SAO CHẲNG EM?

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Chờ nhau ngòn ngọt nụ hôn mềm
Anh qua đất Trích hề! Ren rét
Đốt đuốc soi tìm hương ấm êm …

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Bởi góa tình nên ngơ ngác thêm
Gió cũng mồ côi, đêm nguyệt tận
Anh hùng lỡ vận xót thuyền quyên !

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Tiếng độc huyền ai rơi vào tim?
Anh nghe đau đáu niềm thương nhớ
Đá cũng tương tư dấu mắt huyền…

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Chiều bơ vơ ,phố biếng lên đèn
Một năm có đủ mười hai tháng
Sao tháng mười hai anh thiếu em ?

Trần Dzạ Lữ

ĐƯỜNG SỐ MƯỜI BẢY

(Gửi hai nhà thơ Trần Vấn Lệ Đà Lạt Cali, Nguyễn Hàn Chung Đà Nẵng Houston- nhờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung Nha Trang Mỹ chuyển giúp)

“em mười sáu tuổi tôi mơ
em mười bảy tuổi hai bờ sông xanh”.

Thơ ai vậy? Dạ, của Trần Vấn Lệ. Những câu chữ như một bài kệ. Dạ, tình yêu vốn đong đầy hợp tan, phải câu nệ. Yêu ai như thể mình đang tụng chú, sân si hoặc sám hối đôi lúc là một cái thú. Thú thương đau, vô duyên chẳng ôm mâm trầu cau. Đời vốn lẫn lộn những vàng, thau. Người đi lối khác, nhạt phai mau?

Thử làm một phép tính trừ giản đơn, mười bảy nằm trên mười sáu, kết quả đẻ ra một. Không chắc đã tròn 365 ngày đêm dại khờ. Bị sao vậy? Dạ, tự dưng hai bờ sông xanh hiện tới, chia lìa. Chuyện chi rứa? Dạ, mười bảy tuổi người nớ lên đò, sang ngang.

Mười Bảy. Có sớm quá chăng? Dạ, hình như luật pháp quy định phải đủ tuổi 18 mới có quyền “xác pháo vướng gót chân”? Không biết được, đôi khi chúng ta phải đối mặt với hai chữ trái ngang hy hữu. Lại bày thêm một công thức toán (lớp đệ Ngũ đệ Tam trong tưởng tượng). Hy hữu @ Buồn + Thở Than = Nhà Thơ. Xin rộng lòng bỏ lỗi nếu đứa dốt toán bày ra thứ phương trình tầm bậy, ưa quậy. Tầm bạ, lang chạ.

Nhà thơ có lần giải thích: “Nếu mình lấy-nhau-đặng thì tôi đâu có làm thơ!” Rồi cũng có lần tự vấn: “Phải chi hồi đó tụi mình đừng nhỏ… như bây giờ, không biết đã ra sao?”. Và hồi đó, quá khứ cho tới hiện tại vẫn khẳng định: “Ai sinh em vậy làm con gái cho cõi đời này hết Mỹ Nhân?”

Lại của Trần Vấn Lệ? Dạ, nghe dễ thương cách gì! Tác giả của thi tập mới (một hai năm trước) mang cái tên cũng ngộ “Ở Chi Xa, Xa Mút Chỉ Chân Trời”. Ở tận bên Mỹ mà ngó về Đà Lạt biểu sao chân trời chẳng mút chỉ? Ở Canada cũng rứa, xêm xêm. Mờ mịt thức mây, ngó không êm. Nỗi nhớ hơn cả trái gió trở trời thấy mình rêm. Nghìn trùng chất thương yêu thêm.

Mình từng ở Đà Lạt, có mối tình đầu dại khờ ở tuổi 17. Thành ra thích mượn thơ Trần Vấn Lệ, thế tấm gương soi về tháng ngày cũ. Có chút trùng lẫn giữa mình và hình ảnh chất chứa trong dòng thơ mang mang tâm sự kia. Nếu hồi đó, biết làm thơ, đứng trước ngõ nhà nàng ở đường Phan Đình Phùng để ký gửi nỗi niềm thì có lẽ hai đứa đã lấy-nhau-đặng-thương-hoài-muôn-năm. Chữ “nếu” ngàn đời vẫn hăm he gây nhiễu sự. “Nếu” luôn còn đó để tạo dựng ra cớ: Một nửa tiếc uổng, một nửa hối hận. Ba phần ganh tị bảy phần phân trần. Nếu hồi đó mình cầm tay Hiệp (tên người như tên rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp nằm dưới dốc Minh Mạng đầu đường Phan Đình Phùng) nói lời thề nguyền “bao giờ thác Cam Ly cạn, nước hồ Than Thở khô hạn, anh mới thôi làm bạn cùng em”. Nếu hồi đó tình hình không lem nhem, anh bình thân như vại mong làm mộc đóng con tem. Ra cầu ông Đạo lên khu Hoà Bình chỉ em xem, thông đồi Cù cứ đứng giữa trời mà reo, nào cheo leo. Hai trái tim vàng đâu thể đói meo. Nếu này nối nếu kia theo để mười bảy tuổi sớm nhận cơn gió heo may dồn về.

Thấy tóc dài đi hớt. Thợ hỏi: hớt làm sao? Trả lời: hớt thế nào mà đầu vẫn còn tóc. Chao ơi, nếu mình là thợ ắt phải mang cảm tình với ông khách lạ đời. Hiệp nói: Chăm học đi, kẻo thi hỏng tú tài phải rời cao nguyên xuống Đồng Đế Dục Mỹ làm Trung sĩ. Mình trả lời: Học yêu chưa thành thì làm sao toại chuyện khoa bảng? Gió bên đường Hai Bà Trưng làm đồng minh thổi qua, lạnh run. Hiệp cởi chiếc áo laine màu xanh bleu ủ nhiệt cho thân người tình mãi xớn xác. Mai hẳn trả. Bài thơ chưa tượng hình thốt lời đáng yêu, nếu anh cưỡng đoạt báu vật ấy liệu em có than kêu? Áo đan bằng tay nhốt giữ tất thảy những hương hoa được trồng trên hoàng triều cương thổ. Có mùi thơm nào sánh được mùi trinh nữ chăng? Ngây ngất, biết cách gì để khiến Hiệp dậm cẳng: Vật đi thay người? Đêm về ôm ấp tấm áo ngự hàn không ngủ được, hôn hít trở trăn không cách gì tả xiết. Bao sách giáo khoa lưu trữ trong bộ nhớ đều đổ biển trôi sông. Khuy nút cài lại sao nách, cổ, ngực thảy đều vừa kích, sít sao hơn quần áo đặt may ở hiệu Văn Gừng. Vô tình Hiệp cấy vào người mình một rung động: Bưng chén cơm lên mà đũa rớt hồi mô chẳng hay. Ai nói mười bảy bẻ gãy sừng trâu? Người ấy đáng bị đánh đòn. Thật dại khờ thay!

Chưa mở mắt khôn lanh được chút nào thì vân cẩu bay nát nhừ bầu trời Đà Lạt. Có thể gia đình Hiệp trốn về Sài Gòn mong tìm được lối thoát thân. Sao mình vẫn lần khân? Răng cứ thúc thủ trói chân? Yêu người lậm khiến dạ phân vân? Đi qua đa-nhim tôi kêu hồ nước mắt. Mình cải chính: Dạ, Hồ Thuỷ Lệ chính là tui đây. Gạt lệ thua buồn mình xuống núi hàng lại hàng ngó mờ mịt cảnh bể dâu. Đi xe qua cầu Đà Rằng cúi trông xuống dưới cát bồi khe khô. Điệu hò người dân Tuy Hoà nghe nẫu ruột:

Chứ bây giờ mà em ở kìa nơi đâu?
Để cho anh, anh trông đứng nửa trông ngầu, rầu canh khuya.
Chứ bây giờ em không ngó nữa em không ngàn
Lấy chồng nghèo nó cực khổ mà gian nan nó cơ hàn.

Nghèo! Tháp Nhạn cũng vắng thưa chim bay én lượn. Gặp lại người thầy cũ thiếu đường chắp tay bẩm đạo sĩ. Dép mòn vẹt xách bị lát người gầy khô như cây xương rồng bị vặt sạch gai nhọn. Căn nguyên lưu lạc thổ lộ bên đường tựa giọng cảm hoài của Cao Bá Quát: “Mười năm xuôi ngược dọ hỏi cốt tìm thanh gươm cũ. Một đời cúi đầu chỉ vái lạy trước hoa mai”. Thầy khuyên mình nên ra Đà Nẵng ở nếu còn thân nhân ngoải. Bây chừ thì thôi còn đất lành để chim đậu, tan nát những cánh hoa thời hậu loạn, nhưng chốn ấy nghiệm ra vẫn hơn chốn đây, tin thầy đi. Để xác quyết, đạo sĩ bất đắc dĩ dặm pha thêm lời “vàng ngọc” cơ hồ sao chép từ Charles Bukowski: Này, chỉ tính riêng giấc ngủ của thầy thôi, cũng đủ dài hơn quãng đời mà mi từng trải qua.

Cũng là đà, bỏ Đà Rằng, nhưng không Đà Lạt mà Đà Nẵng. Lại đâm nhớ em má đỏ môi hồng mặc áo laine xanh, sửa đổi ca dao:

Hỡi người ôm sách khoá sinh
Vợ con chưa có nên chưa thành thất gia
Ngộ tình cờ bướm mới gặp hoa
Anh mà lại gặp Hiệp hoạ là trời xây.

Vô duyên với Hiệp thì gặp Hoa. Chợ Cồn, cầu Vồng, Hùng Vương ra tuốt Bạch Đằng thì châu về hiệp phố. Mênh mông chi xứ mà chẳng dè có sợi dây vướng cẳng khiến bổ nhào cảm ơn ông Địa. Nhủ thầm lần ni chắc hẳn hoà hợp. Chánh quán cô hàng cà phê bụi thì ở tuốt trong Điện Bàn. Em mô có tự hồ người thành thị, ở trong quê đúa cơm rách ố mới lần mò roa lồm eng chỗ ni. Reng em biết được lòng doạ anh, có nên trao lời thề thốt giữa hươi đứa mình? Thì cứ thong thoả nhìn mẹt mà bắt hình dong, mình nói, lòng anh ngay thẳng ghét dối gian, y như cái lốp xe đạp thì kêu là cái láp xe độp, không thay đổi mảy may. Hoa cười: Chửi choa không bèng phoa tiếng, đừng có ở đó mà cạnh khoé khó nghe. Mình cúi đầu: Mô có, thiệt hàm oan. Hoa không biết đó thôi, ông nội bà ngoại của anh đều được sinh ra ở Cẩm Lệ quận Hoà Vang làm ăn ở Hoà Khánh. In tuồng như mình cùng xứ, chu choa ơi mình phải tự hồ được đẻ ở đất Ngũ Phụng Tề Phi đó con bạn mình ơi!

Không dưng xúi nhớ bài “Nhìn Em” của thi nhân Bùi Giáng:

Nhìn em nhìn thấy một muôn nơi
Ngó em ngó thấy một muôn trời
Nghe em thỉnh thoảng vô ngần lúc
Ngóng đất đôi phen tuyệt đối đời
Cũng thể em là tiên rất mực
Cầm bằng anh chỉ đứa điên thôi
Trùng lai thái thậm Thiên Đường cũ
Tương kiến tung hoành lệ máu rơi.

Qua êm màn phỏng vấn với tự giới thiệu lý lịch. Bà chủ rất mực rộng lòng thâu nhận nhân viên mới. Mình phụ Hoa pha cà phê chặt nước đá rửa ly tách thu dọn bàn ghế đóng khoá cửa nẻo và kiêm luôn chức vệ sĩ bảo toàn khối tài sản biết di động. Được tin tưởng giao cho giữ chìa khoá chiếc xe gắn máy để sẵn sàng chở tiên cô đi mua nhu yếu phẩm trà đường chanh thuốc lá bột cà phê hoặc mánh mung chuyện tối mật gì đó. Đất Quảng Đà chưa mưa đã thấm, hợp phong thổ nên chỉ hơn tháng mà cây si bén rễ cành lá ra rậm rạp tựa lá bồ đề. Nắm tay xong nắm chân, mới cởi áo chưa cởi quần thì giông bão ập về, gió giật liên hồi kỳ trận để cuốn phăng bao dự tính chõng cọng dơ que. Một bộ phận không nhỏ đã xông vào quán nước làm tan đàn sẩy nghé. Họ bắt Hoa đi với tội danh: Mở hàng bán cà phê chỉ nhằm làm bình phong che đậy, thực chất đây là tụ điểm nhằm liên lạc móc nối tổ chức người vượt biển. May mà họ chẳng sờ gáy mình, sẵn có xe gắn máy của Hoa mình chơi một màn tẩu vi thượng sách. Ôi, ông Bùi Giáng ơi: “Khóc em duy nhất tình đầu, đã đầy đủ quá sức người của anh”.

Hoa có trách móc mình không? Vướng vào vòng lao lý, ở trong tù chắc Hoa sẽ đối mặt với toà án lương tâm: Có nên quy kết tội danh hắn bằng bốn chữ “quất ngựa truy phong”? Cũng oan cho hắn quá, bởi thân này còn nguyên vẹn chưa bị hoen ố xẻ ra làm đôi. Nếu hén thiệt bụng thương yêu, thế nồ hén cũng đợi chờ ngày mình thoát cũi sổ lồng, nửa in gối chiếc nửa chì chiết trong ruột gan. Cho dù không mất đi sự tỉnh táo, hắn mô có tiền của để chạy chọt tìm đường dây mà gỡ rối, bị Bùi Giáng từng cảnh báo: “Trái mít ra quả sớm chiều, Đại Ca Chủ Tịch còn nhiều bận tâm”.

Có một chuyện Hoa không lường được, chính mình cũng ngỡ nằm mơ, do số phận run rủi, một đêm tối trời bên quận 3 mình đu bám được theo nhóm người lên ghe vượt biển. Kỳ lạ thay, ngày mình làm đứa phản bội tổ quốc, tờ lịch in con số 17. Sang tới Hồng Kông mất chỉ năm ngày, lịch chỉ số 22. Từ đây tôi mất Hiệp Hoa, trước thân đơn chiếc mơ hoà hợp sau.

Đà Lạt, Đà Nẵng là hai địa danh. Riêng chữ đà còn mang nghĩa là màu nâu. Người miền Trung thường nói áo lam, áo đà nhằm chỉ tới những vị tu hành khoác áo xám, nâu sòng khổ hạnh. Hoa thấy tóc dài nên đi hớt. Hỏi: Hớt làm sao? Trả lời: Hớt thế nào mà đầu trơ trụi chẳng còn tóc. Cô này nhiều chuyện quá! Sao không bảo là cạo trọc cho dễ hiểu? Khi mình sang định cư ở tệ tam quốc gia, tình cờ có một chị trước ở đường Hoàng Diệu gần Ngã Năm cho hay: Hoa ở tù đúng một năm, sau đó xuống tóc quy y cửa Phật, trú thân trong chùa nhỏ gần bãi biển Thanh Bình, mang tên mới ni cô Lãng Nghiêm.

Ở xứ người, hàng năm mình thử len lỏi đi chung vui ở những đêm liên hoan gặp gỡ các cựu học sinh Đà Lạt. Dọ hỏi cùng khắp, chẳng một ai hay cô bạn đầu đời dấu yêu: Hiệp. Khi viết ra bài hồi ức này, mình hy vọng mong manh có ngày cả Hiệp lẫn Hoa đọc thấy, chỉ để gửi theo một lòng ăn năn và xin được thứ tha. Tuổi 17 có người sang ngang vui duyên mới, có đứa vượt qua biển rộng mà lòng mang nặng một kiếp dại khờ. Cho mình cúi đầu: A di đà Phật. Tội lỗi… Hoa ngừng gõ mõ, gióng tiếp cho một tiếng chuông từ bi.

“Bây giờ sự đã tam bành
Cũng chi một chút cho đành chút chi”.
(B.G)

Hồ Đình Nghiêm
Sau lễ Tạ Ơn

ga lyon đèn vàng

em đến nhé
tôi chờ
Paris trống.
đèn vàng khuya
tô điểm ít phấn son.
dăm khách lạ và tôi
ngồi thu bóng.
lại dài đi Paris với muôn mầu.

như lời hứa
em à nơi ga vắng.
Lyon buồn những con mắt
thu mau.
tờ lá úa
chạm chân người bỡ ngỡ.
tập làm quen trong buổi nọ xa lìa.

ừ xa lắm
tiếng còi tầu
hy vọng.
đóm lửa nhen
thắp sáng cuối đường ray.
búng tàn thuốc
lụn vàng tay
điểm đỏ.
bay vòng cung
Paris nối tay dài.

em
tôi gọi
à Paris không nói.
tiếng mưa đông
nghẹn khóc lũ chim câu.
đã đi vắng
từ hôm tầu rời bến.
không gian này
giam nhốt
mỗi tôi thôi.

năm tháng lạ
mở từng trang
kí ức.
có bóng ai
thuở nọ tóc mây vương.
Paris trắng
một Paris hoài trắng.
như áo em
sông trắng
suốt dặm đường.

em đến nhé
ga Lyon
mùa giao hưởng.
giữa mùa thu
và hoa trắng lang thang.
tôi sẽ đợi với ngón đàn nghệ sỹ.
bỏ cung trầm
từng nốt
vỡ
mê hoang.

pham quang trung

Một Bài Thơ Mới

Em mười bảy tuổi, anh không nghĩ. em sẽ thôi không còn học trò…Anh nhủ lòng anh: Mai Mốt Lính. Đường Anh Đi Có Bóng Nàng Thơ…

Từ lúc anh đi ra mặt trận, thật tình anh có lúc quên em: Tình Riêng Nghĩa Cũ Lòng Không Bận, Mình Sống Là Mình Vẫn Có Duyên…

Tan cuộc, tan tành cả nước non…Tình xưa nghĩa cũ nặng trong hồn. Trong rào dây kẽm, anh nhìn nắng…Chuông giáo đường ngân những tiếng chuông…

Trong rào dây kẽm…anh rồi, vậy! Than trách ai chừ? Ai tâm tình? Ai với mình chia nhau nước lả? Với mình thu vén cái mông mênh?

Sáu năm, không biết gì hơn nữa…ngoài một ngày mai rất mịt mùng! Buồn lắm, đi về, đi hỏi khắp…đường Bà Trưng, vắng, dốc Bà Trưng!

Chao ôi Đà Lạt chừ sao lạ? Em rất là quen cũng lạ rồi! Anh bắt xe qua đèo Ngoạn Mục, núi, rừng, suơng, khói, khói, sương, ơi…

Thấy khói sương mờ tan khói sương…Cố huơng, cố lý…bao la buồn…K’Rôngpha ngó dừa xanh ngọn, thấy gió bày về tha thiết hôn!

Lại nghĩ em đi chẳng trở về…Gió rừng lành lạnh buốt sơn khê…Bóng người xưa đã tan cùng nắng…thì đoạn trường thêm có nghĩa gì?

*

Con chim xanh bay về rừng xanh…Vầng trăng tháng Chạp thật mong manh…Và bờ liễu cũng mong manh nhỉ, lau lách đường xa…nỡ đoạn đành!

Vậy thôi! là có bài thơ mới…Thôi để thời gian nó vẽ bùa. Đã nói yêu em thì đã nói… dẫu tình trong mộng tận ngàn xưa…

Trần Vấn Lệ

QUA NGÕ SƯƠNG TAN

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Từ thuở trăng khuya vắng nguyệt cầm
Từ thuở rượu buồn anh uống cạn
Em về qua ngõ bóng sương tan

Áo lụa Hà Đông hương mới lớn
Tay ngoan e ấp lá thư tình
Bài thơ mực tím- con bướm phượng
Em giữ hoài”lưu bút ngày xanh”

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Em ngồi chải tóc hết một thời
Giã biệt kinh kỳ anh ra trận
Tuổi hai mươi khắp nẻo sông hồ

Tuổi hai mươi nụ hôn rất vội
Lên môi trầm – ngực ngải em thơm
Anh nhớ mùa xưa trăng đã cũ
Rượu uống mềm môi bóng nguyệt rằm

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Anh tìm về qua ngõ sương tan
Sương tan khóc đời nhau lận đận
Là lúc thuyền quyên bước theo chồng

Là lúc sầu đời anh lưu lạc
Bến sông nào cũng khổ như nhau
Bến sông nào cũng chảy nước mắt
Qua ngõ sương tan bạc mái đầu.

LINH PHƯƠNG

GỌI MỪNG SẮT SON

Tặng em một đóa trăng thề
Giúp em một buổi quay về thương yêu
Gửi em độ lượng trăm điều
Và ngàn nỗi nhớ những chiều đợi trông
Tay em này cánh hoa hồng
Môi em biển rộng rượu nồng đêm nao
Khi về rửa dép bờ ao
Dặn lòng tát cạn câu chào thủy chung
Mai đây tới bước sau cùng
Bên trời ân ái gọi mừng sắt son!

TẦN HOÀI DẠ VŨ

HƯ BIỆT NGHÌN NĂM

đôi khi ngồi trốn gió
bên tường xám rêu mờ
trong tay vò cọng cỏ
cười y hệt trẻ thơ

đôi khi nằm ngó nắng
nắng đi rồi nắng về
sao em hoài mây trắng
mãi dặm ngàn suối khe

đôi khi anh lẩm cẩm
như lão già bặt câm
không bới tìm kỷ niệm
không múc trăng phơi rằm

đôi khi chân nhốn nháo
lòng râm ran bất an
đi về như kẻ chợ
nhìn trống hoác chiều tan

gió ru mùa ru mãi
hết nắng rồi sang mưa
em ru thì con gái
xa nhau từ nghìn xưa

con sông bùng bọt sóng
quải mái dầm tương tư
thương hai bờ gánh nắng
đợi nhau…bấy…đến giờ !

đôi khi ngồi trốn gió
lêu lổng bàn tay hoang
vẽ câu thơ dị tật
trên đọt lá tàn xuân
từ em mang tình nhớ
treo hư biệt nghìn năm !

LÊ HÁT SƠN

Vàng và tro than

Mặc dù đã biết trước sẽ xẩy ra – nhưng – khi sự thể xẩy ra thì toàn thể cư dân của ấp Tà Rua bàng hoàng đến độ sửng cả người. Thiên hạ xôn xao bàn về cái chết của vợ chồng Út Chuột và thằng cháu nội tên Mèo. Mèo phóng xe hết tốc độ đâm đầu vô trụ điện. Nghe tin báo Út Chuột ôm ngực lảo đảo rồi té cái oành. Chết trên đường đến bệnh viện bởi cao máu. Bà Út cũng một khuôn. Một ngày mà ba người chết thì chấn động luôn chứ bàng hoàng là chuyện nhỏ. Đúng không?
Sau bàng hoàng thiên hạ lại nói ra miệng rằng vậy là khốn đốn cho anh em nhà Minh Mây. Minh và Mây là con trai của vợ chồng Út Chuột. Dưới Minh và Mây còn có hai bà con gái. Hai bà nầy có chồng và nhà cửa ruộng nương đề huề nhưng ba cái vụ tranh dành tài sản thì tỷ phú còn ham nói chi dân lấm lem vì ruộng. Ủa… mà… đang chết chóc lại lấn vô tài sản và tranh dành là sao? Bộ Út Chuột giàu lắm hả?
Ừ… Tà Rua thì nhất hạng Út Chuột rồi – lão già có biệt danh Ba Cụt nâng chén rượu nói với ba quân – Thằng Út Chuột phải hỏi tao… rằng thì nó là việt kiều Kampuchia. Năm ’73 cha thằng Út bỏ Biển Hồ trên K về Việt Nam vì chịu không xiết sự truy sát của vô số các phe cánh trên xứ Ăng-co. Nào Lonnol nào đảng áo đen nào phe cách mạng… trên đường về cha má Út Chuột bị cướp giết sạch. Út thoát chết vì sợ quá nên bất tỉnh trước đó. Trong rủi có may. Út ta nằm đè lên cái chỗ ông cha dấu vàng. Bọn cướp lấy được cái ruột tượng của bà má nên không kiểm soát kỹ. Út một mình về lại mẫu quốc năm mười lăm tuổi. Nó tìm đến giáo xứ X là họ đạo từ K về hội tụ. Nghe ba má nó chết bà con trong họ thương lắm bèn trình bày với cha xứ và Út được cấp một lô đất cất nhà.
Út theo bà con cô bác vô rừng phá lâm làm nương rẫy. Vốn tính cần cù và sẵn có vàng nên Út Chuột thuê người khai hoang. Thuở ấy rừng sát bên lộ cái và bên trong rừng là quý vị nón cối mũ tai bèo. Út chơi với tất cả từ cảnh sát cộng hòa cho đến dép râu. Đến ngày thống nhất phe chiến thắng về chòi rẫy của Út tạm ngụ để chỉ huy. Nếu cứ thế mà tiến không chừng Út Chuột làm lớn chứ không đùa. Từ 1973 đến 1975 xe bò của Út đã đưa vào rừng cho mặt trận biết bao nhiêu là lương thực và thuốc men, thậm chí cả lựu đạn và đạn M16 mua được từ lính đào ngũ. Công quá lớn chứ chơi sao? Kẹt cái là ở cái năm mười chín tuổi Út Chuột sa vào lưới tình của một kiều nương thứ thiệt. Nàng tên Loan – Kim Loan – hai mươi tuổi và đẹp thôi thì khỏi nói. Từ Sài-gòn nàng cùng gia đình xuống xứ rừng nơi Út cư ngụ với tư cách kinh tế mới. Út Chuột lúc bấy giờ là một ông chủ với mười mẫu đất và một bầy bò cả hai chục chú trong tay. Kinh tế mới khốn khó nên nàng theo chúng bạn đi làm thuê cho chủ Út Chuột. Vừa gặp Kim Loan, Út đã bị tiếng sét ái tình đánh cho một phát vong mạng. Chao ôi gã trai mới lớn nào biết tình là gì, thậm chí mười chín mà đàn bà còn chưa biết thì chết phải quá.
Út Chuột ghé nhà nàng chơi cho biết. Gia đình tiếp Út rất chi trọng thị. Riêng Kim Loan thì ngồi chơi tiến lên với mấy đứa em. Cái thái độ phớt tình của nàng làm Út đuối. Là thằng từng hút cái chết và đã nằm trên vũng máu của cha má nên Út có một cái quyết tâm rất khác người. Để khắc phục nhược điểm khi đứng gần Loan thì cuống quýt vụng về, Út theo chúng bạn lên Sài Gòn chơi cho tỏ mặt đàn ông. Khi đã là đàn ông Út ta tậu một chiếc 67 đến nhà nàng cho tiện. Một đêm khuya khoắt kia Út ôm lấy nàng và ngỏ lời yêu. Nàng gật đầu cái rụp chả có cuống quýt vân vê tà áo chi ráo.
Kim Loan mê bài. Nàng biết chơi tứ sắc tiến lên cả xập xám. Chơi trong nhà cho vui thôi chứ chả ăn thua chi. Út Chuột ngồi bên nàng, bắt bài dùm nàng… sư cha cái cờ bạc. Không có gì nhanh biết và nhanh tinh thông bằng nó và khi biết thì ghiền chết bỏ. Út Chuột sa vô cờ bạc từ ngày quen biết em Loan và cái dòng cờ bạc khi chơi phải tiền nó mới thú. Tiền thì Út không thiếu. Nó cùng em Loan trên 67 hết sòng này qua sòng khác. Và sạch bách từ bò bê đến nương rẫy:
– Thiệt vậy ha Ba Cụt?
– Tao nói láo cho trời đánh sút huyết. Hồi mới đến xứ X tao làm thuê cho Út Chuột nên rành. Thằng Út bị con Kim Loan thuốc đến thân bại danh liệt. Con Loan là dân phố lớn từng trải đời lên hàng đại úy. Út Chuột chết vì con chồn cái quá oan uổng.
– Sao oan?
– Con hồ ly đưa thợ thầy của nó từ phố lớn xuống xứ nầy xẻ thịt con nai. Tao nói bây hiểu không?
– Nhưng bây giờ vẫn nứt đổ đổ vách thôi Ba Cụt ơi.
– À… đó là chuyện về sau… Út Chuột giàu như bây thấy là nhờ bãi vàng Tà Rua nổ lớn…
***
Sau khi tàn đàn xẻ nghé với Kim Loan. Than ôi, nàng vượt biên. Vụ nầy dân tình ở giáo xứ X bàn rằng con hồ ly vặt trụi lủi thằng si tình để có tiền qua trời âu mỹ. Thời may Út Chuột còn lại đúng một cổ xe và hai con bò kéo. Hắn tìm gặp Ba Cụt. Anh em lại tạc thù bên chén ba xi đế:
– Tao đi phát rẫy mướn trong Tà Rua.
– Tao theo với được không?
– Mày có xe bò vô cưa củi là ngon đa.
Vào Tà Rua, Ba Cụt xúi Út Chuột chui sâu vào rừng nguyên sinh ăn cắp be. Be là cổ thụ to cả hai mét bề hoành dài năm bảy mét. Muốn có cây phải mua cán bộ trông coi rừng tục gọi kiểm lâm hay bảo vệ. Thời ấy cán bộ rách lắm. Họ dẫn lâm tặc vào từng gốc gây rồi ngã giá. Cẩm Lai bao nhiêu Gõ bao nhiêu… chung chi rồi tối mang cưa vào hạ. Nhưng mấy ông bảo vệ rừng ma mảnh lắm. Ông nầy bán ông kia vào bắt. Hôm đó xe bò bị bắt đưa về trạm. Chán quá Út Chuột theo Ba Cụt ra quán cóc nhậu thiếu. Có ba giọt rượu Út buồn tình buồn đời ngổi khóc hu hu. Hận con đàn bà khốn nạn đã chơi mình trí mạng, Út thề rằng nếu gặp lại Kim Loan sẽ cho nàng biết thế nào là lễ độ. Ba Cụt tuy ba trời bảy búa mở miệng ra là văng tục, uống rượu bằng lỗ mũi nhưng cũng có chút chữ bèn mắng bằng thơ rằng:
– Có vấp ngã mắt mới nhìn sáng suốt. Có đau thương lòng mới cứng rắn hơn. Có thẳng căng như một sợi dây đờn. Mới tạo được những âm thanh huyền diệu”. Bị gái đả cho là may mắn chứ có chi mà khóc lóc. Lo kiếm tiền mà chuộc xe bò kìa ông cố nội.
Út chửi thề:
– Sư cha mày chứ thơ với thẩn…
Nói rồi Út giã từ bàn nhậu lang thang đúng tư cách kẻ không nhà. Từ quán nhậu ra suối Tà Rua đi ngang một đám rẫy trồng dưa hấu. Khát nước quá Út ghé vào ăn trộm trái dưa. Than ôi lúc túng cùng ngay trái dưa mà ăn cắp thì hết thuốc rồi. Vừa ngồi xuống Út nghe nhói ở ngón chân út. Nhìn xuống thì thấy một con rắn phóng vào bụi cây. Con rắn to bằng nửa cổ tay và dài khoảng bốn mươi phân. Hốt hoảng Út ngồi xuống và nhận ra hai dấu răng đang rỉ máu. Đúng lúc đó một thằng nhóc chừng bảy tuổi có mặt:
– Chú bị sao vậy?
– Tao bị rắn cắn mày ơi.
– Yên tâm… may mà ông gặp tui bằng không ông chết.
Nói xong nó bứt cọng dây rừng buộc bắp chân Út Chuột rồi dẫn ông trộm dưa vào chòi. Nó lấy lưỡi lam rạch một đường ngay vết cắn. Máu từ ngón chân ròng ròng chảy và Út nghe cơn nhức nhối dịu bớt đi:
– Ông biết rắn gì không?
– Không.
– Hổ Quạp đó.
Má tui nói – thằng cu tiếp tục – hồi năm nẳm mấy ông lính Thái Lan ở tiểu đoàn Mãng Xà Vương nuôi loại rắn này rồi thả vô rừng để giết mấy ông dziệt cộng. Rắn này độc lắm. Tui chỉ làm nhiêu đây giúp chú thôi. Lát nữa má tui về rồi tính tới. Chỉ có má tui mới biết cách trị tuyệt nọc loại rắn nầy.
Bà chủ tức má thằng cu về. Nghe nói bị rắn cắn bà nhai một miếng trầu, hớp một ngụm rượu rồi lẩm nhẩm như bị ma làm sau đó phun phèo phèo vào vết rắn cắn. Thật là thần diệu. Hết nhức nhối ngay tức khắc. Thiệt hú hồn hú vía. Và cái bà nầy sau đó là vợ Út Chuột. Thật là trong họa có phúc. Bà Út bỏ tiền ra chuộc xe bò còn ra tay thuê người phá cụm rừng sát bên suối Tà Rua làm rẫy. Út chuột không theo Ba Cụt ăn cắp cây nữa mà dùng bò kéo củi thuê cho chiến dịch khai thác trắng.
– Tao đi làm cho vợ chồng nó nên rành. – Ba Cụt nói –
– Sao cùng một thời mà ông Út vậy còn chú không có đất cắm dùi là sao?
– Bộ mày tưởng muốn là được sao? Phải có tiền chung chi mới tra được rựa vô phá rừng làm rẫy. Phải có cái tọng vô họng cho no bụng mới làm được hiểu chưa mấy ông con? Thằng Út tuy bị gái lừa nhưng còn hơn tao cổ xe bò. Tao thì tha phương cầu thực nên trên răng dưới củ từ.
Ngay lập tức Út Chuột có thằng con trai. Nó tên Minh. Năm sau bà Út đẻ thằng Mây rồi tiếp tục hai con Trinh và Trang. Một nhà đề huề hạnh phúc ấm no với hai héc ta mía và năm sào ruộng. Đời mà vậy cho đến chết thì cũng quá xá tốt rồi. Ngờ đâu “cái giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Năm ấy rừng Tà Rua bể lớn một bãi vàng.
Ba Cụt tiếp tục:
– Cha con thằng Út trúng một cục to bằng bàn tay của tao và dày khoảng bốn phân. Cục đó nặng ba ký lô. Tức là trên dưới bảy chục cây vàng.
– Sao biết chắc vậy chú Ba?
– Tao có mặt và cầm cục vàng đó trên tay. Tao đặt nó lên cái cân đồng hồ Nhơn hòa và nó đúng ba ký.
Lúc đó con vợ thằng Minh anh thằng Mây chuyển bụng đẻ.
***
Từ Tà Rua ra cái trạm xá là năm cây số đường bộ. Ngay lập tức con Thúy – vợ thằng Minh – được cáng đi bằng võng. Cũng cần nói thêm để biết rằng những năm tháng ấy người ta đùa với tử thần riết nên quen. Bằng chứng là Út Chuột bị rắn cắn mà chữa bằng bả trầu và rượu là một minh chứng. Mấy thằng bị sốt rét uống nước rể ớt hiểm sau khi sao khô hạ thổ là minh chứng thứ hai. Tại sao đùa ư? Trả lời luôn: Chạy ăn muốn sặc gạch hơi sức đâu mà lo ba cái vặt. Đàn bà con gái bầu bì chuyện đi khám thai định kỳ là một cái gì đó xa xôi, hàng quý tộc mới dám rớ chứ bần cố nông thì kệ bà nó đi. Gia đình Út Chuột nằm ở dạng liều số một.
Nhỏ Thúy sanh xong thì chuyển tốc hành lên phố lớn vì bị băng huyết. Trước khi bãi vàng Tà Rua nổ ra thì xứ sở nông nghiệp nầy ai có chiếc 81 kim vàng giọt lệ là người người đưa mắt ngưỡng mộ mà ngắm nhìn. Chả ai có lấy một chiếc bốn bánh. Bãi vàng nổ ra quý vị bán thuốc sơn đông lưu động đến ngày một. Đoàn này đi đoàn kia đến phục vụ cho quý khách lưng đau đầu gối mỏi vì nằm sương nếm mật. Út Chuột thuê ngay một bốn bánh chuyên trị cao đơn hoàn tán đưa con dâu tức khắc lên đường. Thời may tay chủ xe thuốc rất rành đường đi nước bước của Sài Gòn hoa lệ nên sản phụ đến Từ Dũ vẫn còn bình an vô sự.
Máu được chuyền. Thuốc được tiêm. Ba-by được nuôi đặc biệt trong lồng kính. Tất cả không nghĩa địa gì vì Út Chuột bây giờ có trong tay trên dưới tám chục cây vàng. Có còn chi nữa để âu lo? Tiền lớn. Bệnh viện lớn. Bác sĩ uy tín nhất…. Chao ôi vậy mà không cứu được mới là đáng hận. Bác sĩ báo cho người thân biết rằng sản phụ vô phương cứu chữa vì bị xuất huyết:
– Lý ra – bác sĩ nói với bà Út – con của chị phải được khám thai định kỳ. Đây là một trường hợp đặc biệt. Rất đặc biệt…
Nói rồi bác sĩ mời bà Út và Minh vào phòng sản phụ. Hai tay người mẹ tội nghiệp là máu và nước biển đang chuyền. Vị bác sĩ lấy một mũi kim và châm nhẹ vào dái tai sản phụ. Ông ta đặt vào vết châm một miếng bông gòn. Chỉ một lát miếng bông đẫm ướt máu. Bà Út và Minh ngơ ngác nhìn:
– Máu không cầm. Bà hiểu không? Chuyền bao nhiêu cũng bằng không. Chúng tôi đã làm mọi cách có thể nhưng đành chịu. Ngân hàng máu thì đã cạn loại máu dành cho con bà… tôi nói mong bà hiểu.
Đến cái nước này thì kim cương còn chết nói chi vàng. Về sau khi bình tâm lại thằng Minh kể rằng mỗi khi đến kỳ vợ nó những nửa tháng mới bình thường. Đàn ông con trai mới lớn nên Minh nào có biết chi. Vợ nó cũng mới nứt mắt đã có chồng nên mù câm. Thực vậy. Thằng Minh mười bảy đã lấy vợ và con Thúy mười sáu. Tà Rua là cái xứ rừng sát bên nhà. Thúy đi làm thuê cho vợ chồng Út Chuột nên gặp Minh. Anh trai nhà có mía có ruộng có bò yêu mình. Anh lại đẹp trai ngu sao không yêu lại. Lấy anh là hết kiếp làm thuê liền – má Thúy nói vậy.
Mười chín tuổi mất vợ Minh khóc như mưa. Ông bà Út ôm cháu nội cho bú sữa ngoại. Thuở mà dân uống cà phê chủ quán phải bỏ đường vào ly có định lượng, chả quán nào dám bỏ hủ đường ra bàn vì sợ khách uống trà đường. Vậy mà thằng Mèo được bú sữa Guigoz thì quá xá là quý tộc. Không có tám chục cây vàng thì sữa ông thọ còn không có. Ông bà Út ôm cháu nội dỗ dành. Chăm trẻ không mẹ thuở lọt lòng thì chỉ ông và bà mới được chứ cô gì chú cậu thì xin thua.
Năm Mèo lên hai cha nó có vợ khác. Rồi chú rồi cô ai có gia đình riêng nấy. Ông bà Út Chuột chia đất đai đồng đều cho tất cả phòng hiểm họa về sau. Đứa nào cũng mẫu mía dăm sào ruộng cặp bò. Thằng Mèo ở với ông bà nội và được cưng đúng cái nghĩa nâng trứng hứng hoa. Ông bà có câu con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Là do bà và mẹ cưng quá chăng? Dám vậy lắm. Đằng này thằng Mèo được cả ông và bà nội chiều thì hư hao âu cũng phải. Năm lớp tám nó đòi bỏ học nếu ông bà nội không mua cho nó cái xe máy. Có xe rồi nó bỏ học theo chúng bạn đua thâu đêm suốt sáng. Rồi ăn nhậu rồi phá quán rồi đánh nhau… ông và bà Út lo cho cháu thiếu điều sói trán. Họ lên tăng xông là điều không thể tránh. Còn cha nó đâu? Than ôi! Đàn ông thì mười thằng hết sáu đội vợ lên đầu. Con vợ nói: “ tui mới nói một tiếng cha má anh đã nạt là mày biết cái gì mà xen vô…” Thôi thì ông bà nội lo vậy.
Dân Tà Rua nhìn cảnh hai ông bà già cầm tiền đi bồi thường cơm thuốc cho người bị cháu mình gây ra mà tội nghiệp. Họ tin rằng, chắc rằng, trăm phần trăm rằng thằng Mèo mà có mệnh hệ chi là hai ông bà này đứt bóng vì lên máu. Y như rằng. Có rượu vô thằng Mèo phóng 125 phân khôi lao vô trụ điện. Hai ông bà già ra đi cùng một ngày. Thiên hạ nói:
– Ba cái vàng đào được ở Tà Rua nầy xưa kia của người Champa… nó thiêng lắm. Mười người trúng vàng thì đúng mười thân bại danh liệt… rồi đây bầy con vợ chồng Út Chuột sẽ giết nhau vì đất đai vườn tược. Thằng Minh và ba đứa em nó cùng mẹ khác cha. Khác máu tanh lòng mấy người tin tui đi…
Ba Cụt cãi rằng:
– Vàng bị ếm cái con khẹc… bọn mày đúng là mê tín ba láp ba xàm. Vàng nào chả là vàng. Tất cả đều từ đất mẹ mà ra chứ không hề trên trời rơi xuống. Nó có bổn phận giúp con người sang cả chứ không hề gây họa. Và đời sống của bọn mình ai chả mong kiếm chút ít phòng khi hữu sự. Có điều chuyện nhà Út Chuột và chuyện nhà tao y một khuôn. Nếu con cái tao không ra ôn gì trong chuyện học hành vì nghèo quá thì thằng Mèo ngược lại. Nếu vì miếng cơm manh áo không còn thời gian để kèm cặp nên con tao được khoán trắng cho nhà trường. Trường lớp thì giáo dục con em mình một ngày được mấy tiếng bây nói tao nghe coi? Tựu trưng gia đình là cốt lõi. Đã nhiều lần tao cảnh báo thằng Út Chuột cưng thằng Mèo vừa thôi. Nhưng – Ba Cụt thở dài – cái sự yêu thương con cháu đến tối mắt. Không thương sao được khi nó không cha không mẹ? Đánh không nỡ, la không đành nên con cháu ỷ thế mà hư hao…
Cũng có cái tụi mày nói đúng – Ba Cụt tiếp tục – bầy con Út Chuột đứa nào cũng không xong tiểu học. Bọn nó lớn lên trong ruộng đồng theo bản năng nhiều hơn lý trí. Anh em nó giết nhau vì tài sản Út Chuột để lại là có…
Nhân bảo như thần bảo. Ba Cụt nói linh như miểu. Ông và bà Út chuột cùng đứa cháu chưa xanh ngọn cỏ bầy con đã lục tung tủ giường bàn ghế đào cả nền nhà truy tìm vàng cất giấu. Chúng kéo nhau ra tòa đòi phân chia tài sản. Anh em thằng Mây một phe, thằng Minh một phái.
Buồn quá Ba Cụt nâng chén rượu hát rằng : “Đời phu du có nghĩa chi… những lợi danh sẽ tan thành tro…”

NGUYỄN TRÍ

PHÂN ƯU

Chúng tôi vô cùng thương tiếc khi nghe tin Thân Mẫu của bạn Lê Hát Sơn đã tạ thế ngày 03/12/2018
BBT TƯƠNG TRI và thân hữu Thành Kính Phân Ưu cùng bạn
Xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến
Kính cầu chúc hương hồn Bà sớm siêu thoát trong cõi vĩnh hằng.

PHÂN ƯU

Chúng tôi vô cùng thương tiếc nghe tin Thân mẫu của nhà văn Dương Như Nguyện là Cụ Bà NGUYỄN THỊ TỪ NGUYÊN, cựu Giáo Sư Trung Học Trần Quý Cáp Hội An và Đồng Khánh Huế đã từ trần tại Houston ngày 12-02-2018.
BBT TƯƠNG TRI và thân hữu xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Bác an lạc ở cõi vĩnh hằng.