NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Phục sinh từ đám tro tàn”

 

nuocmattruocconmua

TRUNG Sĩ KEVIN MALONY
(Cận vệ của Đại sứ Martin)
“Phục sinh từ đám tro tàn”

Tôi phục vụ ở Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Warsaw, Ba Lan, cho tới 22 tháng Giêng 1975 thì chuyển về Saigon. Thực tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.

Tháng Mười năm trước tôi rời Hoa Thịnh Đốn đi Âu Châu vài tuần. Thêm vào chương trình huấn luyện thông thường mà các vệ binh Tòa Đại sứ phải thụ huấn, tôi có tham dự chương trình cận vệ bảo an các yếu nhân. Rồi phục vụ tại Luân Đôn, tại Frankfurt, Tây Đức, sau đó là Warsaw. Tôi chỉ ở Warsaw có mười tuần lễ rồi tình nguyện đi Saigon.

Tại Saigon theo quy định tôi chỉ mặc thường phục, và là cận vệ Đại sứ Martin cho đến ngày 28 tháng Tư.

Khi tới Saigon vào tháng Giêng, tôi nghĩ mình sẽ ở đây một năm, nhưng rồi “Cuộc chơi lớn” bắt đầu.

Saigon khá an ninh lúc tôi đến. Nay mỗi lần nghĩ tới tôi lại càng ngạc nhiên. Sĩ quan an ninh khu vực bảo tôi trong vòng sáu mươi dặm Anh tại Saigon không hề có Việt Cộng. Tuy nhiên Saigon lúc ấy chính là một trại lính. Tòa Đại sứ ở đây có lẽ còn an ninh hơn bất cứ một Tòa Đại sứ nào.

Bên kia thành phố, tại tư thất Đại sứ, chúng tôi gồm tất cả sáu người lo phụ trách bảo vệ cho Đại sứ. Nhiệm vụ của tôi thuần túy là nhiệm vụ bảo vệ Đại sứ Hoa Kỳ. Có một trung tâm truyền thông đặt ngay trong tư thất Đại sứ, tôi là người canh giữ trung tâm ấy. Trong giai đoạn sau, tôi cũng là người phụ giúp việc truyền thông giữa Tòa Bạch ốc và Đại sứ. Có lần một số vị trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia đến đấy, tôi đã có mặt trong lúc quý vị ấy họp bàn kế hoạch.

Khi gặp Đại sứ lần đầu, thấy một ông già mặc cái quần ka-ki cũ, cái áo lụng thụng, lăng xăng trong sân, tôi cứ ngỡ là ông làm vườn. Trông không có vẻ gì Đại sứ cả.

Tôi được giới thiệu với ông vào ngày hôm sau tôi đến. Ông là người lịch thiệp, gây nhiều ấn tượng sâu sắc. Thực là một tay cứng cỏi. Bấy giờ đã ngoài bảy mươi tuổi, nhưng ông còn làm việc bền bỉ hơn tôi.

Trong giai đoạn cuối, Đại sứ tỏ ra rất kiên quyết. Ông không muốn lộ việc người Mỹ di tản vì chuyện ấy có thể gây náo loạn. Vì thế chúng tôi đã phải giữ cho mọi việc có vẻ vẫn bình thường.

Cuộc di tản, có lẽ là một trong những biến cố trọng yếu nhất đời tôi. Ngày 28 tháng Tư, tôi bị giải nhiệm vì tác phong: Tôi nhậu nhẹt quá sá và đã tạo thành vấn đề. Chính Thiếu tá Kean là người đã đề nghị đưa tôi ra tòa quân sự. Nhưng Thiếu tá Kean cũng cho tôi đoái công chuộc tội: Nếu làm việc tử tế, ông sẽ nương tay. Sau đó khi về Mỹ, tôi chỉ bị các hình phạt quân kỷ, khỏi phải ra tòa. Tôi bị phạt và bị thuyên chuyển thôi.

Cấp bậc của tôi là Trung sĩ. Tôi được chỉ định phụ trách một số quân nhân có nhiệm vụ canh giữ doanh trại văn phòng Tùy Viên Quân Sự. Hạ sĩ Mc Mahon và Hạ sĩ Darwin đều là hai người làm việc trong tiểu đội tôi, họ mới đến có hai tuần lễ. Tôi biết họ chưa lâu, mới ít ngày. Hai người bồ bịch thân thiết nhau lắm, tôi cho là chẳng ai tách rời họ được. Họ đến cùng lúc, thân thiết với nhau ngay. Lúc tôi tới, lính tráng thường cười đùa trêu chọc Judge vì anh ta hay nhái giọng nói miền Boston của Mc Mahon.

Tôi tới đây vào lúc chiếc phi cơ A-37 của Việt Nam bị tấn công. Chúng tôi vác cả súng trường lẫn súng lục ra mà bắn.

Sau khi máy bay được đưa đi hết, yên lắng lại, chúng tôi mới trò chuyện với nhau. Chắc ông từng nghe người ta nói “Chết đến nơi thì phải tin Trời, Phật, Thánh, Thần”. Đúng thế, Judge là người Thiên Chúa Giáo, hắn đã trò chuyện với tất cả mọi người về niềm tin của hắn. Hắn thuyết về đạo giáo cho tất cả lính tráng trong đơn vị trước khi tôi đến, sau đó lại rao giảng với chính tôi. Tôi biết hắn đúng, tôi đồng ý. Trước đây tôi chưa từng nghe chuyện tôn giáo. Bây giờ là lúc quyết định: Đúng ngày hôm ấy tôi đã trở thành một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Ngay tại đấy, và từ đó cuộc đời tôi rõ rệt đổi khác.

Cái kinh nghiệm sáng hôm ấy của tôi là kinh nghiệm của một người trở về đối diện với chính mình, nhận được rằng mình đã sống cuộc đời đáng tởm. Tôi ở trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến đã bốn năm, đã sống với cái hình ảnh của tài tử cao bồi John Wayne, cái lối nhậu nhẹt dữ dằn, kiểu sống khó thương của dân Thủy quân Lục Chiến. Đời sống ấy tạo trong tôi một sự trống rỗng, làm cho tôi chẳng còn là tôi, có lẽ đó chính là lý do tại sao bia rượu tàn phá tôi. Tôi đã bị hủy hoại, chẳng sót lại gì. Bao nhiêu điều tốt đẹp khi gia nhập Thủy Quân Lục Chiến chỉ còn lại tro than.

Mọi sự giống như cơn lốc xoáy. Tôi đã khá thành công trong binh chủng Thủy quân Lục chiến. Từ binh nhì lên trung sĩ chỉ trong thời gian ngắn. Nếu đừng vấp vấn đề lôi thôi ở Saigon, có lẽ tôi đã là người trung sĩ trẻ tuổi nhất binh chủng.

Vào đêm hai chú nhỏ bị giết, chính tôi là người bố trí trạm gác.

Lúc ấy 4 giờ kém 15 phút sáng, tụi hắn trúng ngay quả rốc-kết đầu tiên bắn tới. Tôi đoán là một quả 122 ly, sau đó tôi có tìm được cái cơ phận quả đạn. Lúc ấy tôi đang ở căn cao ốc kế cận, quả rốc-két đã đánh bật tôi ra khỏi giường. Ở ngoài ấy với tụi hắn, còn một chú nhỏ nữa. Tụi hắn ở phía góc căn trại, còn chú nhỏ kia tên là Holmes, ở phía cổng. Chú này bị ngay đầu. Có tiếng đạn cá nhân nổ liên hồi, hóa ra là dây lưng đựng đạn cá nhân của Judge phát nổ trong đống xe Honda bốc cháy, thoạt nghe như súng máy nổ ngoài cổng.

Quả rốc-két có lẽ rơi cách Mc Mahon và Judge chỉ khoảng mười tám phân Anh. Trúng đạn tụi hắn chết tức khắc. Không ai có thể nhắm trúng đến thế. Mc Mahon hứng ngay luồng đạn, thân thể hoàn toàn nát bấy, đầu một nơi, mình một nơi, tay chân một nẻo. Judge còn khá nguyên vẹn. Lúc đầu nhìn, tôi cứ tưởng hắn còn sống. Tôi kéo hắn ra khỏi ngọn lửa, nhưng hắn đã chết rồi. Stu Herrinton nhặt cái mũ sắt của Judge mang đi.

Sáng hôm ấy tất cả bắt đầu rung chuyển. Không quân Việt Nam cố di tản máy bay đi, mấy chiếc C-130 trúng rốc-két cháy tại chỗ. Đám nhân viên phi hành chạy vào. Chúng tôi cố núp tránh miểng đạn. Người ta có thể nghe đại pháo 130 ly rít qua đầu, nổ ầm trong đám kho xăng. Tôi nhìn thấy một chiếc C-l 19 cất cánh rồi bị bắn hạ.

Lúc ấy tôi là người tin số mạng, cái gì đến thì đến, nếu số tôi tới thì tới, vậy thôi. Không biết bây giờ tôi còn tin thế không, nhưng lúc ấy tôi tin như vậy. Tôi là loại cứng cổ, dù có sợ cũng không thừa nhận với chính mình.

Thiếu tá Tony Woods là người có trách nhiệm đưa đa số người Mỹ đi khỏi Saigon. Ông và tôi lái xe buýt quanh thành phố để đón người Mỹ tại các khách sạn. Có rất đông nhà báo. Thiếu tá Woods đã được một huy chương sao đồng về các hành động tại đây.

Ông ta và tôi nhảy lên một chiếc Jeep chạy quanh mấy nút chặn của lính Việt Nam trên đường phố Saigon. Chúng tôi lái đến mấy nút chặn ấy xem họ làm gì. Nhiều cha nổi nóng. Họ nổ súng nhưng chúng tôi không trả đũa. Sau đó ông ta và tôi lạc nhau trong một vụ nổ. Ông đi một đường, tôi đi một nẻo.

Việc ấy xảy ra ngay bên ngoài phi trường Tân Sơn Nhất. Người ta cứ đại ngôn về việc chúng tôi có thể đi ra phi trường mà không bị bắn chác gì. Vâng, những người nói chuyện như thế là những người không có mặt ở Saigon.

Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không bắn chúng tôi, nhưng lính của họ thì có. Vô khối lính đã nã đạn lên trời, cũng vài chiếc xe buýt bị trúng đạn.

Thiếu tá Woods và tôi hộ tống mấy chiếc buýt cho đến khi chúng tôi lạc nhau. Tôi lọt xuống trung tâm thành phố thì chợt phía sau là một xe vận tải đầy lính Việt Nam trang bị súng ống, cứ thế lừ lừ chạy theo. Tôi vòng một khu đường để đi sau chiếc vận tải thì bọn lính chĩa súng về phía chúng tôi. Đến khi chiếc xe buýt về tới Tòa Đại sứ, người trên buýt bước xuống, và khi vừa thoát khỏi bọn lính Nam Việt Nam, tôi chui ngay vào trong Tòa Đại sứ.

Tôi leo tường vào. Lúc ấy tôi mặc đồ rằn của lính Nam Việt Nam để di chuyển trong thành phố. Tôi cũng mang một khẩu M-16 và một khẩu .38. Ngày hôm ấy, họ cho chặt bỏ cái cây để trực thăng đáp xuống.

Tôi đã vào giữ vị trí ở cổng khu giải trí vài tiếng đồng hồ cho đến khi người ta bỏ khu này. Tôi nghĩ tôi là người cuối cùng còn ở bên ngoài. Địa bàn chúng tôi thu hẹp dần. Vài người và tôi đã đi qua tất cả các phòng của Tòa Đại sứ, từng phòng một để kéo mọi người ra. Rồi lên nóc thượng.

Tôi đi trên chiếc trực thăng bay lúc mặt trời mọc. Trên trực thăng này chỉ có lính Thủy Quân Lục Chiến. Chúng tôi ném hết nón sắt áo giáp để ngưòi khác có chỗ vào thêm.

Đến lúc ấy, tôi mệt lử. Tôi nhớ chiếc trực thăng bay, nhưng tôi nghĩ gì thì chẳng nhớ để kể cho ông nghe được.

Tôi đã nhìn xuống thành phố Saigon lúc bay ra. Chắc chắn tôi phải nhìn xuống. Mặt trời vừa mọc. Chúng tôi bay qua bến tàu, qua sông, tôi nhớ đã thấy mấy lằn đạn bắn đến, có lẽ đạn của lính Nam Việt Nam bắn chỉ thiên, hoặc là của súng phòng không. Chúng tôi bay qua bãi biển, đấy là điều cuối cùng tôi nhớ trước khi hạ xuống chiếc tàu Okinawa.

Nói chung tôi cho rằng đây là một sự mất mát không thể tưởng tượng. Và tôi đã có mặt để chứng kiến tới giây phút cuối cùng. Tôi nghĩ chúng ta đã bỏ rơi những người bạn và tôi không thích chuyện mà người ta gọi là “hoà bình trong danh dự”. Chúng ta đã ù té chạy, bỏ họ lại cho bọn Bắc Việt. Và ông thừa hiểu bọn ấy “tử tế” như thế nào.

Lúc ấy tôi chỉ mới hai mươi hai tuổi đầu. Đó chính là thời điểm thay đổi hẳn đời tôi. Tôi vẫn còn nghĩ đến rất nhiều. Tôi có thể quên nhiều thứ trong đời, nhưng không bao giờ quên được lúc ấy mặc dầu đó là một kinh nghiệm bi thảm, và sau khi ra đi tôi đã thay đổi hẳn. Năm 1975 là năm tệ hại nhất đời tôi, tạo nhiều khó khăn cho tôi, nhưng hồi tưởng lại thì chính nhờ đó tôi thay đổi để sống một cuộc sống tốt lành hơn.

Một phần của con người tôi đã chết ở chốn ấy. Nhưng một phần khác đã trỗi lên từ đống tro tàn. Tôi đã phải đối diện một cuộc phấn đấu lâu dài, nhưng nay tôi trở thành tốt đẹp hơn. Tôi tìm thấy sự thiện hảo trong niềm tin vào Chúa.

THÈM MỘT TIẾNG RU

nguyenhaithao

“À ơi… cái ngủ cho ngoan”…
Tiếng ai ru con
giữa đêm buồn tĩnh lặng
Tiếng ru dậy lòng tôi
Mấy mươi năm thắp đuốc
ruổi rong
tìm người ban cho
tiếng – khóc – đầu – đời…
Có bao giờ được ai dỗ “À ơi”
Dẫu khóe mắt
lắm khi… khô lệ!
Tôi vẫn lênh đênh
giữa dòng đời dâu bể
một mình – một mình…
Câu ca dao
ai hát ru nhà bên
Quặn thắt lòng tôi
đâu ai hay biết?
Rằng
đêm nay có người thao thức
Nửa đời
Thèm – một – tiếng – ru…

NGUYỄN HẢI THẢO

GIẤC SAY

trusa

Nàng ngủ, còn tôi thức.
Giấc ngủ đến với nàng thật nhanh. Từ lúc nào, nàng chỉ ngủ thế này. Một hai câu chuyện,vài nụ hôn rồi thì nàng buồn ngủ. Vòng ôm chưa đủ chặt để tôi thấy mình quá thô bạo và làm nàng đau. Còn nụ hôn thì thật ngắn. Chưa có sự bỏng rát như bị đốt cháy. Chỉ là hai cặp môi chạm lấy nhau, rồi tuột mất. Nhiều buổi tối qua đi vào những cơn buồn ngủ. Tôi chỉ có thể ngắm nhìn nàng, ve vuốt mặt và tóc nàng. Dĩ nhiên, cũng thật khẽ, để tránh làm nàng thức giấc.
Mỗi sáng, nàng dậy sớm hơn cả tôi. Bữa sáng được chuẩn bị khi tôi vẫn li bì trên giường. Thường thì, nàng mua gì đấy về để nấu. Mỳ gói, phở ăn liền. Hoặc những món có thể ăn ngay, như bánh mỳ, xôi, ngô luộc…Hiếm có dịp tôi cùng nàng ra ngoài ăn. Nàng còn phải đi làm. Tôi. Tất nhiên. Cũng phải đến cơ quan. Bữa sáng rất nhanh. Không hơn nửa tiếng. Dù tôi có dậy thật sớm, để có thể trò chuyện với nàng lâu hơn. Thì, nàng vẫn chỉ kết thúc bữa sáng trong đúng nửa tiếng.
“Anh ngon giấc chứ.” – Nàng nói khi thấy tôi vào buổi sáng, hoặc lúc nàng vừa ngủ dậy, và thấy tôi.
“Anh chưa thể ngủ.”
“Em đã ngủ được một giấc. Giờ em lại thấy buồn ngủ rồi.”
“Em ngủ đã nhiều rồi. Rửa mặt, rồi ăn cái gì đấy. Anh sẽ pha cafe.”
“Em phải ra hiệu thuốc.” – Nàng trả lời ngay. Dường như câu trả lời đã ở sẵn đầu nàng. Và, tôi vừa dứt câu hỏi, thì nàng đáp lại – “Em sẽ mua thêm thuốc ngủ. Anh cũng nên uống, nếu thấy khó ngủ.”
Tôi làm kinh doanh, còn nàng chỉ là một văn thư quèn. Trước đây, tôi cũng như nàng, là một nhân viên mạt hạng. Tiền lương ba cọc ba đồng khiến tôi không dám nghĩ về một chuyến du lịch nước ngoài. Tôi thường xuyên phải vay mượn chỗ này chỗ kia để trả đủ tiền thuê nhà. Nàng có thể ngủ bất cứ lúc nào, còn tôi thì ngay đến việc thiếp đi quá nửa tiếng đã là lãng phí. Mỗi ngày tôi chỉ ngủ sáu tiếng. Thời gian còn lại tôi kiếm ăn, bằng mọi cách có thể. Tôi thức trắng nhiều đêm mà vẫn tỉnh táo. Sức khỏe tôi có sa sút. Nhìn vào tấm ảnh nhóm chụp nhiều năm trước, tôi phải bật cười. Thật gầy gò, vì nước da tôi vốn đen nhẻm, khi lên hình lại trắng bợt bạt như bị trát vôi. Có thể khi ấy tôi đứng ngược sáng, hoặc cái máy ảnh kia để chế độ sáng quá lớn. Trong ảnh, tôi mặc cái áo khoác rộng thùng thình. Vì tôi lùn, dáng người bé, nên nhìn như tên tiểu quỷ trong thế giới khổng lồ. Còn nhiều tấm ảnh thế này nữa. Tôi từng cho nàng xem, nhưng nàng chẳng cười gì. Tôi đưa bức nào, nàng xem bức ấy.
“Chẳng giống anh bây giờ chút nào.” – Nàng nói thế.
“Kể ra, nhìn cũng ngồ ngộ.” – Tôi nói.
“Nhìn anh bây giờ xem, thật bảnh bao.” – Nàng nói.
“Già đi.”– Tôi nói – “Lại có vẻ tươm tất quá. Ngày đấy, anh chỉ có hai cái quần vải để mặc năm. Tất cọc cạch, quần còn thủng đít nữa.”
“Ngủ một giấc đi anh.” – Nàng nói.
“Buổi sáng mới bắt đầu thôi em.”
“Hôm nay là Chủ Nhật, em muốn ngủ.”
“Em không định tận hưởng một ngày nghỉ sao?”
“Giờ em buồn ngủ quá rồi. Anh có định đi đâu không?”
Giấc ngủ đến sớm trong khi tôi còn muốn nói với nàng nhiều hơn. Những lọ thuốc ngủ trong tủ kính đều được uống đều đặn. Tôi chưa từng động đến một viên. Nàng thì uống thường xuyên. Một, hai viên vào mỗi tối. Có lúc nào uống vào trưa, hoặc chiều.
Một tuần trước, tôi gặp lại Jin.
Jin. Đấy là đồng nghiệp cũ của tôi. Bọn tôi cùng làm trong một cửa hàng đồ điện tử. Jin làm quản lý, tôi thì kém hơn, chỉ là nhân viên gác cửa. Nhờ Jin, tôi có được nhiều mối làm ăn bên ngoài. Tôi không thiết lắm cái cửa hàng ọp ẹp, không lắp nổi một cái điều hòa này. Jin cũng vậy. Tôi bỏ việc sớm hơn Jin. Trước khi đường ai nấy đi, tôi có uống với Jin một bữa. Một quán rượu nhỏ. Rượu dốc cạn từng chai, thuốc lá bị đốt rụi từng bao. Vì say quá, tôi và Jin đã ngủ gục. Không ai ở quán lay bọn tôi dậy cả. Lúc tôi tỉnh dậy thì Jin đi rồi. Jin trả tiền rượu. Giờ thì Jin quay lại, và tương ngộ với tôi đúng ở cái quán rượu nhỏ ngày xưa.
“Một quý ông lịch lãm.” – Jin nói, rồi vuốt mặt tôi. Rồi Jin sờ tai, vuốt xuống mũi tôi. Khi ngón tay Jin đi xuống miệng thì tôi gạt tay Jin.
Jin không búi tóc phía sau nữa. Mái tóc Jin ngắn đến vai. Nhấp chút vang đỏ, thì giờ tôi đã đủ tỉnh táo để bắt chuyện với Jin. Những gì về tôi Jin còn nhớ, và luôn kể ra. “Kết hôn rồi.” – Tôi nói với Jin. Jin, chỉ cười rồi nhấp rượu.
“Đúng quán này nhỉ. Anh, và em đã uống thật đã đời.”
“Chuyện xưa lắm rồi, giờ thì tôi có vợ rồi.”
“Một quý ông lịch lãm.” – Jin cười – “Phải không nhỉ.”
“Cô ấy rất thích ngủ.” – Tôi nói – “Nếu không có lẽ tôi sẽ đưa cô ấy đến đây.”
“Lâu rồi, em chưa có một giấc ngủ lành. Trằn trọc, luôn là trằn trọc.”
Jin uống sang ly thứ ba. Bẵng nhiều năm, Jin vẫn uống nhiều thế. Tửu lượng tôi kém đi rồi. Nhưng sao nhỉ, lúc này đây, ngồi cùng Jin, tôi lại nghĩ đến nàng. Số thuốc ngủ trong tủ thuốc. Một số là mới mua, còn chưa khui nắp. Số khác thì đựng trong các lọ khác nhau. Một, hai vỉ bóc dở. Tôi chẳng chắc chắn tất cả đều là thuốc ngủ. Trừ ra các lọ thuốc có dán nhãn, hoặc hình dáng giống với thuốc ngủ. Số còn lại không gắn mác. Hoặc mác bị trầy, bị mờ. Hình dáng và màu mỗi viên thuốc cũng khác nhau. Viên xanh, viên đỏ, viên con nhộng. Tôi nghĩ, nàng có khẩu vị về thuốc ngủ.
Phía bên kia, khách khứa nói chuyện rất ồn. Bọn tôi ngồi góc trong cung, chỗ kín đáo nhất nhưng vẫn có vài con mắt bắt gặp thấy. Một tên để ria mép tiến đến, mời Jin rượu.
“Dô một cái, rồi anh có thể xin cô em số điện thoại chứ.”
Cái gã này, chẳng ngại khi thấy tôi ngồi đấy. Tôi nhìn hắn, lừ mắt. Hắn ngoảnh ra sau, búng tay cái tách. Hai tên ngồi bàn ngoài quay ra. Hai cái đầu trọc lốc, trông hầm hè. Rồi bốn tia mắt nhìn sang. Chỉ cần một cái búng tay, hai gã ôn vật sẽ lao vào tôi như hổ đói. Tên ria mép nhìn Jin. Jin không nhìn hắn. Jin nhìn tôi, rồi cười, sau đấy mới quay sang đáp trả ánh nhìn hắn bằng cái nhếch miệng. “Thật chẳng ra dáng đàn ông.” – Jin nói và yêu cầu gã kia cùng Jin uống rượu bằng chai, và chỉ một hơi, duy nhất một hơi. Hai người, hai chai Chivas. Chẳng đợi tiếng bắt đầu, Jin đã ngửa cổ chai, và tu rượu. Sau vài giây, gã kia đã bỏ cuộc, và quỵ xuống mà nôn. Jin vẫn đứng đấy. Những cái tu ừng ực. Mắt Jin đã trợn ngược.
“Jin ơi! Đủ rồi…”
*
Buồng ngủ không bao giờ sáng đèn. Từng có một cái đèn ngủ đóng phía góc tường. Cái đèn chỉ được bật một lần. Rồi tắt vĩnh viễn. Vấn đề chỉ là cái đèn ngủ. Những loại đèn khác tôi vẫn có thể bật. Trong khi nàng lịm sâu vào giấc ngủ, thì tôi nằm bên cạnh, rồi ngắm nàng. Tôi hoàn toàn có thể hôn nàng, hít hương tóc, hoặc nghịch ngợm những ngón tay nàng bằng răng và lưỡi. Mùi cơ thể nàng nhiều lần khiến tôi phát điên. Nàng thở chậm và khẽ, hệt như vây con cá vàng. Nếu đèn ngủ được thắp. Màu vàng nhẹ của đèn sẽ làm nàng đẹp hơn. Như mọi ngày, và đã thành niên biểu, tôi chỉ có thể nhìn nàng bằng ánh trăng hắt vào từ cửa sổ. Hay từ cây đèn bàn nhỏ phía bàn. Thứ màu lành lạnh, trắng đục như tường nhà đá. Tôi ghét phải đốt loại đèn này trong buồng ngủ. Nhưng thà thế, còn hơn để bóng tối giương oai, thổi nơi này vào hũ mực. Từng một lần, mùi cơ thể nàng lan tỏa và khiến tôi mê mẩn. Nụ hôn của tôi có mạnh bạo hơn. Tôi ghì nàng. Lần đấy, miệng tôi ngấu nghiến lên mặt nàng như loài gặm nhấm. Rồi, nàng thức tỉnh. Nàng chẳng xô tôi, cũng không hồi đáp cơn điên cuồng của tôi bằng một nụ hôn hay cái xiết ôm. Nàng chỉ nằm đấy. Phó mặc thân mình cho tôi.
Tôi không thể nhìn vào cặp mắt nàng thêm một giây nào. Nếu mắt nàng vằn lên những tia giận dữ, hay nhíu lên như quở trách thì tôi đã biết mình mắc tội. Mắt nàng. Hoàn toàn thờ ơ. Hệt như chưa có gì xảy ra. Hệt như nàng đang bị bóng đè. Cũng hệt như chưa hề thấy tôi.
“Đã muộn rồi, sao anh không ngủ.” – Nàng nói.
“Có phải…”
Tôi ngắt giọng mình lại. Nàng nói rằng tôi cần phải đi ngủ. Sau đấy nàng không ngủ lại.
“Anh muốn ăn gì không.”
“Anh sẽ ở đây. Bên cạnh em.”
“Em nhớ là tủ lạnh và chạn không còn gì ngoài mỳ ăn liền và đồ hộp. Phố mình không có quán ăn đêm.”
“Chúng ta là một đôi phải không?
Nàng gật và nói rằng tôi và nàng đã kết hôn.
“Đều vì tình yêu!”
“Vâng, tình yêu…”
“Nếu anh khó ngủ, em sẽ đi lấy thuốc ngủ.”
“Đâu cần đến thuốc ngủ. Một lát là anh ngủ thôi.” – Tôi tắt cái đèn bàn. Ngọn sáng cuối cùng trong phòng bị thổi vào đêm. Nàng có lẽ đã ngủ lại. Còn tôi cũng ra khỏi buồng. Bây giờ, tôi lại thấy đói.
Sau giấc ngủ dài. Bởi cơn ngái ngủ, hoặc bởi mấy viên thuốc. Nàng tỉnh giấc.
Tôi ngủ rất ít. Và thường khó ngủ. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc dùng đến thuốc ngủ. Ngay đến những loại an thần nhẹ, tôi cũng không động đến. Những bài Yoga không giúp tôi dễ ngủ. Tôi từng đếm đến hàng nghìn con cừu. Giấc ngủ chưa chấp thuận tôi. Rượu, rồi nhạc nhẹ. Tôi vẫn trằn trọc. Sau một cái cựa mình, thì tôi choàng tỉnh, và biết mình đã ngủ một giấc.
Tôi tránh hỏi nàng về mấy giấc ngủ. Nàng sẽ đưa tôi mấy viên thuốc ngủ chết tiệt.
Tôi nhận được một cuộc gọi từ nhà mình. Số 043…Điện thoại bàn. Dì tôi cầm máy. Tôi chào dì, và dì hỏi thăm tôi. Một câu “Khỏe” và kết thúc màn chào hỏi. Dì nói rằng cần tiền. Bệnh của mẹ tôi. Tiền học mấy đứa em. Chuyện nợ nần của dì. “Con sẽ lo.” – Tôi nói. Rồi dì khóc. Tôi gác máy trước khi dì kịp òa lên, và mếu máo.
“Làm việc đi thôi.” – Tôi nói – “Hãy là một Business siêng năng.”
*
…Con người mất bao nhiêu lâu cho một giấc ngủ. Một ngày, tám tiếng. Nhiều hơn chút, thêm vào vài chục phút khi ngồi xe Bus. Một ngày ngắn, và những giấc ngủ cụt ngủn. Có thể thành giấc không khi mỗi người còn âu lo về ngày hôm sau. Những người lao động luôn có một giấc ngủ nhanh. Giống như cái đồng hồ được cài sẵn. Họ nhắm mắt, rồi chui tọt vào giấc ngủ. Chỉ một tiếng động vừa phải, là họ thức ngay. Nghĩa là họ còn chưa ngủ. Họ còn nghe ngóng. Về sự an toàn của gánh hàng, về một vị khách sẽ giúp họ bán hết hàng. Họ ngủ nhanh, và thức cũng mau. Hàng ngày tôi gặp biết bao người ngủ vội vã như vậy. Nhiều cấp dưới của tôi đã kết thúc nhanh bữa trưa, để tìm một góc để ngả lưng. Ngủ gật trong giờ làm, hoặc xin cáo về sớm, chỉ để ngủ. Tôi luôn tự hỏi, họ mơ thấy gì. Hay cũng như tôi, họ chẳng mơ được gì. Họ li bì khi giấc ngủ gọi họ vào. Bởi họ đổ quá nhiều mồ hôi cho một ngày, nên họ chỉ muốn gục vào gối. Rồi lịm đi như đang chết lâm sàng. Tôi từng nghe, một anh chàng đang ôm hôn người yêu thì thấy cô nàng đã ngủ khò. Tôi không cần đến thuốc ngủ. Nàng thì uống nhiều. Mỗi ngày bốn viên. Có khi hơn. Nàng không nói về giấc mơ của mình. Và tôi, chẳng nghĩ rằng nàng mộng thấy Công Chúa hay Hoàng Tử. Chỉ một giấc mộng về xứ Alice thôi, có lẽ tôi sẽ thấy nụ cười của nàng vào mỗi sáng, khi nàng ngủ dậy…
Tôi có anh trai, vào mười năm trước. Giờ, tôi chỉ nhìn thấy anh mình vào ngày dỗ. Hai nhăm. Đấy là tuổi chết anh tôi. Giờ, tôi ở đúng cái tuổi đấy. Hai mươi nhăm. Một chiếc xe tải phanh không kịp, cái trượt chân từ tầng thượng, cú đốt chí tử của rết hay bò cạp, trở thành bã thịt trong cuộc đồ sát nhầm của xã hội đen…Những thứ đấy chẳng cướp anh tôi đi. Một trăm viên thuốc ngủ. Và gia đình tôi phải đeo khăn trắng. Người ta tìm thấy xác anh ở nhà kho của ký túc xá. Cái nhà kho số 36. Tôi nhớ mãi con số đấy. Hai mắt đóng hẳn, tứ chi duỗi theo thế nằm, gương mặt thật thư thái, thật bình an. Đấy là anh tôi. Một giấc ngủ sâu. Như tôi được nghe lại. Quá sâu. Và không tỉnh nữa…
Hôm nay, Jin gọi cho tôi. Một ngày thứ năm. Tôi chật vật với các dự án và mẫu thiết kế. Hàng chục cuộc điện thoại. Cấp trên, đồng nghiệp, bạn làm ăn, đối tác…Ngày hôm đấy tôi đã uống ba cốc café. Cuộc hẹn với Jin tôi không bỏ. Chỉ là vài tiếng hàn huyên. Jin nói rằng muốn gặp nàng. Tôi đã gọi cho nàng. Sáu cuộc điện thoại. Sáu mối quan tâm bất thành. Vì không nghe thấy tiếng nàng, tôi đã lái xe về. Nàng còn đấy. Còn trong giấc ngủ. Tôi còn hớp được hơi thở của nàng khi áp miệng lên mũi nàng. Một nụ hôn, nhẹ, lúc nàng trở mình, thì tôi đi.
Quán rượu nhỏ không biển. Vẫn là nó. Quán đông, và đâu đâu cũng thấy những khuôn mặt khả ố. Lúc tôi đến, Jin đã ở đó. Tôi không biết sẽ có một tên ria mép nào đến chỗ Jin không. Chỗ ngồi của Jin chưa có thứ gì. Nhưng tôi ngửi được mùi thuốc lá và rượu mạnh.
“Chàng trai lịch lãm đến rồi.” – Jin nói và kéo tôi ngồi bên cạnh. Sau đấy, Jin dựa đầu vào vai tôi, nhưng rồi Jin ngồi thẳng lại.
“Ái chà! Cô nàng của anh sẽ điên lên mất. Em chẳng mong bị nện guốc vào đầu đâu.”
Tôi nói nàng không đến. Ngồi một lúc. Jin hỏi về nàng. Một cô gái đẹp, và mê ngủ. Tôi đã dừng lại khi nhớ rằng những điều này tôi đã kể với Jin trước đấy. Ngồi cạnh tôi, nhìn tôi, và uống cốc nước của tôi. Dường như Jin chẳng bỏ sót lời nào của tôi.
“Chucky(1) không dọa nổi cô ấy, vì cô ấy ngủ rồi.”
“Trong lúc nằm thử giường ở trung tâm mua sắm, nàng ta đã ngủ luôn phải không?”
Tôi gật, rồi Jin cười. Rồi, tôi dừng nói về nàng. Luôn là những giấc ngủ. Nàng đã mê mệt việc ngủ rồi.
“Anh đọc Kawabata bao giờ chưa? Ông ta có một cuốn tiểu thuyết viết về những cô gái ngủ li bì.”
“Rồi họ tỉnh lại chứ.”
“Một trong số họ đã chết.”
Sau đấy, tôi không nói thêm câu nào. Tôi chỉ ngồi. Và, tôi đã ôm lấy Jin. Rất chặt. Dường như Jin đã hôn tôi. Miệng tôi ấm hơn khi môi Jin kề vào. Hơi thở của Jin thấm vào tôi. Những ngón tay của tôi và Jin đan vào nhau, và bện chặt lại.
“Tối nay, em sẽ ngủ say.” – Jin nói, rồi vuốt lên mặt tôi. Jin vuốt rất từ từ, dù thế tôi vẫn thấy rát vì những móng tay quá dài, cứng và sắc. Môi Jin đã gần kề. Tôi tránh nụ hôn đấy.
“Một cô gái nóng bỏng, và một chàng lùn phong lưu. Cuộc đời thật đẹp.” – Lão già ở quầy pha chế rượu nói. Mấy người khách quanh đấy đến, gọi rượu, rồi về bàn. Một tên bồi bàn làm đổ rượu vào người một người. Một quả đấm, rồi thì tên bồi bàn đo đất. Người trong quán đã dìu hắn đi.
“Ông nên về ngủ đi.” – Jin nói với lão bồi bàn.
“Một giấc ngủ sẽ quật ngã tôi ngay. Phải thức mà hưởng thụ chứ.” – Lão pha chế rượu nói.
“Ông hưởng thụ được gì rồi.” – Jin nói, và mở bao thuốc, rút một điếu. Một cái rút tay thật nhanh, lão pha chế đã có bật lửa và mồi lửa cho Jin.
“Phục vụ cho các cô gái.” – Lão nói, và cười. – “Nhìn những đôi tình nhân âu yếm, uống một chút rượu. Cô nghĩ thú không?”
Tôi giơ nắm đấm trước mặt lão pha chế. Lão nói “Một quả đấm, răng rụng, và tao sẽ đau. Tao sẽ đánh trả. Tao sẽ thua hoặc mày thua. Đời vậy mới thú.” – Lão cười. Khách trong quán cũng cười theo.
Tôi kéo Jin ra khỏi quán. Trời tối, tôi phải về.
*
Một cốc sữa nóng vào sáng sớm sẽ giúp nàng tỉnh táo hơn. Tôi pha liền hai cốc. Nàng dậy sớm hơn tôi những mười lăm phút. Mười lăm phút sau, tôi vẫn thấy không nàng. Nàng không đáp lại tiếng gọi của tôi. Hôm qua nàng nói chóng mặt. Rồi nàng nôn. Sau đấy nàng vào nhà tắm. Lúc ra, nàng vẫn chưa thấy khá hơn. Tôi bảo nàng nên đi khám. Nàng lắc, nói rằng muốn ngủ. Nàng nằm, rồi lại dậy. Nàng dùng thuốc ngủ. Một hai viên gì đấy. Nàng ngủ được. Bây giờ, nàng lại đang tìm chúng. Thuốc ngủ của nàng. Hộp y tế nàng lục tung ra. Bông, Oxy già, Panadol, rồi mấy lọ B1 đều bị tháo nắp. “Đâu mất rồi!” – Nàng nói, rồi mở hết ngăn kéo. Giọng nàng hoảng hơn. Lúc tôi lấy đi hai lọ thuốc, thì vẫn còn một lọ nữa. Trong mớ hỗn độn dưới đất, tôi thấy lọ thuốc ngủ đó. Tôi đưa nó cho nàng. Và nàng đã gạt đi. Cú vung tay của nàng rất mạnh, và, lọ thuốc bay mất.
“Thuốc của em đâu!” – Nàng la lên, rồi chợt hụt hơi, và ngã xuống sàn.
Tôi đỡ nàng vào ghế. Sắc mặt nàng rất xấu. Mắt nàng lờ đờ. Mặt nàng xanh, gò má hốc hác như thiếu máu. Những viên thuốc ngủ. Nàng vẫn tìm chúng. Hôm qua nàng đã ngủ cả ngày rồi. “Ngủ thế thôi.” – Tôi nói, thật từ từ – “Em đã quá lạm dụng thuốc rồi.”
“Không đâu. Em cần phải ngủ. Thuốc của em đâu?”
“Em vừa hất chúng đi.”
“Không giống thuốc của em.” – Nàng nói – “Chúng đâu rồi.”
“Ngủ thế chưa đủ sao. Nào, sáng rồi đấy, ăn sáng rồi anh sẽ dẫn em đi đâu đấy.”
Tôi ôm nàng. Hơi thở nàng yếu đi. Khi tôi ôm chặt hơn thì nàng giẫy mạnh, và thoát khỏi vòng tay tôi. Nàng đã ăn sáng, uống sữa theo đúng ý tôi. Và sau đó, nàng lên phòng và nói cần ngủ.
“Nếu em không đi cùng anh thì hãy đến chỗ làm.”
“Em đã bị sa thải.”
Tôi không hỏi thêm, dù nàng đang cố giải thích lý do mình mất đi công việc. Một lúc lâu, tôi không nghe thấy tiếng nàng. Chỉ còn lại tôi dưới này. Đã trễ giờ làm. Cốc sữa của tôi còn đấy. Nó đã nguội hẳn.
Rồi thì, hàng chục cú điện thoại gọi đến tôi. Nhiều cuộc hẹn của khách hàng, đối tác. Dì tôi một lần nữa gọi và kể với tôi về mấy tên du côn đòi nợ thuê. Mấy món đồ đạc bị phá, bị khuân đi, thương tích này nọ…Lúc này đây, tôi chỉ muốn ngủ một giấc.
Lúc sau, nàng xuống nhà. Nàng đã nghiêm chỉnh áo xống. Không trang điểm, chẳng đeo nữ trang. Nàng mang theo ví, rồi nói sẽ ra ngoài. Nàng sẽ mua thêm thuốc ngủ. Như nàng nói, nàng chưa ngủ lại được. Tôi gọi nàng vài câu. Nàng cười đáp, rồi nói “Em sẽ về sớm. Em sẽ dọn nhà, giặt quần áo của anh và nấu cơm tối.” Thế rồi nàng đi. Đến hiệu thuốc của nàng. Tôi chẳng gọi thêm tiếng nào. Dù, chỉ để nàng quay lại, nhìn tôi. Nàng vẫn rạng rỡ. Dù mặt nàng có xuất hiện những sẹo lồi, hay tàn nhang thì nàng vẫn là thần vệ nữ của tôi. Chỉ là da mặt nàng thô rám quá, hai mắt trũng sâu, và khi nói thì luôn khó thở. Nụ cười của nàng như đóa hoa bị rút hết mật, bị tống vào cái tủ kính màu đen.
Điện thoại reo. Ôi, giờ tôi muốn đập béng nó đi.
*
…Mười một. Tôi nhẩm không sai. Mười một. Số mười một. Mười một công việc. Và mười một lần sa thải. Nàng chưa ổn định vào một nơi nào cả. Nhân viên bán hàng, phó nháy, trực điện thoại, lễ tân…Chẳng bao giờ nàng trụ quá một, hai tháng. Tôi từng giới thiệu vào nàng làm cùng cơ quan tôi. Một công ty về quảng cáo thương mại. Nhân viên in ấn, photo tài liệu, đánh máy hoặc trực thang máy. Một vài tuần, và chính tôi phải gật gù với quyết định sa thải nàng. Nàng đã ngủ trong giờ làm việc. Giấy tờ bị cháy khét vì kẹp dưới máy photo quá lâu. Bê trễ việc gõ lại văn bản bằng một giấc ngủ chừng mười lăm phút. Mười lăm phút, chỉ thế, và, công việc hỏng hết. Tôi không biết nàng có mang theo thuốc ngủ khi đi làm không. Có thể có hoặc không. Nàng không kể, và tôi cũng chẳng gặn hỏi. Một lần, tôi đã phải bồi thường cho cửa hàng bánh Nhật Bản, nơi nàng làm hàng chục triệu. Một giấc ngủ gật giữa giờ làm. Và chính nó, đã kéo sương phủ lên nàng. Rồi, cũng chính nó chỉ lối để kẻ lạ hành ác. Tên đấy cuỗm đi hết tiền bạc ở quầy thu ngân. Điện thoại, cái Ipad của nàng, rồi nhiều ổ bánh đắt tiền cũng bị lấy đi. Một nhân viên khác đã gọi nàng dậy. Tôi còn nhớ. Nàng chẳng hoảng gì. Những tiếng thút thít, tiếng gào rống, rồi hô hoán không làm nàng tỉnh ngủ. Tôi cược, nếu không một ai cuống cuồng như vậy, nàng sẽ lại ngủ. Mọi việc suôn sẻ khi tôi bồi thường mọi thiệt hại. Nàng bị sa thải. Tôi nghe người trong cửa hàng dặn phải trông chừng nàng tốt. Một nàng công chúa mơ màng. Ôi, nếu nàng say sưa vào một giấc ngủ kéo dài nhiều năm thì sẽ tốt hơn. Không con rồng nào canh chừng. Nhưng tôi sẽ đến, và đánh thức nàng bằng một cái hôn…
Jin chưa gặp nàng. Tôi cũng chẳng mong có cuộc gặp mặt giữa hai người. Ở quán rượu, hoặc ở bất cứ đâu không cấm uống rượu, thì tôi và Jin đều uống. Những khi nàng từ chối, hoặc làm tôi điên đầu bằng cách nằm câm lặng trên ra giường như một cái xác, thì tôi tìm đến Jin. Thật tồi nếu nghĩ Jin là sự giải khát tạm thời. “Anh có thể đến chỗ em, lúc nào cũng được…”- Jin nói với tôi. Và tôi. Đến chỗ Jin không phải vì câu nói đó. Chúng tôi đã có những cuộc say xưa cùng nhau. Nỗi thèm muốn nhục thể. Không hẳn. Hai chúng tôi chỉ đang điên loạn trong cơn đói đã kéo dài nhiều thập kỷ. Đón nhận cơ thể nhau bằng những cái cắn xé, những cái hôn quá cuồng bạo đến bật máu, những cú đè nghiến, ghìm chặt. Sau đấy, Jin ôm lấy tôi mà ngủ. Còn tôi thức.
“Giờ này cô ấy có ngủ không?” – Tôi nói.
“Cho đến lúc này, trong đầu anh vẫn còn cô ấy.” – Jin đáp. Mặt Jin vẫn áp vào ngực tôi.
“Cô ấy chưa bao giờ gục vào ngực tôi cả. Đêm tân hôn. À, Jin có muốn nghe nữa không.” – Một phút trôi đi. Tôi nói tiếp “Cô ấy rất đẹp. Khách khứa đều chúc phúc cho bọn tôi. Một đám cưới tuyệt nhất với người con gái tôi yêu. Đêm đấy, tôi đã có được cô ấy. Nhưng Jin này, liệu cô ấy có đón được cơn si mê của tôi không. Trong khi ngủ ấy.”
“Vậy là, cô ấy đã uống sẵn thuốc ngủ, rồi để mặc mọi thứ cho anh?” – Jin lên tiếng.
Tôi chỉ gật đầu. Không rõ Jin có dõi theo cái gật đầu của tôi không. Một phút nữa lại trôi mất. Jin ngồi dậy, rồi cứ trần truồng thế ngồi ở bàn. Chai vang đỏ được rót ra cốc. Jin hớp một ngụm nhỏ.
“Em chưa bao giờ ngủ nhiều được như cô vợ anh.” – Jin nói.
“Tôi cũng chẳng ngủ được nhiều.”
“Ở bên anh thì em ngủ được. Một chốc, rồi em sẽ dậy. Anh còn nhớ bữa uống chia tay ở quán rượu nọ không. Anh đã say mà gục, còn em thì tỉnh lắm.”
“Tôi nhớ Jin đã gục trước mà.”
“Anh đã nôn phải không. Rồi còn khóc rất to.”
“Jin đã ngủ trước, và tôi không khóc, không nói gì cả!”
“Được rồi, anh không khóc. Em đã ngủ, và dậy trước anh.”
Jin uống tiếp. Tôi nói thêm về nàng. Chẳng biết Jin nghe không, nhưng tôi vẫn nói. Tôi kể về mấy kỷ niệm giữa tôi và nàng. Ngày tôi mua tặng nàng sợi dây chuyền đính hồng ngọc. Một lâu đài cát thật lớn do tôi và nàng cùng đắp, nhưng thật không may, thủy triều đã táp sập nó. Chuyến du lịch Tuần Châu. Tôi và nàng thuê riêng một du thuyền. Sóng lớn. Gió cũng lớn. Tôi cùng nàng đứng ở mũi thuyền. Một chốc, tôi tự dừng câu chuyện của mình lại. Jin vẫn ở đó. Vừa rót rượu uống, vừa nhìn tôi. Mắt Jin trầm ngâm, nhưng cũng mang vẻ mê đắm. Nếu nhìn vào mắt Jin, tôi sẽ chỉ thấy hình mình. Và sao vậy nhỉ, tôi chẳng muốn tiếp tục chuyện về nàng nữa. Jin vẫn im lặng. Rồi Jin uống rượu. Nếu còn thuốc lá, chắc Jin cũng châm một điếu. Tôi ôm đầu. Nghĩ ngợi một hồi, tôi lẩm bẩm cái gì đấy. Hết lẩm bẩm, tôi lại nghĩ về điều mình vừa lầm bầm ở miệng. Jin ho. Dường như là bị sặc rượu vì uống ngụm lớn, hoặc do trời trở lạnh trong khi Jin vẫn lõa lồ. Xuống giường, tôi mang theo tấm chăn mỏng và khoác cho Jin. Thấy như chưa đủ, tôi ôm Jin. Từ đằng sau, và bằng cả hai tay.
“Vòng ôm này ấm thật. Phải nó dành cho em không?”– Jin nói, và đôi tay tôi nới lỏng.
Điện thoại đổ chuông. Tiếng réo từ túi cái quần kaki treo đầu giường. Nhạc vang ngắn, rồi tắt. Một tin nhắn, một cuộc gọi vội, hay đơn giản chỉ là nháy máy. “Anh phải đi!” – Tôi nói, rồi mặc lại quần áo. Jin nhìn tôi, rồi lại ho. Tôi nhận ra Jin đang giả vờ. Lúc ra cửa, tôi thấy Jin rời khỏi bàn. Jin đến cái tủ nhỏ trong phòng. Mở một ngăn kéo.
Chưa lúc nào tôi thấy nhà mình bừa bộn thế. Các tủ bàn bị kéo dài tới mức đổ sập xuống, đè lên nhau. Sách báo bừa bộn dưới sàn. Cái đèn phòng khách vẫn bật. Bát đĩa, rồi hai cốc sữa trên bàn phòng khách còn đấy. Hiện trạng hệt như một ngày trước, lúc tôi ở đây. Bây giờ khác hơn, vì có bụi bẩn, đáy cốc có kiến, và có mùi lên men. Tôi gọi nàng từ tầng dưới. Nàng không đáp. Tiếng gọi thứ hai vừa dồn lên cổ thì tụt đâu mất. Đã chiều muộn nhưng ngoài trời vẫn sáng. Nắng còn rọi. Mặt trời đã nguội lửa. Khi khí nóng kiệt quệ, mặt trời sẽ trôi về đằng Tây. Tôi bật sẵn đèn. Chỉ đèn cầu thang. Rồi tôi lên phòng ngủ. Trước đấy, tôi thấy những lọ thuốc nằm lăn lóc dưới sàn. Thuốc cảm, hoặc thuốc hạ sốt. Đi mấy bước, tôi lại trở xuống. Tôi đến chỗ Jin.
*
“Jin đang làm gì!” – Mỗi lần gặp Jin tôi lại hỏi thế. Ngày gặp lại Jin tôi cũng đã hỏi thế. Tôi không nhớ Jin trả lời thế nào. Cũng có thể Jin chẳng nói gì, còn nếu có, thì tôi quên rồi. Jin không có nhà riêng. Chỗ Jin ở chỉ là một nhà thuê, giá bèo bọt dù nội thất cũng tiện nghi và ở mặt đường. Mấy bộ quần áo Jin mặc đều khá bắt mắt. Có váy, có áo xẻ, có bộ cánh kiểu Pháp. Chỉ là hàng chợ, vì chất vải quá thô và xuềnh xoàng. Chắc Jin mua nó ở chợ đen hoặc một cửa hàng thanh lý. Chẳng thấy Jin nhắc về công việc hiện giờ. Tôi đoán Jin đang thất nghiệp.
Tôi từng nghe Jin kể về nhiều mối tình. Năm hoặc sáu gì đấy. Thời tôi làm cùng Jin, Jin đã có một chàng trai bên mình. Mối tình đấy chẳng kéo dài lâu. Tôi vẫn luôn hỏi Jin rằng “Thấy sao sau mỗi lần kết thúc một mối tình.” – “Uống rượu cả chai! Chẳng đau đớn gì đâu, chỉ là một bữa rượu tống tiễn.” Tôi vẫn nghĩ Jin đùa, nhưng không. Jin nói thật.
Quán rượu này tôi chẳng muốn quay lại. Thế nhưng Jin đã có yêu cầu. Rằng phải đúng quán này. Đúng chỗ sát tường, nơi nhìn được ra quầy rượu. Ngày hôm nay quán không đông lắm. Cái lão pha chế rượu luôn cố bắt chuyện với Jin. Cái nụ cười trồi hết răng làm tôi thấy ớn. Miệng gã luôn bô bô những điều khiếm nhã. Nhưng rồi gã chẳng làm gì hại đến Jin. “Rượu nào cũng được.” – Tôi nói với Jin. Rồi Jin chọn một chai rượu không ghi mác. Lúc uống tôi mới biết chỉ là Uýtki, nhưng có pha tạp.
“Uống say sẽ dễ ngủ hơn đấy.” – Jin nói.
“Mong là như thế.” – Thực ra tôi chẳng mong thế dù lúc này cơ thể tôi đã bải hoải vì thiếu ngủ.
Jin định nói gì đấy. Tôi không định hỏi. Chúng tôi im lặng. Chỉ chai rượu là vơi đi. Lúc trước tôi có nhận được mấy tin nhắn từ chỗ làm. Một cộng sự đã quở trách việc tôi bỏ làm. Hôm đấy, tôi được phân đi gặp một đối tác người Nhật. Dù đã có người thay tôi nhưng vì không rành việc, nên đã không kí được hợp đồng. Tôi cần phải kiểm điểm. Trong danh bạ, tôi lục thấy những cuộc gọi của dì. Nàng không gọi, nhưng đã nhắn tin. Tôi không nhớ tin nhắn đến lúc nào, chỉ biết nó có trong máy. “Em đã mua được thuốc…” – Tôi chỉ nhớ đến thế. Đúng hơn, tôi chỉ đọc đến đấy. Một cái dốc chén. Rượu chui cả vào họng. Vì uống gấp, tôi gần như sặc, nhưng rồi cũng nuốt hết vào bụng. Jin nhìn tôi. Cái tia mắt này, tôi không lý giải nổi. Chẳng buồn, chẳng vui, không trầm tư, không hờn dỗi, cũng chẳng thể nói là đang phân tâm vào một ngoại cảnh trong đầu. Tôi muốn hỏi Jin quá. Nhưng thôi. Lúc này bọn tôi đang uống rượu kia mà. Xung quanh nhiều cặp mắt có ngó vào, hoặc không. Tên ria mép có đến không, và có thấy Jin không? Rồi lão pha chế rượu nữa? Nếu một cái ôm chặt, có thể làm ấm hơn thì tôi và Jin sẽ tìm đến nhau. Lúc Jin ngáp, tôi la lớn. Jin hỏi, và tôi lắc. Rượu rót tiếp.
“Lúc anh gọi, em còn chưa ngủ đâu.” – Jin nói. Tôi định nói gì đấy, nhưng lại thôi. Jin nói tiếp phần của tôi. Điều Jin nói làm tôi chú tâm ngay. “Anh sợ đúng không? Khi gọi đến ba tiếng mà em chưa dậy. Em chẳng ngủ. Dù lúc dựa vào anh, em muốn ngủ thật.”
“Sợ gì chứ. Chỉ là…”
“Chỉ là anh sợ thôi.”
Một lúc, Jin nói “Em sẽ chẳng giống cô vợ ngủ của anh đâu. Em đâu có nghiền Benzo.”
“Gì cơ?” – Tôi hỏi. Jin nói “Lọ thuốc ngủ mà anh đưa em. Anh lấy của vợ phải không? Thuốc trong đấy là Benzo.” Jin chợt dừng, rồi chợt tiếp tục “Anh yêu vợ mình phải không. Dù anh không gọi tên, nhưng em biết anh đang gọi cô ta. Em nhớ mãi vẻ mừng rỡ của anh khi em tỉnh dậy. À không, khi vợ anh tỉnh dậy. Chỉ là…” – Tôi chỉ nghe đến thế. Jin gục xuống. Đầu Jin gối lên khuỷu tay. Tóc Jin xõa xuống. Lúc này. Cũng như lúc nhiều năm trước.
Jin ngủ, còn tôi thức.
Tôi không định đánh thức Jin. Chai rượu hết rồi. Tôi không gọi thêm. Lúc bồi bàn nhìn tôi, tôi lắc ra hiệu đã uống đủ. Những người phía bên kia đang gọi rượu. Một số tay bợm lăn lóc dưới sàn, dựa vào tường mà ngáy. Tôi dựa tường, rồi lại nhỏm dậy. “Cũng chỉ là cô ấy thôi.” – Tôi nói – “Jin ơi!” – Tôi gọi, và tôi khóc. Chẳng biết mắt tôi có tuôn lệ không nhưng tôi đang khóc. “Nàng ngủ suốt, kể từ hôm đấy.” – Tôi lại nói – “Jin ơi! Tôi tìm ra nàng trong căn phòng đủ loại đèn. Một cái phòng lộn xộn, cứ như nhà kho. Đèn nhiều quá, Jin ơi. Mấy mảnh áo, khuya áo. Chúng nhàu nhĩ, tứ tung khắp nơi. Cái thắt lưng, rồi quần. Tôi thấy máu nữa. Jin biết không? Tôi hoảng lắm. Rồi tôi thấy nàng ở trong xó. Nàng nằm đấy. Không thấy nàng thở, một nhịp run cũng không. Mắt nàng mở trừng, hết cỡ, như cá chết. Người nàng lạnh lắm. Rồi nàng nói với tôi là vuốt mắt cho nàng. Tôi làm theo, nhưng mắt nàng vẫn bật mở như lò xo. Tôi đã che mắt nàng lại. VẪN THẤY nàng nói thế Jin ạ. Ôi, từ đấy nàng thành Hồng Hoa công chúa(3)…”
Rồi sau đấy, dường như tôi đã ngủ gục. Tôi nói quá nhiều hoặc khóc quá nhiều. Có thể lắm, nếu tôi đã gọi thêm một chai và nốc một mình.
*
Khi tỉnh giấc, tôi biết mình đã ngủ. Vẫn quán rượu, vẫn chỗ này, vẫn cái bàn còn vỏ chai, và cốc. Không thấy Jin đâu. Tôi nhìn quanh, vẫn không thấy Jin. Tôi cố nhớ nhưng không được. Lúc ra quầy thì người ta bảo Jin đã thanh toán rồi. Thế nghĩa là Jin đã đi rồi.
“Cô ấy thương mày lắm đấy.” – Lão pha chế vỗ vai, rồi bấu ngón tay, hồ như muốn tôi đứng lại.
“Sao biết!” – Tôi nói.
“Lúc mày ngủ, mày rên rỉ ghê lắm. Cô ấy ôm mày, xoa đầu, lưng, hôn trán rồi hát ru. Cứ như mẹ hiền.”
“Thế sao.”
“Cô ấy bảo là cô ấy tỉnh ngủ rồi. Còn nhắn lại với tao bảo mày dậy đi.”
“Mày này! Tao tưởng tao thức, hóa ra tao lại ngủ. Thế theo mày tao thức chưa, hay còn ngủ?” – Tôi không đáp lời lão. Vì tôi đi rồi. Còn lão, vẫn lèm bèm đằng sau. Đúng thật lão ta già quá rồi.
*
Jin.
Jin thức, còn tôi ngủ?
*
Một hiệu thuốc còn mở. Tôi vào và hỏi về Benzo. Bà dược sỹ nheo nheo mắt rồi hỏi về đơn thuốc. Tôi nói không có. Rồi bà ta cũng bảo không có. “Thế còn Benzo?” – Tôi hỏi lại. “Không có đơn kê tôi không bán. Mà cai đi, rồi bỏ luôn đi. Chẳng tốt lành đâu?”
Tôi đi vài bước, nhìn quanh và cố nhớ đường về nhà.

TRU SA

(1) Chucky: Tên của con búp bê giết người trong dòng phim Ma Búp Bê.
(2) Hồng Hoa công chúa : Tên gọi khác của “công chúa ngủ trong rừng” trong truyện cổ Grim

LẠI SINH NHẬT BUỒN!

khuatdau

Buồn, vì một người đã đi qua 3 đại dương và đặt chân lên 30 nước, một người có đến những 173 tên, bí danh, bút danh, đã chết đến những bốn mươi sáu năm rồi mà vẫn chưa được về với đất. Trong di chúc, ghi rõ xác phải đốt đi tức là hỏa táng, và tro xương được chôn trên một ngọn đồi ở vùng Tam Đảo, Ba Vì…
Thế nhưng, nhân danh Đảng, người ta vẫn cứ đem xác ra ướp như Lênin để rồi sáng đưa lên khỏi hầm, chiều đưa xuống, cứ như mọc rồi lặn, bảo rằng như thế là thể hiện lòng biết ơn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.*
Lại càng buồn hơn vì người chết chỉ muốn xây một cái nhà nhỏ nhưng chắc chắn, lại trồng nhiều cây, để ai đến thăm viếng cũng có chỗ ngồi nghỉ giữa thiên nhiên hùng vĩ, thì người ta lại bỏ công của ra xây một hang đá to còn hơn hang Pắc Pó giữa vườn hoa Ba Đình, phải điều động cả một trung đoàn để bảo vệ.**
Có biết đâu rằng, không làm theo di chúc của người chết là mang tội bất kính.
Và, cũng rất bất kính khi gọi một ông cụ cao tuổi bằng Bác, cho dù chữ Bác được viết hoa. Giả dụ rằng ông cụ hãy còn sống, trong lần sinh nhật thứ 125 này, các bé mẫu giáo gọi một người đáng tuổi cụ kỵ của mình bằng bác, thì quả là thiếu giáo dục, nếu không muốn nói là hỗn.
Đã vậy, người ta còn dịch ra tiếng Anh, gọi là uncle Ho. Mà uncle cũng được dịch là chú. Lại liên tưởng đến chú Sam, chú Chệch! Nếu bảo rằng hai tiếng Bác Hồ đã trở thành thiêng liêng, thì dù là tiếng nước nào, vẫn phải viết đúng viết đủ là Bác Hồ.
Một người đã đi vào lịch sử, thì hãy gọi đúng chức danh, không thể vì yêu mà gọi thế này, hay vì ghét mà gọi thế nọ.
Người ấy khi mất, như Đảng nói, đã để lại muôn vàn thương tiếc cho toàn dân, nhưng theo những tiết lộ không có gì động trời (vì ai cũng biết), thì vẫn có những người đàn bà chẳng những không thương tiếc mà còn oán hận. Những người đã từng là vợ như bà Tăng Tuyết Minh. Những người đã từng là người tình như cô gái họ Nông. Đảng khoác lên mình ông cụ chiếc khăn liệm, ngay cả khi cụ còn sống, để mạ vàng hai chữ hy sinh vì nước vì dân.
Nói một cách hình tượng thì ông cụ đã cưới nước Việt Nam và sản sinh ra đứa con thừa tự duy nhất là đảng Cọng Sản. Tiếc rằng đó là đứa con ngỗ nghịch bất hiếu, còn hơn thế, một phá gia chi tử. Đảng suốt ngày và đêm bảo noi gương Bác, nhưng một chuyện nhỏ như ông cụ ưa trồng cây ở những nơi chưa có cây, thì người ta lại chặt hàng ngàn cây cổ thụ để lấy chỗ trồng cây mới. Noi gương cha như thế thì khác gì chửi cha!
Sống không được gần vợ gần con, ngay cả về thăm quê cũ cũng phải được Đảng ra nghị quyết, thì sống như thế không khác gì bị bỏ tù. Và chết, lại còn cay đắng hơn khi bị canh giữ ngày đêm trong cái ngục được Tố Hữu gọi là bài thơ bằng đá ấy.
Suy cho cùng, một đời người như thế, phải nói là quá bất hạnh. Không thể nào mở miệng hát happy birthday to you được. Chỉ có thể kêu một tiếng sad birthday mà thôi.

KHUẤT ĐẨU

15/5/2015

* Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

**Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.
(Trích di chúc đầu tiên 15/5/1965)

ĐÀ LẠT…

vudinhhuy

theo bước Chúa
anh lên đồi
dấu xưa nằng nặng
rã rời đôi vai

cafe quán vắng
dốc dài
lắng mưa tí tách
thiên tài tủi thân

đà lạt
vắng bóng thánh thần
vì em
và những nợ nần ngày xưa

đà lạt
không thiếu không thừa
vì anh thiêm thiếp
rất vừa
chiêm bao.

VŨ ĐÌNH HUY

EM NÓI…THUỞ XƯA

nguyennhumay

1.
Anh không vội tin Em
lời Em như sóng biển

mới đó mà tan biến
để quay về đại dương …

nhưng rồi vì yêu thương
anh vẫn chờ Em nói …

2.
Thủa xưa Em là gió
thổi nắng vào tay anh
làm phai nét mực xanh
tuổi học trò giây trắng

bây giờ Em ra nắng
anh sợ gió đẩy đưa
cho mắt Em tình cờ
quên nhìn anh đứng đợi

những gì ta muốn nói
gió giữ lại làm tin
để anh mãi ngóng Em
tà-áo-xanh bạc nắng …

Nguyễn Như Mây

NHỮNG ĐÊM TRẮNG

tonnuthudung

Thất nghiệp. Ở nhà chơi một tháng tôi thấy nhục, bèn lân la tìm chỗ đi làm. Mấy tờ báo, truyền thông, truyền hình Free quen rồi bây giờ đòi tiền ( dù để cứu đói) cũng thấy khó coi. Tôi tự trách mình ngu , ai biểu hồi đó trong các thông báo công khai ( và bí mật)đã viết ( và nói rõ ) :” Nếu muốn nhận nhuận bút xin báo trước với Ban Biên Tập “. ( thông báo vậy có khác nào ngầm nói :” Nếu ho he , hó hé đòi nhuận bút , bài của bạn sẽ đi thẳng vào sọt rác !”) Bởi vậy , tôi (có thể hiểu lầm ) đã không báo trước nên những đứa con tinh thần( xinh đẹp ) của tôi  lần lượt xuất hiện nơi này nơi kia mà không ai chịu có động thái nào hoặc nói gì với tác giả…một tiếng cảm ơn cũng không luôn ! Trừ một tờ…tôi không muốn nêu tên vì nó không được…nhiều người đọc lắm! “ Em cho chị gởi chút xíu cho vui !” Cái …chút xíu đó đủ để tôi uống cà phê Starbucks mười ngày… cho đến cái ngày chị tuyên bố đóng cửa tờ báo… Có lẽ vì chị cứ …chút xíu cho vui với người này người nọ theo  lẽ công bằng !

Mấy cái bằng cấp bèo nhèo  của tôi gởi đi đâu cũng bặt vô âm tín dù tôi đã khá kiêu căng photo thêm mấy bằng khen , giấy chứng nhận…của thị trưởng thành phố , dân biểu tiểu bang, nghị viên địa hạt v.v…công nhận tôi là một công dân gương mẫu, từng nhận các giải thưởng này kia khác nọ…ký tên đóng dấu (như giải nhất chạy marathon dành cho người …khuyết tật !)Những đơn xin việc cứ như Kinh Kha qua sông Dịch Thủy ,cứ như Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản không bằng! (tạm dịch: ra đi biền biệt không về !)

Ông xã tôi, phải công nhận , là một người luôn có những sáng kiến tuyệt hảo cho tôi. Nếu có một người nào đó tôi biết ơn nhất trên cõi đời này ( sau Ba Mẹ) thì đó chính là ổng. Luôn luôn ổng đứng xa xa nhìn và dẫn tôi về đường ngay lối thẳng. Chắc nhiều khi ổng cũng bực mình tức giận vì tôi  nhưng không muốn nói ra, và lúc nào cũng chỉ mỉm cười độ lượng. Ông bà mình nói không sai “ Bút sa thì gà chết “ hay hình tượng hơn , quyết liệt hơn là : “ Một lời nói, một đọi máu “. Hồi tôi còn nhỏ dại , lơ ngơ đi dạy xa nhà…ổng dỗ ngon dỗ ngọt :” Em hãy tựa vào anh, tin tưởng anh, và coi anh như …ba em vậy !”. Hồi… còn nhỏ đó, tôi có cỡ một chục người mà tôi cứ ngỡ ( hoặc tưởng bở ) là yêu…nhưng không hề có ai nói câu nào làm tôi xiêu lòng cái rụp như vậy…và lấy nhau , để suốt đời ổng luôn coi tôi như …con ổng !

Bởi , tôi nói ( ủa quên , ông bà mình nói chớ) : Phải uốn lưỡi  BẢY lần trước khi muốn tuyên bố điều gì ! Câu nói ( có thể là trót lỡ lời) mang đầy tính …anh hùng ca của ổng được tôi mở nhật ký ghi ngay tức khắc.
Thứ sáu ngày 13 tháng 3 năm 1983 anh có nói…( này nọ kia khác)
Để bây giờ , mỗi lần ổng muốn hất tôi ra, tôi chỉ cần (giả bộ) rơi vài giọt nước mắt rồi thút tha thút thít : hồi đó , thứ sáu , ngày 13 , tháng 3… anh đã nói… Vậylà ổng giơ tay đầu hàng bởi mang quá nặng chất… sĩ phu Bắc Hà trong máu…quân tử nhất ngôn …chỉ dám than thầm trách trộm : cái ngày thứ sáu , mười ba chết tiệt ! ( ấy là tôi suy diễn vậy !)

Không ai hiểu tánh tôi bằng ổng…tôi càn quấy ngang ngược gần bằng con cua…nếu đường đường chính chính bắt tôi làm điều gì đó, tôi lập tức lắc đầu quầy quậy dù sau đó sẽ làm …len lén với tâm thức : ta MUỐN chứ không hề là ta BỊ ! Ổngbuộc phải chơi trò ném đá giấu tay, vòng vo tam quốc… chí :
-Không cần đi làm đâu em , ở nhà anh nuôi, em không xài phấn sáp nước hoa, không quần áo thời trang, không đua đòi kim cương vàng bạc. Nuôi em đâu tốn kém gì mấy ?
-Nghĩ sao mà dám biểu em ở nhà nấu cơm , rửa chén , quét nhà , giặt ủi ?
-Em không cần làm những việc đó nếu không thích. Sẽ có người thấy chướng tai gai mắt rồi …làm cho em !
( Nói là nói vậy thôi, chứ thật ra nếu ở nhà chơi không hay đi làm 2 jobs tối tăm mặt mũi tôi vẫn chu toàn việc nhà còn hơn một Osin chính thống !)
– Nghĩ sao mà để anh nuôi, Anh nuôi hoài em thấy …nhục!
– Trời ơi là trời , sao em không nói sớm câu này cho anh đỡ khổ ?
-Anh không nhớ đó thôi…câu này em lặp đi lặp lại cả chục lần mỗi khi em thất nghiệp
( mà em thì thất nghiệp hầu như thường xuyên…tôi nghĩ thêm trong đầu chớ không nói )
– Em có muốn lấy tờ báo của chị Hannah không ? Hôm trước chị nói em làm được đó !
-Không đâu anh ơi,nếu còn kiếm ăn được chỉ đã không bỏ nó.Mỗi lần phát hành nội cái chuyện đem giao cho khách hàng là em ớn lạnh.Rồi lại phải đi kiếm quảng cáo , có đứa đăng quảng cáo cả năm mà chưa muốn đưa tiền , lại có đứa đưa tiền như trả nợ quỷ thần kèm lời chì chiết . Mấy lần em ném lại vô mặt nó bị chị Hannah la quá chừng.
– Hèn chi em thất nghiệp hoài cũng phải. Cái kiểu em hay NÉM VÔ MẶT những đứa em không ưa !!!Nhưng với  TÀI NĂNG THIÊN PHÚ của em , biết đâu em làm tờ báo đó sống lại một cách vẻ vang !
Câu nói đượm đầy mùi xách mé xỏ xiên , nhưng đôi khi tôi thử sức chịu đựng của mình nên vẫn rất nhỏ nhẹ hiền lành :
– Đừng đánh giá em cao quá vậy !
– Không , anh nhận xét khách quan khi nghe em tuyên bố đầy hãnh diện trên Face Book : Trang T2 của em  có nhiều triệu độc giả , khán giả , thính giả lẫn… hành giả quan tâm , yêu mến!
Lạy Chúa, tôi chết đứng trước “ nhận xét khách quan “này . Chắc chắn ổng len lén chơi Face Book nên mới đọc được những lời cảm tạ độc giả yêu quý và cập nhật lượng người đọc hàng tuần của tôi.Nhanh như chớp , ý nghĩ tôi chạy lướt qua  như nhìn trên camera chống trộm mờ mờ nhân ảnh của cái máy dỏm made in China.Tôi hơi choáng váng một chút và tự kiểm điểm kiểm thảo …Không biết mình có làm cái gì quá đà quá đỗi , có đong đưa điệu đàng gì với ai trên Face Book không nữa !!!
Nhưng hơn tất cả , tôi không biết ổng soi mình từ bao giờ ? Nick của ổng là gì nhỉ? Mỗi khi add friend ai , tôi đều tìm hiểu cặn kẽ ngọn nguồn. còn độ 800 người tôi chưa có thời gian và không cần cảm thấy thêm bạn bớt thù nên chưa add. Nghĩ nhanh lên tôi ơi !!! Cuối cùng tôi có danh sách 2 nhân vật đáng để nghi ngờ :
1. Mohamed Ali : Anh chàng này rất đáng ngờ khi gởi tặng tôi một chục bài thơ bằng tiếng Ả Rập mà Dũng Kqđ (một nhà thơ nổi tiếng khắp thế giới với kiến thức uyên thâm hiếm có trên đời) đã dịch là :
Trẫm , Mohamed Ali
Thấy cô Tôn Nữ , tức thì… yêu luôn!
!!”
Trên đời này chỉ có ổng là biết hơn ai hết tôi yêu cô bé Tiểu Siêu, Thánh sứ Bái Hỏa Giáo đến chừng nào, bởi những lúc buồn tôi cứ đọc nghêu ngao:
Lai như lưu thủy hề, thệ như phong
Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung…

( dịch đại :
Chợt đến như dòng nước chảy
Rồi tàn như gió thoảng mau
Không biết từ đâu em đến
Rồi em sẽ về phương nao
…)
Và cảm thán : Tình yêu sao buồn đến vậy !
Từ đó suy ra , Nick name của ổng  chắc là Mohamed Ali. Tôi gọi nhỏ :
-Mohamed.
Ổng không giật mình, cũng không có phản ứng gì thái quá, chỉ thản nhiên :
-Đang nói chuyện , tự nhiên thì thào Mohamed. Em có bị gì không đó ?
Vậy là không phải rồi.
Ai ?
Lạy Chúa, tôi sực nhớ ra một cái nick name khác :
2.Bin Laden: ( Tôi không add nick này vì sặc mùi khủng bố , tôi ghét tội ác , tôi căm thù những kẻ  nhân danh lý tưởng cao cả, thánh chiến hay đấng Ala vĩ đại gì đi nữa để giết người ! Giết, làm bị thương hay làm tổn thương bất cứ sinh linh nào cũng đều man rợ !)
Tôi cũng sực nhớ , trước khi Bin Laden chết , chính phủ Hoa Kỳ hứa sẽ trao 5 triệu tiền thưởng cho người bắt được Bin Laden , bạn bè Nhatrang cứ xúi giục tôi đem nộp ổng lãnh thưởng vì ổng giống Bin Laden quá cỡ !
Tôi khẳng định :
-Nick của anh là Bin Laden !
Ổng cười :
-Em là người cuối cùng biết điều đó , vì như lệ thường , em chẳng quan tâm tới ai !
– Em không đời nào add friend với ai dính dáng đến bọn khủng bố .Vì sao anh đọc được Face Book của em ?
– Nhóc ngu ngốc , anh soi em từ Face BooK Phù Du , Lê Vũ , Dũng Nobita, Quang Nam Nguyễn… những bạn yêu quý của em và của anh.
Tôi thấy mình đúng là ngu ngốc thật, không hề đề cao cảnh giác gì cả…đôi lúc lại còn làm ra vẻ độc thân , vui tính , xấu đẹp tùy người đối diện nữa mới ghê !
Tôi rụt rè thăm dò :
-Em hỏi thật , anh thấy Face Book em ra sao ?
Tôi hỏi vì biết ổng là người trung thực , không bao giờ biết sợ khi nói ra sự thật mất lòng.
– Face Book em rất tuyệt , hình ảnh rõ ràng minh bạch, khoe chồng ,khoe con, khoe nhà. khoe cửa.Tâm tình chân thật thương ai cứ bảo là thương ! Bài vở luôn mang giá trị nhân văn đích thực và đôi khi cũng mang hoài bão anh thư liệt nữ !!! Nhưng…
Tôi ghét chữ NHƯNG
Nhưng tôi vẫn lắng nghe vì những điều ổng nói luôn là sự thật.
– Nhưng em nên nhớ em còn phải về VN bán nhà bán đất. Phải thận trọng .
– Dạ em hiểu. ( Đôi khi tôi rất phục thiện , biết điều , dịu dàng ,dễ thương…các thứ )
– Và , thỉnh thoảng em cũng còn thiếu một chút khiêm cung.
Tôi hơi giận , há miệng ra định cãi , ổng vội vàng trút vào miệng tôi một muỗng cà phê sữa ngọt ngào :
-Anh biết em không cố ý, Nhưng ( lại NHƯNG) khi em hùng hồn kết tội người khác : Đã là nhà giáo, nhà văn …thì phải nhớ nằm lòng hai chữ khiêm cung…là ngay lúc ấy em đã đánh mất hai chữ đó rồi…Em là cái gì mà dám nói người khác như vậy ?
Tôi ngần ngừ trầm ngâm suy nghĩ, rồi gật gù tâm đắc ( dù có hơi hờn giận chút ít trong lòng):
– Dạ , em hiểu.
Ổng lấy tay xoắn  tóc tôi từng lọn (như Ba tôi thường làm vậy hồi tôi còn nhỏ )
– Nhưng ( lại NHƯNG) dù em có thế nào đi nữa anh cũng thương em nhiều nhất sau Tu Hú Chích Chòe.
Bày đặt màu mè riêu cua , cứ nói đại là thương chót trong nhà cho rồi. Tôi không muốn gây chiến trong buổi sáng thứ Bảy trời đẹp như thế này,mưa lất phất trên vườn cỏ , một vùng Quỳnh Sa Mạc , Loa Kèn Trắng, Hồng Vàng lóng lánh dưới mưa, ngôi nhà ấm áp , mùi cà phê thơm ngát…Tôi nói , rất dịu dàng :
-Anh che dù để em ra vườn cắt Lili vào cắm , mưa, Lili nở trắng cả vườn.
Ổng nhìn tôi , thương xót như nhìn một chiếc bong bóng ai lỡ tay làm bay vút lên trời :
-Em thật lạ , em đi từ chuyện này qua chuyện khác còn nhanh hơn tốc độ của âm thanh và ánh sáng.
Tôi chợt nhớ :
-Ồ , thứ hai em lại đi gởi đơn xin việc nữa đó nhen . Em không muốn ở nhà đâu.
– Vâng , thưa cô. Tôi sẽ tư vấn cho cô một công việc cô vô cùng thích thú.
( Cái giọng Bắc Kỳ di cư đểu giả một cách dễ thương)
Bạn có muốn biết tôi sẽ làm công việc gì mà theo ổng là tôi sẽ vô cùng thích thú không ?  Vâng , tôi đã … và Bạn cũng sẽ…Tại sao không ? ( còn tiếp)

TÔN NỮ THU DUNG

 

VÂN HƯƠNG, HOÀNG HÔN L’ADIEU

nguyenlienchau

Gởi Lê Công Lộc
1.
Chiều đi về phía sương mù
Ở mọi nơi nắng vừa tắt trên những cành chim
Tôi gọi hoàng hôn
hoàng hôn tướm máu
Huyết lệ
huyết lệ
kìa những hoa huyết lệ
Rực đỏ đợi chờ
Ngợp ngụa niềm trông
Nương theo tàn hơi vội vã
Sương mù côi
Lạnh lẻ hư không
U u những hạt mưa hồng lặng lẽ
Giữa vô cảm muôn trùng
Tình cất tiếng gào to
Âm loãng tan giữa hai triền dốc gió
2.
Mù sương theo chiều đi
Đi đi đi
Lãng mạn đi
vinh diệu đi
chói màu hoa vĩnh quyết
Tôi chận máu ngồi đợi hoàng hôn
Chờ tao phùng màu áo em rợn rợn mây trời của ngày ly biệt
Bàn tay vụng về nắm chặt chia tan
Đá xanh
đá xanh lệ tôi mang
ôi những lời thơ cũ
Dịu dàng đau
kiêu bạc đau
âm thầm đau
Ôi những lời thơ cũ của chàng thi-sĩ-lệ-đá-xanh
Viên thành ngọc long lanh thẩm đỏ
Ngạo nghễ chia buồn nấm mộ thơ đơn
Sương mù tan
hoàng hôn bối rối
Tôi đã chờ đợi cuồng điên
Cuồng điên chờ đợi
Sự chờ đợi nào cũng hèn nhát như nhau
3.
Je ferais n’ importe quoi pour toi
Em hãy vui lòng với những vòng hoa
An nhiên hoàng hôn
những cành chim tắt tiếng
An nhiên sương
thấu những giọt mưa hồng
Sự chia xa nào cũng để lại những đám bụi đen
Đây nỗi tôi
Làm Vui Lòng Em Những Gì Làm Được
làm vui lòng em những gì làm được
4.
Hoàng hôn tới
Chiều đi
Ngày vĩnh biệt
Lệ đã già như đá hết màu xanh
Đi..
Chiều đi
Chiều đi…
Chiều không trở lại
Xa…
Hương xa…
Hương biền biệt khuất trăng xa
Hắt hiu hoa
Hoàng hôn già
Đêm non
Sương đùn ùn hai triền dốc gió
Vĩnh biệt
Rực rỡ tê người màu áo từ ly
Tất cả hãy đi
Tôi hãy đi
Em hãy đi
Chiều ơi chiều hãy đi
Sự trở lại nào cũng hèn nhát như nhau
5.
Vĩnh biệt…
Tôi trở lại tôi
Lệ đá xanh lỗi nhịp
Lệ Đá Xanh
Ngày tàn theo
Làm vui lòng em những gì làm được
Je ferais n’ importe quoi pour toi
Huyết lệ…
Hoàng hôn…
L’ adieu…
Đêm Vân Hương trùng trùng phản trắc
6.
Tôi về ngược phía chiều đi
Đêm rỉ máu
Sự cô đơn nào cũng khủng khiếp như nhau.

NGUYỄN LIÊN CHÂU

VỀ LẠI SORRENTO

truongvu

“… anh vẫn nhìn thấy đôi mắt em trong những đêm mơ… đừng nói lời vĩnh biệt… hãy về lại Sorrento…” Đây là những lời tôi dịch vội từ bản tiếng Anh, Back to Sorrento, của bản tình ca bất hủ Torna a Surriento của Ernesto DeCurtis. Tôi mê bản nhạc này từ những ngày mới bước chân vào trung học, qua lời ca tiếng Việt của Phạm Duy, Trở về mái nhà xưa. Lúc đó, tôi chưa hề thật sự sống xa nhà, chưa thật sự có những mất mát lớn nào, nhưng mỗi lần nghe vẫn thấy thắt ruột, cảm giác như mình đang trong tâm trạng một kẻ tha phương trở về ngôi nhà cũ. Cho đến một ngày, tôi vĩnh biệt tuổi thơ, rồi sống biền biệt xa nhà, sống xa bao người thân, trải qua bao mất mát kinh hoàng. Lúc đó, đêm nào nghe Luciano Pavarotti hát Torna a Surriento, tôi không ngủ được. Tôi không hiểu tiếng Ý, không hiểu ý nghĩa lời ca tiếng Ý, nên nghe nhạc tôi liên tưởng đến lời ca của Phạm Duy. Tôi mơ thời gian đi ngược, tôi mơ tôi thấy lại, tôi có lại… Tôi tưởng chừng đang nghe tiếng chân những hồn ma từ quá khứ trở về.
Tôi vào Võ Tánh năm 1952, cùng lúc với các bạn Ðặng Như Ðức, Nguyễn Công Thuần, Nguyễn Ðình Vinh, Tôn Thất Chuyết, Từ Văn Minh, Nguyễn Văn Tài, Trương Túy Trúc, Hoàng Thị Ngọc Táo, Trần Thị Hảo, v.v… Lúc đó trường chưa có cơ sở riêng, phải mượn một số lớp của trường Nam Tiểu Học, trên đường Hàn Thuyên. Ðến giữa năm, trường dời về trụ sở mới trên đường Bá Đa Lộc. Cũng trong năm đó, trường không còn mang tên Collège de Nhatrang, hay trường Trung Học Công Lập Nha Trang do anh cả tôi, Trương Văn Như, làm hiệu trưởng mà mang tên mới, Võ Tánh, với thầy hiệu trưởng mới, Lê Tá. Bây giờ trường mang tên Lý Tự Trọng. Ðã bao nhiêu biển dâu kể từ những ngày xa xưa đó. Nhưng mỗi khi hồi tưởng, hình ảnh nổi bật vẫn thường là hình ảnh những thằng bé sau giờ học chạy ra biển, chạy theo những con dã tràng, rong chơi, rượt bắt với bạn bè trên cát, hay hái trộm trái tra của Sở Thuốc dọc bờ biển Nha trang. Biển gắn liền với tuổi trẻ chúng tôi.

Năm mươi ba năm sau, do lời mời của Tôn Thất Chuyết, chúng tôi, một số bạn bè từ năm xưa, những thằng nhóc con của trường Võ Tánh ngày nào, lại gặp nhau, sống chung với nhau một tuần lễ trong cùng một ngôi nhà trên bãi biển. Không phải biển Nha trang mà biển Puerto Vallarta của Mễ Tây Cơ. Bãi biển chúng tôi đến còn khá hoang sơ, không giống với Nha trang bây giờ nhưng khá giống với Nha trang của 53 năm trước. Với mái tóc đã bạc hay ít nhất cũng đã muối tiêu, Nguyễn Xuân Ngật, Nguyễn Công Thuần, Từ Văn Minh, Nguyễn Lưu Phương, và tôi đều mang bà xã theo. Đến đây để thăm Chuyết, đang làm đồn điền ở đó, và để được sống trong một không gian ít nhiều giống cái không gian những ngày cũ. Trong số này, có vài người hơn 40 năm chưa gặp lại. Khi gặp, tất cả đều đã qua những chuỗi dài ngày tháng khác hẳn nhau.
Những ngày ở Puerto Vallarta, mỗi sáng chúng tôi đều xuống ngâm mình dưới biển, không bơi nhưng tụm lại nói chuyện xưa. Đứa nào còn, đứa nào mất. Đứa này bây giờ ra sao, đứa kia bây giờ ra sao. Tôi muốn nói ra đây vài lời về hai người bạn được nhắc đến trong những câu chuyện đó: chị Trần thị Hảo và Đồng Sĩ Thạnh. Các bạn tôi không biết hiện giờ chị Hảo ra sao nhưng tôi biết. Tôi không biết những gì đã xảy ra cho Đồng Sĩ Thạnh nhưng các bạn tôi biết rõ. Nghĩ đến họ, tôi không thể không hồi tưởng đến căn nhà cũ của tôi trên đường Hàn Thuyên. Từ trong nhà ngó ra, tôi có thể theo dõi bước chân biết bao bạn bè đi học phải đi ngang qua đó. Có nhiều người tôi không bao giờ gặp lại, trong đó có chị Hảo. Tôi không bao giờ quên được nét mặt phúc hậu của chị. Chị lớn lên trong một gia đình có đức tin tôn giáo mạnh. Anh ruột chị, anh Trần Bá Lộc có thời gian làm quận trưởng Diên Khánh và từng là một giáo viên giỏi ở Nha Trang. Một người anh khác, Trần Bá Khương, là con rể của thầy Cung Giũ Nguyên. Sau 75, chị Hảo dắt đứa con gái duy nhất vượt biển nhưng cả hai không bao giờ tới nơi, không bao giờ trở về. Số phận đó cũng đến với một số người thân của anh Lộc. Về Đồng Sĩ Thạnh, đến lúc đó tôi mới biết là Thạnh đã tử trận từ trước 75. Một năm sau lần hội ngộ ở Puerto Vallarta, tôi có về thăm Việt nam. Tình cờ, khi đến một nghĩa trang tư ở ngoại ô Nha Trang viếng mộ ông bà nhạc, tôi chợt thấy ngôi mộ của Thạnh, không biết mộ xây từ lâu hay mới dời về đó. Trên mộ, có hình của Thạnh, còn rất rõ, trong áo nhà binh, tóc ngắn, khoảng tuổi 25 đến 30, đẹp trai, trong sáng. Tôi cắm trên mộ Thạnh một nén nhang.
Một buổi tối ở Puerto Vallarta, chúng tôi được mời đến dùng cơm tại nhà một gia đình người Ý, bạn của Chuyết. Gia đình này sang Mễ Tây Cơ lập nghiệp khá lâu. Họ có một phòng tranh gần chỗ chúng tôi ở. Tranh chưng bày ở đó không có gì đặc sắc, nhưng ngôi biệt thự của họ thật xinh xắn. Từ sân thượng nhìn ra xa, qua những mái nhà ngói đỏ san sát là biển Puerto Vallarta. Hôm đó họ có mời vài người bạn Ý và một người Ðức mới đến làm ăn ở đây từ Canada. Sau bữa cơm tối kiểu Ý, tất cả lên sân thượng ngồi uống cà phê, nói chuyện và ca hát. Người bạn Ðức phụ họa bằng accordéon. Tôi yêu cầu họ hát Torna a Surriento. Bài ca bất hủ này người Ý nào cũng biết. Những người Ý và Ðức đều xa quê hương nên họ hát và đờn Torna a Surriento một cách say sưa. Hát rất to. Ðang nửa chừng bỗng chúng tôi nghe một giọng nữ cao vút… Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan… Giọng hát của chị Oanh, bà xã của Thuần, trong sáng, tha thiết. Nhóm bạn Ý vội ngưng để lắng nghe, để chị hát tiếp một mình. Những người bạn Ý chắc không biết rằng Torna a Surriento với lời Việt của Phạm Duy đã gắn liền với tuổi trẻ chúng tôi như thế nào, đặc biệt vào những tháng ngày chúng tôi sống xa quê. Lời của Phạm Duy trong Trở Về Mái Nhà Xưa không hẳn là bản phỏng dịch của Torna a Surriento. Trong bản tiếng Việt, về lại Sorrento không phải chỉ để mong gặp đôi mắt ngày cũ, mà để nghe tiếng hú hồn mê oan, để đốt ánh đèn im bóng vào rêu xanh, để thấy kiếp xưa bước nhẹ về, để ngồi im bóng lắng nghe tháng ngày qua... Và, dù lời hát có khác nhau, tiếng nhạc của Torna a Surriento lúc nào nghe cũng tha thiết, thắt ruột.
Tháng 8 năm đó, nhân một chuyến du lịch vùng Địa Trung Hải, vợ chồng tôi cùng với hai người bạn quyết định đi thăm Sorrento. Từ Naples về Sorrento, xe bus chạy dọc theo bờ biển khoảng bốn tiếng đồng hồ. Tuyệt đẹp. Khi gần đến, một thiếu phụ Mỹ ngồi cạnh hát khe khẽ bản Back to Sorrento, … when I pass a garden air and the scent is in the air in my mind a dream awakes and my heart begins to break… Back to Sorrento không còn là của riêng của Ernesto DeCurtis, cũng không còn là của riêng người Ý. Nó trở thành một bài hát của bao nhiêu người đã từng có một tình yêu sâu đậm cho một người, một mái nhà, một vùng đất đã rời bỏ đi mà nếu có trở về cũng chỉ còn cảm nhận được những hồn ma ngày cũ. Sorrento cũng là một thành phố biển, không có những bãi cát thoai thoải như Nha Trang mà từ biển nhìn lên chỉ thấy những vách đá thẳng đứng. Trong tác phẩm của thi hào Homer, Sorrento là nơi trú ngụ của những mỹ nhân ngư, chuyên dùng tiếng hát mê hoặc mấy tay thủy thủ lỡ dại đi ngang vùng biển này, để rồi từ từ ru họ vào cõi chết. Ngày nay, Sorrento là một thành phố du lịch khá nổi tiếng của Ý. Tuy nhiên, rất nhiều du khách đến đây không phải vì thành phố biển đó đẹp, mặc dầu nó đẹp thật, mà chỉ vì bản Torna a Surriento mà trong tuổi trẻ của họ, họ đã từng nghe, đã từng hát và đã giao cảm với tâm trạng của tác giả.
Mỗi người trong chúng ta đều có một Sorrento cho riêng mình. Với nhiều người trong chúng tôi, Nha Trang có thể cũng là một Sorrento, nhưng Nha Trang trong nghĩa này chắc không phải chỉ là biển, chỉ là thành phố. Biển thì ở đâu lại không có, và có rất nhiều bãi biển đẹp hơn. Thành phố cũng thế. Nhưng cái gì khiến mỗi lần nghe Back to Sorrento tôi thắt ruột và nhớ đến Nha Trang? Hay, có nhiều đêm, chỉ nghe tiếng sóng biển cũng nhớ đến Nha Trang, ngửi hơi gió biển cũng khiến nhớ đến Nha Trang? Có lẽ vì Nha Trang liên hệ chặt chẽ đến một thế giới của tuổi trẻ, trong đó có biển, có phố, có những hàng cây, những con đường… Và, trên hết, ở đó, không phải chỉ có hạnh phúc mà còn có đau buồn, mất mát. Không phải chỉ có niềm vui mà còn có luyến tiếc, ray rức, nợ nần. Không phải chỉ có thành công mà còn có thất bại. Không phải chỉ có điều tốt mà còn biết bao lỗi lầm… Nhưng đặc biệt, đó là một thế giới mang đầy dấu vết sâu đậm từ những liên hệ con người. Rất đặc thù. Một thế giới riêng cho mỗi người trong chúng ta.
Thời gian ở Puerto Vallarta, chúng tôi thường nhắc đến những hình ảnh từ thời còn đi học ở Nha Trang mà mỗi đứa đều nhớ rõ. Những hình ảnh đó không hoàn toàn giống nhau với mỗi đứa. Chẳng hạn, với tôi, hình ảnh còn in sâu đậm là cảnh sau đêm bão Nhâm Thìn, đèn điện đều tắt, nước biển tràn lên đến tận nhà Bưu Ðiện. Lúc đó, tôi khoảng hơn 10 tuổi, kéo vài bạn bè chạy xuống xem sóng lớn trong đêm, vừa vui vừa sợ vừa lạnh. Trước đó vài tháng, cũng ở khoảng biển đó, khi nghe tin một thiếu nữ tự tử, tôi chạy xuống xem vừa kịp nhìn thấy cảnh một số thanh niên đang đưa xác cô gái lên bờ. Hôm đó biển động. Ðó là lần đầu tiên tôi chứng kiến một xác chết trên biển. Tôi bắt đầu thấy rằng biển cũng khá tàn bạo, không phải lúc nào cũng êm đềm như lúc biển lặng nhào xuống tung tăng bơi lội hay kéo nhau rượt đuổi trên cát.
Một hình ảnh chúng tôi nhớ khá nhiều là hình ảnh những người đàn bà điên trong thành phố. Khi nhắc đến họ tôi có một ray rứt. Trong đời sống, những ray rứt hay những luyến tiếc nhiều biết chừng nào. Nhưng có những cái thoạt nghĩ không có gì quan trọng mà lại luôn luôn còn đó, để trở thành một phần bất khả ly của một thế giới trong hồi tưởng. Một người đàn bà điên tôi nhớ đến nhiều nhất là Bà Hai, ở trước ngôi nhà cũ của tôi trên đường Hàn Thuyên. Bạn bè hầu hết đều nhớ đến hình ảnh một người đàn bà thường ngồi vắt vẻo trên bức tường trước nhà, la hét, chỉ chỏ, cười nói, chửi rủa. Năm tôi khoảng mười tuổi, bà chưa điên. Một buổi chiều gần tối, khi đang chia phe đánh lộn với lũ bạn trong xóm thì có một đứa bé khoảng năm tuổi đến nói với tôi là bà Hai gọi tôi. Tôi theo nó vào nhà, một căn nhà tăm tối nhỏ như một cái am, ở sau những căn nhà cất cho nhân viên quan thuế. Bà Hai muốn tôi viết giùm một bức thư cho mạ và những bà con của bà ở Huế. Bà đọc cho tôi viết và hứa sau khi viết xong sẽ cho tôi hai đồng. Ðang viết nửa chừng, tôi nhớ đến “trận đánh” ngoài kia nên nói với bà tôi phải chạy ra chơi sau đó sẽ trở lại viết tiếp. Tôi đã không trở lại viết tiếp. Rồi quên bẵng đi cho đến khi tôi đã trở thành người “lớn”, đã lập gia đình, có con, và bà Hai đã trở thành bà Hai “điên”. Các con tôi mỗi khi gặp bà đều trốn chạy. Những lúc bà tỉnh táo tôi có hỏi thăm gia đình bà nhưng không dám nhắc lại chuyện bức thư viết dở. Cách đây tám năm, tôi có về lại Nha Trang, có đến những căn nhà đó. Mọi thứ hoàn toàn thay đổi. Bà Hai điên không còn nửa. Lúc đó, tôi thật sự có một mơ ước, là ngày xưa, tôi đã viết xong bức thư cho bà, bức thư để bà gửi cho mạ. Bức thư tôi viết dở dang chẳng dùng được gì cả, chẳng có nghĩa gì cả. Một ước mơ nhỏ nhưng sẽ không bao giờ thực hiện được. Mà trong đời tôi, có rất nhiều ước mơ rất nhỏ, có từ thời còn đi học ở Nha Trang, ấp ủ rất lâu nhưng đến khi có cơ hội thực hiện thì lại coi thường rồi để vuột mất. Không nói chi đến những ước mơ lớn.
Tôi bắt đầu tập chơi guitare cổ điển khi lên trung học, nhưng chỉ học lóm với bạn bè và thường thì tự học. Dĩ nhiên không thế nào đờn hay được bằng một cách học như vậy. Dầu sao, tôi cũng mê đờn một thời gian khá lâu, và đặc biệt nhờ đó tôi làm quen và ham thích nhạc cổ điển tây phương. Lúc đó Nha Trang không có trường hay lớp dạy nhạc cổ điển. Qua một số đĩa nhạc do một người du học ở Mỹ mang về, tôi nghe được tiếng đàn guitare của Andres Segovia và một số bài giao hưởng trình tấu bởi dàn nhạc nổi tiếng của thành phố Philadelphia dưới sự điều khiển của nhạc trưởng thời danh Eugene Ormandy. Ðĩa cũ, máy cũ, tiếng nhạc rè rè khiến tôi mơ một ngày nào đó được tận mắt nhìn và nghe Segovia hay dàn nhạc Philadelphia với Ormandy trình tấu. Những giấc mơ đó tuy tầm thường nhưng lại rất xa vời với một học trò tỉnh lẻ ở Việt Nam vào lúc đó. Quá xa vời để không dám ấp ủ, và rồi lần lần quên đi. Guitare thì thỉnh thoảng vẫn cầm lên chơi cho đỡ buồn và càng lúc càng biết mình chơi sai.
Ðầu tháng tư 1975, Nha Trang đổi chủ. Bao nhiêu ước mơ lớn ấp ủ đến lúc đó bay biến hết, nói chi đến chuyện đờn địch. Một buổi sáng, tôi còn nhớ rõ, Nguyễn Văn Tài đến chơi. Thấy cây đờn tôi treo trên tường, Tài lấy xuống và bắt đầu đánh một số đoãn khúc của Francisco Tarrega. Tôi rất ngạc nhiên. Tôi chơi với Tài từ lâu lắm, nhưng không hề biết là Tài chơi guitare classique và chơi rất hay, rất đúng sách vở. Khi Tài sắp về, tôi bảo Tài lấy cây đàn của tôi về đi, cây đàn tương đối tốt cho guitare classique. Tài lắc đầu. Sau đó không lâu, tôi từ biệt Nha Trang. Sang Mỹ, tôi có mua một cây đàn rẻ tiền và thỉnh thoảng cầm lên chơi dù vẫn chơi dở như ngày nào. Thành phố tôi ở là Philadelphia. Dàn nhạc giao hưởng của thành phố này vẫn đang nổi tiếng và nhạc trưởng Ormandy vẫn còn đó. Rất nhiều lần tôi đi qua lại trên đường Broad nơi trình diễn của dàn giao hưởng và định mua vé vào xem. Nhưng tiền học bổng ít, những thứ cần chi lại nhiều, tôi không dám mua vé, và luôn tự hứa là để khi nào có tiền sẽ trở lại xem. Sau này khi về vùng DC làm việc, đã có điều kiện tương đối về tài chánh, định trở lại Philadelphia thực hiện giấc mơ nhỏ ngày nào. Lúc đó mới biết Ormandy đã nghỉ hưu và dàn nhạc Philadelphia không còn phong độ như trước nữa. Eugene Ormandy là một thiên tài âm nhạc. Ông sinh ở Hung Gia Lơị, mới 7 tuổi đã trình tấu vĩ cầm, và tốt nghiệp thạc sĩ về âm nhạc năm 14 tuổi. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1921, điều khiển dàn giao hưởng Philadelphia từ 1936 đến 1980 và mất ở đó năm 1985. Cũng trong khoảng đầu thập niên 1980 đó, tôi được tin Andres Segovia đến vùng Washington DC để trình diễn guitare cổ điển tại trung tâm Kennedy, không xa nơi tôi ở. Không nhớ vì lý do gì tôi không đến xem, để rồi sau đó mới biết đây là lần trình diễn cuối cùng của Segovia ở vùng này. Segovia, người Tây Ban Nha, là một bậc thầy vĩ đại của guitare cổ điển, người đã đưa cây đàn guitare lên hàng nhạc cụ hòa tấu. Ông mất ở Madrid năm 1987, lúc 94 tuổi.
Trở lại câu chuyện với Nguyễn Văn Tài. Tài là bạn thân của tôi từ thời trung học. Khi về thăm Việt Nam, chúng tôi thường đi chơi với nhau, nhắc lại những chuyện tình xưa cũ như kể chuyện trong mơ. Tài vẫn còn độc thân, đã về hưu, và được giữ lại dạy toán cho một ít học trò theo chương trình Pháp. Tôi tỏ ý tiếc là Tài không tiếp tục chơi đàn nữa. Tài không nói gì. Trong một buổi họp mặt với một vài thầy giáo và nhiều đồng nghiệp, bạn bè cũ, tôi có mời thầy Ngân lên hát lại cho chúng tôi nghe bản One Day của Johann Strauss. Thầy Ngân với thầy Ðào là hai thầy dạy Anh văn của chúng tôi thời trung học, cả hai đều rất tài hoa, và đều có mặt trong buổi tối hôm đó. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe được bản One Day là do thầy Ngân hát trong lớp khoảng năm tôi 14 hay 15 tuổi. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của thầy khi hát bản này. Khi tôi yêu cầu thầy lên hát, thầy cười nhưng từ chối, có lẽ thầy nghĩ là mình đã già rồi. Nhưng một đồng nghiệp cũ của tôi, cô Lộc, dạy Pháp văn, và trước 1975 có thời gian là bí thư của Viện trưởng Ðại học, lên hát bản đó. Cô Lộc hát rất hay, rất có hồn, nhưng lại không thuộc hết bản, vì chắc cũng đã lâu lắm rồi không hát. Bất ngờ, Tài bước lên lấy micro từ tay cô Lộc, hát tiếp. Tài hát một cách say mê. One day when we were young, one wonderful morning in May, you told me you loved me
Trong những lúc ngâm mình ở biển Puerto Vallarta, chúng tôi nhắc nhiều đến những bạn từ nhỏ đã đi vào con đường văn chương. Không kể lớp đàn anh như Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Hữu Trí, hay lớp sau như Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Tôn Nữ Nha Trang, đồng lớp với chúng tôi cũng có khá nhiều, như Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Ðức Sơn, Nguyễn Văn Liễu (tức Trịnh Cung, họa sĩ và cũng là nhà thơ), Trần Văn Nam, Bùi Cao Hoành (Cao Hoành Nhân), Lê Hữu Phước (Hải Phương), v.v…
Tôi và Nguyễn Ðức Sơn có những liên hệ đặc biệt. Chúng tôi học chung với nhau từ tiểu học. Ba Sơn, thầy Nguyễn Đức Nhơn, là thầy dạy Pháp văn của tôi ở trung học. Má Sơn là bạn của má tôi. Thầy Nhơn đi kháng chiến từ 1945 hay 1946. Cô ở lại Nha Trang, tần tảo nuôi con. Thời gian chúng tôi sinh hoạt Hướng Ðạo, hầu hết những cái lều bị rách đều được cô vá lại. Năm 1954, sau hiệp định Genève, thầy Nhơn không đi tập kết, trở về lại Nha Trang. Không hiểu vì sao sau đó hai người ly dị nhau, các con chia đôi. Chúng tôi đều để ý là từ lúc đó Sơn là một đứa học trò đầy phẫn nộ. Mọi người đều thấy rõ là Sơn luôn tỏ ý bất mãn với thầy. Tuy nhiên, mãi sau này, khi Sơn đã là một nhà thơ nổi tiếng, Sơn có viết một bức thư cho cha, rất cảm động, đăng trong một cuốn thơ xuất bản trước 1975. Trong chuyến về thăm Việt Nam cách đây tám năm, tôi có gặp Sơn nhiều lần, và có lúc tôi định hỏi vài vấn đề riêng tư liên quan đến gia đình, đặc biệt, liên quan đến thầy cô Nhơn, nhưng rồi không có dịp thuận tiện nên thôi. Sơn có một cá tính đặc biệt, một cá tính mạnh, điều đó bạn bè và những người đọc sách của Sơn đều biết. Sơn có một thế giới riêng, có vẻ như cố làm cho quái dị. Thật sự, dưới lớp ngoài trông rất phức tạp, Sơn là một người chơn chất. Sơn là một tài năng của văn học Việt Nam. Nhưng vượt lên cả tài năng, Sơn là một mẫu nhà văn và trí thức rất hiếm hoi, dám sống và nói thật về điều mình tin, nhất là trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam của vài chục năm qua. Có thể những điều Sơn tin và sống hết lòng với nó không hẳn được mọi người chia sẻ, nhưng cách sống đó đáng được kính phục. Thơ của Sơn phản ảnh hoàn toàn con người Sơn. Mỗi lần chạy lòng vòng với cuộc sống ở Mỹ và cả lòng vòng với trí óc của chính mình, tôi thường nghĩ đến một bài thơ của Sơn, và thường đọc cho bạn bè nghe:
Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
Cuối chiều tà chỉ gặp bãi hoang sơ
Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
Chân rục rã tôi đi luồn ra núi
Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô.

Ðầu năm ngoái, khi xem một phim vidéo quay lại buổi họp mặt bạn bè Võ Tánh 1952-1958, tôi rất vui khi thấy Sơn trong đó. Khá bất ngờ, vì tôi biết Sơn rất kỵ những họp mặt như vậy. Tôi chờ đợi Sơn lên nói điều gì nhưng không thấy. Sau đó, tôi biết sở dĩ không ai dám mời Sơn lên nói vì sợ những điều Sơn nói… gây rắc rối. Tôi thông cảm với bạn bè nhưng tôi không vui. Chúng ta thường chỉ thích nghe hay nói những lời “phải đạo” và do đó những gì được nói ra trong những họp mặt của trường này trường nọ, ở nơi này nơi nọ, thường rất giống nhau. Mà nếu cuộc đời chỉ được tạo nên bằng những gì “chung chung”, những gì “phải đạo” thì làm sao có được một “Sorrento” riêng cho mỗi người, để phải thắt ruột mỗi khi muốn về lại.
Nói đến Sơn tôi không thể không nhớ đến những bài học với thầy Nhơn. Bài học khó quên nhất là bài giảng về truyện ngắn La Chèvre de monsieur Seguin (Con dê cái của ông Seguin) của Alphonse Daudet. Con dê con của ông Seguin rất dễ thương, ngoan ngoãn, được nuôi tử tế trong vườn sau của ông. Nhưng rồi, một ngày kia, cũng như những con dê trước đó, nó phá rào, chạy lên núi, nơi đó những con sói hung tợn đang chờ. Dê con đã dùng chiếc sừng nhỏ bé tử chiến với sói suốt đêm. Đến hừng đông, nó gục ngã. Thầy Nhơn giảng bài đó rất hay. Khi giảng, thầy như sống với tâm trạng của dê con. Tôi nhớ mãi bài học đó, thích thú với câu chuyện của Alphonse Daudet nhưng càng lớn tôi càng không đồng ý với cái kết thúc của truyện. Tôi biết, từ đời sống thật, có rất nhiều, rất nhiều dê con đã vượt khỏi nanh vuốt của sói để tự do tung tăng trên đỉnh non cao. Một bài khác cũng rất khó quên, được học từ khoảng thời gian này, là bài J’accuse (Tôi tố cáo) của Émile Zola. Nhà văn Émile Zola viết J’accuse để tố cáo chính phủ Pháp, quân đội Pháp, giáo hội Công giáo Pháp vả cả nhân dân Pháp vì tất cả đã sai lầm trầm trọng khi kết tội đại úy Alfred Dreyfus làm gián điệp cho Đức. Cả nước Pháp nổi giận, kết tội Émile Zola. Rất ít người đồng ý với ông. Émile Zola phải trốn sang Anh và chết năm 1902. Bốn năm sau, nước Pháp chính thức công nhận Émile Zola đúng, đại úy Dreyfus vô tội. Cho mãi đến hôm nay, hơn một trăm năm sau, hầu như các trường học nào trên thế giới cũng đều có giảng dạy về vụ án Dreyfus và bài J’accuse của Émile Zola. Với tôi, hai bài học này lúc nào cũng được tiếp tục học và không phải lúc nào cũng thuộc.
Bài J’accuse tôi không học từ thầy Nhơn mà học từ thầy Nguyễn Suyên, một thầy dạy văn rất giỏi về Đường thi. Thầy dạy bài này vào một thời gian ngắn thầy tạm phụ trách môn Lịch sử Thế giới thay người khác. Trong một chuyến về Houston cách đây hai năm, tôi đi ăn tối với vợ chồng Nguyễn Tấn Hường, một bạn thân, cùng với một số bạn khác. Trong buổi tối đó chúng tôi có nhắc đến thầy Suyên. Hường là học trò giỏi của thầy, có kể lại một kỷ niệm. Khi chúng tôi còn học ở Sài gòn, thầy Suyên mất. Hè năm đó, khi về lại Nha trang, tôi và các bạn Hường, Phê, Thái có đến thăm mộ thầy, ở bên kia cầu Hà Ra. Đứng trước mộ, Hường bắt chước giọng ngâm của thầy, ngâm bốn câu đầu trong Binh Xa Hành của Đỗ Phủ. Xa lâng lâng mã tiêu tiêu, hành nhân cung tiễn các tại yêu, gia nương thê tử tẩu tương tống, trần ai bất kiến Hàm dương kiều. Nghe Hường kể lại kỷ niệm này, tôi giật mình. Tôi nhớ, thầy Suyên thường ngâm bốn câu này trong lớp, bằng cách ngâm theo giọng Bình Định rất đặc biệt của thầy. Về văn, tôi là một học trò loại trung bình và khá lười biếng nên ít khi thuộc thơ. Tuy nhiên, bốn câu đó tôi thuộc và thỉnh thoảng đọc lên mà thật sự không nhớ mình học được từ đâu. Bây giờ thì tôi nhớ. Ngày nay, cái nghĩa trang nơi chôn thầy Suyên đã bị san bằng, nhà cửa xây san sát trên đó. Trong chúng tôi, không ai biết nắm xương tàn của thầy hiện nằm đâu. Cũng như, chắc không mấy ai biết ngôi mộ của thầy Nhơn nằm đâu. Nhưng tôi tin rằng những bài học của các thầy vẫn còn nằm đâu đó trong tiềm thức rất nhiều học trò cũ.

***
Trong chuyến về Việt nam đầu tiên, năm 2001, tôi thường đến thăm thầy Cung Giũ Nguyên. Lúc đó, thầy còn rất khỏe và hai thầy trò đi ăn tối với nhau nhiều lần. Năm 2006, tôi có về lại. Lần này, thầy đã yếu lắm, không đi đâu. Buổi chiều trước khi rời Nha trang, tôi đến từ giã và ngồi nói chuyện với thầy khá lâu. Thầy nói nhiều. Nói chuyện cũ, nói chuyện mới, nói cả suy nghĩ của thầy về những gì đang xẩy ra nơi tôi sống, bên này bờ đại dương. Đôi lúc, theo phản ứng tự nhiên của một anh học trò ưa cãi, tôi định ngắt lời thầy nhưng kịp dừng lại. Tôi ngồi im lắng nghe từng lời nói của thầy và bắt đầu cảm nhận mình đang hưởng những giây phút có thể không bao giờ có lại. Tối hôm đó, tôi đi bộ xuống biển, nhìn từng đợt sóng vỗ nhẹ vào bờ, rồi nhớ lại, như mới ngày nào, những dấu chân thon trên cát, những đêm dìu nhau dưới mưa, những nụ hôn bất chợt,…
Về lại Mỹ, tôi bắt đầu viết bài này. Sau đó bỏ ngang vì thấy chứa quá nhiều cái riêng tư, lỉnh kỉnh. Không lâu sau, tôi được tin vài học trò cũ, rất gần gũi, mới gặp lại sau hai mươi lăm năm xa cách, đột ngột ra đi. Nguyễn Lương Thuật, tôi mới biết là có một thời cùng sinh hoạt Hướng đạo với nhau, định khi gặp lại sẽ hỏi han thêm những kỷ niệm thời đó, cũng đột ngột ra đi. Vài bạn bè khác cũng thế. Rồi, một hôm, đến thăm bà xã anh Nguyễn Nho nằm trên giường bệnh. Mới ngày nào, anh chị đến nhà tôi chơi, bây giờ chị nằm đó, ngó thẳng vào tôi, không chớp mắt, không nhận ra ai. Qua anh Nho, tôi thấm thía với bài học về tình yêu, lòng tận tụy và tính tự tại. Rồi, hè năm ngoái, má tôi mất. Cuối năm, thầy Nguyên mất. Đầu năm nay, một bạn thân từ những năm đầu đại học, Trần Duy Nhiên, đột ngột qua đời. Tôi ngồi vào bàn computer, sửa lại chút đỉnh rồi tiếp tục bài viết này. Tôi tin rằng, nếu bây giờ tôi có nói lan man chuyện cũ chắc bạn bè không mấy ai trách.
Mỗi người trong chúng ta đều có một Sorrento, để về lại trong hồi tưởng. Dù có lẫn lộn với bao cảm xúc trái nghịch nhau, khi về lại, ít nhiều chúng ta cũng tìm được ở đó một gốc để nghỉ ngơi. Tôi xin kết thúc bài viết bằng một câu chuyện phỏng dịch từ cuốn sách nhỏ, The Giving Tree, của Shel Silverstein. Ông viết và minh họa cho trẻ con lẫn người lớn. Những minh họa của Silverstein độc đáo, tôi đề nghị các bạn tìm xem cuốn sách, do HarperCollins Publishers xuất bản. Câu chuyện như thế này:
Ngày xưa có một cây táo… nó yêu một thằng bé
Mỗi ngày thằng bé đến chơi với cây
Kết lá làm vương miện, đội lên đầu như chúa tể rừng xanh.
Thằng bé trèo lên thân cây, đu cành cây, ăn trái
Rồi chơi trò cút bắt với cây.
Khi mệt nó nằm ngủ dưới bóng mát.
Nó yêu cây táo vô cùng
Cây thấy mình hạnh phúc.
Thời gian qua…
Thằng bé lớn lên và không còn đến chơi với cây như ngày nào.
Cây thấy cô đơn.
Một ngày kia, thằng bé trở lại, cây bảo:
“Này thằng bé, hãy đến đây, trèo lên thân ta, đu cành ta, ăn trái cây của ta, và vui đùa dưới bóng mát của ta.”
Thằng bé trả lời:
“Ta lớn rồi, đâu còn leo trèo và chơi đùa như thế nữa.
Ta cần tiền để mua sắm và vui chơi như người lớn.
Ngươi có tiền cho ta không?”
Cây bảo:
“Ta không có tiền. Ta chỉ có lá và trái cây.
Này thằng bé, hãy hái táo của ta đem ra chợ bán.
Mi sẽ có tiền và mi sẽ sung sướng.”
Thằng bé liền trèo lên cây, hái thật nhiều táo rồi mang đi.
Cây thấy mình hạnh phúc.
Nhưng rồi, lâu lắm không thấy thằng bé
Cây táo buồn.
Bỗng, một ngày kia thằng bé trở lại, cây rung cành lên hớn hở:
“Lại đây, thằng bé, hãy trèo lên thân ta, đu những cành ta, và hãy vui đùa thỏa thích.”
Thằng bé bèn nói:
“Ta đâu có thì giờ để leo trèo
Ta lạnh lẽo và cần một mái ấm
Ta muốn có vợ, có con, nên cần một mái nhà.
Ngươi có nhà cho ta không?”
Cây trả lời:
“Ta không có nhà, cả khu rừng này xem như nhà của ta.
Nhưng, mi có thể chặt những cành cây của ta để cất nhà.
Mi sẽ sung sướng.”
Và như thế, thằng bé chặt hết những cành cây, rồi mang đi cất nhà.
Cây táo thấy mình hạnh phúc.
Nhưng rồi… lâu lắm, thằng bé không trở lại.
Khi nó trở lại, cây vui mừng khôn xiết, nhưng chỉ thều thào:
“Này thằng bé, hãy lại đây nô đùa với ta.”
Thằng bé bảo:
“Ta già rồi, và buồn nữa, làm sao vui đùa được.
Ta muốn có một chiếc thuyền để đi thật xa khỏi nơi này.
Ngươi có thuyền cho ta không?”
Cây trả lời:
“Hãy chặt thân ta để làm thuyền
Rồi giăng buồm đi xa… và sống hạnh phúc.”
Thằng bé bèn chặt thân cây, làm thuyền rồi giăng buồm đi xa.
Cây táo thấy mình hạnh phúc…
Thật ra… không hẳn như thế.
Sau đó rất lâu, thằng bé trở lại.
Cây bảo:
“Thằng bé ơi, ta xin lỗi. Bây giờ, ta chẳng còn gì cho mi nữa.
Ta chẳng còn trái táo nào cả.”
Thằng bé trả lời:
“Răng ta yếu lắm rồi, đâu còn ăn táo được nữa.”
Cây lại bảo:
“Ta cũng chẳng còn cành cây nào để mi đánh đu trên đó.”
Thằng bé trả lời:
“Ta già lắm rồi, còn sức nào mà đánh đu trên cành nữa.”
Cây lại bảo:
“Ta cũng chẳng còn thân cây nào để mi trèo lên chơi.”
Thằng bé trả lời:
“Ta yếu lắm rồi, đâu còn leo trèo gì được nữa.”
Cây thở dài:
“Ước chi ta còn chút gì cho mi.
Giờ đây, ta chỉ là một gốc cây già cỗi. Thế thôi…”
Thằng bé liền nói:
“Ta có thiết tha gì nữa đâu.
Ta chỉ cần một chỗ vắng vẻ ngồi xuống nghỉ ngơi.
Ta mệt mỏi lắm rồi.”
Cây táo chợt như vùng dậy, bảo:
“Tốt lắm. Cái gốc cây già cỗi này rất tiện để ngồi nghỉ.
Lại đây, thằng bé.
Hãy ngồi xuống và nghỉ mệt đi.”
Thằng bé bèn đi đến gốc cây, ngồi xuống.
Và…
Cây táo thấy mình hạnh phúc.

Trương Vũ
Maryland, tháng 3 năm 2009
(Bản rút ngắn)

Cảm thông đến trước, lòng từ theo sau

nguyetthuho

( Tặng bạn tôi, Tôn Nữ Thu Dung- bạn sẽ là người chiến thắng-) 

Như thường lệ , phòng đợi đông nghẹt bệnh nhân – phần lớn đều già hơn tôi –tóc bạc hơn  ,  có vẻ buồn bã hơn , vài người chống gậy, vài người ngồi xe lăn nhưng hầu hết đều có người thân bên cạnh . Từ đợt hóa trị cuối cùng cách đây mười năm , mỗi  khi trở lại phòng này  tôi cố ra  vẻ  mình chỉ là một người khách đến thăm một thế giới xa lạ chứ không phải là một bệnh nhân quen thuộc  . Tôi bước vào một cách lẹ làng . Một mình. Tôi mỉm cười chào cô tiếp tân . Rồi buông mình xuống chiếc ghế dài , lật qua lật lại mấy quyển tạp chí với một sự chăm chú nửa vời . Chỉ những ai đã  từng bị trọc đầu cả nửa năm  sẽ thấu hiểu được tại sao tôi không muốn dính líu gì  với đám bệnh nhân . Bởi vì tôi đang có chút tự hào của kẻ đã chiến thắng , đánh gục căn bệnh quái ác này

Người tiếp tân đưa cho tôi tờ giấy ” Kiểm lại triệu chứng ” ( review of symtoms). Mảnh giấy này đã từng khiến tôi rất hồi hộp, tim đánh lô tô biết bao lần.   Chỉ cần  trả lời CÓ  một lần duy nhất- trong số 50 câu hỏi về những triệu chứng đáng nghi- cũng có nghĩa là  sự chấm dứt cuộc đời sắp bắt đầu . Hôm nay tôi chỉ lướt sơ qua danh sách này mà chẳng cần suy nghĩ . Tôi vội vã viết  chữ  KHÔNG cho những  triệu chứng đại loại như  chảy máu trực tràng , mắt mờ , run lẩy bẩy  , nổi  nhọt,  đi cầu ra phân đen , khát nước thường xuyên , cơ thể giữ nước tiểu, thở khò khè , bị kinh phong và ngứa thường xuyên .

Sống qua mười năm liên tục  không có  triệu chứng  xấu là  một tờ giấy phép xả trại cho phép tôi thoát khỏi căn phòng này .  Vì vậy hôm nay,   đợt tái khám cuối cùng, lẻ ra nên  là một ngày của hân hoan phấn khởi hoặc ít ra , tôi sẽ thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát nạn. Thay vào đó tôi cảm thấy lãnh đạm,  bình thuờng  như  mỗi lần đến tiệm giăt ủi . Trước đó tôi dự định sẽ tự chụp cho mình một tấm hình (selfie) ngay cửa trước phòng đợi để ăn mừng. Một selfie với ngón tay trỏ chỉa thẳng về huớng Trung tâm điều trị Ung thư  Hoa Hồng (Rose Cancer Center)   . Nhưng trong ánh nắng chói chan những ý tưởng về trả đũa hay mừng vui thắng trận chợt tan biến .Tôi chỉ cảm thấy hối hả  muốn rời xa chốn này. Càng sớm càng tốt.

Tôi bước  qua phòng thử máu lanh tanh. Tôi tin rằng nhân viên phòng xét nghiệm được tuyển vào làm dựa trên khả năng trò chuyện vui vẻ  trong lúc đang chỉa mũi kim nhọn hoắt vào da thịt của bệnh nhân. Mặc dù tôi rất khó chịu khi mũi kim đâm thẳng vào lớp da mỏng trên mu bàn tay nhưng tôi cũng thấy vui vui .  Và khi cô gái liếng thoắng huyên thiên kể luôn miệng về những sửa soạn cần thiết cho bữa cơm tối của cô nàng tôi đã bị chia trí và quên hẳn sự hiện diện của mũi kim.

 

Cuộc tái khám với Cindy, người  phụ tá bác sĩ mà tôi  ưa  thích nhất, cũng rất lẹ làng và vui vẻ.  Tựa như những câu chuyện vãn khi chúng tôi tình cờ gặp nhau tại cửa hàng tạp hóa. Trong suốt mười  năm qua Cindy  đã phát triển một thái độ thân thiện gần gũi với tôi. Thật ra , với tôi , sự thân thiện này  cũng  cần thiết và hũu dụng như  chính cái ống nghe cô hay choàng quanh cổ . Thân thiện cũng có nghĩa là mọi việc đều bình thường . Tôi không còn là bệnh nhân nữa.

 

Cô nàng vừa lắng nghe tôi thở, vừa hỏi tôi về chuyện con cái. Tôi  cũng hỏi về con cái của cô ấy trong khi mấy ngón tay  của cô  đang đè lên bụng tôi để tìm kiếm các khối u . Cô khám cả hai  nách của tôi,  lần này ít mồ hôi hơn những lần trước , và kể cho tôi nghe các nghiên cứu mới nhất về ung thư vú. Tôi không chú tâm lắng nghe. Trong năm năm qua , hầu hết các nghiên cứu đã không còn hay ho với tôi . Thậm chí tôi không còn gì để thắc mắc, ngoại trừ câu hỏi hàng năm _ tôi được phép uống mấy ly rượu . Tùy thuộc vào cách đặt câu hỏi , thông thường  tôi nhận được câu trả lời mình đang mong chờ. Hôm nay cũng y như vậy .

Sau đó, cô giúp tôi leo xuống khỏi giường khám bệnh, một  sự giúp đỡ không cần thiết . Tất nhiên , vì tôi vẫn đang mặc áo choàng bệnh viện , loại y phục dành riêng  cho bệnh nhân ở khắp nơi . Thôi kệ,cứ cho rằng việc đỡ tôi xuống giường chỉ là một thông lệ..

 

Sau đó là lúc chia tay  với Cindy. Cô nàng quàng tay ôm tôi . Đó là một cái ôm nồng ấm đầy tình cảm , không phải là một cái ôm lẹ làng giả tạo . Bổng dưng, ngực chúng tôi ép sát vào nhau  , hai  bàn tay cô nàng vỗ nhẹ trên lưng tôi .Khi đó tôi  chợt nhận ra cả ngày hôm nay tôi đã né tránh không muốn suy nghĩ tới chuyện này. Qua thật rồi . Xong  rồi . Tôi được giải tỏa , tốt nghiệp , xuất viện , xá tội .

 

Cindy  thì thầm bên tai tôi “Có những điều cần phải cảm nhận , cần phải nói . Nhất là với  những người như bạn…” nhưng tôi không còn nghe tiếng cô nàng nữa . Hình như lúc đó  tai tôi cũng đang bị tắc nghẽn vì nước mắt

 

Tôi đã không tiên liệu việc rơi lệ này . Lần chót khi bệnh ung thư làm tôi bật khóc là khi   tôi phải kể cho ông xã nghe về cú điện thoại từ bác sĩ quang tuyến.

Thật ra không phải là hết chuyện. Lòng biết ơn đang tràn ngập trong tôi, biết ơn về sự tử tế và chăm sóc tận tình của Cindy trong suốt mười năm qua , về những lời giải thích rõ ràng của những rủi ro trong mọi liệu pháp chữa trị cùng sự trấn an đối với những âu lo của tôi . Nhiều bác sĩ đã chữa trị cho tôi. Họ ra đi khi xong phận sự .Nhưng Cindy luôn có mặt với tôi kể  từ ngày đầu tôi đặt chân đến văn phòng này , một sự hiện diện ổn định  và đều đặn . Cô biết trọn vẹn  bịnh tình của tôi . Cô biết rõ cơ thể cũ, và ngay cả cơ thể  mới của tôi. Từ nay trở đi sẽ không còn  người nào biết rõ về tôi như vậy nữa .

 

Tôi cảm ơn Cindy thật nhiều . tôi đã nương tựa vào bờ vai của cô ta không biết bao nhiêu lần..  Giọng nói của tôi run rẩy một cách phát ghét và bắt đầu đứt quảng như khi một cô phù dâu rưng rưng nước mắt chúc mừng cô dâu . Tôi không bộc lộ hết những cảm xúc  đang dâng trào trong lòng mình.

 

Cả hai chúng tôi đều nói ” tụi mình sẽ gặp lại  nhau ở cửa hàng tạp hóa.” Thôi chào từ giã.  Từ giã.

 

Tôi cởi áo choàng ra và mặc lại quần áo của mình. Giã từ sầu não.. Giã từ căn lab lạnh lẽo .. Giã từ ống chích, Giã từ mũi kim.  Giã từ băng tay cao su xanh lá cây. Giã từ bức tường tím nhạt. Giã từ hành lang dẫn đến phòng hóa trị. Giã từ những bức ảnh hoa tươi vui . Giã từ phòng kế toán. Giã từ thẻ hẹn.

Người thư ký tóc xoăn hỏi khi nào tôi phải gặp bác sĩ nữa  . Tôi cười hì hì rồi trả lời : “Không bao giờ ! “ . Tôi nói thêm: “ dự định là vậy đó, vì không muốn trù ẻo chính mình. Tôi chờ cô ấy chúc mừng cho tôi . Thay vào đó , cô lại thở dài . Cô nói :” hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ được như bạn. Mới dứt ung thư có một năm mà thôi . “

Chiếc bàn giấy nơi cô ấy làm việc tựa như một hàng rào ngăn cản.Cô ấy ở phía bên lành mạnh   và tôi là ở phía bên bệnh hoạn. Nhưng cô ấy đang tiến gần đến bệnh ung thư hơn tôi. Tôi biết rất rõ những điều đang chờ đợi cô ta ở phía trước  – những cơn nhức đầu mà  thực sự là khối u trong não, những lần đau lưng  là do những tế bào ung thư đang hiện diện tại cột sống , ho có đờm  là dấu hiệu của ung thư phổi đã di căn , và một lần bệnh  trĩ có thể khơi mào cho  chín năm sầu lo

Ước gì cô ấy không phải trải qua những chuyện này .  Uớc gì tôi được quen biêt cô ấy  tới mức độ  mạnh dạn ôm chầm lấy cái đầu  với mái tóc xoắn và nói rằng cô ấy  xinh xắn biết bao, cô ấy mạnh mẽ hơn nhiều và  cô ấy vừa đi xong một chặng  đường dài . Thay vào đó tôi chỉ lầm bầm một vài lời trấn an rổng tuếch và cảm thấy mắc cỡ về sức khỏe tốt lành của mình.

Khi bước vào thang máy tôi thấy hai người đàn ông ngồi xe lăn- một người da trắng, lớn tuổi và ốm yếu, người kia là một người da đen trẻ hơn nhưng mâp mạp. Họ đang cười đùa với nhau. Thì ra họ đã ngồi kế nhau trong phòng hóa trị . Tiếng cười của họ nghe rất tự nhiên và chân thật. Trong một phút giây ngắn ngủi, hay chỉ là một sát na , tôi ước rằng tôi được ngồi chung với họ trong căn phòng hóa trị   để cùng chia sẻ niềm vui này  . Tôi muốn nói rằng tôi cũng như họ, cũng từng trải qua những gì họ đang đối diện . Tôi mỉm cười với cả hai , nhưng họ không hề ngó ngàng đến tôi.

Ra khỏi cửa,  bước vào ánh sáng chói chang của mặt trời ,  trái tim tôi bắt đầu căng phồng cho đến khi tôi cảm thấy lâng lâng bay bổng . Tôi chợt thấy mềm lòng  đối với cô  y tá đang uống nước nghỉ trưa , mềm lòng  đối với một bà cụ đang được dìu ra khỏi xe,mềm lòng  với người đàn ông hấp tấp băng qua đường  Tôi muốn nhẹ nhàng  ôm hết  cả  trong vòng tay  và nói:  Chính những người như quí vị đã giúp tôi .

Tôi để mặc tâm trạng ấm áp này tuôn tràn trên người như khi đang tắm nắng. Cảm giác này rất quen thuộc.Ồ, đúng rồi.  Năm đầu tiên sau khi chữa trị  tôi cũng trải qua những cãm giác này . Tôi được hội nhập trở lại thế giới của  những điều lành mạnh , bình thuờng  và nghiệm ra rằng thế giới bình thuờng này tuyệt vời biết bao.   Tôi vẫn còn sống. Tóc của tôi đã mọc xoăn trở lại.Tuyết vẫn rơi đầy  trong mùa đông. Mùa xuân vẫn tươi đẹp rực rỡ . Những người từng đối xử tử tế trong lúc tôi đau bệnh đều rất tốt đẹp. Ngay cả những người xấu bụng, tôi cũng thấy họ tốt đẹp luôn . Mọi đau khổ tôi từng trải qua chẳng sá gì so với những đau khổ của người khác.Té ra  những tháng đau bệnh  là một trong những năm hạnh phúc nhất của  đời tôi.

Thì ra mọi người đều đau khổ.  Như nhau.  Kiểu này hay cách khác . Trong âm thầm hay bộc lộ . Một khi  nhìn thấy được sợi dây nối kết này lòng từ trong tôi chợt tràn dâng.

Cuối cùng  tôi cũng chụp “selfie” voi miệng cười rạng rỡ. Giã từ ung thư. Vâng  cứ cho là như vậy.

Maggie Lane
Bản Dịch của Hồ Nguyệt Thu

(Maggie Lane is a freelance writer and mother of four from Beverly Hills, Michigan. She blogs at Poemelf.com)