TÂM SỰ NHẠN MÔN QUAN

nguyenmonggiac

Vách núi sừng sững như chọc thủng khoảng mây, ngăn tầm mắt người Khất Đan bên nầy và người Tống bên kia. Những cuộc nam chinh của nước Liêu từ cửa ải này xuất phát, cuồn cuộn chảy vào Trung Nguyên để nổi lửa đốt cháy nhà cửa và bật cung khơi nguồn máu chảy. Rồi nếu muốn bắc phạt để trả nợ máu, quân Tống cũng từ cửa ải này tuôn vào những sa mạc nước Liêu dậm nát không còn ngọn cỏ xanh hay một tiếng khóc tiếng cười.
Nhạn môn quan là tuyến đầu, biên giới giữa nước Liêu và nước Tống. Quân lính hai bên sẵn sàng ở thế tác chiến, đôi mắt xoi mói hoài nghi. Trừ trường hợp do nội tình, một bên bị suy yếu để bên kia thừa cơ lấn áp cướp bóc, bình thường cửa ải đóng kín, không ai được qua khỏi. Chỉ có chim hồng chim nhạn nhờ góp gió vào đôi cánh, từ ngả nhạn môn quan bay xuôi về phương nam tìm hơi ấm.
Tâm sự Nhạn môn quan là hoài bão của kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xóa hết biên giới nhỏ hẹp để sống theo tình người. Kẻ đó vẻ mặt hiên ngang, tính khí cao ngạo, to lớn hào sảng như con hùng sư 1, lớn mật mà cẩn thận, trí dũng song toàn 2, là nhân vật mà Kim Dung tha thiết đặt hết niềm tin, cố gắng thâu góp tất cả mọi đức tính lý tưởng giao cho hắn, nhờ hắn thay mình vào đời để bình thiên hạ.
Nhân vật tuyệt vời ấy là TIÊU PHONG, trong Lục Mạch Thần Kiếm. Cuộc đời của Tiêu Phong gắn liền vào cửa ải này.
Nếu Tiêu Viễn Sơn và người vợ bất hạnh không bồng con về thăm ngoại, thì Tiêu Phong vĩnh viễn là một vương tử Khất Đan, suy nghĩ theo quan niệm thuần túy Khất Đan, hành động theo quyền lợi người Khất Đan, nghĩa là ông sẽ bằng lòng với thế đứng của kẻ ở mạn bắc Nhạn môn quan.
Cuộc đời run rủi cho mọi sự bi đát mâu thuẫn có thể xảy ra, do mưu ly gián Liêu Tống của Mộ Dung Bác, quần hào trung nguyên tưởng một nhóm võ sĩ Đại Liêu âm mưu tấn công Thiếu Lâm tự để đoạt kinh, nên cùng nhau ra Nhạn môn quan phục kích. Vợ chồng Tiêu Viễn Sơn vô tình mắc nạn, mẹ Tiêu Phong bị thảm sát, cha Tiêu Phong tuyệt vọng tưởng vợ con chết hết nên ôm xác thân nhân nhảy xuống vực sâu tự vận. Nhưng như lời Trí Quang đại sư thuật lại:
“Gã người Liêu trong lúc lơ lửng chưa xuống đến đáy vực mới phát giác ra con mình chưa chết. Gã liền lập tức quăng con lên. Tâm linh gã mau lẹ đã đành, nhưng tung con đúng chỗ không sai mảy may thì võ công này ai mà không khiếp sợ. Tôi nhìn anh em chết thảm, khóc ròng một lúc rồi nhấc đứa nhỏ lên toan đập nó vào tảng đá cho chết đi. Nhưng vừa toan liệng vào; bỗng nghe nó khóc thét lên. Tôi nhìn mặt nó một cái, thấy má nó bụ bẫm đỏ hây, mắt nó đen láy và trong sáng đang nhìn tôi. Nếu tôi không trông vào mặt nó, thì đã quật chết tươi rồi, chả còn chuyện gì nữa”.
Cậu bé Tiêu Phong sống sót nhờ một cái nhìn. Trí Quang đại sư đã nhìn thẳng vào gương mặt đứa bé, để thấy trong đôi má bụ bẫm đỏ hây quyền sống thiêng liêng của một con người, trong đôi mắt đen láy chan chứa niềm vui, tình thương yêu, tình liên đới giữa người với người, không phân biệt Liêu hay Tống, già hay trẻ.
Tiêu Phong được quyền sống sót nhờ ở tình người, và dĩ nhiên lớn lên, cũng phải có nhiệm vụ phụng sự cho tình người.
THỰC TRẠNG PHÂN TRANH CỦA CÁC CHỦNG TỘC
Bọn Uông Bang chúa, Thủ lãnh đại ca, Triệu thiền tôn, Trí Quang đại sư… hối hận vì đã vô tình giết oan vợ chồng Tiêu Viễn Sơn nên không nỡ giết đứa con, đem nó qua hẳn bên này biên giới, thật xa về phía nam Nhạn môn quan, giao cho vợ chồng họ Kiều ở dưới chân núi Thiếu Thất nuôi dưỡng. Chùa Thiếu Lâm rèn luyện võ công và đạo đức, rồi Uông bang chúa hướng dẫn đào tạo cậu bé thành một người Tống hoàn toàn. Sau nhiều trắc nghiệm thử thách gay go, Tiêu Phong mới được giao cây Đả cẩu bổng cho. Quần hào trung nguyên giấu nhẹm gốc gác của Tiêu Phong, và chính ông cũng cư xử như một người Hán thuần túy. Cái nhìn Tiêu Phong giống y cái nhìn mọi người, hạn chế trong biên giới quyền lợi dân tộc, nhắm mắt tuân hành theo hệ thống huyền thoại nhằm đề cao Hán tộc và phỉ báng bọn man di chung quanh. Những huyền thoại đó là căn bản của lịch sử tất cả các nước trên thế giới, nó là chất liệu chính của mọi chặng huyền sử, là nguyên tố, mục tiêu để các sử gia sưu tập tài liệu chứng minh diễn tiến sinh tồn của dân tộc. Chúng ta thử điểm mặt các anh hùng dân tộc, sẽ thấy thành tích lớn lao nhất của họ là giết được hằng hà sa số người lân bang để bảo vệ quyền lợi chủng tộc, mở mang bờ cõi. Cho nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy bên này biên giới, nhân vật ấy là một tên đại ác, còn ở bên kia biên giới lại là một nhân vật lịch sử siêu việt oai hùng từng làm sáng đôi mắt ấu thơ. Cũng chính vì tinh thần dân tộc này mà người ta tự cho phép làm ngơ trước những hành động phi nhân, như nỗi vui sướng phấn khởi của một đứa trẻ da trắng Hoa kỳ khi xem trên màn ảnh cảnh quân biên phòng tàn sát không thương tiếc bọn mọi da đỏ. Tự tôn dân tộc, tự ái quốc gia là một thực tại trường cửu, cho nên dù cùng theo một chủ nghĩa, người cộng sản bên này biên giới vẫn gườm súng thủ thế với đồng chí bên kia biên giới. Hơn thế nữa, khi do một nguyên nhân riêng, những người cùng chủng tộc chém giết nhau, người ta vẫn thường trấn an lương tâm bằng cách gán cho người đồng bào là tay sai ngoại bang, nghĩa là không còn đáng được cư xử như một kẻ đồng giống nòi (một bên bị gọi là tay sai đế quốc Mỹ, một bên bị gọi là tay sai đế quốc đỏ Nga Tàu).
Lòng tự tôn quốc gia đã là một thực tại trường cửu thì biên giới quốc gia, muôn ngàn Nhạn môn quan, càng được phòng thủ cẩn mật. Sức người khó có thể xô ngã hay chui qua lọt. Họa hoằn chỉ có thể lọt qua được là những loài chim.
Tiêu Phong lớn lên, nuôi dưỡng trong truyền thống, mê hoặc bởi huyền sử, căm hận đến tận xương tuỷ bọn Khất Đan độc ác, và hãnh diện là người Hán. Ông ở xa biên giới quá, nên không thể thấy được những thực tại Nhạn môn quan.
Phải chờ đến lúc vì vấn đề chủng tộc, ông bị truất ngôi bang chúa, Tiêu Phong mới trở về Nhạn Môn quan để thấy rõ thực tại phân tranh.
Ông đã thấy gì? Trên Nhạn môn quan chất ngất, mây phủ chập chùng, không khí thanh khiết và yên tĩnh thần tiên. Ở cõi cao nhìn xuống nhân gian, chắc chắn mọi sự trở thành bé nhỏ tầm thường mà dễ thương như đồ chơi con nít: từ một khoảng vườn hẹp, một mái nhà nhỏ, một cánh đồng xanh. Nhưng Tiêu Phong về lại đây với một nỗi hận trùng trùng. Ông thắc mắc: Có phải mình là người Khất Đan không? Khất Đan có tàn ác không? Người Hán có đẹp như huyền sử không?
Thực tại đã trả lời:
“Trong lúc Tiêu Phong đang băn khoăn nghĩ ngợi, bỗng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Ông giật mình như người trong giấc mơ, tự hỏi: Tại sao lại có trẻ nít khóc?
Kế đó, ông lại nghe thấy tiếng đàn bà lanh lảnh, liền thò đầu trông ra để xem cho rõ thì thấy bọn quan binh nhà Đại Tống tên nào cũng cướp đêm về một vài người đàn bà con nít. Bọn người bị bắt đều mặc quần áo Khất Đan theo kiểu chăn trâu bò. Nhiều tên quan binh nhà Đại Tống đưa tay sờ nắn vào những người đàn bà con gái Khất Đan trông rất bỉ ổi và khả ố. Người đàn bà nào kháng cự là bị quan binh đánh đập…
Đột nhiên một đứa con nít đang ngồi trong lòng mẹ khóc thét lên. Người mẹ Khất Đan hất tay tên quan binh Đại Tống ra, quay lại gọi đứa nhỏ đang khóc. Tên quân cả giận, nắm lấy đứa nhỏ quật xuống đất, rồi cho vó ngựa xéo lên mình. Lập tức ruột gan đứa nhỏ lòi ra, Người đàn bà Khất Đan sợ, mặt xám ngắt, muốn khóc mà không khóc thành tiếng. Cả bọn quan binh xúm lại cười rộ…
Lũ quan binh này đi qua rồi thì lại một toán hơn mười tên khác la ó đi tới. Toán quan binh Đại Tống này cũng đều cưỡi ngựa, tay cầm đao dài giơ lên. Đầu mũi đao đều có bêu một cái thủ cấp máu chảy đầm đìa. Khúc đuôi một con ngựa có buộc quãng dây dài trói năm người đàn ông Khất Đan. Cách ăn mặc những người Khất Đan này cũng toàn là hạng bình dân chăn trâu bò. Hai người đã già lắm, đầu tóc bạc phơ, còn ba người nữa là thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi. Tiêu Phong hiểu ngay: Khi thấy quan binh Đại Tống đến ăn cướp, bọn tráng niên Khất Đan khỏe mạnh đều chạy thoát nên lũ quan binh chỉ cướp được những người già nua yếu đuối và đàn bà trẻ con đem về.”
Cảnh ấy khiến Tiêu Phong hết còn hãnh diện là người Tống. Ông thành thực thú nhận với A Châu trên Nhạn môn quan là ông hãnh diện được làm người Khất Đan. Tiêu Phong không giữ được lâu niềm kiêu hãnh ấy. Lần thứ nhì lên Nhạn môn quan, Tiêu Phong được mục kích một cảnh khác:
“Ông thấy đội quân binh Khất Đan ước chừng dư tám trăm người trên lưng ngựa chất đầy vải lụa cùng đồ vật, và số người bị bắt cũng đến dư tám trăm, phần đông là con gái ít tuổi, và một số trai tráng. Họ đều mặc y phục người Tống, ai nấy khóc lóc kêu gào, vẻ mặt cực kỳ buồn thảm…
Ngày trước Tiêu Phong đến ngoài ải Nhạn môn quan chính mắt ông đã trông thấy bọn quan binh nhà Đại Tống hiếp đáp nhân dân Khất Đan, lần này ông lại thấy binh Khất Đan đi bắt con dân Đại Tống. Vẻ mặt của những người bị bắt bữa nay cũng sầu khổ chẳng khác gì những người Khất Đan bị bắt ngày nọ.”
Trong những tên quân Đại Tống bỉ ổi khả ố với đàn bà Khất Đan, có thể sau này nhiều người trở thành anh hùng bảo vệ biên cương bờ cõi. Cũng như nếu một trong số 800 tên Khất Đan thảo khấu rủi ro bị chết, hắn sẽ được long trọng quốc táng, vì VỊ QUỐC VONG THÂN. Đó là bản chất của mọi huyền sử, cũng như vẻ mặt sầu khổ của những người dân Tống lẫn bọn bình dân chăn trâu bò Khất Đan là bản chất của lịch sử nhân loại. Sâu bên trong các kinh kỳ, bên trong các tuyên ngôn huấn từ, bên trong các sách sử yếu dành cho quần chúng, ý niệm quốc gia và sự duy trì niềm tự tôn chủng tộc đủ chất men khích động đám đông, để họ sẵn sàng tham dự vào tất cả mọi mưu đồ. Nhưng người đứng trên những Nhạn môn quan phải là những người sáng suốt. Cái nhìn của Tiêu Phong là cái nhìn của chim nhạn chim hồng:
” (Gần Nhạn môn quan), là một khu đồng ruộng bát ngát hoang vu, lúa má cùng cỏ dại mọc chen nhau, chỗ nào cũng đầy chông gai vì lâu ngày không người đi lại. Tiêu Phong nghĩ thầm:
– Người Tống vì sợ Khất đan đến đây cướp lương thảo nên đành bỏ hoang mấy trăm vạn khoảng ruộng tốt này. Mỗi một khoảng ruộng này đều nuôi nấng được bao nhiêu sinh linh. Họ đã tốn bao nhiêu huyết lệ mới làm thành ruộng tốt như vậy…”
Từ trên cao nhìn thấu được niềm vui nỗi buồn của một bác tiều phu người Tống, ao ước thái bình, để hằng ngày đem củi xuống chợ đổi nồi gạo trách mắm, nhìn thấu được màu xanh huyền diệu của một đọt cỏ, màu vàng ửng của trái chín, sắc vàng mênh mông của mùa. Nhìn được như vậy, Tiêu Phong mới sa vào niềm băn khoăn chưa từng có nơi mọi người Tống và mọi người Khất Đan. Thân thế đặc biệt của ông đưa ông đến một vị trí đặc biệt buộc ông nhận một thân phận đặc biệt.
NỖI BĂN KHOĂN CỦA TIÊU PHONG
Sự thức tỉnh đưa đến những hậu quả không mấy may mắn. Ông trở thành người cô đơn, xa lạ với đồng loại từ lúc ông tự hỏi:
– Làm sao đã là người cả lại còn phân chia làm người Khất Đan, người Đại Tống, rồi Nữ Chân, người Cao Ly… Bọn người bên này sang bờ cõi nước kia để kiếm lương, rồi bọn người bên kia lại qua đất bên này để giết người đốt nhà? Người bên này mắng người bên kia là CON CHÓ LIÊU, người bên kia mắng lại người bên này là CON HEO TỐNG.
Hay xa hơn nữa, từ khi ông dùng trực giác và sự tha thiết đến tình người để phân biệt phải trái, chân nguỵ trong lời kể chuyện Nhạn môn quan của Trí Quang đại sư.
Trí Quang kể lại cuộc phục kích quân Khất Đan mấy mươi năm về trước để giải thích thân thế Kiều Phong:
” Thủ lãnh đại ca thấy quân Liêu cẩu đến gần liền hú lên một tiếng dài để ra hiệu. Sau các tảng đá lớn, ám tiễn tới tấp bay ra: nào cương tiễn, nào tụ tiễn, nào phi đao, nào thiết chuỳ đều tẩm thuốc kịch độc. Bỗng nghe những tiếng oai oái vang dậy, cả bọn Liêu cẩu nhốn nháo, ngã ngựa đến quá nửa. Lúc nầy tôi đã đếm được rõ ràng bọn võ sĩ Khất Đan có mười tám tên cả thảy, mười một tên trúng ám khí, thế là chỉ còn bảy tên. Chúng tôi liền nhất tề xông ra khoa đao lên chém giết một lúc sạch cả, không còn một mống chạy thoát.
Nghe xong cuộc thắng lợi vẹn toàn này, do lòng tự ái quốc gia, nhiều người trong Cái bang hoan hô nhiệt liệt.
Bọn chó Liêu dĩ nhiên tàn ác như dã thú, giết được càng nhiều càng tốt. Vậy mà các bậc tiền bối anh hùng đã giết sạch trong chớp mắt mười tám tên chó chết. Quần chúng nhiệt liệt tán thưởng, giống như khán giả vỗ tay khi thấy quân biên phòng da trắng giết sạch cả bộ lạc da đỏ, giống như độc giả nhật báo vui mừng đọc tin thắng trận ở Sơn Mỹ: Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ thuộc sư đoàn Americal phối hợp với không quân và pháo binh, đã tấn công vào một làng chiến đấu phòng thủ kiên cố của cộng quân sáng ngày 16-3-1968 vừa qua. Giao tranh diễn ra ác liệt suốt buổi sáng và xế trưa. Kết quả: 128 xác địch đếm được tại trận, 13 tình nghi bị bắt giữ và 3 vũ khí bị tịch thu.
Nhưng sau những vui mừng đột khởi ban đầu, một hai tháng hay một hai năm sau, phải có những hoài nghi nhân bản: Tại sao 128 tên địch bỏ xác tại trận mà quân bạn chỉ tịch thu được có 3 vũ khí? Chính câu hỏi này đã đưa đến vụ án thời danh Calley. Đoàn Dự và Tiêu Phong khi nghe Trí Quang đại sư kể chuyện, cũng có những hoài nghi tương tự. Tiêu Phong thầm hỏi: Đại sư vừa nói bọn võ sĩ Khất Đan này tất được tuyển chọn rất kỹ mà sao chỉ trong khoảnh khắc, chúng đã bị giết hết. Đó là những băn khoăn xuất phát từ lòng nhân đạo, đòi phân biệt người dân vô tội chịu đựng lịch sử và kẻ chiến đấu. Bên kia Nhạn môn quan, chưa phải là vùng oanh kích tự do, nên cả hai con người chí tình Đoàn Dự và Tiêu Phong đều tỏ vẻ hoài nghi, trong lúc quần hào vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Tuy nhiên sự thức tỉnh chỉ mới bắt đầu, nên Tiêu Phong chưa dám có thái độ nào. Ông vẫn im lặng, nghe Trí Quang đại sư kể tiếp:
Chúng tôi đành ỷ bên mình đông người xúm lại uy hiếp, sáu bảy người nhảy xô lại tấn công gã đàn ông và bốn năm người xúm lại đánh thiếu phụ, Không ngờ thiếu phụ này chẳng biết chút võ nghệ nào. Vừa bị chém một đao, cánh tay nàng đã đứt lìa mình. Thiếu phụ bồng con té nhào xuống đất. Một người khác bồi thêm phát nữa hớt mất nửa đầu nàng. Gã đàn ông tuy võ nghệ cao cường nhưng bị bảy tám cao thủ vây đánh thì còn tài nào có thể rảnh tay giải cứu cho vợ con. Mấy chiêu đầu gã chỉ dùng thủ pháp kỳ dị cướp lấy vũ khí chúng tôi, chứ không chém giết ai. Nhưng khi thấy vợ con bị giết rồi thì mắt gã đỏ ngầu, vẻ mặt hung dữ trông mà phát khiếp. Gã người Liêu tưởng đã giết hết bọn cường địch liền chạy lại bên thi thể vợ, ôm lấy thây nàng khóc rống lên, tiếng khóc cực kỳ bi thảm. Tôi nghe tiếng khóc không khỏi mủi lòng. Thì ra tên Liêu cẩu này ác như quỷ, dữ như dã thú mà hãy còn nhân tính. Giọng khóc bi ai của gã tưởng chẳng kém gì người Hán chúng ta.
Hoá ra chính Trí Quang đại sư cũng thức tỉnh như Tiêu Phong, Đoàn Dự. Đại sư hơi có chút kinh ngạc, thú nhận tiếng khóc Khất Đan không khác mấy với tiếng khóc Đại Tống.
Triệu Thiền Tôn, một cao thủ cũng tham dự vào trận phục kích ấy nói:
– Loài dã thú còn có thâm tình giữa cha con và vợ chồng vị tất nó đã thua loài người. Thế thì người Khất Đan cũng là người, người Hán cũng là người, sao nó lại không thương xót bằng người Hán?
Mọi người nghe Triệu Thiền Tôn nói đều la ó phản đối, Triệu Thiền Tôn chỉ cười nhạt không đáp. Nụ cười khinh miệt ấy khai ngộ cho Tiêu Phong, con người bị xâu xé giữa cuộc phân tranh khốc liệt về chủng tộc. Không một chút do dự ông tự vạch cho mình một lý tưởng: cố gắng xoá bỏ hận thù giữa các quốc gia chủng tộc, nhìn con người không qua lòng tự ái tự tôn tích luỹ lâu đời do âm mưu chính trị, mà qua tình thương giữa người với người.
Con người ra đời với đôi má hây hây bụ bẩm, và đôi mắt trong sáng đen nháy, lớn lên trong tiếng nô đùa hồn nhiên, vào đời hệ luỵ với tình cha mẹ, tình vợ chồng, tình tương thân hàng xóm láng giềng, tình quê hương quyến luyến, từ một cổng làng một bụi tre, một hòn đá bên đường, một cây đa cỗi, con người nguyên vẹn niềm vui và nỗi buồn, dù phút vui phù phiếm mà buồn da diết, vẫn được quyền sống nốt cho hết khoảng thời gian thiên phú. Sự thực phân tranh, cùng với bản tính chân thực chí tình, đã giúp Tiêu Phong ngộ đạo, Từ TỰ GIÁC, ông bắt đầu GIÁC THA.
TIẾNG GẦM CỦA CON HÙNG SƯ
Không phải bằng những bài kệ. Không phải bằng những câu quát tháo phẫn nộ nơi cửa miệng các vị thiền sư. Là một cao thủ võ lâm, Tiêu Phong có một lối khai ngộ riêng của con nhà võ. Những vấn nạn khai ngộ của ông liên quan đến võ học, đã thức tỉnh từ một vị tăng Thiếu Lâm cho đến đám đông kiếm khách.
Có thể có nhiều lối khai ngộ khác. Như bài kệ Trí Quang đại sư viết cho Tiêu Phong trước khi viên tịch:
Chúng sinh đều một cuộc
Vạn vật thế bình quân
Thánh hiền hay súc loại
Thảy tới chỗ đồng nhân
Khất đan với Hán nhân
Bất luận giả hay chân
Ân oán cùng vinh nhục
Không hơn đống bụi trần
Đã thức tỉnh đầu óc những kẻ mang nặng thành kiến, oán thù, khiếp sợ trên cái thế chông chênh ở Nhạn môn quan.
Nhưng Tiêu Phong chọn một lối khai ngộ thích hợp với đối tượng: khai ngộ bằng võ học. Điều đó không có gì ngạc nhiên, vì triết lý của sự sống không hạn hẹp trong các suy niệm nghiêm túc về vũ trụ, nhân sinh, mà bàng bạc trong lời chim sớm, nụ cười trẻ thơ, trăng tròn rồi khuyết, bèo hợp rồi tan. Vậy thì tại sao lại không có thể tìm thấy một lẽ sống, một hướng đi trong cách sử một chiêu kiếm, vung một đường quyền, luyện một nội lực. Lấy võ để khai ngộ là đã vượt qua được cái chấp đầu tiên: trọng lý thuyết và các suy niệm thuần lý, xem nhẹ sinh hoạt bình thường của thực tại. Nhờ vậy, cách giác tha của Tiêu Phong đã thức dậy niềm băn khoăn trong mọi người, khiến họ xao xuyến bàng hoàng, đặt ngược vấn đề, tra hỏi về những điều lâu nay tưởng là chân lý vĩnh cửu.
Con hùng sư giữa đám quần hùng đã dùng tiếng gầm của võ công để giác tha. Trước hết, ông thức tỉnh tăm tối cho một kẻ tưởng đã xoá hết hình sắc, ý thức vô thường: nhà sư Huyền Tịch.
“Lúc này, đôi bên cùng sử dụng toàn Thái tổ trường quyền, ngoài việc so bì các võ công cao thấp, không còn chỗ nào để nhiếc móc nhau nữa. Huyền Tịch thấy Huyền Nạn chỉ trong chớp mắt là nguy hiểm đến tính mệnh, không nói nữa, phóng véo một chỉ ra, điểm huyệt tuyệt kỹ này của phái Thiếu Lâm gọi là Thiên Trúc Phật Chỉ. Tiêu Phong thấy Huyền Tịch phóng chỉ điểm ra, vừa nghe tiếng vù vù rất nhỏ nhẹ, đã nói ngay:
– Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ ngón Thiên Trúc Phật Chỉ quả nhiên lợi hại. Nhưng ngón này là võ công của người Hồ bên Thiên Trúc mà đại sư đem ra để đấu với huyền phát chính tông của Đức Thái Tổ bản triều, thì dù đại sư có thắng được tôi, há chẳng mang tiếng là kẻ thông Thiên bán nước, làm nhục cho bản triều ư?
Huyền Tịch vừa nghe, bất giác rùng mình.
Hôm nay quần hùng sở dĩ đến đây vây đánh Tiêu Phong vì ông là giòng giống rợ Hồ nước Khất Đan. những môn phái võ Thiếu Lâm được truyền vào Trung Quốc từ lâu. Các môn phái ở Trung nguyên chẳng nhiều thì ít đều có liên quan đến những môn võ của phái Thiếu Lâm. Mọi người cơ hồ quên lãng mối liên quan giữa người Hồ và phái này.
Quần hùng nghe Tiêu Phong nói, ai nấy trong lòng rung động, vì trong các vị anh hùng ở đây, có nhiều nhân vật kiến thức rất rộng, không khỏi nghĩ thầm: Bọn ta đã kính cẩn Đạt Ma Lão Tổ như một vị thần minh mà sao lại căm hận người Khất Đan đến xương tuỷ? Cả người Khất Đan cho chí người Thiên Trúc đều là nói giống rợ Hồ chứ đâu có cùng chủng tộc với mình? Xét cho cùng thì hai giống người này khác nhau xa: người Thiên Trúc trước nay không tàn sát đồng bào Trung quốc, còn người Khất Đan thì tàn ác vô cùng.
Như vậy thì không phải cứ thấy người Hồ là giết, mà bên trong còn phân biệt kẻ thiện người ác. Thế thì giòng giống Khất Đan không có ai là người tốt ư?
Tiêu Phong lấy ngay cái eo hẹp của lượng người để làm vấn nạn. Người Hán có mặc cảm tự tôn của người Hán, hãnh diện với Thái Tổ trường quyền do vị vua sáng lập ra nhà Tống sáng chế. Từ đó, quần hùng Trung nguyên xem thường bọn tây hồ, bắc địch, nam man, đông di. Bây giờ, trong lúc nguy nan, nhà sư nặng lòng dân tộc mà quên đạo pháp lại đem võ công của người Hồ ra tranh đấu với võ công bản triều, không chú ý đến sự nghịch lý trớ trêu của hành động. Nếu vì muốn thắng Hồ mà phải sử dụng võ công của rợ Hồ, thì làm sao phân biệt được phải trái, đen trắng?
Huyền Tịch bất giác rùng mình vì Tiêu Phong đã chứng tỏ cho đại sư thấy sự mê lầm, và hơn thế nữa, đánh đúng được niềm băn khoăn bấy lâu Huyền Tịch chưa tìm ra lối thoát: Làm sao giải quyết được mâu thuẫn quyền lợi dân tộc và đao pháp? Nếu tu sĩ phải đứng trước một hoàn cảnh trớ trêu, một bên là sự tồn vong tối thượng của quốc gia một bên là lý tưởng tôn giáo, thì tu sĩ phải dung hoà thế nào giữa đạo và đời? Huyền Tịch trước hết tự nhận là một đại sư xem tất cả không hơn đống bụi trần hay trước hết là một công dân Đại Tống? Nếu vì quyền lợi của Đại Tống mà mê lầm, Huyền Tịch có quyền tiếp tục mặc bộ áo cà sa. Chỉ có các nhà sư Việt Nam thời Lý Trần mới có quyết định cởi áo nâu cầm gươm giệt giặc, rồi rửa tay gác kiếm, thanh thản trở về dưới cội Bồ đề. Mà cho dù có dứt khoát được như vậy, trên toà sen, Đức Phật cũng không khỏi nhìn nhà sư ái quốc với đôi chút ngậm ngùi. Huyền Tịch bất giác rùng mình, rồi từ đó cập thuyền vào bến Giác.
Sau đó, Tiêu Phong đặt câu hỏi khai ngộ rõ ràng hơn cho đại sư Huyền Độ:
“Đột nhiên Tiêu Phong hỏi:
– Huyền Độ đại sư, gia gia tại hạ (chỉ Tiêu Viễn Sơn, người Khất Đan, cha của Tiêu Phong, bây giờ đang tu ở chùa Thiếu Lâm) ở quí tự có mạnh giỏi không?
Huyền Độ sửng sốt đáp:
– Lệnh Tôn đã quy y, vào thanh tu trong hậu viện chùa Thiếu Lâm. Lúc bần tăng đi Nam Kinh, không muốn đến chào lệnh tôn để khỏi bận lòng trần tục.
Tiêu Phong nói:
– Tại hạ muốn gặp gia gia để hỏi người một câu.
Huyền Độ hắn giọng một tiếng chưa nói gì, thì Tiêu Phong lại tiếp:
– Tại hạ muốn hỏi gia phụ: Nếu Liêu binh đến đánh chùa Thiếu Lâm, thì người xử trí ra sao?
Huyền Độ đáp ngay:
– Bần tăng nghĩ rằng dĩ nhiên cư sĩ sẽ giết địch để bảo vệ Phật pháp.
Tiêu Phong nói:
– Nhưng gia phụ là người Khất đan, chẳng lẽ lại vì người Hán mà giết người Khất đan ư?
Huyền Độ trầm ngâm một chút rồi nói:
– Bang chúa (chỉ Tiêu Phong) quả là người Khất đan mà bỏ chỗ tối để theo chỗ sáng, thật là đáng kính phục.
Tiêu Phong nói:
– Đại sư là người Hán thì nghĩ người Hán sáng mà người Khất Đan tối. Tại hạ người Khất đan cũng tưởng Đại Liêu sáng còn Đại Tống tối, Tổ tiên tại hạ bị giống người Yết tàn sát, lại bị người Tiên ti hà hiếp cực kỳ khốn khổ, chạy hết chỗ này đến chỗ khác. Đời nhà Đại Đường, người Hán võ công cực thịnh, đã giết không biết bao nhiêu là dũng sĩ, cướp bao nhiêu là phụ nữ Khất đan. Bây giờ đời Tống, võ công người Hán kém cỏi, nên lại bị người Khất Đan tàn sát. Hai bên thù oán đời đời biết bao giờ mới hết?
Huyền Độ lẳng lặng một lúc, rồi cất tiếng niệm Phật nghĩa là bất đầu nhận thức được lẽ sắc không, vượt qua những cố chấp về kỳ thị chủng tộc và tự ái quốc gia. Sự thức tỉnh của một đại sư ngộ đạo đưa tâm hồn người đến chỗ sáng suốt, nên có thể Huyền Độ đại sư lâm râm niệm kinh Kim Cương hay Viên Giác.
Nếu tất cả đều ngộ tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình. Mọi người sẽ thành thật thương yêu nhau, tôn trọng lẽ sống và quyền tự do tối thượng, đề cao nhân phẩm. Khổ nỗi tôn giáo chỉ là cái mộc tự vệ, an ủi của kẻ yếu, khi chưa giải quyết được sự bất công. Khi chưa giải quyết được nguồn nheo nhóc trên địa hạt hữu hình cụ thể, khuynh hướng giải thích siêu hình để con người chấp nhận thực trạng khốn khó gần giống như sự làm ngơ, thoả hiệp. Chính đó là nguyên nhân sự lúng túng thụ động của Thiếu Lâm trước những vấn nạn cấp thiết đòi hỏi một giải pháp cấp thời, nhãn tiền. Nhiều lúc các đại sư lại còn hiện diện cho kẻ khác lấy cớ hành động mê muội. Quần hào Cái bang truất ngôi bang chúa của Kiều Phong, các đại sư Thiếu Lâm có mặt để đóng vai chủ toạ. Quần hào Trung nguyên tụ họp ở Tụ hiền trang, để xếp đặt kế hoạch tiêu diệt một người chỉ có mỗi cái tội làm người Khất đan, các nhà sư vẫn sẵn sàng tham dự. Với uy tín cao cả môn phái được xem là võ lâm bắc đẩu, nếu các vị sư Thiếu lâm muốn hoà giải giữa hai dân tộc Liêu Tống, muốn ngăn cản một cuộc đổ máu vô ích, muốn giác ngộ kẻ đại ác, muốn bảo vệ công lý, thì hoài bão đó có thể thực hiện được dễ dàng. Ở đây, họ không làm gì hết, chỉ nhìn mọi diễn tiến kỳ quặc của đời sống thế tục với nhãn quan siêu hình.
Cho nên Tiêu Phong đã khai ngộ cho các thiền sư, mà sự tranh chấp đố kỵ giữa hai dân tộc láng giềng vẫn không giải quyết được. Những âm mưu tranh bá đồ vương vẫn tiến hành, và tiến hành ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm: Mộ dung Bác âm mưu phục hưng cho Đại Yên, Tiêu Viễn Sơn âm mưu thu thập tinh tuý võ học của Trung nguyên cho quyền lợi ưu thắng của Đại Liêu. Chính Mộ Dung Bác hùng hồn chứng minh rằng sở dĩ mình hùng hồn phao vu cho Tiêu Viễn Sơn, chỉ vì muốn gây hiềm khích giữa Liêu Tống. Hai nước giao tranh, họ Mộ Dung mới có thể nhân cơ hội phục hưng nhà Yên.
Ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm, Mộ Dung Bác đề nghị với Tiêu Phong:
“- Nếu nhà Mộ Dung dựng cờ khởi nghĩa dấy quân vào cướp Sơn Đông, mà được Đại Liêu hưởng ứng, đồng thời mấy nước Thổ phồn, Đại Lý cùng Tây Hạ cũng đứng lên thì năm nước chúng ta chia cắt nhà Đại Tống không phải là chuyện khó. Nước Yên của tại hạ không dám động chạm đến một tấc đất của Đại Liêu. Nếu công cuộc phục hưng thành tựu thì chỉ lấy đất Nam triều. Vụ này rất có lợi cho Đại Liêu, sao Tiêu huynh lại không vui lòng cử sự?
Tiêu Phong nghiêm nghị nói:
– Mối đại thù giết mẹ đâu có thể đem ra làm chuyện mua bán? Báo được thù thì báo, cha con ta chịu chết nơi đây. Những chuyện tham lam hèn hạ, cha con họ Tiêu này đâu có thể làm được.
Mộ Dung Bác ngửa mặt lên trời cả cười rồi lớn tiếng nói:
– Ta thường nghe nói Tiêu Phong đại hiệp là tay anh hùng quán thế kiến thức phi thường. Dè đâu bữa nay mới thấy rõ y là kẻ không hiểu đại nghĩa mà chỉ sính cường theo cái dũng của kẻ thất phu. Ha ha! Thiệt là đáng tức cười.
Tiêu Phong biết lão dùng lời nói khích, lạnh lùng nói:
– Tiêu Phong là anh hùng hào kiệt cũng được mà là phàm phu tục tử cũng được, nhưng không thể để kẻ khác dùng làm cái bung xung cho thoả tâm nguyện của họ.
Mộ Dung Bác nói:
– Kẻ ăn lộc vua phải biết trung quân mà đại hiệp lại nghĩ đến tư cừu của cha mẹ, không đem lòng tận trung báo quốc, há chẳng bất nghĩa với Đại Liêu?
Tiêu Phong tiến lên một bước hiên ngang nói:
– Ngươi vừa mới nói ngoài biên cương hai nước Tống Liêu thù hận giết nhau gây nên thảm trạng. Ngươi đã thấy cảnh người Tống và người Liêu chia lìa vợ con nhà tan người chết rồi chớ gì? Hai nước Tống Liêu bãi cuộc binh đao mấy chục năm xâm lấn Nam triều, rồi sẽ có bao nhiêu người Tống phải phơi thây? Bao nhiêu người Liêu phải uổng mạng?
Cuộc chiến chinh thảm khốc trên thế gian này ai là người nắm chắc được phần thắng? Nhà Đại Tống binh nhiều lương đủ, chỉ cần mấy viên đại tướng hết sức chống cự thì nước Đại Liêu và nước Thổ Phồng có hợp lực chiến đấu mà thắng được cũng phải máu chảy thành sông, thây chất thành núi, để cho họ Mộ Dung nhà ngươi thừa cơ phục hưng Yên Quốc. Việc kiến công lập nghiệp cần phải giữ đất yên dân như thế sao?
Tiêu Phong nhìn con người như nhìn một sinh vật tối thượng không thể nhân danh bất cứ điều gì, đưa ra bất cứ chiêu bài nào để hành hạ huỷ diệt. Dù biên giới có là sông rộng nước chảy tràn hai bờ xa lạ hay là những ngọn núi chất ngất đi lại khó khăn, bên này Nhạn môn quan và bên kia Nhạn môn quan, Tiêu Phong chỉ thấy những người dân sống trọn vẹn liên kết với tình cha mẹ vợ chồng anh em láng giềng, hệ luỵ với đất đá cây cỏ ruộng nương. Ngược lại, Mộ Dung Bác chỉ xem con người như một phần tử của cộng đồng thuần nhất bởi nòi giống quyền lợi vì vậy chịu tất cả những áp lực của gánh nặng của áp lực tinh thần, siêu hình, kinh tế, văn hoá. Con người, theo Mộ Dung Bác chỉ xứng đáng tồn tại nếu chịu tuân theo những quy luật có lợi cho cộng đồng, thích hợp với guồng máy chung.
Những lời tâm huyết của Tiêu Phong đã thức tỉnh được phần nào Mộ Dung Bác, kẻ chỉ mới mơ ước vươn tới chiếc vương miện uy quyền. Mộ Dung Bác chưa mắc kẹt trong mê hồn trận của sức mạnh uy quyền, chưa đạt danh vọng nên có thể tha làm phúc. Nhưng Tiêu Phong đã thất bại khi muốn can gián một ông vua tại vị dấn mình vào cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cõi: Gia Luật Hồng Cơ.
Tiêu Phong không làm gì được để ngăn cản cuộc nam chinh của hoàng đế Đại Liêu, đành liều thân uy hiếp Hồng Cơ để bắt thề độc là từ nay về sau không bao giờ có ý định xua quân vượt qua Nhạn môn quan. Sau hành động tuyệt vọng ấy, Tiêu Phong chỉ còn một ngõ cụt: cái chết.
Đối với Đại Liêu, Tiêu Phong hết còn đất sống, vì đã dám bức bách hoàng đế. Đối với Đại Tống, trước sau ông cũng chỉ là một kẻ xa lạ không thể hoà đồng vào cuộc sống chung của Hán tộc. Kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xoá hết ranh giới nhỏ hẹp để sống theo tình người, kẻ muốn Nhạn môn quan hạ thấp và nâng cao thương yêu, liên đới nhân loại, không thể nào có đất đứng giữa xã hội này.
Ông chỉ còn có cách tự vẫn, để cho vó ngựa Khất đan không vượt qua ải. Ông đã thành công một cách tuyệt vọng:
“Vó ngựa lộp cộp vang lên một lúc, hàng vạn nhân mã nước Liêu vừa đi vừa ngoảnh cổ lại nhìn thi thể Tiêu Phong nằm thẳng dưới đất ra chiều thương cảm.
Trên vòm trời, tiếng chim líu lo gọi nhau. Một đàn hồng nhạn vượt qua đầu đoàn quân Liêu từ phía bắc xuống phía nam lại vượt qua bức tường thành Nhạn môn quan rồi bay mãi đi. Quân Liêu đi mỗi lúc một xa, tiếng vó ngựa dần dần biến thành những tiếng sấm rền khe khẽ phía sau núi.
Cuối cùng, vượt qua được biên giới quốc gia, chỉ có loài chim. Loài người hai chân dính chặt vào đất bùn lầy, lòng đầy thành kiến và hận thù, hai tay với mãi không tới được dự ước, làm sao ngông cuồng bắt chước Tiêu Phong?
Lục Mạch Thần Kiếm chấm dứt với tiếng thở dài của Kim Dung và lời ríu rít líu lo chế diễu của một loài chim.

NGUYỄN MỘNG GIÁC

LÒNG TRẦN

NguyenThiThuyVu01

Không kể Nhã Ca và Túy Hồng, có một hướng đi khác; trước Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng cũng khai thác thể tài tình dục, hoặc ẩn ức tâm sinh lý như cốt lõi hình thành tác phẩm. Nhưng trước một Trùng Dương còn cố tình mặc khoác cho tình dục chiếc áo ngủ triết lý và trí thức, trước một Nguyễn Thị Hoàng còn nỗ lực son phấn, chồng chéo nhiều mẫu mã thời trang diêm dúa cho tình dục thì, Nguyễn Thị Thụy Vũ lại giữ nguyên trạng, giữ nguyên cái trần trụi, cái thô tháp rất bản năng, rất con người của tình dục. Sự trần trụi, thô tháp này, khiến không ít những người nhân danh đạo đức, nhân danh truyền thống, một thời, đã phải nhăn mặt, lên án… Và, đấy cũng là mặt thành công của hành trình vào văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ vậy. ( Du Tử Lê)

Con đê dài rộng, hai bên trồng dừa Tam Quan cao hơn đầu người thẳng hàng, đều khoảng. Những quày dừa màu hỏa hoàng oằn trái. Bóng dừa chìm dưới đáy nước của hai đầm sen – bên trái đầm sen trắng, còn bên phải đầm sen hồng. Từ con đê đi vào khoảng ba trăm thước, một ngôi chùa nằm im lìm giữa hai hàng dương.
Chùa này vì ít thiện nam tín nữ lui tới nên càng thêm vẻ đìu hiu, lạnh ngắt. Từ đường cái nhìn vào, ít khi người ta nhìn thấy bóng dáng những nhà tu. Chỉ nhìn thấy chiếc tháp cao trơ vơ với rêu bám nham nhở và vài viên gạch mục rớt ra lở lói. Mái chùa thấp ẩm ướt và bóng tối đặc quánh. tiếng kêu vo ve của đám muỗi đói lẫn tiếng chí chóe của đàn chuột dưới những bàn thờ và tiếng vỗ cánh của đàn dơi hoang. Cao hứng chúng bài tiết bừa bãi không vị nể các ông Phật đang ngồi trang nghiêm nhìn ánh đèn chong leo lét. Bình hoa huệ sắp tàn, chỉ còn vài búp gắng gượng trên chót nhánh. Những cánh trắng héo hắt rớt tả tơi trên bàn thờ không mấy ai buồn dọn quét chăm sóc.

Lâu lắm, người ta mới thấy bóng một sư nữ gầy gò xanh xao ngoài năm mươi tuổi ngồi bên hông chùa, uể oải cầm chiếc dao cùn chặt những cành dương khô rớt trên nền đất và bó thành từng bó nhỏ. Ni cô ngồi dưới bóng nắng loang lổ đỏ, khoác chiếc áo cà sa màu cà. Hình như bà cố tìm vài mảnh nắng rớt nhiều nhất trên nền đất để hóng nắng. Giữa màu lá xanh bao quanh da mặt, bà càng thêm nhợt nhạt. Ðôi mắt trũng sâu nhiều, tròng trắng nhìn bâng quơ khi cánh tay gầy guộc khô khan của bà đưa chiếc dao chành lên xuống vài lượt, và giọng ho húng hắng được đè nén làm bà run rẩy.

Bà đã đến tu ngôi chùa này hồi hai gò má còn hồng và nụ cười tươi sáng ẩn một chút ngổ ngáo. Nay hàm răng trắng xa xưa đã rụng mất vài ba cái và đóng bợn vàng ối.

Ông yết ma vốn người bán nam bán nữ, cao to mập trắng hếu và có đôi mắt lém lỉnh. Hình như ông yết ma này gọi ni cô bằng dì họ. Ông này cùng theo bà đến chùa hồi mười tuổi và bây giờ ông đã quá ba mươi. Ông có tật lãng tai, mỗi khi ni cô nói với ông điều gì, bà phải lấy tàn hơi gào thét. Ông cứ vểnh tai ra, nét mặt ngơ ngác như người đi lạc vào một thế giới xa lạ thiếu âm thanh. Ni cô mỗi lần muốn đàm đạo với ông cháu quí phải nặng hơi mỏi cổ nên bà lười biếng ít muốn nói chuyện với ông ta lâu. Ngoài hai người, còn có một chú tiểu đầu để chởm với thẻo tóc dài vắt qua vành tai. Chú tiểu này vừa giúp đỡ ni cô như một tiểu đồng, vừa làm thông ngôn khi ni cô muốn nói chuyện dài với ông yết ma. Chú tiểu có vẻ nhẫn nhục và cam chịu. Chú sống thui thủi giữa hai người lớn, mỗi người có một thế giới bưng bít. Họ chỉ hợp nhau vào những buổi tụng niệm, còn ngoài những giờ lo cho Ðấng Từ Bi, họ mỗi người mỗi việc tưởng chừng như sự hiện diện của nhau thật là mờ nhạt thừa thải. Chú tiểu lo phần cơm nước. Những bữa cơm dọn với rau muối mè, tương hột đơn sơ, chú tiểu có thể quán xuyến chu tất. Mỗi buổi sáng, chú ra sau chùa bứt những đọt mùng tơi, hái những bông mướp vàng ối còn thơm mật, nhổ vài nắm rau đáng mọc dọc mé đê đem vào luộc. Ông yết ma ngoài mấy buổi tụng kinh, gõ mõ, còn có bổn phận vun quét rườn rau, cưng dưỡng mấy dây bầu và giàn mướp sai trái. Cái quá khứ không tì vết của ông yết ma – ông sống xa người trần tục không tiếp nhận cuộc sống đầy rẫy bon chen – khiến ông chỉ hiểu cuộc đời lờ mờ ngoài mái chùa. Cơm rau mỗi ngày hai bữa, ông làm việc hùng hục ngoài vườn rau và ngủ li bì vào những giờ rảnh rỗi. Những giấc ngủ êm đềm khoan khoái nuôi dưỡng thân xác ông mỗi ngày một to béo đẫy đà. Vẻ mặt ông cười cợt dễ dãi và phẳng phiu như tâm hồn ông. Ði tu từ lúc còn bé, ông sống kham khổ cũng đã quen. Ông cảm thấy yên phận để dọn mình mai sau về với Phật Tổ, dẫu làm con chuột uống dầu tại chùa Tây Phương cũng cam. Ðầu óc ông tiêm nhiễm giáo lý một cách lờ mờ, cuộc sống trong kinh kệ chưa in rõ vào đầu óc ông. Ông còn mơ ước gì hơn; vả lại, ông không có thì giờ để nghỉ ngơi suy ngẫm gì ngoài những thủ tục đọc kinh trồng rau. Công việc nhà chùa chiếm hết ngày tháng. Ông dạy chú tiểu học kinh và cách tụng kinh. Chú ấy cũng là người để cho ông ta tâm sự về sự tiến triển của mấy dây bầu, của nụ hoa mướp có mòi thành quả. Chỉ có vậy thôi, thế mà ông ta sống lây lất hơn hai mươi năm qua đến không ngờ. Ngày đó, ông theo ni cô Diệu Tâm đến ngôi chùa này giữ vai trò một tiểu đồng, Lúc đó còn sư cụ và ni cô thì mới ngoài ba mươi tuổi, dung nhan còn mặn mòi sắc lẽm. Ðến khi sư cụ qua đời và được mai táng trong cái tháp trước sân chùa, ni cô Diệu Tâm mới lo quán xuyến ngôi chùa này.

Những ngày rằm hoặc những ngày lễ Phật, chỉ vài ba thiện nam tín nữ đến dâng hương vội vã. Hình như họ nghĩ rằng chùa nào đông đúc tấp nập, Phật Trời mới có mặt thường xuyên. Chớ chỗ buồn bã như vầy, chắc Phật Trời cũng lười lui tới. Ông yết ma cảm thấy phơi phới trong cuộc sống trống vắng quạnh hiu. Những lúc đám khách thập phương này chiếu cố chùa, ông có cảm tưởng như họ đến quấy rầy sự yên tĩnh của ông. Nhưng ông phải giữ đúng quy luật nhà chùa là cửa thiền lúc nào cũng mở rộng. Ông biết lán mán về quá khứ của ni cô ngày xưa lúc bà mới hai mươi tuổi, bà là vợ kế của nhà phú hộ trong làng Ðạo Ngạn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ruộng vườn của bà cò bay thẳng cánh. Thủa đó, tất cả phụ nữ miền Nam chưa hề trang điểm, thế mà bà đã biết dùng phấn nụ do các công chúa của triều đình Huế sai tì nữ đem bán. Trước khi đánh phấn, bà dùng chỉ đánh cho săn lại rồi lăn lên da, nhổ sạch những sợi lông măng để cho da mặt tiếp nhận phấn dễ dàng. Ðoạn bà dùng phấn nụ bôi lên mặt, lấy giấy hồng đơn thấm nước đắp lên mặt má. Bà nhai trầu cho đôi môi nhuộm đỏ.

Thật ra bà vốn là đào hát bộ, tên Năm Thàng. Ông phú hộ có tính phong lưu tao nhã. Ðời ông chỉ có việc lấy hát xướng làm tiêu khiển. Bất kỳ gánh hát nào có bà, ông cũng ngồi ghe bầu theo coi cho bằng được. Ngồi ghế thượng hạng để cầm chầu, ông say sưa chiêm ngưỡng tấm nhan sắc chim sa cá lặn của bà trong vai Phàn Lê Huê, Hồ Nguyệt Cô, hoặc Lưu Kim Ðính. Người bạn theo hầu kiêm luôn anh đầu bếp giỏi, và tối đến, được theo chủ xem hát. Người phu trạo đã bắt đầu ghiền cuộc sống rày đây mai đó. Cũng bao nhiêu tuồng hát đó mà nhà phú hộ nọ vẫn coi hoài không chán mắt. Ðối với ông, cô Năm Thàng từ cánh gà tuông ra làm đổi mới cả sân khấu.

Hai năm xuôi ngược mỏi mê, ông cố gắng điều đình với ông bầu gánh chuộc cô Năm Thàng bằng mười mẫu đất, đem về làm vợ kế. Muốn thoát khỏi cảnh đời rày đây mai đó, cô Năm Thàng bằng lòng với ngôi vợ thứ hai do sự đồng ý cưới hỏi rỡ ràng của bà phú hộ. Cuộc sống huyên náo bỗng dừng lại làm cô Năm ngỡ ngàng xa lạ. Sự giàu sang và chiều đãi, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa của chồng không bao lâu làm cô thêm nhớ lại cuộc đời sống cũ. Cô nhớ sân khấu, nhớ đời sống lang thang trên những chiếc nghe chài xê dịch từ làng này sang tỉnh khác. Cuộc sống tập thể tuy quấy nhiễu cô thường xuyên, nhưng đem lại cho tâm hồn cô những đổi mới. Cô say những vai trò nữ tướng, công chúa, bà hoàng… để bôi xóa tạm bợ trong vài tiếng đồng hồ đời sống nghèo đói cơ cực của mình. Một cô đào hát tên tuổi chưa được mấy mà đã làm bà phú hộ, có kẻ hầu người hạ. Thế mà cảnh giàu có vẫn không quyến rũ được cô lâu, không đủ quyền lực làm cô quên hẳn quá khứ.

Ni cô Diệu Tâm trở mình thức giấc. Bà lần mò ra chánh điện để kịp gác công phu. Trong im vắng hoàn toàn, ni cô nghe rõ tiếng chuột bọ chạy rột rẹt và tiếng thằn lằn trên kèo nhà chắc lưỡi. Bên ngoài, ếch nhái dưới ao con trổi giọng uênh oang át cả tiếng dế trong bụi ô rô nhọn hoắt. Ni cô bước ngang phòng ông yết ma. Tếng ngáy từ trong buồng vọng ra ào ạt, đều đặn. Bỗng giọng mớ ú ớ vang lên:

– Ê ! mấy thằng chăn trâu, bây bẻ trộm bầu của người ta hả ? Bớ Phật Kim Cang, Phật La Hán vặn họng nó cho rồi. Bớ Hộ Pháp.

Ni cô mỉm cười, bỏ xuống nhà sau rửa mặt. Nước mưa chứa trong hàng mái đầm sau hậu liêu mát lạnh lôi bà ra khỏi cơn ngầy ngật buồn ngủ. Bà trở lên chánh điện vặn to ngọn đèn và thành kính cầm dùi dộng vào cái đỉnh đồng chung. Tiếng chuông ngân dài như réo gọi ông yết ma ngủ muộn và nhắc cho chú tiểu đến lúc tụng kinh công phu. Sau đó, từ lò cạo heo, tiếng heo bị thọc huyết eng éc bên kia sông, cách chùa hơn năm trăm thước. Tiếng kêu cứu thê thảm của mấy con heo vắn số nối đuôi tiếng công phu. Phía sau chùa là lò rèn. Tiếng nổ lách tách của đám than vừa rực cháy nghe rất vui tai. Hai ống bể khò khè như tiếng ngáy ngủ của loài trâu nước.

Chú tiểu dụi mắt đi ra đỡ lấy dùi chuông thay cho ni cô. Bà ngồi âm thầm giữa chánh điện hai bàn tay gầy lần tràng chuỗi hạt hổ phách, ni cô tụng hết tuần kinh lui vào trai phòng bên tách trà nhạt còn bốc khói. Bà ôn lại ngày bà còn là một cô đào chánh đã làm say mê giết bao nhiêu vương tôn công tử. Ông phú hộ Thọ đã chia gần nửa số gia sản của ông để đổi cô. Rồi cô bỏ sân khấu về sống trong một ngôi nhà nền đúc cao tới ngực có hàng chục người hầu hạ. Mỗi lần cô giam mình sốt mẩy, thầy lang được rước về tận nhà và ở lại đó cho đến khi cô khỏi hẳn. Cô mê món ếch bắc thảo chưng đường phèn. Người tớ gái đem cục mỡ gần thận ếch để vào một cái thố vẽ bát tiên và cho đường phèn vào, chưng cách thủy. Cục mỡ ếch nở to bằng cái chén trong như pha lê, thơm ngọt ngào rồi đặt chiếc thố sứ vào cái mâm bằng gỗ quí. Trong lúc cô dùng ếch bắc thảo, hai đứa con gái đứng hầu quạt hai bên. Cuộc sống lắm kẻ nuông người chiều đó níu kéo cô được vài ba tháng. Một hôm đoàn hát Cẩm Ðuờng Ban có dịp trở lại làng Ðạo Ngạn, cô Năm Thàng cảm thấy có cái gì xót xa ray rứt không yên thúc dục cô, nhứt là khi tiếng chiêng trống và tiếng phèn la nổi lên inh ỏi ở đầu đình. Cô Năm bồn chồn không thể tả, thế rồi đêm hôm sau đó, lúc ông phú hộ yên giấc cô lần mò bỏ trốn theo đoàn hát và tiếp tục nghiệp dĩ. Phải chăng cô muốn thay đổi cái không khí nhờn nhợt âm thầm trôi nổi bên cạnh ông chồng chỉ có lòng sủng ái, nhưng tình yêu cô cho ông còn lờ mờ chưa thắng nổi tiếng trống chầu.

Khi ông phú hộ biết cô đã trốn về đoàn hát, lập tức ông xuống ghe bầu cùng với người phu trạo đi theo. Cuộc săn đuổi gian nan không làm ông thất vọng. Ông tin tưởng sự đi theo vừa giúp ông tiêu dao ngày tháng, vừa có dịp săn sóc cô và mong rằng ngày nào đó, cô Năm sẽ hồi tâm quay trở về. Mãi cho tới ba năm sau, ông vẫn vừa đi theo cô Năm Thàng vừa tập soạn tuồng hát. Ông đã gởi gấm tâm sự, tình ý vào bản Hát Nam, Hát Khách và Hát Văn. Ông để hết tâm trí vào các tác phẩm thai nghén suốt mấy năm liền và sau đó được đưa lên sân khấu để cho cô Năm thủ diễn. Kỳ lạ, sau khi diễn xong tuồng hát của chồng, cô Năm Thàng ôm ông phú hộ Thọ khóc hu hu rồi cởi áo mũ giáp trả lại sân khấu và hai vợ chồng đưa nhau về chốn cũ sống lại cuộc đời cố định. Cô Năm mới tìm thấy tình yêu muộn màng nhưng có một sức mạnh lôi cô ra khỏi ánh đèn sân khấu vĩnh viễn, bỏ hẳn cuộc sống nay miếu này mốt đình nọ. Chỉ một năm sau, cô sanh được một đứa con trai kháu khỉnh. Ðứa con trai đó nối dõi tông đường của ông phú hộ trong khi bấy lâu nay ông cứ ngỡ là mình tuyệt tự. Ông mừng đến sa nước mắt khi đứa con trai độc nhất của ông càng lớn càng giống những nét thanh tú trên gương mặt của ông và cô Năm.

Ông phú hộ toan tính biết bao nhiêu về dự định tương lai cho đứa bé. Nhưng ông đột nhiên chết bất thần vì một tiếng sét long trời xẹt vào nhà làm đổ cả tủ kiếng và giết ông nhanh chóng. Cái chết tức tưởi đó làm cho dân làng xầm xì bàn tán là ông ăn ở thiếu phúc đức nên trời sai Thiên Lôi xuống giết gấp rút như vậy.

Từ đó, cô Năm đoạn tuyệt cuộc đời cũ ngay trong ý nghĩ và tận tụy chăm sóc đứa con để đền ơn đáp nghĩa với người vừa là tri kỷ vừa là bạn chung tình đã cho cô một niềm tin yêu bao la. Nhất định cô chẳng đời nào cho con cô nối nghiệp cô. Cuộc đời hát xướng bị người đời cho là vô loài. Cô cũng chẳng mơ con cô giàu có như cha nó chỉ ước ao sau này nó sẽ có nhiều bằng cấp học hành đỗ đạt. Cô ẩn nhẫn sống nuôi con, mặc dầu lúc ông phú hộ vừa mới chết, còn biết bao nhiêu người gấm ghé được lấy cô, nhưng cô quyết không buồn ngó đến họ.

Ðến ngày giỗ chồng, đợi vào lúc nửa đêm, cô Năm Thàng hóa trang, mặc áo giáp đóng vai Ðoàn Hồng Ngọc oai phong lẫm liệt cầm dao múa trước bàn thờ làm như ông phú hộ đang ngồi trên ấy thưởng thức tài nghệ siêu phàm của cô. Ðường đao bay vun vút quấn lấy người cô. Trong im vắng, cô cất tiếng hát nho nhỏ những bài hát trong những vai tuồng mà ngày xưa ông phú hộ đã dày công biên soạn. Sau những đường đao bay như rồng lộn, cô Năm đúng thẳng người nhìn đăm đăm lên bức ảnh ông phú hộ và hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi má.

Ðứa con của cô được một năm thì bị một cơn sốt dữ mà tất cả danh y đều bó tay đầu hàng. Cô Năm tê điếng trong niềm tuyệt vọng. Ðã bao lần ý nghĩ tự sát chập chờn qua tâm nảo cô. Ba lần tự tử bằng ba cách : cắt gân máu, uống dầu nóng, treo cổ được phát giác ngay.

Cô lần tính lại đã quá hai mươi năm, nỗi đau khổ và bất hạnh xa cũ đã bắt đầu mờ nhạt. Những việc nhà chùa làm cô bận rộn suốt năm bôi xóa dần những nỗi buồn thảm, tưởng chừng vẫn rỉ rả hành tội cô trong khoảng đời còn lại.

° °
°

Nắng đã lên từ chân vườn, sau chùa, vài ba đứa mục đồng đang nghêu ngao mấy bản Kim Tiền. Nắng tuôn ánh sáng hình rẽ quạt trên mặt đất. Ni cô Diệu Tâm lục đục ở trú phòng. Những cây tre non được vót từng cọng nhỏ bằng cây tăm nhang bày đầy trong cái nia. Ni cô khệ nệ bưng nồi nước cơm từ bên bếp đem lên để kế bên nia tăm tre cắt dài khoảng ba tấc. Ni cô dùng những loài lá có mùi thơm như lá quao, lá ngũ trảo, lá bưởi phơi khô rồi giã nhỏ xay lấy bột đựng trong mấy chiếc thau đầy ắp. Chú tiểu ngồi bên cạnh rây lại lần nữa phần bột mịn, thơm ngát, cho vào cái chậu tráng men sứ trắng vẽ hoa hồng đỏ. Ni cô bỏ những cây tre chẻ nhỏ vào một ống tre cao độ hai tấc đựng nước cơm gạo mới đặc quánh như hồ nhúng ướt rồi mang ra lăn những cây tre đó vào chậu bột lá mịn. Hồ trên thân cây tre chẻ nhuyễn quyến lấy bụi lá thơm và những cây nhang này được đem đi phơi nắng.

Tất cả những thức ăn lẫn hương hoa cúng kiếng đều do một tay ni cô làm ra. Xài không hết, bà mang ra chợ bán lấy tiền bỏ vào quỹ nhà chùa. Ðặc biệt bà có tài làm tương ta. Bà lựa nếp đem xôi rồi bỏ vào nia ủ bằng lá chanh hay lá ngấy độ ba ngày cho nếp lên men rồi thắng đường cho chút muối, đổ vào nếp làm tương ta. Những món hàng do nhà chùa sản xuất sẽ nhờ chú tiểu đem ra ngồi chợ bán lẻ. Công việc bề bộn đó chiếm cả ngày, ni cô Diệu Tâm say sưa, có khi quên cả việc ăn uống. Mãi đến chập choạng tối, lúc bao tử đòi hỏi gấp rút, bà vào nhà bếp xới tô cơm nguội ăn với chút tương ta. Ăn uống thiếu thốn lâu ngày làm thân thể bà gầy gò và những cơn ho húng hắng xảy ra thường xuyên. Nhưng bà không để tâm đến và cơn bịnh cũng lây lất trôi qua khi ông yết ma chưng cho bà chín lá chanh với chút đường phèn bưng lên cho bà uống. Món thuốc ho không tốn kém này cũng làm bớt cơn đau ngực và bà tiếp tục lây lất với cơn bịnh.

Diệu Tâm cảm thấy bứt rứt nơi ngực. Hình như có một bàn tay nắm lấy trái tim, bà ngột ngạt tưởng chừng trai phòng này thiếu không khí. Bà gượng ngồi dậy tựa lưng vào thành giường một lúc rồi cố gắng đứng dậy đẩy nhẹ cánh cửa sổ. Ánh nắng túa vào khe cửa ảm đạm rớt trên một lõm giường và lác đác vài mảnh vuông trên nền gạch tàu. Diệu Tâm lần dò ra ngoài để tìm chút thoáng khí. Ni cô lầm lũi bước ra ngồi tựa lưng bên tháp sư cụ và ngước mặt nhìn trời. Cơn lạnh tiết ra từ trong lá, từ ao sen làm bà rờn rợn. Cơn ho tiếp tục và ni cô cảm thấy hình như chiếc tháp muốn xiêu đổ và mặt trời túa ra nhiều vành sáng nhảy múa trước mắt. Diệu Tâm bám chặt lấy thềm cửa tháp và cơn buồn nôn hối hả dâng lên, ni cô chỉ còn thấy cảnh vật đảo lộn, ánh sáng và bóng tối xoay tít, và nơi ngực như có cả khối tháp đè lên đó. Tiếng chim vụt tắt ngỏm đâu đây và cơn gió rào trên ngọn dương ngừng lại.

Ni cô bừng mắt nghe tiếng nói lào xào văng vẳng đâu đây. Ni cô nhướng đôi mắt còn chút ít thần sắc nhìn quanh trai phòng. Chú tiểu túc trực bên giường mừng rỡ hỏi dồn:

– Dạ thưa ni cô cảm thấy đỡ chưa ?

Bà lặng lẽ gật đầu và muốn ngồi dậy. Chú tiểu hiểu ý đến đỡ bà lên tựa lưng vào thành giường. Bỗng cửa trai phòng vụt mở. Diệu Tâm nhếch mép cười tiếp nhận sự có mặt của đứa cháu dâu và cô em họ đến đúng lúc bà thấy cơn bịnh này không hy vọng lành. Ðứa cháu dâu gọi bà bằng cô chuyên nghề sống với nghề cờ gian bạc lận và nghề cho vay đoạt nợ. Nghề nghiệp nàng đến mức tuyệt xảo. Riêng cô em họ cùng đi theo cô cháu dâu đến thăm bà là một tay từng nhổ râu ông huyện này, cạo đầu ông phủ kia. Cô em họ có tấm nhan sắc cũng ưa nhìn thôi, nhưng cô có biệt tài hễ cập sách với ông nào thì nạn nhân tình ái của cô phải tán gia bại sản một cách nhanh chóng và êm thấm. Hai người đàn bà thân thích này thường lui tới cửa thiền hầu sám hối để chuộc tội. Họ thích thân thiện với bà có lẽ nghĩ rằng khi Diệu Tâm đắc đạo để về chầu Ðấng Từ Bi sẽ với tay níu họ theo lên cõi Niết Bàn. Vì mặc cảm tội lỗi nên họ càng thích đi chùa dâng hương đem lễ lộc hòng hối lộ Trời Phật cho giải bớt những oan khiên mà ở trần gian họ đã làm, đang làm và tiếp tục làm nữa…. Càng thấy họ đi chùa là phải hiểu rằng họ vừa làm được một cái áp phe. Khi có nhiều tiền, họ lại vào chùa thành khẩn hối lỗi, nhưng khi bước ra khỏi chánh điện thì họ lại quên tuốt.

Ni cô mệt nhọc gắng gượng trả lời họ vài ba câu hỏi thăm sức khỏe. Rồi không còn ngồi được nữa, bà nằm rũ xuống. Cô em họ đề nghị ông yết ma nên tụng kinh cho Diệu Tâm để nếu như bà có phải về nơi cực lạc cũng sớm được nhẹ nhàng hồn phách.

Ni cô nghe trong người rã rời từng khớp xương. Bà cố mở mắt nhìn ánh đèn vàng vọt đặt trên chiếc bàn cạnh bàn nước. Cổ họng bà khô đắng và lạt lẽo. Ni cô hé mắt nhìn cô em họ đang ngồi bên cạnh và cô cháu dâu đang lây quây rót nước từ trong vỏ bình vào tách định bưng lại. Ni cô khoác tay tỏ ý không cần uống nước. Bà đã ăn chay ròng rã hơn hai mươi năm quá đạm bạc nên thân thể bà thiếu cả chất đạm.

Bà làm việc quần quật, suốt ngày. Không biết bà tìm cách quên ẩn tình hay để tăng ngân quỹ nhà chùa. Người ta thấy ni cô Diệu Tâm không sống cho mình nữa, kể từ khi bà bước vào chùa này. Bà sống kham khổ, nhẫn nhục và chịu đựng. Tiền công quỹ nhà chùa được đem ra bố thí cho những người tàn tật nghèo khổ. Bà ăn uống bất thường và coi việc ẩm thực là điều phụ thuộc. Chỉ cần một chén tương và một nhúm rau chấm tương cũng rồi một bữa. Từ một tháng nay, bà không ăn uống được như thường nhật, mỗi khi ăn xong, bà đều mửa thốc mửa tháo ra, đến cả thuốc men cũng không giữ được trong bao tử. Họ hàng hay được tin bà thọ trọng bịnh cho mời biết bao danh y đến cứu chữa. Phần linh hồn thì do ông yết ma và một số sư sãi các chùa lân cận đến tụng niệm siêu độ.

Thân xác bà mỏi mòn trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng. Phải chi có một chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc của bà dán chặt vào ý nghĩ lưỡi bà khô đi, đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ của bà trôi xa hơn, nước tàu vị yểu, rồi nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! ni cô Diệu Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa làm nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.

Bà vụt nghĩ, nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chùa này.

– Nước mắm! Muỗng nước mắm!

Ni cô hoàn toàn quên mất cái đời sống hiện tại ở trong chùa, quên cả mấy mươi năm tu hành khổ hạnh. Bà rơi trong một ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muỗng nước mắm bằng sứ trắng chứa một thứ nước vàng và trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử thì biết. Ni cô Diệu Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng muỗng nước mắm như ba nhát búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.

Ngoài hậu liêu, hình như trời đã chiều. Mùi thuốc bắc sắc trong siêu ngai ngái bay lên làm bà có cảm tưởng mình sắp nghẹt thở.

Bà phải uống một muỗng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng không màng. Bà tin chắc rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muỗng nước mắm. Nước mắm sẽ là một món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông. Cố gắng lấy hết tàn hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muỗng nước mắm. Tất cả những người có mặt bên giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.

Diệu Tâm lập đi lập lại mấy lần:

– Mô Phật! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.

Tiếng kêu gọi như một lời van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu bưng đến gần tách trà ướp sen kề gần miệng. Ni cô khép chặt môi, lắc đầu phản đối:

– Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn môi.

Nói xong ni cô dìm hồn vào trong cơn đồng thiếp hai cánh tay còn xòe ra quờ quạng van xin.

Cô em họ bước ra trai phòng thỉ thầm:

– Rõ là ma đưa lối, quỉ dẫn đường. Hồi nào tới giờ chỉ ăn chay lạt, đến lúc sắp chết lại đòi uống nước mắm. Tôi nhất định chống lại lời ma quỉ xúi biểu, xui khiến chỉ phạm trai giới. Thà để cho chỉ chết mà không mang tội với Trời Phật và không uổng công tu khổ hạnh hai mươi mấy năm nay.

Nói đoạn bà xuống trú phòng ngồi nói chuyện áp phe với cô cháu dâu, hoặc những thành quả bà đã thu đoạt được kể từ ngày bà bước chân vào đời. Giọng bà oang oang uốn éo và những tràng cười nói xôn xao vọng lên trên chánh điện. Ông yết ma với đôi mắt nhắm lại và nét mặt phẳng phiu dễ dãi thường nhật nhuốm một chút lo âu. Không khí nặng nề trùm xuống, nghẹt thở. Tiếng hét từ trai phòng vang lên. Ông lẹ chân tông cửa vào vừa lúc chú tiểu định bước ra, vẻ mặt còn hốt hoảng. Tất cả đứng im lặng quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô trong khi cô đang vật vã từng đợt với tử thần. Tiếng nói bà vụt sang sảng như lúc còn ở trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo tỉnh táo, nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền:

– Tôi mới biết thương mình mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, mình đặt tuồng hát cho tôi hát.

– Con ráng học cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.

– Tôi chỉ thích sắm vai Ðoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn vai nào nhất?

– Bớ này Tiết Giao! Ô này bạc tình lang! Mặt chàng đẹp trai mà làm chi? Lời chàng ngọt ngào mà làm chi Cổ thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.

Cả một quá khứ trôi nhanh lên ký ức bà rõ rệt và nhanh như một đoạn phim quay hết tốc lực của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ. Giọng bà sang sảng vụt dừng lại và dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng đôi mắt trắng nhợt như cố thu nhận hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối:

– Hãy cứu tôi, cho tôi uống một muỗng nước mắm thôi.

Cô cháu dâu nhìn bà em họ:

– Mợ ơi! Mợ nhờ sư sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai đem nước mắm lại.

Bà em họ tức mình:

– Ðể tôi đi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn cái chị này sắp về Tây Phương tới nơi mà cũng chưa yên thân.

Nguyễn Thị Thụy Vũ

như thế

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

thơ đã viết từ muôn ngàn kiếp trước
chép lại đây chờ một bước dẫm lên
chờ đôi mắt dẫn vô cùng về tới
hỏi một người mà quên cả tuổi tên

em đâu biết em sinh ra vì đã
ta chào đời cũng chẳng hẹn nhân gian
mà hạnh ngộ có lẽ chừng biết trước
một kiếp nào ta đã chạm chân ngang

thơ chưa viết trong muôn trùng ngộp thở
leo lên bờ hổn hển kiếp nào xưa
những bọt sóng rồi cũng tan về lại
như mây trời bay mãi tới nơi chưa

lời có nói trong dăm lần buộc miệng
như lá rơi chỉ hiện hữu của rừng
khi thân dựa lên bình nguyên ngát cỏ
vẫn nguyên sơ khí núi bốc trên lưng

ngày chập choạng rồi ngang tàng như rượu
ngã lên em với tất cả du côn
rồi tiếng thở tiếng mưa bay tiếng suối
hát tồn sinh trên lá cỏ hoa cồn.

NGÔ YÊN THÁI

THƠ VIẾT CHO CHÁU

tranthienthi

gần chùa gọi Phật bằng anh
gọi tôi bằng chú em thành bất công
câu thơ vào lớp vỡ lòng
bập bẹ yêu,
gọi chú ông làm gì
nấm mồ dưới gốc trà mi
con ong buổi trước có đi không về
ngồi đây chú nói em nghe
bốn mươi năm trước hai bề tóc xanh
giờ kêu cha cháu bằng anh
muốn hay không muốn ta thành chú thôi
trăng lên đêm lại khuya rồi
dỗ lòng không đặng một lời gió trăng
thôi tha cho chú một lần
để con tim đập không cần ăn năn.

trần thiên thị

Lịch sử ngày độc lập nước Mỹ

ve-may-bay-gia-re-di-my-du-quoc-khanh-4-72

Tại Hoa Kỳ, Ngày Độc Lập, còn gọi là 4 tháng 7 (the 4th of July), là một ngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776.
Ngày lễ này thường được đi kèm với những cuộc diễu hành, liên hoan ngoài trời, và nhiều buổi lễ công cộng. Từ năm 1777, pháo hoa đã được đốt để đón mừng ngày lễ. Ngày Độc lập được chào đón với những biểu hiện yêu nước. Nhiều nhà chính trị thường đọc diễn văn ca ngợi các di sản và người dân của Hoa Kỳ. Các gia đình thường làm cuộc liên hoan ngoài trời, thường tụ họp với những người bà con ở xa, vì được nghỉ nhiều ngày cuối tuần hơn. Các cuộc diễu hành được diễn ra sáng ngày 4, vào buổi tối thường có pháo hoa ngoạn mục. Trong dịp lễ thì nhiều gia đình treo cờ Hoa Kỳ ở trước nhà để mừng.

Ngày 4 tháng 7 năm 1777 là ngày Hoa kỳ giành độc lập và trở thành một quốc gia. Tính chất thiêng liêng của ngày này được thể hiện qua câu văn trong báo Virginia ra ngày 18/07/1777: “Ngày 4 tháng 7 là ngày vinh quang và đáng nhớ nhất, từ rày về sau sẽ được tổ chức cho toàn nước Mỹ từ năm này đến năm khác cho đến khi nào thời gian không còn nữa. Amen và Amen”
Hai nơi làm lễ lớn nhất là Philadelphia (Pennsylvania) và Boston (Massachusetts). Năm 1777, người dân Phidalelphia tưởng nhớ ngày 4 tháng 7: chuông ngân, súng nổ, đèn cầy thắp sáng, pháo đốt, nhưng chính thật ngày 4 tháng 7 năm 1777 là một ngày rất giản dị bình thường. Ngày nay, người dân Philadelphia làm lễ trong Independence Hall, nơi những hoạt cảnh lịch sử đã được dựng lại và bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc.

Khi chiến tranh chấm dứt năm 1783, ngày 4 tháng 7 trở thành ngày nghỉ trong vài nơi. Tại Boston, ngày lễ Độc lập đã thay thế ngày 5 tháng 3, ngày thảm sát cuả Boston (Boston Massacre), và được xem như ngày lễ tổ quốc chính. Có diễn văn, sự kiện quân sự, diễn hành và pháo bông. Năm 1941, quốc hội Mỹ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là ngày lễ chính thức của USA

Lịch sử

Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492. Nhiều dân thuộc địa đến Mỹ để tìm tự do tín ngưỡng: Espagne, Portugal, Anh, Pháp, Hòa Lan đến thuộc địa xứ này . Dân hành hương (pilgrims) là nhóm dân tị nạn đầu tiên tại Mỹ: nhóm Puritans đến cư ngụ tại Massachusetts, nhóm Quakers đến vùng Pennsylvania và người Công Giáo định cư tại Maryland.

Dân thuộc địa Hoà Lan và Pháp đến Mỹ để mua bán. Dân Pháp định cư tại Canada, dân Espagne đến Florida, dân Hòa Lan đến New York
Năm 1763 Anh Quốc thắng quân Pháp và chiếm Canada.

13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware , Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland

Lúc ký kết, Hoa Kỳ gồm 13 thuộc địa dưới quyền cai trị của vua George III (1738-1820, Windsor). Lúc bấy giờ các thuộc địa Anh ở Mỹ phải trả thuế cho mẫu quốc quá cao nhưng lại không có đại biểu trong Quốc Hội Anh (Taxation without Representation), nên nổi dậy đòi quyền tự do và độc lập.

Năm 1774 đại biểu của 13 thuộc địa họp lần đầu tiên tại Philadelphia, Pennsylvania. Cuộc họp này gọi là Quốc Hội Lục Ðịa (Continental Congress) và do Tướng George Washington thống lãnh quân đội chống lại Anh Quốc.

Các thuộc địa này sau này trở thành 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ khi Mỹ trở thành độc lập với Anh Quốc.

Tiến trình độc lập

1774: 13 thuộc địa gởi đại diện đến Philadelphia, Pennsylnania để thành lập Quốc Hội Lục địa thứ Nhất (First Continental Congress). Họ nôn nóng chuẩn bị nhưng vẫn còn lâu mới tuyên chìến.

4/1775: Quân đội của vua George tiến về Concord, Massachusetts. Tiếp theo là trận chiến tại Concord, là tiếng súng (tại đây) vang vọng đến khắp thế giới, đánh dấu bước đầu cuộc cách mạng Mỹ

5/1776: Sau gần một năm cố gắng giải quyết sự khác biệt với mẫu quốc Anh, các thuộc địa gởi một lần nữa các đại diện cho Quốc Hội Lục địa thứ Nhì.

6/1776: Sự quyết tâm được khởi đầu bởi Richard Henry Lee , Virginia. Nhận thấy rằng những cố gắng của họ vô vọng, một ủy ban được thành lập để soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập công khai. Đứng đầu là Thomas Jefferson, ủy ban còn có John Adams, Ben Benjamin Franklin, Philip Livingston và Roger Sherman.

6/7/1776: Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

8/7/1776: Lần đầu tiên bản tuyên ngôn được đọc trước công chúng tại Independence Square của Philadelphia. Cái chuông trong Independence Hall được biết dưới tên “Province Bell” sau này được đổi tên là Liberty Bell.

8/1776: Việc ký Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bắt đầu ngày 4 tháng 7 nhưng phải đến tháng 8 mới hoàn tất. Và ngày 4 tháng bảy được chấp nhận như ngày kỷ niệm chính thức cho sự độc lập Hoa Kỳ khỏi nước Anh

4/7/1777: Lễ Independence Day được cử hành lần đầu tiên.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập

Bản Tuyên Ngôn độc Lâp trở thành một tài liệu chính trị được ca tụng nhất và thời nào cũng được chép ra. Thomas Jefferson soạn ra bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập là sau ngày được bầu làm Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Bản Tuyên ngôn Độc Lập được xét duyệt bởi John Adams, Benjamen Franklin và Jefferson, rồi được 56 hội viên ký tên và xác nhận không còn là thuộc địa của Anh Quốc nữa.

John Hancock, chủ tịch Second Continental Congress (Đại hội Lục Địa lần II), là người đầu tiên ký bản Tuyên Ngôn. Viết hoa, chữ ký của ông nổi bật trải rộng trên tài liệu này. Từ đó khi nào người ta hỏi bạn “John Hancock” tức là người ta có ý muốn bạn ký tên đó. Cuối cùng có tất cả 56 người ký bản Tuyên Ngôn, chứng tỏ sự anh hùng của họ vì tuyên bố đòi độc lập với Anh Quốc là một hành động phản bội, có thể bị tội tử hình. Họ can đảm hy sinh mọi thứ bởi họ phải bỏ nhà và ẩn náu nơi khác.

Bản tuyên Ngôn Độc Lập là bằng chứng của Cách Mạng Hoa Kỳ, nói lên những bất bình với vua George III. Đó cũng là một bài tuyên bố về lãnh thổ và triết lý, chiếu theo những bài viết của các triết gia John Locke và Jean Jacques Rousseau. Nó khẳng định rằng mọi người đều do Thượng Đế tạo ra, từ thiên nhiên mà ra, vậy phải có những quyền lợi tự nhiên nào đó, không được xâm phạm quyền tự do của họ.

Từ đó, Bản Tuyên Ngôn và Cách Mạng Hoa Kỳ là cảm hứng cho mọi người tìm tự do trên khắp thế giới.

Nguồn Internet

Bài Tháng Sáu

nhaca

Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (1939-), sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960-1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết.

Một số tiểu thuyết Nhã Ca đã được đưa lên màn ảnh. Hãng phim Việt của Đạo diễn Hà Thúc Cần đã dựng một phần “Giải Khăn Sô cho Huế” thành phim Đất Khổ. Hãng Lidac, với đạo diễn Lê Dân, đã đưa cuốn tiểu thuyết Cô Híp Py lạc loài lên thành phim Hoa mới nở. Hai cuốn tiểu thuyết khác của Nhã Ca, Đoàn nữ binh mùa thu và Tình ca trong khói lửa đỏ, cũng đã được hãng Phim Việt mua bản quyền.

Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội “biệt kích văn hóa”. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống “Việt Báo Daily News” tại Quận Cam.

Với thân nhỏ chín muồi trăm tội lỗi
Tôi trở về mang tủi nhục trên vai
Giữa ngả ba đường tay hờ gối mỏi
Tôi cầu xin đời ban phép lạ tương lai

Người cũng vậy lòng muôn nghìn dối trá
Vờ thương yêu vờ đắm đuối ân tình
Tôi trót dại, tin lời trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh

Thôi tình ái hãy về theo ảo mộng
Ta lỡ đi xa hết nửa đời rồi
Người phụ rẫy, ngày điêu tàn đứng bóng
Đêm nghẹn ngào chan muối mặn trong môi

Tôi đã biết tội thân làm con gái
Đời không thương tất cả héo khô dần
Không hiểu về đâu để cầu sám hối
Tôi đốt lỡ lầm theo với tuổi thanh xuân

Tên người ư, đã trở về bóng tối
Tôi đã vô tri giữa tháng năm dài
Và mỗi bận có một người nhắc lại
Tôi cố tìm nhưng chẳng nhớ tên ai.

Nhã Ca

Võ Phiến

TuyHongCuoi

Tên: Nguyễn Thị Tuý Hồng. Bút hiệu: Tuý Hồng. Ngày sinh: 12-10-1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên. Viết văn từ năm 1962

Tác phẩm: Thở dài, nhà xuất bản Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản 1966; Vết thương dậy thì, nhà xuất bản Kim Anh 1966; Trong móc mưa hạt huyền, nhà xuất bản Đồng Nai 1969; Tôi nhìn tôi trên vách, nhà xuất bản Đồng Nai 1970; Mùa hạ huyền, Văn Khoa 1971; Những sợi sắc không (Giải nhất Văn chương toàn quốc 1970), nhà xuất bản Khai Trí 1971; Biển điên, nhà xuất bản Văn Khoa 1971 ; Bướm khuya, nhà xuất bản Đồng Nai 1971

Đã cộng tác với: Văn Hữu, Bách Khoa, Lập Trường, Văn, Văn Học, Tin Sách, Nghệ Thuật, Kịch Ảnh, Con Ong, Diều Hâu, Tia Sáng, Độc Lập, Tin Sáng, Thần Phong, Thời Nay, Đời Nay, Khởi Hành, Tiền Tuyến, Vấn Đề
Là vợ nhà văn Thanh Nam
Ðịnh cư tại Seattle Washington Hoa Kỳ từ 1975

Hai tiết trôi qua, giờ ra chơi, tôi vào phòng giáo sư ngồi nghỉ. Các nam đồng nghiệp làm như không nhìn thấy tôi, vẫn nói chuyện với nhau.
Hôm nay sắc trời đổi khác, nhưng tác phong của mấy ông thầy giáo trẻ ấy vẫn như mọi ngày, họ không bao giờ nhìn tôi nửa con mắt, hoặc tán tỉnh tôi một đôi lời mà lòng tôi thì rất sẵn.
Trường trung học Hàm Nghi tọa lạc sau cửa Thượng Tứ, một ngôi trường khiêm tốn, không nổi tiếng như trường Quốc Học và trường Đồng Khánh. Học trò con trai xứ Huế, sau cuộc cách mạng quân đội lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô, đã đứng vùng lên biểu tình bạo động, đấu tố giáo sư.
Ai ai cũng biết chắc rằng thế nào Bắc-Quân cũng tổng tấn công và đánh chiếm Huế bất cứ giờ phút nào, cha mẹ và các em tôi di cư vào Sàigòn. Tôi là công-chức mới vừa được bổ dụng, bị kẹt lại ở phố cổ, vùng địa đầu.
Tôi xin thuyên chuyển về dạy trường Gia-Hội. Trường này nằm sau đầm sen trước tư dinh ông Hoàng Mười, sáng chiều có con đò nhỏ một mái chèo ngơ ngẩn trầm tư giữa hai bè bèo tím biếc và vạt rau muống tươi xanh non dại như lòng con gái nhẹ mềm..
Những đêm rằm, tôi chèo thuyền về xóm Đập Đá đất khô cứng, ngó xuống thôn Vĩ-dạ xanh um hàng cau lả mình trong gió đa tình, trong ánh trăng Hàn Mạc Tử, lòng thấy nhớ những cuốn sách dày, những tập thơ mỏng, những tên tuổi người viết lách.
Những ngày thứ bảy, tôi phóng xe đạp lên đồi Vọng-Cảnh, hướng về điện Hòn-Chén, thả tầm mắt ngắm núi Ngự Bình trọc đầu, nhìn xa xa về cửa Thuận An, rồi đăm chiêu ngắm Thành Nội êm đềm tĩnh lặng.
Cất dấu hình bóng sông Hương núi Ngự trong tâm, ấp ôm khung trời xứ Huế đa tình đa tật trong lòng và không mấy nặng tình với luân lý Khổng Mạnh, tôi nảy sinh tham vọng viết văn. Nhiều đêm tôi thức trắng viết truyện ngắn đầu tay gửi đăng báo Sàigòn. Một tuần lễ trôi qua, tòa soạn báo Văn Hữu phúc đáp. Trong bao thư trả lời có một nghìn đồng tiền nhuận bút và những dòng chữ hồi âm của nhà văn Võ Phiến: “ Sao tôi khờ dại và ngu như bò! Sao tôi thật thà chất phác như trâu. Suốt thời gian làm việc ở sở thông tin Huế, tôi dốt nát và u mê như heo! Tôi không dám tìm gặp cô một lần, và không đủ can đảm làm quen với cô hồi đó! Xứ Huế đang yêu ai và có bao giờ sông Hương ngủ đò… Chào cô!..”
Hai ngày sau, Võ Phiến thân ái tặng sách: “Tôi gửi cô cuốn Hồng Lâu mộng.”
Tôi phóng xe đạp ra bến sông ngồi suốt buổi chiều. Chớp leo lét trên đồi, sấm rung rền từ đàng xa, mây nằm chồng lên nhau như mây đang làm tình. Cơn giông và làn gió cuốn laị, đàn quạ bay lượn tròn, kêu man dại rồi vòng lại bay lui. Tôi tự hỏi nếu ai đó có một chút buồn, một chút chán đời trong buổi chiều rực rỡ này, kẻ đó chắc không phải là tôi.
Sau đó, tôi dắt xe đạp đi bộ vào làng Quáng, dừng lại bên một cái hói, con lạch này là một nhánh cuả sông Hương.
Nguyệt Biều làng Quáng bao xa
Cách nhau cái hói trổ ra hai làng.

Trước khi rẽ vào Bến Ngự, tôi ghé chợ mua một mớ khoai lang dương ngọc, một chút ít bột hàn-the để làm một gói mứt Huế gủỉ tặng Võ Phiến.
Những lát mứt khoai lang nặng nghiệp văn nghệ, những trang tiểu thuyết Hồng-lâu mộng nặng tình văn hữu, thư từ giao thiệp đều đều mỗi ngày, nhưng Sàigòn và Huế giới nghiêm chúng tôi: tôi không xê dịch khỏi Huế và Võ Phiến cố định ở Sàigòn. Rồi một buổi sáng nắng Huế hung hăng bốc nóng, ông cai trường dúi vào tay tôi một bức thư, Võ Phiến với nét chữ nghiêng nghiêng đã viết: Anh xin thú thật với em một tội lỗi, vì một ngày kia em sẽ hỏi. Xin em tha thứ cho anh: anh đã lập gia đình từ lâu, và vợ chồng anh có bốn đứa con.
Đó là cái nghiệp của ít nhiều nhà văn và nhà thơ nữ miền Hương-Ngự, những kẻ tháo gỡ vòng dây trói Khổng Mạnh Huế để vào Nam hòa nhập với tự do Sàigòn. Những người viết nữ thường sa vào tay những kẻ đã có vợ và nhiều con. Nếu tôi là một ông thầy tướng số mù, (thầy bói thì phải mù, chứ thầy bói mà hai mắt mở thao laó thì nói ai nghe), tôi sẽ tiên đoán vận mệnh của các nhà văn nữ: văn chương thì rạng rỡ, nhưng tình duyên thì trắc trở. Những nhà văn nữ thường thích sinh sống ở Sàigòn hơn ở Huế, Vĩnh Long, Phan Rang. Sàigòn thông cảm tâm sự của họ hơn Huế, và những nơi khác. Sài gòn có đủ đàn ông để họ lãng mạn và làm bạn.
Cha tôi và ông em rể của tôi tìm đủ mọi cách vận động cho tôi được thuyên chuyển vào Sàigòn. Hồi đó, một công chức xứ Huế xin đổi vô Sàigòn là một việc không phải dễ, nhưng một công chức Sàigòn xin đổi ra xứ Huế, vùng điạ đầu gai lửa thì.. muốn là được .
Tư dinh ông Hoàng Mười rộng rãi trang nghiêm, bộ quốc gia giáo dục thu mua và trùng tu thành trường trung học Gia-Hội, tôi làm đơn xin được ở trong khuôn viên nhà trường. Cấp trên cấp cho một phòng cạnh nhà ông Cai. Bà Cai gánh cho tôi hai thùng nước giếng mỗi ngày.
Mẹ tôi ra Huế một lần và yên tâm khi thấy chỗ ở của tôi an toàn.
Tôi tham vọng viết truyện dài, nhưng không có thực tài, khả năng chỉ đủ để sáng tác truyện ngắn. Trong một truyện vừa không ngắn không dài, tôi miêu tả hình ảnh một tên đàn ông đểu giả gian dối, một kẻ ngọai tình với tôi và phụ tình với vợ. Nhiều đêm dài mất ngủ, cùng với hoa quỳnh ngày tàn đêm nở, tôi trút giận hờn vào những câu văn ác ôn. Tình yêu là một giọt máu mang số 35.
Võ Phiến khuyên:
“Em hãy liên lạc với tòa báo, nói với ông chủ bút gửi trả lại cái truyện ngắn đó…không đăng báo. Em mà để cái truyện ngắn đó đăng lên báo…thì thì em lỗ, anh thì chẳng mất mát gì.”
“?.”
“Em hãy thay đổi bút pháp, thay đổi giọng văn, đừng trút giận hờn vào bài viết. Đừng đùa với dư luận, đừng khai sự thật với độc giả… Phải dấu kín, phải niêm phong bí mật lại. Dư-luận độc địa lắm. Chúng ta không lấy được nhau thì chúng ta sẽ làm sui gia với nhau. Con anh sẽ lấy con em.”
“Con anh đã lớn sầm sầm cái đầu, còn tôi thì chới với chưa chồng, làm sao đẻ con kịp để mà sui gia.”
Năm đó, học sinh Huế bãi khóa biểu tình, tuyệt thực dấn thân, đấu tố thầy giáo, trường học đóng cửa suốt nửa niên khóa.
Các tướng lãnh miền Nam âm mưu lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm trong lúc Bắc quân Cộng Sản tấn công dồn dập, dân chúng hoang mang, mất niềm tin. Giang sơn miền Nam sắp tiêu tan, những tướng lãnh cầm nắm vận mạng quốc gia cứ phóng tay phát động những cuộc cách mạng. Cách mạng xía vô đời sống hằng ngày của người dân, cách mạng kéo theo chỉnh lý, phản cách mạng nối tiếp đảo chánh, miền Nam nhất định sẽ chết yểu. Ông tướng này đá ông tướng kia lăn xuống để mình trèo lên ghế cao.
Học sinh chờ đợi chừng đó để bỏ học. Trời làm thiên tai, Huế giông tố mưa gió bão lụt, trường học vừa mới mở cửa đã đóng lại. Suốt hai mùa thi đầu hè và cuối hè, tổng số thí sinh trúng tuyển ít quá, chính quyền lo sợ học sinh bất mãn sẽ bạo động bãi khoá tuyệt thực. Để o- bế lòng dân, bộ giáo dục cho mở thêm một kỳ thi trung học đệ nhất cấp thứ ba trong năm gọi là ân khoa, một khoa thi đặc ân dành cho học trò thi hỏng được thi lại, và giáo chức được đặc ân đi chấm thi tại nơi nào tuỳ thích trên lãnh thổ miền Nam: Đà Lạt, Nha Trang, Lâm Đồng, Buôn Mê thuộc.
Tôi đi Dalat chấm thi và tạm trú tại cư xá Bùi Thị Xuân. Võ Phiến từ Sàigòn đến Dalat trước tôi vài tiếng đồng hồ.
Trời mau tối, lâu sáng. Dalat chưa vào đêm, gió xé rách những cánh hoa và xoay tít chúng trên vai người đi đường. Các nữ giáo chức ăn cơm tối xong họp mặt chuyện trò trong phòng khách. Cô Hồng Vân nói sẽ làm đơn xin thuyên chuyển lên Lâm Đồng dạy học. Chị Lai Hường thì hy vọng được đổi đến cao nguyên Dalat hành nghề mô phạm vì chị đắm đuối say mê một sĩ quan võ bị Thủ Đức. Bà Minh Khuê giám học trường Đồng Khánh Huế, cũng hứng lên muốn xin thuyên chuyển đến trường Bùi Thị Xuân Đàlat sương mờ..
Đêm tối, Võ Phiến đến cư xá Bùi Thị Xuân tìm gặp tôi, nhìn tôi qua cửa kính một lát rồi gõ cửa.
Chúng tôi đi đêm dưới trăng mờ Dalat. Vườn nhà ai, những búp hoa Quỳnh màu bạch ngọc đã uốn cong cánh từ chiều muộn để sẽ nở bung cánh ra khi màn đêm dần xuống. Mỗi bước đi của chúng tôi là mỗi nhịp đời nhẹ êm, mỗi hé nở âm thầm của quỳnh hoa, mỗi hơi thở dài sâu của câm lặng tình cảm. Bóng tối chụp lên cảnh vật, nhưng ánh trăng cũng sáng soi chiếu xuống vòm cây cành lá. Đêm nhẹ êm, thế giới về khuya tĩnh lặng, hương quỳnh-tương thơm dịu trời mây. Trong thời gian và không gian này, quỳnh hoa sẽ bung nở với trăng, với khoảng không bao la và với bóng tối lan tràn để khi đêm hết, quỳnh hoa sẽ tàn vì mặt trời chói sáng, quỳnh hoa sẽ chết đúng vào ngày mai với ańh thái dương nóng cay. Cuộc đời của hoa quỳnh chỉ trường thọ được một đêm thôi.
Bàn tay nhà văn xoắn chặt vai tôi:
“ giờ anh đưa em về, ngày mai anh sẽ đến đón em sớm.”
Ánh trăng trên đường về sờ mó vuốt ve thịt da tôi, tôi nếm tình yêu trên chót lưỡi, nhắm mắt nhìn hình bóng mình in trên đường đời sỏi đá, trên lối đi lót gạch và đầu óc tôi tự hỏi làm sao một ai đó có thể vướng mắc chút sầu riêng trong một đêm trăng toàn bích và an lành như thế này. Tôi tự hỏi thêm một câu nữa: sao anh không cùng em đi hết đêm dài? Tình yêu cay như phở tái chín, tình yêu chua như hàn the, hay tình yêu làm xác thân ta rạo rực sướng khoái… làm sao giảng nghĩa được? Anh và em như hai hạt muối mặn hòa tan trong đêm ngọt. Những cảm giác em đang có, thúc đẩy em muốn đi cùng anh khắp tổ quốc và đến một nơi chỗ không có tiếng reo hò chiến thắng, không có tiếng khóc than thất thủ kinh thành, không có nội chiến Nam-Bắc quốc-cộng . Em đang hứng, em đang đầy và em đang căng, em có thể hứng và đầy và căng và yêu anh từ chỗ anh đang đi bên em đến bất cứ chỗ nào anh nằm xuống ôm em.
Sáng hôm sau, nhà văn bốc tôi ra khỏi cư xá giáo chức để đến một ngôi nhà cho thuê.
Đàlat hôm ấy thật đẹp. Sau mấy ngày âm u, hôm nay nắng hồi sinh. Trời bao la nắng hanh vàng, tôi hôn nắng, tôi hôn ánh sáng .
Tôi giữ bàn tay Võ Phiến khi đi giữa rừng thông. Dưới chân đồi, xe lam ba bánh đưa rước khách và xe ngựa thồ qua lại ngược chiều. Hai bàn tay tôi thật khô, thật ấm, và thật mềm, nhưng đa tình lắm lắm.
Lên tới đỉnh cao trên lưng đồi thông, chúng tôi yên lặng ngồi xuống. Chiều tắt nắng. Thời tiết lười biếng. Gió thở từng hỏi dài mát dịu. Trời đất hòa đồng với ngàn hoa muôn lá. Trời trên cao và đồi thông Dalat dưới thấp hiểu lòng nhau, xích lại gần nhau hơn. Hoa lilac màu tím biếc bông cà. Hoa đừng-quên-em màu hồng sẫm. Tình yêu đột xuất trong xác thịt tôi. Tình yêu là cặp bài trùng ăn ở với nhau mãn đời, là đôi bạn không bao giờ đoạn tuyệt, là chuyện vui để cười chút thôi, là tâm địa không sâu độc đa mang thù oán, là quần áo lót yêu thương vợ anh mặc vào người, là viên thuốc bổ, là sự thúc đẩy anh phải kiếm việc làm, và là con chó tốt bụng chỉ sủa gâu gâu chứ không bao giờ cắn… vân vân … Chỉ gồm hai chữ mà thôi, nhưng sao mà rắc rối không định nghĩa được cái gọi là tình yêu.
Võ Phiến xích lại gần:
“Anh không ham muốn em từ phút ban đầu, cũng không ham muốn em sau cái phút anh nhìn em qua cửa kính cư xá Bùi Thị Xuân, mà anh chỉ yêu em bởi vì những câu văn đầu tay em viết trong truyện ngắn gửi đăng báo… Yêu đời sống, chúng ta hãy đầu-cơ khả năng, thì giờ và lòng thành vào văn chương. Anh cho nghệ thuật tất cả tài sản tinh thần của anh. Con đường anh đi là con đường văn nghệ, chấp nhận sống và chết, trừu tượng và cụ thể. Anh không phải là họa sĩ, nhưng anh có màu sắc nét vẽ; anh không phải là nhạc sĩ nhưng anh có âm thanh tiếng động.”
Nhìn thông reo, anh nói tiếp lời tình vào tai tôi:
“Em hãy nhìn lên: Trời gió, thông reo, em hãy ngắm kỹ những đọt thông trên cao tít. Gió như vậy, nhưng những đọt thông vẫn không lay động, chỉ những cành lá dưới thấp xoay mình mà thôi.”
Tôi gật đầu:
“Dalat tuyệt vời! Đất Dalat nhiều phân bón nên cây cối tốt tươi… Mỹ viện trợ cho miền Nam gạo cơm tiền bạc, và cả phân bón cây cối”.
Võ Phiến không cử động bàn tay nữa:
“Huế đất rộng, người ít. Nhà cửa ở Huế, nhà nào cũng có một miếng vườn. Sàigòn thì quá đông người chật chội, nạn nhân mãn và nạn kẹt xe là hai mối đe dọa sẽ làm Việt Nam khó mà trở thành một cường quốc Đông nam Á.”
Tôi nhìn quanh:
“Nhiều người ở Huế đang chuẩn bị di tản vô Saìgòn.Tôi cũng sắp theo gia đình vô Nam lánh nạn Cộng Sản.”
“Đừng vô Saìgòn nắng nóng! Huế có muà thu gió mát. Còn Sàigòn muốn hưởng gió mát mùa thu thì phải có quạt máy.”
“Anh cứ khuyên tôi đừng xa Huế, bộ anh muốn mượn tay Cộng Sản giết tôi chắc? Theo ý anh thì miền Nam còn cầm cự được bao lâu nữa mới mất vào tay Cộng Sản?”
“Mối lo âu hàng đầu của chúng ta là chúng ta không tập đứng với hai bàn chân của chính mình, mà phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.”
Võ Phiến là một văn tài lớn, ngòi bút của ông như quả banh lăn quá lằn vôi biên, ông viết đủ mọi thể loại: văn xuôi văn vần thơ bút ký. Ông cộng tác với nhiều báo chí nhưng tuyệt đối không viết tiểu thuyết ba xu đăng báo hằng ngày.
Ông tự do nhiều, chống Cộng mạnh, và sẽ chống Cộng cho đến khi hai lỗ mũi không còn thở được nữa. Và ông quê một cục, cả đời không hát một câu, không thuộc lòng một bài ca nào hết. Đó là một người vô thần vô thánh không can nổi, không đi lễ chùa cầu an, không vô nhà thờ rửa tội sám hối, không Phật không Chúa không Hồi-giáo Mohamed. Có lẽ danh nhân thế giới mà Võ Phiến mến mộ là Sigmund Freud.
Tôi hỏi:
“ phải đức tin của anh là tình dục?”
Khi chúng tôi ngang qua quân trường võ bị, bỗng có một người đàn bà đi ngược chiều, tay dắt một đứa con gái mặc áo đầm.
Võ Phiến mặt mày tái xanh, sợ hãi, vụng về hoảng hốt quýnh lên:
“Vợ anh, em tìm xe về đi.”

******

Võ Phiến đi Huế công tác một lần nữa. Nhà văn Đỗ Tấn dẫn ông ta đến thăm tôi lần đó.
Lần đó Võ Phiến nói:
“Em không bằng Nguyễn thị Hoàng, em thua kém Nguyễn thị Thụy Vũ. Họ kính nể người yêu, họ không oán trách người tình, không căm giận những người đàn ông mà họ đã thương. Còn em, em không tốt, em nói xấu anh dữ dội trong truyện ngắn em viết…”
Qua hết muà xuân đau thương, tôi giã từ thành phố tình ca, thành phố cổ thơm hương đức hạnh của các bà công chúa, ngát hương thiền của các bậc chân tu, tỏa hương trầm của cố đô những muà lễ hội và nhẹ thoảng hương sen tinh khiết từ các ao hồ.
Em là gái trời cho không đẹp, và trời không cho một đàn ông. Một cô gái đã già, một nữ giáo chức cô đơn dạy học ở một tỉnh lỵ chậm tiến, nhưng tôi không Huế một chút nào cả, tôi nhanh chóng hội nhập đời sống Sàigòn. Hồi đó, tôi nói tiếng Bắc, phát âm rõ từng chữ và đúng giọng, nhưng không bắt chước được giọng Nam.
Giờ phút đầu tiên tiếp xúc với học sinh trong Nam, tôi ngạc nhiên nhận thấy học trò trường Mạc Đĩnh Chi Sàigòn ngoan hiền, kỹ luật và kính trọng thầy cô.
Tôi đến sở thông tin tìm gặp Võ Phiến lần cuối rồi dứt khoát chấm hết mối tình phiền não này. Không thường xuyên lui tới toà soạn Bách-khoa nữa, không luôn luôn gặp gỡ nhóm văn sĩ Bách-khoa nữa, tôi xoay qua giao lưu với các nhà văn tàn dư của nhóm Sáng Tạo, Hiện Đại.
Quen biết qua một hai cái thư trao đổi kiến thức từ lúc còn ở Huế, bấy giờ tôi mới gặp mặt văn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, tức đại úy Dư Văn Tâm trong nha chiến tranh tâm lý.
Người ta bảo Mai Thảo mục hạ vô nhân; Võ Phiến tỉ mỉ chẻ sợi tóc ra làm tư; Thanh Tâm Tuyền khó khăn kiêu ngạo không bao giờ khen ai một câu. Thanh Tâm Tuyền phê bình Võ Phiến và các văn hữu khác: “ Những nhà văn viết truyện dài 5 trang! Những nhà văn không có sách xuất bản! Những người con nít viết văn, viết cái kiểu gì mà đọc lên hiểu liền, hiểu ngay, không cần phải suy đoán. Một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm đọc xong, người đọc không hiểu tác giả muốn nói gì, muốn trình bày một quan điểm gì. Đó mới đúng là một cuốn sách hay. Muốn viết được truyện dài thì phải kéo dài tài năng ra.”
Vài tháng sau, tôi gửi bản thảo truyện dài đầu tay Những sợi Sắc Không dự thi giải Văn học nghệ thuật toàn quốc. Các giám khảo chấm giải là Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn vv… Các thí sinh gồm có Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ vv…
Truớc hội đồng giám khảo, Võ Phiến lên tiếng:
“Xin đề nghị toàn ban giám khảo loại bỏ tác phẩm Những Sợi Sắc Không, không cho phép tác phẩm này dự thi vì tác giả đã đánh máy bản thảo gửi đi dự thi chứ không gửi một cuốn sách. Yêu cầu ban giám khảo không nên chấm chọn tác giả này trúng giải. Muốn trúng giải Văn học nghệ thuật toàn quốc, thí sinh phải gửi sách đi dự thi, chứ không được gửi bản thảo…”
Trong buổi họp tuyên bố kết quả, Võ Phiến nhấn mạnh:
“Giải Văn học nghệ thuật là một giải thưởng lớn. Truyện dài Những Sơị Sắc Không chỉ là một tập giấy đánh máy, một tập bản thảo chưa in thành sách, chưa phải phải là một cuốn sách. Tôi xin lập lại: đó chỉ là một tập bản thảo được đánh máy. Hãy loại bỏ.”
Phiên họp tiếp tục vào ngày hôm sau; Võ Phiến lên tiếng:
“Nhã Ca là một dáng lớn, một tài hoa chói ngời trong văn học, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ là những người viết đang rực sáng, đang lên hương…”
Những gì xẩy ra trong mỗi buổi họp mặt của ban giám khảo, Mai Thảo đều kể hết với Thanh Nam:
“Một tác phẩm đoạt giải nhất phải được ba giám khảo đồng ý. Trong lần họp cuối cùng, Võ Phiến gân quá, gạt hết mọi ý kiến xây dựng của các giám khảo khác. Tác phẩm Những Sợi Sắc không chỉ được hai ông thầy đồng ý, nhưng quy luật bắt buộc phải đủ ba ông. Cuối cùng, ông trưởng ban tuyên bố: Truyện dài Những Sợi Sắc không chỉ được hai vị giám khảo chấp thuận, hãy còn thiếu một. Vậy, tôi sẽ tường trình laị với văn phòng phủ tổng thống rằng: Giải Văn học nghệ thuật năm nay không có tác phẩm trúng giải nhất, mà chỉ có hai tác phẩm đoạt giải nhì đồng hạng.”
Mai Thảo kể tiếp:
“Bỗng từ cuối phòng họp,Võ Phiến ho lên một tiếng, uống một ly chanh đường cho dịu cổ rồi nói một hỏi: Năm 1963 là một năm ghi dấu những bước tiến, những thành công của văn chương nữ giới. Những nhà văn nữ của chúng ta giờ này đang làm chấn động tình cảm, đang xuôi ngược tìm kiếm chất liệu, đang lao đao vấp ngã vì những vấn đề triết học quá cao siêu, vì những hoang mang ngờ vực trước tình thế sa đọa của đất nước.”
Vị chủ tọa hội nghị tuyên bố bế mạc buổi họp:
“Thưa quý vị, tác phẩm Những Sợi Sắc Không của Túy Hồng chỉ đoạt giải nhì đồng hạng”…
Bỗng Võ Phiến dong tay lên phát ngôn một lần nữa, ngón tay trỏ cong cong như cái lưỡi câu:
“ Khoan khoan… tôi đồng ý với giám khảo Nguyễn Mạnh Côn và giám khảo Mai Thảo: Tác phẩm Những Sợi Sắc không đoạt giải nhất văn học nghệ thuật miền Nam năm 1970.”
Mai Thảo tiếp theo:
“Võ Phiến chẻ sợi tóc ra làm tư. Những gì hắn đã trải qua, hắn nhớ dai và thù dai… Hắn là nhà văn lớn, một cây bút kẻ cả, nên cũng có lắm người đàn bà đi qua đời hắn. Tất cả những người đàn bà bước vào đời hắn, đều được hắn tạp ghi, tạp luận và tạp bút. Nhưng cái tác phẩm Những Sợi Sắc Không đó, hắn loại bỏ, bởi vì có điểm thiếu sót là tác phẩm chưa in thành sách. Và tác giả Những Sợi Sắc Không,cũng không hề được hắn nhắc tới tên, như hắn đã âu yếm nhắc tên Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Thuỵ Vũ trong buổi họp. Võ Phiến là một cây bút phê bình khách quan và công bằng, không thiên vị. Điều gì hắn cho là đúng với lẽ phải thì hắn làm.”
Võ Phiến viết nhiều sách, sở trường của ông là Truyện Vừa, không dài không ngắn.
Gật đầu, rung đùi, nâng ly bia 33 lên miệng, dụi mẫu thuốc lá vào cái gạt tàn, Thanh Nam nói:
“ Giải nhất, giải nhì, với giải đồng hạng… Suýt chút nữa thì không ăn được cái giải gì và làm trò cười cho thiên hạ.”
Sau khi Mai Thảo từ giã để đến phòng trà với người ca sĩ hát bài có phải em là mùa thu Hà Nội, Thanh Nam nhìn tôi:
“Có những kẻ nhớ lâu và giận lâu… Anh, một người con gái anh đã quen và đã yêu thì không bao giờ anh ghét. Anh công bằng nói rằng Võ Phiến thù em.”
Tôi trợn mắt:
“Văn không phải là người. Những gì tôi viết ra… đều là đùa nghịch giỡn chơi thôi. Tôi chỉ biết một điều về Võ Phiến là ông ta rất thương yêu vợ.”
Thanh Nam bảo tôi bỏ nghề dạy học để xoay qua viết bài cho đài phát thanh.
Chiến tranh tiếp diễn, miền Nam là món nợ, là một cục nợ khổng lồ người Mỹ mắc từ tiền kiếp nên kiếp này phải nhúng tay vào chiến cuộc miền Nam, một quốc gia nhược tiểu đang giãy chết với bốn đạo quân: Mỹ, Bắc Việt, giải phóng, Nam quân.
Thanh Nam, là một văn sĩ nhỏ nhưng chơi toàn với những tay lớn, đã nhờ một ông thiếu tá giới thiệu tôi với một bác sĩ quân y để xin một giấy chứng nhận tôi bị đau bệnh thần kinh điên loạn, được nghỉ phép ăn lương, gọi là nghỉ phép giả hạn. Tôi ở nhà nghỉ giả hạn ăn lương của đài phát thanh Mỹ bốn năm và vẫn lãnh lương giáo chức của chính phủ miền Nam Việt Nam. Sau đó Thanh Nam nhờ nhà báo Lê Phương Chi giới thiệu tôi với ông giám đốc Khai Trí để bán tất cả những tác phẩm tôi đã viết, đang viết, và sẽ viết với một số tiền trả trước. Thanh Nam nói: “ Em cứ làm theo lời anh.Trời phạt anh chịu.”
Nhờ viết bài cho nữ danh ca Thái Thanh đọc hằng đêm trên làn sóng điện chiến tranh tâm lý, ba mươi tháng tư ngày quốc hận, tôi đem được gia đình sang Mỹ. Trạm nghỉ chân đầu tiên trên bước đường di tản là đảo Phú-Quốc. Công chức đài phát thanh được lãnh mỗi người ba mươi sáu đô la tại biển đảo này.
Sau một tuần lễ, người tị nạn leo lên hạm đội số 7 của hải quân Hoa Kỳ để sang Mỹ đổi đời.
Lênh đênh trên đường biển sóng reo sóng cười, biết mặt trùng dương biết trời mênh mông, nhưng dân tị nạn cứ quen miệng kêu khổ ơi là khổ. Hầm tàu chật chội nóng hực hơi người. Trẻ con ói mửa, iả đái và kêu khóc vì đói bụng, đau đít, rôm sảy. Ngày đêm mọi người nằm lăn ra trên sàn tàu. Không có chiếu trải dưới lưng, không có chăn đắp trên mình, mỗi ngày mỗi tị nạn chỉ được cấp phát một hộp lương khô C-ration, nhưng mỗi ngày, hy vọng mỗi vươn lên. Hoa Kỳ, Mỹ, Núi vàng… đời sống mới đang mở cửa trước mắt chào đón mọi người.
Một bà nằm cạnh tôi nói nhỏ:
“Hạm đội số bảy của đại cường quốc cái kiểu gì mà nghèo khổ thế này.”
Tôi đáp:
“Chắc đây không phải là hạm đội số bảy, mà chỉ là hạm đội số sáu rưởi..”
Chiến hạm lướt sóng, vượt Thái bình dương rồi đến Mỹ.
Mệt mỏi vì say sóng, Thanh Nam bia rượu uống nhiều từ thuở bụi đời nên giờ phút này xỉu. Tàu cập bến, dân tị nạn phải trèo thang dây để lên bờ.
Một người đàn ông đồng hương chỉ tay vào bốn đứa con tôi và nói:
“Ông Bà một nách bốn đứa con dại, để tôi giúp, tôi đỡ hai đứa bé này trèo lên bờ.”
Rồi ông ta kéo hai đứa nhỏ đi.
Lên đến đảo Guam, Thanh Nam bảo:
“Em phải ở trong trại lính không được đi đâu hết, thằng Ốc Sên sẽ phải đi xin sữa cho thằng Cu Tí uống. Anh mỗi ngày phải ra khỏi trại lính để hỏi tin tức bạn bè ai đi được, ai kẹt lại.”
Theo lời đồn thì những ai làm đài phát thanh ăn lương Mỹ đều được Mỹ bốc đi hết. Tôi được biết Viên Linh và Lê Tất Điều hiện đang có mặt trên đảo tị nạn.
Cuối cùng, dân tị nạn được tàu bay bưng đến thành phố Pennsylvania miền Bắc Mỹ.
Từ đảo Guam đến Hiệp Chủng Quốc, con chim sắt thẳng cánh bay bốn ngày đêm. Chúng tôi sinh dưỡng bốn đứa con, gia đình sáu người, nhưng Thanh Nam không lanh trong những lúc người đàn ông cần phải lanh, chỉ tìm được năm chỗ ngồi. Bốn ngày đêm giam hãm trong bụng tàu bay chật hẹp, thằng con út nằm trên đùi tôi lên cơn sốt nóng lạnh, tôi mệt mỏi ngồi ôm con niệm Phật từ bi gia hộ cứu độ cho nó đừng làm kinh run giựt tay chân. Trẻ con dưới ba tuổi làm kinh, lớn lên sẽ không cao.
Mất ngủ đêm ngày, đầu óc tôi thao thức nghĩ rằng mình đã sống hư hỏng hơn một nửa cuộc đời ở quê hương rồi, bây giờ phải lo làm ăn, dại gì mà chơi, ngu gì mà lười. Ước ao gì có được một cuốn từ điển Việt Anh lúc này để học Anh văn ngay tức khắc. Nước Mỹ đây rồi, đất lành ta đã thiền hành và đã đến, Việt kiều sẽ học English để đi làm, sẽ dồn tiền mua nhà, mua xe, mua bảo hiểm. Việt kiều sẽ có một sớm mai hồng, một bình minh xanh để ngắm, để nghe tiếng chim nói vào tai rằng đêm đã tàn, ngày đã nở, phải vùng dậy để lắc lư con tàu đời. Quá khứ đã chết, cuộc đời mới đã nhô ra ở phương đông..
Bỗng tôi sực nhớ mấy lời trao đổi giữa nhà văn Lê Tất Điều và nhà báo Lê Phương Chi ngày nào còn ở Sàigòn:
“Tình yêu của Võ Phiến dành cho cô bạn xứ Huế đã chết nghẻo cổ rồi, gái Huế ngủ đò và hò Huế chấm hết từ canh ba rồi. Bây giờ Võ Phiến chỉ mơ ước ngủ với Trùng Dương biển cả.”
“Bạn nói đúng quá và thật quá! Trùng Dương Nguyễn Thị Thái trẻ hơn nhiều và đẹp. À, mà có phải Trùng Dương đó không? Sức mấy! Võ Phiến mơ cao quá!”
Tôi ngủ thiếp đi một chặp cho đến khi chiêu đãi viên hàng không loan báo phi cơ sắp đáp xuống phi trường Pennsyilvania. Hành khách phải nịt dây an toàn thật chắc và cài khóa an toàn thật kỹ, không được rời chỗ ngồi, không được vào phòng vệ sinh từ giờ phút này.
Khi phi cơ ngừng cánh, tiếp viên hàng không lại bảo hành khách hãy ngồi yên… rồi lại bảo đứng dậy chuẩn bị hành lý và bước xuống máy bay trong trật tự.
Chân tôi chạm đất hứa, đầu tôi đội trời tự do. Đại bản doanh quân lực Hoa Kỳ hùng anh nhất thế giới đặt tại đây. Tôi đi và thở không khí trong sạch của một siêu cường quốc sản xuất nhiều thuốc xịt trùng và diệt sâu bọ hữu hiệu nhất thế giới, nhiều xe hỏi tối tân nhất thế giới.
Thanh Nam gặp bạn quen dừng lại nói chuyện, tôi kéo bốn đứa con bước nhanh về lều trại số tám, dân tị nạn kêu là barrack số tám.
Truớc cửa barrack có một người đàn ông đang đứng đợi ai đó. Tôi tiến lại gần chút nữa. Hóa ra là cố nhân Võ Phiến. Ối giời ôi! Võ Phiến cũng đi được sao? Ôi thôi rồi tôi quên lú đi mất. Võ Phiến cũng cộng tác với đài phát thanh Mỹ. Vậy mà tôi cứ tưởng chỉ có Lê Tất Điều với Viên Linh trong chuyến hành trình qua Mỹ quy mã này mà thôi!
Thằng Cu Tý bỗng kêu lên:
“ Mẹ…Tý muốn ỉ quá.”
Con chị nó quát lên:
“ Câm cái đít lại! Không được ỉa trong quần.”
Võ Phiến chạy chậm đến bên tôi, mặt mày tái nhạt và ẩm mồ hôi, hỏi thở tưởng như sắp đứt, nói:
“Em đem con em đến barrack số mười đi, gia đình anh đã ở trong barrack số tám này rồi, vợ anh đang nghỉ ngơi trong đó, vợ anh hơi mệt, vợ anh cần dưỡng sức, vợ anh đang nằm trong đó. Vợ anh…vợ anh…”
Tôi chưa thấy một người đàn ông nào thương vợ nhiều như thế, yêu vợ kỹ như thế. Vợ anh, vợ anh…cái miệng cứ tía lia vợ anh vợ anh, làm như người ta sắp giựt mất.
Bà Võ Phiến tên cúng cơm là Viễn Phố.

Túy Hồng

Làm anh.

trachantranhuuhoi

Mặt trời như muốn đốt chảy mặt con đường nhựa, Hải hoa mắt vì nắng và mồ hôi, hai bánh của chiếc xe gắn máy dù vẫn căng cũng như rị lại, nặng thêm vì ma sát trên lớp nhựa đường ươn ướt.
Hải tự trách mình nóng vội, lẽ ra anh nên nghỉ trưa một lát sau khi đạp hộc hơi mà xe không nổ máy, anh lại dắt đi sửa vào giữa trưa, nhưng anh lại nghĩ, nếu không đi ngay, chưa chắc đã ngồi yên chứ chưa nói đến chuyện nằm với cái giọng khó nghe cố hữu của chị Thứ vợ anh, đại loại như : “Anh làm sao thì làm, tối nay con Khánh dắt tụi nhỏ về mà không có xe đón thì tôi đi bộ ra cõng mẹ con nó…”
Khánh là con riêng của Thứ, khi lấy anh Khánh đã ba tuổi. Hậu quả cuộc tình giữa chị và một anh Địa chất từ ngoải Bắc vào công tác trong vùng, khảo sát xong, đoàn về Bắc, để lại đứa con trong bụng chị Thứ, anh ta hứa là sẽ quay vào đón Thứ ra Bắc nhưng rồi biền biệt, thư chị gởi đi hai lần quay trở lại vì địa chỉ không có người nhận! Nay thì Khánh đã hai đứa con, chồng làm công nhân cho một Công ty may mặc ở Sài gòn, không khấm khá gì vì vẫn đang ở nhà thuê, thi thoảng về thăm ngoại, khi đi, xin ít tiền chi tiêu cho cuốc sống thiếu thốn trên thành phố!
Khánh tính tình giống mẹ, ích kỷ và khó tính. Anh cố gắng không coi Khánh là con riêng của Thứ bởi anh đã sống với nó từ ba tuổi, nhưng càng lớn, những gì anh ghét nơi con người Thứ thì nơi Khánh càng lộ rõ như bản sao. Hai đứa con của Khánh thì ngược lại, dễ thương từ khuôn mặt đến tính tình, chúng rất tình cảm, anh thương chúng.
Tiệm sửa xe khép cửa nghỉ trưa, anh phải gọi, chị vợ ra xem ai rồi mới vào đánh thức chồng:
– Anh Tùng, dây sửa xe cho thầy Hải, nắng chang chang thấy thầy mà tội!
Nếu ai đó thì chắc Tùng biểu chờ, nhưng Hải thì Tùng dậy ngay bởi họ có quen nhau. Con trai Tùng đang học cấp hai, hồi còn đứng lớp, Hải dạy nó môn Tiếng Việt, họ cũng đã đôi lần lai rai cùng nhau:
– Xe sao vậy thầy?
– Đề không nổ, đạp mãi chẳng thấy nhúc nhích!
-Thầy cho xe vô đây chờ em chút.
Tùng vào nhà mồi diếu thuốc rồi cầm cả thuốc và hộp quẹt ra mời nhưng Hải đã móc túi lấy thuốc, anh ghiền thuốc nặng nên đi đâu cũng không quên bọc theo.
Tùng bảo vợ pha trà mời Hải vào nhà, anh khát thật sự nên không ngần ngại xin vợ Tùng một cốc nước đá tủ lạnh. Tùng vừa đề vừa đạp, lâu lâu lốp bốp rồi tắt…
– Thầy ơi, thầy có gấp đi đâu thì lấy xe em mà đi, cái điệu này lâu đó!
Hải không gấp đi đâu, nhưng cần phải ghé Thưởng mượn it tiền chứ khi dắt xe đi, anh quên mất chuyện tiền.
– Ừ, vậy thì cho chú mượn xe, chạy qua chú Thưởng nó chút.
Ngoài học trò và lứa tuổi còn đi học, Hải ít khi xưng thầy với phụ huynh, chỉ áng chừng tuổi tác mà xưng chú hoặc anh.
Tùng mau mắn dắt chiếc xe của mình ra cho Hải, nó cũng cùng loại xe số “Yamaha Taurus” như của Hải, trông cũ nhưng máy móc trơn tru hơn nhiều.
Hải lâu rồi không ghé thăm chú em, đứa em duy nhất của anh.
Anh nhớ lại hồi 1972 kinh hoàng ấy, bốn mẹ con chạy qua đoạn cầu Dài, chiếc cầu không dài như tên gọi mà ngược lại rất ngắn, nằm trên Quốc lộ 1 đoạn từ Quảng Trị vào Huế. Sau này, ai đó đã đặt cho nó một cái tên rất đúng với những gì đã xảy ra nơi đây, còn hằn sâu trong ký ức của những ai đã trải qua: “ Đại lộ kinh hoảng”.
Hải nắm tay Thưởng chạy trước, mẹ cõng Liên chạy sau, cách chỉ một đoạn ngắn bởi Hải luôn nhìn lại mẹ, sợ bị lạc trong dòng người hốt hoảng, em Liên nằm trên lưng mẹ, cứ mỗi lần Hải quay lại nhìn, em vẫy tay… đạn pháo nổ quanh làm Hải và Thưởng quỵ té nhiều lần, Hải muốn cõng em giúp mẹ nhưng mẹ không chịu.
Trên quốc lộ, các loại xe quân đội và xe đò chết máy chật cứng con đường, lính và dân thường chạy hai bên bãi cát lúp xúp cỏ. Người chết, bị thương nằm la liệt rên la…Tất cả đều chạy, hướng vào Huế tìm cái sống!
Một trái đạn pháo nổ từ phía sau, xô Hải và Thưởng lật sấp xuống cát, vội vàng đứng dây định chạy tiếp nhưng anh nhìn lại, không thấy mẹ và em Liên, người ta xúm nhau kêu la khóc lóc chỗ trái pháo vừa nổ, Hải kéo em quay lại, mẹ và em Liên nằm hai nơi, cách nhau chừng ba mét, quanh xác mẹ và em, những cái xác khác la liệt bao quanh…Hải nhận ra em nhờ cái áo chấm hoa màu tím, cố chen vào đám đông ẵm em Liên bị mất một chân, đến đặt nằm bên mẹ. Thưởng khản giọng gào lên, chìm trong tiếng ồn ào thảm thiết của bao nhiêu người. Hải úp ngang người trên mẹ và em, tay vẫn nắm áo Thưởng, anh nhớ là mình đã không khóc, không la. Anh nhắm mắt nghĩ đến cha giờ đang ở đâu đó, có biết vợ và con gái mình đã chết, hai đứa con trai đang bất lực trong hiểm nguy…Chuyến về phép ngắn ngủi vừa rồi, cha đã nhiều lần ôm ghì Liên, hôn lên đôi má bầu bĩnh của đứa con gái bé bỏng mà ông mong chờ năm năm mới có được!
Cha anh kể lại sau này, ông đang ngồi bóp bao gạo sấy bên chiếc hầm, trong làng Thi Ông, cách chỗ ấy không xa, bỗng như có một tia điện xẹt vào đầu ông, buông bao gạo đã nhuyển, ông chụp cây súng, nhưng rồi ngồi thừ người chẵng biết vì sao…Đến tối, Chuẩn úy Phú báo tin dữ, cho phép ông đi tìm gia đình!
Mùa hè đó. Anh 13 tuổi, Thưởng 10 tuổi và em Liên 5 tuổi!
– Chú ấy vậy mà cũng 52 tuổi rồi nhỉ!
Bất giác, Hải nói thành lời khi rẽ vào con đường trong lô cao su dẫn vào khu nhà ở của công nhân nông trường…
Vào nhà, vợ chồng Thưởng vừa ăn cơm xong, Lệ vợ Thưởng chào anh rồi hỏi:
– Anh ăn cơm chưa, đi đâu mà nắng thế?
– Anh ăn rồi, cái xe hư phải đi sửa để chiều ra đón mấy đứa nhỏ. Tụi nó vẫn học tốt chứ?
– Dạ.
– Chú mới đi cạo về?
– Hôm nay công ty giao hàng mủ, xúm nhau bốc vác nên về trể. Xe sao vậy?
– Chả biết, lâu lâu trở chúng một lần…
– Anh bảo nó làm máy, thay cái đề, bính xăng con…cho ngon lành chứ cứ vậy mệt lắm!
– Ừ, rảnh anh cho nó làm như chú nói. Giờ có sẵn tiền không anh mượn mấy trăm? Vội đi không kịp lấy tiền.
Lệ mau miệng hỏi:
– Bao nhiêu anh ?
– Anh mượn ba trăm.
Lệ đứng dậy định vào trong lấy tiền nhưng Thưởng móc túi ra mấy tờ năm trăm.
– Bốc xong thủ quỹ phát ngay, cả tổ được hai triệu ba, mấy cái khoản khoán này được cái khá là có tiền liền.
– Anh cầm năm trăm, lỡ thiếu…
Hải nhìn quanh rồi ngước lên trần nhà chậm rải hỏi:
– Chú thím định khi nào làm nhà?
– Hơi lâu anh ạ, sang năm thằng Thắng ra trường, con Thủy mới năm đầu, không ở chung anh em với nhau được mà phải ở cùng bạn gái nó, tốn lắm!
Vợ chồng Thưởng cùng cạo mủ cao su, nay người ta khoán lô nên ai siêng năng thì cũng có, thêm nữa là vợ chồng có thể làm thay nhau nên dạo này công nhân khá hẳn lên. Khá là nói thế chứ nuôi hai đứa con vào đại học như Thưởng thì cũng chật vật.
Hải thương em lắm, gia cảnh anh khá hơn nhiều nhờ hai vợ chồng đều ăn lương, anh đi dạy chị làm Bưu điện. bao năm nay…
Hải đứng dậy đưa tay nhìn đồng hồ:
– Uống ly cà phê rồi đi cạo kịp không?
– Kịp chán, còn sớm với lại làm khoán thì làm lúc nào chả được!
Thưởng lên xe ngồi sau lưng Hải. Quán trưa vắng khách, Thưởng chợt nhớ là lâu lắm rồi, anh em chưa uống với nhau ly cà phê hay có dịp ngồi chuyện trò như hồi cha còn sống.
Sau trận cầu Dài năm ấy, tìm được hai đứa con, ông Mừng đem chúng vào Đà Nẵng, sống trong trại tạm cư, quyết định đào ngũ.
Ông không hồi cư, Quảng Trị vẫn đang đánh nhau, dằng co qua lại trong Thành Cỗ. Có chương trình vào Long Khánh khai hoang, ông làm đơn đi theo. Sống trong rẫy nên chuyện đào ngũ của ông không ai biết.
Năm 1975, ông không còn lo chuyện đào ngũ nhưng cả nước đều cực, ông vất vả nuôi con…Hải vào được cao đẳng sư phạm Biên Hòa, Thưởng phải bỏ học phụ cha rẫy nương. Thưởng lập gia đình năm hai mươi bảy tuổi. Năm sau thì cha mất, Hải muộn màng hơn, sau Thưởng bốn năm…
Một người mù vào quán với xấp vé số, đứa con gái hững hờ ngáp trong lúc người mù cất giọng yếu ớt mời, Hải móc túi còn đúng ba chục tiền lẻ, anh mua ba tấm, đưa cho Thưởng một tấm.
oOo

Hải ngồi cúi đầu, ghét mình vì cái tội mau mồm, mau miệng!
Hôm đi sửa xe về, anh cởi áo vắt lên thành salon rồi nằm dài ra định chợp mắt một lát. Chị Thứ thấy trong túi có tiền hỏi:
– Anh quên lấy tiền sửa xe, mượn ai à?
– Phải chạy qua chú Thưởng mượn mấy trăm. À, có mua ba tấm vé số, cho chú nó một tấm rồi.
Rồi anh quên đi mấy tấm vé, sáng nay đi dạy, nghe giáo viên kháo nhau ầm lên là trong vùng có mấy người trúng độc đắc. Ai cũng chép miệng…
Dạy xong, anh phóng xe đến đại lý trên thị trấn, nhìn lên bảng dò của ngày hôm trước, lô trúng đặc biệt được khoanh lại bằng phấn đỏ, nhẩm thuộc hàng số rồi mua hai tấm, chạy vội về, bảo chị Thứ lấy hai tấm vé.
Hàng số sáu con y như trong đầu anh, anh hét lên: Trúng !!!
Chị Thứ trợn mắt, thừ người nhìn anh, một lát sau chị lăn ra giữa nhà, nghĩ ngay dến tấm vé anh cho Thưởng, làm mình làm mẫy…
– Anh không lấy lại tấm vé, tôi thắt cổ chết cho anh coi!
– Cho nó rồi giờ lấy lại sao được!
Chị chụp hai tấm vé đi nhanh vào phòng ngủ, lát sau đi ra.
– Bà làm gì ? Nó đang khổ, cài nhà không ra nhà, cạo mủ được bao nhiêu thì lo cho mấy đứa con! Minh có hai tấm ba tỷ, nhà cửa đã ổn, lương lá thu nhập mình cũng khá hơn…
Thứ không nói gì thêm. dắt xe ra ngõ. chị chạy đến nhà Thưởng, vào nhà thấy hai cha con Thưởng và Thủy đang ngồi. Chị Thứ đon đả:
– Thủy về hồi nào sao không qua bác chơi. hôm nay chú không đi cạo à? Chị ghé trả chú năm trăm hôm anh Hải mượn.
Thưởng đứng dậy kéo ghế mời chị dâu:
– Gấp gang chi vậy chị ?!
Thứ móc túi bỏ lên bàn tờ năm trăm đồng, làm bộ như chợt nhớ:
– À, cái vé hôm anh Hải mua trúng một triệu, chú bỏ đâu rồi, đưa chị đi lãnh luôn cho. Đi thị trấn mua cho ông ấy hộp yến bồi dưỡng chứ dạo này cứ than ăn không ngon miệng!
Thưởng vổ túi quần, cái quần mặc hôm Hải đến nhà tới nay vẫn chưa thay, móc túi lôi ra tấm vé nhàu nhàu lẫn trong mớ tiền lẻ:
– Hên vậy à, có tiền cho Thủy lên lại Thành Phố rồi!
Lấy được tấm vé chị Thứ chạy ngay về nhà, vào phòng đóng cửa, gọi điên cho Khánh bảo hai vợ chồng về gấp.
Hải vẫn còn đang bần thần chao đảo…Anh ngước mắt nhìn chị Thứ bằng đôi mắt vô hồn rồi chợt nhớ ra, anh lấy máy gọi cho Thưởng…
– Tấm vé mua hôm uống cà phê đâu rồi?
– Em vừa đưa cho chị…
– Trời ơi, sao chú lại đưa!
Anh bật người ra ghế thở dài:
– Khốn nạn!
oOo
Chị Thứ về hưu năm ngoái, luôn than thở chuyện lương bổng không đủ sống bởi không còn những khoản tiền vô thưởng vô phạt như trước!
Từ khi lấy nhau, không biết bao nhiêu lần vợ chồng anh lục đục, có lần suýt chia tay bởi nhiều cái khác nhau trong tính cách. Chị Thứ lắm khi hổn xược, hàm hồ xúc phạm anh, nhưng cuồi cùng, bao giờ anh cũng cố dằn lòng cho qua, tránh cãi vả to tiếng bởi mình là giáo viên, sợ người ta to nhỏ, xầm xì. Anh thường tự an ủi là chị lúc nào cũng tươm tất nhà cửa, lo cho con cái, thằng con trai của anh đang học đại học Y trên thánh phố, hời hợt chuyện tiền nong giống như anh nhưng rất thương mẹ.
Gần dây, xem những bạn đồng nghiệp, những đôi vợ chồng ly hôn, phần nhiều chẳng hạnh phúc hơn là bao mà ngược lại, có lắm đôi rơi vào bất hạnh…Anh lôi ra cái câu duyên số vợ chồng là do trời định để tự thuyết phục, an ủi mình…
Chiếc taxi chở vợ chồng và hai đứa con Khánh từ sài gòn về, vào hẳn trong sân, đậu sát cửa nhà. Chị Thứ từ trong phòng vội vàng chạy ra. Hải đứng dậy nhưng rồi anh ngồi xuống, chán nản…
Chưa bao giờ anh trúng số, dù chỉ vài triệu, cũng chưa bao giờ anh có một số tiền lớn đến một lần. Những gì anh có được hôm nay đều do tích góp mà có. Trúng độc đắc bạc tỷ là chuyện trên trời rơi xuống, anh thậm chí không hình dung được là bao nhiêu, chỉ mơ hồ là nhiều lắm, làm được nhiều việc lắm…Nhưng với lòng tham và việc lấy lại tấm vé mà anh cho Thưởng, chị Thứ đã làm mất hết mọi hứng thú, thay vào đó là một mặc cảm tội lỗi lớn dần lên trong anh.
Việc gọi vợ chống Khánh về, bao hẳn một chiếc taxi, như cố tình loại anh ra ngoài toan tính của chị càng làm anh tức giận, chán chường…
Đứa con rể cúi chào rồi khéo léo đẩy hai đứa nhóc vào lòng anh, con bé lớn có vẻ như biết anh đang giận, bà cổ dụi đầu vào ngực nói:
– Ngoại lên Sài gòn ở với con nghe!
Chị Thứ và Khánh vào phòng mang ra mấy cái túi xách, anh tài xế mở cửa cho vào sau xe…
Chờ cho tất cả lên xe rồi chị mới bỏ cái bì thư lên bàn:
– Tiền trong đây, tôi lên với tụi nó vài hôm.
Anh muốn to tiếng nhưng sợ tài xế nghe thấy, nhìn chị gằn giọng:
– Làm gì thì làm, nhưng phải chuyển vào tài khoản lương cho tôi năm trăm năm chục triệu.

oOo
Vẫn chưa ai biết Hải trúng số đặc biệt, anh cũng chưa gọi lại cho Thưởng nên không biết chú ấy có biết không. Chiều nay, họp chuyên môn xong thì có tin nhắn từ máy của Khánh: “ Mẹ đã chuyển tiền cho ba, ba cho mẹ xin lỗi.”
Hải gọi ngay cho Thưởng:
– Chú có nhà không?
– Em đang cạo, có gì không anh?
– Về nhà đợi anh, anh tới bây giờ.
Hải vẫn chưa biết phải nói sao với vợ chồng đứa em, nó vốn hiền và chịu khó giống cha anh. Những ngày khổ cực phải bỏ học làm lụng cùng cha cho anh học cao dẳng…Những năm chưa lập gia đình, thỉnh thoảng anh cũng có cho em vài trăm may cho cháu bộ đồ tết và cũng chỉ có thế bởi lương ngày ấy còn quá thấp. Từ ngày lấy chị Thứ, anh không giúp gì được cho em bởi chưa dư dật gì…
Vào đến nhà Thưởng, thấy hai vợ chồng ngồi nhìn ra, mặt lo âu:
– Có chuyện gì vậy anh?
Đã dự tính sẽ nói thật mọi việc cho em nên Hải ngồi xuống, vợ Thưởng đứng dậy định đi pha trà nhưng anh kéo tay:
– Thím ngồi xuống đây anh nói cái này. Chú thím biết là chị tính nết thế nào rồi, anh cố gắng gỡ cái lỗi. Tấm vé hôm uống cà phê anh đưa cho chú trúng đặc biệt, một tỷ rưởi !
– Sao chị nói trúng một triệu!
Hải hiểu ra cách Thứ lấy lại tấm vé.
– Một tỷ rưởi! Biết anh cho chú một tấm, chị ấy làm mình làm mẩy đòi qua lấy lại, anh không chịu, đang cải nhau rất căng rồi tự nhiên bỏ đi, anh đang giận nên đâu ngờ…Bây giờ anh vẫn chưa hết giận, hôm qua cả nhà lên Sài gòn rồi. Anh buộc mấy mẹ con phải chuyển cho anh năm trăm năm chục triệu. Anh tính năm chục xây mộ cho ba mẹ và em, năm trăm cho chú thím làm cái nhà, còn bao nhiêu mấy mẹ con tự tính với nhau, anh không cần!
Hai vợ chồng Thưởng bất ngờ đến tròn mắt không nói gì, lát sau Thưởng mới cười nhìn anh:
– Hôm đó anh không mua, không cho thì sao. Giờ có năm trăm triệu làm cái nhà là coi như vợ chồng em trúng đặc biệt rồi!
Hải nhìn hai vợ chồng em:
– Chú thím không buồn ?
Thưởng cười ha hả nói to:
– Thì ban đầu ông trời định cho một tỷ rưởi, nhưng sau đổi ý cho năm trăm kẻo sợ có tiền sinh hư hỏng bê tha, bỏ bê vợ con. Tiền trên trời rơi xuống thế này rất nguy hiểm, phải không em?!
Vợ Thưởng cũng cười, chị chưa hề mơ ước đến một số tiền lớn như vậy. Năm trăm triệu, vợ chồng chị dành dụm biết bao giờ mới có?!
– Làm nhà chi to dữ vậy anh. Anh hai em vừa làm cái nhà hết ba trăm, thấy to và đẹp quá đi rồi!
Hải như vừa thoát bỏ một gánh nặng, anh vổ vài Thưởng:
– Còn sớm, mình ra nghĩa trang chút.
Thưởng đứng lên theo anh ra cửa, nói:
– Phụ nữ họ lo lắng nhiều nên vậy, chị chấp nhận cho em năm trăm là tốt lắm rồi, anh đừng giận hờn nghĩ ngợi nữa. Coi sắp xếp má lên cùng chị ấy, thời buổi này lường gạt đủ trò, không khéo là mất đó!
Hải đứng sựng lại nhìn em, đứa em ít ỏi, lam lũ quanh năm, anh không ngờ lại có được những suy nghĩ như thế:
– Chú ít học mà chín chắn và rộng lượng hơn anh, anh cảm ơn chú!
Hải leo lên ngồi sau em, anh ngước mắt nhìn lên hàng cao su, nhớ lại con lộ kinh hoàng năm ấy, tay anh ôm choàng qua bụng Thưởng, như ngày nào anh vẫn nắm tay áo em khi anh khom người qua xác mẹ và em Liên trên bải cát!

Sài gòn, tháng VI. 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội

Lời Rêu

nguyen-thi-hoang

Trước 1975, nói đến các nhà văn nữ, người ta thường nêu tên 5 tác giả tiêu biểu: Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ. Trong 5 tác giả này, có đến 3 tác giả là người Huế ( Nhã Ca, Túy Hồng , Nguyễn thị Hoàng).
Chất Huế trong văn chương lan tỏa từng trang viết, có khi ngọt ngào, có khi ngoa ngoắc, có khi thâm trầm, có khi đài các… nhưng trên tất cả, họ là những cây bút tài hoa đã khắc họa một bức tranh sống động về một xứ sở luôn biến động trong suốt chiều dài lịch sử.
Một điều khác, trong 3 tác giả này thì có đến 2 người là thi sĩ trước khi viết văn.
Tương Tri trân trọng giới thiệu bài LỜI RÊU của tác giả NGUYỄN THỊ HOÀNG

Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11.12.1939 tại Huế. Quê Quảng Điền, Triệu Đại, Triệu Phong. Theo học trường Đồng Khánh.
Bút hiệu khác là Hoàng Đông Phương. Bắt đầu viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi.
1957 vào Nha Trang.
1960 vào Sài Gòn, học Đại học Văn Khoa và Luật, nhưng sau bỏ dở, đi làm, dạy học ở Đà Lạt. Bà từng là giáo sư việt văn (trung học) ở Đà Lạt. Cuốn tiểu thuyết gây chấn động dư luận miền Nam “Vòng Tay Học Trò” được sáng tác trong khoảng thời gian này.
Sau đó, bà lại bỏ Đà Lạt về Sài Gòn, cộng tác với các tạp chí Bách khoa, Văn… và một số báo khác.
Sau “Vòng Tay Học Trò”, bà còn xuất bản trên 30 tiểu thuyết trước 1975.
1990 xuất bản “Nhật Ký Của Im Lặng”.
Bà còn rất nhiều tác phẩm chưa xuất bản như: “Người Yêu Của Đấng Trời”,…
Sau đó 17 năm, Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện trở lại với bài viết “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan”, đăng trên tạp chí Văn hoá Phật giáo số Xuân Mậu Tý (2007).

Ai đi qua xa vắng,
bỏ chiều run một mình.
Giọt cà phê máu mặn,
nỗi nhớ đầy quyên sinh.

Mười hai năm tỉnh giấc,
trắng đôi bờ tóc đen
Dáng tinh cầu vỡ nát,
đôi tay nào ru đêm

Uống cùng nhau một giọt,
đắng cay nào chia đôi
Chung một niềm đơn độc,
Riêng môi đời pha phôi.

Say dùm nhau một giọt!
Chút nồng thơm cuối đời.
Vướng dùm nhau sợi tóc,
Ràng buộc trời sinh đôi.

Cơn mưa chìm nước mắt,
phủ kín đời chia hai
Thời gian chung đã mất,
Tháng ngày riêng cũng phai

Ngày mai ta bỏ đi,
trần gian xin trả lại
Đá tảng nào vô tri,
chết một đời rêu dại

Chỉ còn trong bóng tối,
dấu tay nào trên tay
Tiếng im trong lời nói,
mây quên trời tóc bay…

Nguyễn Thị Hoàng

Bài thơ này được một nhạc sĩ hải ngoại Hạnh Cự phổ nhạc và cũng được Phú Quang phổ nhạc , bài do Phú Quang phổ nhạc được nhiều ca sĩ hát, nhưng có lẽ giọng của Hồng Ngọc nghe tha thiết hơn cả.



Bài LỜI RÊU qua một giọng ca nam( ca sĩ Hải Nguyễn) có lẽ thích hợp hơn

MÙA NÀO THỨC NẤY

nguyenthikhanhminh

Nếu bạn đang liếm môi hy vọng tìm được món ăn dưới đây, thì coi như thất vọng rồi, vậy xin ghé qua quán Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng cho đỡ thèm chút vậy.

Hồi vừa qua tuổi sách hoa tím mực tím chi đó, mua cuốn ấy về cứ tưởng sẽ được phiêu sướt mướt cùng một mối tình lãng mạn, bởi cái tựa đề nghe tình quá sức, dè đâu, tác giả giới thiệu món ăn theo mùa và nói lên cái thú hưởng một trong những cái khoái nhất ở đời, là ăn, một khoái-lạc-thơ-mộng Vũ Bằng. Đọc say mê. Từ ấy, để ý đến cách thưởng thức, không cứ là thú ăn uống, mà mọi thú sống ở đời. Thế nào để trọn vẹn đôi đường với những vui sống về mặt giác quan lẫn tâm thức. Đó là điều tôi nhặt được sau khi đọc Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng, cũng như Sống Đẹp của Lâm Ngữ Đường. Cách họ tán thưởng, hưởng thụ thú vui, đều mang hồn văn chương nghệ thuật, họ hòa chất thơ, chất cao nhã vào những lạc thú trần gian.
Thật là Biết sống, theo tôi.

Hạnh Phúc của ta thuộc về cảm giác… Một thứ triết học cao thượng phải tạo được cho ta niềm tin vào cái cơ quan đẹp đẽ, nơi tiếp nhận cảm xúc, là cơ thể ta đây… (Sống đẹp, LNĐ, Nguyễn Hiến Lê dịch). Nghĩ như thế thật nhân bản, ngẫm lại thì có phải ngũ quan khiến tâm trạng vui vẻ hay u buồn hay không? Đó là cái tâm-trạng-đáp-lời. Nhưng cũng phải nói ý tôi, không phải tất cả bắt đầu từ giác quan, có khi cảm xúc tinh thần đưa đẩy hay chế ngự để thân xác có trạng thái dễ chịu. Vũ Bằng gắn liền cái ăn vào nỗi lòng tương tư cố lý, thành ra món ăn trở nên không chỉ là ngon của lưỡi mà còn truyền đi thi vị của tâm tư. Và cảm xúc u hoài ly hương ấy khiến món ăn càng thêm đậm đà, hóa thành nỗi nhớ. Rõ là có qua có lại.

Phải nói Vũ Bằng thanh lịch mà hưởng những thời trân. Này nhé, ở miền Nam nhớ về quê Bắc vào độ Tháng Giêng trăng non rét ngọt, ông đi từ cái nỗi say sưa, con vật nằm thu hình trốn rét thấy nắng ấm thì bò ra nhẩy nhót kiếm ăn, thấy trời trong mây nõn rung động như cánh con ve mới lột, sinh ra cảm giác thèm ăn và ăn thiệt ngon, một bữa cơm giản dị cà om thịt thăn với lá tía tô… Thế có phải từ nhìn đi tới cảm khoái mùi vị món ăn, rồi dẫn nhau đến ngõ cảm xúc: khuya, trời vẫn rét một cách tình tứ, nên thơ… đôi vai màu ngà ai thơm ngát hương cau. Chẳng còn biết chuột lắt léo mèo đi hay mèo đuổi chuột. Nhưng mà bạn ơi, cảm giác để thấy hạnh phúc một cách nên thơ như thế, là chuẩn rồi.

Tôi mê nhất cái lúc Vũ Bằng tháng hai tương tư…Khởi đi từ mùi hoa sữa (ngửi), đêm (nghe) mưa ngâu sụt sùi, nhóm lửa thổi một nồi cơm gạo vàng ăn với thịt gà mái ấp (gà mái là được, không nên gà mái ấp thưa ông) để rồi (cảm thấy) sao tháng hai nó ngắn quá, bấy giờ thì giác quan mở rộng cửa cho mơ mộng, người đàn ông thấy mình lạc phách, rơi vào giấc mộng hoa đào sơn nữ mặc váy thủy ba đu đưa ven suối. Với đào biên thùy Bắc Việt thì, đưa lên miệng (cắn) giựt mình vì cái thơm của đào… lại càng (cảm thấy) trái đào hé mở đẹp không biết bao nhiêu… gớm cho nhà thơ nào đã dùng hai chữ “nhuỵ đào”, đấy Vũ Bằng để cho cái ngon của vị giác dẫn đường tới liên-tưởng. Đến tuyết lê của xứ Lào Cai, lê như một trái cây bằng thủy tinh, gõ cho bụi tuyết rơi, ăn từng miếng nhỏ, dịu hiền và thơm ngát thơm ngào: một rung động cùng lúc của cảm xúc và thính giác. Ông tả cái ngon của mỗi thứ quả, có tính cách riêng biệt cũng như mỗi dây trong chiếc tỳ bà reo lên một thứ tiếng tơ đồng khác nhau… Có phải là mình thương yêu phần tử nên yêu luôn từ bông hoa mà yêu xuống đến trái cây, yêu từ cái lá hòe lăn tăn yêu lan sang chùm hoa mộc?…Tôi đưa ra những hình ảnh trên chỉ là muốn nói rằng tinh thần và thể chất đều có tác động như nhau trong trạng thái hạnh phúc.

Trong gió non của mùa xuân, mùi mưa đêm còn váng vất đâu đó trong hương lá và nhựa cây, hay tôi vừa trôi ra từ màu xanh nostalgia của tranh Đinh Cường mà bỗng lãng đãng đến u buồn ruột gan vậy. Chắc là tôi đang đi tìm giấc mơ trong hương gây mùi nhớ của thời gian. Cái giấc mơ sương khói địa linh… Thôi thì…

Cứ như chiếc lá phiêu du trên dòng thời gian, nhấp nhô những đậm phai, chắc rồi sẽ bắt gặp được một nhịp nghỉ nào đó vừa đúng cái rơi của giấc mơ. Trong 2 tỉ 500 triệu lần đập của trái tim một đời người, ít ra cũng cho tôi một vài, để đập nhịp của giấc mơ chứ, đó là lúc thực của giấc mộng cuộc đời. Ảo thực ấy đưa tôi đi qua từng phút giây của cuộc sống này với một cảm giác hưởng thụ, biết ơn. Cất bước mà đi vào buổi xuân sớm, chả phải là hợp lúc, cho mầm tươi đang lục sục trong người hé lên chồi hớn hở với đất trời phức thơm đó sao.

Ở bảo điện Đại Hùng chùa Thiên Mụ có bốn ô khắc thơ chữ Hán xen giữa các bức cảnh sắc Huế, là bài ngũ ngôn tứ tuyệt này, Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi. Mùa nào thức nấy. Cái gì đến thì sống với, điều gì qua thì để tự nhiên mà đi. Dường như hợp ý lắm, cái quan niệm sống để hạnh phúc như thế.

Thời bây giờ người ta đã có nhiều cái thú khác với miền cỏ thơm, ao sen, rượu cúc, thơ tuyết…

Nhưng lúc này, tôi muốn trôi đi với bài cổ thi du du. Chắc là tôi sẽ nắm được áo lãng tử Thôi Hiệu ở miền cỏ thơm để xin Người vài câu bạch tuyết thi…

Xuân du phương thảo địa… Mùa xuân dạo chơi miền cỏ thơm. Chan chứa rong chơi nhàn tản Lão đạo, yêu thích vì cái khơi gợi mênh mông đường dài đánh động bước chân bó rọ của mình. Áo mùa Xuân đã dậy mùi, tung tăng đi mà hít thở hương đổi thay của đất trời để cơ thể rạo rực xuân khí. Lan man giữa miền thơm để đàn thời gian lại rung lên những phím thanh xuân. Tưởng như nhịp sinh học con người đang đập nhịp của thiên nhiên. Trong dòng chảy nôn nao về tim ấy, bạn đẩy mùa xuân mình tới đâu mà chẳng thấy cận kề được cái thơm tho mới mẻ của cuộc sống? Có thể buông đi những bận bịu theo những cánh én bay về mái vòm đỏ giáo đường San Juan Capistrano trong tiếng chuông gọi ước hẹn mỗi đầu xuân, đọc một tản văn của Nguyễn Xuân Thiệp biết là chim én đã quên lời thề không trở lại như xưa, nhưng hề gì, hẹn ước càng dài càng nên thơ đá vàng. Có thể theo hương gió mà đến một cánh đồng hoa poppy ngàn vàng để hít đầy lồng ngực mùi đất trời hừng hực tiết xuân phân California.

Bạn thân thiết ơi, mưa tầm tã ở đây đang mở những mơ xa, bạn có muốn theo tôi tới miền hư ảo ký ức? Biết đâu bạn sẽ lấy thêm được năng lượng từ hương mùa xuân thơ dại để đi tiếp những hạ thu đông? Thì hãy cùng tôi,

Ao mùa hạ sen nở, búng thuyền đi mà thưởng lục hà trì. Sen thì siêu sao rồi. Tôi muốn nhắc đến một loài sen ngủ gọi là tiên tử kia. Hoa súng. Sen vừa tàn thì súng lại tím ngát. Nó tựa mình trên nước nở hết sức tự tin, bung màu tím pha hồng, Chế Lan Viên lại bảo, cái màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc/ chỉ lặng yên sắc tím để mà đau. Sao vậy, có lẽ nhà thơ buồn theo những cánh thuỵ liên úp mặt trong đêm tối? Tôi thì mê đê mê hồ súng của Monet. Mùa hạ, nhắm mắt mơ một cái thấy mình rơi xuống mảng xanh tím miên man Monet thì chắc chết đi được. bay đi/ bay đi/ vỡ tôi hạt tím/ rơi như mơ/ những đóa lilies/ tiếng cọ Monet phết long lanh đôi cánh/ thiêm thiếp tôi/ hồ mộng… Thưa, hạ thưởng lục hà trì của tôi đấy.

Còn cái thú của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao*. Ơ, chắc mùa xuân hồ chưa có sen nên rộng đường cho Người tắm táp, và ao trước nhà trong leo lẻo cho Người hưởng nước mát vào ngày hè oi ả. Mấy ai đủ bản lãnh để sống đơn giản thế…

Sang thu, có bạn thân mời nhau một chung rượu hoa cúc vàng để thấm vào lòng cái hắt hiu Thu ẩm hoàng hoa tửu, cúc vàng cất thành rượu như thế nào, và cũng không biết ở đâu bán, tôi sẽ làm hay sẽ mua, để dành cho hơi ấm tình bạn mùa thu (rượu vang Calif. cũng tuyệt bạn ơi). Tự hỏi cớ gì mùa thu lại uống rượu hoàng hoa? Biết từ lâu theo sách, thì vào tiết Trùng Cửu ngày 9 tháng 9 âm lịch, số 9 thuộc dương nên còn gọi tiết Trùng Dương, là mùa thu khi cúc vàng nở rộ, chắc có nhiều hoa cúc để làm rượu, hay uống rượu bên hoa cúc? Theo lời cô Viên Trân “cô bán rượu cao cấp” ở Việt Nam thì hoàng hoa tửu, làm bằng hoa cúc Ấn Độ và gạo nếp, đựng trong bình hạ thổ từ sáu tới mười năm. Có không? Thế thì hơi “đại gia”.

Ngõ vườn nhà tôi có một hàng hoa cúc, cúc mùa Thu thì quả là ánh vàng rực rỡ trên nền u xám buồn, nên quyến luyến người ta lắm. Bỗng liên tưởng đến nghĩa bóng của chữ hoàng hoa, chỉ sự xa vắng, nơi hiu quạnh, là do tích con trai Tàu xưa, đến tuổi, phải lên đường đi lính lại đúng vào thu hoa cúc nở, Kinh Thi có câu Người đi lính thú phương xa nhớ nhà làm thơ “hoàng hoa” (tvtuansan.com.au). Chinh Phụ Ngâm cũng Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài…. Người xưa lại sánh cúc mùa thu với khí tiết người quân tử nữa. Mới nói, hội đủ mọi yếu tố hấp dẫn để mời bạn, vào thu nâng chén rượu hoa vàng. Nhưng nếu không có tửu thì tôi có thể cùng bạn, chén trà bằng sứ trong đó một đoá cúc trắng xòe mềm mại thơm gió thu cũng được chứ. Hẹn nhé.

Lại nghe, Tuyết Giang Phu Tử, có thú thu ăn măng trúc, ai cùng tôi, một đĩa măng luộc chín, tước thành sợi, trộn với rau thơm, tỏi, mè, lạc rang, xíu nước mắm, ít giọt chanh, xúc với bánh tráng nướng, và rượu gì mà bạn thích, ngồi bên thềm hoa cúc, cùng nhau? Thế là trọn vẹn mùa thu. Thu cuộc đời.

Nghĩ thèm cái thong thả sống của người xưa. Đông ngâm bạch tuyết thi, tôi có nhiều thơ lắm (!), ngặt ở miền Nam Calif. mùa đông không có tuyết nên chưa được kinh nghiệm đọc thơ hòa với màu trắng lạnh căm. Mất một nửa cái trọn. Nhưng mà, hình như trong mỗi trầm lặng tâm tư, ai cũng có một miền tuyết lạnh, để mỗi khi đông đời một mình lắng vào, nghe một vọng âm xa.

…ta khắc thơ trong tuyết, chờ nhau (Nguyễn Lương Vỵ), Chờ là một chữ rất dài…
Trong đó có một dấu ngoặc,

… Của cái cảnh u cư, gió tre xao xác lạnh, trong vườn kia, có ngôi nhà bằng gỗ, nền gạch nung nâu nâu. Ngồi bên chiếc bàn sơ sài, so đũa cùng Bạch Vân cư sĩ đông ăn giá …Từ sớm tôi đã muối một ít giá tươi với hành, Người không thích hẹ, rồi với hai bìa đậu mua vài xu từ cô gái bên kia giậu mồng tơi, cắt thành những miếng vuông, một nửa lăn qua mè muối, một nửa lăn qua cốm xanh. À, cốm này Người để dành từ độ thu rồi, gói vào một vuông lá chuối khô rồi để vào cái âu đất đặt cạnh cửa sổ mát lạnh hương khuya. Đậu ấy chiên giòn ăn kèm dưa giá muối xổi, gạo quê nghe như còn mùi đòng sữa, với những bát đĩa sành thô, không tròn trịa của khuôn thước, chiếc đĩa hơi vênh, ấy thế mà ai được hít thở một không khí trang nghiêm kẻ sĩ lạ thường. Cũng hợp lòng khi đọc thơ tuyết tâm sự cùng Người, …thôi, không nỡ hỏi vết thương bầm huyết, tuyết hòa âm rất mỏng rất xa…(NLV), bạch tuyết thi thì sao hảo vui. Thơ càng buồn thì cảm càng đã, xin lỗi, đây là chữ của một bạn thơ. Muốn trang nghiêm quạnh quẽ với đông hàn sĩ kia phải sắm sửa mình với cái buồn, …chỉ nỗi buồn mới thực của ta, riêng (Du Tử Lê).

Dường như trải dài miền cỏ thơm Anh Vũ đến tận ao tắm mùa hạ kia, tôi nghe lời phiêu du Thôi Hiệu, trong khói sóng trời chiều hương quan hà xứ thị **… Cõi vắng vẻ Bạch Vân vang lên những lời thơ nôm đáp lại, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ người khôn người đến chốn lao xao… Làm sao để theo được lời dạy của Người, đi giữa cõi lao xao bằng một tâm vắng vẻ an tịnh? Và tôi thấy hai người thơ ấy, rượu đến cội cây, ta sẽ uống/ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao…

Coi như đã đi qua một vòng thời gian xuân hạ thu đông… rồi xuân. (à, bạn có coi phim này chưa?)

thêm một mùa thời gian…,

Nghe nói nhiều rằng, ta phải quên đi thời gian, đồng ý thôi, nhưng sao phải quên khi bản chất của nó là qua đi ? Theo định nghĩa ở Wikipedia thời gian là thuộc tính của vận động, và chỉ có một chiều duy nhất quá khứ hiện tại, đến tương lai (có chiều ngược lại không nhỉ). Thời gian đối với riêng tôi là một dòng chảy mộng ảo, mặc chiều đi tới, chẳng cần biết khi nào thì con người khám phá ra con đường đi ngược, mỗi khi chiếc chuông cảm xúc reo là cảm thấy những điều đã hay chưa thuộc về nó, thời gian. Thưởng thức nó như, đi đường xa, uống một ly nước đầy cho đến cạn, một hơi.

Dặn dò đừng nặng lòng với quên, nhớ, nó đến, nó đi, nó ở, cứ sẵn lòng mà đón, rồi đưa, thôi thì, hoài niệm, hay giấc mơ, là điểm nào đó của đêm hôm qua, sáng ngày mai, ngày kia, kìa… Ai đó đã nói ý rằng, người ta thật sự không quên điều gì cả, chỉ có là mỗi lúc người ta biết cách đối xử hơn với những điều đã qua. Tôi tin mỗi lúc ấy là mỗi nhẹ lòng đi và biết rõ giá trị của phút giây đã sống.

Trong dòng chảy ảo mộng ấy, có những thăng giáng tình cờ, để nẩy một nốt nhạc thời gian không chuẩn thang âm. Lửng lơ. Đó là lúc tấm gương trong suốt của thời gian long lanh dưới chân, soi tỏ bước tôi đang đi, rạng rỡ: Phương đông hẹn nên chân trời rất khác/ Thao thao con đường kể chuyện hôm nay…

Đó là lý do tôi rủ bạn đẩy cánh cửa ký ức, bạn thân thiết của tôi. Tôi tin nơi cuối trời cánh diều ước mơ sẽ đặt vào bàn tay chúng ta sợi dây lộng gió ngày cũ, chỉ cho chúng ta biết cõi hẹn của ngày mai. Và chúng ta yên tâm với những bận bịu của phút giây này, trả ơn thời gian đang làm cho chúng ta vui sống, hôm nay.

Trên thềm nhà tôi đọng thẫm nước mưa, những cánh mai rụng như bèo dạt, và trên cành vẫn đang nở tiếp những nụ vừa hé hồi tinh mơ, Hôm Nay đấy.

Đáng lý tôi đã tạm biệt bạn để đi với ngày đang đến.

Nhưng ông thầy dạy anh văn vừa kể cho tôi nghe một tai nạn giao thông của một cô gái 23 tuổi, khi cảnh sát điều tra hiện trường thì biết trong điện thoại của cô, cái text cuối cùng là cho người yêu với bốn chữ xxxx (có nghĩa là nụ hôn). Một cái chết trong những phút cuối với những nụ hôn gửi trong máy (cõi trời mung lung?) thật nao lòng người. Tôi sững sờ trước hình ảnh vừa bi thương vừa đẹp não nùng của hạnh phúc. Một tích tắc ác mộng đưa cô vào vĩnh viễn thời gian một giấc chiêm bao bất tận những nụ hôn với người yêu. Ai nói mùa xuân sẽ tàn, ai cho là thời gian sẽ qua, có một mùa xuân ở mãi với đất trời qua thông điệp của hạt bụi ngây thơ ấy.

Cho dù có rất ít điều đẹp đẽ trong cuộc đời đi nữa (huống chi là chúng ta đã có nhiều), thì thời gian cứ ảo mơ chở chuyên những đến, những đi, những ngẫu nhiên tình cờ, cho ta được sống, được lặp lại cảm xúc, được nuôi nấng cảm xúc, để sẵn sàng với một ngàn lần hơn, những dự báo bất an của ngày mai.

Xin mời cạn chén mùa xuân với bao nhiêu hương vị, Cá Tháng Tư, Easter, Phật Đản, Ngày của Mẹ, Ngày Của Cha, Memorial Day, Flag Day…, rồi sẽ, bạn thân ơi, Hạ thưởng California lộng lẫy nắng vàng.

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
( Santa Ana)