Tương tư kinh

nguyenvanthien
“Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”
(Kinh Thánh)

Trước có em
Ta độc thân một mặt trời cao ngạo hào hoa
Từ có em
Ta vầng trăng sánh đôi trời xanh soi đáy nước
Từ đêm không còn em nữa
Ta hoá vì sao côi cút cuối thiên hà

Nhân danh sao và trăng và mặt trời
Quỳ gối nói yêu em bằng lời Kinh Thánh
Xin một góc tim em ta xây lại thiên đường
Nhân thơ và rượu và hương
Xin được gởi nhớ thương vào nước Chúa

Nhân danh cỏ và hoa và bông lúa
Xin được chôn tình mình trên cánh đồng quê
Bia đá xin đề:
Không tên không tuổi
Mắt nhớ môi mong đồng phụng lập
Mai lưu lạc khắp trời cao đất thấp
Biết chốn tìm về thắp nén hương yêu.

Nguyễn Vân Thiên

ĐÊM HÍ HOÁY VIẾT CHỮ GÌ CHẢ BIẾT…

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

buồn túi bụi ờ như mưa thay nắng
tóc buồn xo ngồi nhớ những chưa quên
dăm hạt ướt bò bò lên giấy trắng
là thơ ư ? chỉ xóa một cái tên

ờ lăn quay đã bao lần nhiều bữa
chân ngo ngoe hỗn láo đạp đất trời
mưa rồi xuống nắng rồi tuôn qúa sức
ta đen thui lem luốc giữa cuộc ₫ời

hôm ngồi khóc cho em nhìn yếu đuối
nói thương ta mà lại nhoẽn miệng cười
nhéo đầu mũi bảo ta đeo mặt nạ
gịọt lệ ta đành dậm đất … trời ơi

buồn luồn cúi trốn chân bàn vì sợ
lộ nguyên hình ta thân xác bi ai
sợ bom nổ trong phút giây tưởng tửởng
xác ta tan chết trăm bận khôi hài

em kéo cẳng đời kéo chân ôi rối
bù cuộc đời dài năm tháng nghêu ngao
đêm hí hoáy viết chữ gì chả biết
cửa tồn sinh huyễn mộng cứ ra vào…

NGÔ YÊN THÁI

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam

richardbotkin

Bất kể chiến tranh, cùng sự bất ổn và các âm mưu không dứt về chính trị đã cấu tạo nên đời sống thường ngày tại Việt Nam, cuộc nhân sinh vẫn tiếp diễn như thường lệ. Người Nhật, người Pháp, Việt Minh và cả cuộc nổi loạn của nhóm Bình Xuyên chống lại chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1955 cũng không ngăn trở Bình hăng say trong việc học hành mà gia đình đã kỳ vọng rất nhiều vào anh. Mãi đến năm 1957, khi anh hoàn tất chương trình Trung học tại trường Petrus Ký thì những sự khủng hoảng không tên diễn ra gần như hằng ngày cuối cùng mới làm ảnh hưởng đến việc học của anh trong một thời gian ngắn. Thời gian Bình tốt nghiệp Tú Tài và bước vào Đại học, anh đã chán ứ đến cổ về mối đe dọa độc ác của Cộng sản qua các câu chuyện về cuộc sống tại Hà Đông trước khi Việt Minh cướp chính quyền, anh đã nghe kể hàng trăm lần về những cách đối xử hèn hạ của họ đối với bà nội, các chú bác và anh em họ của anh. Để làm một điều đúng, là trả lại danh dự cho gia đình, thực hiện một chuyện mà bất cứ một thanh niên chân chính đều phải hành động tương tự, anh tham gia vào nỗ lực nhằm giải phóng đất nước khỏi cái mà anh coi là căn bệnh ung thư quái ác của chủ nghĩa Cộng sản đang trên đà phát triển. Đến năm 1957 thì Bình biết rằng sự lựa chọn duy nhất là gia nhập quân đội để phục vụ đất nước.

Bình chỉ là một học sinh trung bình. Bất kể theo con đường nào, anh biết chắc là không một ai trong những đội ngũ mà anh sẽ dẫn dắt sẽ hỏi đến bằng cấp của anh.

Tuy việc theo đuổi học hành không hẳn là dễ dàng gì đối với anh nhưng chuyện anh tốt nghiệp ban Sử Ðịa vào năm 1961 đã là một thước đo khiêm tốn về sự bền bỉ trong trí tuệ và tính tự giữ mình trong kỷ luật mà không một vị giáo sư hay một kỳ thi nào có thể đánh giá được.

Trong thời kỳ hai nước Việt Nam bị tách riêng từ 1954 đến 1959, cả hai chính phủ đều tập trung nỗ lực vào việc củng cố chính trị nội bộ. Trong khi việc cưỡng bức tập thể hóa toàn bộ dân cư tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và việc giết hại hàng ngàn người mà nhà nước cho là thành phần phản động ít được giới truyền thông tường thuật thì các thách đố màchế độ Ngô Đình Diệm đang phải đối mặt cùng những khó khăn và thiếu sót của họ lại được phơi bày một cách hết sức rộng rãi.

Ngô Đình Diệm, kẻ ngoại cuộc dưới mắt nhiều người và là một tín đồ Công giáo của tòa thánh La Mã, đã từng sống một thời gian tại Hoa Kỳ, thoạt đầu được giới chống cộng Tây phương chú mục tới. Trong nước thì nhiều Phật tử và các giáo phái khác lại mất niềm tin trầm trọng vào phe đảng của Ngô Đình Diệm. Việc sử dụng quân đội để đè bẹp các nhóm đối kháng Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên chỉ tạm thời dập tắt những mối nguy hại đối với quyền lực của chế độ.

Vào năm 1958 sau khi hoàn tất việc củng cố quyền lực ngoài bắc, Hồ Chí Minh ra lệnh cho cán bộ trở lại miền Nam và năm sau đó, tập họp với đám người đã được cài lại phía sau cũng như những người mới tuyển mộ được sau này, bắt đầu cuộc chiến tranh “nhân dân” chống lại chính quyền Sài Gòn một cách hung hãn nhất.

Khoảng từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1960, Việt Cộng đã ám sát gần 1.700 người và bắt cóc thêm 2.000 người ủng hộ chế độ Sài Gòn gồm các xã trưởng và những người có chức sắc trong xã. Từ năm 1961 trở đi các nỗ lực khủng bố của chúng có chiều hướng gia tăng. Nhu cầu gia tăng của Cộng sản về nhân sự và tiếp liệu đã khiến chúng khởi công con đường mà sau này toàn thế giới biết đến là đường mòn Hồ Chí Minh. Đến năm 1965 thì hệ thống đường mòn có khả năng vận chuyển được từ năm đến sáu ngàn người hàng tháng cộng với hàng tiếp liệu đuợc đưa xuống hầu “giải phóng” người “anh em ngoan cố.”

Những cuộc biểu tình lớn của Phật giáo bắt đầu vào năm 1961 sau cùng đã dẫn đến một loạt các những biến cố ngoạn mục được truyền thông rộng rãi vào năm 1963. Trong thời kỳ này có những vị sư nhân hậu và trông rất vô hại trong các tấm y màu vàng nghệ đã ngồi thiền và tẩm xăng tự thiêu nhằm thu hút sự chú ý đến nỗi bất công dưới chế độ Ngô Đình Diệm.

Từ lâu trước khi có sự kiện này, Cộng sản đã xâm nhập một cách có hiệu quả vào nhiều nhóm chống đối chính quyền Sài Gòn. Đối với nhiều người, cũng khó mà không cảm thông với phe đối lập khi mà nạn tham nhũng của chế độ Diệm rất dễ nhận ra, còn tập thể lãnh đạo Sài Gòn thì kém cỏi và thiếu kinh nghiệm thấy rõ thành thử đã làm mất lòng dân.

Trong khi người Mỹ có lẽ đang mong sự xuất hiện trở lại của một nhân vật tương tự như phu nhân tướng Tưởng Giới Thạch, một phụ nữ thanh nhã, dịu dàng, tốt nghiệp trường Wellesley thì bà Ngô Đình Nhu, em dâu của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với biệt danh “Long Nữ” (Dragon Lady) đã ngang ngược báng bổ và tuyên bố công khai rằng họ đã chứng kiến một màn “nướng thịt” (barbecue) sau một vụ tự thiêu. Bất kể những người có thể không bằng lòng với quan điểm của bà sẽ có thái độ ra sao nhưng bà vẫn trả lời phỏng vấn rằng: “Cứ để cho họ bị thiêu và chúng ta sẽ vỗ tay hoan nghênh.”

Với vai trò lãnh đạo về chính trị trong các thập niên 1950 và 1960, nước Mỹ phải đối phó hàng ngày trước nguy cơ chiến tranh hạch nhân với Liên Bang Sô Viết cùng với nguy cơ được định nghĩa là “chiến tranh nhân dân” tại một loạt các quốc gia chư hầu ngày càng gia tăng tại Âu Châu và khắp Á Châu. Tuy vậy, nỗi ám ảnh bởi cái mà người Mỹ cho là một cuộc hiệp ước đình chiến mong manh tại Đại Hàn đã khiến cả hai siêu cường tìm cách giảm thiểu nguy cơ xung đột trực tiếp có thể nhanh chóng dẫn đến chiến tranh nguyên tử. Nỗi thất vọng trước sự bất lực trong việc đạt được một chiến thắng toàn diện đã được xoa dịu bằng niềm tin rằng sẽ khó có thể toàn thắng như lần 1945 nữa.

Kinh nghiệm tại Triều Tiên chứ không phải là Thế Chiến Thứ Hai đã hoạch định sự dính líu của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh. Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa có nhiều điểm tương đồng với với bán đảo Triều Tiên. Cả hai quốc gia Cộng sản Bắc Hàn và Bắc Việt đều có chung biên giới với Trung Cộng và được trợ giúp đáng kể từ họ. Cả hai cũng đều nhận được những khối lượng viện trợ khổng lồ từ Liên Sô. Đồng thời cả hai quốc gia cũng đã vừa trải qua kinh nghiệm ngoại xâm của thực dân mà đáng kể nhất là Nhật Bản là kẻ đàn áp tàn bạo nhất.

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến hầu như qui ước diễn ra trên một lãnh thổ mà cả hai bên đều không đóng ở các vị trí cố định, do đó cho phép huy động các đại đơn vị chống lại một kẻ thù dễ nhận diện ra. Bắc và Nam Hàn đã bị chia cắt dọc theo vĩ tuyến 38 bởi cách lý luận tùy tiện tại Yalta vào năm 1945 giống như trường hợp của Việt Nam vậy. Vùng biên cương dài hơn 150 dặm này là khu vực duy nhất có thể xâm nhập được vào miền Nam hoặc rút ra khỏi đây. Bởi rừng cây thưa thớt, lực lượng địch quân rất khó ẩn tránh máy bay đồng minh bay tuần tiễu, việc cô lập chiến trường được thực hiện tương đối dễ dàng. Vì khả năng hải quân bị hạn hẹp nên cơ hội xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển chỉ hạn chế ở các đơn vị nhỏ.

Những khác biệt so với Triều Tiên đã khiến cho việc bảo vệ miền Nam gặp nhiều khó khăn hơn đối với các cố vấn Mỹ và những người miền Nam đang tìm cách tránh sự thống trị của Cộng sản. Trong khi dân tộc Đại Hàn, cả Nam lẫn Bắc gần như là thuần nhất thì Việt Nam và các nước láng giềng phía tây có chung những đường biên giới lỏng lẻo không được xác định rõ ràng và là nơi trú ngụ của nhiều sắc tộc thiểu số khác nhau. Qua các qui định chiến tranh do họ tự đặt ra và với những sự hạn chế về địa dư, các khu vực rừng rậm, núi non phía Đông Căm-Pu-Chia và Lào đã biến thành những mật khu ẩn núp của Cộng sản. Việc ngăn chặn sự xâm nhập vào Việt Nam hầu như không thể thực hiện được. Do các khó khăn về địa dư và chính trị này, thế chủ động trên chiến trường phần lớn đã phải nhường lại cho phía đối phương.

Bắt đầu bằng cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez vào đầu mùa hè năm 1956, một loạt các hành động gây hấn của phe Cộng sản được tung ra: sự đàn áp tàn bạo các chiến sĩ tranh đấu cho tự do Hungary bởi quân Liên Sô, cuộc xâm lược của Cộng sản Trung Hoa chống lại phe quốc gia trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai vào cuối năm 1958, sự kiện Cuba rơi vào tay du kích quân của Castro ngay tại “cửa sau” của Mỹ vào năm 1959, việc bắn hạ máy bay thám thính U-2 của Gary Power trên đất Nga, sự thất bại vùng vịnh Con Heo, sự kiện bức tường Bá Linh được dựng lên, và những thách thức đối với Tây phương ở Congo từ Patrice Lamumba và nhóm lâu la của ông.

Tình thế trên bộ tại Đông Nam Châu Á vào đầu năm 1960 cũng không khá hơn các nơi khác bao nhiêu. Cho dù cố vấn quân sự Hoa Kỳ đã hoạt động tích cực trên tất cả các nhiệm vụ không chiến đấu tại Việt Nam từ 1954, nhu cầu phải đưa người Mỹ ra tiền tuyến để mở rộng tầm quan sát và sự hỗ trợ trong việc phát triển khả năng chiến đấu của Việt Nam cuối cùng đã được chấp thuận vào năm 1960 trên một căn bản hạn chế. Các sĩ quan Hoa Kỳ không mấy phấn khởi trong các thời kỳ đầu tiên này.

Binh chủng TQLC Việt Nam, với quân số không bao giờ quá hai phần trăm của toàn bộ quân lực đã được cải thiện liên tục về khả năng tác chiến và binh đoàn nhỏ này đã được liệt vào hàng ưu tú trong Quân Lực VNCH. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có quân số lớn hơn rất nhiều và cũng không thiếu các chiến sĩ dũng cảm nhưng lại bị thất lợi bởi những vấn đề thường gặp trong các tổ chức quân sự mới được thành lập tại các quốc gia nghèo. Nguồn lực thì có giới hạn, huấn luyện thì thiếu sót và các sĩ quan chỉ huy, nhất là các cấp tư lệnh thường gồm những nhân vật được lựa chọn không phải do khả năng tác chiến hay chỉ huy mà chỉ vì lòng trung thành về chính trị và sự quen biết. Điều này đã khiến cho các đơn vị của chế độ Sài Gòn bị thất lợi rất nhiều so với các lực lượng Cộng sản nhiều khi lại còn được chỉ huy khá cũng như được động viên tốt hơn.

Các sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ được điều đến để giúp thành lập, hình thành và hướng dẫn thuộc thành phần quân nhân giỏi và sáng giá nhất. Với thành công tại Triều Tiên trong việc thiết lập quân đội non trẻ của nước đó, sự bổ nhiệm Trung tướng John “Iron Mike” (Mike sắt thép) O’Daniel vào cương vị tư lệnh cơ quan MAAG tượng trưng cho đỉnh cao kỳ vọng của giới lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ. Quá trình lâu dài và gian khổ nhằm xây dựng các đơn vị quân sự cần thiết và hỗ trợ tối thiểu cho hạ tầng cơ sở được giao phó cho hàng trăm sĩ quan Hoa Kỳ đầy lòng nhiệt huyết, một số sĩ quan người Pháp cùng chung lưng hiện đang giảm dần và hàng ngàn sĩ quan Việt Nam đồng một lòng muốn đất nước được phát triển.

Thành tích ban đầu của QLVNCH ngoài chiến trường chống du kích không được khả quan lắm. Các chiến thắng của họ đối với Cộng sản, nay gọi là Việt Cộng thường chỉ là những biến cố tạm thời vì chính sách của chế độ Ngô Đình Diệm đã làm suy yếu hành động của họ ngoài mặt trận. Quyết định thay thế các chức sắc xã ấp được dân bầu bằng những cán bộ do chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm đã làm mất lòng người dân địa phương. Chiến dịch đàn áp những người bị nghi ngờ là thân cộng dù vu vơ đã tiếp tay thêm cho sự tuyên truyền phổ biến do Hà Nội đề xướng.

Đồng thời những cán bộ được cài lại phía sau được lệnh hoạt động trở lại, công tác tuyển mộ cho lực lượng Việt Cộng tại chỗ được đẩy mạnh một cách hung hãn và sự xâm nhập của các đơn vị chủ lực Bắc Việt vào miền Nam đã làm dài thêm danh sách các khó khăn mà VNCH phải đối mặt. Từ năm 1961 đến 1962 ước tính trên thực tế Cộng sản đã kiểm soát được hơn một nửa miền Nam rồi.

Ở cấp cao nhất của giới lãnh đạo Hoa Kỳ tại Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn, các cuộc tranh cãi dữ dội đã xảy ra tập trung vào việc phải hành động ra sao và cách nào tốt nhất để đối phó với TT Ngô Đình Diệm mà hành động thường không phù hợp với ý định của người Mỹ. Đường lối cai trị của TT Diệm và nạn tham nhũng rõ rệt của chế độ là một sự bối rối và cản trở những điều mà người Mỹ tự cho là nỗ lực cao thượng nhằm ngăn chận Cộng sản. TT Diệm không được lòng dân chúng và uy tín của ông đối với quân đội làm càng bị lung lay nhiều hơn nữa.

Đến mùa hè 1963, Hoa Kỳ đã đổ công sức gần chín năm về chính trị nhằm đạt thắng lợi tại Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về nỗ lực cố vấn và gần như là yểm trợ quân sự trực tiếp, danh sách thương vong của người Mỹ cũng tăng dần lên. Đánh đổi lại tài nguyên và xương máu đã đổ ra thì chưa có sự thành công nào đáng kể cả. Nhiều giới chức cao cấp Hoa Kỳ và một vài tướng lãnh hàng đầu Việt Nam tin rằng sự lãnh đạo của TT Diệm sẽ không mang lại hy vọng cho một chiến thắng của đất nước.

Đến nước này rồi vì đầu tư quá nhiều mà để Việt Nam bị thất bại vào tay kẻ thù phương Bắc thì có thể sẽ kích động sự sụp đổ theo thế cờ domino. Một nước Hoa Kỳ thiếu quyết tâm tại Đông Nam Á có thể sẽ khuyến khích sự bành trướng và xâm lược của Liên Sô trên toàn thế giới. Trong giới lãnh đạo quân sự Việt Nam, nhóm sĩ quan tin tưởng con đường duy nhất để cứu đất nước là loại bỏ TT Diệm đang dần tăng lên. Sự dính líu của nước Mỹ trong cuộc đảo chánh TT Diệm vẫn còn gây tranh cãi và là đề tài của nhiều cuộc tranh luận gay gắt. Tuy nhiên điều này ít nhất có thể tin được qua lời khuyên trước đó trong lá thư nổi tiếng của George Kennan gởi cho đồng nghiệp là Bộ trưởng Ngoại Giao Chip Bohlen năm 1948:

“Điều này không có nghĩa là tất cả các chính quyền mà chúng ta giúp chống lại áp lực của Liên Sô sẽ được soi sáng, sẽ là những chính quyền tự do, thực thi dân chủ theo những cách mà chúng ta có thể khen ngợi được. Rất nhiều trong số các chính phủ đó có thể sẽ trở thành những thể chế tham nhũng và độc tài. Tuy nhiên nếu đứng trên quan điểm lợi ích của nước Mỹ thì điều này vẫn còn tốt hơn là những chế độ do Cộng sản kiểm soát vì họ sẽ không có tham vọng thống trị toàn cầu, cũng như không có đủ phương tiện để cho phép mơ tưởng đến các cuộc gây hấn ở qui mô lớn.”
Đối với các tư lệnh quân sự Việt Nam có khả năng thực hiện sự thay đổi thì điều hiển nhiên là TT Diệm phải ra đi cho VNCH có chút cơ may để sống còn.

Thành phần yêu nước của miền Nam Việt Nam có một niềm tin trực giác hợp lý rằng một khi tình hình đất nước khả quan hơn, nỗ lực về quân sự nhằm giải thoát gia đình họ khỏi ách nô lệ của con quái vật miền Bắc sẽ được tiến hành. Là một người quen thuộc với chiến lược quân sư, đặc biệt là chiến lược hải quân, ông Lê Bá Sách hiểu rằng đơn vị tiên phong chống trả một cuộc xâm lược sẽ phải là TQLC.

Ông rất thương yêu con cái nhưng ông cũng yêu đất nước, đồng thời mang một nỗi căm thù Cộng sản tận xương tủy, một mối thù sâu sắc đến nỗi ông sẵn sàng để đứa con trai yêu quý tòng quân nhằm vào mục đích đó. Ông đã cương quyết khuyên đứa con trai trưởng phục vụ trong binh chủng TQLC.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Lê Bá Bình lập tức được nhận vào trường sinh viên sĩ quan Thủ Đức ngay bên ngoài Sài Gòn nhằm tham dự một khóa học 10 tháng để trở thành sĩ quan. Do tầm mức tương đối nhỏ của các binh đoàn Việt Nam khác ở bên cạnh quân đội chủ lực, họ phải dùng chung cơ sở đào tạo sinh viên sĩ quan để tiết giảm chi phí và tận dụng các phương tiện huấn luyện còn thiếu thốn. Khóa học 10 tháng giúp các sĩ quan trẻ đầy nhiệt huyết tiếp xúc với đường lối chỉ huy quân sự, các tập tục, quân phong quân kỷ, cơ bản thao diễn và một số chiến thuật bộ binh căn bản vì đa số các khóa sinh nói cho cùng cũng sẽ được bổ sung vào quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Bình khi ấy nằm trong một nhóm riêng trong số vài trăm sinh viên sĩ quan, với 60 người đã được tuyển chọn vào binh chủng TQLC hiện đang thiếu trầm trọng các tân sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

PHỔ BIẾN CHƯƠNG TRÌNH HIỂU MÀ THƯƠNG .

11269865_10206505637900580_105570688_n

PHỔ BIẾN CHƯƠNG TRÌNH HIỂU MÀ THƯƠNG:
…Tác phẩm CON SÓNG DỮ viết lên những sự thực trong bối cảnh của thời thanh lọc. Tác giả PHẠM THẮNG VŨ là một nhân chứng sống trải qua 7 năm ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia, nay anh tặng lại tác phẩm này và các lợi nhuận thâu được từ nó cho công cuộc bảo tồn di tích thuyền nhân. Vì công cuộc chung, chúng tôi đưa ra một đề nghị gây quỹ cho Barrack với tác phẩm CON SÓNG DỮ. Chúng tôi sẽ cho in 200 bản Ðặc Biệt với giá ủng hộ cho Barrack là 100 USD mỗi cuốn. Với 200 cuốn sách X 100 USD = 20000 USD, và nếu đề nghị này được 200 người ủng hộ, kế hoạch trùng tu Barrack trại Tị Nạn Galang sẽ mau chóng thành hiện thực. Mỗi bảo trợ 100 USD có thể là một người, vài người chung nhau đóng góp, một gia đình hay là một hội đoàn đoàn thể. Anh chị em và bạn hữu xin hãy là một nhà bảo trợ, xin hãy kiếm giúp cho một vài nhà bảo trợ, Ðể Chương Trình Hiểu Mà Thương hoàn tất có thể kiếm được thêm 20K trước tháng 8 này.
Các anh chị em và bạn hữu nhận sự kêu gọi đặc biệt nầy sẽ có trong tay bản đặc biệt CON SÓNG DỮ, sẽ có cơ hội đọc trước CON SÓNG DỮ, để Hiểu Mà Thương cho những mãnh đời tan nát, những số phận nghiệt ngã giáng xuống họ. Con đường trùng tu Barack nối kết những dòng người, dòng đời, mở rộng lòng yêu thuơng…, không phải để xem lại cuốn phim quá khứ được chiếu trong tiềm thức, nuối tiếc cái hạnh phúc không trọn vẹn, nhớ lại nghịch cảnh khổ đau… mà là chúng ta có cơ hội mở rộng trái tim trong niềm thương yêu vô điều kiện đến những đồng bào chúng ta không may mắn trên con đường tỵ nạn và ly tán.
Chúng ta hãy cùng chung một tấm lòng.
Mọi ý kiến và thắc mắc xin email về: liemhuubui@gmail.com
Mọi Ðóng góp một hoặc nhiều bảo trợ, chi phiếu xin đề VKTNVN và gởi về :
The Archive of Vietnamese Boat People 20885 Redwood Rd, # 131 Castro Valley, CA 94546

Ghi chú : Ngoài chương trình đặc biệt này , những ấn phẩm khác vẫn bán với giá bình thường là $15. Mong quý độc giả ủng hộ hết lòng

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI : CON SÓNG DỮ

DSC_2849 (1)
DSC_2850 (1)

đọc để thấy từng nỗi đau dàn trải trên trang giấy, nỗi đau thân phận của một kiếp người…
…đọc để nghe từng tiếng oán than của những linh hồn vất vưởng, những mệnh bạc lang thang trên đại dương không bao giờ đến được bến bờ…
…đọc để kinh hoàng với những thảm kịch con người gây ra cho nhau…
…đọc để xót xa cho những phận người…
CON SÓNG DỮ là một trong những trang sử bi tráng viết lại những đau thương mất mác, gian khổ, hy sinh…trên con đường khổ nạn đầy tuyệt vọng của một dân tộc đã trót mang lời nguyền ly tán …

Vọng tri âm

phamngoclu

Ngọn bút ba mươi năm
Trầm tư u mặc
Văn chương không tri âm
Chữ nghĩa cùn nhan sắc
Muốn học người xưa
Dốc một hồ trường rót về đông tây nam bắc
Đâu giai nhân mà mơ tái đắc
Đâu tâm giao mà trao tình bút mực ?
Gieo một nỗi lòng
Bốn biển thinh không
Mây trói chân trời
Gió dằn mặt đất
Mượn đỉnh núi cao trú hồn kiêu bạc
Ấp mộng ba ngàn đêm
Thơ hóa thân hoàng hạc
Vỗ cánh xuống trời Nam
Bay qua Lữ Kiều lâu
Bay về Nguyên Minh các
Ôi, con chim trần ai lưu lạc
Bâng khuâng đậu xuống đất lành !
Ly tán hơn vạn ngày
Mừng một giờ tái đắc
Dâu bể bao nhiêu năm
Vẫn uy nghi những tấm lòng son sắt
Ngọn bút từ nay không cô độc
Văn chương một thuở chung tình

Chiều hôm cố xứ
Lên núi một mình
Đọc lại đan tâm
Nhờ núi ký âm
Trông vời thương hải
Đọc tam-thập-niên-tràng-thiên-trường-đoạn
Rót một hồ trường không bao giờ cạn
Kết tinh từ ân sủng văn chương
Lòng bỗng thơm ngọn gió trầm hương…

Phạm Ngọc Lư
2004

Nỗi gì thiếu em

tranngochuong

Anh còn gì nữa ngoài em?
Hiu hiu bóng ngã chiều lên gọi ngày.
Ôm nhau tròn một vòng tay,
Cảm ơn đất rộng trời dày bao dung
Có gì từ nhịp tim rung,
Trong hữu hạn, có vô cùng … đó thôi!
Gánh tình em quẩy đến nơi,
Reo vui ngày tháng tuyệt vời tuổi anh.
Bao phen giũ bụi thị thành,
Hóa đôi bướm lạ đậu nhành phù dung.
Thở chung nhịp thở mặn nồng,
Mượn thơ lót gót phiêu bồng rong chơi.
*
… Để rồi đơn lẻ ngậm ngùi,
Quán trưa chỉ một mình tôi … muôn trùng!
Mơ màng đâu đất tạm dung,
Với bao kỷ niệm đã từng nâng niu.
Thương tôi bước trật bước trèo,
Thân cò bì bõm liêu xiêu ích gì?
Men vui đọng mãi vành ly,
Làm sao tôi cạn nỗi gì thiếu em!

Trần Ngọc Hưởng

HẠ PHƯỢNG.

vukhue

Người thiếu phụ trong chiếc áo dài màu tím sẫm đang bước vào chợ. Trạc khoảng tứ tuần, nhưng thoạt trông, nàng có lẽ trẻ hơn. Trên khuôn mặt không trang điểm gì nhiều, vẫn toát lên một vẻ đẹp tự nhiên cho dù hơi buồn. Mái tóc dài ,óng dày, đọng lưng chừng ngang lưng. Và đôi mắt! Đôi mắt đẹp chừng như được thấy sau lớp sương thoáng phớt, áng đọng lại trong tâm thị người đối diện vẻ đẹp thánh thiện, vô phàm….
Hạ Phượng! Lẽ nào lại là nàng…. Cũng không hẳn? Nhưng đúng là nàng. Làm sao tôi có thể quên được người con gái có đôi mắt thật lạ ấy. Thời gian đã bao lâu rồi nhỉ? Lâu rồi. Đủ lâu để hoai rữa một dung ảnh, thay đổi một hình hài, dung mạo, cuộc sống của một con người như tôi. Nhưng với nàng vẫn vậy. Vẫn mái tóc này, đôi mắt ấy, vẫn hiện thân của khung ảnh hoàng hôn đầy sắc tím của mùa hạ và dư âm câu nói của nàng vẫn văng vẳng bên tai. “ Nguyên cũng đừng trách tại đâu Hạ buồn. Hạ buồn vì có nhũng buổi hoàng hôn đầy sắc tím và trong bốn mùa chừng chỉ có mùa hạ mới có điều đó !” Câu nói ấy đã gặm nhấm tâm hồn tôi suốt một quãng đời, bởi lẽ tôi chưa từng hiểu nó, ngay cả lúc tôi mất nàng.
Nhưng nàng tìm gì ở đây. Một phiên chợ chiều gần vãng….
Những bước chân vô tâm một thời đã từng là tiếng gõ nhịp con tim tôi , trên con đường dẫn đến ngôi trường tỉnh lẻ, giờ nó lại vô tình dắt những dòng hồi niệm từ chân trời xa xôi nào đó của ký ức chợt ùa về làm lòng tôi trở nên xốn xang.
Bên kia đường, những cánh phượng đỏ thẫm bị cơn gió thổi tung, va đập vào đôi mắt , tựa những đốm lửa còn cháy âm ỉ trong lò than dĩ vãng tựa đã lụi tàn.

****
Đó là một mùa hạ! Những mùa hạ luôn đến thật bất chợt, không lới báo hiệu. Đôi khi không giọng ngân nga của con ve sầu_ Gã tu sĩ thường niệm hoài để ru mùa hạ vào những cơn mê buồn nhọc nhoài. Một sớm tôi tỉnh dậy , bỗng dưng nhận thấy hàng phượng trước ngõ đã điểm sắc đỏ tự bao giờ. Hạ đến đột ngột thật! Hạ như trỗi dậy từ sự rũ tàn của mùa xuân. Thời gian chừng như thay áo, khoác màu đỏ rực của những cánh phượng dạo chơi đó đây. Đôi lúc , tôi thoáng nhận diện nàng với dáng trầm tư, trên ghế đá công viên hay trên bãi biển vắng người. Có lẽ thưở ấy, tôi là gã thiếu niên khờ khạo hay hoang tưởng. Tôi thường lang thang trên những con đường vắng, nơi có hàng phượng cỗi vươn những cánh tay sần sùi, dáng chai lì như sự thách đố với thời gian. Thân cây đứng đây, bao mùa hạ đã qua. Đã bao lần thân cây hiến tế những cánh hoa đỏ rực của mình cho cội đất, cho ánh mặt trời gắt gỏng mùa hạ, cơn gió nồm vô tình, đám học trò ngỗ nghịch bọn tôi và cả những tâm hồn mơ mộng như nàng.
… “ Em đứng lên gọi tên mùa hạ…’ Người con gái có cái giọng hơi giống Khánh Ly, có đôi mắt thật buồn trong tối văn nghệ hôm nay, đang ngồi cạnh tôi. Có lẽ nàng sẽ không gây cho tôi bất kỳ sự chú ý nào, nếu không có nhạc phẩm “ Gọi tên bốn mùa” mà nàng vừa ca. Thú thực, tôi là thằng mê nhạc Trịnh hơn mê gái. Những dòng nhạc trong điệu Slow hoặc Boston , với tôi, có lẽ dễ gần gũi hơn nhiều so với những thực thể “ Nắng sớm, mưa chiều” trời cho đó!
Nhưng bây giờ , nàng ngồi đó bên cạnh. Tà áo dài trắng. mái tóc dài che một nữa khuôn mặt. những ngón tay gầy vô tâm , xoay xoay một cánh phượng thẫm. Dưới ánh nến chập chờn, nàng như hiện lên từ một bức tranh chì tuyệt tác . hay đúng hơn , cái thực thể lặng lẽ ấy, như vừa thoát thai khỏi một dòng nhạc, đang miên man gọi nắng về của Trịnh…. Rất vô tình, tiếng trumpet đang chơi bên ngoài chợt chững lại, làm hồn người vướng giữa cõi hư thực.
“ _ Làm quen đi Nguyên. Đây Hạ Phượng!” Sau lời giới thiệu của thằng bạn. Tôi mim cười, gật đầu chào nàng. Gần như ở đầu bên kia của một khoảng không gian thật xa, nàng cũng mỉm cười gật đầu. Đôi lúc nghĩ lại, tôi có cảm tưởng âm thanh đó có mang tố chất của định mệnh thì phải. Những sợi tơ vô hình chăng bẫy hai linh hồn, sau khúc ngoặt, dẫn dụ họ về một cửa ngục.
“ Lúc nãy nghe Phượng hát hay thật! Chừng như Phượng thích nhạc Trịnh lắm thì phải?” Tàm tạm với câu hỏi không đến nhạt nhẽo. Tôi đưa mắt sang nàng tìm câu trả lời.
_ Mỗi bài hát đều mang tâm rạng riêng của nhạc sĩ, khi nó trùng với tâm trạng mình thì hát sẽ hay thôi, đúng không anh?
_ Nhưng đâu phủ nhận được tài năng người diễn xuất!
Phải nói trước giờ chưa bao giờ tôi nhả được một câu hay đến vậy. Chắc nhờ mấy cuốn tiểu thuyết tình cảm, mà thằng bạn cho mượn mấy hôm trước.
Nhưng nàng không trả lời, chỉ im lặng. Một nụ cười sẽ thoáng qua vành môi. Nụ cười không hẳn dành cho tôi, mà cho một dòng suy nghĩ lạc lõng nào đó, ẩn trong đôi mắt và niềm vui nhỏ làm nó ánh lên như trăm nghìn mảnh vỡ bị đập nát của chiếc gương phiền muộn, phản chiếu thứ ánh sáng lấp lánh, trên các mặt đa diện của chúng­ _ Thứ ánh sáng lưu tinh trong vũ trụ bí ẩn và thẳm sâu…

****
Đêm ấy, tôi là người được cái diễm phúc đưa nàng về nhà, trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên của đám bạn trai.
Nhà nàng , một ngôi biệt thự nhỏ, nằm lùi sâu trong một con hẻm vắng người. những ngọn đèn đường chừng đã mệt nhoài với thời gian, giờ ủ rũ, hắt xuống chúng tôi những quầng sáng yếu ớt. Đêm trong vắt. Những ngôi sao uể oải trong một đêm oi bức, giương con mắt mất ngủ, thao láo ngó xuống cõi trần. Tôi thả bước cạnh nàng, im lặng. Không gian xao động trong sự im lặng chất chứa những suy nghĩ mông lung từ hai con người.
Rồi bỗng nàng chỉ về một ngôi sao đang rơi:
_ Anh Nguyên! Xem sao rơi kìa.
Một vệt sáng lóe lên , vắt ngang nền trời, rồi chìm khuất, tắt lịm khi rơi vào vùng bóng tối sâu thẳm phía đường chân trời.
_ Ngôi sao của mùa hạ đó! Tôi đùa.
_ Sao anh biết? Nàng lại hỏi lần nữa.
_ Chỉ có ngôi sao của mùa hạ mới mang sắc tím thế kia.
_ Nhưng nó sẽ rơi về đâu vậy anh?
Tôi im lặng. câu hỏi vô tình của nàng bỗng khơi trong tôi một ý niệm. những ngôi sao sẽ rơi về đâu Phượng nhỉ. Chắc nó cũng có con đường của nó…nhưng để nàng vui, tôi bèn nói:
_ Chắc đêm nay nó sẽ rơi vào mắt một cô gái! Ung thành một giấc mơ đẹp!…
Đi bên chẳng hiểu nàng có suy nghĩ gì về câu nói ấy không, chỉ thấy, nàng thả cái nhìn bâng quơ. Bước chân đánh lạc hẳn sang một bên.

****
Tiếng trống tan trường vừa điểm. Tiếng trống cuối cùng của đời học trò vang lên nặng nề, rời rạc. Thật ra nó cũng không gây ra trong tâm hồn bọn học sinh ngỗ ngược chúng tôi tí xúc cảm nào cả. Mười mấy năm khoác màu áo trắng, ghánh cái trách nhiệm nặng nề với những con số tính toán nhức đầu, những bài học dăng dẳng, hôm nay bỗng biến mất một cách màu nhiệm. Thậm chí nhìn mặt những đứa bạn, tôi còn thấy chúng trẻ trung hơn là đằng khác. Đã qua thời những ông cụ non không thuộc bài, ngồi khép nép ở một góc lớp học. Thàng Sơn ngồi cạnh tôi, đang vơ sách vở bỏ vào cặp miệng nhắc:
_ Mau lên mày! Bữa nay đá banh thả cửa nghe!
Ngồi cạnh , tôi đang đưa mắt ngó theo mấy cái bóng hồng bên ngoài, nghe nó nói, cũng tức cười “ Rồi ở đó cho mày đá banh suốt kiếp!”. Nghĩ vậy, nhưng tôi cũng vờ uể oải.
_ Trưa nay tao mắc việc. Tụi mày vui vẻ nghe!
_ Ái chà! Biết tỏng bạn rồi. Lại bận đưa em vào hạ chứ gì? Tao thấy mấy lần. Cảnh cáo lần đầu, lần sau tao hê!
Nói dứt câu, nó vội vã xáh cặp táp nhảy ra ngoài, chạy theo bọn nam sinh trong lớp. Lớp học vắng ngắt. Những đứa con gái cuối cùng cũng đã ra về. Chỉ còn mỗi mình, tôi đưa mắt ngóng ra ngoài, nới có hàng phượng vĩ chạy dọc theo sân bóng chuyền. Hàng phượng đứng im lìm trong nắng. Tứng tán phượng nở bung như lõa sắc đỏ thẫm, lộ mình giữa cái nắng hừng hực của buổi trưa. Ươm chút khoái cảm cho trưa hạ thêm thi vị. Có lẽ một đời phượng chỉ thế! Một khoảng thời gian ngắn ngủi, non nửa buổi trưa hè nắng gắt. Rồi màn chiều nhập nhoạng buông, một khi làn gió vô tình ngoài biển thổi vào. Thổi về đâu không rõ, mang theo những xác phượng thẫm màu, để lại trên khoảng sân này, một khoảng trống vắng, một nỗi buồn mênh mang của hạ.

****
Nàng sinh hạ trong một gia đình khá giả, nhưng chẳng mấy đầm ấm. Tôi có thể tìm thấy ở Hạ Phượng, hai con người khác biệt. Một sống động vui tươi bên tôi và một lặng lẽ có chiều sâu nội tâm, trong gia đình. Nàng không bao giờ nói điều đó, nhưng qua bạn bè và những lần đến chơi, tôi cũng nhận thấy phần nào. Cha nàng_ Một ông già luôn cáu gắt, ít giao tế. Con bệnh nảy sinh từ những thất bạn liên tiếp trên thương trường, dẫn đến sự suy sụp của một thương nhân cao ngạo.Mẹ nàng, một người luật sư có tiếng, đã mất khi nàng còn nhỏ. Người mẹ kế cũng rất đẹp. Một người đàn bà nhẫn nhục, với mọt cuộc đời bị đày đọa trong chứng tâm thần. Nàng có một đứa em gái. Đứa em cùng cha khác mẹ mà nàng rất mực thương yêu. Nhưng rồi cách đây vài năm, cô em gái bị mất trong một tai nạn xe cộ. Sau cái tang ấy, bầu không khí gia đình chừng như bao trùm bởi một sự lãnh cảm nặng nề. Công việc làm ăn thất bại. tài sản tiêu tán. Nàng sống như một chiếc bóng trong sự hiện diện của hai chiếc bóng, dưới không gian của một hầm mộ. Có lẽ niềm vui duy nhất trong gia đình còn rơi rớt lại trên khuôn mặt của người vú già. Nhưng nó chỉ là ngọn nến tàn leo loét. Không đủ thắp sáng một chân dung.
Nàng ra đời trong một mùa hạ, để rồi những mùa hạ lại nối tiếp nhau ra đi, bước qua đời nàng, để lại những nỗi buồn trong tâm hồn người con gái đa cảm ấy.
…” Trẻ thơ ơi! Trẻ thơ ơi! Tin buồn từ ngày mẹ cho em mang nặng kiếp người!” Dòng nhạc Trịnh vọng lại từ đâu đó xa xăm. Lời hát của nàng trong đêm văn nghệ tối nao, cũng hẳn đã diễn tả nỗi đau âm thầm của một sắc hoa ….
****
Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi không gặp lại nàng. Rồi cái tin nàng đi lấy chồng, đến với tôi vào một trong những chuỗi ngày tàn rơi rớt cuối hạ. Chồng nàng, một người đàn ông đã khá luống tuổi, có một đời vợ. Một thương gia khá lớn ở một thành phố. Người ta đồn nàng thất tình nên phẫn đời. Người lại bảo, gia đình nàng mắc món nợ lớn nên ép nàng gán nợ. Mấy đứa bạn nói, tại tính nàng ngạo mạn, tự cao… Với tôi chỉ biết, đó là chuỗi ngày buồn nhất trong đời. Có thứ tình yêu đến khá muộn màng. Nó cố đoái tới những gì mà hôm nay đã là ký ức và sự hiện diện của nó, chỉ nhắc ta với về những khung hình của hoài niệm mà thôi.
Ít lâu sau, ngôi biệt thự được sang lại cho người khác. Gia đình nàng cũng người chồng mới cưới dọn về thành phố. Thời gian trôi dần. Thời gian không già bao giờ, nhưng mỗi con người lại tìm thấy sự già cỗi chính mình khi nhìn lại những cột mốc quá khứ. Cũng vậy. không tránh khỏi những quy luật, những khoảng thời gian tím sẫm sắc chiều của hạ cũng xa dần , xa dần khuất hẳn ngoài tầm hồi niệm. Đời người còn bươn chải về phái trước…

****
Đã hơn tiếng đồng hồ đi qua, từ lúc tôi bước chân vào cái quán nhỏ này. Cốc cafe trên bàn đã cạn. Trên cái gạt tàn nằm gần đó, nằm chỏng chơ gần chục mẫu tàn. Thời gian trôi thật chậm , mệt nhoài nhưng không gột mất vẻ háo hức của một kẻ trong tâm trạng mong ngóng. Tôi đợi một người!
Chiều nào nàng cũng qua đây. nhà nàng là căn hộ hai tầng nằm cuối con đường. Đôi lúc nhìn lên tôi thoáng thấy sự có mặt của hai đứa nhỏ, có lẽ con nàng! Trưỡ nhà có một cây phượng cỗi, xác phượng thẫm rơi đầy trên sân. Sắc phượng hôm nay gợi lóe một tia hy vọng. Chẳng biết là gì nhưng sao vẫn có!
… Hai đứa nhỏ bước vào quán. Chúng ngôi ở hàng ghế phái trước, trông ra đường. Nhìn chúng khỏng 16-17, có lẽ học sinh. Lúc đầu tôi không để ý đến chúng, nhưng cuộc nói chuyện bỗng lôi tôi vào sự quan tâm. Chuyện về một người đàn bà!
“_ Hạ à! Mình luôn ước có một người mẹ như mẹ Hạ. Vừa giỏi giang, vừa đẹp, lại vừa thương con. Mẹ mình ở nhà không được vậy đâu!”
Con nhoe cắt tóc ngắn cũn nói với con nhỏ tóc dài.” _ Nhưng sao thấy mặt mẹ hạ buồn buồn. Không hiểu có vấn đề chi?”
Nhỏ tóc dài trầm ngâm, giọng Huế rặt”_ Mình không biết nữa nhưng mình rất thương mẹ Thu à! Không phải ở nhà chỉ mỗi mình là con gái, nên mẹ mới thương mình như vậy. Đời mẹ mình không trơn tru như người ta tưởng đâu.”
_ Vậy sao? Con nhỏ tóc ngắn thốt lên, ngạc nghiên.
_ Ừ có lẽ vậy! Chẳng ai hiểu nổi nội tâm bà cả, kể cả ba mình. Có thời bà chỉ sống trong thế giới của bà mà thôi. Nhưng từ lúc có tụi mình, cái thế giới đó mất đi, nhường chỗ cho trách nhiệm làm mẹ. Điều này mình cảm nhận, nói ra thế thôi!”
_ Vậy chuyện hôn nhân của ba mẹ Hạ có vấn đề hả? Nó lại hỏi. Kể mình nghe với! Mình hứa không nói với ai đâu.
_ Hứa với mình nghe. tại mình sợ mẹ buồn!
Rồi nó nói tiếp:
_ Sự thật bà không có thời con gái. Cuộc đời bà chỉ tuổi thơ rồi đàn bà. Lúc đi học, bà biết ông ngoại mắc mộ món nợ khá lớn, nên chấp nhận lời cầu hôn với người gia ân, tức ba mình. Thu nghĩ coi, ở lứa tuổi học trò như mình , ai không đau khổ khi mang tâm trạng đó chứ. Nhưng bà vẫn chấp nhận để cưu mang gia đình . Ngày đó mẹ thường trách do số phận. Một khoảng thời gian khá lâu, bà vẫn sống trong thế giới lập dị của riêng mình. Tất nhiên phần nội tâm , còn bên ngoài bà vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của người vợ trong gia đình. Từ khi sinh mình, bà mới bù đắp được được sự trống trãi của tình cảm bằng tình mẫu tử_ Bà nói, bà sợ sinh con gái vì e cuộc dờ nó, sẽ giống bà.
Con nhỏ tóc dài dứt lời, ngồi lặng thinh.
_ Vậy mẹ Hạ chưa yêu ai trong đời à?
_ Có một người. Mình nhớ có đoạn thư bà viết ..Nguyên cũng đừng trách, tại đâu hạ buồn, hạ buồn vì có những buổi hoàng hôn đẫy sắc tím. Trong bốn mùa chỉ có hoàng hôn của Hạ mới mang sắc tím thôi!
Tim tôi như nhói lên. Cái nhói đau bất thần lan nhanh. Những mạch máu như ngừng đập. Trên tay mẫu tàn thuốc đốt rộp ngón tay lúc nào không biết. Cái dung ảnh duy nhất mà tôi bắt gặp là khuôn mặt của con nhỏ tóc dài quay lại. Một đôi mắt! Đôi mắt hệt như mắt nàng. Đôi mắt Hạ Phượng!

****
_ Ông có bị sao Không? Giọng nói vẳng lại.
Tôi mở mắt ra. Cái quán vắng ngắt. Hai đứa nhỏ bỏ đi rồi.
_ Không ! Không sao! Tôi đứng dậy , trả tiền nước, bước ra trong cặp mắt ái ngại của ông chủ quán.
Bên ngoài, màn chiều đã buông. Không khí dễ chịu hơn với ngọn gió man mác. Hôm nay trong sự khẽ khàng hiếm thẫy, chúng chỉ gây một sự lay động trên những cánh phượng thẫm, rơi đầy trên đường. Hoàng hôn hôm nay không tím. Có lẽ không có những cụm mây tối màu nơi phía góc trời. Hoàng hôn đỏ lựng một màu xác phượng….

VŨ KHUÊ

DẤU XƯA

truongdinhphuong

Gửi hồn về bến hoang khơi
mái tình năm cũ neo lời bơ vơ
con trăng mù miết đôi bờ
lật mùi cỏ dại khóc hờ sắc xưa
giơ tay níu gió nghịch mùa
chạnh nghe
năm tháng như vừa ly bôi.

Trương Đình Phượng

Trương Chi Dị Khúc

nguyenlienchau

Tiếng đàn rơi cứa lòng đêm
Trăng chìm dưới đáy sông lềnh âm ba
Trương Chi đòi cụng ly ta
Ô hô, chuyện lụy đàn bà hóa hay!

Tiếng đàn mê muội tỉnh say
Ly tình quá nhỏ buồn này quá sâu
Ngỡ rằng anh chết không đâu
Tiếng ngàn năm, tiếng ngàn sau nhắc hoài

Cụng cùng anh nỗi bi hoài
Trôi đi tiếng hát nhạt phai tiếng đàn
Ừ thì cũng một âm vang
Nuối gì mà níu trăng ngàn đêm nay

Cạn nào, cho hết đắng cay
Anh còn tiếng hát ứ đầy Mỵ Nương
Riêng ta một mảnh trăng suông
Cũng chìm nghỉm giữa mù sương khói đời

Hát đi phách điệu đang mời
Sông tình nhỏ lắm cố bơi đừng chìm
Cái ly con rượu còn nguyên
Uống rồi hát ngợi ca tim đàn bà

Tiếng đàn rơi chạm xót xa
Tiếng tình rơi khắc vào ta
nổi…
chìm…

Nguyễn Liên Châu