Cảm thông đến trước, lòng từ theo sau

nguyetthuho

( Tặng bạn tôi, Tôn Nữ Thu Dung- bạn sẽ là người chiến thắng-) 

Như thường lệ , phòng đợi đông nghẹt bệnh nhân – phần lớn đều già hơn tôi –tóc bạc hơn  ,  có vẻ buồn bã hơn , vài người chống gậy, vài người ngồi xe lăn nhưng hầu hết đều có người thân bên cạnh . Từ đợt hóa trị cuối cùng cách đây mười năm , mỗi  khi trở lại phòng này  tôi cố ra  vẻ  mình chỉ là một người khách đến thăm một thế giới xa lạ chứ không phải là một bệnh nhân quen thuộc  . Tôi bước vào một cách lẹ làng . Một mình. Tôi mỉm cười chào cô tiếp tân . Rồi buông mình xuống chiếc ghế dài , lật qua lật lại mấy quyển tạp chí với một sự chăm chú nửa vời . Chỉ những ai đã  từng bị trọc đầu cả nửa năm  sẽ thấu hiểu được tại sao tôi không muốn dính líu gì  với đám bệnh nhân . Bởi vì tôi đang có chút tự hào của kẻ đã chiến thắng , đánh gục căn bệnh quái ác này

Người tiếp tân đưa cho tôi tờ giấy ” Kiểm lại triệu chứng ” ( review of symtoms). Mảnh giấy này đã từng khiến tôi rất hồi hộp, tim đánh lô tô biết bao lần.   Chỉ cần  trả lời CÓ  một lần duy nhất- trong số 50 câu hỏi về những triệu chứng đáng nghi- cũng có nghĩa là  sự chấm dứt cuộc đời sắp bắt đầu . Hôm nay tôi chỉ lướt sơ qua danh sách này mà chẳng cần suy nghĩ . Tôi vội vã viết  chữ  KHÔNG cho những  triệu chứng đại loại như  chảy máu trực tràng , mắt mờ , run lẩy bẩy  , nổi  nhọt,  đi cầu ra phân đen , khát nước thường xuyên , cơ thể giữ nước tiểu, thở khò khè , bị kinh phong và ngứa thường xuyên .

Sống qua mười năm liên tục  không có  triệu chứng  xấu là  một tờ giấy phép xả trại cho phép tôi thoát khỏi căn phòng này .  Vì vậy hôm nay,   đợt tái khám cuối cùng, lẻ ra nên  là một ngày của hân hoan phấn khởi hoặc ít ra , tôi sẽ thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát nạn. Thay vào đó tôi cảm thấy lãnh đạm,  bình thuờng  như  mỗi lần đến tiệm giăt ủi . Trước đó tôi dự định sẽ tự chụp cho mình một tấm hình (selfie) ngay cửa trước phòng đợi để ăn mừng. Một selfie với ngón tay trỏ chỉa thẳng về huớng Trung tâm điều trị Ung thư  Hoa Hồng (Rose Cancer Center)   . Nhưng trong ánh nắng chói chan những ý tưởng về trả đũa hay mừng vui thắng trận chợt tan biến .Tôi chỉ cảm thấy hối hả  muốn rời xa chốn này. Càng sớm càng tốt.

Tôi bước  qua phòng thử máu lanh tanh. Tôi tin rằng nhân viên phòng xét nghiệm được tuyển vào làm dựa trên khả năng trò chuyện vui vẻ  trong lúc đang chỉa mũi kim nhọn hoắt vào da thịt của bệnh nhân. Mặc dù tôi rất khó chịu khi mũi kim đâm thẳng vào lớp da mỏng trên mu bàn tay nhưng tôi cũng thấy vui vui .  Và khi cô gái liếng thoắng huyên thiên kể luôn miệng về những sửa soạn cần thiết cho bữa cơm tối của cô nàng tôi đã bị chia trí và quên hẳn sự hiện diện của mũi kim.

 

Cuộc tái khám với Cindy, người  phụ tá bác sĩ mà tôi  ưa  thích nhất, cũng rất lẹ làng và vui vẻ.  Tựa như những câu chuyện vãn khi chúng tôi tình cờ gặp nhau tại cửa hàng tạp hóa. Trong suốt mười  năm qua Cindy  đã phát triển một thái độ thân thiện gần gũi với tôi. Thật ra , với tôi , sự thân thiện này  cũng  cần thiết và hũu dụng như  chính cái ống nghe cô hay choàng quanh cổ . Thân thiện cũng có nghĩa là mọi việc đều bình thường . Tôi không còn là bệnh nhân nữa.

 

Cô nàng vừa lắng nghe tôi thở, vừa hỏi tôi về chuyện con cái. Tôi  cũng hỏi về con cái của cô ấy trong khi mấy ngón tay  của cô  đang đè lên bụng tôi để tìm kiếm các khối u . Cô khám cả hai  nách của tôi,  lần này ít mồ hôi hơn những lần trước , và kể cho tôi nghe các nghiên cứu mới nhất về ung thư vú. Tôi không chú tâm lắng nghe. Trong năm năm qua , hầu hết các nghiên cứu đã không còn hay ho với tôi . Thậm chí tôi không còn gì để thắc mắc, ngoại trừ câu hỏi hàng năm _ tôi được phép uống mấy ly rượu . Tùy thuộc vào cách đặt câu hỏi , thông thường  tôi nhận được câu trả lời mình đang mong chờ. Hôm nay cũng y như vậy .

Sau đó, cô giúp tôi leo xuống khỏi giường khám bệnh, một  sự giúp đỡ không cần thiết . Tất nhiên , vì tôi vẫn đang mặc áo choàng bệnh viện , loại y phục dành riêng  cho bệnh nhân ở khắp nơi . Thôi kệ,cứ cho rằng việc đỡ tôi xuống giường chỉ là một thông lệ..

 

Sau đó là lúc chia tay  với Cindy. Cô nàng quàng tay ôm tôi . Đó là một cái ôm nồng ấm đầy tình cảm , không phải là một cái ôm lẹ làng giả tạo . Bổng dưng, ngực chúng tôi ép sát vào nhau  , hai  bàn tay cô nàng vỗ nhẹ trên lưng tôi .Khi đó tôi  chợt nhận ra cả ngày hôm nay tôi đã né tránh không muốn suy nghĩ tới chuyện này. Qua thật rồi . Xong  rồi . Tôi được giải tỏa , tốt nghiệp , xuất viện , xá tội .

 

Cindy  thì thầm bên tai tôi “Có những điều cần phải cảm nhận , cần phải nói . Nhất là với  những người như bạn…” nhưng tôi không còn nghe tiếng cô nàng nữa . Hình như lúc đó  tai tôi cũng đang bị tắc nghẽn vì nước mắt

 

Tôi đã không tiên liệu việc rơi lệ này . Lần chót khi bệnh ung thư làm tôi bật khóc là khi   tôi phải kể cho ông xã nghe về cú điện thoại từ bác sĩ quang tuyến.

Thật ra không phải là hết chuyện. Lòng biết ơn đang tràn ngập trong tôi, biết ơn về sự tử tế và chăm sóc tận tình của Cindy trong suốt mười năm qua , về những lời giải thích rõ ràng của những rủi ro trong mọi liệu pháp chữa trị cùng sự trấn an đối với những âu lo của tôi . Nhiều bác sĩ đã chữa trị cho tôi. Họ ra đi khi xong phận sự .Nhưng Cindy luôn có mặt với tôi kể  từ ngày đầu tôi đặt chân đến văn phòng này , một sự hiện diện ổn định  và đều đặn . Cô biết trọn vẹn  bịnh tình của tôi . Cô biết rõ cơ thể cũ, và ngay cả cơ thể  mới của tôi. Từ nay trở đi sẽ không còn  người nào biết rõ về tôi như vậy nữa .

 

Tôi cảm ơn Cindy thật nhiều . tôi đã nương tựa vào bờ vai của cô ta không biết bao nhiêu lần..  Giọng nói của tôi run rẩy một cách phát ghét và bắt đầu đứt quảng như khi một cô phù dâu rưng rưng nước mắt chúc mừng cô dâu . Tôi không bộc lộ hết những cảm xúc  đang dâng trào trong lòng mình.

 

Cả hai chúng tôi đều nói ” tụi mình sẽ gặp lại  nhau ở cửa hàng tạp hóa.” Thôi chào từ giã.  Từ giã.

 

Tôi cởi áo choàng ra và mặc lại quần áo của mình. Giã từ sầu não.. Giã từ căn lab lạnh lẽo .. Giã từ ống chích, Giã từ mũi kim.  Giã từ băng tay cao su xanh lá cây. Giã từ bức tường tím nhạt. Giã từ hành lang dẫn đến phòng hóa trị. Giã từ những bức ảnh hoa tươi vui . Giã từ phòng kế toán. Giã từ thẻ hẹn.

Người thư ký tóc xoăn hỏi khi nào tôi phải gặp bác sĩ nữa  . Tôi cười hì hì rồi trả lời : “Không bao giờ ! “ . Tôi nói thêm: “ dự định là vậy đó, vì không muốn trù ẻo chính mình. Tôi chờ cô ấy chúc mừng cho tôi . Thay vào đó , cô lại thở dài . Cô nói :” hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ được như bạn. Mới dứt ung thư có một năm mà thôi . “

Chiếc bàn giấy nơi cô ấy làm việc tựa như một hàng rào ngăn cản.Cô ấy ở phía bên lành mạnh   và tôi là ở phía bên bệnh hoạn. Nhưng cô ấy đang tiến gần đến bệnh ung thư hơn tôi. Tôi biết rất rõ những điều đang chờ đợi cô ta ở phía trước  – những cơn nhức đầu mà  thực sự là khối u trong não, những lần đau lưng  là do những tế bào ung thư đang hiện diện tại cột sống , ho có đờm  là dấu hiệu của ung thư phổi đã di căn , và một lần bệnh  trĩ có thể khơi mào cho  chín năm sầu lo

Ước gì cô ấy không phải trải qua những chuyện này .  Uớc gì tôi được quen biêt cô ấy  tới mức độ  mạnh dạn ôm chầm lấy cái đầu  với mái tóc xoắn và nói rằng cô ấy  xinh xắn biết bao, cô ấy mạnh mẽ hơn nhiều và  cô ấy vừa đi xong một chặng  đường dài . Thay vào đó tôi chỉ lầm bầm một vài lời trấn an rổng tuếch và cảm thấy mắc cỡ về sức khỏe tốt lành của mình.

Khi bước vào thang máy tôi thấy hai người đàn ông ngồi xe lăn- một người da trắng, lớn tuổi và ốm yếu, người kia là một người da đen trẻ hơn nhưng mâp mạp. Họ đang cười đùa với nhau. Thì ra họ đã ngồi kế nhau trong phòng hóa trị . Tiếng cười của họ nghe rất tự nhiên và chân thật. Trong một phút giây ngắn ngủi, hay chỉ là một sát na , tôi ước rằng tôi được ngồi chung với họ trong căn phòng hóa trị   để cùng chia sẻ niềm vui này  . Tôi muốn nói rằng tôi cũng như họ, cũng từng trải qua những gì họ đang đối diện . Tôi mỉm cười với cả hai , nhưng họ không hề ngó ngàng đến tôi.

Ra khỏi cửa,  bước vào ánh sáng chói chang của mặt trời ,  trái tim tôi bắt đầu căng phồng cho đến khi tôi cảm thấy lâng lâng bay bổng . Tôi chợt thấy mềm lòng  đối với cô  y tá đang uống nước nghỉ trưa , mềm lòng  đối với một bà cụ đang được dìu ra khỏi xe,mềm lòng  với người đàn ông hấp tấp băng qua đường  Tôi muốn nhẹ nhàng  ôm hết  cả  trong vòng tay  và nói:  Chính những người như quí vị đã giúp tôi .

Tôi để mặc tâm trạng ấm áp này tuôn tràn trên người như khi đang tắm nắng. Cảm giác này rất quen thuộc.Ồ, đúng rồi.  Năm đầu tiên sau khi chữa trị  tôi cũng trải qua những cãm giác này . Tôi được hội nhập trở lại thế giới của  những điều lành mạnh , bình thuờng  và nghiệm ra rằng thế giới bình thuờng này tuyệt vời biết bao.   Tôi vẫn còn sống. Tóc của tôi đã mọc xoăn trở lại.Tuyết vẫn rơi đầy  trong mùa đông. Mùa xuân vẫn tươi đẹp rực rỡ . Những người từng đối xử tử tế trong lúc tôi đau bệnh đều rất tốt đẹp. Ngay cả những người xấu bụng, tôi cũng thấy họ tốt đẹp luôn . Mọi đau khổ tôi từng trải qua chẳng sá gì so với những đau khổ của người khác.Té ra  những tháng đau bệnh  là một trong những năm hạnh phúc nhất của  đời tôi.

Thì ra mọi người đều đau khổ.  Như nhau.  Kiểu này hay cách khác . Trong âm thầm hay bộc lộ . Một khi  nhìn thấy được sợi dây nối kết này lòng từ trong tôi chợt tràn dâng.

Cuối cùng  tôi cũng chụp “selfie” voi miệng cười rạng rỡ. Giã từ ung thư. Vâng  cứ cho là như vậy.

Maggie Lane
Bản Dịch của Hồ Nguyệt Thu

(Maggie Lane is a freelance writer and mother of four from Beverly Hills, Michigan. She blogs at Poemelf.com)

 

 

 

PHƯỢNG ƠI

nguyenngocnghia

cháy đi phượng ơi
chút lòng hực lửa
chiều nghiêng phố nhỏ
chùn chân
bước rời…

phượng ơi phượng ơi
chút hương mùa cũ
còn rơi…còn rơi
nao lòng mấy thuở

cơn mê mùa hạ
nỗi nhớ đông về
mùa xưa nghiêng ngả
dưới cành phượng kia

đốt giữa ngực thầm
dấu môi phượng vỹ
trò chơi dâu bể
trĩu cành trăm năm

phượng đợi chờ ai?
bên đường du tử
mê hoặc mây trôi
dừng chân
bỗng nhớ

chiều giữa phố người
nắng vàng run rẩy
phượng ơi phượng ơi
còn đây
ngày ấy…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(Long Xuyên 02.5.2015)

Những hành trình đơn độc

nguyentri

 

Đường. Hai mươi sáu tuổi. Đẹp trai. Luôn gọn gàng lịch sự kể cả khi ngồi trên dàn giáo để xây tô dán gạch chạy chỉ. Làm cái nghề tiếp xúc với vôi vữa mà Đường sạch bong. Đi làm cũng mặc áo trắng. Đường cũng trắng mới là kỳ. Đó là khi đi làm. Còn chiều về, Đường trên Honda ung dung ra quán ăn. Độc thân phải công nhận là sướng thiệt.
Chiếc 67 của Đường phải nói là dân chơi toàn quốc phải trầm trồ. Nó đẹp, bóng loáng và êm như mơ. Đang chạy bóp côn tay rồi nẹt, tiếng của nó nghe như tay ca sĩ nào đó đang nổi hét rằng xin lỗi em ngàn lần xin lỗi em. Dân chơi so sánh vậy chứ Đường thì không hề khoe xe ngon đâu nghe. Có dân chơi con nhà giàu xin mua lại chiếc xe những bốn cây vàng nhưng chỉ nhận được cái ánh mắt hững hờ của thợ hồ Đường. Nhiều em xinh xinh phụ hồ thích anh chở em đi chơi lắm, đi nhà nghỉ không chừng các em chịu luôn. Đường có lắm cái để các nàng xin kết trăm năm. Ngon lành nhất là công thợ, người ta ngày hai trăm rưởi Đường những ba trăm, chả ai dám so bì vì Đường quá giỏi trong lĩnh vực xây dựng. Người vậy không mê thì mê ai? Nhưng Đường vẫn lạnh như tiền.
Đường lại không bù khú nhậu nhẹt. Mười giờ đêm đã pho pho trên võng. Bốn giờ sáng ghé cà phê cóc làm li đen không đường đấu láo cùng chủ quán là Tư Thâu. Tư Thâu cũng độc thân. Nhưng độc của Tư khác với độc của Đường. Thâu vui tính, cười cười nói nói suốt, bà con gọi Tư Ba Lơn. Đường, ngược lại cả ngày không ra được mươi câu. Lại không rượu nên phục cho vô vài ly mà moi bí mật là dân chơi bó tay. Đường là dân tha phương theo công ty xây dựng đi từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Rày đây mai đó nên ở xứ này mày muốn hay không nói cũng mặc kệ mày đi con. Uống cà phê quán tao là được rồi:
– Phẻ mậy? – Tư Thâu hỏi.
– Dạ phẻ chú.
– Đen hả?
– Dà… cho cái đen.
– Bữa nay chủ nhật không làm hả?
– Dà…
– Tao thấy tụi nó tăng ca cho kịp tiến độ. Mày chủ chốt lương cao không làm Thầu nó không cự à?
– Con xưa nay không làm ngày chủ nhật.
– Ngày của Chúa hả?
– Con đạo Phật.
– Tao hơi nhiều chuyện tí. Nói mày đừng buồn nghe.
– Chú nói đi. Con không dám buồn đâu.
Tư Thâu không cà phê. Rót cho mình một ly xây chừng rượu đế dầm chuối hột đen thui trước khi hỏi:
– Khààà…. quá đã rồi quy ơi… Tao nghe bọn thợ nói mày đêm nào cũng đi cà phê đèn mờ. Chủ nhật nào cũng ghé quán ôm. Tuần mày thu triệu tám xài vậy sao đủ con trai?
– Bọn nó biết gì chú Tư ơi. Con có chừng có mực lắm.
– Đêm nào cũng đi sức đâu chịu cho xiết mậy?
– Uống có chai nước thì mất mát chi chú?
– Mày làm như tao không biết ôm iếc với mát xa mát xiếc là chi. Chú mày đây rành lắm a con.
– Chú khác con khác. Con vô quán kêu chai c2, cho đào chai nữa ba chục ngàn là hết phép
– Mày tới ôm iếc mà vậy ai tiếp mầy lần hai?
– Ai biểu đến lần hai.
– Vậy mày đến chỉ để uống xê 2 thôi hả? Vậy uống ở đây cho tao nhờ. Mày nói tao nghe không lọt tai. Nói lại đi con.
– Chú không tin thì thôi.
Thôi thì thôi. Vậy rồi mạnh ai nấy uống cái mình thích. Nhưng Tư Thâu đã nói là ba lơn lắm. Yên lặng là không chịu được lại hỏi tiếp:
– Mày tính chừng nào lấy vợ?
– Chưa biết. Chừng nào xong việc rồi tính.
– Làm hồ biết chừng nào mới xong. Mà theo tao khỏi lấy vợ chi cho mệt mày ơi. Gái gú khối cha gì. Thích thì ăn bánh trả tiền cho nó phẻ.
– Cho hỏi chú một câu được không?
– Cứ tự nhiên.
– Sao ông không vợ con chi hết vậy?
– Làm nửa ly rồi tao kể chuyện vợ tao cho nghe. Chuyện tao không có tí men nghe không bốc đâu. Rượu của tao là nếp cái dầm chuối hột uống bổ lắm đa con.
Đường nâng cái xây chừng làm nửa ly. Cũng sành điệu lắm chứ không phải lơ mơ, chứng tỏ rằng với rượu ta đây không hề lạ, chẳng qua không uống mà thôi. Nhận cái ly Tư Thâu bước lại bên bình rượu múc đầy, nốc sạch rồi múc thêm ly khác đặt trước mặt bạn trẻ:
– Tao tù về ghé vô một rượu đế ôm, gặp một em ba mấy xuân. Em khóc lóc thở than về đời đen bạc. Nào yêu bị bồ đá. Bị cù rủ đi bán cà phê. Bị bán vô nhà chứa vân vân. Hết duyên ghé xứ ruộng bán cà phê ôm. Già quá bọn trẻ chê đành phải vô đế ôm bán cái xuân tình cho bọn già goá vợ… Thấy nàng khóc tao cám cảnh nên lôi về đây làm vợ. Tao phụ hồ nàng bán cà phê cóc. Chắc là nàng thấy tao hẻo quá nên lại bỏ ra đi. Buồn tình tao ở vậy nuôi thân. Mà mụ nội cha nó cái cuộc đời, tao vầy ai muốn bá vô mà trăm năm hả mày? Thôi thì rượu chuối hột muôn năm. Còn mày? Làm thêm ly nữa đi. Mày theo công ty nầy qua mấy tỉnh rồi?
– Chừng chục tỉnh chú ơi. Nhưng nước mình là tui có mặt khắp rồi đó nghe. Chiếc 67 nầy theo tui đi cùng hết. Tui đang kiếm mớ tiền phi qua Thái lan cho biết. Ba cái đèn mờ bên biên giới Trung tui cũng đến rồi nghe.
– Mày qua mấy xứ đó để tế ông tế bà tao à?
Đường làm cạn ly rồi thở dài:
– Tui đi kiếm người chú Tư ơi.
– Kiếm ai? Vợ bỏ theo trai hả?
– Tui kiếm con em gái.
***
Em gái Đường tên Đi. Người quê họ đặt tên con vậy cho dễ nuôi. Nhà có hai anh em nên cha má yêu lắm, nhất là cô con gái. Đường vẻ ngoài trông hiền nhưng quậy lắm. Lợi dụng gia đình nghèo khó, lớp năm tự nghỉ học. Mười tuổi phụ cha mẹ trong tất cả mọi việc kiếm tiền cho Đi học hành. Mười lăm tuổi Đi vào lớp mười. Năm đó Đường hai mươi tuổi và có một bề dày trong nghiệp làm hồ những bảy năm. Sỡ dĩ cho đến hôm nay Đường là thợ chiến đấu là nhờ biết cầm cái bay xây tô từ năm mười bốn tuổi. Một mình Đường đủ nuôi cả nhà ăn ngon mặc đẹp. Ông cha bà má lại chịu thương chịu khó nên tuy không ruộng đất nhưng vẫn cấy hái thuê. Đi đến trường chả thua chị kém em một lai nào. Cô lại có cái nhan sắc hơn tất cả.
Một hôm kia Đi không về.
Đường đang trên dàn giáo phải tuột xuống và suốt cả tuần sau đó là một cuộc truy tìm cô gái nhỏ. Đường và cha má đích thân lên tận huyện báo về vụ mất tích nầy. Nhà trường cũng báo rằng hôm ấy Đi có đến lớp và cùng bè bạn ra về sau tiết cuối. Đi đâu? Làm chi ngoài cổng trường làm sao nhà trường quản lý được? Công an bảo gia đình bình tĩnh, yên tâm. Tất cả đang làm hết chức năng của họ để truy cho ra cô gái. Nhưng. Cô bé vẫn bặt tăm.
Đúng một tháng bà má tội nghiệp đổ bệnh. Và rồi buồn quá. Làm sao mà không buồn, không âu lo, không cháy bỏng ruột gan khi đứa con gái bé bỏng mẹ yêu như trái tim mẹ nay không thấy bóng hình. Bà má kêu gào thảm thiết Đi ơi con đâu? Con đâu rồi? Làm sao má sống được con ơi. Bà cứ kêu suốt và chẳng ăn uống chi. Một tháng như vậy và bà chết. Kế tiếp là ông cha. Con gái mất. Vợ chết tức tưởi. Buồn quá ông nâng chai thuốc trừ sâu và đi luôn. Đường về nghe mùi thuốc nồng nặc khắp nhà. Cái nhà đang hạnh phúc đề huề bổng tan tành theo kiểu thê lương nhất:
– Trời ơi – Tư Thâu kêu lên – Bi thiết vậy sao? Không ai biết con nhỏ đi đâu à?
Đường lau nước mắt:
– Con đau khổ suốt sáu năm nay rồi chú. Con phải tìm cho ra con nhỏ. Truy cho ra căn nguyên con mới chịu. Một con bé mười lăm tuổi cả đời ở quê, lại ngoan hiền, học giỏi. Nếu có chết thì phải có xác chớ. Đúng không? Vậy là con tìm đến nhà thằng Bảy Tài.
– Bảy Tài là thằng nào?
– Thằng nầy kiếm tiền bằng cách mối giới gái quê lấy chồng ngoại.
– Nó bảo sao?
– Nó nói tao môi giới chứ bắt cóc thì cả tấn vàng cũng không dám. Vậy là con tìm đến nhà bà Chín Bông…
Chín Bông là em gái Tư Lài. Tư Lài là vợ của cựu phó chủ tịch huyện về vườn vì tiêu cực chi đó. Chín Bông bốn mươi tuy không chồng con nhưng bồ bịch qua cũng dăm bảy xác đàn ông. Lúc nào cũng là lượt thơm phức mùi nước hoa và móng tay mỗi ngày một màu sơn. Chín Bông sống bằng cho vay và cũng có môi giới hôn nhân như Bảy Tài:
– Em mày hả? – Chín Bông cong môi – làm sao tao biết? Mày hỏi tao là ý gì vậy?
Bực quá Đường gằn giọng:
– Em tôi mất tích, ba má tôi chết. Hỏi vậy có sao không?
Vậy là mồm loa mép giải Bông lô loa lên kiểu cả vú lấp miệng em. Nào ý mày là tao bắt cóc chớ gì? Ê nói phải có bằng chứng à. Không là tao xé mặt à. Đừng có ghẹo tao nghe con vân vân… Đang lúc đủ thứ bực Đường điểm mặt cái loa phóng thanh:
– Nếu em tao không chết sẽ có ngày tao truy ra nó. Đến lúc đó bây đừng trách tao.
– Tao thách mày đó. Cứ truy đi. Có chị mới sợ em ơi.
Vậy rồi gom góp hết tất cả có trong nhà Đường mua chiếc Honda 67. Anh bắt đầu một cuộc rong ruỗi đầy bắt trắc và hiểm nguy để truy tìm cô gái tên Đi. Đường xin vô công ty xây dựng nầy để nhờ vào tính luôn luôn di chuyển của nó. Ở bất cứ nơi nào Đường cũng tìm đến những quán đèn mờ, những khu vực mát xa thư giản. Đó là lý do đến xứ nầy đêm nào, chủ nhật nào Đường cũng đi như một thằng biến thái. Anh kêu chai nước, cho một cô bất kỳ chai nữa. Đến mát xa anh chung tiền vé phòng. Cho phục vụ tiền xoa bóp thông thường còn đặc biệt thì không. Có hao tốn một tí nhưng Đường chịu được nếu tính toán kỹ. Chỉ duy một mục đích tìm em gái:
– Sáu năm rồi chú Tư. Con đi từ Bắc vô Trung vô Nam qua cả K cả Lào mà đến nay vẫn bóng chim tăm cá chú ơi.
– Hay là nó chết đâu đó rồi?
– Nếu là vậy con đỡ đau khổ hơn. Tưởng tượng một con bé mười lăm tuổi bị bắt làm nô lệ tình dục là con đứt từng đoạn ruột chú ơi.
– Mày cứ xem như nó đã chết cho lòng yên ổn hơn.
– Nhưng con biết em con chưa chết.
– Sao mày biết?
– Con linh cảm vậy. Và linh cảm em con đang bị đày đoạ.
Tư Thâu chép miệng:
– Mày cứ tưởng tượng cho cố vô rồi tự khổ với cái tưởng của mình. Chú Tư của mày đây rành đời lắm con. Chú mày biết rất nhiều nhỏ cũng bị sa vô bùn nhưng rồi bình thường hết con ơi. Mày qua nhiều xứ có thể rành hơn tao. Cái gì rồi cũng quen hết con à… Tao hỏi nè. Nếu gặp lại em gái mày sẽ làm sao?
– Chắc chắc con sẽ đem nó về để làm lại cuộc đời.
– Tao mong mày gặp lại em gái. Thành thật mong… Mà thôi… làm ly nữa đi con.
Hai tháng sau Đường từ giã Tư Thâu dù công trình chưa hoàn tất. Anh đi vì tất cả những quán đèn mờ và mát xa ở khu vực lân cận đã sành. Đường dễ thương và sành điệu nên khi đi cũng có vài tiếng thở dài của đủ thứ tình đưa tiễn. Tiếng thở của Tư Thâu dài nhất.
***
Và sáng hôm nay cả quán cà phê cóc Tư Thâu dậy sóng ba đào. Nguyên nhân của cơn sóng bắt đầu từ bản tin của một tờ báo. Mà không. Cái hình in báo mới làm cư dân trố mắt ngạc nhiên. Cái mặt của kẻ thủ ác Nguyễn Văn Đường chình ình trên trang nhất. Nếu không có cái hình nầy chắc dân đây cũng chẳng biết chi. Xưa nay báo chí xứ ruộng nầy người ta mua ký về làm công chuyện chứ ai hơi sức đâu mà đọc. Tờ báo được chuyền tay. Mẹ ơi – ai cũng chép miệng – cái thằng ngó hiền hiền vậy mà giết một lúc cả hai mạng người. Ghê quá trời đất ơi. Dã man nhất là kẻ thủ ác đã dùng dao Thái đâm người đàn bà tên Bông nhũng mười một nhát. Bài báo không nói chi tiết. Nhưng kẻ thủ ác bị bắt tại trận. Con em gái nó khóc như mưa.
Tư Thâu rúng động toàn thân. Già tội nghiệp vội đóng của quán gom ba đồng bạc vụn leo lên xe buýt. Qua xe đò, qua phà, qua luôn cầu dây văng mò đến cái tỉnh nơi có cái ấp kẻ thủ ác sinh sống để tìm hiểu ngọn ngành. Nhưng mà tội trạng lớn quá người thân còn không được thăm gặp nói chi người dưng nước lã. May quá. Người ta chỉ cho Tư Thâu cô gái tên Đi em ruột của Đường. Cô gái ngụ trong ngôi nhà te tua xơ mướp. Ngoài nhìn thấu trong và cả nghìn bóng nắng hình hột vịt lỗ chổ khắp nhà. Tuy nhiên nó được quét dọn rất sạch:
– Con là Đi đây hả? – Tư Thâu hỏi.
– Dạ. Chú ngồi chơi.
– Chú thân với anh con lắm. Anh con có tâm sự với chú về con, về ba má con cho chú nghe. Anh con nói đi tìm con cả bảy năm rồi. Thằng Đường gặp con ở đâu?
Cô gái nói cô được giải thoát khỏi bàn tay bọn buôn người xuyên biên giới. Cô được đưa về nhà và gặp anh trai và hay rằng cha mẹ đã mất. Cô dại dột tâm sự với anh trai rằng cô bị Chín Bông cù rủ ra thị xã rửa chén cho quán ăn kiếm tiền cho niên học mới. Ai ngờ cô bị đưa đến nhà anh rể của mụ. Thằng già dịch biến thái đã phá hoại đời con gáí của cô. Cô bị làm nô lệ tình cho hắn suốt một tháng. Sau đó mụ Bông đẩy cô ra biên giới và từ đây cô bắt đầu đời lưu lạc.
Đường nghe xong và chuyện đã xẩy ra. Cô gái thút thít:
– Con muốn chết quá chú ơi. Sao mà con dại dột quá. Anh con liệu có bị tử hình không chú?
– Chú không biết.
Và trong căn nhà vắng lặng một già một trẻ cùng nhau khóc. Trời ơi – Tư Thâu rấm rứt – Có ai ngờ sáu năm vất vả ngược xuôi để có được một phút gặp gỡ rồi lại phải thế này sao hỡi trời cao?
Nhưng trời cao ngất.
Nguyễn Trí

NHỮNG CON SÂU ĐO

linhphuong

Tưởng chừng có tiếng gió vọng mây ngàn
Cuốn chìm em vào cơn khát
Ngày gặp nhau mặt trời nghiêng treo bờ ngực
Trần trụi giọt mồ hôi
Những con sâu đo cuộn mình bò qua giấc mơ
Bò qua cánh đồng em bất tận
Cánh đồng bạt ngàn màu sen nõn
Hơn hớn dưới đáy chân không

Êm ái bằng nhung
Những con sâu đo cuộn mình lên ngọn đồi cao
Tìm viên đá tênh hênh mang hình hạt đậu
Giấu vào khoang sinh mùi sữa dậy thì
Đôi môi anh dày – đôi môi người đàn ông tình si
Hôn hết cánh đồng em ngủ đông bất tận
Hôn hết khu rừng sinh thái ngập mặn
Và đọc câu thần chú : – Vừng ơi !

Vừng ơi !
Hôn ba lần vùng hương đàn bà mở ngõ
Vị giác chạm đáy càn khôn bùa ngải
Con bướm lạ xập xòe hồn nhiên mơ mộng
Ngần đó bao nhiêu năm ?
Em đánh mất quãng đời trinh trắng
Thời nhu nhú cau non
Mơn mởn bầu nhũ hoa con gái

Tưởng chừng ngày gặp nhau hôm ấy
Anh ngã sấp lên em
Rồi giấu mặt vào chỗ dịu êm
Tự phạt mình nghìn lần hít đất
Cơ thể em nóng hâm hấp
Nhấp nhô đôi bờ lá ngọc
Mưa cam lồ tưới mát
Thung lũng ruộng bậc thang mỹ miều

Những con sâu đo cuộn mình phách lạc hồn xiêu
Trên vùng bình nguyên bất động
Trắng ngần
Mùa tình khai hoa nở nhụy
Anh và em trở về nguyên thủy
Khi chúng mình yêu nhau
Yêu nhau
Yệu nhau…

LINH PHƯƠNG

GỐI ĐẦU VÀO ĐÂY MÀ NGỦ

tranthienthi

gối đầu vào đây mà ngủ
đường xa non nước Cao Bằng
gối đầu vào đây mà ngủ
đời còn nhiều chặng ăn năn

giang hồ ta chỉ thằng hóng hớt
chẳng thiết núi sông chỉ mê người
ngàn dăm biên cương
ngàn dặm máu
rượu xoay chừng
đổi lấy em thôi

con ngựa trắng hôm nào ven suối
vẫn nhẫn nha gặm cỏ đợi người
em đứng làm gì ven núi biếc
đau lòng tìm dấu cánh đào phai

ngô đã sắp mùa thơm rượu mới
ta về náo nức buổi non xanh
nâng chén với ta nào đá núi
đêm dọn giấc khuya ở chân ghềnh

đêm nay ngủ tạm ở Pác Ngoài
ngày mai ta cõng em đi thôi
Đèo Giàng
Đèo Gió
trời đông bắc
đất nước là em thơm hơi ngừoi

giặc dữ có tràn qua Bản Giốc
này em cầm lấy bàn tay tôi
mất là đánh mất làn hơi ấm
mẹ gởi em về giao cho tôi

ngàn dặn biên cương ngàn thước máu
buổi em về
bé mọn một bàn tay
em có trái tim hòng ngọn lữa
gươm liễu liêu xiêu cặp chân mày

ta nợ Cao Bằng một bài thơ
nợ người ngã xuống buổi hôm nao
rượu giữa chừng khuya mà tỉnh giấc
giang hồ ta
mà đất nước nào

trần thiên thị

AI LÀ “BÊN THẮNG CUỘC”?

vulinhchau

Tuy đã được nghe biết rất nhiều ý kiến về nội dung cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” này, nhưng vì chưa từng đọc qua, nên xin được miễn bàn về nội dung cuốn sách.
Không biết nội dung cuốn sách chứa đựng những gì, trúng trật ra sao.
Nhưng tôi biết chắc chắn rằng cái đầu đề của cuốn sách, cái tên của cuốn sách “ BÊN THẮNG CUỘC” là sai, HOÀN TOÀN SAI, nếu cụm từ “bên thắng cuộc” này là để dành cho Miền Bắc VN và phe Cộng Sản quốc tế.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, BẮC VIỆT VÀ KHỐI CỘNG SẢN QUỐC TẾ KHÔNG PHẢI LÀ BÊN THẮNG CUỘC”.

Kính thưa qúi vị,Theo định nghĩa thông thường:
– Kẻ thắng trận là kẻ đạt được mục tiêu của cuộc chiến.

– Kẻ bại trận là kẻ không đạt được mục tiêu của cuộc chiến.

Từ định nghĩa đó, mọi người có thể dễ dàng đi tới kết luận là Cộng Sản Miền Bắc và CS quốc tế không phải là “Bên Thắng Cuộc” vì họ đã không đạt được mục tiêu của cuộc chiến tranh Việt Nam do họ gây ra.

Như vậy, muốn phân thắng bại, muốn biết ai là “Bên Thắng Cuộc” trong cuộc chiến VN, chúng ta cần phải biết rõ ràng về mục tiêu của cuộc chiến tranh này là gì.

Hai phe đối nghịch trong Chiến tranh Việt Nam là:

– Một bên là Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do và Việt Nam
Cộng Hoà.
– Chiến tuyến bên kia là Nga ,Tầu, Thế Giới Cộng Sản
và Miền Bắc Việt Nam.

Như mọi người đã biết, đất nước Việt Nam chúng ta có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trên bản
đồ thế giới. Chúng ta vừa là “Bàn đạp để tiến vào Châu Á, vừa là bao lơn trông ra Thái Bình Dương”.
Riêng vào thời gian đó, Việt Nam, không những là nơi chế ngự con đường hàng hải huyết mạch của thế
giới tại Biển Đông mà còn là một địa điểm chiến lược để án ngữ làn sóng đỏ của cộng sản, nhất là CS Trung Hoa tràn xuống miền Đông Nam và Nam Châu Á. Cho nên Việt Nam mới được gọi là Tiền Đồn Chống Cộng của Thế giới Tự Do.

Tuy những điều nói trên đã được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, hầu hết mọi người ai ai cũng đều đã biết, nhưng vẫn xin được đi vào chi tiết hơn một chút nữa. Như chúng ta đã biết, dẫy núi Hi Mã Lạp Sơn là một trong các dẫy núi cao và hiểm trở nhất trên thế giới. Đặc biệt, dẫy núi này lại có chiều cao gần như liên tục, chạy dài suốt từ Tân Cương, Tây Tạng tới biên giới Lào-Việt, gần như không hề có một ngọn đèo thấp nào để dễ dàng băng qua. Ngày nay, với các phương tiện kỹ thuật tối tân, Trung Quốc vẫn còn gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập được những đường giao thông từ Trung hoa băng ngang qua dẫy núi cao chót vót này để tới các nước Án Độ, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao… cũng như để thóat ra Ấn Độ Dương. Huống chi là vào thời gian của thế kỷ trước. Vào lúc đó, con đường thuận lợi và dễ dàng duy nhất để đi tới các quốc gia tại Nam và Đông Nam Châu Á là con đường băng ngang qua lãnh thổ Việt Nam. Tại vì khi tiếp giáp với biên giới Hoa – Việt thì dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn này đã không còn hiểm trở nữa. Chính vì vậy mà một đường hỏa xa đã được thiết lập để vận chuyển hàng hóa từ cảng Hải Phòng vào các vùng đất Miền Nam Trung Hoa.

Tóm lại vì đất nước chúng ta có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như vậy, cho nên:
– Khối Cộng Sản quốc tế, nhất là Trung Cộng và Nga Sô, đã quyết chiếm cho bằng đựợc .
– Hoa kỳ và Thế giới Tự Do cũng phải cương quyết bảo vệ bằng mọi giá.
Như vậy, mục tiêu của cuộc chiến tranh Việt Nam là:
– Mục tiêu của Khối Cộng Sản quốc tế và Cộng Sản VN là chiếm Miền Nam Việt Nam để tràn xuống Đông
và Nam Châu Á.
– Mục tiêu của Hoa kỳ, Thế Giới Tự Do và Miền Nam VN là ngăn chặn Làn Sóng Đỏ nói trên.
Cuộc chiến VN đã kết thúc vào ngày 30/4/1975 và như đã thưa với qúi vị ở trên, nếu phân biệt thắng
bại dựa trên mục tiêu của cuộc chiến , thì chúng ta đã thấy rõ ràng:
– Trung cộng, Nga sô, khối CS quốc tế và CS Việt Nam là “Bên Thua Trận”, vì họ đã không đạt được mục tiêu củả cuộc chiến là nhuộm đỏ Miền Đông Nam và Nam Châu Á.

– Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do và Việt Nam Cộng Hoà là “BÊN THẮNG TRẬN” vì đã đạt được mục tiêu của cuộc chiến là đã ngăn chặn được Làn Sóng Đỏ.

Mọi người ai ai cũng đều đã biết, với sự dàn xếp của Kissinger, Mỹ đã bắt tay được với Trung Quốc cho nên vai trò “Tiền Đồn ngăn làn sóng đỏ tại Đông Nam Á” không còn cần thiết nữa. Và Hoa Kỳ đã không còn gắn bó với chuộc chiến Việt Nam nữa.
Tuy nhiên, đó là nói một cách tổng quát trên bình diện quốc tế. Riêng với Việt Nam CH và CS Bắc Việt, chúng ta thấy việc phân biệt thắng bại lại được nhìn theo một khiá cạnh hơi phức tạp hơn. Với vai trò là Tiền Đồn Chống Cộng,
VNCH đã ngăn chặn được Làn Sóng Đỏ tràn xuống Miền Nam Châu Á, nhưng VNCH đã không bảo vệ được nền Tự Do của chính mình. CS miền Bắc VN đã không gíup chủ nghĩa CS tràn xuống được Miền Nam Châu Á, nhưng họ đã chiếm được Miền Nam VN, đã thống nhất được đất nước.
Tuy nhiên đấy chỉ là mặt nổi, trong thực tế CS Miền Bắc đã thất bại hoàn toàn, họ đã không hề chiếm
được cảm tình, không hề chiến được trái tim của nhân dân Miền Nam VN. Phong trào vượt biên, với cả triệu người lao ra biển cả, lao vào chỗ chết để tìm kiếm hai chữ Tự Do, để thoát khỏi ách cai trị của
những “kẻ thắng cuộc”. Mọi người sẽ không bao giờ quên được câu nói của nghệ sĩ Trần văn Trạch
“Nếu cái cột đèn biết đi, thì nó cũng đã đi khỏi VN rồi”.Hơn nữa, mục tiêu của những người CS Miền Bắc là áp đặt chủ nghĩa CS lên cả nước VN, nhưng ai cũng biết, về điều này, là họ cũng đã và đang thất bại hoàn toàn. Vào những năm cuối của thập niên 1980, Võ văn Kiệt đã phải hô hào “đổi mới hay là chết”, nhưng trong thực tế, đổi mới nghĩa là “bỏ đi những cái sai, những cái dở của Miền Bắc để thay vào bằng những cái hay cái đúng của Miền Nam”.
Điều này thì từ năm 1980 đến nay, càng ngày mọi người càng nhận thấy rõ ràng hơn. Không có ngày 30/4/75 thì Miền Bắc VN vẫn còn đói khổ lạc hậu như người dân Bắc Hàn hiện nay.Không phải VNCH đã chỉ chiến thắng CS Bắc Việt về phương diện kinh tế và chính trị như trên, mà ngay cả về nếp sống, về văn chương, về nghệ thuật, về văn thơ, và ngay cả về… NhạcVàng nữa. “Ai thắng ai” thì mọi người đều đã và đang quá rõ. Chính vì vậy mà nhà văn Lê Hiếu Đẳng, một trong các nhà bất đồng chính kiến tại quốc nội, trong cuốn “Viết trong những ngày nằm bệnh” đã công khai minh định như sau: “Sự thật là Miền Nam đã giải phóng Miền Bắc trên tất cả các lãnh vực, nhất là kinh tế, văn hóa, tư tưởng…”
Tóm lại, Cộng Sản Miền Bắc và Cộng Sản quốc tế đã không đạt được mục tiêu của cuộc chiến tranh
VN do họ phát động là nhuộm đỏ toàn miền Nam và Đông Nam Châu Á nên họ không phải là
“Bên Thắng Cuộc”. Thế giới tự do, Hoa kỳ và VNCH đã đạt được mục tiêu “Ngăn chặn làn sóng đỏ” nên chúng ta là
“Bên Thắng Cuộc”.
Xin được mượn câu chuyện thắng bại trong chiến tranh Việt Nam của danh tướng độc nhãn Moshe Dayan sau đây để kết thúc ý kiến “Ai Thắng Ai” như sau:
Cuối tháng 7 năm 1966, danh tướng độc nhãn Do Thái là Moshe Dayan được Hoa Kỳ mời đến Miền Nam VN. Sau khi thăm viếng khắp các chiến trường, trong một cuộc họp với các cấp lãnh đạo Miền Nam VN, khi được hỏi rằng làm thế nào để chiến thắng Cộng Sản VN. Tướng Moshe Dayan đã trả lời như sau:
QUÂN ĐỘI BẮC VIỆT SẼ THẤT TRẬN KHI HỌ CHIẾM ĐƯỢC SAIGON.
(“North Vietnam will lose the war when it takes over Saigon.”) (TS Nguyển tiến Hưng trong The Palace File).

Vũ Linh Châu.
Ngày Quốc Hận 2015.

ĐỪNG HỎI NỮA CON ƠI !!!

dungkqd

Sợ mai này các con hỏi cha ơi
Đi tắm biển sao phải mang hộ chiếu ?
Biển quê mình… cha nói đi… con không hiểu
Khi nhìn tấm bản đồ chó chết của Trung Hoa.

Con thả diều ở Vũng Tàu, Mũi Né, Lý sơn, Hoàng Sa, Trường Sa…
Người lớn đến cắt dây khi diều bay xa mém nước
Biển của mình trong xanh con muốn vẫy vùng mà chẳng được
Vì ra khơi là đi du lịch nước ngoài.

Đời thật buồn khi ra biển ngắm ban mai
Chỉ thấy sóng giăng giăng hình băng đạn
Đám mây hiền lành cũng bốc mùi đại Hán
Đường lưỡi bò liếm láp biển bao la

Một ngày kia đọc “Nam Quốc Sơn Hà”
Chữ “Định phận” bị thay bằng “Cam phận”
Hình đất nước gầy nhom vì oán giận
Gánh mấy chữ vàng méo mó đứng chơi vơi
Muộn mất rồi
Đừng hỏi nữa
Con ơi.

DŨNG KQĐ

ĐÀ LẠT VÀ…KHÔNG EM

nguyenvi

May mà Đà Lạt ta còn bạn
Vẫn đó đồi thông cháy cúc quỳ
Sim cười rạng rỡ triền dốc vắng
Hà cớ gì nuối khúc tình si.

Lãng đãng hương bồng bềnh sương khói
Ru người quên mộng thuở hai mươi
Vi vút gió như chưa hề mỏi
Hát mãi lời thơ tuổi dậy thì.

Đà Lạt nghiêng giữa trăng hạ huyền
Ta mờ một nét thủy mặc đêm
Nằm ngồi nhấm nháp chùm bóng đổ
Nghe mình chếnh choáng quá chừng quen.

Đà Lạt lạnh chỉ là chuyện nhỏ
Men đời men rượu đầy đó thôi
Men tình mùa ủ mềm môi đỏ
Xâu thành dòng lạ chảy về xuôi.

NGUYÊN VI

mưa, mưa, mưa…

nguyenmonggiac

Chàng vừa đến ngã tư Nguyễn Thái Học-Hồ Văn Ngà thì trời đổ mưa. Mưa dữ dội, như tất cả nước mắt của chúng sinh tích luỹ từ nghìn vạn kiếp đột ngột rời bể khổ, bốc lên thành mây, gặp khí lạnh thành mưa, trút gọn vào góc phố nhớp núa này. Trong quán cơm bình dân, đủ mọi gương mặt, đủ kiểu mẫu của kiếp sống cùng nhau đứng sợ hãi. thực khách vội vã kéo chiếc bàn thiếc vào sâu bên trong, tránh những giọt mưa lém lỉnh len qua mái tôn, chui vào tấm ván nghiêng của chiếc xe bán nước sinh tố, chảy thành dòng vào tô canh của người công chức già ngồi sát quầy. Bà chủ cửa hàng rối rít hối thúc hai con thả các tấm sáo xuống. Nhưng mưa lớn quá, giữ cách nào cũng không khỏi ướt. Cuối cùng, người ta đề nghị cứ kéo tấm sáo lên cho thoáng khí. Bên cạnh chàng, anh phế binh mặc cái quần cụt đen và chiếc áo trận rách cũ ngồi chồm hổm bên lò lửa, mắt nhìn sang ngôi trường đối diện, không nói năng.

Mọi người đã tìm được chỗ an toàn của mình, hết rối rít lăng xăng nên đột ngột cảm thấy cái buồn xa vắng lặng lẽ của buổi tối, trời mưa, phố lam lũ. Không ai nói gì cả trong cái quá hẹp. Và không ai không thấy cần phải nói điều gì đó, để quên cảm giác bàng hoàng vu vơ chợt hiện, còn lởn vởn quanh quất đâu đây. Chính chàng cũng muốn nói vài lời với người phế binh nhưng anh ta quay lưng về phía chàng, bất động như một pho tượng.

Người đàn bà mặc chiếc áo tơi mầu trắng đứng gần xe sinh tố chợt nói:

-Ơ, kìa, sao mưa dữ mà lửa không tắt?

Mọi người cùng quay ra đường. Bên kia dưới chân cột đèn bập bùng một ánh lửa nhỏ.

-Thứ gì vậy?

-Vậy mà cũng hỏi, lãng xẹt. Đồ nghề vá ép lốp xe, phải không chú Tư?

Anh phế binh quay lại yta3 lời bà chủ quán:

-Ừa. mà sao?

-Bà kia hỏi sao lửa không tắt.

Anh phế binh ngợ một lúc, chưa hiểu rõ người ta muốn anh làm điều gì. Tóc dài và bẩn, vì ướt nên càng xơ xác. Chiếc áo trận che không nổi thân hình ốm o. Gương mặt phờ phạc, thất thần. Rồi phải đến lúc anh ta hiểu người ta hỏi mình điều gì. Anh trả lời nhát gừng:

-Thì tại vậy!

Nhóm người tránh mưa được nghe một câu ngớ ngẩn, cười hô hố.

Tiếng huyên náo lấp cả tiếng mưa rơi trên mái. Khí nóng ở các thân thể ẩm ướt bắt đầu toả ra nhiều hơn, đủ làm quên cái lạnh lẽo của khí trời.

-Nói như chú thì ai hỏi làm gì. Nước xối lên như vậy, sao lửa của chú không tắt?

-Dầu nó nổi lên trên, tắt sao được.

Vài tiếng à, vài cái đầu gật gù. Chân lý đơn giản còn hơn cả cuộc mưu sinh, trong góc phố buồn này. Rồi im lặng trở lại. Anh phế binh bắt đầu húng hắng ho. Cơn mưa có vẻ muốn ngớt, nên vài thực khách đứng lên, hết lo ngồi ì để giữ cho được chiếc ghế. Vài tiếng va chạm bàn ghế loảng xoảng. Tiếng sột soạt của những chiếc áo mưa ni lông cũ bị khô dòn. Chuẩn bị đâu đó xong, mọi người thất vọng vì mưa trút xuống trở lại, có lẽ còn dữ hơn trước. Vài lời lao xao bất bình. Lại im lặng. Ánh lửa bên kia đường vẫn bập bùng, nhưng không ai còn tâm trí đâu chú ý đến nữa. Nó hết trở thành một bí nhiệm. Nó đã có chân lý, nên ánh lửa bập bùng giữa mưa dữ và giữa lòng ơ hờ.

Một chiếc xe Honda phóng nhanh về phía quán. Thiếu nữ ngồi yên vội vã chạy vào chỗ xe sinh tố, trong khi chàng thanh niên lái xe lật bật dựng cái chân chống mà không được. thiếu nữ vừa cười vừa giục:

-Mau lên. Ướt hết.

Cuối cùng, thanh niên dựng xong chiếc Honda bên lề đường, chạy vô chỗ thiếu nữ. Quần áo họ ướt nhem, như vừa mới tắm cả quần áo cho đỡ thẹn với nhau. Thiếu nữ nhìn quanh quất. Nhìn về phía người phế binh. Nhìn về người công chức già. Nhìn đám dân lao động lam lũ đang e dè quan sát đôi tình nhân trẻ. Nhìn chàng. Ánh mắt của thiếu nữ hơi dịu lại, ngại ngùng. Nàng cầm vạt áo kéo ra, giật nhè nhẹ cho mau khô và cho làn vải ướt mỏng khỏi dán vào da thịt. Thanh niên dùng năm ngón tay vuốt lại mái tóc, cười hỏi:

-Em lạnh không?

-Lạnh thấy mồ. Ướt hết trơn không thấy sao?

-Tại em hết! Anh bảo chưa dứt đâu. Mây còn giăng giăng.

-Em sợ về trễ, má la chết. Quá giờ cơm rồi.

-Thì nói tại trời mưa.

-Nhưng má biết thời khoá biểu. Tan học hồi trời còn nắng.

Thanh niên bí không tìm được lời an ủi nào nữa, lí nhí:

-Thì nói… Thì nói…

Rồi cả hai cười xoà. Người phế binh ho dữ hơn. Bà chủ quán thương hại khuyên:

-Chú Tư ngồi gần lửa cho ấm. Cảm hàn đó nghe.

Anh phế binh vâng lời bà chủ, đi vào phía bếp lửa. Đôi tình nhân được dịp may đến chiế chỗ anh phế binh. Thanh niên nói nhỏ vào tai thiếu nữ câu gì đó, khiến thiếu nữ cười lớn:

-Anh xạo hoài. Phim dở ẹt.

-Phim vậy còn chê.

-Tại trong phim họ đi chơi dưới tuyết, thơ mộng lắm. Mình thì ướt như chuột. Anh, coi kìa!

Giọng reo vui đột ngột của thiếu nữ khiến mọi người trong quán nhìn cả ra đường phố. Một cậu con trai mặc quần ống rộng, áo vàng phanh ngực điềm nhiên đạp xe Mini chậm chạp đi dưới mưa.

Người nào đó chộp lấy dịp nói hả hơi:

-Trẻ tuổi có phải. Mạnh khoẻ, coi mưa như không.

Thiếu nữ âu yếm tình nhân:

-Có đâu như anh. Ướt một chút, đã run.

Thanh niên bực bội:

-Nó làm bộ cho oai. Tối nay về không nhức đầu cũng sổ mũi. Làm như bác này, là chắc ăn.

Mọi người lại ngửng lên nhìn ra đường. Một ông già trùm kín thân thể bằng cái poncho nhà binh, đầu đội thêm cái nón lá, chậm rãi đi theo lề đường bên kia. Đến chỗ có ánh lửa bập bùng dùng vá ép lốp xe của người phế binh, hình như ông già có đôi chút ngạc nhiên nên dừng lại nhìn. Sau đó, ông tiếp tục men theo lề đường, tiến về phía đường Hồ Văn Ngà.

…

Nước trên mái chảy xuống nền xi măng. Nước trên nền xi măng chảy xuống mặt đường nhựa. Nước trên mặt nhựa xuôi theo chiều nghiêng của mặt lộ, chảy vào các ống cống. Ra sông. ra bể. Ở cửa khẩu, chỗ ống cống trổ ra bờ sông, chàng nghĩ, có lẽ nước reo vui. Xi măng, hắc ín quấy rầy, ngăn chặn không cho nước thấm ngay vào lòng đất. Trời mưa cho đất ướt. Nếu không có lớp xi măng và hắc ín? Ừ, nếu vậy thì mọi sự đơn giản quá. Nước thấm ngay vào lòng đất, không phải quanh co len lỏi gì hết. Rồi từ mặt đất ẩm, hạt giống sẽ nẩy mầm. Cây cỏ sẽ vươn lên; mạnh bạo, lẫm liệt, cũng không phải quanh co len lỏi gì hết. Chàng lẩn thẩn nhìn mặt hắc ín trên đường phố, nhìn mặt xi măng trên nền quán hẹp. Cứ xem đây là một tầng gác đi. Chàng nhớ, có lần kịch tác gia nổi tiếng người Mỹ là Arthur Miller có dựng một vở kịch hai tầng. Sân khấu là một ngôi nhà có gác cắt dọc. Khán giả nhìn được cả tầng trên lẫn tầng dưới. Trong khi ở tầng trên, mấy cậu em đang nói chuyện với nhau, thì ở tầng dưới, lại có những diễn viên khác đối thoại những vấn đề khác. Khán giả được dịp thưởng ngoạn một vở kịch kép. Chàng đã nhìn được cái hoạt cảnh buồn thảm nơi góc phố nghèo. Chàng đã trông được cơn mưa dữ, đã nghe những mẩu chuyện tầm phào, đã thấy những khuôn mặt của đời sống. Chàng đã nhìn, trong lặng lẽ trầm ngâm, ánh lửa bập bùng, yei61 ớt mà dai dẳng bên kia đường phố, trong trí lan man chưa hiểu ánh lửa ấy có mãnh lực bí nhiệm nào thu hút được chàng mạnh mẽ đến như thế.

Còn ở tầng dưới của vở kịch kép? Ở dưới lớp xi măng lớp hắc ín này? Chàng đã đi nhiều, thấy nhiều. Đi đến khắp các mặt trận, các trại định cư, các xóm làng xơ xác trơ trụi những cột cháy, tường đổ nền trống. Đã thấy hắc ín xi măng được xe xúc loại lớn trút xuống từng đống, xe hủ lô xe bang cán lên, sức mạnh cơ khí đè bẹp sức mạnh hồn nhiên của thảo mộc. Doanh trại mọc lên. Các phi trường, các đồn luỹ. Sắt thép, xi măng, dầu, chất nổ… và dĩ nhiên có rất nhiều ánh lửa. Và chàng cũng đã thấy sau đó những lớp rêu xanh bám vào vách lô cốt, những ngọn cỏ dại len qua các vết nứt của một doanh trại hoang vu, những hàng mì luống bắp xanh tươi trên chỗ ngày xưa là phi đạo. Ở tầng dưới vở kịch kép? Ở tầng dưới lớp hắc ín này đã có gì? Buổi sáng, đến nhà một người bạn, chàng vô tình lật lơ đãng một quyển sử địa, mới biết con đường Nguyễn Huệ ngày nay trước kia là một con kinh. Vậy thì góc phố Nguyễn Thái Học-Hồ Văn Ngà này, trước kia là thứ gì?

Với một chút tưởng tượng, đứng bên lề thời gian để xem vở kịch kép, chàng có thể thấy được nhiều thứ. Trong tiếng mưa rơi, trong lối nước chảy, chàng có thể thấy được hồn của những ngọn cỏ hoang, nghe tiếng khóc của những cây cao bị chặt oan ức, tiếng thì thào của các đoá hoa bị vùi dập. Đất thì lầy. Mưa trút xuống, làm hớn hở loài ếch nhái. Một chú ễnh ương nổi hứng cất tiếng, tưởng có thể át được giông tố và tiếng nước rơi. Chú đã phạm một lỗi lầm không thể cứu gỡ. Con rắn nước ở vũng lầy bên kia nhẹ nhàng trườn mình, lặng lẽ uốn thân dưới các gốc cỏ. Mưa. Vẫn mưa. Tiếng nước rơi lấp được tiếng lá va chạm, tiếng sột soạt. Và cuối cùng, là tiếng kêu cứu tuyệt vọng chát chúa đến nỗi có thể lay động được trăng sao của chú ễnh ương ngây thơ. Con rắn nằm yên một lúc, thoả mãn. Yên lặng. Nhưng trong cơn mưa, cỏ xanh cây cối nẩy lộc đâm chồi, côn trùng và thảo mộc vẫn tồn sinh. Có chú ễnh ương thơ ngây, nhưng cũng có những chú ễnh ương già dặn. Sau cuộc huỷ diệt, luôn luôn có cuộc phục sinh. Một cơn gió mạnh thổi hắt mưa vào mặt chàng. Nghe trong hơi gió, chàng cảm thấy, thoang thoáng, mùi bùn, mùi cỏ ướt, mùi lá mục. Và dưới chân chàng, chỗ nền xi măng nhớp nhúa, như có thứ gì cựa quậy, lay động.
…

Một cơn gió nữa, lần này nước mưa làm ướt cả đôi kính cận của chàng. Chàng định đưa tay vào túi tìm cái khăn, nhưng chợt nhớ trước khi đi ăn, chàng đã đem cái khăn bẩn đó giặt sạch rồi. Chàng nhìn qua bên kia đường. Ánh lửa vẫn bập bùng dưới chân cột đèn. Đôi kính ướt, hình ảnh bây giờ nhập nhoè. Mưa đã bớt, giọt rơi nhỏ và nhẹ. Bây giờ chàng mới cảm thấy lạnh. Người phế binh có lẽ nóng ruột mặc dù trời còn mưa, vẫn chạy qua bên kia đường xếp dọn đồ nghề để ra về. Anh ta đến gần ngọn lửa, ngồi xuống hơ tay lên trên. Một giọt nước quái ác không biết len lỏi chờ đợi từ đâu trên mái quán lúa ấy, rơi ngay vào đúng gọng kính của chàng. Chàng nhắm mắt lại. Lúc mở ra, hình ảnh càng nhập nhoè hơn. Hướng về phía bên kia đường, chàng giật mình, người phế binh còn ngồi đó, nhưng ánh lửa bây giờ bập bùng loang ra, y như ánh lửa bập bùng liếm quanh nồi cháo lú.

Nguyễn Mộng Giác

Đêm 10-11-1974

(Nguồn Tập san Nhà Văn, tháng Giêng năm 1975, theo bản chụp của Nguyễn Trường Trung Huy)

THUỞ LÓT SÁCH, KÊ VÁN NẰM!

uyennguyen

Do tôi post mấy tác phẩm nghệ thuật làm từ sách của nghệ sĩ Jacqueline Rush Leen, nhà văn Tôn Nữ Thu Dung, chủ bút nguyệt san văn chương Tương Tri, đã chia sẻ quan điểm về sứ mệnh của sách và lòng quý trọng sách, bên trang facebook. Chị gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm.

“… chức năng của sách chỉ là để ĐỌC thôi mà Tran Triet. Bắt nó kiêm nhiệm chị không cam lòng!  Không nên bắt sách phải có công năng phụ như : Lót chân ghế, gói xôi hay chấm chấm chấm … dù nhiều quyển cũng đáng để chấm chấm chấm … Sách hay ĐỌC rất tuyệt. Và sách dở cũng cần ĐỌC để phân biệt với… sách hay…( TNTD)”

Tôi tin có một quan niệm văn hóa chung chung cho thái độ quý trọng sách. Nhưng bàn về thái độ, tôi xin kể lại đây một vài trường hợp mà tôi đã mục kích.

Nhiều người nại cớ miếng cơm không đầy, không còn đủ tâm trí sáng tác, mà có sức viết cũng không dư dả tiền nong để in thành sách. Thời Thầy tôi ở chùa, nhân những lúc gặp gỡ giới văn nhân thi sĩ, nghe kể như vậy, ông liền nói: “Quý anh chị viết đi, tôi lo chuyện in”. Phật tử cúng dường bao nhiêu, Thầy tôi dành phần nhiều để thực hiện lời hứa đó.

Nhưng khổ, và thiếu ăn của thành phần trí thức miền Nam sau năm 1975, là điều có thật!

Tôi cũng còn có một vị thầy giáo khác nữa, có thói quen những khi đọc sách, thỉnh thoảng xé toạc một số trang trong quyển sách ấy, gấp lại ngay ngắn bỏ vào túi, về nhà ông lại mở ra, xếp vào một quyển sổ riêng. Phần còn lại, ông vứt. Vứt thật!

Gần đây tôi cũng biết nhiều bạn ở Việt Nam có dịp sang Mỹ, do thân hữu tặng hoặc mua từ nhà sách về, những quyển sách mình thích, đọc vội vàng, rồi cũng như vị thầy giáo kia, xé toạc những trang có thông tin cần, giấu đâu đó cho dễ trong vali, mang về được trong nước. Sách nặng và cồng kềnh thì “vứt” lại!

Thuở còn đi học, ngồi cạnh tôi là một anh bạn giỏi toán và vật lý nhất lớp, sách của anh luôn luôn là những quyển sách nhàu, chi chít những dòng phụ chú do tự tay anh ghi lại. Gia đình nghèo, đông con, anh không đủ tiền để mua tập vở…

Lâu lắm rồi, một lần về Việt Nam, bạn tôi là một nhà văn, từ chối dẫn tôi về nhà của vợ chồng chơi để biết nơi biết chốn. Buồn một chút! Nhưng sau có người kể lại: “Nó ngại nhà không có chỗ để tiếp cậu, căn phòng bốn bề là kệ sách, chỉ còn đủ một khoảnh kê bốn chồng sách, trên đặt một tấm ván, là chỗ vợ chồng con nhỏ ngã lưng”.

Cũng vậy, có hôm nhà văn Viên Linh kể lại với tôi, bây giờ mỗi bận sang Virginia thăm chú Nguyễn Hữu Hiệu, đi trong nhà, phải lấy chân gạt gạt đống sách dưới đất mới có đường mà đi, nhà chú toàn sách.

Bấy giờ, dù có một quan niệm xã hội khoa bảng, chung chung cho thái độ quý trọng sách, nhưng không có một thái độ chỉ nhìn vào những quyển sách, để đánh giá ai quý sách hơn ai!

Tất nhiên, ở đây tôi không bàn đến chuyện nhảm của cô cậu nào đó, dùng sách kê chân ghế cho một chương trình truyền hình thời XHCN. Nhưng tôi biết rất rõ một điều, sau tháng Tư 1975 cho đến tận bây giờ, biết đâu, vẫn có rất nhiều gia đình Việt Nam phải lâm cảnh “đốt sách”, và người cầm bút chân chính Việt Nam phải lót sách, kê ván mà nằm.

Giữa thời đại vi tính, khái niệm tác phẩm đang dần dà thay đổi, hoặc đã thay đổi. Một nhà văn có thể không có tác phẩm in, nhưng có nhiều trước tác online. Ở đây chúng ta đang bàn đến tác phẩm chứ không phải vớ vẩn là chuyện cái bìa cứng có kẹp xấp giấy ở giữa. Cũng vậy, một nhà văn đích thực thì không cậy sự khổng lồ như quyển thi vân kỷ lục, hay phải là thành viên của Hội Nhà Văn Việt Nam thì mới có thể sáng tác được. Ý nghĩa thiết cốt của sáng tác, trước hết, anh phải hoàn toàn tự do.

Ngay khi viết mà bị chế độ độc tài cầm tù, một nhà văn đích thực, vẫn tự cảm thấy mình tự do viết…

Ngày 8 tháng Năm, 2015
UYÊN NGUYÊN ( nguồn Uyên Nguyên’s blog)

Transformed-Books3__700-460x250