CHỊ HOÀI

huongthuy

Tháng chín năm 1977, tôi cầm quyết định của Sở Giáo dục Phú Khánh về giảng dạy ở Trường cấp III An Cư huyện Tuy An. Ông Trưởng phòng tổ chức cười cười bảo: “Cô về đấy tha hồ mà ngắm đầm Ô Loan xinh đẹp và ăn đặc sản sò huyết trứ danh”. Đám sinh viên cùng nhận nhiệm sở nhìn tôi như ghen tị.
Chuyến xe đò ọp ẹp, già nua thả tôi xuống bên vệ đường hoang vắng trên quốc lộ I cách thị xã Tuy Hòa khoảng ba mươi lăm cây số. Chú lơ xe như thấu hiểu sự lo lắng của cô gái lần đầu đi xa, nhiệt tình bày vẻ: “Cô vào đầu kia hỏi bà chủ quán. Huyện Tuy An đây rồi”. Nói xong, chú ta đập thùm thùm vào cửa xe, hét bác tài: “Tới luôn”.
Lếch thếch với cái vali gồm chăn mùng, áo quần, sách vở…tôi thở dốc hỏi bà chủ quán về ngôi trường. Miệng đầy trầu, bà lắc đầu lia lịa trước cái giọng Huế chắc mới nghe lần đầu. Tôi thất vọng ngồi thừ người trên cái ghế đẩu. Bất chợt, một gương mặt trẻ thơ thò ra sau cửa liếp: “Trường Đồi đó bà ngoại ơi!”. Gương mặt tôi giãn ra cùng với một câu đăc sệt Phú Yên từ miệng bà chủ quán “Dzẫy na!”.
Thằng bé trai khoảng mười tuổi nhiệt tình dẫn đường cho tôi vào con đường đất cách quán khoảng 300 mét. Không những thế, nó còn xách giúp tôi cái túi nhỏ. Tôi nhủ thầm “Số mình hãy còn may!”. Đi khoảng mười phút, tôi hỏi nó: “Còn xa không em?”. Nó chỉ tay: “Kia kìa”.
. Nhìn từ xa tôi đã thấy trên ngọn đồi trọc không cây cối, duy nhất một dãy phòng học đứng chơ vơ trong nắng chiều hiu hắt. Ngôi trường cấp ba đây ư? Cảm tưởng đầu tiên của tôi là sự thất vọng đến ngỡ ngàng. Một ngôi trường hoàn toàn khác với hình dung của cô sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học thành phố!
Thằng bé đi nhanh và đứng chờ tôi trên đồi. Con dốc đi lên khấp khểnh đầy đá. Nó đập cửa một căn nhà nhỏ bên tay phải dãy phòng học có treo cái trống ở bên ngoài:
-Bác Thạch ơi! Có ai hỏi nè…
Tiếng lộc cộc trên nền xi măng và cánh cửa mở rộng. Khuôn mặt nhầu nhĩ của một người đàn ông hiện ra. Khi thấy tôi đang thở, những nét nhăn giãn rộng:
-Cô giáo mới về trường a? Cô giáo ngồi nghỉ cho đỡ mệt. Hôm nay chủ nhật, ông Hiệu trưởng về nhà, trường không có ai…
Tôi cám ơn thằng bé bằng một cái vuốt tóc. Người đàn ông rót cho tôi chén nước trà nguội ngắt và giới thiệu:
-Tôi là Thạch, bảo vệ trường kiêm đánh trống. Tôi sẽ đưa cô xuống nhà tập thể của giáo viên bên dưới.
Lại phải kéo lê cái va li xuống chân đồi. Ông Thạch tỏ ý muốn xách giùm nhưng tôi cản lại vì nhận ra bên trái của ông là một cái chân giả. Và âm thanh lộc cộc phát ra từ đây mỗi khi ông di chuyển.
Nhà tập thể nằm dưới đồi phía bên tay trái mà khi đi lên tôi đã sơ ý không nhận ra. Nó gồm ba gian cũ kỹ và tàn tạ như ngôi trường. Ông Thạch đưa tôi vào gian cuối và gọi:- Cô Hoài ơi, cô Hoài…
Ấn tượng đầu tiên của tôi về chị Hoài là một gương mặt tai tái dấu tích của căn bệnh sốt rét kinh niên. Mớ tóc xác xơ như khẳng định thêm điều này, hai cái kẹp ba lá tuột dài trên mái. Không cần ông Thạnh giải thích, chị hiểu ngay và đón tiếp tôi bằng giọng của người miền ngoài:
-Lính mới phải không ? Vào đây, vào đây em…
Một căn phòng nhỏ khoảng hai mươi mét vuông với hai chiếc giường cá nhân song song, ở giữa là cái bàn học sinh chắc giành cho việc soạn bài. Bên trong bức màn con công đã cũ che ngang thấp thoáng mấy cái áo trên móc. Chị đặt cái va li của tôi ở cuối chiếc giường:
-Đây là giường cô Nhung dạy Sinh nhưng cô ấy đã chuyển về Nha Trang. Bây giờ nó sẽ là giường của em.
Nhiệt tình của chị làm cho tôi cảm thấy an lòng dù đang ngổn ngang trăm mối. Chị múc nước từ trong chiếc xô sắt cho tôi rửa bụi đường. Sau này tôi mới biết để có một xô nước sạch chúng tôi phải đi xa gần ba trăm mét.
Qua lời chị Hoài, tôi được biết căn phòng đầu tiên là của ông Hiệu trưởng tên Xuân người Phú Yên tập kết ra Bắc từ năm 54, cuối tuần hay về làng ở bên An Ninh; phòng bên cạnh của ông Quyền dạy Toán quê đâu tận trên Tây Bắc. Ông là giáo viên chi viện cho miền Nam. Ông vào đây đem theo một thằng con bảy tuổi, mặt ngơ ngác khờ khạo. Và phòng còn lại là của chúng tôi. Một số giáo viên nam khác đựơc bố trí ở tạm nhà dân, những ngôi nhà tôn hoặc tranh tre nứa lá nép dưới những ngọn đồi trọc xơ xác tiêu điều.
Tối hôm ấy chị Hoài mời tôi ăn cơm với cá nục kho và một đĩa rau lang luộc. Cơm được trộn thêm nắm mì sợi. Chúng tôi ăn tối trong ánh đèn tù mù, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu vang ngoài đồng. Ông Thạch đem xuống cho tôi ba khúc sắn luộc. Nhìn chân ông tập tễnh đi lên ngọn đồi, tôi hỏi nhỏ chị Hoài:
-Ông này là bộ đội phục viên hả chị?
Chị Hoài cười phá lên:- Lính ngụy trăm phần trăm đấy.
Tôi thiếp ngủ trong tiếng hát của chị: “Đi chiến trường gùi trên vai nặng trĩu, đàn Ta Lư em cất tiếng vang lừng mừng thắng trận quê em… Tính tính tính tính tang tang tình…”
***
Đời giáo viên giúp tôi hiểu thêm về ngôi trường và đồng nghiệp. Đây là trường cấp ba đầu tiên của huyện được mở sau 1975. Trước đây, học sinh phải vào tận Tuy Hòa. Trường vẻn vẹn bảy lớp chia làm hai ca. Buổi sáng, một lớp 12 loe ngoe hai mươi mấy em và hai lớp 11; chiều có bốn lớp 10. Huyện Tuy An là một vùng bán sơn địa của tỉnh Phú Yên. Học sinh từ các xã An Hòa, An Dân, An Hiệp trở ra; Ngân Sơn, Chí Thạnh vào; La Hai, An Chấn, An Định xuống… Gần thì đi xe đạp, xa phải ở trọ trong các nhà dân, cuối tuần về nhà cơm đùm gạo bới.
Trường nguyên là ủy ban xã của chế độ cũ. Ngoài bốn phòng học, căn nhà liền kề được ngăn ra làm ba với một phần là kho sách, một phần chứa các thiết bị trường học, phần còn lại là phòng nghỉ của giáo viên giữa giờ lên lớp, vừa là phòng hội họp, lại vừa là nơi ở tạm thời của ông Thạch. Dấu tích những viên đạn còn chi chit trên tường. Giáo viên chỉ mười hai mạng chia làm hai tổ tự nhiên và xã hội. Một cô giáo trước tôi đã bỏ trường vì không chịu nổi gian khổ. Chị Hoài là người nữ duy nhất bám trụ từ ngày lập trường.
Chị Hoài người Hà Tĩnh, quê bên dòng sông Ngàn Phố, hết lớp 10 tình nguyện đi Thanh niên xung phong từ sau Tết Mậu Thân. Đất nước thống nhất, về quê thì mẹ đã mất, anh trai có gia đình, chị học tiếp mấy tháng theo chế độ ưu đãi người có công rồi được phân bổ vào Nam. Chị làm Bí thư Đoàn trường và giảng dạy môn Chính trị.
Những năm tháng chiến trường đã tạo cho chị một tính cách mạnh bạo. Nói to, lời lẽ bỗ bã, xốc vác trong công việc. Đã hai mùa hè, chị tình nguyện ở lại giữ trường; xin một đám đất hoang trồng sắn, khoai; dẫn học trò đi lao động luôn vượt chỉ tiêu…
Ông Quyền sống khép kín với căn phòng ít khi mở rộng cửa. Cánh cửa sổ nhỏ xíu làm gian nhà đắm trong thứ ánh sáng lờ mờ. Hai cha con ăn số lương thực tiêu chuẩn ít ỏi mỗi tháng. Thi thoảng chị Hoài lại dúi cho thằng bé củ khoai, mẩu sắn. Thằng bé sợ bố như sợ cọp, không bạn bè, sống lủi thủi nhìn thấy thương.
Nhân vật thứ ba nữa là ông Thạch. Qua chị Hoài, tôi mới biết thời trai trẻ ông là lính Địa phương quân của chế độ cũ. Trường Đồi chính là nơi trước đây tiểu đội ông đóng quân bảo vệ xã. Khoảng năm 1970, du kích tấn công, ông bị thương cụt một chân. Ủy ban xã dời ra quận Chí Thạnh, ông ở lại giữ cơ sở vật chất. Sau 75, đây trở thành trường cấp III. Những người dân địa phương thích làm ruộng, không ai muốn làm chức phu trường. Ông Thạch nghe nói lại có bà con xa với Hiệu trưởng. Và đó là những nguyện nhân khiến ông được nhận làm hợp đồng tại trường. Ông Thạch không vợ con, ngày trực trống, đêm bảo vệ, ngủ trên cái ghế bố -dấu tích thời còn đi “lính ngụy”- đặt tạm bợ trong kho sách. Thỉnh thoảng mua được miếng “ thịt tiêu chuẩn”, ông kho mặn ăn dài ngày. Ông không xấu nhưng nhìn dáng đi tội nghiệp ấy tôi cứ liên tưởng đến nhân vật Quasimodo trong tiểu thuyết của Victor Hugo . Chị Hoài hay nói “Tay du kích nào đó bắn dở. Gặp tao có khi lão Thạch đã bể gáo”. Có lẽ cái mặc cảm “lính ngụy” khiến ông ít nói trước sự tếu táo ồn ào của chị Hoài. Ông Xuân Hiệu trưởng tương đối dễ chịu; thầy Khiêm dạy Sử Địa, thầy Túy dạy Lý Hóa, thầy Yên dạy Thể dục sống nhờ trong các xóm. Chúng tôi chỉ gặp nhau khi trùng giờ lên lớp, khi dắt học trò đi lao động, khi họp hội đồng trong đêm bên ngọn đèn dầu được vặn bấc lớn, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, khói đen nghi ngút. Cuộc sống đều đặn, nhàn nhạt, lâu lâu lóe lên một điểm sáng phố phường khi được về Nha Trang công tác hoặc học chính trị ở Tuy Hòa.
Nếu không có chị Hoài, có thể tôi sẽ bỏ nhiệm sở như cô Nhung. Thôn có tên Phú Tân nhưng chẳng Phú cũng chẳng Tân. Trường cách quốc lộ I khoảng tám trăm mét. Đứng trên đỉnh đồi không một bóng cây có thể nhìn thấy những chuyến xe chạy trên đường càng khơi gợi nỗi nhớ nhà. Mùa Nam cồ , những cơn gió cuồn cuộn như lốc xoáy cuốn cát bụi vào phòng học. Và cái đầm Ô Loan với lời ca ngợi của ông Trưởng phòng Tổ chức cũng chắng có chút thơ mộng nào. Nó chỉ đẹp qua ca dao khi ngắm từ trên con đèo Quán Cau: “ Lẻ loi như cụm núi Sầm. Thản nhiên như mặt nước đầm Ô Loan”. Tôi và chị Hoài đã nắm tay nhau đi dọc theo con đường dẫn xuống đầm. Hai bên bờ, heo được thả từng đàn , thấy người thoải mái giương mắt nhìn. Mùa hạ, những con bọ chét tha hồ cắn nát người tôi. Chị Hoài bảo “tại máu em ngọt”. Chúng tôi cũng chưa hề được nếm con sò huyết nào như lời ông Trưởng phòng Tổ chức.
Nói cho công bằng, ở đây tôi cũng có những niềm vui nho nhỏ. Đó là khi được chị Hoài mượn xe đạp chở ra đập Hải Yến dầm mình trong làn nước mát, khi theo học trò lên An Định mùa làm mía được phụ huynh mời uống nước chè hai ngọt ngào, khi ra Ngân Sơn ăn sắn nước Phường Lụa và hiểu tại sao nhà văn Võ Hồng có những câu văn đẹp về quê hương ông. Thôn Ngân Sơn được bao bọc bởi những rặng tre xanh ngắt. Phải chi trường được dời ra khoảng mươi cây số thì hay biết bao nhiêu!
Chị Hoài có một cuốn sổ tay đã sờn bìa. Cuốn sổ xã nhà tặng buổi lên đường vào Nam chiến đấu được chị ấp iu đặt dưới gối.Trang đầu tiên có vẽ hình đôi chim câu tung cánh bay vào trời xanh. Trong cuốn sổ chị viết những bài thơ hào hùng của Tố Hữu như Ta đi tới, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Bài ca mùa Xuân 61…; những bài hát như Cô gái vót chông, Tiếng đàn Ta Lư, Chiếc gậy Trường Sơn…Trong các buổi văn nghệ, hội họp, lao động bao giờ chị cũng khuấy động không khí bằng thứ âm thanh cao vút. Những bài hát giúp tôi nhận ra chị từ xa, những bài hát xua tan thứ không khí ẩm mốc của mùa đông, những bài hát có tác dụng giúp học sinh vượt năng suất…
Ba năm sau hòa bình chưa kịp giúp chị Hoài phục hồi sức lực. Thân hình chị như đài khí tượng thông báo thời tiết khi chuyển mùa. Có những buổi sáng trời nóng nhưng chị run rẩy trong chăn. Có khi đang dạy chị lảo đảo và học trò phải dìu xuống khu tập thể. Thế nhưng ngày mai, chị lại xông xáo, lại đề ra kế hoạch thi đua, lại cất tiếng hát “Cuộc đời vẫn đẹp sao…”
Một điều chắc chắn là chị Hoài không có người yêu. Một năm nhận thưa thớt vài bức thư có nét chữ to cộ của ông anh ở quê. Chị đang ở vào lớp tuổi trẻ đang qua già sắp tới. Tuổi xuân của chị đã trôi trên những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn. Có một ông đồng hương đóng quân ở Sông Cầu thi thoảng ghé chơi nhưng thấy hai người chỉ “mày tao chi tớ” như những người bạn đồng phái.Thú vui của chị là nghêu ngao những bài ca hào hùng một thuở thanh niên.
Những đêm khuya nhìn bóng chị Hoài hắt trên tường tôi cảm nhận một nỗi buồn đến nao lòng. Hết soạn bài, chấm bài thì lôi mớ len cũ ra đan cho đứa cháu nhỏ ở xa. Hình như chị cũng chẳng thuận thảo mấy với người chị dâu để háo hức về nhà dịp hè, dịp tết. Có khi nào nỗi buồn cũng là một thứ gia vị cho người ta nhấm nháp?
Khu tập thể không có giếng. Muốn lấy nước sinh hoạt chúng tôi phải đi lên cái giếng của bệnh viện cũ cách đó khoảng ba trăm mét. Để khỏi mất công, chúng tôi thường ôm áo quần lên tắm giặt vào ban đêm và băng qua khu vườn hẹp của ông Hoàn. Ông này góa vợ, có ba đứa con trai lộc ngộc hay cãi nhau ỏm tỏi. Ông Quyền có lần nửa đùa nửa thật định làm mối ông Hoàn cho chị Hoài nhưng chị quay ngoắt: “Có mà hâm. Tôi chưa điên!”.
Chị Hoài hay mắng tôi với thứ tình “tiểu tư sản” khi thấy tôi vui buồn bên lá thư vừa nhận được của người yêu. Chị ném cho tôi cuốn Ruồi trâu, cuốn Thép đã tôi thế đấy bảo: “Đọc đi, đọc đi. Lãng mạn cho lắm vào”. Có lần tôi cáu tiết bảo: “Chị thì có ai yêu mà biết lãng mạn!”. Nói xong cảm thấy ân hận ngay vì sự độc ác của mình. Nhưng chị Hoài như thản nhiên và lại tất tả với “kế hoạch, chỉ tiêu” của nhà trường.
Cứ thế, cuộc sống của tôi trôi qua bên cái dáng đi khổ sở của ông Thạch, sự năng nổ của chị Hoài, sự cần cù chịu khó của những đứa học trò quê hiền lành chân chất…
Một đêm đang mơ màng, tôi sực tỉnh dậy vì tiếng ú ớ phát ra từ chiếc giường chị Hoài. Tôi tốc cái màn bộ đội lên, khuôn mặt nhăn nhúm thảm hại, mớ tóc nhễ nhại mồ hôi hiện ra. Chị bíu chặt tay tôi, rên khe khẻ, người trằn lên đau đớn. Cuối tuần, Hiệu trưởng Xuân đã về nhà, phòng ông Quyền phát ra tiếng ngáy như kéo bể, tôi cầm đèn pin chạy lên đồi gọi ông Thạch.
Chiếc chân gỗ vội vã theo tôi xuống đồi. Ông bảo tôi đỡ chị Hoài tựa vào gối, kéo áo chị lên, đưa cho tôi đồng bạc trắng hoa xòe bảo cạo gió. Dưới ánh đèn tù mù, cả hai bàng hoàng nhận ra một vết sẹo lớn vắt chéo tấm lưng trần. Như sốt ruột trước những cử chỉ chậm chạp của tôi, ông Thạch giật lấy đồng bạc cạo mạnh, những vạch màu đỏ chạy dài trên da. Ông Thạch bảo tôi nấu một nồi nước lớn rồi lộc cộc đi vào bóng tối. Mười phút sau ông trở về với một ôm lá tre, lá sả. Chị Hoài như khỏe ra sau nồi nước xông. Chị nằm thiêm thiếp . Ông Thạch nói nhẹ: “Tốt rồi” và lặng lẽ đi lên. Suốt cả tuần, ông đi kiếm những lá thuốc Nam dặn tôi nấu cho chị Hoài uống.
Sau này khi đã bình phục, chị Hoài cứ chất vấn tôi sao lại để tay “lính ngụy”cạo gió, rằng hắn ta đã thấy cái sẹo của chị chưa. Chị cũng cho biết đó là vết thương sau trận bom B52 khi làm đường ở Đường 9 Nam Lào.
Cuối năm học, Hiệu trưởng Xuân về hưu. Hiệu trưởng mới tên Nghĩa từ Phòng Giáo dục huyện chuyển về. Việc đầu tiên của ông ta là cắt hợp đồng với ông Thạch vì “ Lý lịch không trong sáng”. Ông Thạch có một tuần để thu xếp trước khi nghỉ việc.
Có lẽ như tiên đoán được sự việc, ông Thạch không có gì ngạc nhiên. Ông vẫn lê cái chân tập tễnh lên xuống ngọn đồi trọc, vẫn đánh những hồi trống cuối cùng của năm học. Tôi cũng thấy lòng hơi áy náy nhưng một mùa hè rực rỡ đang hiện ra trước mắt. Tôi sẽ gặp người yêu, sẽ lại thấy ánh sáng văn minh của phố thị. Tôi nghĩ ông Thạch là một người tốt nhưng mình cũng chẳng giải quyết được gì.
Chị Hoài có vẻ ray rứt. Mùa hè này chị tiếp tục xung phong ở lại quản lý trường. Trước hôm tôi về thành phố , chị rụt rè đề nghị anh em giáo viên mở một cuộc liên hoan và cũng để chia tay ông Thạch. Tốt thôi. Sống ở đời cần có cái tình!
Vậy là chúng tôi gom hết số tem phiếu, chực chờ để mua được các suất “thịt tươi” ở cửa hàng tận ngoài Chí Thạnh. Tôi xin học trò một quả đu đủ xanh làm gỏi. Chị Hoài lúi húi băm thịt làm món chả giò. Anh chàng Khiêm chịu khó quạt than… Mùi thơm bay lên ngào ngạt trong khu tập thể.
Đêm ấy lại có trăng. Trăng mười hai chưa tròn nhưng đủ gieo xuống trần gian thứ ánh sáng nên thơ, quyến rủ. Thầy Túy dạy Lý ôm chiếc đàn guitar độc tấu những bản nhạc cổ điển dịu dàng. Thầy Yên đi vào xóm kiếm đâu ra can rượu trắng. Ông Quyền cũng tươi tỉnh hẳn ra, chắc ông vui vì sắp về với người vợ vùng cao Tây Bắc. Chúng tôi ngồi quanh chiếc chiếu trải rộng giữa sân trường. Ngọn gió Nam mái hiu hiu. Chia tay năm học, chia tay ông Thạch và tạm chia tay chị Hoài. Ngày mai người xuôi Nam, kẻ ngược Bắc…
Ông Thạch có vẻ cảm động nhưng không nói được gì nhiều. Những ly rượu nhỏ chuyền tay nhau. Tôi cũng ráng uống cạn ly. Mùi rượu thơm ngây ngất, nồng nàn. Chưa bao giờ tôi thấy đồng nghiệp mình dễ thương đến thế. Bây giờ tôi mới biết tửu lượng chị Hoài rất cao. Những ly rượu được chị dốc cạn. Chị còn chê rượu có pha củ mỳ nên vị hơi khê. Chị bảo chị có nghề nấu rượu gia truyền. Có dịp nào đó chị sẽ trổ tài. Chúng tôi chúc ông Thạch ba ngày còn lại vui vẻ, chúng tôi hạch hỏi chị Hoài về chuyện tình trước khi vào quân ngũ, chúng tôi nài nỉ anh chàng Khiêm tán cô bán hàng thương nghiệp huyện để giáo viên có suất mua ưu tiên…
Trăng lên giữa đỉnh trời cuộc vui mới giải tán. Và trưa hôm sau, khi đã ngồi yên vị trên chuyến tàu vào Nam tôi mới nhớ ra tối hôm qua, trong buổi liên hoan, lần đầu tiên chị Hoài không hát bài “ Cuộc đời vẫn đẹp sao…”

*

Hai tháng trời trôi nhanh như chớp mắt. Tháng Tám, tôi trở lại trường với niềm vui. Ông chú chồng tương lai hứa sẽ thu xếp cho tôi một chỗ dạy ở thành phố trong năm tới. Tôi không quên mua quà cho chị Hoài là một cái kẹp đồi mồi thay cho cái kẹp ba lá quê mùa.
Chị Hoài đón tôi với một nụ cười nhợt nhạt, làn da vẫn tái xanh. Tôi kêu lên “Chị ốm hả?”. Chị gật đầu “Chị khó ở cả tuần nay”. Bữa cơm chiều hôm ấy có thật nhiều món tôi mang về nhưng chị Hoài chỉ ăn được lưng bát rồi trùm mền nằm. Tôi cố thật nhẹ nhàng cho chị nghỉ ngơi.
Trường đã có bảo vệ mới. Một anh thanh niên khỏe mạnh và bặm trợn phù hợp chức năng nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhớ tới cái vẻ lầm lũi và bước chân lộc cộc của ông Thạch. Không biết ông ấy bây giờ ra sao.
Giáo viên bước vào năm học mới bằng một tuần chính trị ở Tuy Hòa. Chúng tôi vui vì được kéo dài những ngày hè muộn, được rong chơi trên bờ biển, được ăn món bún mắm nổi tiếng ở chợ thị xã…Sau một năm trời gắn bó, chúng tôi cảm thấy gần nhau hơn. Cả bọn ngồi trên chiếc xe Lam chuyện trò rôm rả. Chị Hoài vẫn còn ốm nhưng là Bí thư Đoàn trường, chị không thể bỏ khóa học. Cứ buổi sáng nghe báo cáo, buổi chiều thảo luận, buổi tối kéo nhau đi quán cà phê Vị Thủy giá ba hào. “Cuộc đời vẫn đẹp sao…” dù chị Hoài có những cơn ớn lạnh vào buổi chiều. Dấu ấn chiến tranh vẫn chưa tha chị?
Buổi sáng, tôi ra cái chợ chồm hổm bên đường mua cháo cho chị Hoài. Ông Quyền tay cầm khúc bánh mì đi tới thì thầm vào tai tôi “Cô biết không? Bà Hoài chửa buộm đấy”. Chửa buộm là gì?. Tôi ngơ ngác. Ông Quyền tinh quái đưa cánh tay dứ dứ trước bụng…

Bây giờ thì không giấu ai được rồi. Những cơn nghén làm chị Hoài nôn khan. Cái bụng chị cũng đã lùm lùm sau vạt áo. Chị không hé môi với tôi nửa câu và tôi cũng không dám hỏi điều gì. Những bữa ăn thường bị bỏ dỡ .Tôi chỉ dám yên lặng chăm sóc chị với những hành động nhỏ nhặt. Một ly nước nóng, một trái khế xanh… Mấy tay thầy giáo trẻ cũng không còn ghé chơi. Những cái nhìn tò mò của học sinh và phụ huynh khi đi ngang… Đây chỉ là một vùng đất nhỏ!
Chi bộ Đảng đã có những buổi họp riêng vào buổi tối. Sau những buổi ấy, ông Quyền tránh gặp chị Hoài dù chúng tôi vẫn ở sát nhau. Dáng đi của chị Hoài nặng nề hơn, khuôn mặt lạnh căm. Tay bảo vệ mới tỏ ra nhiều chuyện. Hắn ta thì thào ông Quyền là người phê phán chị Hoài nặng nề nhất :“vi phạm đạo đức Cách mạng, không xứng đáng ở trong hàng ngũ Đảng viên, không là tấm gương sáng cho học sinh…” Hiệu trưởng mới thì cứ khăng khăng buộc chị Hoài nói rõ ai là tác giả của cái bào thai trong bụng chị “để tránh gây hoen ố cho nhà trường”. .. Cuối cùng Chi bộ quyết định một buổi họp Hội Đồng sẽ đưa vấn đề của chị Hoài ra và công bố hình thức kỷ luật.
Nhưng sẽ không bao giờ có buổi họp ấy vì khi tôi vào Nha Trang họp chuyên môn, một buổi sáng tinh mơ chị Hoài đã lẳng lặng bỏ đi …
Mọi người có vẻ nhẹ nhõm với cái kết cục bất ngờ ấy. Hiệu trưởng nói to: “Thiếu chút nửa trường ta mất danh hiệu tiên tiến, công sức phấn đấu của anh em đổ xuống sông xuống bể…”Nhìn nụ cười của ông ta tự dưng tôi ớn lạnh. Cũng kể từ đó cho đến lúc rời trường ,tôi không còn bắt chuyện với ông Quyền nữa
Chị Hoài ra đi để tôi lại với sự trống vắng đến ngỡ ngàng. Tôi tự dằn vặt đã không gần gũi chị hơn. Tại sao chị không bày tỏ với tôi? Nhưng quả thật tôi cũng chẳng biết làm gì…Suy cho cùng tôi chỉ là một cô gái trẻ chưa có kinh nghiệm với cuộc đời. Tôi cũng đặt ra nhiều câu hỏi không biết chị Hoài lỡ dại với ai? Tay bạn trai đồng hương thi thoảng ghé ư?. Có khi nào là ông Thạch trong ba đêm còn ở lại trường? Hay một đêm sáng trăng chị Hoài đi qua vườn ông Hoàn và…? Hoặc là một người nào đó chăng? Chẳng ai giải thích giùm tôi.
Nửa tháng sau Sở bổ sung giáo viên về trường. Không chỉ một mà hai. Chiếc giường cá nhân của chị Hoài được chuyển cho cô giáo mới. Khi lật chiếc chiếu của chị, tôi nhận ra chị Hoài đã bỏ quên cuốn sổ tay cũ kỹ yêu quý. Tôi lật từng trang. Những bài thơ Tố Hữu… những bài hát hào hùng… và trang cuối cùng là bốn câu thơ lỡ dở của Nguyễn Đức Mậu:
Chiến tranh đã tắt từ lâu
Vườn cau trái rụng, giàn trầu héo hon
Nửa đêm gió lạnh trăng mòn
Có người nghe tiếng ru con khóc thầm
Ôi, chị Hoài!!!
Cuối năm học, tôi được thuyên chuyển như lời hứa của ông chú chồng tương lai. Giã từ những kỷ niệm với chị Hoài! Giã từ những cơn Nam mái và Nam cồ! Giã từ ngôi trường cho tôi nỗi buồn nhiều hơn niềm vui!
Sau này tôi nghe trường đã đổi ra thị trấn Chí Thạnh, được xây dựng rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn, tiện nghi hơn và đặc biệt trường đã có tên của vị Tổng Bí thư thứ nhất.
Có hai lần tôi ngồi trên xe hơi đi qua vùng đất ấy. Đầm Ô Loan nhìn xa vẫn đẹp với làn nước trong xanh. Con đèo Quán Cau đựợc san lấp mở đường đã biến thành một con dốc. Và nhìn từ xa, ngôi trường Đồi vẫn chơ vơ qua làn bụi mỏng. Không biết bây giờ nó thuộc cơ quan nào…

***

Năm 2010, vợ chồng tôi quyết định “hấp hôn”bằng một chuyến du lịch Đà Lạt. Thành phố cao nguyên lờ mờ trong màn sương có sức quyến rũ kỳ lạ. Đứng trên những con dốc chúng tôi đắm mình trong vẻ đẹp kỳ ảo của đất trời tháng mười một. Chồng tôi cứ xuýt xoa tiếc mình không phải là họa sỹ để có thể tái tạo bức tranh của thiên nhiên. Thay vì đi quanh phố xá, chúng tôi leo ngọn LangBian, len lỏi vào các buôn làng người Chil ở Lạc Dương, dự một buổi rượu cần còn nguyên vẻ hoang sơ rừng núi…
Chuyến đi làm tôi có cảm tưởng được trẻ lại dăm tuổi. Đến ngày thứ năm, chồng tôi sực nhớ ra nên đi thăm một ông cậu ở vùng đất Đạ Tẻh: Cậu Chương.
Cậu Chương là con nuôi của bà ngoại chồng tôi. Cậu hiền lành, tốt tính chỉ phải tội có quá nhiều con. Nhớ năm đầu tiên về làm dâu đến chúc Tết nhà cậu, tôi phát hoảng vì gần một tiểu đội sắp hàng chờ mừng tuổi. Những năm khó khăn, nhà cậu mợ toàn phải ăn bo bo. Bà ngoại hay nhiếc “Đẻ cho lắm vào!” rồi sau đó lại dúi cho mấy bơ gạo. Năm 1981 cậu mợ quyết bỏ quê đem gia đình đi theo chính sách di dân mở khu kinh tế mới ở phía tây tỉnh Lâm Đồng. Chúng tôi cũng làm kiếp tha hương, chưa hề gặp lại cậu sau ngần ấy năm, chỉ nghe nói đại gia đình cậu bây giờ khá vững vàng. Thôi thì tiện đường ghé thăm và cũng để biết thêm một vùng đất mới.
Từ quốc lộ 20 xe đưa chúng tôi rẽ vào phía tay phải. Con đường càng lúc càng thấp dần. Mùa khô đã trở về nhưng thời tiết vẫn mát lạnh. Trên cùng chuyến xe nhưng chúng tôi lại nghe hành khách nói nhiều giọng khác nhau. Chồng tôi tò mò hỏi thì mới biết huyện tập trung nhiều cư dân từ nhiều tỉnh như Hà Tây, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định…Dấu ấn quê hương thể hiện qua những cái tên như xã Mỹ Đức, Quốc Oai, Triệu Hải, Hương Lâm, An Nhơn…Tôi bồi hồi nhớ đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca Mặt đường khát vọng nói về tình quê của cha ông đi mở đất:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân…
Hai đứa con cậu Chương đã chờ sẵn ở bến xe trung tâm của huyện. Nhìn hai cậu thanh niên cao lớn khỏe mạnh với trang phục áo Pull quần Jean đúng mốt, cỡi xe máy tôi không hình dung ra đây là những đứa bé xanh rớt, mũi dãi năm nào.
Cậu mợ đón chúng tôi trước căn nhà rộng được bao bọc bởi những cây điều sai trái. Hai ông bà tóc bạc nhưng khỏe mạnh với nụ cười tươi rói. Vây quanh ông bà bây giờ không phải con cái mà là bầy cháu mười lăm đứa. Những cậu con trai đều được chia đất sống gần gũi chung quanh, chỉ “ới” một tiếng là năm phút sau có mặt đầy đủ.
Bữa ăn tối được bày ra trên hàng hiên.Trăng thanh bình. Gà vườn thịt dai và ngọt, rau sạch xanh mướt trên dĩa, hạt cơm mới thơm phức…. Cậu Chương nâng ly rượu trên tay:
-Uống đi anh chị, uống đi các con…Uống để ôn lại những tháng ngày gian khổ. Đất chẳng phụ người bao giờ.
Ngày đặt chân lên vùng kinh tế mới này, nhìn cảnh đồi núi hoang vu, cỏ tranh bao phủ, cậu Chương không tránh khỏi sự nản lòng. Một số gia đình đã quay về quê cũ hoặc chạy dạt lên Bảo Lộc làm thuê, buôn bán qua ngày. Nhưng nhớ lại lời thề độc ngày bỏ quê, nhìn lại đàn con mười đứa, trong số có sáu thằng, cậu mợ nhất quyết bám trụ.
Vậy rồi ngay lúc còn ăn gạo trợ cấp đầy mọt, mấy cha con đã lo vỡ đồi trồng lương thực ngắn ngày như khoai sắn, vào rừng đốn gỗ cắt tranh lợp nhà, tìm nơi đất trũng cấy lúa… Máu, mồ hôi, nước mắt đã đổ xuống nhưng gia đình cậu đã có cái ăn.
Đất lành chim đậu, vùng đất mới chiêu tụ nhiều gia đình khắp các vùng miền. Người ta cần đất, người ta thèm đất và người ta cải tạo đất để có những khu vườn trù phú, những cánh đồng màu mỡ hôm nay… Đateh trở thành một miền đất nhiều người mơ ước. Một vài căn nhà ở trung tâm huyện đẹp như biệt thự của người thành phố nhưng hỏi ra mới biết chủ nhân của nó là những người chịu khó làm ăn thành đạt. Nhìn những vườn điều, những hàng bơ sai trái, những mẫu cao su mới được đưa vào đầu tư, tôi nghĩ về công lao của những người mở đất. Đứa cháu cả cầm đũa giục chồng tôi:
-Uống đi anh, rượu Đạ tẻh nổi tiếng cả tỉnh Lâm Đồng. Ai về đây cũng kiếm mươi lít mang đi. Không hiểu do gạo, nước hay do người nấu…Chắc là cả ba.
Mợ Chương ngắt lời: “ -Mai xuống bà An kiếm cho anh mày chục lít . Rượu Đạ tẻh ngon nhưng ngon nhất ở đây phải là rượu bà An.Uống đậm mà không đau đầu. Rượu ấy chỉ người quen mới mua được…”
Bữa cơm rộn rã trong niềm vui sum họp của những người tha hương.

*
Tôi theo cháu gái xuống xóm mua “rượu bà An” theo lời dặn của mợ Chương. Qua con dốc, bức tranh đồng quê thanh bình hiện ra trước mắt . Một nếp nhà gỗ xinh xắn nép mình trong vườn cây xanh. Hàng cau thẳng trước nhà gợi nhớ khung cảnh của làng quê xứ Bắc. Đàn gà con lúc thúc theo mẹ bới quanh đống rơm, làn khói bếp nhẹ nhàng lan tỏa…Đứa cháu đẩy nhẹ cánh cổng:
-Bà An ơi! Để cho nhà cháu ít rượu…
Người đàn bà bước ra từ cửa căn nhà ngang, nói to:
-Mới sáng sớm mà đã mua rượu. Bảo bà mày cho ông uống lắm vào rồi hư người đi. Chờ bà chút nhá. Mới ru thằng cháu ngủ cho mẹ nó lên trường…
Giọng nói bỗ bã quen quen đánh thức tiềm thức. Ai thế nhỉ? Người đàn bà nào dáng tất tưởi thế kia. Mái tóc bạc ngẩng đầu lên. Tôi bàng hoàng..Chị Hoài? Đúng là chị Hoài của hơn ba mươi năm trước. Thời gian qua đi nhưng tôi chưa thể nhầm. Tôi thốt lên : “ -Chị Hoài! Em đây, Thu ngày xưa của chị đây!”
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Ngỡ ngàng. Xúc động. Quả đất tròn nhưng gặp nhau trong khung cảnh như thế này thì thật là điều khó tưởng tương. Chị Hoài nắm chặt tay tôi:
-Chị cũng không ngờ …Chị mừng lắm, vui lắm em…
Chị Hoài tíu tít đưa tôi lên nhà trên. Chị ấn tôi ngồi xuống bộ bàn ghế giữa nhà, vội vã pha trà chế nước:
-Chờ chị chút. Chị ra vườn hái ổi cho em ăn!

Căn nhà gọn gàng như thói quen chu tất của chị. Trên tường treo những bức ảnh gia đình. Ảnh chị Hoài mặc áo dài nhung màu xanh, ảnh một cặp vợ chồng ngày cưới, ảnh đứa cháu lẫm chẫm bước đi… Chị Hoài cắt những miếng ổi trắng tươi, hướng theo ánh mắt tôi:
-Chị đấy. Ngày lên lão bảy mươi đấy. Con trai và con dâu kia. Cháu nội đầu lòng đang ngủ. Con dâu mới bầu đứa thứ hai…
Niềm vui ngời sáng trên mặt chị. Tôi hỏi chị:
-Sao tên chị lại là An? Làm em chẳng nhận ra.
Chị cười: “ -Tên thằng cu. Ở đây người ta gọi theo tên con. An là xã An Cư đấy . Em nhớ không?”
Một khoảng lặng giữa hai chị em. Ôi! Những ngày sao tôi muốn quên…
Chị Hoài kể sau những đêm kiểm điểm trong căn phòng trên ngọn đồi heo hút ấy chị đã bỏ đi. Chị không thể về quê vì miệng lưỡi xóm làng, vì gia đình người anh quá nghèo. Chị lang thang ở bến xe Nha Trang hai đêm rồi tình cờ gặp một gia đình Hà Tây đi kinh tế mới, chị đã quyết định theo họ… Tủi thân, cay đắng, đoạn trường nhưng rồi cũng qua…Đôi bàn tay một thuở Trường Sơn đã tưởng được thong thả với ngòi bút viên phấn lại tiếp tục sứt sẹo, chai sần.Thằng An đã sinh ra và lớn lên ở trên quê hương mới.Thời gian như một cái chớp mắt. Năm nay nó đã ba mươi hai tuổi đang làm ngoài thị trấn, con dâu dạy trường Tiểu học gần nhà. Chị vẫn khỏe, ở nhà trông cháu nội. Rảnh rổi lại nấu mẻ rượu cho người quen kiếm thêm thu nhập. Cuộc sống không giàu nhưng an ổn, hạnh phúc. Nhìn mắt chị, tôi hỉểu đây là sự thật.
Chia tay tôi, chị thì thầm: “- Thu biết không, chị không bao giờ ân hận vì những gì đã xảy ra…”
Và tôi cũng chẳng cần hỏi chị về người bố của thằng An. Điều đó quả thật không cần thiết.

Viết ở Trại sáng tác Đateh
Hương Thủy

CHA CHUNG

khuatdau

Chúng tôi, hai mươi bốn đứa vừa trai vừa gái, lần đầu gặp nhau trong ngày giỗ đầu của người được gọi là cha nhưng chưa bao giờ thấy mặt. Chúng tôi đều là những đứa con tư sinh của những người đàn bà không có chồng mà chửa. Không có chồng, nhưng hai mươi bốn bà đều có có cùng một người tình.
Có thể một năm, một tháng, một ngày. Và cũng có thể chỉ trong một vài giờ. Điều bí mật ấy chỉ được sáng tỏ khi một vị luật sư theo sự ủy thác của người tình vĩ đại là cha chúng tôi, phải mất hơn 300 ngày để tìm ra tông tích của từng đứa một. Chúng tôi sống rải rác từ Nam chí Bắc, có nghĩa những hạt giống của cha tôi được rơi vãi khắp nơi: hạt ở tận cao nguyên, hạt ở đồng bằng, hạt ở phố thị phồn hoa, hạt ở miền quê heo hút. Đó là những hạt mầm mạnh khỏe cố sức bám chặt vào hai mươi bốn cái dạ con tăm tối, chờ đúng hai trăm tám mươi ngày để được thấy ánh sáng mặt trời. Còn có biết bao nhiêu hạt giống lép kẹp lặng lẽ rơi tuột thì khó mà ai biết được.
Cuốn sổ nhật ký ghi lại kết quả hai mươi bốn cuộc tình là tài sản chung và duy nhất của cha chúng tôi để lại. Đó là gia bảo và cũng có thể là kinh thánh của hai mươi bốn tông đồ. Mỗi đứa chúng tôi được quyền và có bổn phận gìn giữ trong một năm tùy theo tuổi tác.
Người đầu tiên được vinh dự lật từng trang nhật ký ướt đẫm mùi tình ái ấy gần như gấp đôi tuổi tôi. Đó là một người đàn ông có một cái đầu dài và dẹp, hai thái dương hóp lại như bị kẹp trong một cái ê tô. Cả người anh oằn oẹo, chỗ lồi chỗ lõm như một củ khoai mài bị chèn ép giữa bao nhiêu sỏi đá của núi rừng.
Sau này tôi được biết anh ấy có một hình dáng dị kỳ như vậy, vì mẹ anh phải nịt chặt bụng để giấu cái thai không mong đợi ấy. Suýt chút nữa tôi cũng bị như vậy! Và chẳng riêng gì tôi, hai mươi mấy đứa kia cũng sẽ trở thành những củ khoai mài, nếu mgười mẹ tội nghiệp của họ cứ phải dùng một tấm vải dài, một đầu buột vào cây cột nhà, một đầu quấn vào mình, nín thở để giữ cho cái bụng khỏi phình to ra.
Nhưng để cho những hạt mầm lớn lên một cách bình thường, mẹ tôi và nhiều bà khác nữa đã phải đội trên đầu một tảng đá ô nhục. Tảng đá của gia tộc và của cả xóm làng: chửa hoang! Trong khi đó, cha chúng tôi cứ như một hoàng tử cỡi một con ngựa trắng thoải mái rong chơi trên những con đường rải đầy hoa tình ái.
Chúng tôi là những đứa con của tội lỗi, mặc dù các bà mẹ chúng tôi trước khi sinh đều là những người con gái hoàn toàn trinh trắng. Nếu có thể ví von, thì đó là những đóa hoa quỳnh lặng nở giữa đêm khuya. Không có một con ong cái bướm nào lượn lờ, nhưng có một tao nhân âm thầm đang ngồi đợi. Giữa lúc những cánh hoa nuột nà e ấp nở ra dưới trời đêm tinh khiết, thì người mặc khách nọ đã thò tay ra bẻ lấy. Đóa hoa thảng thốt kêu lên một tiếng trước khi chảy dài những giọt lệ thầm.
Các bà mẹ chúng tôi đã sống những ngày dài đầy tủi nhục. Nếu không bị cha dùng gậy quất túi bụi lên lưng, thì cũng bị mẹ lôi xệch vào buồng riêng mà cấu véo vào hai bắp vế non cho đến khi tươm máu. Ngày xưa còn bị cạo đầu bôi vôi dẫn đi bêu rếu khắp làng sau khi đã phải nằm úp bụng lên một cái lỗ để cho tráng đinh nện xuống hàng chục hèo.
Trong bọn anh chị em chúng tôi còn có đứa câm, đứa ngọng, đứa mắt lác, đứa sứt môi. Dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu đó là chén đắng đầu đời mà những đứa con vừa mới thành hình trong bụng mẹ phải uống lấy. Chúng đã phải vật vã chống chọi với những thứ giết người mà người ta muốn tộng vào để tống chúng ra ngoài. Chúng phải khốn đốn như thế vì người ta tin rằng đó là nghiệp báo oan gia. Rồi khi bất đắc dĩ phải để chúng sinh ra, người ta liền quẳng chúng đi cho khuất mắt. Vì vậy có đứa bị bỏ vào thùng rác, bỏ bên vệ đường. Khá hơn thì bỏ trước cổng chùa hay trước tu viện của các bà xơ.
Quả thật chúng tôi là đồ bỏ. Dù có may mắn sống trong một gia đình thì chúng tôi cũng chỉ là những đứa con hạng hai, thậm chí hạng ba. Như tôi, có bố mẹ, có em. Nhưng mẹ tôi chưa bao giờ dám coi tôi ngang hàng với những đứa sinh sau. Chưa bao giờ bà âu yếm tôi, lại càng không dám bênh vực tôi dù chỉ một lần trước cơn thịnh nộ của bố. Tôi như cái bớt xấu xí trên khuôn ngực của bà.
Còn với bố tôi (sau này tôi mới biết là bố dượng) thì ông coi tôi như một cái gai muốn nhổ đi mà không cách gì nhổ được. Ông chưa bao giờ đánh tôi, nhưng cái nhìn lạnh lẽo của ông lúc nào cũng làm cho tôi lạnh mình. Dưới mắt ông, tôi là một sự phỉ báng không lời, là cái cười vào mũi mà đi đâu đứng đâu ông cũng nghe thấy. “Sờ sờ ra đấy mà còn lấp lửng nữa à, ông gào lên. Khốn nạn nhất là có một thằng đàn ông không mời mà đến trong nhà này!” Rồi ông trút tất cả nỗi căm hận ấy lên người mẹ tôi trong đêm tối với những trận đấm đá tàn bạo đến nỗi mẹ tôi phải kêu lên: “anh giết tôi đi chứ đừng hành hạ tôi trước mặt các con như thế!”.
Mặc dù trước khi mất ông có xin lỗi mẹ tôi và ngay cả tôi, nhưng suốt mười sáu năm sống bên ông là mười sáu năm của địa ngục. Sự trả thù của một người đàn ông biết rằng mình bị dối lừa bỡi người đàn bà mình yêu là không bao giờ có giới hạn. Mẹ tôi được bố dượng theo đuổi suốt một năm ròng, nhưng lại trao thân cho một người chỉ mới quen nhau có một buổi tối. Và cái cay đắng, cái ô nhục của bố dượng tôi vì vậy mỗi lúc một to dần theo năm tháng. Cứ như ông vớ phải đồ thừa, đồ thải, đã lỡ nuốt vào muốn khạt ra mà khạt không được. Cái làm ông đau nhất là thấy mình thua cuộc, trong khi trước đó ông tưởng mình là người thắng cuộc.
Một người hơn tôi năm tuổi, đẹp nhất trong số hơn mười đứa con gái của cha tôi, sau này trong một lần ghé thăm tôi, chị đã khóc và kể cho tôi nghe cái số phận bi thảm đã được báo trước của chị. Gần 30 tuổi mà chị vẫn chưa dám yêu ai và đương nhiên cũng chưa có chồng. Cái trinh trắng của chị đã bị ông bố dượng cướp mất trong một buổi trưa hè, lúc chị mười bốn tuổi. Ông ta bảo, ông ta lấy lại cái lẽ ra ông ta được hưởng nếu không bị cha chúng tôi phổng tay trên. Mẹ làm mất thì con phải đền! Đó là cách phán xử mà ông ta gọi là lẽ công bằng! Không biết trong cuộc rong chơi trên cõi đời ngắn ngủi này, có khi nào cha tôi giật mình nghĩ tới số phận hẩm hiu của những đứa con không mong đợi ấy?
Hai mươi bốn đứa con, già nhất trên 40, trẻ nhất trên 20 tụ tập trong một sảnh lớn của khách sạn cha tôi thường trú. Cứ như một bộ sưu tập ngộ nghĩnh của một tay suốt đời ưa xê dịch. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn thấy nhau lần đầu. Không một đứa nào có thể tin rằng mình lại có một số anh chị em đông đến như vậy. Một bức ảnh chụp người cha chung lúc ông phong độ nhất, trông đĩnh đạc đường bệ cứ như chân dung của tổng thống hay thủ tướng. Cả bọn nhìn bức ảnh đăm đăm, bốn mươi tám con mắt cố lục tìm trên đó chút gì là của chính mình. Hơn một chục cái đầu gục gặc khi tìm thấy cái sống mũi cao cao. Một phần ba tin rằng mình giống cái miệng với hai cánh môi dày đã từng hôn ít nhất hai mươi bốn cái miệng đàn bà. Hơn một nửa, trong đó có tôi, tìm thấy trong đôi mắt đen thẳm sáng ngời kia có hình bóng của đôi mắt mình. Đôi mắt mà mẹ tôi sững sờ xao xuyến khi nhìn tôi và bố dượng tôi thì mắng là trai lơ, đĩ đực.
Ông hiện diện trước chúng tôi cứ như Chúa xuất hiện trước nhân dân trong một bức tranh thần thánh. Ông quá đỗi xa cách, không riêng gì khoảng cách thời gian mà chính là vì cái ý nghĩ kinh hoàng rằng, một người với hai mươi bốn bà vợ như thế, nếu sống cùng nhau chắc phải xây cả một ngôi nhà năm tầng như cái khách sạn này. Và mỗi bà theo thứ tự trước sau đánh số phòng từ 1 đến 24. Rồi trong những căn phòng đóng kín ấy, đêm đêm bốn mươi tám cái tai vểnh lên nghe ngóng và hồi hộp chờ đợi từng tiếng động. Tiếng bước chân gõ trên cầu thang, tiếng gõ nhịp của đồng hồ, sau cùng là tiếng gõ cữa khẽ thôi nhưng người bên trong nghe như gõ vào tim, vì sau đó là người đàn ông quyền lực bước vào như hoàng đế Trung Hoa để ban ơn mưa móc.
Vị luật sư thay mặt anh cả vì tiếng nói của anh từ lâu đã bị cái giải buột bụng làm cho méo mó ngọng nghịu khó nghe, tuyên bố chúng tôi là anh em cùng một cha chung, dĩ nhiên là khác mẹ. Sau buổi họp mặt kỳ lạ này, ông sẽ tiến hành làm các thủ tục để ghi tên cha vào khai sinh của chúng tôi, tất cả đều mang họ Trần. Ông cũng cho chúng tôi biết cái điều lo sợ duy nhất và cuối cùng của cha chúng tôi, là nếu không nhận ra nhau có thể lấy nhau. Có lẽ vì vậy mà ông đã âm thầm tìm hiểu chúng tôi từ lúc mới sinh ra: ngày tháng năm sinh, nơi sinh, cập nhật địa chỉ từng đứa, để đến lúc biết mình không thể sống lâu hơn được nữa vì bệnh ung thư, ông trao tất cả cho vị luật sư tín cẩn thay ông làm cái công việc thu nhặt từng đứa con rơi rớt của ông về cùng một mối.
Đám giỗ đầu của ông không có nhang đèn, không vàng mã, chỉ có hai mươi bốn đóa hoa hồng được nhân viên lễ tân khách sạn mang tới phát cho mỗi đứa một bông. Lần lượt chúng tôi lên cắm vào chiếc độc bình đặt trên bàn phủ khăn đỏ như các vị quan khách bỏ phong bì vào thùng cứu trợ bão lụt. Cũng có thể là bỏ phiếu công nhận ông là cha chung. Mùi hoa hồng ngọt ngào quyến rủ thay cho nhang trầm khiến cho linh hồn ông ở một cõi trời nào đó hẳn phải bồi hồi xúc động. Vị luật sự mỉm cười giải thích với chúng tôi rằng, suốt đời cha chúng tôi chỉ yêu mỗi hoa hồng và tuy không nói ra, nhưng trong cái cười ý nhị của ông ngụ ý rằng cha chúng tôi đã từng yêu xiết bao hai mươi bốn cánh hoa ngát hương trinh đã từng nở cánh đầu để cho con ong là ông sớm tỏ đường đi lối về.
Sau những phút đầu hơi ngỡ ngàng, chúng tôi bắt đầu nghĩ về ông một cách thân thiết. Chúng tôi cố hình dung ra những năm tháng tươi vui của ông và chúng tôi tuy có hơi chua xót nhưng cũng kịp nhận ra rằng, ông cũng đã đối xử chúng tôi không đến nỗi quá tệ. Dù sao ông cũng hơn những người chủ vô danh của những ống tinh trùng trong các phòng lạnh để dành cho những kẻ hiếm muộn hay những người đàn bà muốn có con mà không có chồng. Ông vẫn chịu trách nhiệm việc mình làm, dù rằng cái phần ông gánh chịu ấy quá bé nhỏ so với hậu quả ông để lại cho các bà.
Nỗi mong ước có một người cha như bao đứa trẻ khác trên đời này khiến cho cổ chúng tôi đứa nào cũng dài ra vì chờ đợi. Từ nay, chúng tôi không còn phải xấu hổ vì hai chữ vô danh ghi trong cột tên họ người cha, nhưng chúng tôi cũng hụt hẫng vì ngần ấy là quá ít đối với một đứa con. Chúng tôi không nói tới nhà cửa tiền bạc, nếu có cũng chỉ là những bù sớt muộn màng cho những nỗi chịu đựng của các bà mẹ trong lúc tuổi già. Chúng tôi muốn nói tới sự chông chênh như đi xiếc trên dây trong suốt thời thơ ấu. Chúng tôi đã trơ trọi và lo sợ xiết bao khi phải đi trên một sợi dây chăng qua những thác ghềnh, mà đầu bên kia co người đang đứng lắc. Chúng tôi thèm biết mấy hình ảnh đứa bé một tay trong tay cha, một tay trong tay mẹ bước đi núng nính trên những con phố đông vui chiều chủ nhật. Rồi trong quán kem, mẹ thì đưa muổng lên tận miệng, còn cha thì chực hờ chiếc khăn để lau. Chỉ cần ngã một chút là đã có bốn cánh tay vội vàng nâng đỡ. Chỉ cần khóc một tiếng là đã có hai cái miệng ngon ngọt dỗ dành. Chúng tôi không có gì cả. Chúng tôi tròn vo cứ như một viên bi thả trên đầu một con dốc, muốn lăn tới đâu thì lăn.
Cuộc họp mặt kết thúc bằng một bữa tiệc khá thịnh soạn. Có những món ăn vương giả mà lần đầu tiên chúng tôi được thưởng thức. Như món yến chưng đường phèn, nhiều đứa ngơ ngẩn chẳng biết ăn ra làm sao. Chỉ mới đưa lên miệng nó đã chạy tuột vào cổ họng lúc nào không biết. Vị luật sư còn cho chúng tôi biết, mỗi năm cứ đến ngày giỗ là sẽ có người lo tàu xe để anh chị em chúng tôi đến đây gặp nhau. Tôi không biết sự sắp đặt ấy là do chút tình phụ tử hay sự ân hận muộn màng của của một người đàn ông đã có cuộc sống vượt ra khỏi lề thói thường tình.
Cho đến cuối đời, trên danh nghĩa cha tôi vẫn là người độc thân. Ông không có một ngôi nhà đúng nghĩa, một gia đình trọn vẹn. Ông là nhà thầu lục lộ và trên suốt con đường nối liền ba miền, những nơi ông dừng chân là nơi ông trúng thầu. Tại đó, ông đã làm quen, đã yêu một hay nhiều cô gái trẻ. Và khi công trình cắt băng khánh thành, thì cũng là lúc ông cắt bỏ một cách lạnh lùng những sợi dây tình ái. Ông để lại những đoạn đường, những cây cầu và những đứa con như những cột mốc cây số.
Sau bữa tiệc ngon miệng, chúng tôi chụp hình kỷ niệm. Chụp chung một tấm hai hàng nhỏ trước lớn sau. Rồi chụp riêng những chị em gái và những anh em trai. Từ đây chúng tôi phải cố nhớ mặt nhau, để chẳng những chúng tôi mà con cháu không được lấy nhau vì có thể sẽ sinh ra những đứa trẻ có cái đuôi heo.
Phải chi có một ngôi mộ thì bức ảnh của chúng tôi không cần giải thích, ai cũng biết là con của một cha, dù rằng có hơi quá nhiều. Đằng này, nó lạnh lẽo và nghiêm trang quá cứ như một chính phủ vừa mới thành lập đứng chụp chung dưới chân dung lãnh tụ. Vị luật sư cho chúng tôi biết xác của ông đã được hỏa táng và tro đã được rải xuống biển. Tại sao ông không để lại một nấm mồ? Phải chăng ông sợ hai mươi bốn bà lúc này đã không còn trẻ trung gì nữa tới kêu gào đòi lại cái phần trinh trắng?
Sống như ông và chết như ông, quả thật anh em chúng tôi khó mà bắt chước được. Nhưng thôi, mỗi người tùy theo hoàn cảnh có cách sống riêng của mình. Là con, chúng tôi không có quyền phê phán. Chỉ biết rằng, trên đời này nếu không có một người đàn ông như thế thì đã không có chúng tôi.
Dù sao cũng xin cảm ơn ông, cảm ơn cuộc đời.

KHUẤT ĐẨU

1990

KHÚC GIAO MÙA

hoangvancham

Em đã về khi mùa thu trở lại
Bên lở bên bồi vạn dặm một tình xa
Ngót nghét một đường mây tìm nhau nửa bước
Trông chờ mùa hoa nghiêng bóng cùng ta.

Tháng bảy! Ta chạm một bờ Thu thắp nắng
Yêu giọt mưa ngâu qua phố ngọt bùi nhau
Xuôi bóng đời chợt nghe mình rất lạ
Phải chi môi em chưa ráo
….. cơn mộng… về mau!

Nhìn mùa lá rơi ta ngỡ như lạc bước
Chéo áo tung bay em vội tan trong giấc mơ
Giọt sương chợt như
…….dại khờ vỡ tan trên phiến lá
Em vén màn đêm ta về giữa ngu ngơ

Ta muốn chạm vào mùa Thu
em thật khẽ
Thôi nhói đau! Sợ úa lá thu rơi
Nghiêng mãi Thu ngóng chờ nhân ảnh
Xin chùng xuống đời nhau nỗi nhớ đầy vơi…

Lửa cháy bờ môi hương em như cỏ lạ
Thì thầm nghe tình bay khua động cơn mơ
Khúc dạo đầu như rung dài từng nốt nhạc
Lắng nghe Thu
cất giọng đêm
gửi hết tóc tơ.

Hoàng Chẩm

Quảng Trị vào thu
07- 2016

Tôi Muốn

suongnguyen

Tôi muốn du hồn ra biển đêm
Muốn ôm nhật nguyệt giữa tay mềm
Hoà chung mật đắng vào men rượu
Quyện chốn nhân gian với thác ghềnh

Tôi muốn đừng ai đến khóc than
Đừng chôn tôi với ánh trăng vàng
Đừng nhìn tôi giữa hai hàng nến
Đừng để hồn tôi theo gió tan

Tôi ngước nhìn lên trời bạt ngàn
Hồn xanh xao gợn chút hoang mang
Sao nỡ vùi tôi trong huyệt lạnh
Lác đác mùa thu lá rụng vàng

Hồn tôi bay bổng giữa phù vân
Trôi theo bóng sáng những khuya rằm
Tôi cúi nhìn tôi thân xác lạnh
Sương vẫn còn rơi như lệ ngân…

SƯƠNG NGUYỄN

BÀI THÁNG TÁM

reu
Ngày trầm tư vắng gió
Mặt trời bỏ đi hoang
Miên man ôm nỗi nhớ
Nghe mùa hạ dần tàn

Cơn mưa phùn tháng tám
Lặng lẽ gọi mùa thu
Ru giấc buồn lãng mạn
À ơi tình viễn du..

Chập chùng mây bóng núi
Tháng ngày nào xa xôi
Con tim đau, mòn mỏi
Tình yêu.. thôi, nửa vời

Mai về mùa lá rụng
Lấp dần dấu chân nhau
Âm thầm cơn hiu quạnh
Ôi dài lắm mùa sầu

Người giờ nơi phố ấy
Kỷ niệm còn gì không
Em giờ như cỏ dại
Ngậm buồn đợi mùa đông.

Vụ Án Hồ Con Rùa

Unknown-1Screen Shot 2016-08-06 at 11.23.59 PM

Đầu tiên tìm hiểu một chút về lai lịch của Hồ Con Rùa.

Hồ Con Rùa, tên chính thức là Công trường Quốc tế, là tên gọi dân gian của một vòng xoay giao thông có đài phun nước, nối ba đường: Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân, nằm quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Khu vực Hồ Con Rùa hiện nay là một trong những khu vực hoạt động ẩm thực gần như từ sáng đến đêm, với rất nhiều nhà hàng và các quán bar xung quanh.

Lịch sử

Nguyên thủy ban đầu, tại vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, vào năm 1790 là vị trí cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy). Về sau Minh Mạng đổi tên thành cửa Vọng Khuyết. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835) thì vào năm 1837, Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái và xây dựng một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng. Vị trị cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông.

Sau khi người Pháp chiếm được thành Gia Định (là tên chính thức của thành Phụng), họ đã cho san phẳng ngôi thành này vào ngày 8 tháng 3 năm 1859. Sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, người Pháp bắt đầu xây dựng thành phố vào năm 1862. Dựa trên những còn đường có sẵn dọc ngang trong thành Quy cũ, người Pháp đã quy họach khu hành chính của mình. Vị trí Hồ Con Rùa hiện nay nằm ngay vị trí cuối con đường dẫn ra bến sông được đánh số 16. Trên con đường này, dinh Thống đốc đầu tiên được xây dựng vào năm 1863. Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de I’ Intérieur – người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng thơ”), được xây dựng ở phía đối diện dinh Thống đốc. Vào ngày 1 tháng 2 năm 1865, Thống đốc Nam Kỳ, Phó đô đốc Hải quân Pháp Pierre-Paul de la Grandière (1807-1876) đã đặt tên con đường số 16 là đường Catinat.

Vào năm 1878, một tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngay nay để phục vụ nhu cầu cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Từ ngày 24 tháng 2 năm 1897, đoạn đường từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước đổi tên thành đường Blancsubé. Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu cung cấp nước nữa và con đường được mở rộng nối dài đến đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie. Từ đó vị trí này trở thành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre (cắt giao lộ là đường Testard – nay là đường Võ Văn Tần – và đường Larclauze – nay là đường Trần Cao Vân). Tại vị trí này, người Pháp đã cho xây dựng một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của việc người Pháp làm chủ Đông Dương. Do đó, người địa phương ở đây thường gọi nó là công trường ba hình. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956 thì bị người Việt phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.

Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác. Một số tài liệu cho là nó được xây dựng vào năm 1965, vài tài liệu khác thì cho là 1967.

Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùng tu và chỉnh trang trong đó gồm việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng năm bàn tay xòe ra đón đỡ giống như các cánh hoa đón đỡ một nhụy hoa. Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim có đỡ trên lưng bia đá lớn với các dòng chữ ghi công những người đã hy sinh cho chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Do đó mới có tên gọi dân gian là Hồ Con Rùa.

Sau khi xây dựng xong thì ban đầu khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế. Tuy nhiên, vào đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, nhưng người dân vẫn quen gọi là Hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.

Huyền thoại Hồ Con Rùa

Theo các giai thoại truyền miệng, thì vào năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này khen vị trí của dinh là vị trí của long mạch, trấn yểm vị trí của đầu rồng[1]. Con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ, tuy phát hưng vượng, nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền. Vì vậy cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy nữa thì mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài. Theo một số người thì kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh/kim), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng. Một số người khác thì lại cho rằng kiến trúc tháp lại giống hình đuôi rồng vươn cao, nhưng có con rùa đè chặt ở phần đầu ngọn. Số khác thì lại cho là nhìn từ trên cao xuống thì toàn thể kiến trúc trông giống như một con rùa.

Vụ án Hồ Con Rùa

Cũng xuất phát từ quan niệm phong thủy trên, vào năm 1978, một nhóm người phản đối chính quyền Việt Nam thống nhất, cũng mê tín dị đoan, đặt bom phá hủy với mục đích giải thoát cho đuôi rồng để nó phá chính quyền mới. Tuy nhiên, đã bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ và ngăn chặn trong vụ án mang tên “Vụ án Hồ con Rùa”.

Theo thông tin từ các trang báo chính thống của Việt Nam thời bấy giờ loan truyền là như thế nhưng sự thật là gì, sau vụ án Hồ Con Rùa này có những uẩn khúc gì nữa. Và sự thật là ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, Chế Độ Mới Việt Nam đã nghĩ ngay đến kế hoạch triệt hạ tận gốc nền văn học miền Nam.Vì cho rằng đây là một nền văn học thiếu lý tưởng cách mạng, ủy mị, một nền văn học của bọn Ngụy Quân, ngụy quyền. Một nền văn học chỉ mới được xây dựng trong hơn hai mươi năm dưới hai chế độ: Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Hai mươi năm là khoảng thời gian thực sự không dài, nhưng vì được tự do sáng tác, tự do tư tưởng, nên nền văn học miền Nam đã sản sinh ra hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo lừng lẫy với hàng ngàn tác phẩm đầy ắp tư tưởng nhân bản yêu thương với cách hành văn phơi phới, phiêu bồng.

Những người dân miền Bắc vào Sài Gòn thời gian từ 1975-1976 không những choáng ngợp với cảnh phố xá đông đúc, hàng hóa đầy ắp, mà còn bị mê hoặc bởi những khu phố chợ trời bán đầy sách báo cũ, một rừng tiểu thuyết, thi ca, tự điển cũ, sách giáo khoa cũ, truyện tranh thiếu nhi, và rồi còn vô số các loại sách giáo dục dành cho thanh thiếu niên theo từng lứa tuổi như: tủ sách hoa xanh, hoa đỏ, hoa tím. Họ tò mò mua, mang về đọc. Rồi họ say mê những tác phẩm của các nhà văn, thi sĩ miền Nam như Võ Phiến, Hồ Hữu Tường, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Duyên Anh, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Tô thùy Yên, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dzung Sài Gòn… Rất mau chóng chỗ đứng của nhà thơ “vĩ đại nhất” HCM, và nhà thơ “vĩ đại nhì” Tố Hữu trong lòng người dân miền Bắc bị hạ thấp đến thảm hại. Chú bộ đội “bác Hồ” giấu tác phẩm “Cậu Chó” của Lê Xuyên trong đáy ba lô để đêm đêm mang ra đọc lén. Anh công an “nhân dân” nghiền ngẫm mê say truyện gián điệp “Z.28” của Người Thứ Tám. Chị cán bộ quên ăn quên ngủ với cuốn tiểu thuyết diễm tình “Nẽo về tình yêu” của Bà Tùng Long. Người dân miền Bắc quên hẳn những tác phẩm đặt mìn, pháo kích, ném lựu đạn, rèn mã tấu của Đảng. Họ chán ngấy nền văn học khuôn phép một chiều “one way ticket”, nền văn học AK, nón cối, dép râu. Nền văn học gầm gừ được viết theo sự định hướng hay nói một cách rõ ràng hơn là theo đơn đặt hàng của Đảng. Họ thẳng tay quăng “Sống như Anh”, “Người Mẹ Cầm Súng”, “Những mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ chủ tịch’ vào thùng rác một cách không thương tiếc.

Thế thì sau 1975, nền văn học miền Nam đã chiến thắng vẻ vang, đã dìm nền văn học của Chế độ mới xuống hố sâu huyệt lạnh. Đảng điên lên vì tức. Đảng “hạ quyết tâm” phải xóa bỏ tận gốc rễ nền văn học miền Nam. Tháng 9 năm 1975, Đảng hô hào và phát động chiến dịch tận diệt nền “văn hóa đồi trụy”, “văn hóa phản động”.

Hàng ngày, những chiếc loa trong phường, trong xóm ong ỏng kêu gào, hò hét người dân đem nộp những văn hóa phẩm “tàn dư của Mỹ Ngụy”. Học sinh, sinh viên, viên chức nhà nước được học tập về chiến dịch tận diệt văn hóa phẩm phản động. Không khí nô nức lắm, hùng hổ lắm. Vài nhà văn và vài tác phẩm tiêu biểu của văn học miền Nam được Đảng chiếu cố cho vào chưng bày chung với xe tăng, đại pháo ở phòng “Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy”. Trên vô tuyến truyền thanh, ngày nào cũng phát đi lời kêu gọi cấm tàng trữ những văn hóa phẩm độc hại và hình ảnh cò mồi là những buổi đốt sách báo đồi trụy được chiếu đi chiếu lại trên ti vi để đập vào mắt dân Sài Gòn.

Nhưng Đảng đã thất vọng não nề. Càng ra sức tiêu diệt, sách báo cũ của miền Nam càng có giá. Người ta đem giấu, copy lại, truyền tay nhau đọc. Và rồi theo chân những người “chiến thắng”, sách báo “phản động” lại đi ngược Trường Sơn ra tận miền Bắc. Trong khi đó, những sách báo của Đảng mang vào miền Nam, “Thép đã tôi thế đấy”, “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng”, “Liên Khu Năm anh dũng”, “Hồ chí Minh tuyển tập” nằm ế chỏng gọng, chờ bụi bám trên các giá sách ở các nhà sách quốc doanh. Đảng nhớ lại cuộc phản kháng “Nhân Văn Giai Phẩm” của các nhà văn, nhà thơ miền Bắc năm 1956 và rồi Đảng càng sợ hãi ảnh hưởng tư tưởng của các văn nghệ sĩ miền Nam. Những chuyên viên “tìm tội” cùng với những chuyên viên giết người của Đảng họp khẩn cấp. Cần phải có “thái độ quyết liệt” với bọn này càng sớm càng tốt. Thời gian này, “ngụy quân, ngụy quyền” miền Nam đã bị Đảng dụ khị cho vào tù hết rồi. Đảng đang rất rảnh tay để tiêu diệt đám văn nghệ sĩ Sài Gòn. Đây rồi, Đảng đã nghĩ ra một kế thần sầu quỷ khốc để có cớ đưa tất cả những bọn văn nghệ sĩ miền Nam, “bọn biệt kích cầm bút” vào tù. Đó là “gắp lửa bỏ tay người” mà ĐCS luôn áp dụng ở bất cứ nơi đâu, bất cứ ngõ ngách nào có sự thống trị của họ.

Đêm 1 tháng Tư năm 1976, cả Sài Gòn rung chuyển vì một tiếng nổ rất lớn ở ngay trung tâm thành phố. Người dân Sài Gòn ngơ ngác, họ chưa biết chuyện gì xảy ra. Kháng chiến quân VNCH về giải phóng Sài Gòn chăng? “Quân ta” đã về??? Nhiều người dân Sài Gòn suốt đêm mơ mộng như vậy!!! Không, không phải thế!!! Sáng sớm hôm sau đọc các “báo nhà nước” họ được biết bọn “phản động” đêm qua đã đặt mìn cho nổ tung con rùa làm bằng đồng đen dưới chân tượng đài kỷ niệm những nước đồng minh đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Đó là “Công Trường Quốc Tế” nằm ngay ở quận Nhất Sài Gòn. Báo chí nhà nước tường thuật chi tiết vụ phá hoại. Bình thường đó là nơi tụ tập hàng đêm để hóng mát của các anh công an, bộ đội đóng ở Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bưu Điện, Tòa Đại Sứ Mỹ. Thế mà tối hôm đó công an và bộ đội đều vô sự!!!??? Chỉ có những người dân Sài Gòn đi hóng mát và ngồi chơi ở đó là… banh xác.

Lực lượng an ninh đã bắt được thủ phạm ngay lập tức. Liền sau đó một chiến dịch quy mô được Đảng tung ra. Tất cả các văn nghệ sĩ miền Nam có tên trong một bảng phong phần đều bị truy bắt trong chiến dịch từ ngày 2/4/76 đến ngày 28/4/76 với tội danh đặt mìn phá hủy “hồ con rùa”. Người dân Sài Gòn chưng hửng, hoang mang và lo sợ tột cùng.

Đến năm 1982, nhà xuất bản Tuổi Trẻ cho phát hành một cuốn sách dưới tựa đề “Vụ Án Hồ Con Rùa” của văn nghệ công an Huỳnh Bá Thành (tức Ba Trung). Trong cuốn sách, Đảng đã bịa đặt ra một câu chuyện thần thoại rằng thì là: Vào năm 1967, khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống đã mời một thầy phong thủy Tàu nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này cho rằng vị trí của dinh là vị trí của long mạch trấn yểm vị trí của đầu rồng. Con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí của Công Trường Quốc Tế. Do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp của người cầm đầu dinh Độc Lập sẽ không bền. Vì vậy, nghe theo lời ông thầy phong thủy, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng, không cho vùng vẫy được nữa để giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài!? Trong cuốn sách gian dối bẩn thỉu này, Huỳnh Bá Thành đã cho các nhà văn miền Nam “trói gà không chặt” biến hết thành các “điệp viên tình báo” lão luyện, mưu mô, xảo trá. Họ cũng được biến thành các chuyên viên chất nổ được huấn luyện kỹ lưỡng, thành thục vv..và vv. Đảng vu cáo rằng các văn nghệ sĩ miền Nam đều là tay sai của CIA cài lại, do mê tín dị đoan, do ngu muội và tàn ác đã cho đặt mìn phá hoại “đuôi rồng” để “mong” chính quyền cách mạng sụp đổ! Nhưng cuối cùng, “bọn chúng – nghệ sĩ miền Nam” đều bị các lực lượng an ninh của Đảng phát hiện và tóm gọn.

Luôn luôn, Đảng rất yêu và quý trọng tài năng của con người vì bác đã dạy “con người là vốn quý”. Đảng không bao giờ bắt bớ các nhà văn, nhà báo vì tư tưởng hay chính kiến của họ. Đảng chỉ bắt những đứa “đặt mìn sát hại dân lành”. Đảng chỉ bắt những đứa “đưa tin xuyên tạc sự thật”. Đảng chỉ bắt những đứa “tiết lộ bí mật quốc gia”. Đảng chỉ bắt những đứa “vu cáo, nói xấu lãnh đạo”. Đảng chỉ bắt những đứa “trốn thuế” mà thôi. Nếu ai còn không tin, cứ cho biết, Đảng sẵn sàng chưng bày hết “bằng chứng tội ác” của chúng nó.

Thế là, theo chân các “ngụy quân, ngụy quyền mang nợ máu” với nhân dân, gần 50 văn nghệ sĩ miền Nam thuộc “thành phần nguy hiểm” lại lần lượt theo chân nhau vào tù với cái gọi là “Vụ Án Hồ Con Rùa” do Đảng tự dựng nên. Từ đó, một thế hệ tinh hoa của dân tộc lại bị thủ tiêu và nền văn học của dân tộc lại bị kìm hãm, không được tự do phát triển.

(nguồn tạp chí cải bẹ)

HOA NGỌC của t.ngy

dotrungquan

vườn đã hoang rồi hoa trắng ạ
anh đã quên như chưa nhớ bao giờ
hai đứa trẻ ngày xưa đã chết
còn lại một người râu tóc lơ phơ

đừng giữ mãi chùm hoa trắng ấy
trắng giờ đây lên màu tóc ta rồi
hoa đã chết sao hồn còn khắc khoải
vẫn nhờ một người không đáng nhớ, em ơi

anh ra đi một lần, biền biệt…
vô tâm hơn một kẻ vô tình
hoa trắng ạ ngờ đâu em hoá ngọc
bao nhiêu năm tự le lói một mình

Đỗ Trung Quân

1998

GIỮA CHIẾC QUAN TÀI TRỐNG

 

phuongtan

Ngậm cõi đời trong miệng
ta ngẫm chi cũng buồn
thốt một lời cũng mõi
chớ vui chớ bảo vui.

Đêm mỗi mình bó gối
ngồi cú xụ Phật ơi
đêm mỗi mình bó gối
lắc chuỗi cười trong tay
lắc cho sùi bọt mép
chớ điên chớ bảo điên
ta là người là ta
người là ta là người.

Lăn cho đều trái tim
lắc cho đều cái chết
lăn cho đều trái tim
qua mỗi phần cái chết
lắc cho đều cái chết
qua mỗi phần trái tim.

Này một con chim sẻ
chim chíp trong mắt em
này một đôi chim sẻ
thíp trong lòng ngực anh.

Ta dựa lưng vào ngực
tim lăn qua kẽ chân
lăn qua lăn qua đất
vòng đất vòng đất nữa.

Này một con con chim sẻ
thíp trong lòng mắt em
này một đôi chim sẻ
chết trong lòng ngực anh.

Trên mỗi sợi lông mày
ta treo chùm trí tưởng
lụa là như bầy con
ta sinh từ cổ họng
(chớ thở chớ nói năng
thiên tài sẽ lăn đi
ẩn trong cùng bọng đái
thiên tài sẽ lăn đi
thở trong cùng bọng đái).

Còn chút mủ vàng óng
ta ngậm lấy làm vui
giữa chiếc quan tài trống
ta đùa lấy một mình
giữa chiếc quan tài trống
buồn như đầu óc ta
vắt vẻo trong trái tim
buồn như trái tim ta
vắt vẻo trong bọng đái
cất tiếng hót véo von
giữa đường răng nghiến mủ.

Này một con chim sẻ
chết trong lòng mắt em
này một đôi chim sẻ
chết trong lòng ngực anh.

Phương Tấn

NGƯỜI TRUNG QUỐC VÀ CÁI VẠI TƯƠNG

nguyenhoithu
NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ
Bá Dương
Nguyễn Hồi Thủ dịch

Bài nói tại New York ngày 16-08-1981, do ký giả tờ báo tiếng Hoa ” Bắc Mỹ nhật báo ” ghi lại.

Vừa rồi ông Chủ tịch nói cuộc họp mặt hôm nay là một vinh hạnh của Hội ” Tùng Xã “, đúng ra vinh hạnh này là của tôi. Tôi xin cảm tạ quý vị đã cho tôi dịp được gặp mặt các vị ở nơi xa quê hương này để xin chỉ giáo.

Thực ra Chủ tịch và Chủ báo ” Tân Sĩ Tạp Chí “, ông Trần Tiến Trung nói với tôi đây là một cuộc tọa đàm, nên tôi rất vui được đến dự. Nhưng hôm qua từ Bo-xton đến tôi mới rõ là một buổi diễn giảng, việc này làm cho tôi rất lo vì New York là một đô thị lớn bậc nhất thế giới, đầy ” rồng núp, hổ nằm “.

Cho nên tôi chỉ dám nêu lên đây một ít cảm tưởng tản mạn và đó hoàn toàn là ý kiến riêng tư chứ không dám kết luận gì cả. Xin các vị chỉ giáo và chúng ta cùng trao đổi với nhau.

Chủ đề hôm nay ông Chủ tịch giao cho tôi là ” Người Trung Quốc và cái vại tương “. Nếu buổi hôm nay là một buổi thảo luận về học thuật thì trước tiên chúng ta phải định nghĩa người Trung Quốc là gì? Cái vại tương là gì? Tôi nghĩ tôi không phải định nghĩa nữa, sợ thành vẽ rắn thêm chân. Bởi vì có một hiện tượng trên đời là cái gì mọi người đều đã biết mà lại đi thêm cho nó một định nghĩa, việc này vô tình có thể biến nội dung và hình thức của nó trở thành mơ hồ, biến chân tướng của nó thành khó hiểu, và do đó còn khó bắt đầu thảo luận hơn.

Phật giáo vốn cho rằng con người phải qua vòng luân hồi. Việc này làm tôi nhớ đến một tích xưa.

Có người đến hỏi một vị cao tăng đã đạt đạo:

” Đời tôi bây giờ là do tiền kiếp mà tái sinh, thế thì kiếp trước tôi là người thế nào? Nếu còn phải đầu thai một lần nữa, ngài có thể cho tôi biết kiếp sau tôi sẽ trở thành người ra sao không? “.

Vị cao tăngï trả lời anh nọ bằng bốn câu thơ sau:

Dục tri tiền thế nhân
Kim sinh thụ giả thị
Dục tri hậu thế quả
Kim sinh tác giả thị
(Muốn biết cái nguyên nhân của kiếp trước
Cứ xem những gì mình nhận được ở kiếp này
Muốn biết cái hậu quả ở kiếp sau
Cứ xem những gì mình đang làm ở kiếp này)
(Tạm dịch thơ:)
Muốn biết kiếp trước thế nào
Cứ xem mình sống ra sao kiếp này
Đầu thai rồi thế nào đây
Hãy nhìn vào việc hiện nay đang làm
(NHT)

Giả sử kiếp này anh được sung sướng, kiếp trước nhất định anh là một người chính trực, độ lượng. Nếu kiếp này anh gặp nhiều khổ nạn thì phải suy ra rằng kiếp trước anh đã làm những điều ác. Cái tích xưa này gợi cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa. Các vị ở đây, nếu là con nhà Phật hẳn cảm thụ dễ dàng, nếu không phải là người theo đạo Phật chắc không tin vào tiền oan nghiệp chướng, nhưng có thể xin các vị cứ suy nghĩ về cái triết lý của nó.

YÙ tôi muốn nói chuyện này làm chúng ta liên tuởng đến văn hóa Trung Quốc.

Các vị ở đây, bất kể quốc tịch gì, đại đa số đều có dòng máu Trung Quốc, các vị thích hay không thích nó vẫn vậy, chẳng làm sao thay đổi được. Tôi nói người Trung Quốc là theo nghĩa rộng, theo nghĩa huyết thống chứ không phải nghĩa địa lý.

Người Trung Quốc từ 200 năm gần đây, lúc nào cũng có một ước mong cho đất nước hùng cường, ước mong cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc ưu tú trong thế giới. Nhưng đã bao nhiêu năm nay, chúng ta luôn luôn yếu kém, mãi bị ngoại nhân khinh thị, nguyên nhân tại đâu?

Đương nhiên trách nhiệm là do nơi chúng ta. Nhưng nhìn dưới góc độ văn hóa mà đặt câu hỏi đó thì có thể nghĩ đến cái tích xưa vừa kể trên. Tại sao có ngày hôm nay? Vì sao nước nhà vẫn chưa lớn mạnh? Nhân dân vẫn còn biết bao khổ nạn? Từ kẻ cùng đinh không quyền thế đến kẻ phú quý với đặc quyền đặc lợi đều có một nguyện vọng tha thiết như nhau cho đất nước, cũng như đều có cùng một đau buồn sâu sắc.

Tôi nhớ thuở bé thầy học bảo chúng tôi: ” Hy vọng của nước nhà đặt nơi các em “. Nhưng rồi chúng ta bây giờ thì sao? Lại đến lượt chúng ta hướng về đám thanh niên bảo: ” Các em là hy vọng của tương lai Trung Quốc “. Cái kiểu cứ đùn đẩy trách nhiệm từ đời này xuống đời khác sẽ còn kéo dài cho đến bao giờ?

Những người Trung Quốc ở nước ngoài đối với vấn đề này lại càng nhậy cảm và kỳ vọng của họ lại càng sâu nặng. Ngoài việc tự thân chúng ta đã không thể mang hết được cái trọng trách về chuyện nước nhà rơi xuống một mức độ tồi tệ với những khổ nạn như vậy, chúng ta lại còn phải è cổ vác cái gánh văn hóa truyền thống nặng nề kia.

Đấy là nghiệp báo như đã nói ở trên.

Hôm trước, lúc đi thăm Viện bảo tàng Boston, tôi thấy bên trong có bầy đôi giày cho phụ nữ bó chân của thời đại các bà nội chúng ta. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết những người phụ nữ khoảng tuổi tôi thời ấy đều phải bó chân. Ngày nay những người trẻ tuổi nghe đến chắc không thể nào tưởng tượng nổi. Tại sao trong văn hóa chúng ta lại có thể sinh ra một cái tập quán tàn khốc thế? Lại có thể áp đặt nó lên trên một nửa dân số trong hàng nghìn năm, làm cho những người bị bức hại phải tàn phế cả hai chân, thậm chí có khi còn gãy cả xương, thối cả thịt, không thể đi đứng được. Tại sao văn hóa Trung Quốc lại có thể kéo dài cả hàng nghìn năm trong lịch sử một yếu tố dã man như vậy? Tại sao lại cho phép trường tồn qua một thời gian dài như thế mà không có một người nào đứng lên bảo nó phản tự nhiên, hại sức khỏe? Ngược lại, đại đa số nam nhi còn xem bó chân là hay ho, đẹp đẽ.

Còn nói đến việc bách hại nam nhi thì thế nào? Đó không phải chỉ riêng chuyện các hoạn quan. Theo ghi chép của lịch sử, từ các triều vua Tống trở về trước, các nhà có quyền và có tiền đều có thể tự do thiến các nô bộc của mình. Sự việc kinh rợn này kéo dài cho đến triều Tống – thế kỷ XI – mới bị cấm. Chỉ căn cứ vào hai việc trong biết bao nhiêu việc không hợp lý và vô nhân đạo của văn hóa Trung Quốc suốt quá trình lịch sử của nước này, ta cũng có thể thấy là những thành phần không hợp lý của nó đã lên đến một mức độ không thể nào khống chế được.

Bất kỳ văn hóa của một dân tộc nào đều như một dòng sông lớn, thao thao bất tuyệt trôi đi. Và với thời gian dần dần biết bao thứ nhơ nhớp bẩn thỉu trong dòng sông lớn ấy, – như cá chết, mèo chết, chuột chết – sẽ bắt đầu chìm lắng. Lắng đọng quá nhiều sẽ làm dòng sông không thể chảy nữa, biến thành một cái đầm nước chết, càng sâu càng nhiều, càng lâu càng thối, lâu dần thành một cái vại tương, một cái đầm bùn bẩn phát chua, phát thối.

Nói đến cái hũ tương có lẽ những bạn trẻ không thể hiểu, tôi vốn sinh ra ở phương Bắc, nơi quê tôi cái thứ này rất nhiều. Tôi không thể nói chính xác cái chất tương trong vại ấy làm bằng những chất liệu gì (chất chính là đậu tương và bột mì), nhưng các vị nếu đã ăn qua vịt quay tại các tiệm ăn Trung Quốc thì chính là loại tương đó. Nó là một chất đặc không chảy được, không giống nước sông Hoàng hà từ trên trời chảy xuống một tý nào. (Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi – thơ Lý Bạch). Nó là một thứ nước ao tù, lại được để cho bốc hơi, cho lắng đọng nên nồng độ càng ngày càng đông đặc. Cái văn hóa của chúng ta, cái tiền oan nghiệp chướng như đã nói cũng là như thế.

Trong văn hóa Trung Quốc, cái có thể gọi là điển hình nhất cho cái đặc sắc này là chế độ ” quan trường “. Thời xưa mục đích học hành của các phần tử trí thức là làm quan. Cái chữ ” trường ” nhìn không thấy, sờ không đụng này được hình thành qua chế độ khoa cử. Một khi người đọc sách đã lọt vào được chốn quan trường liền ở vào trạng thái đối nghịch với người thường, với nhân gian.

Dưới chế độ đó người đi học cốt chỉ được làm quan, vì có câu nói rằng trong sách có nhà vàng, có nhan sắc như ngọc. Đọc sách để có thể làm quan, làm quan ắt có mỹ nữ, kim tiền.

Thời xưa có người nói: ” Hàng hàng xuất trạng nguyên “, kỳ thực chỉ trong số những người đi học mới có trạng nguyên, còn những người khác cũng chỉ là thợ thuyền không đáng một đồng trinh. Thời đó những người của các giai tầng khác bị rất nhiều giới hạn, nào là không được mặc loại áo quần nào đó, không được đi thứ xe nào đó, ở loại nhà nào đó.

Xã hội phong kiến đặt cái lợi ích của những người làm quan lên trên hết, và vì nó đã khống chế Trung Quốc quá lâu, nên tạo thành một lực lượng và một ảnh hưởng vô cùng lớn.

Về mặt kinh tế không có gì thay đổi đáng kể, nhưng về

mặt chính trị nó đã kìm hãm chúng ta lâu dài trong cái hũ tương văn hóa đó. Một trong những cái đặc trưng của nó là đặt tiêu chuẩn của giới quan lại thành một cái chuẩn cho xã hội, biến lợi ích các quan thành cái lợi chung. Vì vậy nó đẻ ra một thứ ngày nay gọi là ” Chính trị thống soái ” theo kiểu nói của Mao, làm cho cái hũ tương văn hóa của chúng ta càng thêm sâu đậm, càng thêm nồng nặc.

Chìm đắm lâu dài trong cái hũ tương đó, người Trung Quốc trở thành ích kỷ, nghi kị.

Tôi tuy đến Mỹ chỉ là du lịch ngắn ngày, nhưng nhìn bề ngoài tôi thấy người Mỹ khá thân thiện, hạnh phúc, lúc nào cũng tươi cười.

Tôi cũng đã gặp con em các bạn bè người Hoa ở đây, trông tuy có vẻ sung sướng, nhưng rất ít cười. Có phải là các bắp thịt ở mặt của người Trung Quốc chúng ta cấu tạo không giống họ? Hay là vì dân tộc chúng ta mang một cái gì vốn quá u ám?

Chúng ta có nghĩ được rằng dân tộc chúng ta sở dĩ như vậy vì thiếu sức sống trẻ, mà điều đó lại là do chính trách nhiệm của chúng ta không? Giữa chúng ta, chúng ta chèn ép lẫn nhau, không hề hợp tác.

Tôi nghĩ đến chuyện một người cảnh sát trưởng Nhật Bản, khi huấn luyện các học viên của mình, bảo thuộc hạ phải nghi ngờ tất cả mọi người, vì họ đều có thể là đạo tặc. Cái trạng thái tâm lý này dùng để huấn luyện cảnh sát hình sự thì được, nhưng tâm lý phổ biến của người Trung Quốc lúc bình thường lại cũng như thế, lúc nào cũng nghĩ kẻ khác có thể làm hại mình, nó hình thành một nỗi lo sợ về bất cứ một cái gì. Cái nỗi lo sợ này làm người Trung Quốc biến thành ” một đống cát rời ” năm bè, bảy mảng (như lời của Tôn Dật Tiên).

Một nước lớn như Trung Quốc, có tài nguyên, có nhân khẩu hơn một tỷ người nếu đồng tâm hiệp lực, trong Á châu này chẳng lẽ không bằng được Nhật bản?

Mòn mỏi dưới chế độ xã hội phong kiến chuyên chế tự bao đời, đắm chìm ngụp lặn trong cái hũ tương đó, óc phán đoán cùng tầm nhìn của người Trung Quốc đã bị tương làm ô nhiễm nặng, không vượt ra nổi cái phạm vi ảnh hưởng của nó.

Qua bao nhiêu niên đại, đa số chúng ta mất dần năng lực phán đoán cái gì đúng cái gì sai, mất khả năng phân biệt cái gì là đạo đức, chỉ phản ứng bằng tình cảm và trực giác mà không biết suy nghĩ. Tất cả giá trị của hành động rồi đều bị cái tiêu chuẩn chính trị và đạo đức của cái hũ tương đó chi phối. Vì vậy thị phi, phải trái, đen trắng không còn có vẻ đối nghịch nữa. Trong hoàn cảnh này, khi tìm hiểu sự vật, chẳng ai còn đi đến chỗ phân tích cặn kẽ. Cứ qua loa lấy lệ một cách lâu dài rốt cuộc sẽ đưa đến cái quả báo nhãn tiền, đó là ” Chiến tranh Nha phiến ” (1840).

Chiến tranh Nha phiến là sự đột nhập của văn hóa nước ngoài theo chiều ngang. Đối với người Trung Quốc nó đánh dấu một kỷ niệm ” quốc sỉ ” (cái nhục của một nước), nhưng nhìn từ một góc độ khác nó lại là một lần thức tỉnh lớn không thể tránh được.

Nhật Bản trên mặt này đã phản ứng hoàn toàn khác chúng ta. Ở thế kỷ XVIII khi Mỹ đánh chìm hai tàu Nhật, nước Nhật đã mở cửa. Đối với người Nhật sự kiện này mang lại một cơ hội tốt, họ biết biến sự sỉ nhụïc thành một sự thức tỉnh.

Thực ra chúng ta phải cảm ơn Chiến tranh Nha phiến, nếu không có nó thì tình cảnh hiện tại sẽ như thế nào? Có lẽ các vị ngồi đây không chừng trên đầu vẫn còn cái đuôi sam, phụ nữ vẫn còn bó chân, còn mặc áo dài, áo ngắn (Áo kiểu ngày xưa của người Trung Quốc), trên bộ còn ngồi kiệu do người khiêng, dưới nước còn ngồi thuyền tam bản.

Ví thử Chiến tranh Nha phiến xảy ra sớm hơn 300 năm, có lẽ Trung Quốc đã biến đổi sớm hơn một tý; nếu nó xảy ra sớm hơn 1.000 năm thì lịch sử đã hoàn toàn chẳng như ngày nay. Tôi cho rằng cái ” kỷ niệm quốc sỉ ” này là một cú đập mạnh vào cái hũ tương văn hóa của chúng ta. Không có nó người Trung Quốc vẫn còn chìm đắm dưới đáy, có khi còn ngạt thở mà chết rồi.

Sự đột nhập của văn hóa ngoại lai trong Chiến tranh Nha phiến làm cho chúng ta có thể nghĩ rằng nhà Thanh là một thời đại quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nếu chiến tranh này xảy ra vào thời nhà Minh chưa chắc Trung Quốc chịu nổi cú sốc và tình hình đã khác. Văn minh hiện đại phương Tây đối với nước Trung Quốc già nua thật ra càng đột nhập sớm càng tốt. Cái sự xung kích lớn lao này chắc hẳn là một sự kiện khiêu chiến nghiêm trọng đối với lịch sử và văn hóa, nhưng đem lại cho chúng ta cái văn minh vật chất và văn minh tinh thần mới.

Cái gọi là văn minh vật chất Tây phương như máy bay, trọng pháo, xe hỏa, tàu điện ngầm, v.v…làm cho chúng ta bỗng nhiên thấy thế giới bên ngoài mới mẻ làm sao, có biết bao nhiêu thứ không giống chúng ta, làm cho chúng ta có một nhận thức biết coi trọng cái mới, cái văn minh vật chất. Còn nói đến văn minh tinh thần, những ý thức hệ chính trị Tây phương cùng các tư tưởng học thuật cũng cho chúng ta bao nhiêu quan niệm và gợi ý mới mẻ. Xưa nay chúng ta nào biết dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp trị là gì. Tất cả những thứ này đều là các sản phẩm lấy giống từ phương Tây.

Trước đây người Trung Quốc chỉ biết câu: “Nhân mệnh quan thiên” (số mệnh con người là do nơi trời). Thực ra số mệnh một con người có phải là do trời hay không cũng còn tùy. Nếu tôi giết chết một người, có lẽ sẽ do trời thật, nhưng nếu hung thủ là một kẻ quyền thế thì đã chắc gì? Vì vậy còn phải xem vấn đề là dính dáng đến ai.

Có một nhân vật cổ quái còn nói một câu: ” Dân vi quý, quân vi khinh ” (Dân là quý, vua là thường). Đấy chỉ là một thứ lý tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện. Thời phong kiến xưa, sau một triều vua lại đến một triều vua, chẳng có gì thay đổi. Lật đổ triều đại trước, thiết lập triều đại mới, cách biểu thị duy nhất về sự bất đồng của mình với triều vua trước là đốt phá các cung vàng điện ngọc mà triều trước đã xây để làm cung điện mới của mình.

Lý do viện dẫn để đốt phá vẫn được đưa ra là vì triều trước chính sách bạo tàn, triều đại của mình mới là nhân hậu. Nhân hậu nên mới phải làm cái việc đem chính sách nhân hậu của mình để tàn phá nhà cửa của chính sách hung tàn.

Cứ đời này sang đời khác như thế, về mặt tư tưởng chính trị chẳng có xây dựng được gì, nhưng nhà cửa thì cứ tiếp tục đốt phá để biểu lộ sự khác nhau. Chẳng trách ở một nước lâu đời như Trung Quốc sau mấy nghìn năm các kiến trúc cổ chẳng còn được là bao!

Trong hệ tư tưởng chính trị Trung Quốc, có vài khái niệm lý tưởng gần với Tây phương như “Vua phạm pháp cũng bị tội như thứ dân” (Vương tử phạm pháp dữ thứ dân đồng tội). Nhưng điều này chẳng qua cũng chỉ là một hy vọng và ảo tưởng mà thôi. Sự thực cái điều vua và dân cùng tội này trên căn bản tuyệt đối không thể có.

Người Trung Quốc xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép. Nhân dân nếu được phép chửi hoàng đế chắc cũng chỉ dám lén lút chửi sau lưng. Phạm vi của tự do rất hẹp hòi. Đương nhiên có thể có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị thì hoàn toàn chẳng có.

Dân tộc chúng ta là một trong những dân tộc lớn, đương nhiên trong vấn đề tình cảm không nói thế thì không xong. Nhưng trên thế giới này còn có một dân tộc vĩ đại khác là dân Anglosaxon (Ăng-glô-sắc-xân).

Dân tộc này đãõ thiết lập cho văn minh thế giới những khuôn khổ như chế độ quốc hội, tuyển cử, tư pháp độc lập, tư pháp bồi thẩm,v.v…, cống hiến cho cộng đồng nhân loại những cơ cấu văn minh tốt đẹp như vậy, và đó cũng là một nguyên nhân cho phép những xã hội Tây phương về mặt chính trị hướng đến công bình, hợp lý.

Cái việc tuyển cử dù lãng phí thế nào đi nữa so với việc giết người như núi, máu chảy thành sông vẫn còn tốt hơn. Đối với những thứ tốt đẹp này của Tây phương chúng ta phải có can đảm mà tiếp nhận.

Có người bảo tuyển cử kiểu Tây phương không phải tuyển cử nhân tài, chỉ bầu cử tiền, mà cái loại tiền này thì không phải người bình thường nào cũng có thể bỏ ra được. Dù có thế chăng nữa, lãng phí tiền bạc vẫn tốt hơn lãng phí đầu người.

Hết thảy những điều tốt chúng ta phải tự đấu tranh mới có được, không giống trong vườn Eden (Ê-đen) của Thượng đế nơi cái gì cũng đã được an bài một cách tốt đẹp.

Người Trung Quốc sống trường kỳ trong cái hũ tương, lâu ngày quá tự nhiên sinh ra một tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ.

Tôi nhớ có xem một bộ phim – mà đã quên mất tên – trong đó một phụ nữ quý phái có hai nhân cách: một mặt đẹp đẽ, đáng quý làm cho người ta có thể sùng bái, mặt khác lại hoang dâm, vô liêm sỉ. Cô ta không làm sao hợp nhất được hai nhân cách này lại với nhau. Khi bị bác sĩ tâm thần bắt phải đối diện với thực tại, cô ta đã tự sát.

Khi tự kiểm hồ sơ bệnh của mình chúng ta có dám đối diện với thực tại không? Có dám dùng cái tâm lý khỏe mạnh để xử lý bệnh tình của mình một cách hợp lý không?

Chúng ta cần học tự nhận xét mình. Người Trung Quốc thường không có tập quán dùng lý trí để tự tìm hiểu mình mà chỉ dùng cảm tính. Ví như vợ chồng cãi nhau, chồng bảo vợ: ” Bà đối với tôi không tốt “. Vợ bèn vứt thức ăn lên bàn cãi: ” Tôi đối với ông không tốt thế nào? Không tốt mà tôi còn nấu cơm cho ông ăn à? ” Cái động tác này cũng đủ nói lên sự đối xử không tốt của bà ta rồi. Tự xét mình như thế thì thà không tự xét còn hơn.

Từ khi văn hóa Tây phương được du nhập vào (Trung Quốc) dĩ nhiên về mặt tư tưởng chính trị có thay đổi dần, mặt quan niệm đạo đức cũng vậy. Ngày trước chồng đánh vợ là chuyện cơm bữa. Bây giờ cứ thử đánh một tý xem sao!

Tuổi trẻ thời nay thật may mắn, rất nhiều thứ văn hóa hủ lậu đã bị đào thải. Không kể đến vấn đề chính trị và đạo đức, ngay cả trên các lĩnh vực nghệ thuật, thi ca, văn học, tuồng kịch, vũ điệu đều có ảnh hưởng của sự thay đổi này.

Hễ nói đến văn hóa, văn minh phương Tây, thế nào cũng có người chụp mũ, bảo tôi ” sùng bái Tây phương, nịnh hót nước ngoài “.

Theo ý tôi tại sao không thể sùng bái Tây phương? Cái lễ nghĩa của người ta đúng là hơn hẳn cái thô lậu của mình. Súng ống của người ta đích thực là hơn hẳn cung tên của mình. Nếu như giữa bạn bè với nhau có người đạo đức, học vấn hơn hẳn mình tại sao lại không có thể không hâm mộ được?

Người Trung Quốc không có cái can đảm dám khen người khác, chỉ có cái dũng khí dùng để đả kích kẻ khác. Cũng bởi cái ” văn hóa hũ tương ” của chúng ta quảng đại tinh thông quá mới làm cho người Trung Quốc thành ” cây quýt bên sông Hoài ” tất cả (tích Án Tử và vua Sở). Cây quýt này vốn mọc ở một địa phương nọ thì rất to và ngọt, đem trồng ở một nơi khác, không hợp thủy thổ, thì vừa nhỏ vừa chua.

Ông Tôn Quan Hán, một người bạn đã tìm cách cứu tôi suốt trong thời gian 10 năm tôi ở tù, từng đem một thứ cải trắng gốc Sơn Đông trồng tại Pittsburg (Pít-xbơ), nhưng ở đây nó lại thành một thứ cải hoàn toàn khác.

Người Nhật có biệt tài bắt chước cái gì là giống cái đó, còn người Trung Quốc thì học cái gì cũng chả giống cái gì. Cái tinh thần này ghê gớm lắm, nó cho phép người Nhật học được những ưu điểm mà học giống hệt. Người Trung Quốc thường chỉ giỏi tìm lối tránh né, viện cớ ” không hợp với hoàn cảnh nước nhà ” để bào chữa cho lý do tại sao mình lại cự tuyệt nó.

Trước chiến tranh Giáp Ngọ (1895) người Nhật đến thăm hải quân Trung Quốc, thấy binh sĩ đem phơi quần áo la liệt trùm cả lên súng cà-nông, bèn xác định rằng cái loại quân đội này không thể tác chiến được. Chúng ta căn bản không tính đến chuyện xây dựng và làm mới các quan niệm, nên khi chúng ta không muốn làm một cái gì, ngay cả như chuyện đừng phơi quần áo trên trọng pháo, thì chúng ta tìm cách thoái thác, bảo: ” Cái đó không hợp với hoàn cảnh đất nước “.

Cũng như vấn đề giao thông ở Đài Bắc, có thể là một vấn đề rất đơn giản, thế mà bấy nhiêu năm nay vẫn không dứt điểm được. Theo tôi cứ phạt nặng những kẻ phạm luật là xong. Nhưng có người lại đề xuất nào là phải dậy dỗ sự ” lịch thiệp ” cho những kẻ phạm luật, bởi vì như vậy mới hợp lẽ với Trung Quốc. Chúng ta đã lịch thiệp quá lâu rồi, bị giỡn mặt hoài không chịu nổi nữa, lại còn nhường nhịn đến bao giờ? Chúng ta làm những chỗ qua đường cho người đi bộ để bảo vệ họ, nhưng kết quả là biết bao người đã bỏ mạng ở đó.

Tôi có một người bạn lúc ở Đài Bắc là loại hay phóng nhanh vượt ẩu, đến lúc sang Mỹ bị phạt tơi bời, phạt đến đầu tối mắt hoa, cuối cùng không thể không chú ý được. Có mỗi luật đi đường, một việc thật đơn giản mà tại Trung Quốc vẫn còn là một vấn đề.

Cứ nói đến cái hay của các nước khác là lại bị nghe câu ” Sùng bái Tây phương, nịnh hót nước ngoài ” ( Sùng dương, mị ngoại ). Sự thực nếu các nước Mỹ, Pháp, Anh, Nhật có điều gì tốt thì chúng ta phải học, cái xấu thì không học, chỉ đơn giản thế thôi!

Có một người Mỹ viết một quyển sách: ” Người Nhật làm được tại sao chúng ta lại không thể làm được? ” Thế mà chẳng có ai bảo ông giáo sư này là ” sùng bái Đông phương, nịnh nọt nước ngoài “. Vì vậy mới biết cái hũ tương văn hóa đã sâu đậm làm người Trung Quốc mất hết khả năng hấp thụ và tiêu hóa, chỉ một mực trầm luân trong cái cảm tính của mình.

Một anh bạn tôi lúc lái xe cứ thỉnh thoảng lại đột nhiên bóp còi một cái. Tôi hỏi tại sao. Anh đùa bảo: ” Để cho thấy rằng tôi không mất gốc đấy! “. Chúng ta hy vọng chúng ta có đầy trí tuệ để nhận rõ những khuyết điểm của mình, có đủ năng lực phán đoán phân biệt phải trái, làm cho, cái hũ tương kia nhạt đi, mỏng đi, thậm chí biến thành một hũ nước trong, hoặc một hồ nước mênh mông.

Người Trung Quốc bị cảm tính chi phối, chủ quan thái quá, đối với việc gì cũng chỉ nhận thức, phán đoán bằng các tiêu chuẩn của những gì mình vốn thấy. Chúng ta nên nuôi dưỡng được cái con mắt nhìn sự vật một cách toàn diện, toàn thể. Rất nhiều sự tình phát sinh từ những góc độ không giống nhau, nên từ một góc độ càng phải xem xét một cách toàn diện. Từ hai điểm, đường ngắn nhất là một đường thẳng, đó là theo vật lý. Nhưng trong cuộc đời, cái cự ly ngắn nhất thường lại là cái quanh co nhất.

Cho nên để trở thành một người biết thưởng thức, chúng ta phải tìm tòi được mục tiêu. Xã hội có trình độ thưởng thức sẽ đề cao được tài năng và phân biệt được cái tốt, cái xấu.

Trước đây tôi từng được xem Khương Diệu Hương diễn kịch, lúc ấy bà đã ngoài 60, mặt đầy vết nhăn, chẳng còn cái đẹp của thủa nào, nhưng việc ấy không hề ảnh hưởng đến những thành tựu của bà. Đương lúc bà hát khúc ” Em bé chăn trâu “, anh có thể hoàn toàn quên mất cái hình tượng già nua của bà. Một khi mọi người đều có trình độ thưởng thức cao, những điều ác sẽ tránh xa.

Chẳng khác nào tranh tôi vẽ và tranh của Van Gogh để cùng một chỗ, có người không phân biệt được lại bảo: ” Tranh của Bá Dương và Van-Gogh cũng như nhau! ” Nếu thế thì các nhà nghệ thuật chân chính phải chết hết và xã hội sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ có được những tác phẩm nghệ thuật giá trị nữa.

Trung Quốc là một nước lớn, nhưng người Trung Quốc thật nhỏ mọn và hẹp hòi.

Hôm kia tôi đáp máy bay tại phi trường Kennedy ở New York, lên phi cơ ngồi chợp mắt một tiếng, tỉnh lại vẫn chưa thấy máy bay bay, sau khi nghe ngóng mới biết họ đang đình công. Tôi rất kinh dị khi thấy hành khách vẫn trật tự bình thường, nói năng cười đùa như không có gì xảy ra.

Nếu sự việc này mà xảy ra ở đất nước chúng ta cục diện sẽ hoàn toàn khác hẳn. Hành khách tất nhao nhao nhảy xổ ra hò hét: ” Tại sao vẫn chưa bay? “. Nhưng hành khách Mỹ lại nhìn từ một góc độ khác; vì họ nghĩ: Nếu tôi là nhân viên hàng không, không chừng tôi cũng tham gia cuộc đình công này. Nhìn vào đó người ta có thể thấy được khí độ của một nước lớn.

Ở Mỹ tính khoan dung rất lớn. Không những nước Mỹ có thể khoan dung được các màu da và chủng tộc, lại còn chứa chấp được cả những ngôn ngữ, phong tục, tập quán khác nhau; thậm chí còn chịu đựng được cả những người Trung Quốc thô lỗ như chúng ta. Thái độ này nói lên tính bao dung của một nước lớn.

Cứ nhìn lúc Reagan và Carter tranh luận trên ti-vi, bên này bên kia phát biểu chính kiến của mình, nhưng không ai dùng những lời lẽ thô lỗ để công kích nhau. Ri-gân không hề nói ông làm tổng thống mấy năm toàn chỉ dùng những người thân tín của mình. Các-tơ cũng không hề nói từ trước đến nay ông chưa hề có kinh nghiệm chính trị, làm sao có thể lèo lái được một quốc gia. Hai bên đều biểu lộ một thái độ cực tốt. Đó cũng là phẩm chất của một nền dân chủ cao độ.

Đối với chính trị, cá nhân tôi không mấy quan tâm. Tôi cũng không khích lệ mọi người làm chính trị. Nhưng nếu ai thích thú thì phải tham dự, bất kể đang làm nghề gì, bởi vì chính trị thật quan trọng. Chỉ cần một điều luật được ban hành, có thể gia sản, tự do và ngay cả sinh mạng anh cũng có thể bị nó làm tiêu tan.

Chúng ta không nhất thiết ai cũng phải làm chính trị, nhưng đều phải có khả năng đánh giá. Việc này không kém tầm quan trọng. Đánh giá không phải chỉ trong lĩnh vực chính trị, mà cả trong văn học nghệ thuật. Chẳng hạn như về tranh vẽ thì trình độ thưởng thức cực kỳ quan trọng. Nó sẽ bắt những người vẽ tranh như Bá Dương tôi phải thu mình vào một xó. Bởi nếu bày tranh mình ra người ta chỉ nhìn thoáng một cái đã biết giá trị, có thể nói: “Anh gọi thế này là vẽ à? Thế mà còn dám đem cho người ta xem ư?”

Một xã hội có trình độ thưởng thức tức biết cái hay cái dở, tức không hồ đồ trước bất cứ một sự việc gì; chứ mọi người cứ ù ù cạc cạc như ở trong hũ tương, bẩn sạch, cao thấp cũng không phân biệt thì làm sao tiến bộ và phát triển được?

Tôi chỉ có vài ý kiến này đưa ra xin các vị thảo luận và chỉ giáo cho.

Xin đa tạ!

THIẾU NỮ

nguyenbacson

Đứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình lạnh buốt mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ

Nên chợt nhớ mắt một người thiếu nữ
Đã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ mòng thuở đó

Nguyễn Bắc Sơn