Mùa Ðông Prague

truongvu

Tặng những nhà văn Việt Nam

DSC_6929

Vaclav Havel (trái, đang phát biểu) và Alexander Dubcek
Prague (1989) • Source: The Guardian.com

Lời Mở:
Đầu tháng 7-2016, trong một chuyến đi chơi Âu châu, tôi đến thăm thủ đô Prague của Cộng Hòa Tiệp (The Czech Republic). Khi đến công trường Wenceslas, tôi nhìn lên bao lơn của tòa cao ốc Melantrich. Nơi đó, một ngày mùa đông 1989, Alexander Dubček và Václav Havel đứng cạnh nhau, ngỏ lời với gần một triệu người dân Prague đang tụ họp ở công trường này, khởi động một cuộc cách mạng làm sụp đổ hoàn toàn chế độ Cộng sản và xây dựng một xã hội dân chủ thực sự cho Tiệp Khắc. Một cuộc cách mạng bắt nguồn từ những vận động của giới trí thức và văn nghệ sĩ, khởi đi từ đầu thập niên 1955, không ngừng thách thức với mọi đàn áp của giới cầm quyền. Những biến động ở công trường Wenceslas và trên toàn đất nước Tiệp Khắc đã gợi hứng cho tôi viết một tiếu luận ngắn, nhan đề “Mùa Đông Prague”, đăng trên tạp chí Văn Học ở California. Lúc đó, những vận động được biểu dương ở công trường Wenceslas chưa hoàn toàn thành công để trở thành cuộc “Cách Mạng Nhung” (The Velvet Revolution) của Tiệp Khắc. Lúc đó, kịch tác gia Václav Havel chưa trở thành Tổng thống đầu tiên của một nước Tiệp Khắc dân chủ sau thế chiến.
Gần hai mươi bảy năm đã trôi qua. Đã có biết bao đổi thay trên toàn cầu, bao đổi thay trên đất nước Tiệp Khắc. Có cả những đổi thay mà thoạt đầu người dân Tiệp Khắc không muốn có, như sự kiện đất nước bị tách làm đôi, thành hai nước độc lập, Cộng hòa Tiệp và Cộng hòa Slovakia. Ngày nay, cả hai đều là thành viên của Liên hiệp Âu châu (EU) và của khối Liên minh Quân sự Bắc Đại tây dương (NATO). Tuy tách làm đôi, liên hệ giữa họ luôn tốt đẹp. Ngày nay, Alexander Dubček và Václav Havel đều đã ra người thiên cổ.
Trong những ngày ở Tiệp, tôi cảm nhận được một sức sống mạnh và trẻ trung trên đất nước này. Người dân có mức sống cao, trình độ văn hóa cao, tôn trọng một cách tự nhiên những giá trị căn bản của con người như tự do và bình đẳng. Hầu hết những người dân bình thường tôi gặp đều nói tiếng Anh khá lưu loát, và dầu đất nước này vẫn có một sắc thái riêng của họ, tôi không có cảm giác lạc lõng như khi đến thăm Moscow hay Bắc Kinh. Và, ở Tiệp ngày nay, nếu không có chút hiểu biết về lịch sử, tôi sẽ không thể nào tin rằng dân tộc đó đã từng hơn bốn mươi năm sống cô lập sau bức màn sắt, chịu áp đặt một chủ nghĩa xã hội rất thiếu nhân bản, chịu sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị và quân sự của Liên Xô, và chỉ mới tách rời khỏi những ảnh hưởng đó chưa tới 27 năm.
Trong mấy ngày ở Tiệp, tôi có đến thăm khu thương mãi Sapa của cộng đồng người Việt ở đây. Khu thương mãi khá lớn. Buôn bán nhộn nhịp. Nhà cửa, hàng quán, và cách buôn bán ở đây làm gợi nhớ đến một số khu buôn bán ở Việt Nam ngày nào. Đang ở một đất nước bên trời Tây, nói toàn tiếng Tiệp hay tiếng Anh, vào đây như vào một thế giới khác, thấy như trở về đất nước cũ. Rất xúc động. Đặc biệt, khi trò chuyện với một số đồng bào, được biết đa số sang Tiệp theo các chương trình xuất khẩu lao động, sống khá vất vả, thu nhập rất thấp so với thu nhập của người Tiệp trung bình. Tuy vậy, số người Việt tìm cách sang làm lao động vẫn tiếp tục. Điều đáng mừng, theo phóng sự của một số báo chí Tiệp, trẻ em Việt Nam đa số học giỏi và hội nhập vào xã hội Tiệp khá dễ dàng.
Nhìn lại một số đổi thay chính trị lớn, tôi nghiệm ra một điều: nơi nào có sự tham dự tích cực của giới trí thức và văn nghệ sĩ yêu nước, yêu sự sống, tôn trọng sự khác biệt, và can đảm đứng lên tranh đấu quyết liệt cho điều mình tin, cho những quyền căn bản của con người, thì ở nơi đó, sự đổi thay mang lại ít bạo lực nhất, những quyền căn bản được phục hồi và xã hội phát triển nhanh nhất. Hãy nhìn, như một phản đề, những gì đã xảy ra trong cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam vào thập niên 50, trong cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Hoa vào thập niên 60, và sự thống nhất bằng quân sự và áp đặt chủ nghĩa ở Việt Nam vào 1975. Và, như chính đề, hãy nhìn những gì đã xảy ra trong những đổi thay lớn ở Đông Âu, và đặc biệt, ở Tiệp Khắc, vào 1989.
Bài viết này được đăng lại vì tác giả tin những điều trình bày trong bài viết chưa bị thời gian hai mươi sáu năm đào thải, ít ra, với trường hợp Việt Nam. Tác giả giữ nguyên lời đề tặng những nhà văn Việt Nam, như trong bản gốc.

Tháng Giêng 1968, Alexander Dubček, lãnh tụ Ðảng Cộng Sản (CS) Tiệp Khắc chủ trương đổi mới chế độ trong một chính sách được gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Biến cố này được gọi là “Mùa Xuân Prague”. Bảy tháng sau, nửa triệu quân của khối Warsaw cùng với thiết giáp xa tiến vào thủ đô Tiệp Khắc. Alexander Dubček bị tước hết quyền hành, đuổi ra khỏi đảng, đưa đến Slovakia làm một viên chức kiểm lâm không ai biết tới.
Hai mươi mốt năm sau, vào mùa đông 1989, cùng với những cơn lốc đang thổi xoáy vào các chế độ CS ở Ðông Âu, người dân Tiệp Khắc vùng dậy. Vài ngàn người, rồi chục trăm ngàn người, rồi gần một triệu người, tụ tập tại công trường Wenceslas đòi hỏi chấm dứt một chế độ cai trị mà họ cho là rất thiếu nhân bản.
Từ mùa xuân 68 đến mùa đông 89, có những cái đi và đến ngược chiều nhau. Có những lãnh tụ lớn như Husák, Jakeš, đến với quyền hành vào mùa Xuân 68 và bây giờ bị buộc phải ra đi. Alexander Dubček, bị buộc phải ra đi sau biến cố Mùa Xuân 68, thì vào ngày 24 tháng 12 năm 1989, xuất hiện trên một bao lơn ở Công trường Wenceslas để đón nhận những tiếng chào mừng nồng nhiệt của dân chúng.
Những gì thực sự xảy ra ở Tiệp Khắc không phải chỉ đơn giản ở những cái đi và đến này. Alexander Dubček có tái xuất hiện, nhưng những khuôn mặt nổi bật ở Mùa Ðông Prague lại là những nhân vật của nhóm Diễn Ðàn Công Dân (Civic Forum) như nhà soạn kịch Václav Havel hay giáo sư Komárek của Hàn Lâm Viện Khoa Học. Những nhân vật này có vẻ như mới lao mình vào những cơn lốc của thời đại kể từ ngày 19 tháng 11 năm 1989, tức ngày thành lập nhóm Diễn Ðàn Công Dân. Thật ra, cuộc tranh đấu của họ đã khởi đầu từ 1955, vào năm mà “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành” được sáng tác ở Ba Lan. Kể từ ngày đó cho đến trước mùa Ðông 1989, cuộc tranh đấu của Tiệp Khắc hoàn toàn là cuộc tranh đấu của trí thức, không mang bóng dáng của những thành phần khác như thợ thuyền hay nông dân.
Những gì đã thực sự xảy ra ở Tiệp Khắc từ 1955 đến nay?

Nhà văn – lương tâm của đất nước
Quốc gia Tiệp Khắc chỉ mới chính thức thành lập như một nước độc lập vào ngày 28 tháng 10 năm 1918 sau sự bại trận của đế quốc Áo Hung vào Ðệ Nhất Thế Chiến. Danh xưng đầu tiên là Cộng Hòa Tiệp Khắc. Hai sắc dân chính là Czech (64%) và Slovak (30%). Trong Ðệ Nhị Thế Chiến, Tiệp Khắc bị Ðức chiếm đóng và một phần lãnh thổ bị sáp nhập vào Ðức. Một chính phủ lưu vong đã được thành lập ở Anh để tiếp tục điều khiển cuộc kháng chiến trong nước.
Sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, một cuộc bầu cử được tổ chức vào 1946, dưới ảnh hưởng chính trị của Liên Xô, đã đem lại thắng lợi cho Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc với một đa số tương đối so với các đảng phái khác. Hai năm sau, vì chia rẽ và thiếu phối hợp, các đảng phái không CS đã thất bại trong nỗ lực ngăn chặn sự áp đặt xã hội chủ nghĩa theo kiểu của Liên Xô. Một bản Hiến Pháp mới được ban hành và danh xưng của quốc gia được đổi lại là Cộng Hòa Nhân Dân Tiệp Khắc.
Sang năm 1950, cuộc thanh trừng lớn trong nội bộ Ðảng CS bắt đầu. Bộ Trưởng Ngoại Giao Vladimír Clementis bị cách chức và sau đó bị xử tử cùng với 10 đảng viên cao cấp khác. Ðảng CS bắt đầu cai trị Tiệp Khắc theo đường lối cực đoan của Stalin. Cuộc thanh trừng lan rộng đến các thành phần khác của xã hội. Ðường lối này vẫn được duy trì sau cái chết của Stalin và cả sau khi chủ trương Xét Lại được áp dụng ở Liên Xô.
Những bất mãn lớn bắt đầu. Trước hết, một cuộc nổi dậy nhỏ của thợ thuyền xảy ra ở một thị trấn xa xôi, Plzeň, vào tháng Sáu 1953 để phản đối vụ đổi tiền mới. Cuộc nổi dậy đã bị cảnh sát đặc biệt dập tắt và không tạo được tiếng vang đáng kể.
Nhà văn Tiệp Khắc có một thế đứng khá đặc biệt trong lịch sử của nước họ vì đó là thành phần đóng góp nhiều nhứt và hiệu quả nhứt trong việc xây dựng nền độc lập của Tiệp Khắc. Nhưng, cho tới lúc đó, Hội Nhà Văn Tiệp Khắc, được thành lập vào 1949, chỉ là một công cụ để tuyên truyền cho chế độ. Số hội viên có giới hạn và đa số viết theo chỉ thị. Những người cầm bút có tư cách tránh né công việc như vậy bằng cách xin dịch thuật sách ngoại ngữ hoặc sáng tác những bài thơ vừa đủ mơ hồ để thoát lưới kiểm duyệt. Một số ít nhà văn hoặc chống đối hoặc không viết theo đường lối đã phải chịu những trừng phạt khác nhau tùy theo cấp độ. Thi sĩ Laco Novomeský bị án mười năm tù vì đã viết những bài thơ “thiếu ái quốc”.
Ngày 21 tháng Tám 1955, một tuần san văn học ở Warsaw, tờ Nowa Kultura, đăng tải một bài thơ dài và cay đắng của một nhà thơ CS Ba Lan, Adam Ważyk, mang tựa đề “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành”. Nhà thơ Ważyk, trong suốt cuộc đời của ông kể từ lúc bắt đầu khôn lớn, đã tận tụy phục vụ cho lý tưởng CS. Bỗng nhiên, ông sáng tác và gởi đăng bài thơ nói trên như một bản tuyên chiến gởi đến chế độ. Ngay sau đó, ông bị trục xuất khỏi hội Nhà Văn Ba Lan và đồng thời chủ bút tập san Nowa Kultura cũng bị cách chức. Tuy nhiên, bài thơ của Adam Ważyk ở Ba Lan đã đánh thức những người trưởng thành ở Tiệp Khắc, nhất là những người cầm bút. (1)
Ðại Hội kỳ 2 của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc được tổ chức vào tháng Tư năm 1956. Tổng Thống lúc đó là Zápotocký đến đọc diễn văn khai mạc, trong đó ông nhấn mạnh là Ðảng không hề và sẽ không bao giờ chi phối vào các công trình văn học, và các nhà văn Tiệp Khắc hoàn toàn có tự do để sáng tác. Ngay lập tức, thi sĩ nổi tiếng của Tiệp Khắc là Jaroslav Seifert đã cùng với nhiều nhà văn khác như František Hrubín mạnh mẽ chỉ trích sự thiếu thành thật trong bài diễn văn và yêu cầu đảng trả tự do cho những người cầm bút đang còn ở trong tù. Những nhà văn đã kịch liệt công kích chính sách “viết theo yêu cầu” và cho đó là một thái độ nhục mạ người cầm bút. Sau đó, khẩu hiệu được trương lên ở Ðại Hội là “Nhà Văn – Lương Tâm Của Ðất Nước”. Mặc dầu Seifert và Hrubín được bầu vào chủ tịch đoàn, đảng đã phản công khá hữu hiệu và cuối cùng áp lực được đại hội đưa ra một tuyên ngôn công nhận Ðảng CS Tiệp Khắc như là “Người đề xướng và tổ chức cuộc cách mạng vĩ đại” và cám ơn Ðảng về “Những đề nghị khôn ngoan và đứng đắn”.
Vào tháng Năm 1956, các nhà văn thuộc Nhóm Phản Kháng đã cho phát hành một tạp chí lấy tên là Tháng Năm (Květen) nhằm cổ võ những công trình văn học có giá trị thực sự. Mô thức này đã lan tràn sang nhiều lãnh vực khác. Và, chính những hoạt động có tính quốc cấm này đã làm cho đời sống văn hóa của Tiệp Khắc trở lại sinh động.
Ðại Hội kỳ 3 tổ chức vào tháng Sáu 1957, sau khi các cuộc nổi dậy ở Poznań (Ba Lan) và Budapest (Hung Gia Lợi) đã hoàn toàn thất bại. Nhà thơ František Hrubín bị ép buộc đứng lên đọc lời tự phán về những “Phát biểu sai lầm” của ông trong kỳ đại hội trước. Về phần Seifert lúc đó đã 56 tuổi, ông vẫn không chịu đầu hàng, và không chịu tự ý rời khỏi Chủ Tịch đoàn dưới áp lực của Ðảng. Nhóm chủ trương tạp chí Tháng Năm tuyên bố hậu thuẫn Seifert. Cùng lúc đó, một số khuôn mặt mới đã nổi bật lên để cùng với Seifert và Eduard Goldstücker, vừa mới được trả tự do, làm một cuộc cách mạng cho trí thức Tiệp Khắc. Các khuôn mặt đó là nhà thơ Jan Prochazka, nhà soạn kịch Ivan Klima, nhà viết tiểu thuyết Ladislav Mnacko, và nhà soạn kịch Václav Havel. Lúc đó, Václav Havel mới 21 tuổi.
Hai năm sau, Ðảng áp lực Hội Nhà Văn trục xuất Seifert và bốn nhà văn thuộc Nhóm Phản Kháng. Sau đó, đảng đóng cửa tạp chí Tháng Năm. Những người phản kháng bắt đầu đi tìm một phương thức đấu tranh khác.
Sang năm 1960, danh xưng của Tiệp Khắc được đổi lại là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Tiệp Khắc.
Tháng Tư 1963, nhà văn Ladislav Mnacko hoàn thành tác phẩm “Những Bản Phúc Trình Bị Trì Hoãn” (Delayed Reports). Tác phẩm này làm náo động xã hội Tiệp Khắc vì đã đánh thẳng vào lương tâm của những trí thức, kết án thái độ thụ động của họ và coi thái độ thụ động này như là một hình thức toa rập với tội ác, một điều mà đa số trí thức muốn tảng lờ. Tác phẩm của Mnacko đã tạo nên cuộc biểu tình của sinh viên Prague vào ngày Lễ Lao Ðộng 1963.
Cuối tháng Năm, Hội Nhà Văn Tiệp Khắc cho phổ biến lời phát biểu của nhà thơ Laco Novomeský, lúc đó đã mãn hạn tù. Lời phát biểu có những câu sau đây:
“Thảm kịch của chúng ta không phát sinh hoặc không phải chỉ phát sinh từ sự kiện là có những kẻ đã tin nhiều hay tin ít vào một điều gian dối và chấp nhận điều gian dối đó. Vì những người này, hoặc vì sợ hãi, hoặc bằng hảo ý, cho rằng họ đang phục vụ cho một mục tiêu chính đáng nên cứ chấp nhận điều gian dối. Thảm kịch của chúng ta phát sinh từ sự kiện – và sự kiện này áp dụng cho những nhà văn hay nhà báo – là chúng ta đã cố gắng thuyết phục người đọc tin rằng sự gian dối đó là sự thật, chúng ta đã đánh lạc hướng và làm hoang mang cả một thế hệ đang đứng ở ngoài căn phòng này, lạc lõng, ngơ ngác, vì không biết phải dựa vào cái gì để tin. Chúng ta cần mang đến cho thế hệ đó sự tín nhiệm, lòng tin, và sự thật. Nhưng trước hết, hãy mang những điều đó đến cho chính chúng ta.”
Cùng trong năm đó, Václav Havel, đã 27 tuổi, hoàn thành vở kịch dài đầu tiên: “Viên Hội” (The Garden Party). Vở kịch xây dựng trên những cái phi lý và lố bịch của xã hội đương thời bằng những lời mỉa mai cay độc. Từ đó, nhiều sáng tác như vậy do những nhà văn đã nổi tiếng hoặc những nhà văn mới nổi đã ra đời. Phản ứng của chế độ vẫn là một phản ứng cổ điển nhưng hữu hiệu: đe dọa, tù đày và cô lập.
Tháng Giêng 1967, Ðại Hội kỳ IV của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc ra Nghị Quyết yêu cầu tái lập truyền thống văn học của Tiệp Khắc, đồng thời yêu cầu được tiếp xúc và trao đổi văn hóa với các nước Tây phương. Lúc bấy giờ, lãnh tụ đảng là Antonín Novotný. Phản ứng của chế độ vẫn như cũ, vẫn là đe dọa, tù đày và cô lập.

Mùa Xuân Prague
Ðầu tháng 11-1967, sinh viên Ðại Học ở Prague biểu tình đòi thay đổi đường lối cai trị của Ðảng. Ðồng thời, trong nội bộ của Trung Ương Ðảng, Alexander Dubček cầm đầu nhóm chủ trương cải cách, áp lực Novotný hủy bỏ phương thức cai trị cực đoan. Ðể chống lại những áp lực này, Novotný kêu gọi sự hậu thuẫn của Liên Xô. Tháng 12 năm đó, lãnh tụ Liên Xô Leonid Brezhnev đến thăm và quan sát tình hình ở Prague và ông từ chối hậu thuẫn Novotný. Tháng Giêng 1968, Dubček được bầu vào chức Bí Thư Thứ Nhứt của Ðảng CS Tiệp Khắc thay thế Novotný. Sau đó, nhiều thành phần thủ cựu cũng lần lượt bị thay thế. Ðến tháng Ba, Novotný mất luôn chức Tổng Thống và Tướng Ludvík Svoboda lên thay.
Alexander Dubček chỉ định rồi chỉ đạo một ủy ban gồm nhiều khuynh hướng khác nhau, từ cải cách đến bảo thủ, soạn thảo một Chương Trình Hành Ðộng (CTHĐ) nhằm tạo một mô thức xã hội chủ nghĩa mới, có tính “dân chủ” và “dân tộc”, thích hợp với hoàn cảnh của Tiệp Khắc. Tháng Tư 1968, thành phần lãnh đạo Ðảng chấp thuận Chương Trình Hành Ðộng. Alexander Dubček đã gọi mô thức này là “Xã Hội Chủ Nghĩa Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Ngoài những điểm liên hệ đến cải cách chế độ bầu cử, xác nhận quyền tự do hội họp và phát biểu, CTHÐ cũng có những điểm quan trọng như tái xác nhận sự theo đuổi mục tiêu Cộng sản và sự liên minh với Liên Xô và khối Warsaw.
CTHÐ của Dubček đã tạo một sức sống mới cho xã hội Tiệp Khắc. Dân chúng đã phấn khởi gọi biến cố đó là Mùa Xuân Prague. Những tuần lễ tiếp theo, những bài báo đả kích Liên Xô đã thấy xuất hiện trên báo chí. Một số tổ chức có tính chính trị đã được thành lập và không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Ðảng. Các phần tử bảo thủ yêu cầu đàn áp các sinh hoạt này nhưng Alexander Dubček không chịu nghe.
Cuối tháng Sáu năm đó, Ludvík Vaculík, tiểu thuyết gia và đồng thời cũng là đảng viên CS kỳ cựu, cho đăng tải một tuyên ngôn nhan đề “Hai Ngàn Chữ” với chữ ký của 70 nhà văn và nhà khoa học. Bản Tuyên Ngôn nói đến những trở ngại có thể gây ra cho Tiệp Khắc bởi những phần tử bảo thủ trong đảng và các thế lực ngoại quốc và hô hào dân chúng hãy đứng dậy tự mình thực hiện lấy chương trình cải cách. Liên Xô và các nước thuộc khối Warsaw liền tổ chức một phiên họp đặc biệt không mời Tiệp Khắc tham dự. Sau đó, họ gởi cho Ủy Ban Lãnh Đạo (UBLÐ) Ðảng CS Tiệp Khắc một văn thư lên án những phần tử phản động đã viết tuyên ngôn này đồng thời yêu cầu Tiệp Khắc tái lập chế độ kiểm duyệt, bãi bỏ các sinh hoạt chính trị không thuộc đảng CS và trục xuất ra khỏi đảng các phần tử hữu khuynh. Sau cùng, văn thư nhấn mạnh đến nhiệm vụ phải bảo vệ xã hội chủ nghĩa ở Tiệp Khắc, và coi đó là nhiệm vụ chung của tất cả các nước anh em, thuộc khối Warsaw. Dubček phản đối bức tối hậu thư và yêu cầu gặp riêng với Liên Xô.
Trong cuộc gặp gỡ này, Alexander Dubček đã khẳng định sự trung thành của Tiệp Khắc với chủ nghĩa Mác Lê và với liên minh Warsaw hay Comecon. Ông hứa trừng trị những kẻ muốn tái lập Ðảng Dân Chủ Xã Hội cũ, những phần tử “phản cách mạng”, đồng thời kiểm soát báo chí hữu hiệu hơn. Brezhnev ra lệnh rút các lực lượng quân đội Xô Viết khỏi Tiệp Khắc nhưng cho dừng lại dọc theo biên giới.
Trong khi đó, Dubček và các đảng viên cao cấp thuộc khuynh hướng cải cách lại dự trù một kế hoạch loại trừ tất cả những phần tử chống cải cách ra khỏi Trung Ương Ðảng trong kỳ Ðại Hội Ðảng sẽ tổ chức vào tháng Chín. Hầu hết những phần tử này có khuynh hướng thân Nga và họ đã cầu cứu Liên Xô. Ngày 20 tháng Tám 1968, nửa triệu quân thuộc các nước Liên Xô, Ðông Ðức, Ba Lan, Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi tiến vào Tiệp Khắc. Lỗ Ma Ni ngay từ đầu đã phản đối quyết định của các nước Warsaw đối với Tiệp Khắc nên không tham dự chiến dịch này. Dubček và Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng lên tiếng phản đối sự can thiệp quân sự của khối Warsaw nhưng đồng thời ra lệnh cấm quân đội và dân chúng dùng vũ lực cản trở các đoàn quân này. Tuy nhiên, khi các xe tăng tiến vào Prague, bạo động cũng đã xảy ra từ phía dân chúng và khoảng 100 người dân Tiệp Khắc đã bị giết (4). Cơ quan đầu tiên bị thiết giáp xa bao vây là trụ sở của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc.
Alexander Dubček bị bắt vào đêm 20 tháng Tám và đưa sang Moscow gặp Brezhnev. Sau đó, ông vẫn được giữ chức vụ cũ nhưng không có thực quyền cho đến tháng Tư 1969 thì chính thức từ chức. Gustáv Husák lên thay. Cuối năm đó, Husák cử ông đi làm Ðại Sứ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lúc ông đang còn ở Ankara, Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng bỏ phiếu trục xuất ông ra khỏi Ðảng. Những người còn cảm tình với ông ở trong đảng đã ngầm khuyên ông xin tị nạn chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng ông vẫn trở về Tiệp Khắc. Sau đó, ông được đưa đến thành phố Bratislava, thủ phủ của Slovakia, làm một viên chức kiểm lâm cho đến cuối năm 1988.
Ðối với các thành phần đã tham dự vào Chương Trình Hành Ðộng, hậu quả dành cho họ khá trầm trọng. Hơn một nửa thành viên của Trung Ương đảng bị thay thế. Hơn nửa triệu đảng viên bị trục xuất. Ða số các viên chức cao cấp trong những lãnh vực khác nhau bị đuổi việc. Xã hội Tiệp Khắc trở lại tình trạng cai trị khắt khe cũ.
Vào Mùa Thu 1970, một nhóm trí thức gồm cả các cựu đảng viên CS thành lập Phong Trào Xã Hội Của Công Dân Tiệp Khắc nhằm đấu tranh theo tinh thần của Mùa Xuân Prague. Ngay sau đó, 47 thành viên cao cấp của phong trào bị bắt và bị đưa ra tòa xét xử vào mùa Hè 1972. Từ đó, một số đông nghệ sĩ và chuyên viên đã trốn khỏi nước.

Hiến Chương 77
Vào ngày 6 tháng Giêng 1977, các nhật báo ở Tây Ðức đã cho đăng tải một Tuyên Ngôn lấy tên là Hiến Chương 77 (Charter 77). Bản Tuyên Ngôn làm tại Tiệp Khắc mang chữ ký của 242 người Tiệp Khắc thuộc nhiều thành phần khác nhau: Nhà văn, nghệ sĩ, giáo chức, và cựu đảng viên CS. Giáo sư Jan Patočka, nhà soạn kịch Václav Havel và giáo sư Jiří Hájek được nhắc tới trong Tuyên Ngôn như là những phát ngôn viên chính thức của Hiến Chương 77.
Hiến chương 77 nói lên những bất mãn của những người ký tên đối với những thực tế đang xảy ra ở Tiệp Khắc liên hệ đến Dân quyền và Nhân quyền. Họ lên án chính phủ Tiệp Khắc đã không tôn trọng những quyền công dân được ghi trong Hiến Pháp cũng như trong các thỏa ước quốc tế mà Tiệp Khắc đã ký như thỏa ước Helsinki vào 1975.
Hiến Chương 77 cũng nói rõ mục đích của Hiến Chương là: theo dõi những trường hợp cá nhân về vi phạm nhân quyền, đưa những đề nghị sửa sai, và đóng vai trò trung gian giữa chính phủ và những cá nhân bị áp bức.
Ðến cuối năm 1977, có khoảng 800 người ký tên vào Hiến Chương, trong số đó có một số ghi là công nhân. Hiến Chương đã được phổ biến trong lãnh thổ Tiệp Khắc theo kiểu chuyền tay.
Gustáv Husák đã phản ứng mạnh mẽ đối với bản Hiến Chương này. Những người ký tên đã hoặc bị bắt giam hoặc bị đuổi việc. Báo chí đã được nhà nước vận dụng để tấn công Bản Hiến Chương một cách hạ cấp. Dân chúng bị bắt buộc phải ký tên vào những bản lên án các thành phần phản động của Hiến Chương 77.
Trong khi đó, cảnh sát và công an đã hành động hoàn toàn đúng như những gì bản Hiến Chương đã nêu: bắt người vô cớ, lục soát bất hợp pháp, hạch hỏi và tra tấn trái phép. Giáo sư Jan Patočka, một người nổi tiếng và có uy tín, bị cảnh sát mời đến thẩm vấn và một tuần lễ sau thì ông ta chết. Václav Havel bị bắt bốn tháng thì được thả. Ðến cuối năm, ông vào tù trở lại và lần này, ông bị kết tội chống chính phủ.
Những cuộc đàn áp như vậy kéo dài trong suốt năm 1978 và số người ký tên vào Hiến Chương vẫn tăng lên. Vào tháng Tư năm đó, một nhóm trí thức khác thành lập một ủy ban để bảo vệ những người đã bị xét xử trái phép. Họ đòi chế độ Husák phải đưa những người bị bắt ra xử công khai. Chế độ đã phản ứng bằng cách đưa hết những trí thức này vào nhà giam. Từ đó, Phong Trào Hiến Chương 77 yếu đi hẳn. Tuy nhiên, những kẻ đã tham dự vào Hiến Chương 77 vẫn tiếp tục cuộc phản kháng của họ bằng cách này hay cách khác.

Mùa Ðông Prague
Tháng Tám 1989, Tadeusz Mazowiecki của Công Ðoàn Ðoàn Kết thành lập chính phủ “không Cộng Sản” đầu tiên ở Ba Lan. Tháng Mười 1989, Ðảng Cộng Sản Hung Gia Lợi tuyên bố giải tán. Qua đầu tháng 11, Bức Tường Bá Linh bị phá vỡ.
Giữa một không khí đầy biến động như vậy ở Ðông Âu, Tổng Bí Thư Ðảng CS Tiệp Khắc, Miloš Jakeš, tuyên bố trong một đại hội thanh niên là Ðảng sẽ không tha thứ bất cứ một cuộc xuống đường nào nhằm phản đối sự cầm quyền của Ðảng và cũng sẽ không nới lỏng sự kiểm soát chính trị. Năm ngày sau, 15 ngàn sinh viên và thanh niên biểu tình chống chính phủ trên các đường phố ở Prague gần công trường Wenceslas. Cảnh sát đã thẳng tay đàn áp cuộc biểu tình và gây thương tích cho hơn 100 người.
Ngày 19/11/1989, Václav Havel và những đồng chí của ông thuộc nhóm Hiến Chương 77 cùng với một số sinh viên, nghệ sĩ và công nhân họp nhau tại tầng dưới của một hí viện lâu đời nhất Âu Châu, hí viện Lanterna Magica. Họ thành lập Diễn Ðàn Công Dân, đóng vai trò của một tổ chức chính trị đối lập. Ðầu tiên, họ lên tiếng yêu cầu trừng phạt những kẻ đã ra lệnh đàn áp biểu tình và đòi hỏi tất cả những lãnh tụ Cộng Sản có trách nhiệm đàn áp phong trào Mùa Xuân Prague phải từ chức. Miloš Jakeš đã bác bỏ những yêu sách này. Sau đó Václav Havel cầm đầu Ủy Ban gồm 18 người, tổ chức cuộc biểu tình ở công trường Wenceslas vào ngày 20 để hậu thuẫn cho những đòi hỏi của họ.
Hầu hết những nhạc sĩ, ca sĩ hát dân ca, nhà văn, lực sĩ và cả những tu sĩ, đã tiếp tay với ông vận động biểu tình để biến Diễn Ðàn Công Dân thực sự trở thành phong trào quần chúng bên cạnh tư cách của một tổ chức chính trị. Hơn 200 ngàn người đã tụ họp lại Công trường Wenceslas. Những cuộc biểu tình tương tự đã xảy ra trên những thành phố khác. Diễn Ðàn Công Dân đã đưa ra yêu sách đòi bầu cử tự do và đòi Husák, Jakeš và những lãnh tụ cực đoan phải từ chức. Ðến lúc này, Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng không còn coi thường Diễn Ðàn Công Dân chỉ như là sản phẩm của một số nhà văn và trí thức. Ngày 24 tháng 11, Jakeš và chín thành viên khác của Ủy Ban Lãnh Ðạo từ chức. Karel Urbánek, một lãnh tụ ít tiếng tăm lên thay chức Tổng Bí Thư đảng. Ngày hôm đó, Alexander Dubček xuất hiện tại Công trường Wenceslas, ông đã được mọi người hoan hô nhiệt liệt. Những người thuộc thế hệ ông đã khóc khi nghe lại tiếng nói của ông. Alexander Dubček đã im hơi lặng tiếng trong suốt 20 năm. Ông không ký tên vào Hiến Chương 77. Ông chỉ làm được hai cử chỉ nhỏ tạm tương xứng với vị thế của ông, đến thăm Václav Havel vào giữa năm 1989 khi nhà soạn kịch được thả ra khỏi tù và gởi lời mừng sinh nhựt Ðức Hồng Y František Tomášek, một người không được cảm tình của chế độ. Do đó, ông đã được chào mừng như một cựu lãnh tụ hơn là một lãnh tụ. Ông vẫn nhắc lại chủ trương “Xã Hội Chủ Nghĩa Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Nhưng, ở Mùa Ðông Prague 89, câu nói này không còn tạo được một âm hưởng nào như 21 năm trước. Nhiều người có nghĩ đến một vai trò chuyển tiếp mà ông có thể đóng được, và chỉ có thế. Ông cũng không tỏ ra có một tham vọng nào. Ông ủng hộ Diễn Ðàn Công Dân cùng với tất cả những đòi hỏi của họ.
Vì chế độ vẫn không chịu thỏa mãn tất cả những yêu sách của Diễn Ðàn Công Dân, Václav Havel kêu gọi một cuộc Tổng Ðình Công trong 2 giờ để cảnh cáo chế độ. Václav Havel đã thuyết phục được thợ thuyền nhập cuộc. Ngày 27 tháng 11-1989, hơn một triệu người Tiệp Khắc đã tham dự cuộc Tổng Ðình Công ở Prague. Có cả một phái đoàn của những người mù xuất hiện tại Công trường Wenceslas. Václav Havel thách đố chế độ hãy nhìn thẳng vào Công trường để thấy đó như một cuộc trưng cầu dân ý bác bỏ tư cách lãnh đạo chính trị của đảng Cộng Sản Tiệp Khắc. Những yêu sách cũ như bầu cử tự do được nhắc lại, và thêm vào những yêu sách mới như thay đổi nội các và giao những bộ quan trọng như Quốc Phòng cho những người không Cộng sản v.v… Dĩ nhiên, những đòi hỏi như vậy đã không được dễ dàng chấp nhận. Ký giả Jiří Dienstbier phát ngôn viên của Diễn Ðàn Công Dân, một người đã ra vô nhà giam rất nhiều lần, tuyên bố với báo chí: “Ở Tiệp Khác, trong suốt 20 năm qua, mọi người đều biết rằng chế độ này không thể nào giải quyết được những khó khăn của đất nước. Nhưng mọi người vẫn sợ. Bạo lực và áp bức là những phương tiện chính để cai trị. Quyền hành đã được xây dựng từ đó và chỉ muốn được xây dựng từ đó. Vì vậy, những kẻ cầm quyền rất sợ nhượng bộ vì họ e ngại nếu nhượng bộ, quyền hành của họ sẽ tiêu tan”.
Tuy nhiên, sau cùng, những kẻ cầm quyền có nhượng bộ.
Ngày 30 tháng 11, Quốc Hội Tiệp Khắc biểu quyết bãi bỏ tư cách lãnh đạo chính trị của Ðảng CS Tiệp Khắc như đã ghi trong Hiến Pháp. Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do. Ngày 4 tháng 12, khối Warsaw chính thức công nhận: “Cuộc xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968 1à một quyết định sai lầm”. Trong vòng một tuần lễ, Nội Các Tiệp Khắc thay đổi ba lần và cả ba lần, họ đều chưa đáp ứng được đúng những đòi hỏi trước đó của Diễn Ðàn Công Dân. Dĩ nhiên, những kẻ cầm quyền còn muốn kéo dài quyền lực của họ.
Biến cố Mùa Ðông Prague có thể vẫn chưa đến hồi kết cuộc. Tuy nhiên vấn đề đáng nói ở đây là sự thức tỉnh này của dân tộc Tiệp Khắc. Ðể nói về sự thức tỉnh này, không có gì hơn là ghi lại một câu viết trên bức tường một hầm xe điện ngầm ở Prague: “Chúng ta đã tập bay như chim và tập lặn như cá. Có phải đây là lúc chúng ta bắt đầu sống như những con người?”
*
Cuộc tranh đấu chống chủ nghĩa Cộng sản ở Tiệp Khắc mang một sắc thái đặc biệt ở Ðông Âu: một cuộc tranh đấu kiên trì và thuần trí thức. Mục đích chính được nhìn qua các Tuyên Ngôn hay sách vở của họ, không nói rõ là họ chống chủ nghĩa CS mà chỉ nói là chống bất cứ một chế độ, một thế lực hay một chủ trương nào nhằm áp đảo hay tước đoạt những quyền căn bản của con người. “Chống Cộng” do đó chỉ được hiểu như một hệ quả đương nhiên từ mục tiêu chính.
Cái lợi của cách tranh đấu này là dù có hiểu được thâm ý của họ, những kẻ cầm quyền cũng khó tìm thấy một cái cớ thật chính đáng tiêu diệt họ cách tàn bạo. Thêm vào đó, với sự can đảm, với ý chí sắt đá, với tài năng, và với ý thức cao độ về trách nhiệm của một người trí thức đối với dân tộc, họ đã tạo được một sức mạnh đủ cho cuộc tranh đấu tồn tại trong suốt hơn 30 năm cho đến khi cơ hội đến, họ chộp lấy được ngay, và chỉ trong 10 ngày họ đã đạt được những gì mà Ba Lan mất đến 10 năm.
Nhược điểm của cách tranh đấu này là làm cho họ xa rời quần chúng. Những tác phẩm văn học hay nghệ thuật của họ mặc dầu vẫn làm cho quần chúng say mê thưởng thức, nhưng quần chúng phục họ hơn là thấy họ với quần chúng là một. Về điểm này, trí thức Tiệp Khắc đến mãi mùa Ðông 89 mới đạt được cái mức mà trí thức Ba Lan đã đạt từ 1976, khi tổ chức Bảo Vệ Công Nhân (KOR) ra đời để tạo một liên minh với Thợ Thuyền. Chính vì vậy mà trong suốt hơn 30 năm, người trí thức Tiệp Khắc khá lẻ loi trong cuộc tranh đấu của họ.
Nếu không có sự thành công của cuộc cách mạng Ba Lan cùng với những biến động mới nhất phát sinh từ những chủ trương Perestroika và Glasnost ở Liên Xô, không chắc những trí thức Tiệp Khắc đã làm nên được lịch sử. Trong trường hợp này, những kẻ cầm quyền sẽ tiếp tục cô lập họ như những kẻ cầm quyền ở Ba Lan đã làm đối với trí thức Ba Lan trước 1976. Trường hợp của Tiệp Khắc còn thuận lợi hơn cho kẻ cầm quyền vì Tiệp Khắc có nhiều tài nguyên, dân số ít và hưởng được một truyền thống tốt về phát triển kỹ nghệ từ trước thế chiến nên thợ thuyền hưởng một mức sống vật chất tương đối đầy đủ. Do đó, sẽ rất khó cho người trí thức thuyết phục thợ thuyền làm những điều có thể nguy hại đến đời sống bình thường của họ.
Dù sao, mỗi nước có một hoàn cảnh riêng, người trí thức Tiệp Khắc có thể đã tiến hành cuộc tranh đấu của họ bằng cách tốt nhất mà họ có thể làm được. Riêng đối với những nhà văn Tiệp Khắc, những người đã ý thức trách nhiệm của mình là phải nói lên tiếng nói lương tâm của đất nước, họ đã làm được những điều mà những đồng nghiệp của họ ở những nơi khác, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hơn, đã không làm được. Ðây cũng là lý do cắt nghĩa tại sao nhà văn Tiệp Khắc luôn luôn có một chỗ đứng cao trong lịch sử của nước họ.
Một điều cuối cùng cần được nói đến với lòng khâm phục là trình độ dân trí của Tiệp Khắc. Gần một triệu người xuống đường lật đổ một chế độ mà họ đã chán ngấy, vậy mà vẫn giữ được kỷ luật và tự chế đến độ gần như không có một điều đáng tiếc xảy ra. Thêm vào đó là một ý thức chính trị vượt bực. Hoan hô Dubček nhưng cũng hiểu ra rằng Dubček đã không theo kịp thời cuộc. Nếu sau này, tổ chức Diễn Ðàn Công Dân đạt được những mục tiêu tranh đấu của họ, chắc chắn phần lớn phải là nhờ ở tinh thần kỷ luật và ý thức chính trị cao của người dân Tiệp Khắc.

Trương Vũ
Maryland, tháng 12 năm 1989

Chú thích:
1. Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Tad Szulo, đề nghị xem ngày đăng tải “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành” như là ngày đầu của cuộc tranh đấu trí thức cho cả Ðông Âu, không riêng gì cho Ba Lan hay Tiệp Khắc. (Xem tác phẩm đã nêu ở chú thích 2).
2. Szulo, Tad. “Czechoslovakia Since World War II”. New York: The Viking Press, 1971.
3. Nyrop, Richard. “Czechoslovakia: A Country Study”. Washington, D.C.: The American University/Area Handbook Series, 1982.
4. Doerner, William. “Our Time Has Come”. Time, Dec. 4, 1989.
5. Harden, Blaine. “Czechoslovakia In the End of Communist Monopoly”. The Washington Post. Nov. 29, 1989.
6. Kamm, Henry. “Spirit of 1968 is still alive, still distinct”. The New York Times, Nov. 30, 1989

Tháng 8- ngày con thỏ chết.

tonnuthunga

Tháng tám kéo dài như bất tận,
Ngày qua, ngày tới quá mơ hồ!
Ngọn lá, cành cây không chuyển động,
Chân buồn theo lối nắng ngây ngô.

Tháng tám ngồi nhìn con thỏ chết,
Lòng buồn ray rứt mãi không nguôi
Tháng tám đàn chim không thấy tới,
Chiều hoang chầm chậm phủ quanh đời.

Tháng tám trời hồng, cây bén lửa
Núi đồi khói tím trở thành mây
Có phải quanh ta là địa ngục?
U minh từ chốn thế gian này.

Tháng tám mùa hè trôi uể oải,
Đêm nằm chong mắt ngó trời cao.
Mưa sao băng rơi ngoài vũ trụ
Thầm xin cho mấy trận mưa rào.

Tháng tám, đêm có mưa sao băng.
Buồn ơi, sao cứ giữ trong lòng?

Tôn Nữ Thu Nga
San Dimas

Thơ Tôi

trantrungdao

Xin đừng tiếc, thơ tôi màu tang tóc
Bởi cuộc đời nắng sớm với chiều mưa
Mười bốn tuổi tôi làm thơ nước mắt
Khóc quê hương trăn trở đã bao mùa

Thôi em nhé cũng xin đừng thương hại
Thơ thẩn gì, chỉ trách móc nhau thôi
Con nước cũ chẳng bao giờ trở lại
Để nghìn năm nghe dốc đá ngậm ngùi

Em như cánh sen hồng đang hé nở
Giữa ao bùn vẩn đục của đời tôi
Trong gần gũi đã có nghìn cách trở
Nợ gì nhau sao nắng bám lưng đồi

Xin đừng tiếc, thơ tôi buồn như thế
Chuyện đau lòng chẳng thể viết cho vui
Tôi chỉ vẽ cảnh đời tôi dâu bể
Giấu niềm đau trong chua chát tiếng cười

Xin đừng tiếc, thơ tôi là sương đọng
Sẽ tan dần khi đêm tối ra đi
Trong xa cách có nghe lời ai vọng
Vì sao băng chưa kịp ước mơ gì

Xin đừng tiếc, thơ tôi là kỷ vật
Của một thời thơ ấu rất đơn côi
Tôi là kẻ độc hành không quán trọ
Đời tục du vai áo bạc quen rồi

Xin đừng tiếc, thơ tôi lời sỏi đá
Một linh hồn khép kín tự trăm năm
Đừng cúi nhặt sẽ đau lòng biển cả
Đừng lăn đi mất dấu chỗ tôi nằm

Tôi làm thơ chẳng mong thành thi sĩ
Ngủ với trăng hay bạn với sông hồ
Thơ tôi đấy trái tim đầy máu rỉ
Sẽ muôn đời ở lại với hư vô.

Trần Trung Đạo

Đáo hạn.

trachantranhuuhoi

Ngồi chờ đã hai giờ đồng hồ mà vẫn chưa thấy Hằng, Thụ nhấp nhổm nhìn ra cửa. Quán không có ai, bà chủ sau khi bưng ly cà phê cho anh rồi biến đi đâu mất làm anh muốn xin thêm chút đường cũng đành chịu!
Mấy năm rồi, từ ngày lập gia đình, anh trở thành khách hàng thường xuyên của Ngân Hàng. Lấy nhau, cả anh lẫn chị đều tay trắng. Anh làm đủ việc, từ đi rừng đốn gỗ lậu đến buôn gỗ vào Sài gòn…Gom được vài chục triệu, chưa kịp mừng thì chuyến kế tiếp bị bắt! Vay nóng nhiều chứ Ngân Hàng chỉ vài chục triệu không đủ làm vốn, được cái lãi thấp, có kỳ hạn trả nợ chứ không đòi bất thường như các chủ nợ chuyên cho vay nóng. Anh nhớ có lần nghe tin anh bị bắt gỗ trong Phan Thiết, bốn năm bà chủ nợ đến liên tục làm anh phải trốn lên Đà lạt cả nửa tháng. Ở nhà, chị Thu vợ anh khốn khổ với họ…
Từ ngày làm được cái sổ đỏ, dành dụm xây cái nhà, xem như có tài sản thế chấp, anh bắt đầu trở thành con nợ của ngân hàng, làm ăn theo hướng ổn định hơn là bán đồ lưu niêm, phim chụp hình, băng đĩa nhạc…kiêm luôn nghề thu băng.
Vừa lảm trả nợ xây nhà, vừa trang trải cho sinh hoạt của hai vợ chồng và hai đứa con, món nợ ngân hàng cứ tăng dần tử ban đầu ba mươi triệu, ba năm nay đã lên trăm triệu chẵn! Cái nhà anh ở mặt tiền đường Quốc Lộ nên cũng có giá, cộng với phí phần trăm chung chi cho cán bộ tín dụng qua mấy bà cò (*), anh mới vay được tới trăm triệu. Cứ đến hạn, cố làm sao chạy cho ra tiền lãi, còn tiền gốc thì đã có các cò tạm ứng, trả xong vay lại ngay, con nợ chỉ cần ký nhận còn cò nhận tiền…
Tiền phí dịch vụ, tức tiền lãi ngày trong thời gian chờ làm thủ tục trả, vay, có người lấy cao, có kẻ tình cảm thì lấy thấp. Cò không chỉ ứng tiền gốc, họ phải hỏi trước cán bộ tin dụng có cho vay lại không mới ứng tiền…Đã có những trường hợp dở khóc dở cười là sau khi trả xong cả gốc lẩn lãi, không vay lại được. Đòi gì được khách hàng nghèo rớt mồng tơi! Bởi vậy, cò phải là tay bản lĩnh trong quan hệ với ngân hàng và cả khách hàng…
Hằng là cò cứng cựa nhất trong số cò ở vùng này.
Quan hệ ngân hàng tốt và nhiều vốn. Hằng đẹp, mượt mà, lại góa chồng. Với cái tuổi ba chín, Hằng xem trẻ như mới chừng hai tám, ba mươi, nếu không bị cái tiếng sát phu thì chắc chị cũng đã có người tử tế chắp nối duyên tình từ lâu.
Anh chồng chị là một cán bộ huyện, đám cưới đúng ba tháng thì anh ta bị bênh uốn ván chết chỉ vì đạp cái đinh sét khi vào chăm đàn dê trong chuồng. Cũng may là đã kịp để lại cho chị thằng con trai trong bụng…Đâu khoảng chừng hai năm sau ngày chồng chết, một anh cán bộ Kiểm Lâm thương chị như điếu dổ, họ dự định làm đám cưới thì anh ta bị tai nạn chết khi vừa phóng xe ra từ cây xăng thường ngày vẫn đổ! Từ đó đến nay, nhiều người đàn ông nhìn chị khát khao…nhưng chị vẫn cô đơn.
oOo

Ba năm nay Thụ trở thành khách hàng của Hằng, lần đáo hạn này anh tính nhờ Hằng giúp cho anh tăng tiền vay lên trăm rưỡi triệu, một trăm trả lại cho Hằng còn dư năm mươi triệu mua cái máy photocopy, làm thêm dịch vụ này.
Anh vừa định gọi cho Hằng thì thấy cô ấy đến:
– Anh Thụ chờ lâu phải không?
– Ừ, kẹt gì thế?
– Anh có biết anh Kiên bên xưởng mộc không? Em vừa trả xong lãi và gốc hai trăm triệu, vay trung hạn, làm hồ sơ lại rồi nhưng vợ chồng lình xình, hôm qua đánh nhau ầm ỉ, đòi ly dị…Chuyện tới tai cán bộ tín dụng làm Ngân hàng không cho vay lại…
– Rồi sao, em uống gì anh gọi?
– Phải chờ vài hôm, êm êm rồi vợ chồng anh Kiên mời cơm, diển tuồng kha khá, nó thấy cơ sở làm ăn…Có em nói vào là xong thôi. Em uống rồi!
Hằng vòng hai tay ôm cái túi trong lòng, cười với Thụ rồi quay người nhìn quanh quán, những bụi hoa Hoàng yến vàng rực và nhiều loại hoa trồng chậu rất đẹp…nhưng từ khi vào đến giờ, Thụ chưa hề đảo mắt bởi trong anh đang cộm lên nỗi lo âu thường trực cứ mỗi lần đáo hạn. Lần này, vay thêm năm mươi triệu anh lại càng lo hơn.
Năm ngoái, khi vay lại một trăm triệu, Hằng cho anh biết là càn bộ tín dụng nói nếu tính theo sổ đỏ, ngôi nhà mặt tiền của anh còn rất ít đất sau khi trừ đường dây điện cao thế phía sau và mốc lộ giới phía trước. Tính theo giá quy định của tài chính thì lô đất không đến sáu mươi triệu, mặc dù giá thị trường có thể lên đến vài trăm! Anh nói với Hằng cứ chung chi và giúp anh vay lại mức ấy…Nhưng rồi không tốn kém gì, tiền lãi vay ngày và đơn trương cho dịch vụ Hằng chỉ lấy anh hai trăm ngàn. Anh ngạc nhiên nhìn Hằng, cô ấy nói:
– Em chỉ lấy anh phí bên Tài nguyên môi trường thôi.
Năm nào cũng vay và năm nào cũng tốn phí cho Tài nguyên dù đất và nhà ở không hề thay đổi, tiền thì không nói nhưng cái công chờ đợi…Nhiều lần hồi chưa có Hằng, anh chờ có khi cả hai ngày mới đóng được con dấu. Trong phòng chờ của tài nguyên, lúc nào cũng đông, chỉ toàn những người nghèo, vay đôi ba chục, có người chỉ vay năm bảy triệu sửa cái chuồng bò…cũng phải đợi…Những khuôn mặt lo âu ngao ngán nhìn nhau… Nếu không hoàn thành hồ sơ thì phải qua ngày khác, kéo theo chậm trễ bên Ngân hàng và tăng lãi vay vốn nóng tính từng ngày của việc đáo hạn.
Cò giải quyết khâu này rất nhanh bằng cách riêng của họ!
Bây giờ vay thêm năm mươi triệu không biết Hằng có giúp anh được không! Thụ tự nhiên hồi hộp như đứng trước cán bộ ngân hàng:
– Anh tính lần này cô giúp vay cho anh trăm rưởi, được không Hằng?
– Làm gì vay nhiều vậy anh Thụ?
– Anh làm thêm dịch vụ Photocopy.
Hằng nhìn Thụ, nghĩ tới Thu vợ Thụ, hơn năm nay bỗng bị bệnh tiểu đường và suy tĩnh mạch, vào ra Sài gòn liên tục.
-Trên một trăm là chuyển qua vay trung hạn, trả dần trong hai năm, nhưng phải có cơ sở làn ăn hay kinh doanh…Cái sổ đỏ lô đất của anh mà nó cho vay một trăm là nể nang em lắm rồi…
– Cô cứ chi thêm phí đi Hằng, anh cần làm thêm mới có dư ra chút ít chứ như hiên tại thì chỉ đắp đổi…
Hằng có vẻ suy tính…
– Anh đưa hợp đồng vay cũ cho em, gặp thằng cán bộ này mới đổi về…hơi khó. Có gì em gọi lại.
Thụ tin vào khả năng của Hằng nhưng vẫn lo âu. Hằng bỏ xấp hợp đồng vào túi xách, nói:
– Có thể phải lo cái giấy phép kinh doanh.

oOo
Gom hết tiền trong nhà mới đủ một triệu rưỡi. Thụ nhìn Thu đang lo lắng bồn chồn, anh nói cho vợ yên tâm:
– Có cái giấy phép kinh doanh thì tốn thêm thuế hàng quý, hàng năm, nhưng mình làm ăn dễ hơn em ạ. Em uống thuốc chưa? mệt thì gởi ai mua đại cái gì ăn cũng được, khỏi đi chợ.
Ba ngày nay Thụ bần thần, không biết Hằng có lo được không thì sáng nay nghe cô ấy gọi, bảo đang chờ anh trên huyện, mang theo một triệu rưởi đóng tiền làm giấy phép kinh doanh cho phòng Thông Tin – Văn Hóa.
Từ phòng TT-VH đi ra, Thụ cảm phục tài giao tế của Hằng. thêm tin tưởng vào lần vay này. Anh nhìn Hằng nói rất thật tình:
– Cô Hằng nói sao mà hay vậy?
– Tiền nói chứ em có nói đâu, anh xem cái phiếu thu chỉ hai trăm bốn chục ngàn mà mình đóng tới một triệu tư lận!
– Anh tính vay xong cũng phải chạy cái giấy phép kinh doanh, giờ cô làm dùm thế này anh đỡ khổ. Cho tiền cũng chưa chắc làm dễ thế này! Xe cô để ở đâu?
– Thằng con chở em lên, giờ nó đi Phan Rang rồi. Anh cho em qua ngân hàng, nếu sáng nay duyệt được thì nhận tiền luôn.
Thụ nhìn Hằng với đôi mắt biết ơn. Khi cán bộ tín dụng nhận hồ sơ rồi trình duyệt, thì xem như đã được vay. Không cưỡng được nỗi mừng, anh nắm lấy bàn tay Hằng bóp nhẹ, nhà đễ xe vắng vẽ, Hằng dựa người vào Thụ, anh ngây ngây trong mùi nước hoa và hơi ấm của cơ thể Hằng…
Đẩy chiếc xe quay đầu, Thụ nói như cố xua đi cảm xúc vừa bùng lên trong anh:
– Cái thằng Hào leo thật nhanh, năm năm trước, hồi nó mới ra trường thực tập, ngơ ngơ ngáo ngáo…vậy mà giờ đã là phó giám đốc ngồi duyệt đơn vay!

oOo
Nhận tiền xong thì cũng vừa lúc Ngân hàng nghỉ việc.
Những lần đáo hạn trước, anh chỉ ký nhận nợ ở hợp đồng, mấy tờ phiếu chi nơi quầy thu chi tiền vay rồi chào Hằng, có khi cô ấy ghé nhà lấy phí dịch vụ, có khi anh mang xuống nhà, bao giờ cũng rẻ hơn những cò khác.
Lần này số tiền nhận ra có phần dư năm mươi triệu, Hằng để Thụ tự nhận. Cô nhân viên gầy nhom ở quầy chi tiền chuổi ra cho anh một cái túi nilon có in chử “Ngân Hàng Nông Nghiệp”, Thụ bỏ tiền vào túi trong khi các nhân viên cũng lục tục chuẩn bị ra về.
Anh tìm Hằng định chào và cảm ơn như mọi khi nhưng chợt nhớ Hằng không có xe. Lác đác vài con nợ nhếch nhác và cò trong sân, Thụ thấy Hằng nổi bật trong cách ăn mặc gọn gàng sang trọng, nước da trắng mịn với nụ cười, đang đứng chờ bên quầy rút tiền ATM ngay cổng ra vào.
– Có rắc rồi gì không anh Thụ?
Hằng hỏi khi đã ngồi sau xe, Thụ nói đùa rồi quay lại đưa túi tiền cho Hằng:
– Không, kiểm tiền xong cô thu ngân còn cười duyên khi cho anh cái túi nữa!
Hằng cũng vui vẽ:
– Vay được tiền rồi thì thấy ai cũng dễ thương phải không?
Thụ cười thành tiếng, tâm trạng anh không còn nặng nề như những ngày trước.
oOo
Về đến nhà Hằng, ngôi nhà rộng và vắng vẻ, Hằng bật chiếc quạt trần ở phòng khách, vào trong rồi trở ra với cái túi có năm mươi triệu và ly nước.
Đặt ly nước và cái túi lên bàn, nhìn anh cười như chia niềm vui, hỏi:
– Anh dự tính khi nào mua máy Photocopy?
– Cũng phải sắp xếp nhiều thứ, Hằng cho anh gởi mấy cái phí dịch vụ, bao nhiêu vậy Hằng?
Hằng cười cười lắc đầu:
– Sang năm đáo hạn em lấy luôn.
– Sao được!
– Được, em chỉ bỏ chút công nói giúp anh thôi mà!
Thụ không tin là Hằng không chi phí cho nhân viên tín dụng, ít nhất cũng một triệu cho trường hợp của anh! Hằng lại đứng dậy đi vào trong, trở ra với cái túi nilon màu đỏ:
– Bánh người ta cho, anh mang về cho mấy nhóc.
Thụ nhìn Hằng, bất giác anh nắm tay Hằng rồi ghì mạnh…Hằng thở dồn dập đón nhận đôi môi tham lam của Thụ! Đôi tay Hằng cũng ghì lấy tay Thụ nhưng rồi buông ra trong tiếng nói ngắt quảng:
– Đừng anh… lỡ có chuyện gì…thì tội cho Thu và…mấy đứa nhỏ!
Thụ như không nghe thấy gì…Anh siết mạnh tấm thân run rẩy trong vòng tay, nhẹ đẩy Hằng nằm xuống salon…Hằng đưa hai bàn tay yếu ớt đẩy nhẹ ngực Thụ thì thào:
– Con em sắp về…Em có đi coi nhiều thầy, ai cũng nói cái số ấy là có thật…
Thụ sựng người tỉnh lại, cơn rạo rực đang hừng hực chợt lắng xuống, anh đỡ Hằng ngồi dậy:
– Anh…anh… xin lỗi!
Hằng đưa tay vuốt tóc rồi quay qua nắm tay Thụ bóp nhè nhẹ:
– Quản lý thị trường họ cũng quản lý cả Photocopy, có rắc rồi gì thì gọi cho em…

Sài gòn, tháng 8 năm 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội.

(*) Cò: Những người làm dịch vụ ứng tiền ra trả cho Ngân hàng khi đến hạn, lấy liền lãi, tiền công làm hồ sơ…

CHẾT

tonnuthudung

Con chim chết bởi rừng khô
Con cá chết bởi biển hồ suối sông
Con người chết bởi hồn câm
Đại dương chết bởi rêu rong đầu nguồn
Ngòi bút chết bởi bẻ cong
Nhà thơ chết bởi nhẫn tâm cúi đầu
Lịch sử chết bởi loài sâu
Ngàn năm văn hiến?
Ở đâu?
Rùng mình!…
Hạt mưa rơi ướt tội tình
Hạt mưa nhiễm độc
nhục hình
thiên thu…

Tôn Nữ Thu Dung

Nhờ Em Lần Cuối

trantuan

Đêm qua thả mộng lên trời
Đụng ngôi sao lạc
lại rơi xuống trần!
Đời ta,
…thả đã bao lần
Là rơi cũng bấy…
Dập bầm tả tơi!

Từ nay, thề có đất trời
Sẽ không thả nữa cho đời bình yên.

À, mai ta lỡ ngủ quên
Nhờ em – lần cuối – gọi tên ta giùm!

Trần Tuấn

NHỚ MÁ TÔI XƯA

lephuhai

Từ Tuy Hòa đi ra phía bắc khoảng 30 cây số là đến thị trấn Chí Thạnh. Qua khỏi Chí Thạnh chút xíu rẻ phải dọc theo sông Phường Lụa là đường đi về nhà thờ cổ Mằng Lăng. Đường đi đến nhà thờ ngang qua một con đập có tên Tam Giang. Đứng đó nhìn qua phía bên kia bờ thấy có một nhà nguyện be bé. Đó là xứ đạo Gò Chung, là quê quán bên ngoại của má tôi.
Ngày đó bà ngoại tôi về đây sinh má tôi, bà mất trong lần sinh nở này, má tôi sống với cậu dì và họ hàng bên ngoại. Khoảng 5 năm sau, có người đàn ông cởi ngựa về tìm dẫn má tôi đi. Nghe nói đó là cha, má tôi xúc động và đi theo ngay không cần suy nghĩ. Sau này má nói có lẽ do sự thiêng liêng của huyết thống.
Mười chin tuổi má tôi lấy chồng. Lúc đó Phú Yên là vùng kháng chiến do Việt Minh kiểm soát kể từ sau cách mạng tháng tám năm 1945. Khoảng đầu năm 1951, Pháp thả bom Cầu Máng, không có nước tưới tiêu nên cả vùng đồng bằng bị mất mùa và lâm vào cảnh thiếu đói. Ba má tôi ở miền núi nhưng vẫn phải ăn bắp thay cơm suốt nhiều tháng liền. Đến năm 1953, ba má tôi trốn ra khỏi vùng Việt Minh kiểm soát và bắt đầu cuộc đời lưu lạc…

xxx

Miền Nam Việt Nam trải qua hết thời đệ nhất lại đến thời đệ nhị cộng hòa. Và cứ mỗi một thời gian qua đi, chúng tôi càng lớn thì thấy gia đình mình càng nghèo đi, càng bớt sang trọng, càng thắt lưng buộc bụng nhiều hơn. Sau năm 1975 thì đúng là nghèo thiệt…
Năm 1979 gia đình tôi đi KTM Hòa Nguyên, những chuyến xe chở đồ đoàn của người đi kinh tế mới lũ lượt đổ về Tuy Hòa, ghé nghỉ trưa chút xíu ở cầu Ông Chừ rồi tiếp tục rẽ theo hướng tây đi về phía mặt trời lặn. Nhìn má tôi buổi trưa hôm đó, một mình với lỉnh kỉnh đồ đạc chất đầy phía sau xe: cái gạc măng rê cũ kỹ, cái đi văng làm bằng ván ép Mỹ đã tróc véc ni loang lổ, mấy tấm tôn đầy vết đinh rỉ, mấy cái giường đã tháo rời ra thành mấy bó, thanh giường, vạt giường, thúng mủng, nong nia, rỗ rá và lóc nhóc những chai lọ, hũ ghè… chợt nhớ hồi Mậu Thân nhà tôi cũng một lần chuyển đi như vậy từ xóm Máy nước về xóm Bóng, cũng má tôi ngồi sau xe một mình với đống đồ đạc…
Về sau tôi có viết bài hát “Bài ca người di trú” mở đầu bằng câu: “Năm mươi năm sao vẫn đi đi hoài, chiều dần trôi về đây lòng con tê tái…” và kết thúc: “… Năm mươi năm đã mỏi cánh chim bay, cơn mơ là vùng đất vui hiền hòa”… là tôi viết cho má tôi. Năm đó má tôi 50 tuổi.

xxx

Sống ở KTM mười mấy năm, mang bệnh sốt rét trong người lâu ngày lại không có nhiều thuốc men để điều trị nên dần dà má tôi chuyển sang sưng lá lách. Bước qua tuổi sáu mươi lăm má tôi bắt đầu suy sụp. Cái lá lách sưng to thường hay gây sốt. Đi bệnh viện mấy lần nhưng bác sĩ không dám mổ. Họ nói má tôi sức yếu sợ không chịu đựng được. Bà bước đi khó nhọc vì cái bụng sưng to.
Năm 1996, tôi và vợ con chuyển về Tuy Hòa. Không lâu sau đó tôi được tin má bị té, hôn mê và đang hấp hối. Tôi hấp tấp chạy về nhưng chỉ còn thấy má tôi nằm im trên giường, thỉnh thoảng hai bên khóe ứa ra những giọt nước mắt. Đến chiều tối hôm đó má tôi trút hơi thở cuối cùng. Năm đó bà được 67 tuổi. Chỗ chúng tôi ở lúc bấy giờ không có cửa hàng bán hòm đóng sẵn nên nhà nào cũng có để dành mấy tấm ván phòng khi hữu sự. Tôi đạp xe ra tiệm mua đinh và mấy lon sơn.
Ngày hôm sau trời vẫn còn mưa phùn gió bấc. Chiếc xe bục bịch chở xác má và mấy anh em tôi nặng nhọc tiến về phía nhà thờ. Những người đưa tang mặc áo mưa đi xe gắn máy hoặc xe đạp chạy theo sau. Sau thánh lễ Misa và nghi thức làm phép xác, cái hòm màu xanh da trời có má tôi trong đó được một nhóm trai tráng khiêng đi. Nghĩa trang công giáo đang bị ngập nước nên má tôi về nằm trên một cái gò cao, bên cạnh em gái tôi đã mất vì bệnh sốt rét hơn mười năm trước đó. Thường thì người công giáo khi chết chôn trong hòm sơn đen, cha Hiên nói sơn màu gì cũng được vì chết cũng là một sự vui mừng… Nghe kể lại trước đó bác Huy ở Sơn Nguyên mất, chôn trong một cái hòm sơn màu hồng, bên hông có ghi hàng chữ: “Ta đi về nhà Cha”, và bây giờ là má tôi với cái hòm không ghi chữ, chỉ có màu xanh da trời như sáng lên giữa một ngày đông xám.

xxx

Hồi còn ở Nha trang, mỗi lần đến lễ Vu lan, bạn tôi sinh hoạt trong Gia đình phật tử thường hay rủ tôi đi chùa. Tụi nó kể tôi nghe về bông hồng và bông trắng. Tôi cũng biết bài hát “Bông hồng cài áo”… nhưng chưa khi nào tôi quan tâm đến ý nghĩa người mẹ… Má tôi mất khi mấy anh em tôi ai cũng cắm đầu cho việc mưu sinh, cho “giọt nước mắt chảy xuống” của qui luật cuộc đời…

Lê Phú Hải

Chào Em Buổi Sáng

tranvanle

Hôm qua, tôi viết gì em nhỉ
Có phải “Chào Em Buổi Sáng” không?
Lạ chớ, trái tim tôi chẳng lớn
Muôn năm nhớ mãi má em hồng!

Em là hoa mận hoa mơ nhé
Sáng nở trắng vườn cứ ngỡ trăng
Đêm nở trên bàn tôi, gió thoảng
Mùi hương làm nhớ những mùa Xuân!

Tôi biết tôi vừa, đang, đã, nói
“Chào Em Buổi Sáng” giống hôm qua
Giống hồi nào đó tôi trên núi
Hứng giọt mù sương nắng nở hoa…

Em ơi tôi nhớ em từng phút
Từng bước em mười bảy tuổi xưa!
Tôi hỏi tại sao sông có khúc
Khúc nào không nắng cũng không mưa?

Khúc nào không có đò xa bến?
Em lớn hồi nào hỡi ngọn cau?
Cái bóng đổ nghiêng vườn của Ngoại
Tiếng gà vừa gáy nhớ nao nao…

Sáng nào cũng sáng, bình minh dậy
Tôi dậy “Chào Em Buổi Sáng” hồng
Có phải em là trăng mãi mãi?
Đêm tàn bến Ngự Nguyệt mênh mông…

Trần Vấn Lệ

Nghe một đời hư

nguyenminhphuc

Suốt một đời ngóng núi
Thấy núi nói gì đâu
Đêm ngồi nghe đá thở
Mới hay ta bạc đầu

Mênh mang làn gió thoảng
Trôi giữa chiều hư không
Thấy một ngàn mây trắng
Rụng dưới bóng ngô đồng

Lần trang kinh tiền kiếp
Nghe đổ bóng luân hồi
Người về mang bóng nguyệt
Che kín đời ta trôi

Chiều nay ngồi với núi
Ta có nói gì đâu
Sao ngoài kia hoa rụng
Mây đổ dưới chân cầu

Ai thả nghìn cánh hạc
Về qua cõi niết bàn
Ngậm ngùi cầm y bát
Ta một mình lên non…

Nguyễn Minh Phúc

LẦN ĐẦU…

hienmay

lần đầu
nếm trái chín… rơi
bắp non hé đón chơi vơi nụ tình
giữa ngày… sao chiếu lung linh(!)
nghe đâu đây ngát hương trinh
lần đầu

lần đầu
thơm vị chua dâu
nôn nao hái sớm (sợ lâu… quả… già)
như con nít ngóng chờ quà
anh vung phép mở mắt na
lần đầu

lần đầu
bối rối nguyện cầu
đừng buông… đang lửng lơ mây ngang trời
vòng tay ôm chớ để rời
ngọt dòng mật lịm anh ơi
lần đầu

lần đầu
huyền thoại nhiệm mầu
lặng im mà ngỡ nói câu yêu rồi
ai làm bung cánh thềm môi
rước em – phi ái… lên ngôi
lần đầu

lần đầu – anh đó
lần đầu…

Hiền Mây