“SỐNG VỚI SÁCH”

Hồi tôi còn nhỏ, có lần ba tôi, sau khi xem được một quyển sách hay của nhà văn Trung Hoa Lâm Ngữ Đường, đã hứng thú kể tôi nghe câu chuyện về một thư viện rất nổi danh, thư viện Alexandria ở Ai Cập thời cổ đại. Tôi nhớ đại khái như sau: “Lúc đó sách thực hiện bằng ghi chép thủ công. Muốn có nhiều sách cho thư viện, nhân viên thư viện phải đi khắp nơi trong thành Nhã Điển (tên gọi thủ đô Athen của Hy Lạp hồi trước 1975), đặt tiền cọc để mượn sách mang về chép một hoặc nhiều bản. Ngoài ra, khi phát hiện được có bản chép tay nào trên các tàu biển thả neo ngoaì cảng, họ “tạm thời tịch thu” các bản đó để sao chép lại xong mới đem trả.

Chuyện một thư viện có cách nay gần 2.500 năm trước đã rất linh hoạt trong chuyện tổ chức nguồn sách của mình khiến tôi rất thích thú. Ý muốn có một tủ sách gia đình bắt đầu xâm chiếm tôi.

Hoàn cảnh sống nhà tôi hồi đó cũng giống như rất nhiều nhà trong xóm lao động, chủ yếu người lớn đi làm cho tư nhân, lái taxi hay buôn bán nhỏ ở chợ. Con cái nhà nào cũng đông, tự đi học và tự về, đứa nào mực tím cũng dính tay dính áo. Nhưng ba tôi khác với mấy người cha trong xóm, là rất mê đọc sách. Nhà tôi có ông anh là giáo viên, ba má tôi giao phó hẳn việc học mấy đứa con nhỏ cho anh. Như mọi thầy giáo hồi xưa, anh cũng mê sách. Đam mê của các bậc phụ – huynh này đã ảnh hưởng mấy anh em trong nhà.

Sách của ba tôi không nhiều, chứa trong khoảng ba thùng cạc tông. Đa số ông mua từ hồi trai trẻ, chiếm nhiều là truyện Tàu như Tiết Nhơn Quý chinh đông, Đông Chu Liệt quốc, Tam Quốc chí… Có mấy tập thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử là những người cùng thế hệ với ông. Trong số đó, tôi thích nhất bộ “Việt Nam Thi nhân Tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng. Dù không nổi tiếng như quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoàì Thanh – Hoàì Chân nhưng cuốn này rất đầy đặn, phong phú và tất nhiên cập nhật hơn với nhiều bài thơ phát hiện sau này.

Mấy cái thùng sách của ông để cạnh chỗ ngủ.Có lần một cơn mưa dữ dội đưa nước vào nhà, ngấm vào mấy cái thùng khiến cả nhà phải bày ra phơi cả tuần. Rất may sách không bị hư hại nhiều.

Sách của anh Hai tôi để trong một cái rương bằng thiếc. Đó là dấu vết một thời dạy học ở một vùng biên giới Việt – Miên. Khi trở về Sài Gòn, anh đem rương về và nó thành thế giới bí mật đầy quyến rũ với tôi. Có lúc tôi lục lọi được chúng. Trong đó có những tập quay roneo bàì giảng cho sinh viên Văn khoa Sài gòn trước 1975 nhưng tác giả là Đinh Gia Khánh và Nguyễn Đình Thi của Hà Nội. Sau này tôi biết để có những bản sách hiếm có như vậy, các giáo sư Văn khoa đã tìm cách đặt sách từ Hà Nội qua Paris và từ Paris mang về Sài Gòn phổ biến cho Sinh viên. Trong rương có mấy quyển sách bàn về chuyện tình yêu nam nữ của Công giáo, có cả phần giáo dục giới tính. Tò mò xem, tôi ngượng quá nên bí mật đem… bỏ thùng rác. Khi biết được ông anh nổi giận nhưng không giải thích khiến tôi tin chắc là mình… đúng. Tội nghiệp mấy quyển sách vô tội và hiền khô so với sách giáo dục giới tính bây giờ.

Dù có mấy thùng sách, nhà vẫn không có một tủ sách đàng hoàng. Lúc ấy, nhớ đến hồi được làm “quản thủ” tủ sách lớp Năm của trường tiểu học Võ Tánh, tôi bắt đầu lập tủ sách gia đình. Trước hết, xin những quyển sách nào ông anh không đọc nữa, tôi đưa vào tủ sách của tôi.

Thời kỳ này, quyển sách gây men hứng thú là quyển Con Nai Tơ, tác giả Mỹ tôi không nhớ tên nhưng người dịch là Trương Bảo Sơn. Ông này sau dịch những quyển nổi tiếng khác như Ông già và biển cả của Hemingway và Gió đông Gió tây của Pearl Buck. Quyển thứ hai là Phiêu lưu trên lưng ngỗng của Senma Largerlof, nhà văn Thuỵ Điển. Chi tiết tôi nhớ nhất trong truyện là sự tiếc nuối mãnh liệt của cậu bé Nin. Một đêm, cậu bước vào một ngôi thành lớn bên bờ biển. Có nhiều người buôn bán trong thành mời cậu mua sản vật ở đó nhưng cậu từ chối vì tiền trong túi quá ít, chỉ có vài đồng xu. Sáng hôm sau, toàn bộ tòa thành biến mất. Cậu được kể rằng một trăm năm tòa thành này mới hiện ra một lần và trong lần đó, nếu ai mua bán với người trong thành dù chỉ một đồng xu bé cũng giúp nó sống lại sau một lời nguyền tự ngàn xưa.

Thời điểm ấy là năm mới đến sự kiện 1975. Nhiều nhà bán đổ tháo sách ra vỉa hè. Một bà trong xóm tôi không biết vì sao có được mấy bao tải sách của nhà xuất bản Phượng Giang, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với bìa trắng, chữ đen và logo hình chim Phượng. Lập tức tôi xúm vào lựa và không nhớ tiền đâu mà mua được khá nhiều quyển của Nhất Linh, Kháí Hưng, Thạch Lam, Trần Tiêu… Bà bán cho người khách duy nhất trong xóm là tôi và đến khi tôi không mua nữa thì bà đem đi bán … ve chai.

Bộ sách này với khoảng hơn hai chục cuốn làm tăng giá trị tủ sách của tôi. Suốt thời gian đó, đang học lớp Tám, xem chừng tôi mê sách hơn mê học. Suốt ngày tôi có mặt ở đường Trần Quang Khải là nơi có bán sách báo vỉa hè để canh mua sách với tất cả tiền có trong tay.

Có lần tôi lập một kế hoạch “chôm” sách đáng xấu hổ. Số là phường tôi ở có một căn nhà chủ bỏ đi nước ngoài năm 75. Nhà này biến thành trụ sở thanh niên của phường. Trong nhà còn đủ bàn, ghế và một tủ sách nhỏ. Theo anh chị đến đó, tôi thường mượn sách để đọc tại chỗ. Đến một ngày, tôi phát hiện sách trên kệ thưa dần. Tôi hỏi và ông anh trả lời rằng chúng đã được số thanh niên ở đây đem xé ra quấn thuốc hút và… đi vệ sinh.

Tôi phẫn uất và lo lắng. Nhìn lên kệ, tôi thấy quyển “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc. Quyển này tôi mê từ hồi chín mườì tuổi khi ông anh mượn về từ thư viện. Sách dày, có nhiều bài ca dao tục ngữ hay. Tôi biết chắc nó sẽ bị tanh bành theo mấy quyển kia.

Một thằng bạn trong xóm thường lên trụ sở này chơi đã bày cách cho tôi. Số là nhà này là căn hộ chung cư ở lầu 1, phía sau dãy nhà là con hẻm. Ngon ơ ! Buổi trưa, tôi và nó lên đó chơi. Lúc nào cũng có người ở đó nên không thể bỏ vào bụng áo một quyển sách dày cộm được. Theo lệ thường, tôi mượn mấy tờ báo thiếu nhi xem tại bàn. Đợi lúc một anh vừa rời căn phòng phía sau ra đứng ngoài hành lang trò chuyện với bạn, tôi đến kệ chộp ngay quyển sách đưa cho thằng bạn ngồi cạnh và biến nhanh xuống cầu thang, chạy ra con hẻm sau dãy nhà. Bạn tôi lập tức xuống nhà bếp, mở cửa thông ra phía sau và ném sách xuống đường. Sách nặng, rơi bộp xuống đất, bung ngay bìa. Tôi chụp nhanh và lỉnh về nhà, tim đập thình thịch.

Tôi rủ thằng bạn đi uống nước đá nhận và nó nhanh chóng quên chuyện đó. Còn tôi đem đóng lại sách, bọc ny lon và sung sướng lật nó đọc hằng ngày. Trong một thời gian dài, thỉnh thoảng lương tâm tôi lại dậy lên chuyện lấy cắp sách.

Khi nhà có độ ngàn quyển sách, ba tôi bắt đầu đóng kệ sách. Đang thời khó khăn, kệ là những miếng ván đặt thẳng góc với tường, cố định bằng những sợi dây kẽm dằng giữ. Cái buồng nhỏ nhà tôi bốn phía đều có kệ sách. Mỗi tường hai kệ, vị chi là tám kệ. Ở giữa là cái giường rộng và lối đi. Kệ sách là nơi bụi ưa thích, vài tháng quét một lần vẫn thấy có bụi. Ông anh tôi lên cơn suyễn thường xuyên thời gian đó. Kệ sách, thứ mà cả nhà đều biết là quý trở thành gánh nặng không muốn rời bỏ.

Một buổi chiều chủ nhật, cảm thấy mình có lỗi vì làm ảnh hưởng không khí trong nhà, tôi bắt đầu ngồi phân loại sách. Có những quyển truyện đọc đi không muốn đọc lại. Có những quyển vô bổ. Có những quyển có cũng được, không có không sao. Rất nhiều quyển làm dậy lên những cảm xúc mới mẻ. Một quyển sách hay mua được trong chiều chủ nhật. Quyển sách kỷ niệm đứa bạn thân không gặp lại nữa. Số sách không dùng, tôi tặng một nhà sư trẻ mê đọc sách và khi anh ta chở những bao sách ra về, tôi cảm thấy thanh thản vì đã không phụ những quyển sách chắt chiu bao năm nay.

Viết về sách thì có thể … viết dăm bài nữa vẫn chưa chán. Vừa rồi, tôi vui mừng tìm được quyển “Sống với sách” của Alan Powers. Cuốn sách nói về sự gắn bó với đời sống con người mà phương Tây, nơi phát minh ra máy in đã khiến sách dễ dàng phổ biến rộng và nhiều hơn, rẻ hơn trong xã hội, giúp con người phát triển nhanh hơn. Với góc nhìn riêng, tôi nghĩ nếu không có sách, cuộc sống này sẽ khó khăn biết bao nhiêu với rất nhiều người, trong đó có tôi. Với sách, chúng ta không cảm thấy bơ vơ. Sách góp phần không nhỏ nuôi dưỡng, chở che, xoa dịu tâm hồn và giúp ta lớn khôn. Dường như vấn đề nào trên đời này, kể cả cái chết, luôn có một quyển sách đang chờ ta ở đâu đó để lý giải, an ủi, trò chuyện và dẫn dắt ta đi.

Phạm Công Luận

Trích cuốn “Những lối về ấu thơ” viết chung với Đặng Nguyễn Đông Vy –

HỒI CÒN MA

Cây sung nằm ở đầu một bức tường chia đôi đoạn đầu xóm Bà Ba. Từ nhà tôi ra đầu đường Nguyễn Minh Chiếu phải đi ngang cây sung. Những buổi tối ra tiệm thuốc gác khi nhà có người cảm sốt, từ xa thấy cây sung tôi đã cảm thấy ngần ngại. Không thấy có người đàn ông nào ngồi trên cành cây hút thuốc và rít đỏ tàn thuốc trong bóng tối như lời đồn đãi, cũng không có tay hay chân ai rớt xuống nhưng trong buổi tối cuối năm lạnh, lưng tôi lạnh nhưng đầu tôi bừng bừng. Chạy!

Khổ nỗi, đó mới chỉ là chuyện đầu ngỏ bên kia. Nếu không thích đi con ngõ đó, tôi ra con ngõ phía đường Trương Tấn Bửu thì lại gặp cây keo. Nói đúng ra, từ khi tôi lên mười tuổi, ở đó chẳng còn cái cây nào hết mà chỉ còn nơi đã từng có cây keo với khoảnh đất trống tối mò vì không có đèn đường. Ai đó đã đồn cây keo có ma? Phải chăng từ chuyện một người lái taxi trong xóm? Do công việc, ông thường lái xe về khuya. Một lần, ông về tới xóm với mặt tái mét, kể với mọi người là khi lái xe về tới cây keo đầu ngỏ thì thấy có một cái mặt to chần vần hiện ra trước đầu xe khiến ông lái lọang choạng. Dì tôi lúc đó đang học trường Gia Long, có tính dạn dĩ nên bảo với ông là không tin trên đời có ma. Dì dặn là khi nào ông thấy nữa thì bảo cho biết, dì sẽ chạy ra. Lần khác, ông lại thấy “ma” xuất hiện lần nữa trước mũi xe. Ông chạy về nhà dừng xe kêu cái “két”, kêu dì cùng ra cây keo xem sao có chuyện lạ vậy. Không hiểu do sợ hay vì sao mà dì không chịu ra xem ma. Sau câu chuyện của ông lái taxi, cả xóm đồn cây keo đầu ngỏ có ma khiến phụ nữ và con nít đi ngang qua đó luôn thấy chờn chờn.

Nhưng có lần dì bị “ma” nhát thiệt. Sát vách nhà thờ Nam phía ngoài mặt tiền đường Trương Tấn Bửu, nay là Trần Huy Liệu, có một con mương sâu lộ thiên, nước luôn chảy róc rách. Một buổi đi học về trễ khi trời đã chạng vạng, dì thấy một bóng đen dưới mương ngoi lên, miệng ngậm cây nhang đỏ lè trong bóng tối. Giật thót cả mình nhưng dì gan góc định thần nhìn kỹ chính là chú Trọng, một thanh niên trong xóm. Như vậy, dì có sợ ma nhưng lần này lại do ma giả nhát.

Dọc đường tuổi thơ tôi không hề thiếu vắng những câu chuyện ma. Cách nay nửa thế kỷ, đèn đóm trong nhà khu ngoại ô còn tù mù nói chi đến đèn ngoài đường nên chiều xuống bóng tối dần chiếm không gian, các ngỏ hẻm tối thui. Cây mọc sân nhà, cây mọc ngoài rào, ban ngày lung lay cành lá và ban đêm biến thành ma lắc lư quơ tay quơ chân tùy theo trí tưởng tượng từng người. Ngoài phía đường rầy đã có người bị xe lửa cán và xe cam nhông 18 bánh của Mỹ cũng làm chết vài người gần đó. Trong xóm có người chết trận, có người thắt cổ vì chồng Mỹ bỏ về nước. Ai chết oan, chết ức đều thành ma quỷ từ những lời đồn. Mua xác nhà cũ, giở ra xây lại thấy treo trên cột nhà cuốn sách chữ Hán Tam Tự Kinh cũng nghĩ bùa thợ mộc ếm. Tuổi thơ tôi sống chung với những câu chuyện huyền hoặc đáng sợ và kích thích trí tưởng tượng như vậy.

Các bà chị trong xóm là nguồn phát tán chuyện ma và là hình thành đường dây loan đi xa. Những buổi tối cúp điện trời nóng và khi người già con nít, thanh niên trai gái ra ngồi hóng mát trong bóng tối của khoảng sân trước nhà là các thể loại ma bắt đầu xuất hiện. Chị tôi khẳng định đã có lần thấy một ngón tay ló ra lỗ khoá vào ban đêm, khi chị đi ngang cái cửa hông thông ra con hẻm bên nhà để ra sau nhà vệ sinh vào nửa đêm. Một chị khác kể khá nhiều chuyện ma nhà thương thí vì chị đã từng nuôi bệnh cho mẹ suốt mấy tháng trong nhà thương Sài Gòn. Một anh trong xóm kể có lần anh đi Thủ Đức trên xe ngựa vào buổi sáng sớm trời còn tối. Xe ngựa đang lọc cọc chạy trên đường, hai bên là ruộng và trời còn tối thui thì có từ phía sau xe ngựa, anh thấy có hai bóng đen từ hai phía bờ ruộng nhảy lên. Có điều lạ là mỗi người chỉ có một giò ở chân phía gần tim đường. Cả hai nhanh chóng nắm tay nhau nhảy lò cò rượt theo cái xe. Ngựa lồng lên, hí to. Ông phu xe quay lại nhìn rồi hốt hoảng quất ngựa chạy thật nhanh nhưng nhanh tới cỡ nào, hai bóng đen lò cò này vẫn rượt kịp. Trong xe, mấy bà đi chợ sớm đọc kinh lâm râm trong miệng. Hai bóng đen, tức là hai con ma một giò, chạy theo riết cho đến khi xe ngựa chạy gần tới đường xe lửa và có tiếng còi tàu hú cùng đèn sáng thì chúng mới biến mất. Nghe xong, các chị gái hít hà còn tôi thì ngờ vực: “Chuyện này em đã đọc rồi, trên báo !”Anh kia tỉnh bơ còn mấy bà chị còn lừ mắt bảo tôi im lặng. Sau này, tôi đọc lại câu chuyện đó trên một tờ báo thiếu nhi và nghiệm rằng đối với người nghe, quan trọng là mức hấp dẫn và hồi hộp của chuyện từ một giọng kể khéo léo, không ai quan tâm nó từ đâu ra.

Hầu như địa phương nào cũng có những chuyện ma gắn với cuộc sống ở đó. Đi ngang cầu Ông Tạ, tôi nhớ lời đứa bạn sống ở đó kể về bóng ma nó thấy (?) chạy từ công-xy heo, lò sát sinh hàng chục con heo mỗi ngày, nháo nhào ra cầu và nhảy ùm xuống rạch Nhiêu Lộc vào một buổi sáng sớm khi nó đi lễ nhà thờ. Đến khu Bà Chiểu, câu chuyện cô Ba Trâm thắt cổ sau trường Vẽ Gia Định vì bị hãm hiếp được nghe kể dài dài từ khu cầu Băng Ky đến Ngả tư Bình Hòa rồi vòng ra đường Vạn Kiếp. Những lời thì thầm như không dám kinh động quỷ thần của các bà trong ngày giỗ, về chuyện những người đi xe bò xe ngựa được quá giang bởi một cô gái tóc xõa và trả tiền bằng lá cây. Đó là những ngày xa xưa, đường xá vùng Gia Định buổi trưa thường vắng hoe vì đang giờ Ngọ nhiều âm khí và ma đang đi. Câu chuyện cô gái bị xe điện chạy trên cầu sắt Đa Kao tông đến nỗi đầu của cô bay lên tới vọng gác của lính Tây gây ấn tượng mạnh đến nỗi sau 1975, con nít lớn lên đường Bùi Hữu Nghĩa dưới dốc cầu vẫn được người lớn khuyến cáo là không được ra cầu sắt chơi ban đêm nếu không muốn hồn ma cô gái ra nhát.

Trong đợt du lịch xứ xa, những câu chuyện huyền hoặc được kể giúp chuyến đi đậm màu sắc văn hoá và đáng nhớ hơn những cuộc mua sắm vội vàng. Thành phố nào cũng có những chuyện ma, tất nhiên. Nói cách khác, ở đâu có người sinh sống là có chuyện kể về những con ma. Năm 2000, tôi đến Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh và nghe A Xủn, hướng dẫn viên du lịch, một người Việt gốc Hoa Móng Cái và sau năm 1979 là người Hoa, kể một câu chuyện ma xa xưa. Thế kỷ 15, hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh đã ra lệnh giết gần ba ngàn cung nữ chỉ vì ông nghĩ rằng một người vợ yêu dấu đã bị ai trong số đó đầu độc. A Xủn bảo đến giờ thỉnh thoảng vẫn có những người lính gác ban đêm ở đó nhìn thấy một người phụ nữ với mái tóc đen chạy vụt ra và có những âm thanh la hét, khóc lóc và tiếng gươm khua như đang đánh nhau. Tử Cấm Thành chỉ mở vào ban ngày, đóng cửa trước khi màn đêm buông xuống. Rời thành lúc chiều tà để đến một nhà hàng trước khi đóng cửa, khách du lịch nghĩ về thân phận con người, nhất là phụ nữ thời vua chúa phương Đông, được nâng niu và sử dụng như một bông hoa hay con thú cưng và có thể vứt bỏ không thương tiếc. Một vài lần khác, khách sang Nhật du lịch được hướng dẫn viên đùa rằng hãy cẩn thận đi xuống phố vào đêm khuya, khi đến cửa hàng tiện lợi tranh thủ mua quà. Có thể khách sẽ gặp một phụ nữ tên là Kushisake Onna, tên có nghĩa là “Người phụ nữ bị rách miệng “. Cô ta xuất hiện khi mang một chiếc khẩu trang trong phòng phẫu thuật và một chiếc áo khoác. Cô ta sẽ hỏi: “Tôi có đẹp không?”. Nếu nói không, cô ấy sẽ cắt đầu khách bằng một chiếc kéo lớn mà cô ấy mang theo. Nếu nói có, cô ta sẽ tháo mặt nạ ra, để lộ cái miệng bị rách từ tai này sang tai kia. Một câu chuyện khác là đừng bao giờ ngồi trong nhà vệ sinh khi không có giấy vệ sinh. Sẽ có Aka Manto (có nghĩa là “áo choàng đỏ”) có thể đang chờ bạn. Đây là một hồn ma ám nhà vệ sinh ở Nhật. Nếu ta ngồi trong nhà vệ sinh và không có giấy, con ma này sẽ hỏi: “Bạn muốn giấy đỏ hoặc giấy màu xanh?”. Nếu bạn chọn màu đỏ, bạn sẽ được cắt thành từng miếng. Nếu bạn chọn màu xanh, bạn sẽ bị bóp nghẹt đến chết.

Ma, âm hồn, người khuất mày khuất mặt… ám ảnh cả thời niên thiếu của rất nhiều người. Những cơn rùng mình khi đi ngang một nhà có người mới chết, những sợ hãi trong căn phòng tối khi trời mưa sầm sập và sấm chớp đì đùng bên ngoài, khi tiếng cú kêu ngoài cây chùm ruột trước nhà, những lần cùng anh em vừa sợ hãi vừa phấn khích trùm vội tấm mền khi cả nhà cúp điện… đó là những cảm xúc mạnh mẽ và tuyệt vời đã xa biền biệt, kể từ khi ta bước vào cuộc đời đầy tranh giành và gặp nhiều người còn đáng sợ hơn những con ma mơ hồ không bao giờ thấy đụng chạm đến ai trong thuở thiếu thời.

Phạm Công Luận

(Trích sách NHỮNG BỨC TRANH PHÙ THẾ. Xuất bản tháng 1 – 2019)

Phạm Công Luận: Vẻ hấp dẫn của ký ức

Có người nói: “Viết, một cách nào đó, là chết”. Có những câu chuyện cũ, không có gì độc đáo nhưng ta muốn giữ cho riêng mình. Một ngày, ta ghi lại kỷ niệm ấy trên trang giấy, rồi được nếm trải cảm giác sung sướng khi bài viết nên hình nên dạng, được đăng trên sách, báo… Đến lúc nào đó ngồi lục lại trong trí nhớ, ta bỗng thấy những kỷ niệm lấp lánh ấy không còn đậm đà trong lòng mình nữa, không còn làm ta thao thức nữa, nó “chết” dần theo từng con chữ, để lại vài hình ảnh mờ nhạt. Điều đó như một quy luật tự nhiên.

Có một dạo tôi miệt mài viết về những cái Tết trong gia đình khi còn cha mẹ. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc khi ngồi trước màn hình máy tính hoặc trong bóng đêm thả trí nhớ bay về miền xanh thẳm thơm mùi thuốc pháo ở những ngày xưa. Sau đó, những chuyện cũ như phai dần sau một lần lấy ra từ trong kho của kỷ niệm, giống như cuốn sách cổ trong hầm mộ tan thành bụi bay theo gió khi phơi ra ánh sáng mặt trời.

Khi có nhà riêng, anh bạn tôi tách gia đình nhỏ ra khỏi cuộc sống đại gia đình và dần thay đổi lối sống, từ cách trang trí nhà cửa trở đi. Ngày Tết, cả nhà đi du lịch nước ngoài, cửa nhà khóa kỹ vài lớp. Anh kể rằng thật thoải mái khi mấy ngày Tết không bị ràng buộc bởi những kiểu cách xã giao như trước kia. Anh không cần mua hoa về chưng, dọn bày cỗ bàn, cúng kiến, xông đất, cúng giao thừa, tiếp khách.v.v…

Một lần, ngồi bên hồ bơi ở một resort xứ người để trông con đang ngụp lặn dưới nước, anh sực nhớ hôm nay là mồng Một Tết. Anh nhớ trong căn nhà cũ kỹ một thời, nơi sum họp của gia đình bảy người con cùng cha mẹ khi xưa. Anh nhớ cái bàn thờ sáng choang với lư đồng mà chính tay anh, đứa con trai út trong nhà mỗi năm nhận phần việc lau chùi bằng khế, chanh. Anh nhớ dáng cha bận bà ba trắng đứng thắp nhang trước bàn thờ, dáng mẹ ngồi cắt củ kiệu và nhớ cảm giác sung sướng khi mang từng cái sàng tre sắp đầy kiệu và củ cải lên phơi trên sân thượng trong cái nắng thơm dịu của tháng Chạp ta. Anh thấy buồn thiu, rồi tự nghĩ tốt nhất là cất cho kỹ cái tâm trạng u uẩn ấy, vì những người thân yêu quanh anh khó mà hiểu được những gì thuộc thế giới tuổi thơ của anh mà họ không từng có mặt.

Có khi vợ anh, khi sống trong nhà chồng, cũng từng cảm thấy lạc mất nhiều cảm xúc của tuổi thơ, của quê hương, của kỷ niệm và của những nghi thức ở tôn giáo mà cô ấy gắn bó từ nhỏ. Tối đó, anh ngồi trên một góc giường phòng nghỉ, gõ phím ghi lại từng dòng về những thổn thức trong lòng. Anh thức để viết đến một giờ sáng, lưu lại và mỏi mệt nằm xuống ngủ khi tâm trạng đã nhẹ nhàng hơn. Biết mình không quen viết lách có văn vẻ, câu cú có lộn xộn, nhưng đó là liều thuốc hay. Anh bớt đi nhiều cảm giác nhớ nhung, cảm thấy việc viết lên trang giấy chẳng khác chi đốt một lá bùa, để những sầu não bay đi và tâm bình yên hơn.

Nhiều lần tôi thấy mình bị lạc trong mớ ký ức hỗn độn của “những năm niên thiếu dịu dàng và tuổi trưởng thành khắc khổ” (nói như Gogol), trong đó từng có những câu chuyện buồn, đáng xấu hổ và đầy giận dữ. Nhưng cho dù ký ức xấu cũng là ký ức, tôi chỉ thích nhớ những chuyện vui khiến mình từng thấy hạnh phúc.

Sự nghiêm khắc của cha trở nên dễ thông cảm, câu răn dạy khó chịu của ông anh cả chứa đựng sự chăm lo thương yêu trên bước đi của đứa em đang trưởng thành. Phải chăng đó là màng lọc không chỉ tạo nên từ lý trí mà còn từ sự thông hiểu và biết ơn, mà khi trưởng thành ở tuổi nào đó ta mới có được.

Viết về ký ức phải chăng chỉ là sự trốn chạy thực tại?

Tôi không nghĩ mọi chuyện đơn giản như vậy. Khi viết về quá khứ, tôi nhận ra mình là ai, những gì đã tác động đến mình để trở thành một con người đủ cả những tính tốt và xấu, với những điều mạnh mẽ lẫn yếu đuối trong tính cách không dứt bỏ được. Tôi hiểu rõ hơn vì sao mình yêu tha thiết một thành phố dù nó dần dần không giống như mình yêu thương, vì sao gắn bó với những xóm giềng, cây cỏ, thời tiết, khí hậu chung quanh khi chúng đã dần biến dạng. Và vì sao, luôn cố gắng truyền cho con một điều gì đó của quá khứ, dù các con thật ra đang sống để hình thành một quá khứ cho tương lai của các con. Đó là mật mã để gắn kết các thế hệ mà nhiều khi mong muốn truyền đi như là một thứ bản năng có sẵn. Có lẽ đó là lý do các cụ già thích kể chuyện xưa.

Dù sao, thời thơ ấu là thời gian đẹp nhất đời người cho nên viết về tuổi thơ là niềm vui thực sự. Bằng bàn phím, tôi du hành ngược thời gian, để được lần nữa nếm miếng bánh tráng kẹo mạch nha ngọt lịm của ngày xưa, hút nhụy hoa trong cuống bông bụp trồng bên hàng rào, nhai lại hạt điệp vàng thơm bùi và đăng đắng… Đó là những khoái cảm đơn sơ nhưng nhớ lâu.

Nên cho dù, viết là “làm chết” hay “làm mòn” những kỷ niệm, tôi vẫn muốn viết về những ngày xưa. Kỷ niệm càng đào, càng khai thác càng đầy và lộ ra những điều từng quen thuộc nhưng lạ lùng như mới gặp lần đầu. Đó là vẻ hấp dẫn khi được đào bới kho tàng ký ức.

Phạm Công Luận
(Nguồn: Tác Giả cho phép)