LỄ HỘI AN – DƯƠNG – VƯƠNG

Hằng năm nước ta có ba lễ hội lớn mang ý nghĩa lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là lễ hội Hùng-Vương
[ 10/3 AL ] lễ hội Trường-Yên [ Hoa-Lư ][ 15/2 AL ] và lễ hội vương thành Cổ-Loa.
Cổ-Loa là kinh đô thứ hai của nước Việt.
Kinh đô đầu tiên là Phong-Châu, thời đại các vua Hùng.
Nhưng Cổ-Loa với Thục-Phán An-Dương-Vương là hiện thực lịch sử.
Phong-Châu thời đại các vua Hùng cho đến nay vẫn là truyền thuyết.

Năm 218 trước Công-Nguyên, sau khi gồm thâu lục quốc, Tần-Thủy-Hoàng với chiếc đầu bạo chúa, đã phái 50 vạn quân binh tiến về phương nam đánh Bách-Việt. Thủ lĩnh dân Việt thủa ấy là Thục-Phán, dựa vào núi rừng hiểm trở đã đứng lên tổ chức trường kỳ kháng chiến. Sau mười năm bị tổn thức nặng nề, quân Tần ngậm đắng rút về phương Bắc. Thục-Phán thay vua Hùng lập ra nước Âu-Lạc, kinh đô là Cổ-Loa [ nay thuộc huyện Đông-Anh cách Hà-Nội 15 km về hướng bắc ].
Cổ-Loa thành là kiến trúc độc lập đầu tiên của người Việt. Xưa, kinh đô có chín vòng thành, hiện nay thành chỉ còn lại ba vòng. Thành ngoài chu vi rộng 8 km2, thành giữa mang hình đa giác rộng 6,5 km2, thành trong là 1,60 km2, hình chữ nhật. Chiều cao của tường thành là 5 m, có nơi cao tới 12 m, còn bề dày của thành rộng tới 20 – 30 m. Tương truyền là do thần Kim-Quy báo mộng đề An-Dương-Vương dựng nên kinh thành kỳ vỹ nầy hầu chống lại giặc phương Bắc.
Thục-Phán lên ngôi vào năm 208 trước Công-Nguyên, trị vì được 50 năm. Sau nhiều năm đánh Âu-Lạc không thắng nổi, Triệu-Đà xin giảng hòa rồi lập kế cho Trọng-Thủy kết duyên cùng Mỵ-Châu để tráo lấy nỏ thần. Năm 179 trước Công-Nguyên, An-Dương-Vương bị diệt, nước ta từ đó bị phong kiến Trung-Hoa đô hộ hơn cả ngàn năm.
Hằng năm mỗi độ xuân về, từ mồng 6 tết cho đến 16/1 AL, xã Cổ-Loa lại rộn ràng tổ chức Lễ Hội An-Dương-Vương trong không khí tưng bừng, dân làng của 12 xóm đất đế vương xưa làm kiệu kết hoa tiến về thành Cổ-Loa để dự lễ rước thần. Lễ là những ngày hội vui xuân với bao nét đẹp văn hóa cổ truyền được người dân làm sống lại qua những hội hát chèo, đánh cờ người, đu bay, chọi gà, đánh tổ tôm . . .
Trong những ngày lễ hội, hàng vạn người khắp nơi tụ hội về để tưởng niệm công ơn dựng nước của Thục-Phán An-Dương-Vương trong không khí vừa huyền thoại vừa hiện thực. Cổng làng Cổ-Loa ngày nay, xưa là thành trong, qua khỏi thành trong là đến đình làng, đây là đền cũ điện triều, nơi bá quan văn võ cùng vua luận bàn việc nước. Hiện nay trong đền còn tấm hoành phi “ Ngự Triều Di Qui “ và trong di tích nầy tại Ba-Cầu đã từng phát hiện kho chứa hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, có lẽ truyền thuyết về nỏ thần cũng từ những mũi tên nầy mà có.
Đền Thượng, tức là đền thờ An-Dương-Vương nằm phía trong, theo các vị bô lão thì đây là nội cung của vua ngày xưa. Đền được xây dựng từ thế kỷ 11, thờ An-Dương-Vương, thần Kim-Quy và nỏ thần, đền gồm có hạ điện là ngôi nhà ba gian rộng lớn, cột gỗ lim đồ sộ, tám mái vút cao. Tượng vua được đúc từ năm 1897, nặng tới 255 kg bằng đồng lấy từ một kho đồng được phát hiện năm 1893 dưới nền điện trong thời gian đền được trùng tu lại. Trước cổng điện là hai con rồng uy nghi chầu phục với những nét khắc chạm tinh vi của thời đại nhà Trần.
Miếu thờ công-chúa Mỵ-Châu cách đền chính vài mươi bước, nép mình dưới cây đa cổ thụ khổng lồ, miếu am khiêm tốn u huyền như cuộc đời u uẩn của nàng, trong miếu có một tảng đá thân người không đầu, tương truyền đó là tượng Mỵ-Châu “ trung tín, thệ tâm thân hóa hóa thạch “ từ biển xa trôi về Cổ-Loa mong phụng dưỡng vua cha. Giếng Trọng-Thủy nằm giữa cồn đất của ao tròn trước mặt đền, giếng xây bằng gạch, đây là nơi Trọng-Thủy thương tiếc Mỵ-Châu đã nhảy xuống tự vẫn, nước giếng từ ngàn xưa đến nay vẫn trong xanh một màu, tương truyền những viên ngọc trai từ máu của Mỵ-Châu hóa thành được rửa bằng nước giếng nầy thì sẽ sáng đẹp bội phần. Nhà bia nằm bên phải đền thờ, bia được dựng vào năm 1601, ghi lại những phong tục, tập quán thời ấy, nét chữ đến nay vẫn còn rõ ràng sắc sảo.
Sau khi thành Cổ-Loa rơi vào tay Triệu-Đà, An-Dương-Vương lên ngựa truy phong về phương nam mang theo Mỵ-Châu và chiếc áo lông ngỗng cùng những lời dặn dò của Trọng-Thủy trước lúc chia tay, lại một lần nữa đã làm Mỵ-Châu đắc tội với vua cha. “ Chạy đến biển thì cùng đường, Rùa Vàng hiện lên mặt nước nói rằng : “ Người ngồi sau ngựa chính là giặc đó sao không giết đi ? “ Vua rút gươm muốn chém, Mỵ-Châu ngữa mặt lên trời khấn rằng : “ Thiếp là con gái, nếu có lòng phản cha, xin chết làm tro bụi, nếu một lòng trung tín nhưng thật bụng tin người, bị người lừa dối thì xin chết hóa thành châu ngọc để rửa mối nhục nầy . . .” Vua chém Mỵ-Châu, máu chảy thành giòng, trai hút lấy hóa thành ngọc, còn An-Dương-Vương nhảy xuống biển theo thần Kim-Quy về với lòng đại dương.
Lễ hội vương thành Cổ-Loa trong không khí thiêng liêng của những ngày tết cổ truyền là tiếng chuông đánh thức mỗi người dân nước Việt, dù ở năm châu hay bốn biển, đến ngày 6/1 AL, bằng tâm tưởng hãy hành hương về 2316 năm trước, Thục-Phán An-Dương-Vương bằng ý chí quật cường, lần đầu trong lịch sử đã đánh thắng 50 vạn quân Tần hùng mạnh, đã sáng tạo nên thời đại đồ đồng và để lại biết bao bài học lịch sử bi tráng cho dân tộc Việt trường tồn đến ngày nay.

Ai về qua huyện Đông-Anh
Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục-Vương
Cổ-Loa thành cũ khác thường
Trải bao năm tháng dấu thành vẫn ghi.
[Nhân gian ca]

Đầu Xuân Kỷ-Hợi 2019

VƯƠNG KIỀU

Unhappy Valentine’s Day

Nàng không buồn nghĩ tới / Valentine’s day hôm nay. Trùm khăn tóc khỏi bay, nàng đi ra làm bếp!

Làm đàn bà, số kiếp: Lo cho chồng cho con. Trong ngực nàng không còn / trái tim cho người cũ…

Nàng lâu nay, vậy đó! Nàng là người đàn bà. Vẫn miệng còn như hoa. Vẫn mắt như hồ nắng…

Valentine’s day lẵng lặng / mỗi năm đều trôi qua. Không ai nói nàng già, nhưng soi gương nàng biết…

Thời gian đi qua thiệt / qua trước của nhà nàng/ khói lam chiều mang mang / ôi những làn khói tỏa…

Nàng nghe lạnh trên má / giọt nước mắt nàng lăn…Ai cũng có tuổi Xuân…Nàng, hoa hồng treo ngược!

Nàng mở khăn cho tóc / xỏa xuống bàn tay nhăn / nhớ khi đò trôi ngang / bàn tay nàng trên ngực…

Nếu hồi đó nàng khóc…vu quy thiếu nữ…mà! Và bây giờ thì xa / Valentine’s Yêu Dấu!

Nàng! Ôi anh thật “xấu” / xa em thời chiến tranh!

Trần Trung Tá

ĐÊM BUỒN…

ĐÊM BUỒN…

Im vắng mơ hồ như giấc mơ
Ai buồn buông thả một hồn thơ
Quê hương khuất nẻo chiều nghiêng bóng
Viễn khách sầu lay khói sóng mờ

Ta cũng như người – thương nhớ thương
Quê mình biền biệt mất trong sương
Lưu vong trên đất mình đang ở
Đau nhói trong tim nỗi đoạn trường

Ta cũng như người ray rứt thôi
Những chiều mưa rụng lá chơi vơi
Nhớ ơi khói ấm cay lòng mắt
Ta khóc – mà thôi – đã-mất-rồi….

TẶNG HH.

Còn quê đâu nữa mà về
Chỉ còn lại những não nề. Phù vân
Chỉ còn lại tiếng chuông ngân
Rung trong tiềm thức mỗi lần nhớ quê
Cầu tre – lắc lẽo – câu thề
Không nên danh phận – không về cố hương…

Hồ Chí Bửu.

ĐÊM TRỪ TỊCH


Tặng Bạn hiền Zulu DC CAO HẠO NHIÊN

Năm tàn nguyệt tận đêm trừ tịch
Xa xứ lòng ai chẳng ngậm ngùi.
Huống nỗi quê xưa bao thảm kịch
Đau thương đất Mẹ lệ than ôi !

Buồn xuyên thế kỷ ta lữ thứ
Sóng vỗ ầm vang dội biển đông.
Hỡi kẻ rước voi dày mả tổ
Hoàng Sa vết chém…máu Tiên Rồng…!

Chợt nhớ mùa xưa mai vàng điểm
Chiều ba mươi Tết mẹ têm trầu
Bàn thờ nghi ngút trầm hương quyện
Rước tổ tiên về nhắc nhớ nhau…

Lò than lửa réo, nước sùng sục
Nồi bánh chưng đây: Hồn cố hương.
Dân tộc! Ta mơ hoài chẳng được
Đêm trừ tịch buốt giá trong lòng!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Phạm Công Luận: Vẻ hấp dẫn của ký ức

Có người nói: “Viết, một cách nào đó, là chết”. Có những câu chuyện cũ, không có gì độc đáo nhưng ta muốn giữ cho riêng mình. Một ngày, ta ghi lại kỷ niệm ấy trên trang giấy, rồi được nếm trải cảm giác sung sướng khi bài viết nên hình nên dạng, được đăng trên sách, báo… Đến lúc nào đó ngồi lục lại trong trí nhớ, ta bỗng thấy những kỷ niệm lấp lánh ấy không còn đậm đà trong lòng mình nữa, không còn làm ta thao thức nữa, nó “chết” dần theo từng con chữ, để lại vài hình ảnh mờ nhạt. Điều đó như một quy luật tự nhiên.

Có một dạo tôi miệt mài viết về những cái Tết trong gia đình khi còn cha mẹ. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc khi ngồi trước màn hình máy tính hoặc trong bóng đêm thả trí nhớ bay về miền xanh thẳm thơm mùi thuốc pháo ở những ngày xưa. Sau đó, những chuyện cũ như phai dần sau một lần lấy ra từ trong kho của kỷ niệm, giống như cuốn sách cổ trong hầm mộ tan thành bụi bay theo gió khi phơi ra ánh sáng mặt trời.

Khi có nhà riêng, anh bạn tôi tách gia đình nhỏ ra khỏi cuộc sống đại gia đình và dần thay đổi lối sống, từ cách trang trí nhà cửa trở đi. Ngày Tết, cả nhà đi du lịch nước ngoài, cửa nhà khóa kỹ vài lớp. Anh kể rằng thật thoải mái khi mấy ngày Tết không bị ràng buộc bởi những kiểu cách xã giao như trước kia. Anh không cần mua hoa về chưng, dọn bày cỗ bàn, cúng kiến, xông đất, cúng giao thừa, tiếp khách.v.v…

Một lần, ngồi bên hồ bơi ở một resort xứ người để trông con đang ngụp lặn dưới nước, anh sực nhớ hôm nay là mồng Một Tết. Anh nhớ trong căn nhà cũ kỹ một thời, nơi sum họp của gia đình bảy người con cùng cha mẹ khi xưa. Anh nhớ cái bàn thờ sáng choang với lư đồng mà chính tay anh, đứa con trai út trong nhà mỗi năm nhận phần việc lau chùi bằng khế, chanh. Anh nhớ dáng cha bận bà ba trắng đứng thắp nhang trước bàn thờ, dáng mẹ ngồi cắt củ kiệu và nhớ cảm giác sung sướng khi mang từng cái sàng tre sắp đầy kiệu và củ cải lên phơi trên sân thượng trong cái nắng thơm dịu của tháng Chạp ta. Anh thấy buồn thiu, rồi tự nghĩ tốt nhất là cất cho kỹ cái tâm trạng u uẩn ấy, vì những người thân yêu quanh anh khó mà hiểu được những gì thuộc thế giới tuổi thơ của anh mà họ không từng có mặt.

Có khi vợ anh, khi sống trong nhà chồng, cũng từng cảm thấy lạc mất nhiều cảm xúc của tuổi thơ, của quê hương, của kỷ niệm và của những nghi thức ở tôn giáo mà cô ấy gắn bó từ nhỏ. Tối đó, anh ngồi trên một góc giường phòng nghỉ, gõ phím ghi lại từng dòng về những thổn thức trong lòng. Anh thức để viết đến một giờ sáng, lưu lại và mỏi mệt nằm xuống ngủ khi tâm trạng đã nhẹ nhàng hơn. Biết mình không quen viết lách có văn vẻ, câu cú có lộn xộn, nhưng đó là liều thuốc hay. Anh bớt đi nhiều cảm giác nhớ nhung, cảm thấy việc viết lên trang giấy chẳng khác chi đốt một lá bùa, để những sầu não bay đi và tâm bình yên hơn.

Nhiều lần tôi thấy mình bị lạc trong mớ ký ức hỗn độn của “những năm niên thiếu dịu dàng và tuổi trưởng thành khắc khổ” (nói như Gogol), trong đó từng có những câu chuyện buồn, đáng xấu hổ và đầy giận dữ. Nhưng cho dù ký ức xấu cũng là ký ức, tôi chỉ thích nhớ những chuyện vui khiến mình từng thấy hạnh phúc.

Sự nghiêm khắc của cha trở nên dễ thông cảm, câu răn dạy khó chịu của ông anh cả chứa đựng sự chăm lo thương yêu trên bước đi của đứa em đang trưởng thành. Phải chăng đó là màng lọc không chỉ tạo nên từ lý trí mà còn từ sự thông hiểu và biết ơn, mà khi trưởng thành ở tuổi nào đó ta mới có được.

Viết về ký ức phải chăng chỉ là sự trốn chạy thực tại?

Tôi không nghĩ mọi chuyện đơn giản như vậy. Khi viết về quá khứ, tôi nhận ra mình là ai, những gì đã tác động đến mình để trở thành một con người đủ cả những tính tốt và xấu, với những điều mạnh mẽ lẫn yếu đuối trong tính cách không dứt bỏ được. Tôi hiểu rõ hơn vì sao mình yêu tha thiết một thành phố dù nó dần dần không giống như mình yêu thương, vì sao gắn bó với những xóm giềng, cây cỏ, thời tiết, khí hậu chung quanh khi chúng đã dần biến dạng. Và vì sao, luôn cố gắng truyền cho con một điều gì đó của quá khứ, dù các con thật ra đang sống để hình thành một quá khứ cho tương lai của các con. Đó là mật mã để gắn kết các thế hệ mà nhiều khi mong muốn truyền đi như là một thứ bản năng có sẵn. Có lẽ đó là lý do các cụ già thích kể chuyện xưa.

Dù sao, thời thơ ấu là thời gian đẹp nhất đời người cho nên viết về tuổi thơ là niềm vui thực sự. Bằng bàn phím, tôi du hành ngược thời gian, để được lần nữa nếm miếng bánh tráng kẹo mạch nha ngọt lịm của ngày xưa, hút nhụy hoa trong cuống bông bụp trồng bên hàng rào, nhai lại hạt điệp vàng thơm bùi và đăng đắng… Đó là những khoái cảm đơn sơ nhưng nhớ lâu.

Nên cho dù, viết là “làm chết” hay “làm mòn” những kỷ niệm, tôi vẫn muốn viết về những ngày xưa. Kỷ niệm càng đào, càng khai thác càng đầy và lộ ra những điều từng quen thuộc nhưng lạ lùng như mới gặp lần đầu. Đó là vẻ hấp dẫn khi được đào bới kho tàng ký ức.

Phạm Công Luận
(Nguồn: Tác Giả cho phép)

ĐÊM LƯU XỨ

Đêm khói tỏa, đêm trầm hương mê hoặc
Đêm tàn canh qua vội rất vô tình
Con dế nhỏ gọi hoài âm thưa, nhặt
Cũng như người thao thức với đêm thanh.

Bờ huyễn ngạn còn vang lời hư ảo
Đưa tôi về nồng ấm những khuya mưa
Và hoài niệm vẫn xanh màu phương thảo
Màu chiêm bao lẫn khuất bụi xa mờ.

Đêm lưu xứ nghẹn ngào men rượu đắng
Từng giọt buồn như lệ buốt thiên thu
Nghiêng ly cạn đợi một giờ Nguyên Đán
Vàng son xưa phai nhạt tự bao giờ…

Tôn Nữ Thu Dung

BÀI ĐẦU NĂM TÌNH YÊU

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Đầu tháng giêng tây anh đã tết ngày tình
Đầu tháng giêng tây anh đã xênh xang mới mẻ
Óng ả linh hồn, ríu rít nhịp tim

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Linh hồn anh từ đó ướp trầm hương
Linh hồn anh, từ đó, ngạt ngào thơm
Máu, như nước hoa chan đời lễ lạc

Máu, như gió lành chảy qua ruộng đồng bát ngát
Chở chuyên mùi lúa chín quanh năm
Như sông hiền chia chín ngả: cửu long giang
Ôm ấp phù sa, lẫy lừng sức sống

Tình, đã mở ra một bầu trời nạm ngọc
Linh hồn anh, từ đó, khảm muôn sao
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Thơ học trò anh thách thức thời gian

Có luật đào thải khắt khe, có kẻ cùng thời ghen tị
Hãy duyên dáng nở nụ cười âu yếm nhẹ
Hạt răng đều chới với đứa ngồi trông
Thơ học trò anh gieo vần tuyệt kỹ

Thơ học trò, anh thổi ấm gió tàn đông
Cho ai mang vào trường khoe với bạn: của anh Nhiên …
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Mười ngón tay gầy anh có cách chi không

Nhặt cả bóng cả hình chàng thi sĩ
Lẫn cái tài hoa, trao gọn giữa tròng đen
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Linh hồn anh, từ đó, bỗng ham vui

Linh hồn anh, từ đó, mãi mê chơi
Thượng đế nếu hỏi tại sao, anh sẽ trả lời mạnh dạn:
Thiên đàng của ngài là an bình, thanh thản
Ngài nên đem phủ dụ những bà cả ông già

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Đầu tháng giêng tây anh đã tết ngày tình
Đầu tháng giêng tây anh đã xênh xang mới mẻ
Quên hết phận người, hiện tại, việt nam …

NGUYỄN TẤT NHIÊN

Tối Hăm Chín Tết

Một bước nữa thôi…là tới Tết! Thời gian lui lại, có bao giờ? Ba mươi chờ vậy, đêm trừ tịch, dám…ngủ quên…chừ, dám có mơ?

Mưa mãi…mưa hoài. Mưa sẽ tạnh! Nửa đêm, lưng lửng, nửa đêm buồn…Buồn ai, không có, đang buồn ngủ…Dẫu có thế nào, mai cũng Xuân!

Mai, chuyện của mai, Thiên Chúa phán. Khổ đau đã đủ bữa hôm nay! Nào ai theo Đạo không tin Chúa? Mình ngoại Đạo mà mắt cũng cay!

Thôi kệ, buông xuôi dòng nước chảy…Thời gian, nước chảy, một đường xuôi! Những người lội ngược không hề tới / cái chỗ ngọn nguồn mây trắng trôi!

“Bạch vân thiên tải không du du!”. Thiên tải – ngàn năm…cõi tít mù. Biết vậy, tại sao mình cứ tính…Tính mờ con mắt thấy Thiên Thu!

Hôm nay, hăm chín, mai ba mươi. Mồng một chào nhau nở nụ cười…Ai viết cho tôi trên cánh thiếp, nhành mai đơm nụ thấy thương ơi!

Tôi biết mình xa…vẫn cứ xa…Xa Non, xa Nước, biệt quê nhà! Nhớ ai mặc áo bà ba tím…nhớ nụ tầm xuân…nhớ xót xa!

Bốn mùa…không biết Xuân hay Hạ, một trộ mưa, trời…không lẽ Thu? Tí tách…nằm nghiêng, nghe tí tách…Một ngày sắp tới…sẽ bao lâu? (*)

“Mưa chiều Thứ Bảy, tôi về muộn, cây khế trên đồi trổ hết bông!” (**), Nguyễn Hàn Chung nhắc thơ ai đó, mười bảy ai xui bậu lấy chồng?

Mười bảy…Bây giờ hăm chín Tết, ai còn tần tảo phải không ai? Ai còn tíu tít cơm và áo…Chiếc áo bà ba…kệ gió bay!

Trần Vấn Lệ

(*) Cổ thi: Tứ thời vô Xuân Hạ, Nhất vũ tiện thành Thu.
(**) Thơ Phạm Công Thiện.

MỘNG XUÂN… .

tìm trong xuân
mộng
bình yên
chút se sắt lạnh bên hiên gót về
hương thơm theo bước chân thề
chỉ duy nhất trái tim kề người thôi

**
người duy nhất trị vì ngôi
mộng xuân
tìm
lạc thuở đôi cát lầm
đất trời tự thuở lặng trầm
uyên ương tạc đã âm thầm kiếm nhau

**
tạc âm thầm kiếm xưa sau
hoài ngăn cách mãi nỗi đau vẫn giờ
tìm trong xuân
mộng
tình cờ
và trong cả những bất ngờ nào hay

**
bất ngờ trận bụi sầu bay
cội xương rụng trắng lá lay khi mùa
lá lay cỏ ngọn gió đùa
mộng xuân
tìm
cánh chim vừa ngõ hoa

**
tìm trong xuân
mộng
thiết tha
may ra sót chút dấu mà nhớ thương
sót yêu sót trót vấn vương
thành đông giá sớm dậy sương khói miền

**
khói sương đông giá thần tiên
tìm chiêm bao
thấy mây hiền
mộng xuân…

PHẠM HIỀN MÂY

nguyên đán tình yêu

nụ mai sáng nay vừa nở
trên môi em ngọt thơm hồng
tôi nghe bềnh bồng trong gió
là tình tôi chớm đơm bông…

mùa xuân bên trời quá mộng
miên man giọt nắng xuân tràn
có chút gì trong nắng sớm
mà hồn xuân đậu thênh thang

ơi tôi bên trời nguyên đán
tình yêu mầu nhiệm theo về
khẽ thôi chân trần gót mỏng
nồng nàn gọi cửa đam mê

từ trong muôn trùng nỗi nhớ
thiết tha hoa cỏ gọi mời
nầy người tôi xin hỏi nhỏ
có dành xuân nào trao tôi…

nguyễn minh phúc