai đỉnh đồi, có thể pháo địch chưa im hẳn đâu. Làm ơn oanh kích rát hơn nữa.

Nhưng lần lượt tất cả mấy chiếc phản lực bay về phía hai cái dù. Hốt hoảng, tôi nói với viên hoa tiêu OV 10 :

– Thôi, để tụi F4 lo. Mầy với tao ở lại điều khiển Cobra.

Chiếc OV 10 bỗng nâng hẳn lên nghiêng mình bay theo mấy chiếc F4. Tôi nói với viên hoa tiêu :

– Làm ơn quay lại đi. Địch có thể tấn công trở lại. Làm ơn chút.

Tôi ràn rụa nước mắt. Nhìn ngoái lại đằng sau, pháo địch bắt đầu nổ trắng trong khi trực thăng của Thục nghiêng ngã chòng chành lánh xa. Đúng như các ông hỏi, dưới bụng trực thăng có mấy người ôm cứng hai càng.

Chúng tôi về căn cứ khoảng bốn giờ. Thục đã về trước đó ít lâu. Anh em trong căn cứ bàn tán xôn xao về những tiếng kêu cứu vô vọng cuối cùng của đồi 17, về cái chết chắc chắn của Hường trên ngọn đồi bị tràn ngập, về giọng nức nở của người lính ôm càng trực thăng về được đến đây. Tại câu lạc bộ, tôi gặp Thục đang ôm đầu ủ rũ, mắt đỏ sưng.

Thục nói bâng quơ :

– Không biết nó chết hay nó bị bắt.

Tôi im lặng, hiểu rõ Thục đang nói đến ai. Đột nhiên Thục hỏi tôi :

– Giá sử anh ở trong trường hợp nầy, anh xử trí ra sao :

Anh đang lái một chiếc xe đầy nhóc anh em bạn bè. Xe chạy ngon trớn. Đột nhiên anh thấy trước xe có một thằng bé chạy ra giữa lộ. Phanh gắt, xe sẽ lật. Lái tránh sang mé đường chín mươi phần trăm chắc chắn là xe sẽ xuống hố. Anh sẽ làm gì ?

– Cán bừa. Vì không thể tránh được nữa.

Thục nói :

– Tôi ước được như anh. Tôi đã rồ ga cán bừa, nhưng ngay sau đó, lại hối hận tự hỏi sao không đưa chân dậm thắng. Biết đâu trong mười phần trăm còn lại, đứa bé sẽ sống.

Hôm sau, Thục len lỏi ngược xuôi hỏi dò tên hai người lính rơi trực thăng. Thục hỏi kỹ cả gia cảnh họ.

Cả ngày và suốt đêm ấy, Thục không về trại.

Tôi chỉ biết có bấy nhiêu, và viết hết bấy nhiêu.

Nguyễn Mộng Giác
Bách Khoa số 348, 1-7-1971
(Qui Nhơn, tháng 4-71.)

Nỗi cô đơn lớn lao của Mai Thảo

nguyenmonggiac

Sau nhiều tháng bệnh nặng, sức khoẻ suy nhược dần như ngọn đèn hết dầu, nhà văn Mai Thảo đã vĩnh biệt tất cả bạn bè chúng ta hồi ba giờ sáng ngày 10 tháng 1 năm 1998. Tuy mọi người đều chờ tin buồn này với tất cả sự bất lực tuyệt vọng như chờ một định mệnh không thể tránh được, tin buồn vẫn gây một xúc động lớn lao trong văn giới hải ngoại. Bạn bè bốn phương đổ về Quận Cam đưa nhà văn Mai Thảo đến nơi an nghĩ cuối cùng, một nghĩa trang nằm cạnh con đường Bolsa chạy xuyên qua khu trung tâm của Little Sài gòn. Từ đây hằng ngày Mai Thảo vẫn có thể trông thấy bạn bè của mình qua lại trên con đường tấp nập có nhiều đồng hương qua lại, và ở bên kia thế giới, chắc anh vẫn mỉm cười nhìn đám bạn bè cũ tất tả lo toan cho cuộc mưu sinh với nụ cười hiền lành và ánh mắt ân cần quen thuộc của gương mặt anh.

Những người bạn không có cơ hội thăm viếng Mai Thảo trong những tháng bệnh cuối cùng, hôm viếng anh lần cuối ở nhà quàng, đều ngỡ ngàng không nhận ra anh. Ngày thường, khuôn mặt anh dài, nghiêm trang ít nói, và điềm tĩnh trong tất cả mọi tình huống. Hôm cuối, khuôn mặt anh choắt lại, như khuôn mặt một đứa bé. Tôi đã nghe nhiều lời thì thào trong tiếng nức nở: “Anh Mai Thảo đây ư?”
Hôm cùng với chị Trần thị Lai Hồng và chị Bùi Bích Hà lên thăm anh tại bệnh viện Barlow ngoại ô Los Angeles, chúng tôi cũng đã thốt lên câu hỏi ấy. Chúng tôi không nhận ra anh nữa. Chị Bùi Bích Hà nghĩ là chúng tôi đã vào lộn phòng. Chị Lai Hồng trỏ vào tấm bảng ghi tên bệnh nhân QUY NGUYEN, chúng tôi mới dám chắc người nằm đó là Mai Thảo. Cô y tá người Hoa đang bơm thực phẩm vào dạ dày anh, và anh thở bằng hai ống ni-lông nối vào bình dưỡng khí. Anh đã không thế tự sống được bằng hoạt động của chính cơ thể mình. Anh sống bằng máy. Cô y tá cố gắng tập cho hai chân anh co lên co xuống để khỏi tê liệt nhưng anh không cử động đôi chân được. Cô y tá khuyến khích bảo gắng tập cho đôi chân cử động bình thường để cô chuyển anh lên xe lăn đẩy ra hành lang ngắm cây cối xanh tươi chung quanh bệnh viện cho đỡ buồn. Anh lắc đầu. Cô y tá cũng lắc đầu, mang vào chân anh hai chiếc tất nĩ để gót chân khỏi bị nhiễm trùng tạo ra vết lở ở gót. Cô rời phòng, nét mặt thôi không còn buồn rầu thất vọng mà hớn hở vui mừng sau khi chị Bùi Bích Hà cho biết bệnh nhân của cô là một nhà văn tiếng tăm của Việt Nam. Chữ nghĩa, văn chương, trong những hoàn cảnh bất ngờ nhất, ít ra cũng giúp cho những người khổ sở vì nó một niềm an ủi nhỏ nhoi!

Anh Mai Thảo nhận diện được tất cả chúng tôi. Do dụng cụ hô hấp gắn ở mũi và cổ họng, anh không nói được, anh ra dấu cho chị Lai Hồng bảo đem bút và giấy cho anh bút đàm. Chúng tôi mừng vì đôi tay anh vẫn có thể cử động tuy yếu ớt. Và đôi mắt anh, tuy mỏi mệt, vẫn còn có thể phát ra ánh vui. Anh viết lên tập giấy hai câu:

“Cảm ơn đã vào thăm.”
” Xin lỗi bị đau nặng chưa nói được.”

Chúng tôi lặng người sau khi đọc hai câu anh viết. Cảm ơn! Xin lỗi! Đáng lẽ tất cả chúng tôi, tất cả bạn bè và độc giả của anh phải “cảm ơn” và “xin lỗi” anh, chứ không phải anh thốt ra hai tiếng đó. Chúng tôi lúng túng không biết phải làm gì để cho anh hồi phục, lúng túng vì dù không có kiến thức y khoa, chúng tôi đều cảm thấy anh đang đi trên con đường một chiều, không còn cơ may nào quay trở lại đời sống bình thường như trước. Chị Lai Hồng vừa kể chuyện đời sống mới của chị ở Florida vùa xoa bóp hai ống chân và cánh tay anh. Tất cả chỉ còn xương bọc da. Trên toàn thân, trừ hai tay, đôi mắt là còn sự sống, tất cả đều bất động. Trong khi đầu óc anh vẫn hết sức tinh tường. Hai câu anh viết , với cái gạch ngang ở đầu dòng, với những lời lẽ được lựa chọn thích hợp và chính xác, vẫn còn đầy đủ tính cẩn trọng cần thiết của một người suốt đời trân trọng và tin tưởng ở sức mạnh của ngôn ngữ. Vẫn còn đầy đủ sự trân trọng của anh đối với bạn bè, không phân biệt tuổi tác, tính tình, tài năng, học thức. Bất cứ ai yêu văn chương đều là bạn anh, đều được anh xem là tâm giao vì đã sống hết mình trong “cõi viết”, và theo anh, như thế họ “đã là”. Tôi nghĩ suốt thời gian anh nằm một mình trong các bệnh viện vào giai đoạn cuối đời, ngay cả thời gian anh còn ở căn phòng chung cư sau quán Song Long nằm suốt ngày trên giường vì đôi chân quá yếu, sự đau khổ nhất của Mai Thảo là trí óc minh mẫn trong khi thân thể ngày càng bất lực. Nhớ bài thơ bệnh anh làm khi chưa thật sự bệnh:

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Bảo nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho.

Như thế nghĩa là từ lâu lắm, từ hơn mười năm trước khi “cơ thể gây thành chuyện lớn”, anh đã tiên liệu cái ngày trí óc anh và cơ thể anh không đi cùng một con đường. Phải chăng đây là cái mâu thuẫn lớn nhất trong cuộc đời đầy mâu thuẫn của anh?

Đám tang của nhà văn Mai Thảo qui tụ hầu hết những người bạn thực sự yêu thương quí trọng anh, và nếu nhìn một vòng những người đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng, chúng ta thấy họ thuộc đủ mọi thành phần. Họ khác biệt nhau về tuổi tác, sở thích, tính tình, học thức, nghề nghiệp… Có thể ngoài niềm đau chung là cái chết của Mai Thảo, họ không có gì để nói với nhau. Mai Thảo là một người có nhiều bạn. Anh sống hết mình với bạn, ân cần lo lắng cho bạn. Nói như thế không có nghĩa là anh coi tất cả những người anh gặp trên đường đời là bạn. Anh có một tiêu chuẩn kết bạn khá lạ lùng, đôi khi cực đoan và phi lý. Chẳng hạn trong văn giới, anh thường phân biệt những người “bạn văn” của anh với những người anh liệt vào hạng “ngoại đạo”. Tiêu chuẩn ấy không dựa vào tài năng, vào giá trị tác phẩm của người viết. Cũng không dựa vào vị trí xã hội của họ. Bằng cách định giá của riêng anh, Mai Thảo liệt vào hàng “ngoại đạo” tất cả những người (theo anh nghĩ) không xem văn chương là lẽ sống duy nhất trong đời, những người đầu tư tâm lực của mình vào một ngành hoạt động khác nhưng lâu lâu nhảy vào văn chương như một thú giải trí cuối tuần. Cũng có lúc anh nới rộng tiêu chuẩn ngoại đạo này, xét cả đến cách sống. Anh không mấy ưa cách sống ngăn nắp sáng vác ô đi tối vác về của giới công chức, và cảm thấy dễ thân thiết gần gũi hơn với giới nghệ sĩ trình diễn sống không theo khuôn phép khắc khe của guồng máy xã hội. Một khi đã nhận ai là người “trong đạo”, Mai Thảo cư xử hết sức chân thành với họ. Ngược lại, anh dửng dưng (và đôi khi còn cay nghiệt nữa) đối với những người bị liệt vào hàng ngoại đạo. Khuynh hướng định giá bạn bè theo lối ấy, theo tôi, đã làm nẩy sinh những tình cảm yêu ghét cực đoan về Mai Thảo. Làm nẩy sinh một hiện tượng trong văn học Miền Nam trước 1975 mà nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, khi trả lời phỏng vấn của Đài RFI, gọi là hiện tượng “thiết triều”. Những nhà nghiên cứu phê bình văn học sau này có thể không đồng ý với nhau về văn chương Mai Thảo và ảnh hưởng thực sự của nhóm Sáng Tạo đối với văn học Miền Nam, nhưng trong sinh hoạt văn hóa của Miền Nam suốt hai mươi năm (1955-1975), không ai có thể phủ nhận được ảnh hưởng lớn lao của Mai Thảo. Anh gây thành một phong trào viết óng ả chải chuốt như lối viết của anh, lối viết đó lan sang giới truyền thanh qua những lời giới thiệu bài hát, chương trình Tao đàn, và cho tới bây giờ, đã trở thành cái nếp không thể bỏ được, làm nhịp cầu giữa ca nhạc và văn chương. Anh tạo thành một thế lực văn hóa ảnh hưởng lan rộng qua nhiều ngành, từ văn chương, báo chỉ, xuất bản, qua ca nhạc, điện ảnh.

Tất cả những “thế lực”, những “ảnh hưởng” lớn lao ấy không do chủ ý của Mai Thảo. Anh không hề “muốn gây thành chuyện lớn”. Tìm hiểu về thuở ban đầu của tờ Sáng Tạo (qua lời những người sáng lập, qua chính lời anh kể), chúng ta sẽ thấy không hề có những tuyên ngôn lớn lao, những triết lý định hướng, những sơ đồ cách mạng nào cả. Mỗi người một ý. Bản tính ai thế nào thì cứ viết như thế. Doãn Quốc Sỹ là một trong những cây bút cột trụ của Sáng Tạo, nhưng làm sao tìm ra “không khí Sáng Tạo” trong Khu Rừng Lau hay Dòng Sông Định Mệnh? Người “sáng tạo” nhất của nhóm có lẽ là Thanh Tâm Tuyền. Còn Mai Thảo, người cầm lái, thì văn phong của anh dù hết sức tân kỳ trong cách sử dụng ngôn ngữ (biến dành từ thành động từ, biến tĩnh từ thành danh từ…) vẫn nặng tính cổ điển biền ngẫu. Ngay cả chuyện nhận tài trợ của cơ quan USIS (mà chính quyền cộng sản dựa vào đó kết án cả Mai Thảo lẫn tờ Sáng Tạo là công cụ của Mỹ), Mai Thảo vẫn không xem là điều quan trọng. Anh khơi khơi mà viết, khơi khơi mà sống, kết bạn kết thù cũng hết sức khơi khơi, như một người đi lạc giữa đời. Do đó tuy nhiều bạn, nhưng suốt đời anh cô đơn.

Anh kết bạn vì sợ cô đơn. Không biết thời trước 1975 ở Sài gòn thế nào, chứ trong thời gian quen anh ở Hoa Kỳ, tôi thấy anh là người cô đơn nhất trong những bạn văn tôi biết.

Mai Thảo tự phác hoạ chính xác chân dung của anh, hay nói đúng hơn, chân dung nỗi cô đơn lớn lao của anh:

Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy

Nhiều hôm sau một cuộc họp mặt đông vui nhiều bạn bè, tôi chở anh về căn gác trọ lúc phố xá vắng tanh. Khu chung cư dành cho người già cũng ngủ im trong khuya khoắc. Xe dừng. Nhưng Mai Thảo ngồi im, không muốn xuống. Anh đề nghị tìm một chỗ họp mặt nào khác. Khi thấy đề nghị của mình vô lý, anh đành mở cửa, bước khỏi xe. Anh than: “Lại phải trở về cái quan tài này nữa.” Anh không cảm thấy yên ổn trong căn phòng quen thuộc của anh. Mà anh cũng không tìm thấy chỗ nào trên trần gian này là nơi an trú, từ ngày anh phải xa quê hương. Chỗ nào cũng là quan tài, phòng giam lạnh lẽo.

Mỗi ngày một gạch mỗi ngày giam
Lên bức tường câm cạnh chỗ nằm
Gạch miết tới không còn chỗ gạch
Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm.
Anh là hiện thân trọn vẹn nhất của hai tiếng “lưu vong”, hơn thế nữa, trong khi những bạn văn khác tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới, Mai Thảo khăng khăng sống y như cũ, từ chối tất cả những thay đổi cần thiết để hội nhập. Anh không học Anh văn, không lái xe, chữ viết nắn nót trang trọng trên trang giấy kẽ hàng, thậm chí hàng tháng cứ dùng viết Bic viết từng địa chỉ và họ tên của bảy trăm độc giả dài hạn của tạp chí Văn lên phong bì chứ không dùng phương tiện điện toán hiện đại. Tinh thần anh đề kháng với những gì đang đổi thay trước mắt. Bức ảnh chụp Mai Thảo ngồi một mình trên ghế chờ xe buýt trong khi hậu cảnh là một vệt mờ của chiếc xe buýt đang chạy qua, sở dĩ được xem là bức ảnh đẹp nhất trong loạt chân dung Mai Thảo, vì nhiếp ảnh viên đã chụp bắt được “chất lưu vong” của nhà văn. Anh là người ngồi chờ một chuyến xe buýt không bao giờ có. Chuyến xe của quá khứ. Những chuyến xe của đời thường qua lại đúng giờ trước mắt anh, nhưng anh từ chối không bước lên. Anh chờ những chuyến xe từng chở anh từ Nam Định lên Hà Nội. Anh chờ những chuyến xe chở anh từ đường Ký Con về đại lộ Tự Do. Anh chờ Quá Khứ. Một mình chờ. Héo hắt chờ.

Y lý hiện đại không giải thích được căn bệnh của Mai Thảo. Theo lẽ thường, uống rượu nhiều như anh thì dù có lá gan bằng bạch kim cũng phải cháy. Lúc bệnh anh trở nặng, các bác sĩ quen thân của anh đoán chắc không cần chẩn đoán thử nghiệm lôi thôi cũng biết anh đã tới ngày phải trả giá cho thói quen lạm dụng rượu mạnh. Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Gan anh bình thường. Rà soát hết lục phủ ngũ tạng, cơ thể Mai Thảo không mắc phải chứng bệnh gì. Bệnh viện kết luận anh chỉ bị chứng suy dinh dưỡng, vì anh không chịu ăn uống gì cả. Chỉ cần rán ăn cho cơ thể có đủ chất dinh dưỡng, là mọi sự được giải quyết.

Thật dễ dàng, và đơn giản. Nhưng tới đây thì cơ thể của Mai Thảo lên tiếng. Nó “gây thành chuyện lớn”. Nó từ chối không chịu ăn. Nó hợp tác với tinh thần lưu vong đề kháng để nói lớn: “Không!”

Mắt đã từ lâu mù dáng người
Tai đã từ bao lạc tiếng đời
Đứng lên gửi lại lời xin lỗi
Của kẻ ra về giữa cuộc chơi.

Gửi lại lời xin lỗi! Mai Thảo xin lỗi chúng tôi hôm ấy ở bệnh viện Barlow. Anh không muốn đi cùng đường với chúng tôi, cố gắng thích nghi với cuộc sống trước mắt. Anh muốn quay ngược trở lại. Cho nên tôi không mấy ngạc nhiên khi hay tin trong những ngày cuối đời ở bệnh viện Garden Grove, anh cũng dùng bút đàm hỏi nhà thơ Trần Dạ Từ là bao giờ cho anh về lại đường Ký Con. Nỗi cô đơn lớn lao của anh chỉ được giải tỏa khi anh bước lên những chuyến xe buýt cũ của quê hương mà không còn phải sợ bất cứ thứ quyền lực trần thế nào. Anh đã toại nguyện.

Nguồn: Tạp chí Văn Học số 143, tháng 3 năm 1998

Nguyễn Mộng Giác

Bầu ơi thương lấy bí cùng

nguyenmonggiac

Miền Nam Việt Nam sau tháng 4.1975 bị xáo trộn dữ dội. Phần lớn người dân Miền Nam làm việc cho chính phủ Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Từ người lính chiến, đến anh nhà văn, từ chị công chức, đến anh nhà giáo… đều bị nghi ngờ, tình nghi “thành phần nợ máu”, “gián điệp CIA” cài đặt. Cuộc sống của nhiều gia đình bị đảo lộn. Trong bối cảnh lịch sử đó, cuộc đời của nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng không thoát khỏi những biến động chung của đất nước, trên cái nền lịch sử đã phân ly, vừa sang trang. Truyện ngắn “Bầu ơi thương lấy bí cùng” kể lại những năm tháng học tập cải tạo với bi kịch của những phận người, từ người chiến thắng đến kẻ chiến bại đều mang nỗi đau của kiếp nhân sinh. ( Ban Mai giới thiệu )

Năm 1977 sau khi được chuyển từ Long Giao lên Gia Rai, trại chúng tôi được phép thăm nuôi. Giấy phép được ban quản huấn gửi thẳng về gia đình, chúng tôi tràn trề hy vọng. Tên tôi vần N nên phải chờ đến ngày thứ 29 mới đến lượt tôi. Suốt 28 ngày trước, toàn trại rộn rịp như ngày hội. Tối hôm trước, không ai ngủ được. Buổi sáng người đến phiên hồi hộp ra gặp gia đình thì những bạn bè cùng lán cũng hồi hộp chờ bạn về. Người mang được tin vui. Không ít thất thểu xách giỏ thăm nuôi trở về với bộ mặt dàu dàu, ai hỏi gì cũng không nói. Buổi tối, những thức ăn phải ăn liền như xôi, bánh mì, bánh bao, thịt quay được bày ra, từng nhóm vừa ăn uống xì xụp vừa kháo chuyện nhà. Thuốc lá thơm chuyền từ môi này đến môi khác, khói un mù mịt cả đêm rừng. Lòng từng người dù đã thăm nuôi hay chưa đều mở hội, quà cáp thứ gì không thuộc loại lương khô (như mì ăn liền, cốm dẹp, mắm ruốc, muối đỗ, bánh tráng…) đều trở thành tài sản chung.

Ngày thăm nuôi của tôi đã đến. Thú thật vì đã sống suốt 28 ngày nôn nao rộn rã cùng với bạn bè nên đến lượt mình, tôi bình thản hơn. Tôi còn độc thân, các anh chị đã lập gia đình bận bịu vợ con nên chắc chắn chỉ có mẹ và đứa em gái út lên 14 tuổi lên thăm tôi thôi. Những người khác chờ mong nhìn lại mặt người vợ yêu dấu, âu yếm nắm bàn tay đã hao gầy, vuốt đôi má hóp, lùa tay vào mái tóc đã thưa để bồi hồi thương xót vợ con. Người trăn trở suốt đêm chờ gặp lại người yêu. Người nao nức muốn trời mau ngả chiều để hôn đứa con sinh ra lúc mình vắng nhà. Phần tôi, chỉ chờ một người mẹ và đứa em gái. Thứ quan hệ tình cảm đó đậm đà nhưng đơn giản, lim lĩm vào chiều sâu chứ không bồng bột sôi nổi như tình lứa đôi. Nó như nước trà chứ không như cà phê, muốn ví nôm na thì nói thế cũng được.

Toán vần NG của tôi lại thuộc buổi chiều, nên tôi càng có đủ thì giờ trấn tĩnh. Vì được lệnh chính thức nên chúng tôi lục bộ quần áo dân sự lâu nay nhét dưới đáy xắc ra mặc lại. Nếp áo còn nhăn, hăng hắc mùi băng phiến pha lẫn ẩm mốc với mồ hôi, kích thước lại quá rộng, nhưng ai cũng có cảm giác hân hoan như được mặc áo mới đi hái lộc đầu xuân. Một lần nữa cảm tưởng (hoặc ảo tưởng) được dứt khoát với quá khứ để lập cuộc đời mới, được vứt bỏ bộ quân phục dày cộm khoác áo nhẹ về quê xây nhà lập vườn trở lại với chúng tôi. Ðúng hai giờ chiều, tôi xếp hàng cùng các bạn theo cán bộ quản giáo ra cổng trại. Nhà thăm nuôi nằm sát bên trong rào kẽm gai, đứng đó có thể nhìn rõ nhà ga và cảnh thân nhân các nơi đổ về đây. Chúng tôi được lệnh ngồi theo hàng ngũ dưới một gốc sấu già, ai được gọi tên mới xách bao xách túi ra khu tiếp tân. Lệnh thật nghiêm: không được nói chuyện, không được đứng dậy chỉ trỏ, không được ra dấu hoặc nhờ vả nhắn nhủ kẻ đi trước. Vì sợ bị phạt, chúng tôi răm rắp tuân theo. Nhưng lòng chúng tôi có yên đâu. Vắng cán bộ quản giáo một lúc là tiếng xì xầm nổi lên ngay. Nhiều người thấy vợ con xách giỏ đi vào cổng, mừng quá reo lên, hoặc đứng hẳn dậy gọi ơi ới. Biết làm sao được! Hơn hai năm nay chúng tôi không được biết gì hết ngoài việc học chính trị và làm rẫy, tin tức gia đình và những gì xảy ra bên ngoài vòng kẽm gai đều mù mịt. Ở vào cảnh huống đó mới thông cảm được chúng tôi.

Tôi lóng ngóng chờ đợi mãi vẫn chưa thấy bóng mẹ và em tôi vào cổng. Ba giờ. Ba giờ rưỡi. Rồi bốn giờ. Chỉ còn nửa giờ nữa! Bốn giờ mười, rồi bốn giờ mười lăm. Toán của tôi hầu hết đều đã gặp thân nhân và hớn hở xách giỏ lương thực nặng trở vào. Bốn giờ hai mươi. Chỉ còn tôi và một cụ già thiếu tá bảo an hồi hưu ngồi lại. Cụ thiếu tá thất vọng ra mặt, hết đứng lên ngóng ra cổng trại hoặc tận ga xe lửa lại ngồi xuống ho sù sụ. Tôi cố giữ trầm tĩnh ngồi bó gối nhưng trong lòng như có ai đốt lửa. Nhà tiếp tân vắng dần. Bốn giờ 23, rồi bốn giờ 24 phút. Ðúng 4 giờ 25 thì chuyến tàu chợ từ Sài Gòn lên xình xịch đỗ ngoài ga. Niềm hy vọng của tôi đây. Không dằn được nữa, cả tôi lẫn cụ thiếu tá đều đứng bật dậy dợm chạy ra nhà tiếp tân. Tôi đã không lầm. Lúc hồi kẻng báo hiệu giờ thăm nuôi đã hết uể oải điểm đều từng tiếng, tôi thấy mẹ và em tôi vội vã xách hai cái giỏ lát khá lớn chạy từ nhà ga vào cổng trại. Em gái tôi gầy gò, mẹ tôi già yếu, nên thấy dáng hối hả của hai mẹ con, tôi xúc động quá bất giác kêu lớn:
– Mẹ, con đang chờ đây!
Có lẽ tiếng gọi của tôi bị gió rừng bạt mất, vì tôi không thấy mẹ và em tôi quay lại. Anh vệ binh đứng tuổi mang kính râm giữ việc kiểm soát giấy phép đã đứng dậy ra về, toán thân nhân đến trễ đang bu quanh anh, nét mặt người nào cũng khẩn khoản, chới với. Họ năn nỉ gì đó, nhưng tôi thấy anh vệ binh cứ lắc đầu. Một bà cụ nắm tay anh nói một hồi. Anh ta chăm chú nghe, nhưng đưa tay lên xem đồng hồ, rồi cương quyết lắc đầu. Ðến phiên mẹ tôi chen vào. Mẹ tôi nói gì tôi không rõ, chỉ thấy mẹ tôi vừa nói vừa trỏ về phía nhà ga. Có thể bà cụ đang đổ lỗi cho chuyến tàu chợ trễ nãi. Anh vệ binh vẫn lắc đầu. Nóng ruột quá, tôi liều lĩnh bỏ chỗ gốc sấu chạy đến khu thăm nuôi. Tôi nghe rõ mồn-một giọng Nghệ Tĩnh giận dữ tức tối của anh ta:
– … Các người còn muốn đòi gì nữa? Chồng con các người mang tội với nhân dân phải học tập cải tạo nhưng còn có ngày được về. Còn tôi đây này, nhập ngũ từ 1965, đi khắp các chiến trường cho đến lúc về ở cái xó rừng này, biết bao giờ tôi mới được về? Chồng con các người còn được tiếp tế giỏ này giỏ nọ. Còn tôi đây, vợ con không có đủ tiền gửi cho lấy một cái kẹo. Các người có dư tiền để mua vé xe lửa lên đây thăm nuôi. Vợ tôi biết tôi ở đây từ hơn hai năm nay, chưa thấy mặt tôi gần bảy năm rồi mà không có đủ tiền mua lấy cái vé xe hạng chót! Các người còn đòi gì nữa!

Nghe lén được mấy câu đó, tôi sững sờ đến nổi gai ốc. Tôi va đầu vào cái tường sự thật tàn nhẫn nên choáng váng. Người tôi ngây ngây, quên cả ý định lên tiếng để mẹ và em tôi trông thấy. Có lẽ các thân nhân đến trễ cũng có tâm trạng y như tôi, nên nghe anh vệ binh nói xong, họ tản ra hết. Ðã nói đến nước đó thì nằn nì cũng vô ích, nên tôi thấy mẹ và em buồn bã xách đồ ra ga mà không biết phải làm gì. Cuối cùng tôi chỉ còn biết sợ! Tôi nháy mắt ra hiệu cho cụ thiếu tá hồi hưu, rồi se sẽ nép vào các gốc cây để trở lại chỗ cũ. Chúng tôi về trại tay không, lòng vừa buồn rầu vừa hoang mang thật khó tả. Anh vệ binh già cầm xấp giấy phép hướng dẫn chúng tôi vào. Nét mặt anh lầm lì, bước chân nặng nề, đầu cúi xuống. Chiều ở rừng buốt lạnh. Chuyến tàu chợ ngược về Sài Gòn xình xịch đỗ ở cái ga xép. Tiếng còi tàu khao khao hơi nghẹn. Cổ họng tôi cũng nghẹn. Buổi tối hôm đó tôi nằm riêng một góc không tham dự cuộc vui chung. Các bạn tưởng vì không được thăm nuôi tôi buồn, nên ân cần đem đến tận chỗ tôi nằm mời ăn hết thức này đến thức khác. Tôi cầm cho họ vui lòng, nhưng không thể nói hết lý do nỗi hoang mang của tôi.

Tôi tiếp tục được hưởng sự ân cần mời mọc của bạn bè suốt nửa tháng thăm nuôi còn lại. Thật ngược đời! Trong lán, tôi và cụ thiếu tá bảo an hồi hưu trở thành hai đứa trẻ được nuông chiều. Tôi ăn uống sang trọng phủ phê còn hơn cả những người được thăm nuôi đầy đủ. Nhưng “sự phồn thịnh ấy giả tạo” đúng như bài học chính trị chúng tôi học thuộc làu trong năm đầu. Lúc các thức ăn chơi đã cạn và trong giỏ xách từng người chỉ còn lương khô, thì ai ai cũng lo tính đến đường xa. Kỳ thăm nuôi sắp tới chưa biết lúc nào, sức mang, xách, khiêng, đội, gánh gồng của những người vợ héo hon những bà mẹ già nua những đứa em yếu ớt thì có hạn. Cho nên ai cũng phải dè xẻng tính toán từng mẩu bánh khô, từng nắm cốm dẹp. Không muốn ích kỷ cũng phải đâm ra ích kỷ. Tôi trở lại sống nghèo đói đúng 100% nghĩa đen giữa đám bạn bè tương đối đầy đủ. Tinh thần tôi còn sa sút hơn trước. Không còn sự bình đẳng trong thiếu thốn nữa, nên tôi và cụ thiếu tá thui thủi một mình, mỗi lần thấy ai mở giỏ lương thực hoặc nấu nướng thứ gì, phải tìm cách lánh đi chỗ khác để họ khỏi khó xử. Và thành thực hơn, phải nói thêm là để đỡ thèm thuồng! Ðã thế hình như ban quản giáo ỷ y vào đồ thăm nuôi nên lặng lẽ rút bớt tiêu chuẩn cấp phát xuống. Tôi đói mà không kêu ca than van với ai được! Kêu ca với các cán bộ hoặc vệ binh ư? Lỗi tại mẹ và em tôi đi trễ chứ đâu phải tại tổ chức! Than van với bạn bè thì có khác nào xin khéo để buộc họ bố thí. Cụ thiếu tá đã trên 60 ăn uống nhỏ nhẻ và giỏi chịu đựng như đã từng chịu đựng cuộc đời 60 năm dài. Còn tôi, sức tôi còn trẻ. Tôi cần ăn nhiều. Tôi mới 24 tuổi. Nhưng lấy gì bỏ vào mồm bây giờ?

May cho tôi là khoảng ba tuần sau, tôi được chuyển sang toán làm rẫy!
Tôi xin nhấn mạnh ở chữ ÐƯỢC, vì làm rẫy bắp đúng là một ân huệ. Thung lũng Gia Rai đất đỏ phì nhiêu chẳng kém gì vùng Xuân Lộc, Long Khánh, nhưng vì thiếu nước nên chỉ làm rẫy được trong mùa mưa. Trước đây nhà nước có đưa dân lên lập một khu kinh tế mới, do các cán bộ chuyên viên qui hoạch lỡ quên vấn đề sống còn kém quan trọng là nước. Cũng có thể các chuyên viên ấy tin tưởng tuyệt đối vào ý chí con người: Không có nước ư? Thì hãy xắn tay áo lên, “vắt đất ra nước thay trời làm mưa”. Khổ nỗi mồ hôi của dân kinh tế mới không đủ tưới cây, và các cán bộ hướng dẫn lại không chịu đổ mồ hôi lao động, cho nên chẳng bao lâu khu kinh tế mới vỡ. Một số dắt díu bồng bế nhau trở về thành phố che lều ở bất hợp pháp ngay trên nền nhà cũ. Một số thành tiều phu. Ðàn bà con nít bán hàng rong, bán củi bó dọc theo đường xe lửa. Trên thung lũng gió hú chỉ còn lại đơn vị bộ đội lãnh phận sự quản giáo và các sĩ quan học tập cải tạo. Chúng tôi không được quyền giữ lại mồ hôi trong người. Mùa nắng phá rừng, mùa mưa tỉa bắp. Chẳng bao lâu hai bên đường xe lửa, từng nương bắp ngút ngàn lần lượt lấn chiếm cây rừng và những bụi gai dại. Dù là những tên tù bị cưỡng bách lao động, nhưng nhìn những chồi bắp vô tội nhú lên khỏi lớp đất đỏ, từng ngày theo dõi cách nó nức lá, trổ hoa, như trái, lòng người nào cũng nao nức rộn rã. Có thế chứ! Chúng tôi không phải là đồ phế thải. Có một niềm hãnh diện khắc kỷ trong lòng từng người, và chỉ cần có bấy nhiêu, chúng tôi cũng đủ sức mạnh tinh thần chịu đựng mọi gian khổ thiếu thốn.

Ðược đi rẫy tức là được đại diện anh em đón nhận trọn vẹn niềm kiêu hãnh thầm kín của kẻ thất thế. Nhưng ân huệ không chỉ là phần thưởng tinh thần. Nó còn là phần thưởng vật chất. Chúng tôi được chuyển về Gia Rai không bao lâu thì khách đi lại trên các chuyến xe lửa xuyên Việt dần dần biết chúng tôi là ai. Tin “lành” bay xa và vội, nên khi chúng tôi bắt đầu ra khu vực dọc theo đường xe lửa phá rừng thì nhiều chuyện bất ngờ xảy ra. Ban đầu chúng tôi tưởng mình bị đồng bào căm thù quăng đá như các bản báo cáo lên lớp của chính trị viên. Phản cách mạng, gây tội ác với nhân dân, ác ôn côn đồ, kẻ thù giai cấp, những kẻ dám quay ngược bánh xe tiến hóa tất yếu của lịch sử, chúng tôi quá xứng đáng lãnh nhận lòng căm thù của nhân dân tiến bộ. Xứng quá rồi. Nhưng ơ kìa! Chờ cho vệ binh đi tìm bóng mát, vài người lén lượm những viên đá căm thù đó lên, tâm trạng cay đắng như tử tội muốn được nằm ngửa để nhìn lần cuối lưỡi máy chém. Không phải đá! Chỉ là những bức thư chữ viết chi chít, nhiều lá còn nguyên các ngấn lệ, gói bên trong một hòn cuội nhỏ tròn trĩnh. Lời thư làm thơm thêm hương cuội. Rồi sau đó không phải chỉ có thư nhà: nào bánh ú, kẹo đậu phộng, mía hấp, cam quít. Một lần tôi lượm được cả cà phê sữa đá bọc bằng nhiều lớp ni lông dày. Thế này là thế nào? Những kẻ vô danh quăng đồ ăn thức uống cho chúng tôi biết rõ quà cáp gửi theo lối may rủi ấy rất ít may mắn đến được tay thân nhân. Nhưng họ vẫn gửi, tự ý gửi đồ thăm nuôi theo lối tự phát. Anh em chúng tôi xì xầm bàn tán về chuyện đó nhiều lắm. Người nhẹ dạ vô tư liền tin rằng đó là một hình thức phản đối chính trị. Một lời nhắn nhủ thâm trầm, tha thiết, cụ thể. Ði xa hơn, có người mắt sáng rỡ cho đó là một lời kêu cứu. Phần tôi không ngây thơ tin quàng như vậy. Tôi có quá ít tin tức bên ngoài, nên chỉ phỏng đoán cầm chừng. Tôi nhớ một lần đi chợ về, qua công viên lỡ thấy mấy cái xác du kích đã chương phình trên người chỉ có cái quần đùi đen và mo cơm thiu cột ở thắt lưng, mẹ tôi hớt hải về nhà thắp hương cúng Phật. Mẹ nghẹn không nói được gì hết, lâu lắm mới rơm rớm nước mắt lẩm bẩm “Mô Phật, tội nghiệp quá. Không biết con cái nhà ai? Chết thì thôi làm gì tội nghiệp vậy hỡi Trời!” Tôi cho rằng chuyện ném quà chỉ là biểu lộ của lòng bất nhẫn, ai không thương xót kẻ đã ngã ngựa. Lòng cao thượng, tinh thần hiệp sĩ, cốt tủy của bản tuyên ngôn nhân quyền, hay nền tảng của hội hồng thập tự quốc tế, có lẽ chỉ là cái ngọn của lòng lân ái đối với kẻ thất thế bất hạnh mà thôi. Mẹ tôi, những hành khách xe lửa, đã sống đúng với mơ ước của đấng tạo hóa, mơ ước được thấy tình thương thay thế cho hận thù, được thấy cây nhân sinh trổ toàn trái ngọt. Nếu đi xa hơn một chút, muốn khoác cho hành động đó mầu áo chính trị, thì có thể nghĩ thế này: chị hàng mía đi lậu tảo tần nuôi con dám quăng cả bọc mía chẻ sẵn cho chúng tôi vì vừa bị ông xếp ga đội mũ cối mang dép râu nạt nộ đòi quẳng xuống đường rầy. Chị khóc lóc năn nỉ, nhưng ông xếp ga quay gót thì chị đã quắc mắt nhìn theo. Giá chị có đủ quyền và đủ sức, chị đã quẳng “hắn” xuống đường sắt cho xe lửa cán dẹp như tờ giấy vấn thuốc. Nghĩ cho oai thế thôi chứ làm sao chị làm thế được. Không làm thế được thì làm gì? Chị đành quẳng bọc mía cho chúng tôi vậy! Lan man nghĩ ngợi như thế, tôi có thể thấy dấu tay của chị buôn hàng chuyến vừa vét cả vốn lẫn lời đóng thuế trên lớp lá thơm chiếc bánh ú, ngấn lệ người vợ đi thăm nuôi để nhận giấy báo tử trên miếng kẹo đỗ, dấu móng tay giận dữ của cậu bé lý lịch xấu vừa bị đuổi khỏi trường trên vỏ trái quít… Những liên tưởng đó có thể có thực, phải có thực. Nhưng từ đó thổi phồng thành một phong trào, hoặc một lời thúc giục, thì hơi quá! Quá đáng chẳng khác nào buộc AQ trở thành lãnh tụ công nhân như Lénine.

Tôi nghĩ nôm na như thế, nhưng chắc chắn ban quản giáo vốn quen suy nghĩ theo biện chứng pháp không nghĩ thế. Cái gì cũng thuộc vào hệ thống, biểu lộ nào cũng là hình thức rõ ràng hoặc tế vi của một kế hoạch, âm mưu. Hành động ném quà thay vì ném đá của hành khách các chuyến xe lửa thật đáng ngại. Làm gì? Phải chờ chỉ thị của cấp trên! Trong khi chờ đợi, từ cấp cao đến anh vệ binh làm ngơ giả vờ như không thấy gì hết.

Một lần lượm được hai cái bánh ú, tôi vừa thành thật, vừa tinh nghịch mời cậu vệ binh tuổi khoảng 19, 20 ăn. Tôi tinh nghịch muốn thử lại một bài toán đã biết đáp số, còn thành thật vì thấy khuôn mặt cậu hiền hậu quá, trên mép mới mọc lông măng và cái liếc nhìn về phía tôi có vẻ thèm thuồng. Một lính sữa vừa mới nhập ngũ sau ngày “giải phóng”, tôi đoán vậy. Thấy tôi chìa cái bánh ú về phía mình, cậu vệ binh lắc đầu quầy quậy:
– Không.
Rồi như sợ tôi hiểu lầm, anh ta thêm:
– Tôi no rồi. Anh ăn đi!
Câu nói thêm khiến tôi có cảm tình với anh vệ binh trẻ tuổi ngay. Hình như anh ta muốn xác định rõ: việc từ chối không phải là xác định lập trường, dứt khoát phân biệt bạn thù, kiên quyết theo con đường chính thống. Nó thuộc về phạm vi tiêu hóa, bạn thù đều có bao tử, thế thôi. Tôi bạo dạn đưa ra nhận xét:
– Anh từ chối cũng phải. Hôm qua bạn tôi kể một trường hợp tương tự. Em gái bạn tôi đang mang thai nhưng tính lém lỉnh y như thời con gái. Cô ta phải ì-ạch xách cái giỏ thăm nuôi nặng từ nhà ga vào khu tiếp tân. Cô nhìn quanh định nhờ vả, nhưng ai cũng lo phần mình cả. Cô ta bắt gặp một anh vệ binh trẻ đang nhìn cô, ánh mắt ngập ngừng, ái ngại. Cô đánh bạo nói: “Anh ơi, xách giùm cái giỏ cho em với!” Anh vệ binh chợt đổi mặt nghiêm lại đáp “Tôi là vệ binh, giúp cô sao tiện!”.
– Nếu cô ta nhờ tôi, tôi cũng đáp y như vậy.
Một lần nữa tôi yêu sự chân thật của cậu vệ binh.
Tôi nói ngay không do dự:
– Tôi thích sự sòng phẳng của anh. Cũng như tôi thích sự thẳng thắn ruột ngựa của ông quản đốc. Hôm chúng tôi mới tới, ông ấy nói ngay: “Các anh là tù, tù chứ không phải cải tạo viên cải tạo viếc gì ráo trọi. Các anh phải răm rắp nghe lời. Ngày trước các anh làm cha rồi, bây giờ đến lượt chúng tôi làm cha, nghe chưa!” Ðấy, thà nói quách như vậy cho dễ xử trí với nhau. Hình như ông ta gốc Nam bộ thì phải?

Cậu vệ binh cười hô hố một cách thoải mái, tôi cũng cười. Bức tường vô hình ngăn cách giữa cai tù và phạm nhân biến mất. Cậu vệ binh bảo tôi nghỉ thêm một lát, rồi chân thành hỏi:
– Trong này gọi con rô-ti là con gì nhỉ?
Tôi ngớ ra, hỏi lại:
– Con rô-ti à?
– Phải, con rô-ti.
Tôi đáp liền:
– Có lẽ một loại súc vật mới lai giống, như trâu sữa Mura, heo Yorkshire. Nhưng anh thấy nó ở đâu? Hình thù thế nào?
Cậu vệ binh đỏ mặt, sau một hồi ngập ngừng mới đáp:
– Tôi đã trông thấy nó đâu! Hôm qua tôi được phân công kiểm soát đồ thăm nuôi. Một chị có chồng bên khu C biên vào tờ kê: “Gà rô-ti: 2 con”. Tôi hỏi: Gà có đây, còn con rô-ti đâu? Chị ta cười phá lên. Rồi cả khu tiếp tân đều cười.

Thú thật tôi ngượng quá, nhưng không hiểu tại sao.
Tôi nhìn cậu vệ binh, ái ngại. Tôi thấy thương cậu như thương một đứa em hiền lành. Không sợ cậu tự ái vặt, tôi giải thích cho cậu ta hiểu. Cậu đỏ mặt, gật gù:
– À ra thế! À ra thế!
Ðể vớt vát, cậu than:
– Nhưng việc gì phải dùng chữ Pháp cho rắc rối. Nói gà quay, có tiện hơn không. Trong này lai căng đến kỳ!
Tôi công nhận cậu vệ binh nói đúng. Lỗi không phải ở cậu. Tôi nghĩ cái cười ở khu tiếp tân cũng giống như hành động ném quà của chị hàng mía, chị buôn hàng chuyến, cậu học sinh mất học… Cậu thay mặt ông xếp ga, chú thu thuế trên xe lửa, cán bộ tổ chức tuyển sinh, để đưa lưng chịu đòn hội chợ. Tôi bị đà cảm tình lôi cuốn đến nỗi tỏ ra bất công với chị nhà giàu dám mang cho chồng một lúc hai con gà quay. Tôi nói lúc bụng bắt đầu cồn cào:
– Anh nói phải. Việc gì phải xài mót thứ tiếng Tây lỗi thời! Có lẽ trước đây hai cô cậu đều học trường Tây cả, cậu ở Rousseau, còn cô thì Marie Curie. Trong nhà ăn toàn muỗng nĩa, cha con gọi nhau bằng “toa moa”. Họ không hề biết Nguyễn Du là ai, nhưng thuộc lòng thơ Ronsard như cháo. Tại sao trước kia họ sướng, mà bây giờ họ vẫn còn tiếp tục xé gà quay ăn với bánh mì sandwich nhỉ?

Tôi giật mình tự thẹn. Quá lắm rồi! Chẳng lẽ cái bụng cồn cào đã xui tôi đến chỗ hận thù nhỏ nhen thế sao? Nước dãi tôi trào ra khi nghĩ đến hai chú gà quay vàng rộm béo ngậy. Tôi liếc về phía cậu vệ binh. May quá, ánh nhìn thân thiện của cậu khiến tôi yên tâm. Cậu không cười mỉa mai xem tôi như một kẻ phản bạn bần tiện. Cậu ta nhìn tôi như nhìn một kẻ đồng cảnh ngộ. Lúc đó có hai cán bộ quản giáo đi tới. Cậu ta bảo tôi tiếp tục làm cỏ bắp. Từ đó về sau, tôi không có dịp nói chuyện với anh ta nữa. Vô tình gặp nhau ở đâu đó, chúng tôi mỉm cười chào nhau, ngầm thông cảm.

Mùa bẻ bắp đã tới. Ban quản giáo phân công rất đông anh em học tập cải tạo chúng tôi đi gác rẫy. Sự khác thường ấy lại khiến cả trại xôn xao bàn tán. Làm gì có chuyện ly kỳ đến thế? Ban ngày được ra làm cỏ bắp đã là một ân huệ. Bây giờ ban đêm dám cử chúng tôi ra khỏi trại giữ bắp? Giữ ai đây? Khỉ chăng? Ðuổi heo rừng chăng? Bộ đội có súng còn chưa giữ được huống chi chúng tôi! Chỉ có một lối giải thích độc nhất: chúng tôi sắp được cho về, và ban quản giáo muốn thử thách lập trường của chúng tôi trước khi lựa chọn. Mừng hơn cả thuở bé đón mẹ về chợ! Anh em chúng tôi tự tin sẽ vượt thử thách một cách dễ dàng. Nhờ có đồ thăm nuôi, chúng tôi không bị đói như trước. Trong xắc còn mì khô, cốm dẹp, gạo sấy, lại sắp được về, việc gì phải đi ăn trộm bắp rẫy của nhà nước cho mang lụy vào thân?

Ðêm ấy tôi đi gác với một người nữa. Hai chúng tôi chịu trách nhiệm nặng nhất: canh chừng rẫy bắp sây trái ở sát mé rừng rậm phía nam. Sau khi bắt thăm, bạn tôi may mắn chịu trách nhiệm từ 7 giờ tối đến khuya. Tôi từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng. Tôi nằm chờ đến phiên mình bên đống lửa lập lòe, vừa lạnh vừa đói không sao ngủ được. Tôi phải bò dậy ra nói đủ thứ chuyện đầu cua tai nheo với bạn tôi. Ðến khuya, có lẽ chưa đến 12 giờ, bạn tôi buồn ngủ quá giao phận sự lại cho tôi. Tôi sẵn sàng nhận lời với chủ tâm xấu. Hãy ngủ say đi, anh bạn! Hãy nằm ôm đống lửa cho ấm. Ngoài kia nếu cần tôi sẽ nhen đống lửa khác! Bạn tôi cảm ơn tôi rối rít. Chờ cho bạn ngủ xong, tôi… tôi làm chuyện gì, chắc các bạn đoán ra rồi. Tôi hổ thẹn không dám kể thẳng. Tôi đó, tôi yếu đuối, tôi không đủ ý chí qua cơn thử thách, hãy thông cảm cho tôi. Nếu chuyến tàu chợ Sài Gòn-Phan Thiết đến Gia Rai không trễ, tôi đã có đủ cơm gạo để nuôi sống ý chí!

… Tôi đang cố len sâu để bẻ vài trái bắp đem nướng thì nghe có tiếng sột soạt phía trước. Tôi chùn lại, thu mình im lặng. Không nghe thấy gì! Có lẽ tại gió rừng dữ quá! Yên tâm, tôi bẻ liên tiếp ba trái bắp. Tiếng lá va chạm nhau, tiếng cuốn bắp gãy khỏi thân mẹ như được khuếch âm vang xa khắp thung lũng. Hình như vì tình liên đới mà khắp nơi mọi cây bắp đều xào xạc thương cảm. Nhưng ơ kìa! Tại sao trước mặt tôi cũng có tiếng lắc rắc và tiếng lá bắp chạm? Tôi cố giữ yên lặng, phía trước lại yên lặng. Tôi kiên nhẫn chịu kiến cắn ngồi yên thật lâu thì nghe rõ mồn một tiếng thân bắp gãy: ai ăn trộm bắp nhà nước thế này? Tôi. Dĩ nhiên trước tiên tôi là thằng “chủ tâm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa với đầy đủ dự mưu”. Nhưng ngoài thằng tôi ra còn ai nữa. Các bạn tôi chăng? Không có lẽ. Họ được thăm nuôi no đủ, đi gác còn bọc theo bánh mì khô để nhai cho vui miệng. Tình cảnh tôi thật khó xử. Thằng ăn cắp hô hoán để cảnh sát bắt một thằng ăn cắp khác, thì có khác nào kê họng súng vào đầu tự vận! Nhưng ai? Ai? Ai? Không chịu đựng được sự mơ hồ, tôi se sẽ vạch lá bò về phía có tiếng động. Trí tôi hoang mang cực độ, thế mà bàn tay trái của tôi, a tòng với bao tử vẫn không chịu buông ba trái bắp. Cho nên khi sững sờ chạm mặt với bóng đen phía trước, tôi đang quả tang phạm pháp. Sợ quá tôi ù té chạy. Bóng đen cũng chạy, khác hướng. Về chỗ nhóm lửa, tôi run cầm cập, dáo dác nhìn quanh. Nhìn về phía bạn tôi, bạn tôi vẫn ngủ yên. Phía bóng đen, chỉ có đêm và gió núi. Nhìn lại mình. Trời hỡi! Tay trái tôi còn nắm chặt ba trái bắp. Chỗ nhóm lửa, gặp khoảng củi khô nên ngọn lửa đột nhiên bùng sáng. Ðúng là thứ ánh sáng đáng ghét của công lý và lương tâm! Tôi bậm môi lại, đâm liều, đã trót thì trét! Tôi vùi ba trái bắp vào đống lửa đỏ, tôi đói quá, tôi lấy quyền được ăn để tự cho phép. Trái bắp đầu, tôi chỉ cạp vài cái là hết. Trái thứ hai tôi ăn từ tốn hơn, cẩn thận lấy tay lảy hết những hạt còn sót cho vào miệng. Ðang lảy chầm chậm theo hàng dọc trái bắp thứ ba, vừa nhai vừa thưởng thức vị ngọt của chính mồ hôi mình, thì tôi thấy một bóng đen tiến lại gần. Các bạn khỏi phải lo âu giùm tôi. Chính cậu vệ binh hôm nọ! Biết rõ chính tôi đang canh lửa, cậu ta mang bắp đến nướng nhờ. Còn cách biểu lộ lòng tin cậy nào trọn vẹn và cao cả cho bằng!

Chúng tôi cảm động cầm lấy tay nhau. Ánh lửa rừng soi đôi mắ rớm lệ của anh, và nhờ cảm giác nhột nhạt ở đầu mũi, tôi biết mình cũng sắp khóc.
Tôi phân bua trước:
– Kỳ thăm nuôi vừa rồi, mẹ và em tôi lên trễ. Kẹt quá!
Cậu vệ binh thì kín đáo hơn:
– Ðược ăn bắp chính mình trồng, ngon đấy chứ.
Giành quyền làm chủ ngang xương như vậy, kể cũng bạo! Cậu ta mời tôi thêm trái nữa. Tôi e dè nhìn về phía người bạn tù. Cậu vệ binh cũng lo ngại. Chúng tôi không hẹn mà cùng quay lưng về phía bạn tôi, rồi mới mời bắp nhau. Khi đã khá no, cậu ta hỏi:
– Sao hôm ấy anh không tìm gặp tôi?
– Lúc ấy tôi đã quen với anh đâu! Vả lại…
– Vả lại thế nào?
– Vả lại nếu có quen cũng không dám nhờ. Ông ấy dữ quá.
– Ông nào dữ?
– Cái ông giữ phần kiểm soát giấy thăm nuôi trên khu tiếp tân. Ngồi ở cái bàn sát cổng vào.
– Nhiệm vụ ấy luân phiên, anh nói thế khó xác định lắm.
Có phải cậu thanh niên nói giọng Bùi Chu?
– Không. Ông này khá lớn tuổi. Khoảng trên 30.
– Ông ta có cái sẹo dài trên trán?
– Không. Hình như ông ấy bị đau mắt, phải mang kính râm.
– A, ông Lâm đấy. Có phải ông ấy nói tiếng Nghệ?
– Phải.
Cậu vệ binh bật cười:
– Anh suýt rờ tổ kiến rồi. Hôm ấy anh bị xát xà phòng ghê lắm phải không?
– Không, tôi lén đứng ngoài nhà trạm để nghe. Một số thân nhân lên trễ sau giờ thăm nuôi, trong đó có mẹ và em tôi. Nằn nì mãi, ông ấy vẫn không chịu.
– Ông ấy nói sao?
Tôi cố ý thêm mắm muối cho chuyện đậm bi đát:
– Ông ấy chỉ tay về phía chúng tôi hằn học nói: “Chúng nó toàn bọn ác ôn có nợ máu nhưng đi học tập còn có ngày về. Còn tôi đây nhập ngũ từ hơn hai mươi năm, biết bao giờ mới được nhìn lại mặt vợ con”.
Cậu vệ binh chồm về phía tôi hỏi vội:
– Từ bao lâu? Ông ấy nhập ngũ từ bao giờ?
– Từ năm 1956!
– Năm nay ông Lâm 34. Chẳng lẽ mới 13 tuổi đã làm nghĩa vụ quân sự à.
– Chẳng lẽ ông ta nói dối!
– Không nói dối. Chỉ nói quá! Ông ấy đi B năm 1969, lúc vừa lấy cô vợ làm mậu dịch viên. Ði một lượt với anh cả tôi, lầm lẫn sao được. Ông ấy còn nói gì nữa?
Tôi tiếp, vẫn thêm chút gia vị:
– Ông ấy còn nói: “Các người ở Sài Gòn ăn sung mặc sướng lên thăm nuôi chúng nó giỏ này giỏ nọ, xách đến trật xương vai. Tiền thăm nuôi tốn nghìn này nghìn khác. Còn vợ tôi đây không đủ tiền gửi cho tôi mấy miếng kẹo lạc”.
– Bà ấy bán ở cửa hàng mậu dịch thiếu gì kẹo lạc. Chỉ tại bà ấy không muốn gửi ấy chứ!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Tại sao thế?
– Thong thả đã. Ông ấy còn nói gì nữa?
– Ông ấy còn bảo vợ biết chồng đóng quân ở đây từ bao năm mà không thể mua nổi cái vé hạng chót để vào thăm.
– “Không thèm” mua chứ không phải “không thể” mua!
– Tại sao thế?
– Ông vừa được phép về thăm nhà tháng 12 năm ngoái.
– Sao ông ấy bảo suốt bảy năm trường vợ chồng chưa được gặp mặt?
– Ông ấy về lần trước năm 1970 sau khi bị thương ở mắt phải. Tính từ đó đến nay đúng bảy năm. Lần sau có mà như không. Cho qua cũng phải, anh ngạc nhiên chứ gì? Ðể tôi kể anh nghe. Năm ngoái, chờ đợi sốt ruột suốt một năm rưỡi sau ngày “giải phóng”, ông Lâm mới nắm được tờ giấy phép. Ðời bộ đội kham khổ, anh hiểu. Ông ấy dành dụm bao nhiêu năm được 200 đồng, trước khi về phép quá giang xe đơn vị về Sài Gòn để mua một ít quà cho vợ. Những thứ rẻ tiền thôi: cái gương soi hình trái tim, một tá kẹp tóc, hai cái nịt ngực may ở Chợ Lớn chóp nhọn hoắc như nón khỉ, một cái khăn thêu, kim chỉ, quần lót và cái ống bơm xe đạp. Trước khi lên xe lửa, ông ấy dàn ra khoe mọi thứ với tôi. Thấy ông ta hí hửng quá, tôi không dám nói hơn phân nửa những thứ ông mua đều là đồ giả. Thấy ông lăng xăng thấp thỏm, tội nghiệp lắm. Ông ấy còn giở kính đen nhờ tôi xem con mắt bị thương có bị lé không. Tôi bảo không hề gì. Ông yên tâm ra ga. Bọn chúng tôi thì không yên tâm chút nào. Trước đó đã có nhiều lời xì xầm, nhưng chúng tôi nửa tin nửa ngờ. Mà dù có tin thật cũng không dám nói gì với ông ấy. Hạn về phép là một tháng. Tinh thần phục vụ xứng đáng với cái phép đặc biệt ấy. Ông ta về chưa được mười ngày đã vào. Anh em kín đáo quan sát thái độ ông Lâm, thấy rõ những lời đồn đại không phải hoàn toàn bịt đặt. Ông vẫn giữ vẻ trầm tĩnh nghiêm túc như trước kia, nhưng hay cau có gắt gỏng hơn. Chuyện vặt bằng một sợi tơ ông ta cũng giận. Anh em nhịn làm lành, ông ấy càng giận hơn. Ông ấy không chịu được lòng thương hại. Không ai bắt chuyện được với ông ngoài tôi, anh có biết chuyện gì đã xảy ra ngoài Nghệ không?

Ông ấy đến ga Vinh xuống đi thêm nửa ngày xe khách nữa mới đến quê nhà. Hăm hở vào cổng thì nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc. Ông ấy khựng lại, không dám tin trí nhớ của mình. Nhưng rõ ràng đây là căn nhà hai vợ chồng. Cái sân gạch ấy, mái tranh ấy, cái cửa sổ ván tạp sơn xanh ấy, giàn hoa lý vẫn như cũ tuy bây giờ rườm rà và tiêu điều hơn. Một người đàn bà quàng khăn sản phụ từ nhà trong bước ra: “Ðúng là chị mậu dịch viên vợ anh”. Chị cũng ngó ra. Hai vợ chồng bàng hoàng nhìn nhau, chưa biết phải làm gì, nói gì. Tiếng trẻ thơ khóc càng thống thiết hơn, âm thanh chói chang xoắn vào lỗ tai ông ấy. Chị vợ chộp ngay cơ hội nói mau: “Anh mới về! Cho em vào ru con chút”. Ông ấy cảm thấy lơ lửng, không dám bước tiếp bước nào. Trong nhà, chị vợ à ơi hát ru:

… Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Tôi xúc động vội hỏi:
– Làm sao anh biết chuyện đó?
– Chính ông Lâm kể cho tôi nghe vào một đêm ngồi ăn bắp nướng như tôi với anh đêm nay. Khỏi cần dặn anh cũng biết không nên kể lại chuyện đau lòng này cho ai khác. Tôi phải kể cho riêng anh, để anh khỏi oán ông ấy. Từ lâu, tôi vẫn nghĩ lẩn thẩn: không biết người nghệ sĩ nhân dân nào đặt ra hai câu ca dao đó (để hát trống quân đêm rằm hay hát quan họ hội Lim) có tiên đoán tác phẩm của mình về sau lại được sử dụng vào hoàn cảnh oái oăm như thế không? Tôi nghĩ rằng có, vì đôi mắt nghệ sĩ có thể nhìn suốt chín cõi. Kể cả cảnh hai chúng ta lén ăn bắp nướng, phải không?

NGUYỄN MỘNG GIÁC

(Trích từ tập truyện ngắn “Thuyền viễn xứ”)

CHỦ NHẬT BUỒN

nguyenmonggiac

Sáng chủ nhật, Kim thức dậy thấy mẹ không còn trong phòng ngủ nữa. Có lẽ mẹ vội đi đâu đấy, vì thường ngày, dù phải đi làm rất sớm, mẹ vẫn có thì giờ xếp gọn gối chăn ngay ngắn ở đầu giường. Kim xếp giùm chăn cho mẹ, lúc giũ cái chăn mỏng cho thẳng nếp gấp, cô bé thấy có vài sợi tóc dài mầu ngả xám rơi xuống đệm. Kim chợt buồn. Cái bệnh rụng tóc từng khiến mẹ hoảng hốt gần một năm nay vẫn chưa dứt. Lúc nhặt nhúm tóc rụng quay lại định bỏ vào bao giấy đặt dưới cái bàn gỗ thấp, cô bé mới tìm ra thêm mảnh giấy nhỏ mẹ viết: “Mẹ có việc phải đến nhà bà bạn dưới Irvine. Con ở nhà đừng đi chơi đâu. Nhớ khóa cửa cẩn thận, ai gọi cũng đừng mở. Thức ăn mẹ đã làm sẵn để ở tủ lạnh. Cưng!”
Vậy là thêm một chủ nhật buồn! Mẹ dặn không được mở cửa cho bất cứ ai vào nhà thì không thể điện thoại rủ lũ bạn gái hàng xóm sang chơi búp bê được. Kim ngồi nụ mặt bên cái điện thoại, nửa muốn nhấc điện thoại lên tán gẫu với con bạn Lucy, nửa e ngại lười biếng vì biết trước thế nào con Lucy cũng giành nói một mình, kể sa đà về chuyện mấy chú mèo nhà nó.
Đang lơ mơ bất định thì chuông điện thoại reo.
– A lô!
– Có phải Kim đấy không?
Cô bé đâm ngại vì bên kia đầu dây, giọng đàn ông là lạ. Sau một lúc suy nghĩ, Kim đáp nhát gừng:
– Dạ, nhưng… “mom” không có nhà. Mom dặn Kim…
Tiếng nói trong điện thoại có vẻ mừng rỡ :
– Thế hả ? Mẹ đi đâu lâu không?
Kim ngờ ngợ, nhận ra giọng nói quen quen, nhưng câu hỏi và cái giọng mừng rỡ khiến cô bé đâm ngại. Cô bé ậm ừ không dám nói tiếp điều gì. Bên kia đầu dây, giọng nói có vẻ hấp tấp mừng rỡ hơn, gần như lưỡi người nói chuyện líu lại vì niềm vui bất chợt, không che giấu được xúc động:
– Mẹ xuống tận Irvine à? Ba đến thăm con ngay bây giờ. Chờ ba độ 15 phút thôi nhá!
Kim mừng quá, định nói với ba rằng Kim đang buồn, đang lo phải thấp thỏm giam mình suốt ngày chủ nhật không được ra khỏi cửa, đang sắp sửa bật tivi để lơ đãng xem hết chương trình này đến chương trình khác, thì ba hẹn đến. Đúng ba là cứu tinh của Kim. Nhưng tiếng tích tích đều dặn trong điện thoại cho cô bé biết bên kia đầu dây, ba đã gác máy.
Suốt 15 phút chờ đợi, Kim đã vội vã làm đủ thứ việc: rửa mặt súc miệng để khoe với ba hàm răng mới chà dưới phòng nha khoa tuần trước, chải tóc thật kỹ cho ba thấy cái tài uốn tóc của mẹ, xếp dọn tất cả quần áo lót, giấy vụn, đồ trang điểm mẹ vất bừa bãi ở phòng khách trong lúc vội vã ra đi, giả vờ lơ đễnh đặt cuốn vở học có nhiều lời phê tốt của cô giáo lên bàn khách để khoe với ba mình học giỏi… Còn nhiều thứ linh tinh nữa cô bé phải làm để đón ba. Nhiều, quá nhiều việc phải xếp đặt, nên khi có tiếng gõ cửa, Kim chưa kịp thay bộ quần áo mới mẹ mua cho tuần trước đế đón ba. Bộ quần áo ngủ Kim đang mặc trông nhàu nhò đến thảm hại, nhìn vào gương, Kim thấy mình chẳng khác gì con bé đầu đường xó chợ. Lại có tiếng gõ cửa. Không thể trùng trình được nữa, cô bé vội chạy ra, run run tháo cái dây xích trên ổ khóa, và mở tung cánh cửa gỗ nâu.
Ba đã đứng sẵn ở đó! Và đang cười âu yếm nhìn Kim! Hai cha con ôm chầm lấy nhau. Kim mau nước mắt vừa tớt vừa bảo giọng hờn dỗi:
– Lâu thật lâu dad không đến thăm Kim!
– Ơ! Ba không đến được nhưng chủ nhật nào cũng gọi điện thoại.
– Chủ nhật trước dad có gọi điện thoại đâu!
– Có, nhưng lúc ấy cưng của ba còn ngủ khì. Mẹ… mẹ con nhấc máy, nhận ra giọng ba, cúp điện thoại liền.
Giọng Kim buồn:
– Chủ nhật rồi mom ở nhà với con cả ngày. Phải, nhưng sao dad không chờ đến trưa gọi lại cho con?
– Kim này.
– Gì hở dad?
– Ba thích con gọi ba là “ba” hơn gọi “dad”.
– Dạ con nhớ rồi, dad ạ!
– Lại dad!
Kim che miệng cười rúc rúc một lúc, rồi ngửng mặt lên nhìn ba, nói thật chậm:
– Dạ thưa…ba, con nhớ rồi!
Hai cha con lại ôm chầm lấy nhau. Người cha đặt con gái xuống, e dè một chút, rồi bắt đầu mạnh dạn tiến về phía bộ ghế nệm màu vàng nhạt ở phòng khách. Ông nhìn quanh phòng, như muốn tìm thứ gì. Kim hỏi:
– Dad có thấy khác với hồi dad còn ở đây không?
– Lại dad!
– Ồ! con xin lỗi dad! Xin lỗi ba!
– Không sao. Ba thấy căn phòng mình lạ hẳn đi, đồ đạc bàn ghế thì vẫn vậy. Bộ salon này, cái đèn có chụp thêu ren này, cái tivi Sony này…
Giọng Kim riễu cợt:
– Nhưng không còn cái gạt tàn thuốc to tướng như hồi trước nữa!
– À phải! Mẹ vẫn càu nhàu ba hoài vì cái tật đốt hết điếu này đến điếu khác. Ủa, mấy khung ảnh chỗ kia đâu rồi?
– Hôm sinh nhật con, mom lấy xuống để lau bụi bám trên tường. Chắc mom quên treo lại. À, sao hôm đó ba không đến?
Người đàn ông có khuôn mặt xương xương tóc muối tiêu khựng lại, do dự một chút rồi nói dối:
– Hôm đó ba bận việc ở sở, đã điện thoại xin lỗi mẹ và con, mẹ không nói lại cho con biết ư? Con có thích quà sinh nhật của ba không?
– Có. Mom cũng thích nữa. Ban đầu mom thích quá, reo lên. Nhưng không hiểu sau đó mom nghĩ sao, mom bảo con cất đi…
Kim quên cả e ngại hỏi liền:
– Sao ba với mom lại giận nhau hở ba?
Người đàn ông không biết trả lời thế nào, lúng túng đưa ngón tay lên quệt đầu mũi rồi nói lãng sang chuyện khác:
– Ồ, chuyện người lớn rắc rối lắm! Con đi chơi với ba hôm nay được không?
Kim mừng quá quên phắt lời dặn của mẹ.
– Được chứ ba!
– Đi suốt ngày nhé?
Mặt Kim xịu lại, nhớ lời mẹ dặn:
– Không. Phải về trước khi mom về cơ!
– Kim này!
– Ba thích con gọi…
Người đàn ông định bảo con đừng dùng tiếng Mỹ để gọi mẹ nữa, hãy gọi “mẹ” thay vì gọi “mom”. Nhưng nghĩ thoáng một lúc, lòng thắt lại, ông kịp ngưng không nói tiếp. Cô bé thắc mắc hỏi:
– Ba muốn con điện thoại xin phép mom hả? Nhưng mom xuống nhà bà bạn dưới Irvine, con có biết số điện thoại của người ta đâu.
Thấy con không nhận ra ý nghĩ thầm kín của mình, người đàn ông mừng rỡ, hấp tấp bảo con:
– Thôi được. Ba chở con đi chơi một vòng, kiếm cái gì ăn, tìm cái gì xem, rồi về.
– Đi đâu hở ba?
– Xem xi nê nhé!
– What? Ba nói gì con không hiểu!
– Xem movie nhé!
– Chán lắm ba! Con xem tivi hoài, đến thuộc làu!
– Đi ăn kem nhé!
Kim lắc đầu, môi hơi bĩu không nói gì. Người cha đề nghị:
– Hay ta đi biển?
Cô bé đứng bật dậy:
– Phải rồi. Con vẫn thích đi biển mà mom không chịu cho con đi, bảo biển ở đây xấu lắm không đẹp bằng biển Việt Nam. Ba có đem đồ tắm theo không, mom mua cho con bộ đồ tắm màu đỏ để tắm pool, ba muốn xem không?
Như vậy là họ đã có một chương trình chủ nhật hào hứng! Cô bé nhét bộ áo tắm, khăn mặt, khăn tắm, lược chải đầu vào túi vải, định giở tủ lạnh đem thức ăn mẹ nấu sẵn theo ăn trưa thì người cha ngăn lại:
– Khỏi cần. Đồ ăn Việt Nam không gọn. Con đem theo nhiều khi đổ cả ra xe. Mình ghé Liquor mua hai cái sandwich và nước ngọt tiện hơn!
Hai cha con vội vã ra xe, vội vã chạy đến tiệm thực phẩm gần nhà nhất để mua các thức ăn nguội. Kim nói chuyện huyên thiên cho đến lúc chiếc Pinto già của ba ho khục khặc rùng mình đến nhiều lần, cố bò được một đoạn, lại ho khục khặc rồi nằm lì ở vệ đường đổ nắng. Người cha thở dài, nói một mình:
– Lại làm mình làm mẩy rồi!
– What?
– Ý ba muốn nói chiếc xe lại trở chứng rồi.
Cô bé không hiểu riêng hai chữ “trở chứng” là gì, nhưng đoán đại ý câu than vãn của ba. Kim thắc mắc hỏi:
– Sao ba không mua chiếc xe mới như cái Volvo của mom?
– Tiền đâu mà ba mua?
Vừa đáp, người đàn ông vừa cố đẩy cánh cửa xe sau khi kéo cần mở nắp ca-bô. Cửa xe kêu cót két đến chói tai. Kim cũng muốn ra khỏi xe để tránh hơi nóng hâm hấp, nhưng không tài nào mở nổi cánh cửa phía tay phải. Người cha mở hộ cho con, sẵn dịp với tay lấy hộp đồ nghề giấu dưới ghế nệm. Trong lúc ba loay hoay tìm hiểu căn bệnh chiếc xe già, Kim hỏi:
– Ba mua chiếc xe này bao nhiêu vậy?
– Ba trăm.
– Ba trăm? Funny! Xe mua ba trăm làm sao chạy được!
– Được chứ! Bằng chứng là ba vẫn chạy đi làm hơn một năm qua. Với lại tuy xe cũ, nhưng ba có biết nghề máy, nên hư đâu ba sửa đó, không ngại. Con đưa cho ba cái khăn bẩn ba nhét dưới đệm lót chân. Không phải bên đó, bên này này. Cảm ơn con. Không hiểu sao nhớt ra nhiều thế này!
– Hôm trước chú Kỳ lại thăm, đi chiếc xe Toyota khá mới. Chú ấy nói chỉ mua 2000 thôi. Chú chở con với mom đi thử, thấy chạy êm lắm!
– Chú Kỳ là ai vậy?
– Con cũng chẳng biết. Nghe mom nói chú ấy làm cùng sở với mom.
– Con tìm xem trong cái hộp gỗ phía thùng xe có cái… cái… nói làm sao cho con hiểu đây (người đàn ông cố diễn tả bằng cách vẽ lên không nhưng không làm được). Chật! Ba lại quên mất tiếng Anh gọi cái đó là cái gì. A phải rồi, con tìm cho ba cái monkey wrench.
Kim cười thấy ba mình tội nghiệp như người lạc vào xứ lạ, làm theo lời ba sai. Người cha hì hục sửa một lúc, không nói gì. Nắng bắt đầu gắt, mà khoảng đường này lại không có lấy một bóng cây. Kim thấy áo ba đẫm mồ hôi, ngại ngùng hỏi:
– Ba có mệt không ba?
– Không. Sắp xong rồi.
– Sao ba không vay tiền mua xe mới như mẹ vậy?
– Ba mới qua, nghề nghiệp không vững, ai cho vay.
– Sao ba không mượn tiền của mom?
Người đàn ông ngửng phắt lên, nhìn con đăm đăm rồi hỏi:
– Nếu ba hỏi mượn, mẹ có cho không?
Kim suy nghĩ một lúc, rồi thú nhận:
– Con không biết.
Người cha cười, rồi nói:
– Ba hỏi đùa cho vui, chứ mẹ con không có tiền cho ba mượn đâu. Mẹ nợ đủ thứ, tiền mua nhà này, tiền mua xe này, tiền nợ credit này… Chiếc Volvo của mẹ con mới thật, nhưng mẹ con chỉ mới làm chủ được có một cái bánh xe. Còn là của ngân hàng.
Cô bé bật cười vì ý ba quá ngộ nghĩnh, Kim hỏi:
– Thế căn nhà con với mom ở, mom làm chủ được thứ gì?
Tự nhiên người đàn ông tức giận vu vơ. Ông nói, giọng chua chát:
– Mới được cái restroom.
Kim nhíu mày, kêu lên:
– Ba nói kỳ!
– Chú Kỳ có thường lại nhà mình không?
– Ba hỏi gì ạ?
Người đàn ông ngập ngừng, không muốn nhắc lại câu hỏi. Ông đã sửa xong xe, nên đóng mạnh ca bô lại thay cho câu trả lời con gái. Ông bảo con:
– Kim lên xe trước ba đóng cửa xe cho. Sức con không kéo ập vào được đâu. Coi chừng chéo vạt áo!
Họ lại khởi hành. Thấy con lấy tờ báo quạt quạt cho hơi nóng tan bớt, người cha hỏi đùa:
– Chiếc Volvo của mẹ làm gì có máy sưởi tốt bằng cái Pinto của ba, phải không?
Kim cười thích chí vì câu pha trò:
– Ba funny quá!
– Đời còn nhiều chuyện funny lắm. Con lớn lên, sẽ biết hết.
Cô bé không hiểu rõ ba mình nói gì, chỉ đoán qua nét mặt ba khi ba nói câu ấy, có cái gì buồn buồn, có cái gì nhẫn nhục, có cái gì cay đắng. Rồi cũng chẳng hiểu do đâu, Kim hỏi ba:
– Hồi mới sang Mỹ, ba có thấy con giống tấm hình mom gửi về Việt Nam cho ba không?
– Giống thế nào được. Những tấm hình mẹ gởi sau đều thất lạc cả. Bà nội chỉ nhận được tấm hình mẹ chụp với con lúc con lên bốn. Tội nghiệp, nội đi thăm nuôi ba tận ngoài Bắc, mang xách lỉnh kỉnh đủ thứ vậy mà không quên mang theo tấm hình của con cho ba nhìn mặt đứa con đầu lòng. Nhờ tấm hình đó ba chịu đựng được cho tới ngày về.
– Sao hồi đó ba không qua đây một lượt với mom?
– Mẹ đi với gia đình ngoại. Lúc ấy ba bận hành quân tận vùng 4, không về kịp.
– Hành quân? What means?
– Ơ, ba quên mất. Lúc đó ba đang đánh nhau với cộng sản ở vùng Cần Thơ, gần chỗ gia đình nội hiện nay đó.
– Đánh nhau hả? Có funny như M-A-S-H trên tivi không?
Người cha gặp câu hỏi bất ngờ, ngớ ra một lúc, cuối cùng đành đáp cho qua:
– Ờ, cũng funny như vậy.
Kim không hiểu, hỏi tiếp:
– Đánh nhau vui thế, sao họ bỏ tù ba lâu thế?
– Tại họ funny, thế thôi!
Lối giải thích của ba không vừa lòng tò mò của Kim, nhưng thấy nét mặt ba không vui, nên cô bé ngồi yên không hỏi nữa.
Người đàn ông tưởng con phật ý, hỏi câu gì đó cho không khí bớt căng thẳng.
– Nãy giờ mải nói chuyện quên mất việc ghé mua sandwich, con thích sandwich hay là hot dog?
– Con thích hot dog hơn.
– Con có biết gần đây có tiệm Liquor nào không?
– Hình như chỗ kia kìa, ba. Ở gần góc đường trước mặt phía tay trái. Ba sang lane đi.
Người cha làm theo lời con, nhưng đến ngả tư mới thấy đoạn này có bảng cấm không cho quẹo chữ U, mà tiệm thực phẩm lại nằm hơi xa ngả tư. Kim bảo:
– Mình rẽ trái, ba há! Rồi mình tìm cách quay lại chỗ tiệm Liquor mua cái gì uống, con khát quá!
– Ba cũng khát!
Họ tìm chỗ đậu xe, rồi vào hiệu thực phẩm. Cô bé tí toáy với cái cần chơi game trong khi người cha tìm mua các thứ cần thiết.
Khi ba Kim ôm bọc giấy đến chỗ cô bé đứng, ông đưa cho cô bé hai thỏi kẹo chocolate đậu phụng. Kim nhăn mày, đầu ngún nguấy:
– Oh my God! Ba không biết là con chán kẹo lắm sao!
Người đàn ông ngớ ra, bất ngờ nhận thấy mình lạc loài. Nhận thấy mình vẫn còn suy nghĩ, hành động như hồi còn ở Việt Nam, thời mà đêm đêm những giấc mơ đẹp nhất không phải là những nàng tiên hiền, không phải là những cuộc tình có hậu, không phải là những cảnh thái bình thịnh trị ra đường không ai thèm nhặt của rơi và đời trải chiếu hoa cho người thánh thiện, mà là mơ một buổi đẹp trời nào đó người tù được nhai thật chậm một miếng thịt mỡ lớn bằng ngón tay cái, hoặc nguyên một tán đường mía. Ông vụng về lúng túng không biết phải làm gì với hai thỏi kẹo bị chối từ. Ông cố vớt vát:
– Con không thích kẹo. Thế thích thứ gì, ba mua cho, kem nhé?
– Con cũng ngán cả kem.
– Potatoes chips nhé?
-Không.
Giọng người cha bắt đầu bực:
– Thế con thích thứ gì?
Giọng cô bé đột nhiên nghiêm trọng, thì thào chậm chạp như giọng cầu nguyện.
– Con thích được thấy ba cười.
Người đàn ông chống chế:
– Ba vẫn cười đấy chứ, xem này!
– Không phải. Ba cười mà như mếu.
Kim bỏ hẳn cần chơi game, quay lại ngước nhìn thẳng vào mặt ba, e dè nói:
– Ba này!
– Cái gì?
– Tại sao ba dọn đi, không ở với mom và con?
Người đàn ông đổi sắc mặt, bảo con:
– Thôi ta đi kẻo trễ.
Cô bé cưỡng lại không chịu theo người cha, giọng nói như sắp khóc:
– Không. Con không đi biển nữa đâu. Bây giờ đã 2 giờ chiều, mom sắp về. Con muốn… con muốn ba đáp câu con hỏi.
Người đàn ông liếc nhìn về phía người đàn bà Mỹ ở quầy thu ngân, yên tâm không ai hiểu tiếng Việt, nên mới cố dằn xúc động bảo con:
– Chuyện người lớn rắc rối phức tạp, con hiểu được không? Ba y như người đi bắt bóng. Ở trong trại cải tạo đêm ngày chỉ mơ ngày về. Được về rồi thì mơ ngày được thoát khỏi cái trại tù mênh mông quê hương, được có ngày ôm mẹ với con vào lòng. Ba đã toại nguyện. Nhưng đến khi giấc mơ thành sự thật, ba lại thấy người ba ôm trong tay không còn là mẹ nữa, liệu con có hiểu được chuyện đó không?
Kim thú thực:
– Con chỉ hiểu lờ mờ là chuyện ba nói không có gì funny hết. Vì thế ba ít cười.
Từ đó đến khi trở về lại căn nhà ở chân đồi, hai cha con không nói gì với nhau nữa. Tiếng máy xe Pinto già nua vì thế nổ lớn hơn. Nghe rõ đến cả tiếng lục cục bất trắc và hơi thở hổn hển rán quá sức.

Nguyễn Mộng Giác
Cali 6.1984

BIỂN XƯA

nguyenmonggiac

Mãi hai tháng sau khi nhận việc vẽ mẫu quảng cáo cho công ty sản xuất đồ gỗ này, chàng mới biết trong số hơn năm mươi nhân viên kế toán điều hành của sở, chàng không phải là người Việt Nam duy nhất. Từ tiểu bang lạnh lẽo cô quạnh miền Đông qua đây tìm hơi ấm đồng hương, chàng bỏ ngay được thói quen hễ gặp khuôn mặt Á đông nào cũng vồn vã đến chào hỏi bằng tiếng Việt. Vì người Việt tị nạn ở đây đông quá, những ngày cuối tuần đi chợ ở phố Bolsa, chàng thấy những người Mỹ lạc vào khu vực này chẳng khác gì những người ngoại quốc. Tìm kiếm để nhìn một dáng người nhỏ nhắn, một đôi mắt xếch, một làn da nâu, một giọng nói thanh và trầm bổng, đã hết thành một nhu cầu cần thiết. Chàng trở nên lạnh lùng hơn, dè dặt hơn.

 

Chính vì thế mà mặc dù có đến mười sáu người Á đông cùng làm chung sở, suốt hai tháng đầu, chàng vẫn dùng tiếng Anh để giao thiệp. Nói cho đúng, ban đầu chàng cũng có thử tìm đồng hương đôi ba bận. Ông bạn làm chung phòng tối với chàng người Đại Hàn. Thân thể ông ta vạm vỡ, mắt ti hí, cử chỉ mạnh bạo tục tằn như một võ sĩ trong phim Nhật. Khỏi cần hỏi, chàng cũng biết gốc gác ông ta. Cậu thanh niên 25 tuổi làm ở phòng stripping có vẻ Việt Nam lắm, chàng thử dùng tiếng Việt chào hỏi anh ta trong giờ nghỉ ăn trưa, để phải nghe một tràng tiếng Tàu líu lo. Ông cụ chạy máy Solna nước da ngăm, tóc đen, dáng nhỏ nhưng lại gốc Mễ. Những người Á đông còn lại đều thuộc phái yếu, mà chàng lại vụng giao thiệp với phái này. Vì vậy, cho tiện sổ sách, chàng xếp bảy cô làm ở phòng kế toán vào nhóm những công dân Mỹ gốc Asian và các đảo thuộc Thái bình dương, như lối phân chia sắc tộc trong mọi giấy tờ về lý lịch trên đất Mỹ.

Hai tuần trước Tết, chàng lên phòng điều hành nhân viên để báo cho ban giám đốc biết chàng chọn hai tuần lễ được nghỉ hàng năm vào dịp Tết âm lịch sắp đến, để có thể đáp máy bay về miền Đông thăm gia đình. Lúc đi ngang qua phòng kế toán, chàng sững người lại. Trên bàn gỗ nhỏ gần lối đi, ngoài cái bóp da phụ nữ, một mẫu giấy lau kleenex vò nát, một thỏi son, còn có thêm một cái bánh chưng gói giấy bạc và cột bằng băng đỏ. Chàng hồi hộp như người sắp bắt được của, chắc chắn là một bạn đồng hương đây! Cái lối gói bánh chưng một cách “hiện đại” như thế này, thứ giấy gói xa xỉ tiện lợi để thay thế cho loại lá chuối non hơ nóng và lạt buộc bánh chưng của quê hương xa xưa, chàng chỉ có thể tìm thấy trong cộng đồng Việt Nam mà thôi!

Chàng chần chờ ít lâu ở phòng kế toán vắng người rồi cuối cùng, không thấy ai trở lại, chàng phải qua phòng nhân viên. Vòng về, phòng kế toán vẫn trống vắng. Đành phải trở về phòng ấn loát quảng cáo vậy! Sáng hôm đó, chàng phụ trách vẽ một mẫu bàn gỗ sồi dùng cho các văn phòng. Dù không ai bảo, chàng vẽ thêm vào số các vật dụng để trên bàn như máy computer, điện thoại, hộp đựng viết, cái intercom, một vật vuông vức mới trông giống y một món quà Giáng Sinh nhận muộn. Cái bánh chưng của quê hương xa xôi đấy!

Chuông reo báo hiệu giờ nghỉ ăn trưa. Chàng hồi hộp như thuở xưa hồi hộp chờ người yêu trên ghế đá công viên trước trường Đồng Khánh. Chàng chạy vội lên phòng kế toán. Chàng không lầm. Cô thư ký đang đánh máy dở dang là một người Á đông. Chàng thấy cô ta đẹp tuyệt vời, và không giữ được chút ý niệm nào về tuổi tác cô ta lúc chàng vội chạy về phòng quảng cáo để lấy mẫu vẽ chiếc bàn gỗ sồi. Chạy trở lại phòng kế toán, cô gái đã tắt máy computer và đang lo xếp dọn tạm đống giấy tờ bừa bộn trên bàn. Cái bánh chưng bao giấy bạc và cột băng đỏ bây giờ được đặt trên cái bóp da.

Chàng đứng trân người không biết phải nói gì, khi cô gái ngước lên hỏi chàng bằng một giọng Mỹ sành sỏi:

May I help you?

Chàng ú ớ vài tiếng ngoài tầm kiểm soát, cuối cùng chìa ra cho cô ta xem mẫu vẽ chiếc bàn gỗ sồi. Cô gái đã đứng dậy, nhìn chăm chú vào tờ giấy croquis, và mặc dù chẳng hiểu gì cả, vẫn giữ phép lịch sự bằng cách vừa nghiêng đầu ngắm nghía vừa khen lấy khen để:

It ‘s very beautiful. Very very beautiful!

Chàng bật hỏi bằng tiếng Việt:

– Cô có nhận ra cái bánh chưng không?

Cô thư ký quay ngoắt lại nhìn chàng, giọng Hà Nội êm ả :

– Cái bánh chưng à? Thế mà, tôi cứ tưởng…

Và cả hai cười xòa. Họ làm quen với nhau chóng vánh, và chàng mời người bạn gái đồng hương đi ăn trưa.

Tiệm Mc Donald khá vắng. Ở góc trái,chỉ có hai vợ chồng người Mỹ già đang vừa ăn vừa chán nản nhìn nhau. Chàng thích cái lối kẻ cả tự tin hết sức “nội trợ” của nàng, cái lối để mặc cho người đàn ông lấy khay đi mua thức ăn và cà phê, còn mình thì ngang nhiên kéo ghế ngồi chờ đợi. Chàng đặt cái khay màu gạch trước mặt nàng. Ly cà phê xúc động hơi chao nghiêng, đổ một ít lên khay, thấm một góc giấy lau trắng nõn. Nàng nói thật rõ hai tiếng “cảm ơn“, rồi hai bàn tay đan lấy nhau đặt lên bàn, ngước mặt lên chờ. Chàng thành thật bảo :

– Lạ quá, tôi trông cô quen quen.

Nàng bật cười:

– Anh không tìm được câu nào khác ư?

Chàng đỏ mặt vì “quê“! Liếc vội lên nhìn nàng, chàng nhận ra lần đầu dấu vết của tuổi tác. Đôi mắt tuy đang cười cợt nhưng không dấu hết được nét buồn. Đôi môi thoa son hồng, nhưng môi trên thường mím lấy môi dưới, chịu đựng. Một vài nốt tàn nhang trên gò má trái và trên trán. Chàng đoán cô thư ký khoảng trên ba mươi. Và chàng bắt đầu lấy lại được tự tin, bỏ hẳn được nỗi áy náy về tuổi tác chênh lệch. Chàng bạo dạn hơn, với tay lấy tờ giấy lau thấm sạch cà phê đổ trên khay thức ăn của nàng, rồi đến chỗ quầy lấy thêm một xấp giấy lau khác. Sau khi ngồi lại chỗ cũ, chàng mới hỏi:

– Theo cô thì nên dùng câu nào?

Nàng cười, có vẻ thích thú vì dường như sắp tham dự vào một trò chơi ngộ nghĩnh. Nàng bảo:

– Những câu về thời tiết : Hôm nay trời lạnh khiếp. Bữa nay bớt nóng hơn hôm qua. Hoặc văn chương hơn: Sau mấy ngày u ám, trông nắng mới ngon lạ!

– Câu cuối tôi nghe quen quen!

Nàng bật cười:

– Lại quen quen. Của Nhất Linh đấy. Trong cuốn Bướm trắng.

– Ở đoạn nào?

– Anh ăn đi đã. Tôi xin phép uống cà phê trước, kẻo nguội.

Nàng hớp một ngụm cà phê, rồi ngước lên nhìn chàng. Chàng không dám ăn, cứ nghĩ phải cầm bằng hai tay miếng big Mac to tướng đưa vào mồm, hả miệng cắn, rồi nhai ngồm ngoàm, trông thô bỉ quá. Chàng nấn ná bằng cách hỏi lại:

– Đoạn nào trong Bướm trắng?

– Đoạn Trương gặp Thu trên xe điện, sau khi dự đám tang về.

– Anh chàng đó mở lời khá hơn tôi!

Nàng bật cười, suýt chút nữa bị sặc vì đang ngậm ngụm cà phê loãng. Chàng tiếp luôn:

– Nhưng tôi không khách sáo. Tôi thành thật. Hình như tôi mang máng đã thấy cô ở đâu đó, lâu lắm!

Nàng trêu:

– Ở đây, từ hai tháng nay!

– Không phải thế đâu! Hình như tận hồi ở Việt Nam. Cô qua đây hồi nào?

– Từ 1975. Đây cũng là một câu mở lời quen thuộc.

Chàng hơi khó chịu vì vẻ tỉnh táo kẻ cả của cô thư ký. Khuôn mặt nàng trở nên sắc sảo hơn, chàng chú ý đến đuôi mắt hơi xếch và chóp mũi quá nhọn. Chàng cầm miếng big Mac đưa lên miệng, ăn tự nhiên. Cô thư ký cũng bắt đầu ăn. Ở góc phòng, người chồng Mỹ già nổi cơn ho một hồi. Tiếng người vợ càu nhàu, chàng nghe thấp thoáng hình như cụ bà trách cụ ông không chịu mặc thêm áo ấm trước khi đi ăn. Nàng quay nhìn hai vợ chồng già, một lúc, quay lại, đột nhiên đưa cho chàng mảnh giấy lau và bảo:

– Anh chùi vết bơ bên mép phải! Không! Bên kia.

Chàng lại cảm động trước cử chỉ ân cần, ngưng ăn, hỏi nàng:

– Hồi ở Việt Nam cô có ở Huế không?

– Không.

– Vậy mà tôi cứ ngờ ngợ đã gặp cô ở Huế.

Nàng cười nhỏ:

– Vậy là anh lầm với người khác rồi đấy.

Chàng quả quyết:

– Nhất định tôi không lầm. Bây giờ… bây giờ thì tôi nhớ rõ hơn. Huế. Khoảng cuối 1974 đầu 1975. Phải. Huế của thời kỳ thoi thóp cuối cùng. Lúc ấy tiểu đoàn của chúng tôi đóng ở đó…

Nàng ngồi thẳng người trên ghế, đặt nửa chiếc big Mac lên khay, nhìn chàng chờ đợi. Vẻ giễu cợt kẻ cả không còn nữa. Nàng hỏi, giọng hơi thảng thốt:

– Anh ở binh chủng nào?

– Thủy quân lục chiến.

Nét mặt nàng đột ngột thất sắc. Đôi mắt như dại đi. Chàng ngỡ ngàng, nhìn nàng vò nát mảnh giấy lau, đoán biết có điều gì trong lời chàng làm nàng xúc động tột độ. Nàng mím môi cúi mặt một lúc, rồi ngước lên. Ánh mắt lấp lánh. Môi trên run run. Mãi một lúc, nàng mới hỏi:

– Anh có biết trung úy Tâm không?

Tâm, đại đội phó của chàng. Và chàng nhớ hết, hiểu hết.

Hai vợ chồng người Mỹ già đã dìu nhau ra khỏi quán. Cô bé giữ việc thu ngân vặn to hơn một bài ca quen, bài Hello của Lionel Richie. Hai người ngồi lặng hồi lâu, không ai dám nhìn ai. Nàng thì thào trước:

– Đúng là quả đất tròn!

Chàng đáp, không hiểu rõ mình nói gì:

– Tôi mong như vậy !

– Sao lúc đó nhà tôi không nói gì tới anh cả!

– Cô biết tên tôi?

– Biết chứ! Tuần nào tôi không đánh máy check lương của anh.

Chàng trách, rất thật tâm:

– Thế mà suốt hai tháng nay, chẳng bao giờ cô xuống phòng ấn loát tìm gặp đồng hương cả!

Nàng cũng thành thực đáp:

– Tôi ngại gặp đồng hương!

– Vì sao thế?

– Chẳng hiểu vì sao. Có lẽ vì hễ thân quen người nào, cũng được nghe một câu chuyện buồn. Như hôm nay! Anh thấy không?

Chàng buồn rầu, dù nhận thấy trong lời nàng nói, cũng có một phần có lý. Chàng tiếp nối câu chuyện bỏ dở:

– Hồi đó, hồi chúng tôi sắp bị vây khổn trên bãi Thuận An. Tâm mới vừa được chuyển tới tiểu đoàn bốn. Chúng tôi chỉ làm việc với nhau cỡ bốn tháng, từ tháng 11 năm 74 cho đến lúc… cho đến lúc…

Cô thâu ngân viên có lẽ khoái bài Hello nên quay trở lại băng cassette nghe thêm một lần nữa. Và ở âm độ to hơn. Hello. It ‘s me you’re looking for … Giọng run run của nàng bị lời ca che khuất, nghe thấp thoáng:

– … chạy xuống bến Bạch Đằng với… Guam mới có người cho tin nhà tôi…

Chàng đứng dậy, đến chỗ quầy xin cô bé Mỹ vặn nhỏ cái cassette một chút. Cô ta xin lỗi, rồi để chứng tỏ thiện chí tối đa, vui vẻ tắt hẳn cái máy thu băng. Lúc trở lại bàn, cô thư ký đã lấy lại được bình tĩnh. Nàng hỏi rành rọt:

– Anh có ở bên cạnh, lúc nhà tôi mất?

– Vâng !

Nàng đưa mảnh giấy lau lên che miệng, ho khẽ rồi cố lấy giọng tự nhiên hỏi:

– Anh ấy có đau đớn không?

Chàng không biết đáp thế nào. Suy nghĩ một lúc, chàng đáp:

– Không !

Nàng cười buồn, thở ra, có vẻ yên lòng. Lại hỏi vu vơ:

– Có lẽ nhờ anh ấy không hề biết trước mình chết!

– Không phải thế!

Nàng ngước lên, đôi mắt dọ dẫm, e ngại không muốn biết mà cũng nao nức muốn biết. Chàng nhận thấy nếu không nói hết một lần thì chẳng còn bao giờ có dịp sống lại những giây phút ấy. Khi nét mặt cô thư ký có vẻ bình tĩnh hơn, chàng nói:

– Lúc đó tiểu đoàn chúng tôi giữ bên này sông Mỹ Chánh. Có lệnh phá sập cầu. Chúng tôi vừa làm xong thì có lệnh bằng bất cứ giá nào, với trang bị nhẹ, phải rút về Thuận An. Mỗi đứa chỉ giữ một khẩu M16, vài quả lựu đạn, 20 viên đạn và đi bộ qua Huế. Nhà máy điện đã bị pháo kích hôm trước nên Huế là thành phố chết. Không ánh sáng, vài người già cả còn lại. Một bà cụ không hiểu do đâu lạc lõng ở đoạn phố trước Phú Văn lâu, mếu máo khóc nhìn chúng tôi đi qua. Đầu cầu Bạch Hổ, một chú lính địa phương quân còn đứng gác. Tôi dừng lại, quát hỏi ai ra lệnh cho chú đứng đây. Chú ta bảo lệnh của trung sĩ. Ông trung sĩ già trong trạm canh chạy ra, bảo vì không có lệnh nên vẫn thi hành nhiệm vụ giữ cầu. Tôi bảo hãy về gấp đem gia đình chạy về hướng Nam. Cầu Trường Tiền đang bị pháo kích dồn dập. Tâm bảo tôi hãy đi qua cầu Trường Tiền để có kỷ niệm cuối. Chúng tôi qua cầu sắt, không việc gì.

Chạy xuống đến bãi biển Thuận An thì được tin tàu hải quân không có ý trở vào đón chúng tôi nữa. Chúng tôi đang ở tuyệt lộ. Sau lưng là phá Tam Giang. Bên trái là cửa Thuận An, bên phải, cửa Tư Hiền. Trước mặt là biển, cả gần nghìn quân chúng tôi ở vào cảnh tuyệt lộ, nhưng cứ chạy dọc theo bãi cát Thuận An. Phải chạy sát vào mé nước để tránh cát lún, người sau chạy theo người trước. Phía trước đứng thì đứng, phía trước bắt đầu chạy thì chạy, đầu óc hoàn toàn trống rỗng. Tôi chạy giữa, bên phải là Tâm, bên trái là trung sĩ truyền tin. Tâm mạnh hơn tôi nên nhiều lúc tôi gục xuống, Tâm đứng lại, phụ với người trung sĩ xốc nách tôi lên. Lại chạy về phía trước, trong khi súng du kích lâu lâu nổ hàng loạt vào đoàn chúng tôi.

Bây giờ tôi không nhớ “chuyện đó” bắt đầu xẩy ra ở đâu, lúc nào, nhưng hình như chạy khỏi bãi tắm Thuận An độ một giờ, thì bắt đầu có người tách khỏi đoàn, đến ngồi bệt gần mé nước. Một lúc, thêm một người tách đoàn đến ngồi bên người trước. Rồi người thứ ba, người thứ tư. Họ ngồi quây tròn, lặng lẽ. Một tiếng lựu đạn nổ. Đoàn người khựng lại một chút, rồi tiếp tục chạy. Một lúc sau, một người khác tách đoàn, đến ngồi bên mé nước. Và vòng người kín dần, thành hình. Lại một tiếng nổ… Tâm đã vỗ vai vĩnh biệt tôi lúc gần đến cửa Tư Hiền, để làm một trong những người đầu tiên lập vòng mới!

Người đàn bà chết lặng hồi lâu, ngồi im như pho tượng, hai tay thu xuống dưới chiếc bàn ăn. Một đám thực khách mới vào quán, họ vui vẻ nói năng liến thoắng vì hầu hết là nữ sinh trung học ở khu lân cận. Không khí trong quán khác hẳn. Nàng cố gượng vui, ho khẽ một tiếng, rồi hỏi với giọng hơi khao khao:

– Anh ấy có dặn gì không ?

– Không !

Hình như nàng hơi thất vọng, lại đưa giấy lên che miệng để ho. Mảnh giấy bị vo tròn, và bị vứt vào giữa khay. Giọng nàng dứt khoát hơn:

– Chẳng lẽ trước đó, trước khi rút khỏi Mỹ Chánh, anh ấy không nói gì về vợ con cả!

– Có chứ. Tâm có đưa ảnh cô cho tôi xem. Cả cái ảnh cháu gái vừa làm lễ mừng thôi nôi. Bây giờ, cháu đó ra sao?

– Cháu đã lên 12. Đang học lớp sáu trường Santiago.

Chàng hỏi:

– Cháu nó chắc ngoan lắm!

Nàng cười buồn:

– Vâng, khá ngoan. Lâu lâu có nổi cơn ưa chọc ghẹo mấy đứa em, nhưng khi bị mắng, có biết xin lỗi.

Chàng ngước lên, nhìn người đàn bà đăm đăm. Nàng thở dài, giọng phân bua:

– Tại nó không thích mấy đứa em lai. Nhưng biết làm sao bây giờ?

***

Đám nữ sinh bu đến quầy, tíu tít nói gì đó với cô bé thu ngân. Giọng hát của Lionel Richie lại mở lớn: Hello, It ‘s me you ‘re looking for !


Nguyễn Mộng Giác

Garden Grove 1.1985

Một ngày như mọi ngày

nguyenmonggiac

Thượng đế hấp tấp tạo dựng ra muôn vật khi chưa kịp đọc kỹ bản tuyên ngôn nhân quyền. Chàng bật cười nhớ lại cái ý ngộ nghĩnh đó của Will Durant, sử gia người Mỹ đã bỏ cả đời để viết bộ lịch sử văn minh nhân loại. Chí lý thay! Nếu Ngài ngập ngừng thêm một sát-na (xin mở ngoặc đơn lưu ý là một sát-na của Thượng đế bằng khoảng thời gian dằng dặc từ thời khai thiên lập địa cho đến thế kỷ 20) để đọc được bản tuyên ngôn đẹp như mộng ấy đủ hai sát-na, Ngài đã không bắt chàng sống cuộc đời vô tích sự như vậy. Mọi người đều được quyền có việc làm. Nhiều người được ân sủng của Thượng đế. Chàng thì không. Chàng chẳng biết phải làm gì. Ðứa con gái út hỏi nghề nghiệp cha để ghi vào sơ yếu lý lịch nộp cho nhà trường. Chàng bối rối không biết trả lời con thế nào. Vợ chàng nhanh trí đáp hộ: “mất sức lao động”. Con gái chàng không hiểu gì cả. Chàng lườm vợ, bất bình. Vợ chàng đỏ mặt. Chàng hỏi gay gắt:
– Ai cho phép em đặt tên con là Gái Út?
Vợ chàng không vừa:
– Ðó không phải là lao động!
Thượng đế cao xanh ơi! Ðến vợ con còn không hiểu được chàng, làm sao người ngoài hiểu được! Chẳng trách ai cũng gọi chàng là con người lêu bêu vô ích!
Chàng ái ngại thương mình. Kể ra chàng cũng có cố gắng đấy chứ. Việc gì chàng cũng làm hết mình, rán đến nơi đến chốn. Kết quả tuy không ra gì nhưng “mưu sự tại chàng, còn thành sự tại trời”. Chàng thành thực thấy mình oan uổng không đáng trách.
Thử lấy một ngày nào đó từ lúc thức dậy đến khi đi ngủ xem chàng đã làm gì! Ngày nào cũng được, trừ chủ nhật. Một ngày như mọi ngày. Chàng cẩn thận yêu cầu tránh giùm ngày chủ nhật vì hôm đó vợ chàng ở nhà, chương trình làm việc của chàng bị xáo trộn. Chàng cũng không được thoải mái mấy, nên kết quả lao động hôm ấy thiếu tính chất tiêu biểu, nghĩa là không đủ tiêu chuẩn khoa học khách quan.
Chàng thức dậy lúc bảy giờ. Ðáng lý chàng có thể dậy sớm hơn vì đêm nào chàng cũng thao thức tiếc rẻ một cái gì. Tiếc một ngày nữa đã qua chăng? Tiếc những trang giấy vô tội bị bôi bẩn chăng? Tiếc của vì lỡ xé vụn một tờ nháp chăng? Có thể lắm. Nhưng đó là chuyện hôm trước. Chàng chỉ kể đến hôm nay, một ngày như mọi ngày. Chàng dậy trễ để chờ vợ ra khỏi nhà. Chàng thích được tự do, độc lập, hai thứ không có gì quí hơn. Vợ chàng dắt xe cắp cặp đi dạy xong, chàng tung chăn ngồi dậy, vươn vai, ngáp. Khoái thật! Ngáp cũng là một động tác thể dục buổi sáng, theo khám phá mới nhất của phép luyện nội công dành cho người lao lực về trí tuệ. Chàng ngáp một cái, hai cái, ba cái. Ðúng sách vở thì ngáp ba cái là đủ. Nhưng… nhưng sao thế này? Chàng ngáp thêm cái nữa, rồi cái nữa, rồi cái cái nữa nữa! À! Chàng nhớ ra rồi. Sách dạy nội công thánh thật! Quả đúng ngáp ba cái thì uế khí trong người bị đẩy ra hết, nội công lại thâm hậu đủ mười hai thành công lực, trí tuệ trở nên hoàn toàn sáng suốt. Nhờ trí tuệ sáng suốt, qua cái ngáp thứ tư trở đi, chàng nhớ một cách sáng suốt rằng mình chưa hề uống cà phê và hút điếu thuốc lá nào cho hôm nay. Cũng nhờ sáng suốt nên chàng trầm ngâm suy nghĩ được lâu. Chàng khám phá ra cái vòng lẩn quẩn của cuộc đời nhờ qui nạp pháp. Chàng có nói ngoa đâu! Này nhé, chàng bắt đầu từ chuyện ghiền cà phê thuốc lá của mình, một chuyện hoàn toàn vặt vãnh tưởng như không có gì đáng nói tới. Khối óc chàng có mụ mẫm đôi chút, trì trệ ì ạch đôi chút nên chàng cần chút xíu chất kích thích để phấn chấn lên. Cà phê thuốc lá nguyên chất còn vô hại, huống chi thứ cà phê pha 92,4% bắp rang và thuốc lá trộn 89,6% lá đu đủ. Xin yên tâm đừng nghe lời các thầy thuốc dại mồm dại miệng! Chàng cần chút xíu thứ nước và thứ khói gọi là cà phê thuốc lá ấy để đầu óc thêm minh mẫn. Ðầu óc minh mẫn để làm gì? Ðể suy nghĩ chín chắn xem trong các thứ đồ đạc còn lại trong nhà, chàng nên bán thứ gì trước thứ gì sau, bán thứ nào thì được mau mắn hơn thứ nào, nên bán thứ gì để được cao giá hơn thứ khác. Bán để làm gì? Ðể mua thứ nước và thứ khói gọi là cà phê và thuốc lá? Mua để làm gì? Ðể đầu óc thêm minh mẫn? Minh mẫn để làm gì? Ðể nghĩ chín chắn xem thứ gì còn bán được? Bán để mua cà phê thuốc lá! Ðể đầu óc minh mẫn! Ðể nặn óc nghĩ cạn xem còn bán được gì nữa không! Bán để mua cà phê thuốc lá…
Ðấy đấy. Không phải cái vòng lẩn quẩn của cuộc đời là gì. Phóng đại qui nạp pháp rộng thêm nữa, có thể suy ra cả luật tuần hoàn của vũ trụ, từ đó rút ra cả một hệ thống nhân sinh quan hoặc vũ trụ quan đủ, dư xài cho một đời! Kỳ diệu thay cái ngáp! Thế là chàng hăm hở bắt tay vào công việc đầu tiên trong một ngày bình thường, một ngày như mọi ngày!
Sau khi súc miệng rửa mặt xong, chàng đi ra đi vô suy nghĩ lung lắm. Chàng nhìn quanh: cái tủ sách đã vỡ kính, sợ, nép mình sát vào vách tối. Cái bàn viết gỗ tạp hạ chân xuống núp sau tủ sách. Cái radio cũ gãy cần ăng ten giơ cái tay cụt làm chứng như hô hoán: “Tôi là đồ bỏ, không ai thèm mua đâu!” Cái giường thì dọa: “Không có tao, nằm đất bị phong thấp cho coi”. Cái lọ hoa mẻ miệng thều thào: “Lạy Chúa, xin thương kẻ tật nguyền!” Chàng chỉ giả vờ lừ mắt dọa chúng nó thôi. Sức mấy chàng dám động đến những thứ ấy. Chúng thuộc độc quyền của vợ chàng. Chàng không mang được đồng xu cắc bạc nào về, thì không được phép chạm đến các thứ ấy. Phải để cho vợ chàng có phương tiện bù đắp những hao hụt trong chi tiêu hàng tháng chứ!
Chàng chỉ được phép nghĩ đến những thứ vặt vãnh xứng hợp với giá tiền cà phê thuốc lá dỏm. Hôm nay còn bán được món gì đây? Bột ngọt? Giá cao đấy. Hai trăm năm mươi đồng một ký, gấp năm lần số lương của vợ chàng. Vị chi 100 grams bán được những 25 đồng. Hai năm trước, chàng đã từng lén vợ bán 100 grams bột ngọt để đủ bao bốn người bạn văn đi nhậu một bữa phủ phê. Hồi đó tiêu chuẩn nhu yếu phẩm của công nhân viên còn khá, nên chàng tái phạm nhiều lần mà vợ chàng không hề hay biết. Bây giờ mỗi tháng chỉ được chia cho vài ba muỗng cà phê, vợ chàng ham tiền bán ngay trên đường về. Chàng thúc thủ, bỏ ngay ý định thứ nhất. Bao ni-lông chăng? Chàng rất sành giá cả. Một ký loại còn trong giá 20 đồng. Loại tái sinh không biết đến kiếp thứ mấy mầu nâu lợn cợn chất bẩn giá 14 đồng. Cũng cao giá đấy chứ! Nhưng Gái Út đã nằn nì xin chàng 58,6 grams để làm “Kế hoạch nhỏ”. Không nạp bao ni-lông và giấy vụn cho đội làm kế hoạch nhỏ, Gái Út sẽ không được công nhận là Cháu Ngoan Bác Hồ. Không phải là cháu ngoan của Bác, chao ôi, hại tương lai biết mấy! Thế là lại bỏ “phương án” thứ hai. Gạochăng? Hơi phức tạp đấy! Hình như trong lu da lươn còn một ít gạo, loại cửa hàng lương thực bán cho gia đình công nhân viên có độn nhiều thóc, bông cỏ và sạn. Giá một ký ngoài thị trường tự do là 6 đồng 25 xu. Tối hôm qua, vợ chàng căn dặn sáng hôm nay nếu cửa hàng có gọi đi mua gạo thì nhớ xem các cô cân cho đủ. Nhưng nếu nhỡ họ không gọi, hoặc xe chở gạo trên phòng lương thực bị hư chưa chở kịp, thì làm thế nào? Nguy hiểm lắm. Không đùa với lu gạo được. Lấy hết sáng suốt suy đi nghĩ lại, chàng chỉ thấy còn nước cuối cùng: trở về lũ bạn quyến thuộc thân yêu của chàng, lũ bạn đã từng chia sẻ với chàng bao nhiêu đắng cay, vinh nhục, lặng lẽ âu yếm theo dõi cuộc đời chàng. Chỉ còn lũ sách. Chàng đau nhói cả lòng. Bao nhiêu năm chàng sống giữa sách, sống vì sách. Bắt chước một câu khẩu hiệu cũ, chàng có thể nói: “Chàng là của sách, do sách, và vì sách”. Hồi còn đi học, cha mẹ chàng gửi cho mỗi tháng 1.200 đồng. Tiền cơm tháng 700. Tiền nhà 200. Còn lại bao nhiêu thứ chi tiêu quan trọng khác! Thế mà chàng dám bỏ 200 đồng để mua sách đều đều (chàng nhớ giá mỗi cuốn tiểu thuyết bìa mỏng loại Livre de poche chỉ có 10 đồng thôi). Mỗi lần mua được cuốn sách mới, chàng trân trọng nâng niu như nâng trứng hứng hoa. Sau khi bao bìa bằng giấy kính trong suốt, chàng lật trang đầu nắn nót viết vài dòng lưu niệm rồi mới đọc. Nét chữ, lời ghi, cách ký tên giữ nguyên tâm trạng chàng ở từng thời kỳ. Lâu lâu, buồn, đọc lại, chàng cảm thấy ngộ nghĩnh và bồi hồi. “Một chiều không nắng”, “Buồn vu vơ”, “Mùa lá rụng ở thành đô”, “Một sáng heo may bên thành quách cũ”. Vợ chàng thường đem những lời ghi ấy ra chê chàng hồi nhỏ quá “cải lương”. Chàng đỏ mặt, và càng thương cậu học sinh mới lớn học đòi làm thơ hồi đó. Trưởng thành hơn, chàng ghi đơn giản lại: “Kỷ niệm ngày tốt nghiệp”, “Buổi chiều gặp em”, “Ngày cưới”. Ðôi lúc do chưa đọc sách đã ghi dòng lưu niệm, chàng gặp cảnh trái ngoe, như chàng gặp người yêu đầu tiên (và cũng là người yêu cuối cùng) đúng vào hôm chàng mua cuốn truyện La Dame aux camélias, và chàng ghi hai chữ trân trọng “ngày cưới” lên cuốn Sonate à Kreutzer của Léon Tolstoi.
Lũ bạn sách đi theo ôm ấp bảo vệ chàng suốt các chặng đường lưu lạc. Bàn viết, giường ngủ của chàng luôn luôn có sách bao bọc. Chàng chỉ cần giơ tay lên là gặp gỡ được một cuộc đời. Chàng đọc đi đọc lại những đoạn ưa thích, đến nỗi mỗi khi muốn tìm lại, chàng chỉ cần lật đến chỗ giấy lề bị đen bẩn hơn là tìm thấy. Bạn bè tứ phương kiên nhẫn chờ chàng để được hỏi han, chia vui sẻ buồn. Thế mà bây giờ, ở thế kẹt, chàng phải phản bạn. Loại sách từng bị chàng rẻ rúng như truyện kiếm hiệp, bói toán, ái tình lâm ly đã bỏ chàng ra đi từ mấy năm trước vì đắt hàng. Mấy cuốn kinh Phật chàng đã “cúng dường” cho chợ sách một năm trước đây. Sách Mỹ bìa dầy giấy khổ rộng nặng cân nên đã theo các chị ve chai. Trong tủ sách hiện giờ chỉ còn loại sách mỏng, khổ nhỏ và có giá trị theo cách đánh giá của chàng. Xin nói thêm là cách đánh giá ấy không giữ phần chủ động. Sách hay, nhưng nặng ký cũng phải biến thành cà phê thuốc lá. Chỉ có sách hay mà bị các chị ve chai chê mới còn làm bầu bạn với chàng cho tới hôm nay, một ngày như mọi ngày! Phần lớn đều thuộc loại tiểu thuyết tiếng Pháp cỡ Livre de poche, hoặc loại khảo cứu và văn học. Chàng rút ra một cuốn khá dầy: “Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay” của Tạ Tỵ do Lá Bối xuất bản. Chàng tính nhẩm: Ít ra phải được 10 đồng. Mỗi khuôn mặt văn nghệ lớn chỉ đáng 1 đồng, rẻ quá. Nhưng rút kinh nghiệm các lần trước, chàng không dám tin cách định giá khiêm nhường của mình. Ðể chắc ăn hơn, chàng lấy thêm hai cuốn nữa theo lối nhắm mắt may rủi: Sử ký của Tư Mã Thiên bản dịch tuyệt vời của Nhượng Tống, và Sonate à Kreutzer của Tolstoi. Chàng vội ấn cuốn tiểu thuyết của văn hào Nga vào kệ sách. Không được chạm đến kỷ niệm thiêng liêng của hai vợ chồng! Dù Tolstoi bi quan đến mức nào về đời sống lứa đôi, nhưng Sonate à Kreutzer vẫn cứ là một lưu niệm đẹp. Chàng nhắm mắt rút một cuốn khác! Lại Tolstoi: Résurrection. Chàng không dám do dự nữa. Nếu do dự, chàng có thể sẽ nghĩ đến máu lệ từng thấm qua nét chữ Tư Mã Thiên, hay công lao khảo cứu của Tạ Tỵ. Chàng dứt khoát đóng tủ sách lại, dặn con trông nhà, rồi đạp xe lên chợ sách đường Ðặng Thị Nhu (xưa là Bùi Quang Chiêu).
Chàng tránh các sạp bán sách cũ của bạn bè vì hai lý do: bạn văn của chàng vồn vã mời cà phê thuốc lá nhưng lại hay quên trả tiền nợ. Hơn nữa, gặp là kháo nhau đủ thứ chuyện, trong lúc chàng có nhiều việc để làm. Chàng ghé một sạp sách cũ chuyên nghiệp trước từng bán sách ở đường Lê Lợi. Người mua sách mau mắn chận chàng lại hỏi:
– Có gì bán không chú?
Tội nghiệp, đến nước này mà chàng còn ngượng. Chàng không dám cho khách qua đường thấy chàng nỡ phản bội ông bạn già Tạ Tỵ, đại văn hào Nga và nhà viết sử Trung Hoa. Chàng chìa ba quyển sách ra, cẩn thận úp sấp lại. Người chủ sạp sách cũ không cần lật ngược để xem nhan đề, hai con mắt nhà nghề đo lường khổ giấy và chất giấy, trong khi đôi tay nhà nghề nâng lên nâng xuống đo trọng lượng. Một lát, ông ta hỏi:
– Bao nhiêu?
Chàng lấy bạo ra giá:
– Hai mươi đồng!
Bấy giờ chủ sạp mới đeo kính lão vào xem nhan đề. Ông trề môi chê:
– Sách văn học bán ế lắm. Chú còn sách bói toán hay kinh Phật, bao nhiêu tôi cũng lấy. Chàng định phản đối tới cùng, nhưng thấy vô ích. Chàng cố lấy vẻ bất cần hỏi:
– Nhiêu?
– Năm đồng.
– Ba cuốn mới được 15. Rẻ quá.
– Không. Năm đồng ba cuốn. Giấy cũ, gói đồ không được, làm bị rách, các-chú chê không mua.
Chàng giận quá, dằng mấy cuốn sách trên tay chủ sạp, bỏ vào túi vải. Chàng bỏ đi. Ra khỏi chợ, chàng ngáp đến sái quai hàm. Tại thiếu cà phê thuốc lá đây! Chàng do dự, rồi rẽ phía đường Calmette ghé vào hiệu mua bán giấy cũ của chú ba Tàu quen. Chú ba lắc đầu lia lịa:
– Giấy cũ ngộ không lấy. Có L. ngộ mua cho, 18 đồng một ký.
Chàng ngớ người hỏi lại:
– Chú mua sách L. à? Chú tiến bộ dữ!
– Hà hà! Ngộ đọc loại L. toàn tập dữ lắm. Tuyển tập giấy dày hao ký, ngộ không đọc.
Chàng đâm sợ! Tại sao có chuyện lạ vậy? Một tiểu thương gốc Hoa dốt nát không đọc được chữ Việt hỏi mua L. toàn tập! Hay là… hay là một chiến dịch phá hoại mới của Trung Nam Hải như vụ nạn kiều? Biết đâu được! Giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc theo Marx nhưng không theo Lê Nin. Họ hãnh diện là Hán tộc, đâu chịu răm rắp tuân theo lời dạy một người Nga-la-tư. Phải ra lệnh cho đạo quân thứ năm là Hoa kiều các nước tung tiền thu vét hết sách L., rồi lặng lẽ tung M. tuyển ra. Thâm thật! Thảo nào! Chàng sợ rắc rối lôi thôi, vội vàng bỏ đi.
Ði đâu bây giờ? Liếc nhìn cái đồng hồ chợ Bến Thành, đồng hồ đứng. Hỏi thăm đến người thứ 37, chàng được biết lúc ấy mới 8 giờ 45 phút. Sớm quá, nhưng không biết đi đâu khi túi rỗng, chàng đành trở về nhà vậy.
Con gái chàng cho biết tổ 15 của chàng phải mua gạo trước 5 giờ chiều, trễ là khóa sổ. Chàng mừng rỡ. A ha, tìm ra kế rồi. Chiều mua gạo, vậy chàng có thể xúc tạm vài lon đi bán mua cà phê thuốc lá được.
Công việc chóng vánh hơn bán sách nhiều. Chị hàng gạo đong được 1 ký rưỡi, nhân cho 6,25, vị chi 9 đồng 375. Chàng hồi hộp hy vọng được trả 9 đồng rưỡi, nhưng chị hàng gạo bần tiện bủn xỉn keo kiệt tham lam nói:
– Lon cuối cùng hơi lưng, nên trừ bớt còn đủ 9 đồng chẵn.
Ðành nhận vậy, biết làm sao!
Chàng huýt sáo vui vẻ, hùng dũng tiến tới hàng thuốc rê.
Dì bán thuốc nhắc 1 đồng nợ hôm qua. Chàng bớt hăng hái, mua thêm 2 đồng thuốc và một xấp giấy quốc doanh giá 1đ5. còn 4đ5, chàng yên tâm đạp xe lên đường bà Lê Chân uống cà phê ở quán anh bạn thi sĩ.
Cà phê ở đây không rẻ hoặc ngon hơn các chỗ khác. Vẫn loại 92,4% và vẫn giá 1đ5 một tách nhỏ. Nhưng sở dĩ chàng chịu khó đạp xa như vậy là vì ở đấy chàng gặp đủ các bạn cũ làm văn nghệ lỡ-cỡ và lỡ-làng như chàng.
Chàng thất vọng vì thoạt nhìn vào quán hẹp dọn ghé bên chái đình, chàng không nhận ra mặt nào quen cả, anh bạn thi sĩ chủ quán cũng mất tăm. Lỡ khóa xe cẩn thận, chàng đành phải vào. Quanh chàng, hầu hết là thanh niên mới lớn và dân chạy thuốc tây chợ Tân Ðịnh.
Phía bên phải sát bếp bốn cậu trẻ tuổi tóc dài đang hăng hái khoe thành tích văn nghệ. Một cậu có lẽ đang học trường âm nhạc thành phố khoe hôm qua vừa đi nhậu say túy lúy với đại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Một cậu chuẩn thi sĩ khoe cái đầu vừa được thợ hớt tóc kiêm đại thi sĩ Phạm Thiên Thư chăm sóc cho. Chàng hứng chí, muốn tìm tên một đại văn hào để khoe dây mơ rễ má. Nhưng tìm mãi không được. Người đi tù, người đi Mỹ. Hạng nhà văn lỡ cỡ cũng có đấy, nhiều là đằng khác. Nhưng chẳng lẽ khoe nhà văn X vừa hỏi mượn chàng ba điếu thuốc lẻ, hay nhà văn Y vừa xin bớt chàng một cái quần cũ. Phải giữ thể diện cho ngành văn chứ!
Chàng buồn rầu ngồi một mình, uống cà-phê thật chậm để chờ. Chừng 20 phút sau, ông bạn họa sĩ và ông bạn chuyên viết văn dành cho tuổi thơ tới. Gặp chàng, họ mừng quýnh. Họ gọi rối rít:
– Ra đây! Có chuyện làm ăn khá lắm! Ðãi hai tách cà phê sẽ mách cho.
Chàng bấm bụng gọi thêm hai tách cà phê nữa. Sạch túi. Uống xong, bạn họa sĩ nhìn lơ láo xung quanh sợ người nghe trộm. Chàng càng tin trúng mánh lớn. Thấy hoàn toàn an ninh, họa sĩ chồm tới sát chàng hỏi:
– Mày còn giữ tấm thẻ sinh hoạt câu lạc bộ văn nghệ không?
– Còn.
Hai người bạn chàng reo lên:
– Khá quá. Tao đã bảo chắc thằng này tính cẩn thận, thế nào cũng còn giữ.
Chàng lo lắng hỏi:
– Nhưng có chuyện gì vậy?
– Chuyện làm ăn lớn. Cỡ tuyệt mù trời đất kinh thiên động địa như tư tưởng L. vậy. Chàng xịu mặt, chuẩn bị thủ thế. Bạn nhà văn hỏi:
– Sao mày đổi sắc thế?
Chàng đáp nhỏ:
– Coi chừng âm mưu của Trung Nam Hải. Hai bạn chàng cười ồ:
– Âm mưu cái mốc xì. Bộ L. toàn tập bán tự do ở hiệu sách quốc doanh, ai mua không được.
– Nhưng tụi mày hỏi thẻ câu lạc bộ làm gì?
– Vì họ chỉ bán cho người làm công tác văn hóa. Chàng đáp ngay cho dứt khoát:
– Sách L. tao đọc không vô. Mua làm gì. Bạn chàng lại cười:
– Ai bảo mày đọc! Mua để bán lại kiếm tiền cà phê.
Chàng bắt đầu thấy ham. Chàng e dè hỏi:
– Lời nhiều không?
Anh bạn họa sĩ mừng rỡ rút ngay mảnh giấy trong túi ra vuốt vuốt cho thẳng, rồi đặt trước mặt chàng. Trên mảnh giấy, đã có sẵn mấy phép tính. Anh ta vừa trỏ vào giấy vừa giải thích:
– Kỳ này họ bán 7 cuốn, giá vốn 24đ7 hào. Xé bìa cân ký được 4 ký 45, mỗi ký… Chàng cười tiếp lời luôn:
– Mỗi ký 18 đồng.
– Ủa, mày mua rồi à? Sao không nói từ đầu.
– Không, tao chưa mua. Mày tính tiếp đi. Bạn chàng bớt hăng hái vì hồ nghi, nhưng vẫn tính:
– 18 nhân cho 4,45 thành 80đ10. Dĩ nhiên vựa ve chai không có 10 xu lẻ, nên chỉ trả 80đ. Trừ 24đ7 vốn, còn lời 55đ3. Tao lấy 15 đồng. Thằng này 15 đồng. Phần mày những 25 đồng 3 hào. Chịu không?
Chợt nhớ cảnh đem nài nỉ đánh đổi Tư Mã Thiên, Tolstoi và mười khuôn mặt văn nghệ Việt Nam để lấy 10 đồng không được, chàng đồng ý liền. Gật đầu xong, chàng mới nhớ đã sạch túi. Chàng lo lắng hỏi:
– Tụi mày xuất vốn hả?
– Hả… Hả?
– Tao hết nhẵn cả tiền rồi.
– Sao mày dám bao cà phê?
– Vì bao tụi mày mới hết. Tao chỉ có 4đ5. Khó xử thật! Bạn nhà văn hỏi:
– Nhà mày sách cũ còn nhiều không? Chàng bật cười, vỗ vào cái túi vải:
– Tao vừa mang đi rồi mang về. Ế lắm.
– Ðược mấy ký?
– Tao chưa cân.
Bạn họa sĩ không thèm mở nắp túi vải, nhấc cả túi lên cân bằng tay:
– Nhẹ quá. Sợ không đầy một ký. Mày mượn vợ thằng HT xem sao.
Chàng dẫy nẩy:
– Không được. Tao không quen vay nợ. Bạn nhà văn đột nhiên tìm ra lối thoát:
– Hay thế này. Mày với hai đứa tao đến mua, rồi mày giả vờ quên ví nhờ tao về lấy. Tao chở sách L. đi xuống Cầu Sắt bán, đem tiền về trả. Ðược không?
Cả ba vỗ tay reo. Họ làm đúng “phương án”, và chia chát cũng đúng “phương án”. Với 25 đồng 3 hào trong túi, chàng định mua luôn 100 grams thuốc rê để dành. Nhưng đến sạp bán thuốc, chàng do dự. Không nên để leo việc hôm nay qua ngày mai. Một ngày như mọi ngày, nên mỗi ngày phải giữ trọn tính chất độc lập tự do của nó. Hôm qua chàng thèm thuốc lá quá nên phạm lỗi, đó là điều không được tái phạm. Cho nên sau khi sáng suốt suy nghĩ, chàng chỉ mua thêm 4 đồng thuốc rê và 1 đồng 3 giấy vấn. Còn chẵn 20 đồng. Nhìn đồng hồ một anh chợ trời thuốc tây, chàng thấy đã 9 giờ 50. Phải về nhà để lo cơm nước thôi. Chàng đạp xe về theo đường Trần Quang Khải. Hai bên đường rợp bóng cây bày la liệt những chiếu mua bán đồ cũ. Toàn loại phế thải. Bảng hiệu là một tấm giấy bìa đề chữ cẩu thả hoặc bay bướm dựng trước chiếc chiếu bày hàng. “Mua bán băng nhựa cassette cũ. Giá cao”. Mua giá cao thì được, còn bán giá cao thì lơ đễnh quá! “Mua dao điện” “Mua gọng kính cũ, phim phổi, tiền xưa, bạc vụn” “Mua sách báo cũ. Giá phải chăng”. Ðây mới đúng là một anh chợ trời chân thành! Chàng sẽ trở lại đây nhiều lần! “Mua bán lốp ruột xe đạp. Bảo đảm không đứt triên trong 6 tháng”. Bảo đảm? Loại bảo đảm chợ trời! Chàng đã lỡ nghe một lời bảo đảm như vậy nên mua phải một cặp lốp giả bố làm bằng bao cát mục, cao su pha quá nhiều đất sét, chỉ chạy 6 giờ đồng hồ là nổ. Chàng lẩn thẩn suy nghĩ về cảnh mình đang sống. Có hai đặc tính nổi bật: “tư liệu sản xuất”… và hình thức “giao lưu hàng hóa chợ trời”. Thang giá trị cũng đảo ngược: đồ sản xuất càng lâu năm càng đáng tin cậy. Ðúng là một nền văn minh phế thải. Trên những con đường chàng thường đi qua, hai tiếng “phế thải” cứ vang vọng bất tận trong trí chàng. Những đứa trẻ bị phế thải khỏi trường học lặn hụp mò bao ni lông cũ chìm dưới đáy sông Thị Nghè. Người đàn ông phế thải cưỡi chiếc xe đạp sắp phế thải, vỏ sau chằm vá cột buộc đủ chỗ nhưng còn rán chịu đựng được cái bao rách chứa giấy phế thải. Một chị đàn bà đặt cái cân bàn ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm Tự Ðức mua giấy sách cũ. Họ thành một đôi xứng hợp. Chàng quan sát họ, thầm nghĩ: Có thể thành một đề tài truyện ngắn không? Qua chợ Thị Nghè, chàng vội bóp phanh trước một đám đông cuối dốc. Dây phanh đáng lý nên phế thải bị lưu dụng quá hạn nên đứt ngang. Chàng phải lấy dép chà lên mặt đường hãm đà. Ðôi dép làm bằng nhựa phế thải chịu không nổi, rách quai. Chàng may mắn không tông phải ai. Một vụ cãi vã gay go. Chuyện đó thường tình. Ðiểm đặc biệt là hai đối thủ đều có đủ chất điển hình: ông cán bộ… đội mũ cối mang dép râu và anh lính ngụy… bán chợ trời… Khốn nỗi người đi chợ tuy ghét dân chợ trời nhưng lại thương người ngã ngựa, khiến ông cán bộ nổi sùng. Hình như nội vụ bắt đầu khi ông cán bộ dùng thuốc nam không hiệu quả phải vác tiền ra mua thuốc tây ở chợ trời. Ông không tin ở những gì ở ngoài vòng kiềm tỏa của nhà nước. Ông nghi đang cầm phải một vỉ thuốc giả. Anh chợ trời đâm cáu, giật vỉ thuốc lại, bĩu môi:
– Không có tiền thì thôi. Vào hiệu thuốc quốc doanh mà mua!
Thế là ông cán bộ to tiếng mày tao:
– Hạng chuyên lừa đảo phe phẩy như mày là ghẻ lở của xã hội. Hàng nhà nước thất thoát vì mày! Cán bộ hủ hóa vì mày! Tao kêu công an còng mày bây giờ!
Một số khá đông người hiếu kỳ thấy như mình bị xúc phạm danh dự. Gia đình nào không có thân nhân lăn lóc chốn chợ trời? Vài lời xúi giục có ác ý, hy vọng chứng kiến “cuộc đấu tranh ai thắng ai” giữa hai ý thức hệ. Nặng và hiểm nhất là câu:
– Tao thấy lâu nay mày ngon lắm, sao bữa nay hiền vậy, Hùng Ðầu Bò.
Hùng Ðầu Bò quắc mắt lườm lườm nhìn ông cán bộ. Ông cán bộ quắc mắt nhìn lại. Mọi người nín thở hồi hộp. Hùng Ðầu Bò càm ràm gì đó, rồi quay đi. Bấy giờ ông cán bộ mới thấy mình bạo phổi. Quá dễ bị đòn hội chợ. Ai lại phỉ báng làm nhục dân chợ trời giữa chợ trời? Ông cũng càm ràm gì đó để giữ thể diện nhà nước, rồi lên xe đạp. Chờ ông đi rồi, đám đông quay chất vấn Hùng Ðầu Bò:
– Mày làm mất mặt tụi tao quá. Tao tưởng mày ngon.
– Mày bị nó chê là ghẻ lở, không xấu hổ sao? Hùng Ðầu Bò rút thuốc ra hút, phà hai hơi, rồi nói tỉnh:
– Mụt ghẻ nó đâu có xấu. Ðáng xấu hổ là thằng ở dơ để cho da dẻ mọc mụt.
Ðám đông cười ồ. Thế là danh dự được cứu vãn. Chàng cũng cười, thầm nghĩ: Ðúng là lý luận kiểu AQ. Viết truyện ngắn hoặc cái truyện vừa theo kiểu Lỗ Tấn được không?
Chàng sẽ gắng viết thử. Nhưng việc trước mắt là phải về cho kịp nấu cơm trưa. Thế là hết buổi sáng.
Bữa cơm trưa khá vui, trừ những lúc buồn! À quên, trừ những lúc vui buồn lẫn lộn nữa. Vợ chàng hay kể những chuyện xảy ra trong trường nhìn từ bàn cô giáo xuống cuối lớp. Ðứa con trai chàng bổ khuyết bằng cách nhìn ngược từ cuối lớp lên bảng đen. Ngày nào cũng vậy, câu chuyện hào hứng làm cho cả gia đình quên được cái đạm bạc của mâm cơm độn. Ví dụ khi vợ chàng than:
– Thật tệ quá. Ai đời sáng nay em “chia tiêu chuẩn” được 200 grams thịt ba chỉ. Chờ nửa tháng dài mới được hưởng ân huệ cách mạng, mừng hết lớn. Em đã cẩn thận bọc trong bao ni lông, bên ngoài bao thêm giấy dày giấu kín giữa cuốn sổ kiểm diện đặt ngay phòng giáo viên. Thế mà dạy xong tiết 2, em nghĩ quẩn sợ mất, vội chạy lên xem. Không mất. Nhưng đứa khốn nạn nào đã đổi phần thịt của em rồi. Anh cắn thử miếng này, toàn bầy nhầy.
Con chàng bổ khuyết:
– Hèn gì cô chủ nhiệm của con cứ xách thịt xuống lớp nhờ tụi con giữ hộ. Ðể trên đó, cô không yên tâm.
Hoặc khi vợ chàng kể:
– Ban đời sống trường em làm việc đến kỳ! Ai đời căng tin bán cho học trò không có tổ chức gì ráo trọi. Mạnh ai nấy bán. Giờ học vừa hết, thoáng một cái, mỗi cô giáo một giỏ quà ngồi la liệt trên sân chơi chờ đợi học sinh mua. Giờ học răn đe la mắng nó, giờ chơi phải cười cầu tài. Con chàng bổ túc liền:
– Hèn gì cô con đem quà bán ngay trong lớp học cho tiện. Sáng nay cô dọa khảo bài sinh vật, mà tụi con chiều hôm qua lo tập văn nghệ đã kịp học đâu. Tụi con tìm mánh: Cô vừa xách giỏ bánh mì nướng phết đường vào, tụi con cử một đứa lên mua, đưa tờ 20. Cô không đủ tiền thối, chạy đi đổi dưới căng tin. Thối xong, cô cười cười, khuyên tụi con mỗi lần ăn quà nên tránh ăn đồ lạnh như cà rem dễ đau bụng. Cô con ghét cô Nga chủ nhiệm 7B lắm. Cô Nga bán kem mà ba. Cô nói chuyện một lúc, sắp sửa trở lên bàn thầy giở sổ, thì một đứa khác lên mua. Cô lại cười tươi, than độ này bột mì đắt nên bánh nhỏ. Củi lửa khan hiếm. Cứ thế tụi con kéo dài được đến cuối tiết. Ðại khái trưa nào cũng có những chuyện vui như thế cả.
Chàng ghi vào óc, lúc cần có thể dùng được. Ăn cơm xong, vợ chàng để mặc chén bát nồi niêu cho cha con chàng rửa, lấy nón giỏ tất tả ra chợ trời. Trước khi đi, vợ chàng cũng đi ra đi vào suy nghĩ cho chín chắn như chàng buổi sáng. Ðến lượt những thứ từng lờn mặt với chàng sáng nay phải nem nép sợ hãi. Mấy cái son nhôm, chảo nhôm, thau nhôm… nói chung thứ gì bằng nhôm trong nhà bếp đều cảm thấy hồi hộp trước cuộc đời lưu lạc gian truân sắp chịu. Vợ chàng có trí nhớ tốt, nên không thứ gì bể, mẻ, móp, méo, lủng thuộc đồ nhôm, dù trốn ở gậm giường xó tủ nào, nếu chẳng may bị nàng trông thấy một lần, là không thể thoát được! Chàng biết thế nên không bao giờ dám xâm phạm “đất cấm”. Ngành chuyên môn thứ nhì của nàng là quần áo cũ. Một miếng giẻ nàng cũng tìm được chỗ bán, và bán giá cao mới lạ chứ. Ðôi khi chàng ngờ vợ mình đã cố ý tăng giá lên để “lấy le” với chàng. Hư thực thế nào, đến bây giờ chàng chưa biết!
Ngành thứ ba vợ chàng giành độc quyền là chén bát, ly tách. Lâu lâu lén mua 50 grams cà phê nguyên chất (rồi dối vợ là người bạn thân từ Buôn Mê Thuột vừa về Sài Gòn chơi đem biếu) về pha filtre, chàng tìm cái ly thủy tinh có quai mãi không thấy đâu. Chờ vợ về hỏi, nàng chỉ ỡm ờ bảo “ở đâu đó”. Chàng nghi vợ đã học đòi theo chàng, vợ chàng liền chất vấn:
– Có ông bạn quí nào vừa lẩm cẩm vừa bủn xỉn đến nỗi từ xứ cà phê xuống thăm bạn ở Sài Gòn lại chỉ đem biếu có 50 grams. Nói dối thì cũng phải có lý của nó chứ! Chàng im, dừng lại, không dám tra vấn cái ly mất tích nữa. Rồi nay cái quần sờn đáy xổ lai, mai cái liễng Nhật, mốt cái đèn nhôm Mỹ, cuối cùng cái tủ áo, tủ buffet, chạng thức ăn rỗng ruột. Luật bù trừ mà! Muốn cho cái ruột này đầy thì cái ruột kia phải rỗng. Ngày xưa Nguyễn Du nói: Lạ gì bỉ sắc tư phong.
Tiếc một điều là vợ chàng không biết dùng qui nạp pháp! Nhưng đó là việc của vợ. Hãy trở về việc chàng.
Buổi chiều các con đi học cả, vợ đi vắng, chàng phải ở nhà vậy. Lo giặt dịa, lau chùi nền nhà và bàn ghế, phủi bụi ở tủ sách. Càng ngày chàng càng trở nên cẩn thận ngăn nắp hơn. Chùi nhà một lần, chờ khô, chàng thấy mặt nền còn nham nhám. Chùi lần thứ hai, đỡ hơn, đúng lúc đó con chó SuSu mang bốn cái chân bẩn chạy vào. Lại phải chùi lần thứ ba, lầ này cẩn thận khép cửa. Ði ra đi vào nhìn thứ gì chàng cũng thấy không được chỉnh. Lũ đồ vật gặp cái nhìn của chàng vào buổi chiều, nên yên tâm! Chàng đã hoàn toàn vô hại. Chỉ có thiện chí! Chàng nâng niu cái này, xoa nắn cái kia, đánh bóng cái nọ. Ðồ vật nhoẻn cười yên tâm trong tay chàng. Mải mê làm vệ sinh, chàng suýt nữa quên chuyện trọng đại: mua gạo. Khốn nỗi đến lúc đó chàng mới nhớ vợ chàng chưa đưa tiền. À quên, chàng còn đủ 20 đồng đây. Chắc đủ. Chàng nở mũi hãnh diện. Có thế chứ. Chàng đâu phải là kẻ vô tích sự. Chàng còn đủ sức lo gạo cho gia đình, mà có gạo là có tất cả. L. “vĩ đại” ở chỗ dám đem lý thuyết ai cũng cho là không tưởng ra thực hành ngay trong cuộc đời rối rắm phức tạp này, nhưng còn “vĩ đại” ở chỗ dám giúp một kẻ chưa đáng tin cậy đủ tiền cho hắn mua gạo ăn trong thời gian sám hối. Chàng tự trách đã quá bất công với nhà lãnh tụ Nga. Với tâm hồn yêu đời, chàng đi mua lương thực. “Cửa hàng phục vụ gạo” đông nghẹt. Chàng thích cánh len vai xông vào. Một chị sồn sồn rủa:
– Cái ông già dịch. Ðạp cả lên chân người ta! Già dịch! Cái chân chị là chỗ dễ kích thích chắc! Nhưng chàng đang yêu đời nên chàng quên ngay lời rủa, nghĩ theo cái hướng tích cực: Già dịch! Thế mà bà xã mình dám bảo mình “mất sức lao động”. Ðúng Bụt nhà không thiêng. Này, mất sức lao động này! Chàng lấn thêm cho gần tới bàn cô thư ký ghi sổ. Lại có nhiều tiếng la ôi ối:
– Làm gì như đi ăn cướp vậy!
– Yêu cầu bà con giữ nếp sống văn hóa mới! Chàng khựng lại. Phải, chàng còn mang quá nhiều tàn dư văn hóa cũ, không chịu vì mọi người. Chàng định thối lui để nhường chỗ cho các em bé, cụ già, đàn bà có thai, thương binh liệt sĩ (không phải thương phế binh ngụy), gia đình có công với cách mạng. Không kịp rồi. Dộm bước lui thì một em bé gái khoảng 10 tuổi kêu thét lên:
– Ái! Chết ngộp mất trời ơi!
Có ai vừa đánh rắm thối hoăng. Người ta bịt mũi lại, tiếng chửi nghe thật tức cười. Chàng bị sửa lưng liền:
– “Ðịch” thối om còn đứng cười! Vô duyên. Chàng mắc oan Thị Kính mà không cách nào bào chữa được. Nếu không đánh rắm, sao chàng không bịt mũi. Chịu thưởng thức “của nhà” tức là công khai nhận lỗi. Mọi người nhìn chàng căm tức. Tình thế ngày càng tuyệt vọng, không khéo thu xếp chàng có thể bị đòn hội chợ như chơi. Trước hết, hãy rút lui đã. Ra ngoài được rộng rãi, dễ thanh minh hơn. Mặc tiếng la ó, chàng cố chen trở ra. Cô thư ký ngộp thở, bỏ bàn giấy vùng vằng đi ra phía sau. Sợ không được mua gạo, người ta càng căm tức chàng hơn. Làm sao đây? Chàng bắt đầu ngờ rằng có thể chàng lỡ dại nhưng do gắng sức chen lấn chàng không hay biết. Thanh minh không ai nghe, bỏ về sợ mất phần gạo. Cho nên khi nghe loan báo hoãn thời hạn chót đến chiều mai, chàng mừng rỡ ra về.
Quần áo chàng đẫm mồ hôi, nhọ nhem như quần áo chú bé quét bồ hóng. Chàng cảm thấy ngứa ngáy. Phải về gấp để tắm mới được. Lúc cởi quần dài vắt lên dây thép, chàng thấy túi quần bị đảo ngược, lớp vải lót mầu cháo lòng thò ra ngoài thành một cái tai vểnh. Chàng không hiểu gì cả. Có lẽ tách cà phê sáng đã hết hiệu lực. Ðến khi hiểu, chàng mới biết kẻ gian đã nhân lúc chen lấn mượn tạm 20 đồng của chàng rồi. “Của L. trả lại cho L.”. Ðúng là luật công bằng trong mơ ước của bản tuyên ngôn nhân quyền!
Chàng thường dành buổi tối để viết. Ðáng lý chàng phải để dành 1đ5 để mua sẵn một tách cà phê loại 92,4% làm “tư liệu sáng tạo”, nhưng 20 đồng phi nghĩa không còn nữa, nên chàng phải rán dằn những cái ngáp ác hại.
Phút linh cầu mãi không về.
Bâng khuâng giấy trắng chưa nề mực đen. Chàng gặp y nỗi khổ tâm của Hồ Dzếnh. Ngáp đến cái thứ tư mà xú uế cứ dâng tràn. Chàng nghĩ thầm:
– Phải viết cái gì trung thực.
Chàng ôn lại những gì đã thấy đã nghe trong một ngày bình thường. Âm mưu của Trung Nam Hải? Nếu trung thực thì nguy lắm, chàng sẽ trở thành kẻ tòng phạm… Viết chuyện mua bán sách cũ? Lại mắc tội lưu hành phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy nhảm nhí! Chuyện cãi vã ở chợ trời? Không khéo bị tố là nói xấu chế độ! Nhân dân lao động sáng suốt đâu có bênh vực tên lính ngụy đã không chịu sản xuất còn phá hoại kinh tế xã hội chủ nghĩa! Viết chuyện nhà trường? Bôi bác nền giáo dục cách mạng, không phân biệt được khó khăn tạm thời và thuận lợi cơ bản, đánh đồng một cách ác ý bản chất và hiện tượng! Viết chuyện đi ra tổ phục vụ mua gạo?
Thì làm sao giấu được 20 đồng bạc đánh cắp của L.?
Càng nghĩ chàng càng thấy sợ. Chàng hút hết liên tiếp ba điếu thuốc vấn, rồi đặt lại vấn đề:
– Hay là ta nên viết cái gì đăng được?
– Phải đấy. Viết không đăng được thì viết làm gì. Viết rồi đốt là điên, viết rồi giữ đó như giữ bom nổ chậm là khùng. Kẻ khôn ngoan thức thời chỉ nên viết cái gì đăng được. Chàng tìm cuốn lịch bỏ túi xem các ngày lễ. Ðây là kinh nghiệm xương máu do các bạn văn nghệ miền Bắc ưu ái truyền lại cho chàng. Cứ giở cuốn lịch ra, tìm các ngày lễ và viết sẵn một số truyện, thơ “lương khô dự trữ”. Lễ nhỏ viết vài ba cái, lễ lớn phải chín, mười. Các loại sáng tác “nhân dịp” này năm nào cũng đắt hàng. Chàng dò tìm, nhưng thật rủi cho chàng, hôm nay không kề cận với ngày lễ nào sắp tới… Tìm không ra chuyện thành thị, chàng quay về nông thôn. À, cái đề “Mùa bội thu” hay đấy! Sao ta không viết cái truyện tả cảnh một khu kinh tế mới được mùa. Chàng nắn nót viết nhan đề MÙA BỘI THU lên đầu tờ giấy hẩm. Chàng dàn ý, tìm các chi tiết tiêu biểu, nghĩ trước cái kết tốt: “Bác Năm cười quay lại gọi con dâu:
– Hai à!
Chị Hai đang tính công điểm, bỏ bút xuống thưa:
– Dạ con đây.
– Thẵng đã về chưa?
– Dạ ảnh còn mắc chia lúa bội thu cho bà con.
– Ờ được, tụi bay còn trẻ rán giúp đỡ bà con. Làm sao cho mùa sau còn được hơn mùa này nữa. Không nhờ ơn cách mạng, gia đình mình đâu có như thế này.
Chị Hai mỉm cười, mơ màng nghĩ đến cảnh chị ngồi trên cùng chiếc máy cày với anh, mê mải ngắm những đường cày thẳng tắp chạy dài đến tận chân trời.”
Chàng bắt đầu viết, xóa, lại viết, rồi lại xóa. Nặn mãi không ra cái nhập truyện. Vợ chồng anh Hai đang sống khổ cực ở Sài Gòn. Anh làm phu xích lô suốt ngày gò lưng đạp tháo mồ hôi mà không đủ tiền nuôi con. Chị bán cháo huyết ở khu lao động, và vì dân lao động quá nghèo nên cháo của chị quá ngon mà quá ế. Ðứa con của anh chị bị đau. Anh chị không có tiền mua thuốc, đem vô nhà thương bị rẻ rúng vì anh chị nghèo. Con của họ chết, anh đâm ra rượu chè be bét. Chị khuyên nhủ, năn nỉ mãi, anh vẫn chứng nào tật nấy. Rồi Sài Gòn “được giải phóng”. Cả anh lẫn chị đều tham gia vào công tác cách mạng. Công tác nào anh chị cũng xung phong đi đầu. Chính sách kinh tế mới ban hành, anh chị ghi tên ngay đợt đầu tiên, rồi vận động được cả bà con hàng xóm nữa. Thủ cựu như cha chồng là bác Năm mà chị cũng thuyết phục được. Mới lên, họ vất vả trăm chiều. Muỗi, vắt, nước độc, chim kêu vượn hú. Nhưng: Bàn tay ta làm nên tất cả Với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Nhà thơ “cách mạng” Hoàng Trung Thông đã nói đúng. Bà con khu kinh tế mới đã biến núi rừng thành đồng bằng, dưới sự hướng dẫn lãnh đạo tận tình của cán bộ. Kết quả là mùa bội thu đầu tiên chàng đang viết đây.
Chàng viết được hai trang, lại ngáp. Hút thêm điếu thuốc vấn 89,6% trí óc chàng minh mẫn trở lại. Chàng nhớ nhiều chi tiết hay hay có thể thêm cho truyện bớt công thức. Và trời ơi, chàng nhớ cả những chi tiết thừa thãi: như cảnh dân kinh tế mới kéo trở về Sài Gòn nằm la liệt hàng đêm trên lề đường Trần Hoàng Quân Chợ Lớn. Như những gia đình sống mòn bên đống rác khổng lồ trên đường Trần Quốc Toản. Như những đứa trẻ cầm que đi nhặt từng mảnh giấy vệ sinh gần chợ Tân Ðịnh! Chàng khựng lại. Ðọc từ đầu, chàng ngượng chín người. Thiếu sáng suốt, chàng vò nhàu hai tờ bản thảo vứt đi. Sau nghĩ lại. Chàng bưng đèn cúi xuống nhặt lên, vuốt cho thẳng, xếp vào xấp giấy cùng số phận các đêm trước. Xấp bản thảo nhàu nhò vô tội đã khá dày. Có thể được đến vài trăm grams.
Với giá 14 đồng một ký giấy học trò viết hai mặt, chàng có thể bán được khoảng 3,4 đồng. Chàng đã có vốn để mua cà phê 92,4% và thuốc lá 89,6% đổi sự sáng suốt cần thiết cho sáng hôm sau.
Ý tưởng đó khiến chàng yên tâm đi ngủ. Lúc đặt lưng xuống cái giường què, chàng nghe cô gái choai choai nhà bên kia hát nhỏ như sợ đôi tai thính của ông công an khu vực:
“Một ngày như mọi ngày, xin trả lại đời tôi”…

Nguyễn Mộng Giác

mưa, mưa, mưa…

nguyenmonggiac

Chàng vừa đến ngã tư Nguyễn Thái Học-Hồ Văn Ngà thì trời đổ mưa. Mưa dữ dội, như tất cả nước mắt của chúng sinh tích luỹ từ nghìn vạn kiếp đột ngột rời bể khổ, bốc lên thành mây, gặp khí lạnh thành mưa, trút gọn vào góc phố nhớp núa này. Trong quán cơm bình dân, đủ mọi gương mặt, đủ kiểu mẫu của kiếp sống cùng nhau đứng sợ hãi. thực khách vội vã kéo chiếc bàn thiếc vào sâu bên trong, tránh những giọt mưa lém lỉnh len qua mái tôn, chui vào tấm ván nghiêng của chiếc xe bán nước sinh tố, chảy thành dòng vào tô canh của người công chức già ngồi sát quầy. Bà chủ cửa hàng rối rít hối thúc hai con thả các tấm sáo xuống. Nhưng mưa lớn quá, giữ cách nào cũng không khỏi ướt. Cuối cùng, người ta đề nghị cứ kéo tấm sáo lên cho thoáng khí. Bên cạnh chàng, anh phế binh mặc cái quần cụt đen và chiếc áo trận rách cũ ngồi chồm hổm bên lò lửa, mắt nhìn sang ngôi trường đối diện, không nói năng.

Mọi người đã tìm được chỗ an toàn của mình, hết rối rít lăng xăng nên đột ngột cảm thấy cái buồn xa vắng lặng lẽ của buổi tối, trời mưa, phố lam lũ. Không ai nói gì cả trong cái quá hẹp. Và không ai không thấy cần phải nói điều gì đó, để quên cảm giác bàng hoàng vu vơ chợt hiện, còn lởn vởn quanh quất đâu đây. Chính chàng cũng muốn nói vài lời với người phế binh nhưng anh ta quay lưng về phía chàng, bất động như một pho tượng.

Người đàn bà mặc chiếc áo tơi mầu trắng đứng gần xe sinh tố chợt nói:

-Ơ, kìa, sao mưa dữ mà lửa không tắt?

Mọi người cùng quay ra đường. Bên kia dưới chân cột đèn bập bùng một ánh lửa nhỏ.

-Thứ gì vậy?

-Vậy mà cũng hỏi, lãng xẹt. Đồ nghề vá ép lốp xe, phải không chú Tư?

Anh phế binh quay lại yta3 lời bà chủ quán:

-Ừa. mà sao?

-Bà kia hỏi sao lửa không tắt.

Anh phế binh ngợ một lúc, chưa hiểu rõ người ta muốn anh làm điều gì. Tóc dài và bẩn, vì ướt nên càng xơ xác. Chiếc áo trận che không nổi thân hình ốm o. Gương mặt phờ phạc, thất thần. Rồi phải đến lúc anh ta hiểu người ta hỏi mình điều gì. Anh trả lời nhát gừng:

-Thì tại vậy!

Nhóm người tránh mưa được nghe một câu ngớ ngẩn, cười hô hố.

Tiếng huyên náo lấp cả tiếng mưa rơi trên mái. Khí nóng ở các thân thể ẩm ướt bắt đầu toả ra nhiều hơn, đủ làm quên cái lạnh lẽo của khí trời.

-Nói như chú thì ai hỏi làm gì. Nước xối lên như vậy, sao lửa của chú không tắt?

-Dầu nó nổi lên trên, tắt sao được.

Vài tiếng à, vài cái đầu gật gù. Chân lý đơn giản còn hơn cả cuộc mưu sinh, trong góc phố buồn này. Rồi im lặng trở lại. Anh phế binh bắt đầu húng hắng ho. Cơn mưa có vẻ muốn ngớt, nên vài thực khách đứng lên, hết lo ngồi ì để giữ cho được chiếc ghế. Vài tiếng va chạm bàn ghế loảng xoảng. Tiếng sột soạt của những chiếc áo mưa ni lông cũ bị khô dòn. Chuẩn bị đâu đó xong, mọi người thất vọng vì mưa trút xuống trở lại, có lẽ còn dữ hơn trước. Vài lời lao xao bất bình. Lại im lặng. Ánh lửa bên kia đường vẫn bập bùng, nhưng không ai còn tâm trí đâu chú ý đến nữa. Nó hết trở thành một bí nhiệm. Nó đã có chân lý, nên ánh lửa bập bùng giữa mưa dữ và giữa lòng ơ hờ.

Một chiếc xe Honda phóng nhanh về phía quán. Thiếu nữ ngồi yên vội vã chạy vào chỗ xe sinh tố, trong khi chàng thanh niên lái xe lật bật dựng cái chân chống mà không được. thiếu nữ vừa cười vừa giục:

-Mau lên. Ướt hết.

Cuối cùng, thanh niên dựng xong chiếc Honda bên lề đường, chạy vô chỗ thiếu nữ. Quần áo họ ướt nhem, như vừa mới tắm cả quần áo cho đỡ thẹn với nhau. Thiếu nữ nhìn quanh quất. Nhìn về phía người phế binh. Nhìn về người công chức già. Nhìn đám dân lao động lam lũ đang e dè quan sát đôi tình nhân trẻ. Nhìn chàng. Ánh mắt của thiếu nữ hơi dịu lại, ngại ngùng. Nàng cầm vạt áo kéo ra, giật nhè nhẹ cho mau khô và cho làn vải ướt mỏng khỏi dán vào da thịt. Thanh niên dùng năm ngón tay vuốt lại mái tóc, cười hỏi:

-Em lạnh không?

-Lạnh thấy mồ. Ướt hết trơn không thấy sao?

-Tại em hết! Anh bảo chưa dứt đâu. Mây còn giăng giăng.

-Em sợ về trễ, má la chết. Quá giờ cơm rồi.

-Thì nói tại trời mưa.

-Nhưng má biết thời khoá biểu. Tan học hồi trời còn nắng.

Thanh niên bí không tìm được lời an ủi nào nữa, lí nhí:

-Thì nói… Thì nói…

Rồi cả hai cười xoà. Người phế binh ho dữ hơn. Bà chủ quán thương hại khuyên:

-Chú Tư ngồi gần lửa cho ấm. Cảm hàn đó nghe.

Anh phế binh vâng lời bà chủ, đi vào phía bếp lửa. Đôi tình nhân được dịp may đến chiế chỗ anh phế binh. Thanh niên nói nhỏ vào tai thiếu nữ câu gì đó, khiến thiếu nữ cười lớn:

-Anh xạo hoài. Phim dở ẹt.

-Phim vậy còn chê.

-Tại trong phim họ đi chơi dưới tuyết, thơ mộng lắm. Mình thì ướt như chuột. Anh, coi kìa!

Giọng reo vui đột ngột của thiếu nữ khiến mọi người trong quán nhìn cả ra đường phố. Một cậu con trai mặc quần ống rộng, áo vàng phanh ngực điềm nhiên đạp xe Mini chậm chạp đi dưới mưa.

Người nào đó chộp lấy dịp nói hả hơi:

-Trẻ tuổi có phải. Mạnh khoẻ, coi mưa như không.

Thiếu nữ âu yếm tình nhân:

-Có đâu như anh. Ướt một chút, đã run.

Thanh niên bực bội:

-Nó làm bộ cho oai. Tối nay về không nhức đầu cũng sổ mũi. Làm như bác này, là chắc ăn.

Mọi người lại ngửng lên nhìn ra đường. Một ông già trùm kín thân thể bằng cái poncho nhà binh, đầu đội thêm cái nón lá, chậm rãi đi theo lề đường bên kia. Đến chỗ có ánh lửa bập bùng dùng vá ép lốp xe của người phế binh, hình như ông già có đôi chút ngạc nhiên nên dừng lại nhìn. Sau đó, ông tiếp tục men theo lề đường, tiến về phía đường Hồ Văn Ngà.

Nước trên mái chảy xuống nền xi măng. Nước trên nền xi măng chảy xuống mặt đường nhựa. Nước trên mặt nhựa xuôi theo chiều nghiêng của mặt lộ, chảy vào các ống cống. Ra sông. ra bể. Ở cửa khẩu, chỗ ống cống trổ ra bờ sông, chàng nghĩ, có lẽ nước reo vui. Xi măng, hắc ín quấy rầy, ngăn chặn không cho nước thấm ngay vào lòng đất. Trời mưa cho đất ướt. Nếu không có lớp xi măng và hắc ín? Ừ, nếu vậy thì mọi sự đơn giản quá. Nước thấm ngay vào lòng đất, không phải quanh co len lỏi gì hết. Rồi từ mặt đất ẩm, hạt giống sẽ nẩy mầm. Cây cỏ sẽ vươn lên; mạnh bạo, lẫm liệt, cũng không phải quanh co len lỏi gì hết. Chàng lẩn thẩn nhìn mặt hắc ín trên đường phố, nhìn mặt xi măng trên nền quán hẹp. Cứ xem đây là một tầng gác đi. Chàng nhớ, có lần kịch tác gia nổi tiếng người Mỹ là Arthur Miller có dựng một vở kịch hai tầng. Sân khấu là một ngôi nhà có gác cắt dọc. Khán giả nhìn được cả tầng trên lẫn tầng dưới. Trong khi ở tầng trên, mấy cậu em đang nói chuyện với nhau, thì ở tầng dưới, lại có những diễn viên khác đối thoại những vấn đề khác. Khán giả được dịp thưởng ngoạn một vở kịch kép. Chàng đã nhìn được cái hoạt cảnh buồn thảm nơi góc phố nghèo. Chàng đã trông được cơn mưa dữ, đã nghe những mẩu chuyện tầm phào, đã thấy những khuôn mặt của đời sống. Chàng đã nhìn, trong lặng lẽ trầm ngâm, ánh lửa bập bùng, yei61 ớt mà dai dẳng bên kia đường phố, trong trí lan man chưa hiểu ánh lửa ấy có mãnh lực bí nhiệm nào thu hút được chàng mạnh mẽ đến như thế.

Còn ở tầng dưới của vở kịch kép? Ở dưới lớp xi măng lớp hắc ín này? Chàng đã đi nhiều, thấy nhiều. Đi đến khắp các mặt trận, các trại định cư, các xóm làng xơ xác trơ trụi những cột cháy, tường đổ nền trống. Đã thấy hắc ín xi măng được xe xúc loại lớn trút xuống từng đống, xe hủ lô xe bang cán lên, sức mạnh cơ khí đè bẹp sức mạnh hồn nhiên của thảo mộc. Doanh trại mọc lên. Các phi trường, các đồn luỹ. Sắt thép, xi măng, dầu, chất nổ… và dĩ nhiên có rất nhiều ánh lửa. Và chàng cũng đã thấy sau đó những lớp rêu xanh bám vào vách lô cốt, những ngọn cỏ dại len qua các vết nứt của một doanh trại hoang vu, những hàng mì luống bắp xanh tươi trên chỗ ngày xưa là phi đạo. Ở tầng dưới vở kịch kép? Ở tầng dưới lớp hắc ín này đã có gì? Buổi sáng, đến nhà một người bạn, chàng vô tình lật lơ đãng một quyển sử địa, mới biết con đường Nguyễn Huệ ngày nay trước kia là một con kinh. Vậy thì góc phố Nguyễn Thái Học-Hồ Văn Ngà này, trước kia là thứ gì?

Với một chút tưởng tượng, đứng bên lề thời gian để xem vở kịch kép, chàng có thể thấy được nhiều thứ. Trong tiếng mưa rơi, trong lối nước chảy, chàng có thể thấy được hồn của những ngọn cỏ hoang, nghe tiếng khóc của những cây cao bị chặt oan ức, tiếng thì thào của các đoá hoa bị vùi dập. Đất thì lầy. Mưa trút xuống, làm hớn hở loài ếch nhái. Một chú ễnh ương nổi hứng cất tiếng, tưởng có thể át được giông tố và tiếng nước rơi. Chú đã phạm một lỗi lầm không thể cứu gỡ. Con rắn nước ở vũng lầy bên kia nhẹ nhàng trườn mình, lặng lẽ uốn thân dưới các gốc cỏ. Mưa. Vẫn mưa. Tiếng nước rơi lấp được tiếng lá va chạm, tiếng sột soạt. Và cuối cùng, là tiếng kêu cứu tuyệt vọng chát chúa đến nỗi có thể lay động được trăng sao của chú ễnh ương ngây thơ. Con rắn nằm yên một lúc, thoả mãn. Yên lặng. Nhưng trong cơn mưa, cỏ xanh cây cối nẩy lộc đâm chồi, côn trùng và thảo mộc vẫn tồn sinh. Có chú ễnh ương thơ ngây, nhưng cũng có những chú ễnh ương già dặn. Sau cuộc huỷ diệt, luôn luôn có cuộc phục sinh. Một cơn gió mạnh thổi hắt mưa vào mặt chàng. Nghe trong hơi gió, chàng cảm thấy, thoang thoáng, mùi bùn, mùi cỏ ướt, mùi lá mục. Và dưới chân chàng, chỗ nền xi măng nhớp nhúa, như có thứ gì cựa quậy, lay động.

Một cơn gió nữa, lần này nước mưa làm ướt cả đôi kính cận của chàng. Chàng định đưa tay vào túi tìm cái khăn, nhưng chợt nhớ trước khi đi ăn, chàng đã đem cái khăn bẩn đó giặt sạch rồi. Chàng nhìn qua bên kia đường. Ánh lửa vẫn bập bùng dưới chân cột đèn. Đôi kính ướt, hình ảnh bây giờ nhập nhoè. Mưa đã bớt, giọt rơi nhỏ và nhẹ. Bây giờ chàng mới cảm thấy lạnh. Người phế binh có lẽ nóng ruột mặc dù trời còn mưa, vẫn chạy qua bên kia đường xếp dọn đồ nghề để ra về. Anh ta đến gần ngọn lửa, ngồi xuống hơ tay lên trên. Một giọt nước quái ác không biết len lỏi chờ đợi từ đâu trên mái quán lúa ấy, rơi ngay vào đúng gọng kính của chàng. Chàng nhắm mắt lại. Lúc mở ra, hình ảnh càng nhập nhoè hơn. Hướng về phía bên kia đường, chàng giật mình, người phế binh còn ngồi đó, nhưng ánh lửa bây giờ bập bùng loang ra, y như ánh lửa bập bùng liếm quanh nồi cháo lú.

Nguyễn Mộng Giác

Đêm 10-11-1974

(Nguồn Tập san Nhà Văn, tháng Giêng năm 1975, theo bản chụp của Nguyễn Trường Trung Huy)

Trở Lại Gánh Xiếc

nguyenmonggiac

Tôi do dự khá lâu mới lấy đủ bạo bước vào trụ sở Hội văn nghệ. Khuôn viên rộng có thảm cỏ xanh và bóng cổ thụ. Biệt thự giữ vẻ bên ngoài cổ kính nhưng bên trong đầy đủ tiện nghi của cuộc sống Mỹ: máy điều hòa không khí, bộ salon uy nghi đồ sộ bọc nhung, tranh tĩnh vật, nền trải thảm len mầu rêu… Hình như đây đúng là biệt thự của bà mẹ ông Thiệu. Giữa phòng khách mênh mông có kê hai cái bàn gỗ ván ép có lẽ được khuân từ nhà bếp lên. Hai cán bộ mặc quần áo bộ đội ngồi tiếp khách trên ghế dựa gỗ cẩm lai. Một chân họ đè lên chiếc dép râu, chân kia gác lên ghế theo thói quen đặc biệt ở rừng.

Người ngồi bên phải cắm cúi viết, trước mặt có ba bốn người khách ăn mặc kiểu thành phố đang ngoan ngoãn chờ.

Tôi tiến về phía bàn bên trái vì cán bộ giữ phận sự đăng ký đang tươi cười tiếp chuyện một anh ca sĩ tôi có quen.

Anh cán bộ rít một hơi thuốc lào rồi ngửng lên hỏi tôi:

– Chắc anh đến đăng ký?

Tôi nuốt nước bọt rồi đáp:

– Vâng.

Anh cán bộ ngồi ngay ngắn trở lại như chuẩn bị viết, hỏi tôi:

– Anh ở ngành nào?

Tôi ấp úng chưa biết trả lời sao cho đúng. Anh ca sĩ chen vào nói:

– Ông ấy chuyên làm xiếc đấy mà! Ðột nhiên tôi nổi giận. Tôi cãi lại:

– Không! Tôi là nhạc sĩ chuyên đàn vĩ cầm. Anh ca sĩ không chịu nhượng bộ:

– Tôi chỉ thấy anh chuyên làm xiếc ở các đại nhạc hội. Không phải anh thường lộn ngược người trồng chuối trên cái gối đỏ để kéo vĩ cầm hay sao? Kia kìa, anh vẫn còn giữ hai cái kim găm ở ống quần. Tôi nói có sai đâu!

Tôi đau đớn vì hổ thẹn. Nếu có thể độn thổ được như trong chuyện Phong Thần, có lẽ tôi đã làm rồi. Phải. Anh bạn ca sĩ nói đúng. Trước đây tôi kiếm ăn bằng nghề làm xiếc. Tuy tôi có kéo vĩ cầm đấy nhưng cái thế trồng chuối lạ mắt lúc đàn, không thể chối cãi được, đúng là tiết mục xiếc. Tôi có muốn thế đâu! Tôi đã từng nổi tiếng thần đồng âm nhạc ngay từ tấm bé. Sáu tuổi tôi đã chơi vĩ cầm cho giàn nhạc giao hưởng thành phố. Bảy tuổi, cả giàn nhạc gần 40 người đệm đàn cho tôi độc táu. Tám tuổi, tên tôi viết lớn bằng chữ đỏ trên các bích chương quảng cáo, ngay bên cạnh tên Chopin, Beethoven, Bach. Rồi những đêm lạc phúc bất tận với chiếc áo đuôi tôm kim tuyến và những vòng hoa. Danh vọng, tiền bạc đến với tôi quá sớm. Nhưng càng lớn lên, tôi càng thua thiệt. Tôi chỉ là thần đồng âm nhạc khi ôm chiếc đàn bé bỏng đi lạc vào thế giới người lớn và nhắm mắt say đắm với tác phẩm các thiên tài. Khi đã lớn lên rồi, tôi trở thành tầm thường không có gì đáng chú ý. Vì vậy tôi đã phải tìm cách để thỏa mãn óc hiếu kỳ quái ác của khán giả. Bao nhiêu năm trời tôi âm thầm chịu đựng đau đớn, nhiều hôm nước mắt ràn rụa ướt trán để cắn răng trồng chuối lên chiếc gối đỏ và tiếp tục đàn vĩ cầm. Năm 17 tuổi tôi “tái xuất giang hồ” và lại được hoan nghênh như một tài tử xiếc. Khổ nỗi khán giả lại mau nhàm cái trò lạ của tôi. Diễn lần thứ 20, khán giả còn vỗ tay. Diễn lần 30, vỗ tay rời rạc chen lẫn tiếng huýt sáo. Ðến lần thứ 40 thì bị la ó. Tôi lại cắn răng chịu đau đớn tìm trò lạ mới, và trước hôm “giải phóng”, tôi trình diễn ở đại nhạc hội tiết mục cuối cùng: vừa trồng chuối để tấu nhạc Chopin, vừa dùng hai bàn chân chuyền một quả bong bóng ngũ sắc. Thói quen dùng kim găm chặt ống quần vào bít tất là méo mó nghề nghiệp do phải lộn đầu làm xiếc lâu năm của tôi. Ngoài các buổi trình diễn, tôi phải chuẩn bị sẵn sàng để làm trò chào hàng các ông chủ rạp hát béo phệ. Hai cái kim găm từ lâu trở thành đồ nghề của tôi, như chiếc vĩ cầm và cái gối nhung đỏ. Trời hỡi! Tại sao đúng vào hôm nay, hôm đến đăng ký ở hội văn nghệ giải phóng để sinh hoạt như một nhạc sĩ vĩ cầm, tôi lại hớ hênh găm thêm hai chiếc kim định mệnh.

Anh ca sĩ vẫn mỉm cười chế giễu tôi. Anh cán bộ kiên nhẫn dừng bút chờ đợi. Tôi cố vớt vát lần cuối khi phân bua:

– Tuy tôi phải lộn đầu làm xiếc vì cơm áo, nhưng ý nghĩa đời tôi, niềm kiêu hãnh thầm lặng của tôi là cây đàn. Hai chân tôi chuyền quả bóng, nhưng hồn tôi giao trọn cho âm nhạc. Tôi là nhạc sĩ, tôi không phải là anh hề gánh xiếc. Anh cán bộ suy nghĩ một lúc, rồi chậm rãi nói:

– Như vậy thì anh nên đăng ký vào phân hội âm nhạc. Tôi mừng quá, suýt chút nữa lộn ngược trồng chuối để cảm ơn anh cán bộ như đã từng làm để cảm ơn mấy ông chủ béo phệ, tôi dừng lại kịp. Tôi khỏi phải chào hàng ai nữa. Từ đây tôi có thể yên tâm nghiêng đầu bên cây đàn vĩ cầm yêu dấu của tôi, để nghe những lời tâm sự thầm thì của Bach!”
Ðọc xong truyện ngắn đăng năm 1976 trên tạp chí văn nghệ thành phố, chàng bồi hồi tiếc nuối. Tiếc cái gì, chàng chưa định rõ. Có cái gì đẹp lắm của quá khứ đã tan đi, như một lần chàng vô tình gặp lại người yêu đầu đời với một nhan sắc đã tàn phai.

Người đàn ông trước mặt vẫn kiên nhẫn đợi. Chàng nhìn kỹ người khách lạ lần nữa. Tóc hoa râm, khuôn mặt hốc hác và nụ cười vừa khinh miệt vừa cay đắng. Ông ta đến đây làm gì? Tại sao ông ta mang tờ tạp chí cũ đến khẩn khoản xin chàng đọc lại cái truyện cũ của chàng! Khách lạ không chờ thêm được nữa, lên tiếng hỏi:

– Ông chưa nhận ra tôi ư?

Chàng ngập ngừng, nói lơ mơ:

– Tôi nhận ra chứ, nhưng không ngờ qua mới có mấy năm…

Khách lạ mừng rỡ cắt lời chàng:

– Phải. Ông không ngờ mà tôi cũng không ngờ. Tôi già đi nhiều. Ông không nhận ra cũng phải. Năm 1975 lúc tôi kể chuyện mình để ông viết truyện ngắn này, tóc tôi còn xanh. “À, té ra thế. Tôi nhớ ra rồi”. Chàng thầm nghĩ. Nhìn kỹ khách lạ lần nữa, chàng bắt đầu nhận ra đôi mắt ấy, cái hàm bạnh vì “lao lực” ấy, nụ cười ấy… Chàng nhìn xuống ống quần người khách. Ông ta hiểu, hỏi chàng:

– Ông tìm đôi kim găm chứ gì?

Bị bắt quả tang lúc đang làm một việc thiếu tế nhị, chàng bối rối đỏ mặt. Ông nhạc sĩ vĩ cầm xua tay nói:

– Ông khỏi cần áy náy. Tuy tôi không cẩn thận cài kim vào ống quần, nhưng tôi vẫn làm xiếc đấy. Không chờ chàng hỏi, ông ta tiếp:

– Hồi ấy tôi sinh hoạt bên ngành nhạc một thời gian, sau đó “phòng tổ chức” khuyên tôi nên trở lại ngành xiếc. Vì ở đâu cũng là phục vụ, tôi vâng theo.

Chàng hỏi:

– Ông vẫn biểu diễn tiết mục nhồi banh đấy chứ?

– Không. Tôi tưởng khi không tìm thấy đôi kim găm, ông đã đoán ra. Gần đây tôi biểu diễn mục “vừa đi dây vừa kéo đàn”. Chán lắm, tuy các anh bên Tuyên huấn rất bằng lòng.

– Vì sao chán ạ?

– Trồng chuối tuy đau đầu nhưng còn có đôi chân giữ thăng bằng, mình chủ động được. Ði dây thì phải luôn luôn hồi hộp lo lắng, như mộng du giữa phải trái, thực giả, trong lúc đôi tay bận bịu với cây đàn. Tôi xanh xao sa sút đến thảm hại vì vậy. Tôi đến đây để xin ông chắp thêm cho cái truyện cũ một cái đuôi. Tôi van ông, chịu khó viết thêm cho. Nếu không, tôi phải mang tiếng là người dối trá.

Thấy ông khẩn khoản quá, chàng làm vừa lòng ông ta vậy!

Nguyễn Mộng Giác