CƯỠI NGỌN SẤM 25

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 20: Một mắt nối trong sợi xích

“Bất cứ ai trong chúng ta, trong cả cuộc đời sẽ có lúc tựa như được vỗ vào vai và được hưởng cơ hội để thực hiện một điều nào đó thật đặc biệt, độc nhất và thích hợp với tài năng của mình. Thật là một điều bất hạnh nếu người đó chưa kịp chuẩn bị hay chưa đủ sức để biến thời điểm đó thành những giây phút tuyệt vời nhất trong đời họ.”
Winston Churchill

Trung Tâm Hành Quân Chiến Thuật (TOC)
Sư Đoàn 3 Bộ Binh QLVNCH
Căn cứ Ái Tử, Vùng 1 Chiến Thuật
Việt Nam Cộng Hòa
Chiều ngày 31 tháng 3 năm 1972

Viên Đại tá Quân Lực Hoa Kỳ, vị cố vấn trưởng cho Chuẩn tướng Vũ Văn Giai Tư lệnh Sư Đoàn 3 Bộ binh Quân lực VNCH đã hết sức bận rộn. Đi sát như bóng với hình cạnh một người mà tài chỉ huy đã được phần lớn người Mỹ đánh giá là tài ba, xông xáo, can đảm và thẳng tính, viên Đại tá theo ông Chuẩn tướng khắp mọi nơi ông có mặt. Với tất cả các đơn vị của Sư đoàn 3 đang tham chiến toàn bộ trong những ngày giờ đầu của cuộc Tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa, ý định của ông Giai là đích thân đi thị sát tất cả những đơn vị này, ủy lạo các sĩ quan chỉ huy dưới quyền và toàn bộ binh sĩ để động viên tinh thần chiến đấu của họ mà cho tới lúc này có vẻ như không được khả quan lắm.

Đồng thời với nhiệm vụ cố vấn cho tướng Giai, viên Đại tá cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về sự hoạt động hữu hiệu của toán cố vấn Hoa Kỳ đối với các cấp chỉ huy Việt Nam thuộc Sư đoàn 3 trực thuộc Trung Tâm Hành Quân Chiến Thuật (TOC, cũng thường được gọi tắt là Trung tâm Hành quân) Ái Tử, còn có tên gọi là Toán 155 nữa. Suốt một ngày rưỡi đi theo tướng Giai, viên Đại tá không thể nào không nhìn thấy các khó khăn và sự căng thẳng càng lúc càng nhiều đè nặng lên vai những người đang cố gắng hết sức để điều hành công việc tại đó.

Trung tá Gerry Turley đang từng bước đảm nhận trách nhiệm chỉ huy TTHQCT của SĐ 3 BB và Toán 155 mà không phải lạm quyền hay lấn át người khác. Turley không thực sự để ý mình đang làm chuyện gì mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tái lập lại trật tự từ cái mớ hỗn loạn đang xảy ra. Qua việc ép buộc và phục hồi theo ưu tiên mà ông và Đại úy J.D. Murray đã thực hiện đối với các TQLC Việt Nam, ảnh hưởng và tác động của họ tự nhiên cũng lan dần ra khắp Sư đoàn 3 Bộ Binh.

Trong giai đoạn này của cuộc chiến, sự hiện diện của người Mỹ trong Vùng 1 Chiến Thuật hầu hết chỉ hạn chế trong vai trò cố vấn và yểm trợ về tham mưu mà thôi. Giá trị lớn nhất mà họ mang đến là sự phối hợp và ứng dụng hỏa lực trong thời điểm này trở nên vô cùng quan trọng. Chẳng mấy chốc, tài năng của Gerry về phối hợp hỏa lực yểm trợ đã được đưa vào cuộc thử thách trên chính ông và trên nhóm người tạp nham mà ông đang cố tập hợp lại với nhau. Công tác nặng nề này được đặt trên vai một viên Trung tá trẻ thay vì một vị tướng với đầy đủ nhân viên đã nói lên tính chất nguy kịch và sự chuyển hướng tệ hại của tình hình chiến sự.

Sự kiện Gerry được đặt vào vị trí chỉ huy trong một chiến dịch đặc thù của quân đội, mà lại là quân đội VNCH nữa, thật là một điều không thể tưởng tượng nổi ngay cả trong suy nghĩ của ông ta. Ngay cả những ai chỉ lõm bõm chút ít kinh nghiệm trong công tác tiến hành các cuộc hành quân và hoạt động của các ban ngành đều không hề nghĩ tới chuyện giao cái trách nhiệm nặng nề này, dù chỉ là tạm thời, cho một tay TQLC thật ra chỉ là ghé qua chơi.

Chuyến đi của Turley theo dự định chỉ là một chuyến khứ hồi cuối tuần trong bốn ngày, bay đi Vùng 1 Chiến Thuật rồi về lại Sài Gòn để nhận nhiệm vụ phụ tá cho Trưởng Cố Vấn Quân Sự TQLC Việt Nam. Gerry Turley chỉ đi đến đó để kiểm tra một vài công việc, tay bắt mặt mừng với các thuộc hạ, giao cái túi thư từ quan trọng và cảm nhận về những gì đang xảy ra thực tế ngoài chiến trường. Turley chẳng khác nào là một quan sát viên không chính thức, gần như là một khách du lịch không hơn không kém theo các tiêu chuẩn quân đội.

Gerry Turley, cái gã mà 23 năm về trước đã gia nhập đội quân trừ bị TQLC Hoa Kỳ chỉ để chơi bóng rổ và kiếm chút tiền tiêu vặt, bây giờ đã trở thành thành viên hết sức cốt cán của tổ chức TQLC. Khi ông đáp xuống Vùng 1 Chiến Thuật, thật giống như ông vô tình bước vào một cái vận động trường có giải Super Bowl bất ngờ được bày ra mà chỉ có đối phương mới biết khi nào sẽ đấu.

Mặc dù các huấn luyện viên cho đội nhà đầy rẫy trong TTHQCT, tình hình lại giống như ông chủ đội banh đã quyết định chỉ vài giây trước hiệp nhất, thay vì lấy những tay chơi nổi tiếng có sẵn, lại chọn một tên bá vơ làm đấu thủ để phối hợp tấn công, với ý định mang lại nguồn sinh lực mới lạ vào một trận đấu đễ rồi như có vẻ sẽ cầm chắc là bị thua.

Nội trong vòng vài giờ đồng hồ khi cuộc Tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa bắt đầu, viên sĩ quan phụ trách TTHQCT đã tỏ dấu hiệu lo lắng và thường xuyên cáo lỗi vắng mặt trong lúc mọi người vẫn thi hành nhiệm vụ của họ. Chưa đầy 18 tiếng đồng hồ sau, ông Đại tá chỉ huy gọi ông này vào làm việc riêng. Chính Gerry cũng không được biết. Ra khỏi phòng họp, ông Đại tá tiến thẳng đến Trung tá Turley và hỏi ông, thực ra là ra lệnh trực tiếp cho ông tạm thời đảm nhận trách nhiệm toàn bộ các hoạt động trong TTHQCT; ít nhất cho tới khi nào một sĩ quan thâm niên hội đủ tiêu chuẩn có thể đáp trực thăng từ Đà Nẵng hay Sài Gòn tới, hoặc tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Làm sao Turley có thể nói gì được nữa? Ông không có đủ thời gian và tư cách để mặc cả các điều kiện của mình. Bọn bộ đội Bắc Việt như bầy chó sói hung dữ đang hổn hển bên ngoài, còn căn nhà sắp sập rồi.

Ngay từ lúc đầu, và chẳng mấy chốc sau, kéo dài thành hàng giờ và hàng giờ đồng hồ liên tục tại các cứ điểm trên khắp vùng phi quân sự, từ bờ biển phía Đông nơi sông Bến Hải đổ ra biển Đông tại căn cứ Alpha 2, qua hướng Tây tới biên giới Lào và kéo xuống phía Nam cho tới căn cứ hỏa lực Sarge, cùng với hàng chục cứ điểm khác nằm ở giữa, có tới hàng ngàn và hàng ngàn quả hỏa tiễn, đạn pháo binh và bích kích pháo nã xuống chính xác vào tất cả các mục tiêu mà quân Bắc Việt cho là có giá trị về mặt quân sự hoặc có thể gây kinh hoàng cho thường dân.

Làm tăng sự trầm trọng của các khó khăn và thêm sự mù mịt của chiến trường là những sự hỗn loạn đang hiện diện gây ra cản trở trong thông tin liên lạc. Mây thấp dày đặc đã làm giảm đi hoạt động yểm trợ chiến thuật của không quân. Ngoài ra một số vấn đề phát sinh từ sự bối rối và sĩ diện của chỉ huy Quân lực VNCH đã khiến cho việc báo cáo các sự kiện bị chậm hẳn lại. Mặt khác các bộ phận khi nhận được các báo cáo chậm trễ đó, cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng cố tình không muốn tin vào cái tai họa đang xẩy ra.
Trong cái tích tắc biến đổi từ một người ngoại cuộc vô tình thành một người có toàn quyền trách nhiệm đối với những gì còn sót lại trong một tình huống quân sự có vẻ như đang tồi tệ dần một cách nhanh chóng, Turley không có thời gian để mà tự thương hại hay nghi ngờ gì nữa. Ông chấp nhận cái số phận đã an bài. Ông chỉ có thể hành động những gì ông có thể làm được. Ông đâu có muốn bước vào cái đấu trường đó. Nó tự dưng bao trùm lấy ông và Turley hiện giờ đang nằm ngay trọng điểm cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Trong các cuộc giao tranh đang diễn ra khắp nơi tại Vùng I Chiến Thuật, tất cả các chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ hiện diện đều mặc nhiên nằm trong trung tâm điểm của các đấu trường cá nhân và chiến đấu cho sự sống còn của chính họ.

Điều hiển nhiên đối với Gerry là ông ta và những người khác đã phải dấn thân hoàn toàn, dù có muốn hay không, vào một trận đánh cho chính mạng sống của họ. Không còn thời gian để chuẩn bị nữa. Không có những giây phút để nghỉ ngơi hay hồi sức, không có cả thời gian cho một bữa ăn cuối cùng giống như các TQLC Hoa Kỳ đã được hưởng trước khi họ lao vào các cuộc đổ bộ đẫm máu trong Thế Chiến Thứ Hai. Đối với Gerry, tất cả những gì đã hun đúc lòng quyết tâm và cá tính trong 42 năm cuộc đời ông, tất cả những gì đã xẩy ra trong đời binh nghiệp TQLC từ 1949 đến nay, theo ý nguyện riêng, đã đầy đủ để đối đầu với các thử thách mà ông đang phải trải qua. Điều này cũng giống hệt những gì mà bất cứ người nào khác, Mỹ cũng như Việt, giờ đang bị đẩy vào cuộc chiến ngoài ý muốn của họ.

Bên trong cái khoảng khắc vĩnh cửu đó, Gerry nhớ lại một đoạn thơ tứ tuyệt từ một bài thơ các sinh viên Học viện Hải quân phải học thuộc lòng từ thuở xa xưa ấy. Được kể lại từ một người bạn tốt nghiệp trường Hải quân Annapolis tại Okinawa khi hai người còn là Đại úy vào năm 1959, bây giờ Gerry nhớ lại lời kêu gọi giản dị đầy cảm xúc:

“Bằng vào sức dẻo của một mắt xích trong sợi cáp
Sức mạnh của cả sợi xích trông cậy vào đó
Nào ai biết khi nao bạn bị thử lửa?
Xin hãy sống sao để chịu được sức căng!”

Trung tá Gerry Turley tự nhủ sẽ tập trung toàn bộ sức mạnh tinh thần và thể chất để bảo đảm mắt xích nối của ông sẽ không bị đứt đoạn.

Sau hơn một ngày mở màn của cuộc tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa, chẳng có điều gì có thể làm cho Trung tá Gerry Turley, một sĩ quan mới của TTHQCT Ái Tử có thể lạc quan nổi. Các lực lượng VNCH bắt đầu bị tan rã trước sức tấn công không ngừng của kẻ thù. Tại mọi vị trí mà QLVNCH và TQLC đụng độ với kẻ địch suốt một chiến tuyến dài 15 dặm, họ đã chịu đựng những cơn pháo kích với cường độ chưa từng thấy bao giờ. Đằng sau bức màn lửa tưởng chừng như là vô tận, mọi vị trí chính yếu của quân bạn gần sát với khu phi-quân-sự đã chịu sức ép của những đợt tấn công đại qui mô của bộ binh địch quân đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cùng với quân số vượt trội. QLVNCH phản pháo kém hiệu quả, và vì thời tiết xấu, không quân yểm trợ cũng không có, khiến quân Bắc Việt được tự do tràn xuống và chỉ gặp sự chống trả yếu ớt. Nguồn yểm trợ đáng tin cậy duy nhất là hải pháo thì chỉ có tác dụng đối với các đơn vị nằm sát bờ biển. Vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, Chiến hạm USS Buchanan (DDG-14) là chiếc duy nhất có mặt sẵn sàng để yểm trợ. Nhằm tạo một hoả lực tối đa để bảo vệ quân bạn, Hạm trưởng Chiến hạm Buchanan đã bất châp nguy hiểm, cố gắng đưa tàu sát bờ để kéo dài tầm yểm trợ vào sâu hơn trong đất liền. Chính chiếc Buchanan cũng làm mục tiêu cho trọng pháo trên bờ của quân Bắc Việt nhắm bắn với ý định diệt luôn nguồn yểm trợ hỏa pháo hữu hiệu duy nhất mà các lực lượng VNCH còn trông cậy vào. Chiến hạm Buchanan không hề nao núng và, miễn là còn súng và còn đạn, đã tiếp tục yểm trợ liên tục cho quân bạn. Vài ngày sau, có thêm nhiều chiến hạm khác đến tăng cường yểm trợ cho nhiều đợt hải pháo.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

LƠ NGƠ MÂY , KHÓI

vungocgiao

quán khuya
đốt thuốc lặng thinh
nghe, trời đất lạnh
giật mình ngớ ra
dường như giữa cõi ta bà
vô ưu vẫn hát lời ca vô thường
rong chơi- ta với cội nguồn
lơ ngơ khói quyện, mây đùn dưới chân!

vũ ngọc giao

Mười Năm

nguyenducbatngan

mười năm con xa xứ
mười năm con lạ lùng
ôi một thời nắng nhạn
ôi một thời thương mong

mười năm con xa xứ
mẹ còn chong đèn khuya
tìm con, chim lẻ bạn
giữa đường bay phân chia

mười năm con biệt xứ
mười năm con lưu đày
mười năm thương nhớ mẹ
mười năm còn ai hay

bên đời sương vẫn biếc
có che thời long đong
trên trời sao thắm thiết
còn vắt ngang bụi hồng

tự một lần ảo diệu
tự một lần ưu mê
giờ ta, thân thất thoát
ôi mười năm xa quê

nghìn xưa chim hót nghẹn
còn lẻ bạn chưa về
cho dù ta có hẹn
cũng trông vời nhiêu khê

mười năm mười năm trông
mười năm mười năm mong
ta vẫn đời bão loạn
ta vẫn hồn vị vong

từ một lần hoạn nạn
cắn răng quên hẹn thề
ta chim trời lẻ bạn
giữa đường bay điên mê

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

BỠN CỢT VỚI NGƯỜI NỔI TIẾNG

thuyvi

Xưa, người Thầy trong mắt học sinh là : nghiêm trang, uyên bác và tự trọng.
Thời nay,
Ông thầy trong mắt nhiều người là :… bệ rạc !
( nhân chuyện thầy hiếp dâm trò )
Mời đọc lại…( trong BỠN CỢT VỚI NGƯỜI NỔI TIẾNG – thụyvi )

Con gái Saigon đi học, hình như đứa nào trên tay cũng cầm những cuốn thơ tình, triết lý, văn chương… Chứ mấy ai đọc truyện quê mùa của cụ Hồ Biểu Chánh.
Ấy vậy, thời này, đâu cần phải chờ bước qua tuổi ” tri thiên mệnh ” hoà đạo Trời mới nhận ra một xã hội đầy chán chê, tồi tệ, và càng ngày càng tồi tệ…..
“…. Hiện nay sự tồi tệ của mình nó tràn lan cùng hết, từ trong gia đình ra tới ngoài xã hội. Trong nhà trường, thì học trò không biết cung kính mang ơn thầy, mà cũng khổ, có nhiều thầy không biết kính trọng cái thiên chức giáo dục, coi môn đệ là kẻ nạp lương cho mình xài mà thôi. Trong gia đình thì vợ không biết kính trọng chồng, mà nhiều ông chồng cũng không biết thương yêu vợ; con không biết ơn sanh thành dưỡng dục, mà nhiều cha mẹ cũng không cần dạy dỗ con; anh không biết thương em, mà em cũng không biết kính trọng anh, còn xã hội thì quá lắm, mọi người đều đuổi theo một chủ nghĩa này: “Kiếm tiền cho nhiều đặng ăn xài cho ngỏa nguê sung sướng” kiếm tiền mà không ưa cần lao, dùng phương chước tốt xấu gì cũng được, miễn là được đồng tiền là thôi, không kể nhơn nghĩa, không kể liêm sỉ, không kể danh dự.”…
Cụ Hồ Biểu Chánh mà sống lại, cụ sẽ vô cùng ngỡ ngàng vì lời cụ đặt trên miệng ông Huyện Hàm Tân trong tác phẩm Cư Kỉnh vào năm 1941 không…xi nhê chút nào với xã hội Việt Nam thời Cộng Sản hôm nay. Và, những câu chảnh choẹ khó nghe của các bà Phủ tiểu thư con nhà ngày xưa cũng thua xa các bà Phủ thời hiện đại gốc bần cố nông, ít học, nhưng hãnh tiến một cách trơ trẽn hợm hĩnh với những thú xa hoa ngập ngụa trên đống tiền từ những thủ đoạn đến thần thánh cũng chào thua.
Ngay cả những ông thầy dạy học, người, vốn được xem là biểu tượng của đạo lý truyền thống cũng không ngượng ngập khi tuyên ngôn về triết lý sống theo thời bằng cách: Gạ tình, dâm ô với học sinh hầu đổi điểm, chèn ép đồng nghiệp đủ trò dơ bẩn.
Vào năm 1935. Nhân vật Hà Tấn Phát trong Ăn Theo Thuở Ở Theo Thời đã song tàng “Thiên hạ cư xử thế nào, em cũng cư xử theo họ như vậy. Tuy vậy mà dầu làm theo thiên hạ chớ cái gốc đạo đức em vẫn nắm vững bền, cái lòng nghĩa nhân em vẫn nuôi kỹ lưỡng. … Đối với thiên hạ thì em cũng là một thằng điếm trong xã hội này như họ vậy, nhưng mà
thằng điếm có lương tâm, có nhơn nghĩa. Cái mệnh đề “Thằng điếm có lương tâm có nhơn nghĩa” đời Cộng Sản làm gì có, sau năm 1975 xã hội từ Nam chí Bắc nói đến nhân nghĩa là một điều chua chát, thậm chí có những đứa trẻ tù mù về danh từ này. Ngữ vựng trong đời sống là, ăn chơi, thần tượng, hàng hiệu, người mẫu, hoa hậu, lộ hàng, sex, bán dâm, đĩ đực… Và, nếu giở báo ra xem, hoặc liếc qua những trang điện tử sẽ thấy toàn: Vú, mông, khu, đít, đùi, hoặc những tin tức thật ” hot” nhan nhản đủ kiểu con giết cha, vợ giết chồng, hiếp dâm cụ bà, cha lấy con, vợ đốt xác, chặt, chém, giết, băm, vằm …Thật lạnh xương sống!
Giờ, nếu có hàng trăm cây bút như cụ cũng chưa chắc cảm hoá được xã hội này, huống chi hàng chục ngàn cây bút Việt Nam đang chọn cách viết như loài đà điểu.

thụyvi

Có một ngày trong ngăn sách cũ

dotrungquan

có một chiều như thế trong đời
trên vai tôi nàng khóc
có một chiều mưa của khắp thế gian
lặng trong một giọt nước mắt

có một chiều như thế trong đời
muối của mọi đại dương
trên lưỡi tôi
khô đắng

có một chiều như thế
mọi màu tím của hoàng hôn
tím như không thể tím hơn được nữa
run rẩy
chùm hoa nhỏ
tay nàng

có một ngày cộng tất cả ly tan
thành lặng im thảng thốt
có một chiều trong ngăn sách cũ
tình cờ
còn nguyên vẹn một điều gì
đã mất

Đỗ Trung Quân

LẨN TRONG MƯA HUẾ

nguyenlamthang

Ngày rục rã ăn thành xưa quách cũ
Mưa tha hương xé mây xám tơi bời
Thơ phải chết mấy ngàn lần mới đủ
Cho nhân gian được nói tiếng con người?

Trời u ám giết tàn cây dĩ vãng
Gió quất roi trên nóc Quan Tượng đài
Một ông lão tay kéo quần rách háng
Rúc đầu vô thùng rác lượm ve chai

Phố rả rích những hột mưa dai nhách
Gánh rau chiều úng nát, cố đô ơi!
Ngự hà hỡi! Sen đã tàn trơ xác
Lục bình xoay một kiếp, bao giờ trôi?

Chiều chưa cạn, mà hoàng hôn đã vỡ
Hồn khói bay hiu hắt nhánh ngô đồng
Ta khựng lại, ngó mùa đông ngợp thở
Dội nỗi buồn vào họng súng thần công.

(Đại Nội, 16/12/15)
nguyễn lãm thắng

Giấc mơ trôi về đâu…

tranthitrucha

Hắn là đồng nghiệp của tôi ngay từ khi tôi mới ra trường, hơn tôi 4 tuổi, nhưng tôi lỡ dại ” hổn” nên “mi tau chí tớ” .
Thật ra cũng tại hắn hiền ( nhưng không lành đâu nhé), lại hay rủ tôi la cà cùng hắn. Rồi hắn dạy cho tôi ” thọt ” bi da và gạ tôi cho mượn tiền để đánh số đề.
Tôi cười muốn đau ruột khi hắn dạy cho tôi tư thế tuyệt chiêu “chó đái” của bi da, tôi tập hoài không được bèn bảo hắn:
Thôi chiêu “chó đái” để cho mi , dạy cho ta chiêu dễ dễ thôi .
Hắn ngoan ngoãn vâng lời, không ép tôi học chiêu khó nữa.
Rồi hắn lại tiếp tục xoay ra mượn tiền của tôi để đánh số đề, tôi hỏi hắn :
Sao mi mê số đề dữ vậy ?
Tại hôm qua tao mơ thấy …
Mệt mi quá, đêm nào mi chả mơ.
Thật vậy, hắn đánh đề theo giấc mơ của hắn không trúng, chuyển sang đánh vào giấc mơ của tôi.
Mới bảnh mắt, hắn đã chộp cổ tôi ngay ở sân trường tra tấn :
Đêm qua mi mơ thấy gì ?
Tôi cũng thật thà khai báo với hắn, khi thì tôi thấy mình lang thang ngoài bãi biển, khi thì tôi lạc vào một vườn hoa, khi tôi bị rắn cắn, khi thì nhà tôi bị trộm đột nhập, tôi nhìn thấy mà miệng cứng không kêu lên được, khi thì tôi được ngồi trước một mâm thức ăn thật ngon, bụng đói cồn cào chưa kịp ăn bị đánh thức dậy vì mặt trời đã nhe cười… Nhưng có hôm tôi nổi cáu với hắn:
Mệt quá, giấc mơ đêm qua không thể kể cho mi nghe được.
Hắn năn nỉ thảm thiết :
Kể đi mà, mơ cái gì ta cũng đoán ra số được.
Tôi đành thú thật với hắn:
Đêm qua… Ta mơ thấy ta… Ị trong quần…..
Tôi tưởng đâu hắn chịu thua với giấc mơ này vậy mà hắn tỉnh bơ:
Tốt lắm ! Số 91 …
Trời đất ! Cũng có số hở cha ?
Chứ sao !
Vậy là tôi lại phải cho hắn mượn tiền để đánh con số 91.

Ôi số đề !
Bây giờ tôi mới hiểu khi người ta chới với trong nghèo túng thì số đề cũng là cứu cánh cho mơ ước hão huyền mà hắn đã nương nhờ để tồn tại .
Vậy mà tôi với hắn chẳng còn gặp nhau nữa.
Cuộc đời đã đẩy tôi và hắn đi về hai hướng…

Ngày đó, hắn còm nhom, trước sau như một, bạn bè thấy tôi đánh đôi với hắn cũng phì cười:
Hoàng tử “Đép lít” của mi thật “chung Thuỷ” ?
Tôi thản nhiên gật đầu, làm bạn với hắn vô hại.
Hắn chẳng bao giờ tán tỉnh tôi, cũng không bao giờ nói xấu, ganh tị, cần giúp gì hắn giúp đỡ tận tình, đến nơi đến chốn.
Nhưng hắn có quá nhiều bịnh, tội nghiệp! Thời tiết thay đổi, mặt hắn nhăn như khỉ ăn ớt, hắn bị viêm dạ dày, ăn thì ít mà hút thuốc thì nhiều, đã thế hắn còn có thêm bệnh “hoa hậu”. Tôi hỏi hắn bịnh đó như thế nào , hắn cáu :
Không biết thì thôi, hỏi gì hỏi lắm .
Tôi vẫn biết, sau những giờ lên lớp, hắn tranh thủ đi xe đạp thồ, đó là nguyên làm bệnh của hắn càng ngày càng nặng.
Những lần bệnh nặng hắn nhập viện là tôi phải dạy thay cho hắn, mệt bở hơi tai. Vào bệnh viện thăm hắn tôi nhăn nhó:
Đau gì đau hoài, dạy thay mệt quá.
Hắn cười gượng gạo như biết lỗi:
Tại đau quá, không ngồi được, làm sao lên lớp dạy.
Mà đau chỗ nào? Đau làm sao ?
Thì… Mi cứ tưởng tượng nó như cái volum máy radio casette vậy…nó nở ra như cái hoa nên người ta gọi là …hoa hậu.
Ta chịu! không tư duy trừu tượng được phải có trực quan ta mới hiểu.
Trời đất ta làm sao cho mi xem được, mệt mi quá, thôi mi về đi, mai ta lết đi dạy.
Thấy hắn chùng bùng cái mặt thật buồn cười, tôi đành dỗ hắn :
Thôi ta không muốn xem cái hoa hậu của mi nữa đâu, mi lo chữa bệnh cho hết rồi về đi dạy lại.

Rồi tôi chuyển về trường khác , hắn ở lại buồn xo !
Hắn đưa tôi đến trường mới trình quyết định và dặn dò :
Ta ngồi ở quán cà phê cóc đằng kia chờ mi, cứ mạnh dạn, tự tin lên không sợ gì hết.

Tôi về dạy ở ngôi trường mới khang trang gần trung tâm thành phố, nhưng lúc nào cũng thấy buồn buồn vì không còn có hắn bên cạnh. Chẳng còn ai quan tâm đến giấc mơ của tôi mỗi ngày, chẳng còn ai để ta bà quanh những ngóc nghách phố phường tìm những quán bi da im vắng…
Tôi nhớ trường cũ, nhớ hắn nên tìm về.
Khuôn mặt hắn rạng rỡ hẳn khi kể cho tôi nghe về những điều may mắn.
Hắn đã đánh liều cầm đơn đến nhà cụ Bá xin đất làm nhà.
Cụ Bá hay thật, chẳng biết đất ở đâu mà hễ thấy thương ai là cụ cho.
Chắc nhìn thấy bộ dạng còm nhom của hắn, thêm đôi mắt nâu ướt rượt lúc nào cũng như sắp khóc và miệng cũng mím chặt như sắp mếu … Cụ không đành lòng mà từ chối hắn.
Lâu nay vợ chồng con cái hắn vẫn trú tạm sau lưng một ngôi chùa, ngôi nhà gỗ tạm bợ bập bềnh trên mặt hồ đầy lục bình tím ngát.
Có đất làm nhà, vợ hắn mở quán cà phê cóc buôn bán. Hắn đổi đời rồi, tôi mừng cho hắn lắm nhưng vẫn không quên hỏi dò la:
Vậy còn mê đánh đề và bi da không ?
Còn chứ, sao bỏ được . Mỗi sáng ta giả vờ bưng bê thu tiền giúp con “dợ” để tranh thủ chôm chút đỉnh đánh đề và “thọt”. Không có mi, đâu có ai cho ta mượn tiền.
Bó tay !…

Cuộc đời của hắn càng ngày càng phát triển theo chiều hướng đi lên.
Lần sau về trường cũ, hắn lôi tôi đến ghế đá dưới gốc bàng thầm thì về kế hoạch, dự án, mô hình…mà hắn sắp thi để làm cán bộ cao cấp. Hắn chán dạy rồi, muốn làm lãnh đạo.
Ôi mẹ ơi, thằng bạn thân chí cốt mê đánh đề và bida của tôi.
Tôi lửng thửng dắt xe ra khỏi trường cũ trong cái nắng nóng như thiêu như đốt, cảm thấy bức bối nghẹt thở.
Và đó cũng là lần cuối cùng tôi quay về trường cũ.
Giấc mơ của hắn đã thành hiện thực.
Hắn có tài biến hoá thế nào thì tôi không không biết nhưng nhìn bộ dạng cố tỏ vẻ trịnh trọng của hắn thì thật buồn cười. Hắn vẫn gầy nhom, đôi mắt nâu đen vẫn hiền, miệng hắn cố mím chặt hơn, hình như hắn sợ tôi chọc ghẹo làm hắn phì cười. Hắn đọc thơ tặng tôi nữa mới ghê chứ:
” xênh xang áo mão công hầu
Mà không quên được những ngày lông bông…”
Không hiểu sao lúc đó tôi nổi cơn khùng bất tử, hoàn toàn không có cảm giác ghen tị mà chỉ thấy tiếc thằng bạn. Hắn đã đi con đường của hắn, còn thời gian đâu nữa mà lông bông cùng tôi. Không kìm nén được nên tôi đã xả “hổn”:
Áo Mão công hầu…con khỉ mốc … Chẳng qua…nước lụt…
Hắn trợn mắt nhìn tôi một lát, rồi lặng lẽ quay lưng đi thẳng
Tôi ứa nước mắt, tôi biết rằng đã mất hắn.
Bãi biển đã biến thành nương dâu…
Giấc mơ của tôi
Giấc mơ của hắn
Bây giờ đã trôi về đâu ?!….

SÓNG VỖ

phamngoclu

từ khi mưa nắng đổi thay
đất trời dị biệt gió mây bất đồng
người bờ Tây – ta bờ đông
ngồi nghe sóng vỗ bạc lòng ngày đêm
giờ này phương ấy nắng lên
ở đây ta đốt ngọn đèn soi ta
giờ này phương ấy nắng tà
ở đây thao thức tiếng gà tàn canh
nằm mơ biển ngọt dỗ dành
tỉnh ra tâm sự kết thành muối khô
từ khi Tý Ngọ khác giờ
đêm không đồng mộng đành mơ… mộng ngày
lòng ta uống gió mà say
tan ra cồn khói đảo mây chập chờn
biển sâu? ly biệt sâu hơn
muôn đời sóng vỗ mỏi mòn bến không
mỏi mòn tiếng sóng nghe chung
bờ Tây tóc rụng… bờ Đông bạc đầu!

Phạm Ngọc Lư

GIÁNG SINH .

nguyentancu

Đừng chạm môi vào những ngày u ám
Hãy uống cạn nỗi buồn
Nuốt vào trong lòng mùa đông buôt giá
Những cái chết chỉ là khởi đầu
Giáng sinh cũng chỉ là khởi đầu.

Đất đai mùa màng và những cây thông
Khởi đầu cho một đêm hoan lạc
Các thiên thần thánh ca
Những con quỉ mỉm cười
Những con tuần lộc phi nhanh về phương bắc
Xe kéo đầy quà…

Đừng chạm môi vào những phiền muộn
Hãy uống cạn chén đắng
Đêm nay là đêm Giáng sinh
Sẽ có người sinh ra
Se có người gánh chịu
Phúc phận cho những kẻ nào khổ đau
Đã có ta gánh hết.

Phúc phận cho những kẻ đóng đinh
Những kẻ phụ tình và những tên đao phủ
Phúc phận cho bọn vua quan
Những kẻ sát nhân – những người lương thiện
Không có ai mà ta không mang theo cùng.

Đừng chạm môi vào những vết thương
Có gì đâu mà khổ đau nhức nhối
Hãy tụng ca cùng chuông nhã nhạc
Đêm nay… đêm Giáng Sinh
Đêm Thánh rất…Vô cùng !

NGUYỄN TẤN CỨ

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Nửa tháng sau ngày đăng ký nghĩa vụ quân sự tiếp theo là có giấy gọi nhập ngũ, tòng quân. Sáng sớm ở xã đã bắt cái loa kẽm bà con thường kêu cái ô bặc lưa phát những bài nhạc hùng tráng, cờ xí giăng rợp trời. Có khoảng sáu chục thanh niên lên đường. Hết ông chủ tịch, ông xã đội trưởng rồi tới đại diện huyện đội phát biểu không ngừng, mỗi ông đứng đọc cả buổi trời, đại diện thanh niên mặt buồn thiu lên tuyên thệ theo giấy đã ghi sẵn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ Quốc, vì non sông. Những thanh niên lên hai chiếc xe ca lớn chở đi trong tiếng nức nở của người nhà, bà con và cả người yêu đưa tiễn, họ chỉ cầu mong có ngày trở về.
Những thanh niên có giấy nhập ngũ mà không tới, bị gọi là trốn tránh nghĩa vụ quân sự, ngay đêm hôm đó và về sau bị xã đội và du kích truy lùng gắt gao, người thì bị bắt, người bỏ trốn thăm thẳm trong rừng sâu, có người bỏ đi biệt tung biệt tích. Lúc này mấy anh kiểm soát quân sự áo đeo băng đỏ oai phong lẫm liệt, thanh niên trai tráng ra đường không tờ giấy lận lưng mà gặp không núp kín thì cũng “cúp đuôi chạy có cờ”.
Một buổi sáng sớm chú Tám Thạnh ở xóm trong đi ngang nhà nó. Ba nó hỏi:
“Ủa, anh Tám đi đâu sớm vậy?”.
“Lên xã anh Hai ơi”.
“Ký giấy tờ gì hả anh?”.
Chú Tám lắc đầu”.
“Đâu có ký gì, xã mời tui bữa giờ hơn cả tuần rồi anh ơi”.
Ba nó hỏi tiếp:
“Ủa, mời gì làm gì lâu vậy?”.
Chú Tám thở dài:
“Thằng con tui đó anh, nó trốn nghĩa vụ biệt tăm ở đâu tui đâu có biết, xã bắt tui lên hỏi riết, ý tui dấu nó ở đâu kêu nó về mà đi, mà thiệt tình tui có biết nó ở đâu, hết hỏi thì sáng họ bắt chiều họ bắt ra nhổ cỏ, rầu quá anh Hai chẳng làm ăm gì được hết”.
Ba nó nói giỡn cho bớt căng thẳng:
“Chắc uống trà mấy bữa thì cho qua chớ gì anh”.
Chú Tám lắc đầu nữa:
“Anh Bảy Ngà chịu không xiết lôi thằng con về giao, còn tui không biết thằng con ở đâu đành chịu chớ mỏi mệt quá rồi, ở trển còn nói chừng nào chưa bắt được thì tui ngồi thay nhổ cỏ miệt mài” – Chú Tám lộ vẻ chán chường quay đi: “Thôi tui đi anh Hai”.
“Chú đi” – Ba nó nhìn theo bóng chú Tám xa dần thở cũng thở dài theo.
Chuyện này còn tiếp diễn năm sáu năm về sau. Người đi người trốn. Hiếm có người về, lâu lâu có người trở về thì thành thương phế binh, họa hoằn lắm mới có người còn nguyên vẹn hình hài. Có người đào ngũ đi biệt tăm, có người đào ngũ trở về bị bắt trở lại, nghe nói tội này nặng lắm và lại phải trở lại chiến trường. Ra chiến trường thì gần như bặt tin tức, chỉ biết qua những người cùng đi được về phép hay trở về. Sống chết có khi xác nhận là đúng có khi mơ hồ, nghe nói qua lại, nhưng hỏi xã thì không bao giờ có tin, sẽ nhận được câu trả lời đang ở chiến trường chiến đấu chống giặc, không một tờ giấy báo tử nào được đưa về gia đình, mặc dù những chàng trai ra đi vĩnh viễn là gần như chắc chắn. Những gia đình có người đào ngũ khổ sở chẳng kém có người trốn, nửa đêm nửa hôm bị bố ráp truy lùng liên miên, cha mẹ không thể đi đâu được, lên xuống xã, “uống trà” nhổ cỏ đều đều. Mà lúc này đi lại cũng rất khó khăn, muốn đi phải có giấy thông hành, có lý do chính đáng mới được, ký xét như ký lý lịch, đầu tiên là xác nhận của ông xóm trưởng rồi lên đội, xong đội lên hợp tác xã, hết hợp tác xã mới tới xã, có khi muốn ký cái giấy phải mất cả tháng trời, nay ông này vắng nhà, mai ông kia bận họp cả tuần.

***

Một mùa mưa nữa lại đến.
Bà con được chia hai toán, toán đàn ông thanh niên trai tráng lo ruộng lúa, toán còn lại thì làm đất vườn, kêu là đất làm hoa màu, hợp tác xã giao giống về trồng, và cây trồng là… bo bo chớ không phải bắp, khoai lang…Chỉ có đất rẫy trong rừng là trồng bắp.
Dì Bảy Thệ thấy lạ hỏi:
“Ủa sao lại trồng cái thứ gì lạ hoắc vậy mấy ông, lần đầu tiên tui mới nghe nói?”.
Chú Tư râu phẩy tay:
“Đàn bà con gái biết gì mà nói, đã nói để nhà nước lo mà, nhà nước thấy cái gì hay mới làm chớ, bà con làm đi, cuốc lỗ tỉa như tỉa bắp nhưng dày hơn”.
“Ừ, làm thì làm, nhà nước kêu sao làm vậy”.
Trong toán người có tiếng xì xào: “Xí cây bo bo này người ta trồng cho gia súc ăn mấy ông bà ơi”. “Ờ, thì trồng chia nhau về nuôi heo, nuôi gà”. “Nhà nước nói hay cha Tư này nói hông biết nữa”.
Trồng tỉa cũng chẳng khác mấy bữa dãy cỏ. Hột giống, phân cứ vung vương vãi, thoải mái khi không có ai, muốn cho mau hết sớm đặng mà nghỉ. Lúa có giống mới, giống 3A cao sản ngắn ngày, chỉ ba tháng là thu hoạch, chú Tư râu cười khà khà:
“Giống như vậy mới là giống chớ, cho sản lượng cao lại làm được hai vụ, tha hồ có dư dả”.
Hai anh em nó thay phiên nhau buổi đứa này học thì đứa kia dắt bò ra ruộng và ngược lại để cày. Thằng Hào giao cặp bò cho anh Ba Lễ, Ba lễ ngậm điếu thuốc lá Hoa Mai, mặt vểnh vểnh, nhìn trời coi bằng cái nắp vung:
“Mẹ, mày chăn bò kiểu gì mà ốm nhom vậy mậy, làm sao bò cày nổi”.
Thằng Hào có tánh ngang tàng, tụi nó đặt là Hào lỳ mà, nó đâu chịu thua, hất hàm hỏi lại:
“Ông chỉ chỗ nào có cỏ cho tui coi, nắng cỏ chỉ còn lên hông nổi lấy cái gì cho bò ăn”.
Ba Lễ chẳng thèm nhìn thằng Hào:
“Mấy tụi bây làm biếng thấy mẹ”.
Thằng Hào ghét cay ghét đắng anh Ba Lễ, anh Ba Lễ có bà con gì đó với ông chủ tịch xã nên trong danh sách đăng ký nghĩa vụ không bao giờ có tên, vài người nữa cũng vậy, cháu ông này con ông kia, bà con cô bác biết hết mấy vụ này nhưng không nói được, họ tức cho cái chỗ không công bằng nên nhiều lúc không muốn cho con mình đi, xúi đi trốn, chấp nhận ngày ngày lên xã. Thằng Hào trả treo :
“Ông làm biếng thì có, ở đây giỏi nói dóc sao không ngon đi bộ đội như anh tui, nhát như nhái, sợ chết còn bày đặt”.
Ba Lễ hằn học ra mặt cầm cây roi sóng rắn* (*rễ cây sóng rắn) sấn sấn lại trước mặt thằng Hào:
“Mày nói cái gì, mày nói ai nhát?”.
Thằng Hào đốp chát:
“Ông hông nghe hà, chắc ông bị điếc” – Nói xong cũng là lúc móc xong bò vào ách cày, vừa móc nó vừa nói tiếp: “Lớn còn ỷ cầm roi, giỏi ăn hiếp con nít”.
Ba Lễ miệng lẩm bẩm:
“Có ngày biết tay tao”.
Ba Lễ hụi bò đi, bò đi ba chớp ba nháng, dòm lại ba Lễ hét lên:
“Ê thằng chó kia, tao cày quanh tá mày móc bò quanh ví là sao hả mậy?”.
Thằng Hào cười xấc:
“Ông có nói hông tui biết, ông tự mà móc lại đi, nhớ lần sau cày kiểu nào phải nói trước kiểu đó nghen, kêu tui chó có ngày tui xua mấy con bạn tui nó cắn đừng trách ”.
Nó cười ha ha bỏ đi, Ba Lễ mặt hầm hầm tức tối nhưng không làm gì được.
Cày quanh tá là đường cày úp phải, úp vô bên trong ruộng, cày bên trong cày dần ra ngoài, bò đi quanh phải. Quanh ví thì ngược lại úp ra ngoài bờ, bò đi quanh trái, cày từ ngoài vô trong. Hai kiểu phải móc bò khác nhau, con nào thuận bên nào cày theo kiểu bên đó thì con này làm chủ dây mũi như dây cương ngựa. Bò đi thì hụi hụi, đi đi, muốn đứng thì kêu dò dọ, muốn qua phải cũng kêu tá tá, ví ví qua trái.
Những cơn mưa đầu mùa cỏ hức mọc lên ào ào. Bò cày cả ngày nên nó tranh thủ cho bò ăn thêm đến tối mịt, nó sợ “ông trời con” Ba Lễ làm khó dễ, nó không lỳ như thằng Hào, với lại thằng Hào có anh đi bộ đội nên nó chẳng sợ gì. Trời chập choạng tối đang cho bò ăn dọc bờ ruộng nó thấy thím Ba Mạnh cầm cái thúng giê đi băng băng, gặp nó thím hỏi:
“Má có nhà hông con?”.
Nó gật đầu:
“Dạ có, má con trong nhà”.
Nó cỡi bò về luôn. Thím ba mạnh đi vô nhà ở cửa sau, gặp má nó nói nho nhỏ:
“Chị Hai làm ơn cho em nượn ít khoai lang khô được hông chị Hai?”.
Má nó gật đầu:
“Được chớ, ngồi uống ly nước cái đã”.
Má nó rót ly nước cho thím Ba Mạnh, vừa uống nước thím vừa nói:
“Khổ quá chị ơi, nhà hết sạch rồi, mấy năm còn làm cho chị chớ năm nay thì…”
Má nó múc đầy thúng giê khoai lang khô hỏi:
“Mà còn gạo hông?”.
Thím Ba lắc đầu:
“Dạ, cũng hết trơn, cảm ơn chị nhiều nghen” – Thím Ba dợm đứng dậy đi về, má nó ngăn lại:
“Thủng thẳng chút đi làm gì gấp gáp quá vậy, để tui lấy cho ít gạo”.
Thím Ba huơ huơ tay:
“Thôi, thôi chị, chị cho mượn khoai là quý lắm rồi”.
Má nó ấn thím ba ngồi xuống:
“Có gì đâu, xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau, lấy ít gạo về nấu cho sắp nhỏ”.
Má nó lấy cái thúng lớn múc nửa thúng khoai lang, lấy cái thúng dê đổ trở lại rồi xúc đầy thúng dê gạo chồng vô cái thúng lớn:
“Khoai tui còn nhiều, bữa nào rãnh lấy cái gánh qua gánh về một gánh”.
Thím Ba rưng rưng:
“Dạ, nhưng chi mà nhiều gạo quá vậy chị, hông có chị tui hông biết chạy đâu, biết cảm ơn chị sao đây”.
Má nó lắc đầu:
“Ơn nghĩa gì hổng biết, thím về trời tối cẩn thận”.
Khoai lang khô bấy lâu nay hầm buổi sáng ăn dậm hay ngào đường ăn chơi giờ trở thành nón chính của rất nhiều nhà, ba bữa đều có hiện diện của khoai lang, sáng hầm không, trưa chiều độn với cơm, hết sáu bảy phần khoai, ăn nồng lỗ mũi, ngán đến nỗi chỉ cầu mong sao có được chén cơm trắng, chỉ cơm trắng chan với nước mắm, nước mắm kho mặn chát chứ chẳng cần nước mắm ngon, nước mắm nhỉ hay gì khác, chẳng cần thịt cá cũng là đã quá đủ. Sau này có người còn không dám nhìn lát khoai lang, có người còn lấy hình tượng lát khoai để nói đó là khoảng thời gian “lăn bánh xe lịch sử”.

***

Bobo, lúa lớn lên cũng được bón phân dãy cỏ, vun gốc như thường lệ, ấy vậy mà hổng hiểu làm cách gì mà nhiều chỗ bo bo, lúa lên tới đâu là cỏ lên theo gần như tới đó, bón phân ra sao mà chỗ thì lên cao ngùn ngụt, chỗ vàng hoe thấp lè tè lên không nổi để cả cỏ vượt qua. Rồi lại thêm xuất hiện đâu đám cỏ ống, củ gần giống củ gừng ăn sâu và đâm rễ giống rễ tranh lan chằng chịt dưới đất, ngóc đầu lên là lớn nhanh ào ào, cỏ ống sống dai dễ sợ, củ đào phơi nắng chang chang cả mùa vậy mà chỉ cần một cơn mưa xuống là nó sống dậy, nức ngọn phóng tới như phi lao. Loại cỏ này lan đầy đất trồng bo bo nhà nó và mấy miếng ruộng với một số nhà nữa, không ai biết nó từ đâu ra.
Nghỉ hè nó cỡi cặp bò vào rẫy bắp giữ chung với chú Ba Mạnh, vừa có chỗ cỏ nhiều cho bò vừa phụ giữ rẫy. Ba nó chặt cây tre lớn hơn bắp vế làm thành cái bọ cạp, cây tre lớn chẻ làm đôi, một nửa ở dưới cố định, nửa ở trên một đầu chốt giữ phía dưới, đầu trên cột sợ dây dài vô trong chòi, kéo sợi dây đầu trên đi theo thả ra nó đập xuống miếng dưới, do cây tre bọng ruột nên tạo ra tiếng kêu rất lớn để đuổi chim chóc thú rừng. Phá nhứt là mấy con khỉ, kéo từng đàn vô quậy, bẻ cây bứt lá chơi, có con còn khè khè trêu chọc cả với người, còn những người đã từng làm rẫy nói lại tới mùa bắp chín không khéo giữ, hù dọa cả đêm bằng bò cạp, hay rào không kỹ dễ làm mồi cho cả bầy heo rừng, heo rừng mà càn qua chỉ một đêm coi chừng cả rẫy đi tong. Ba nó và chú Ba mạnh vài ba bữa là lại vào chặt thêm chà gai tre tấp vào hàng rào, bắp đã lớn trổ cờ rồi, đất rẫy mới làm có một hai mùa nên còn tốt, cỏ cũng ít nên bắp xanh rì.
Nó vòng* (*cột) cặp bò trước cửa rẫy để đi một vòng xung quanh coi có chuyện gì xảy ra không. Khi trở lại thì chỉ còn mỗi con Đạm, còn con Pháo đâu mất tiêu chỉ còn sợi đây cột mũi. Nó quýnh quáng chạy lung tung đi tìm một hồi chẳng thấy đâu, quay trở lại thì nghe xào xạc bên trong rẫy, chạy vào trong con Pháo đang đứng gặm cây bắp ngon ơ, nó vừa ăn vừa dẫm đạp hết một mảng lớn. Người nó run lên bần bật, mếu máo nhào vô chụp mũi bò vừa bẩm bẩm: “Chết chắc tao rồi, mày giết tao rồi”. Con Pháo ngang bướng chớ không như con Đạm hiền lành, thấy nó lúc lắc đầu với cặp sừng nhọn hoắc tung chạy ra ngoài rồi phóng như bay theo đường về nhà. Nó báng sống báng chết lao theo bất chấp cỏ le cao phủ cả người, nhiều loại gai góc tủa ra trên đường đi, không cần biết tránh né gì, mặc chúng cào xé. Nó cứ để con Đạm ở đó rồi tính sau, chớ con Pháo không thấy nó đuổi theo dọc đường về gặm sạch lúa thì đâu còn gì nói nữa. Con Pháo chạy mệt đủng đỉnh chạy chậm lại, nó vừa tới gần lại phóng như bay tiếp, cứ vậy chạy thẳng về nhà…
hai đứa con gái chằn lửa. Tới đây thì bó tay, nó không dám vào để xin bò, chỉ còn cách bấm bụng về nhà quỳ xuống mà kể lại câu chuyện. Ba má nó nghe xong cũng điếng hồn, chạy ngay vô xin lại bò. Hai đứa chằn lửa hả hê ra mặt:
“Bộ dễ ăn cướp lắm hả, bò nó đâu có ngu”.
Ba hai đứa ra la lớn:
“Hai đứa bây hỗn hào quá nghen, đi vô nhà, chỗ người lớn nói chuyện”.
Ba nó năn nỉ”
“Anh Sáu thông cảm thằng nhỏ nhà tui nó lơ đễnh, nó chăn bò hông tốt, anh Sáu tha cho lần này”
Chú Sáu Tình hỏ nhẹ:
“Không có gì đâu anh, con này nó hung lắm tui biết mà, nó sút mũi hoài chớ gì, thôi anh cho cháu dắt về đi”.
Trở lại rẫy con Đạm vẫn còn gặm cỏ, nó mừng húm, coi kỹ lại dây cộ hết, trong khi chờ đợi nó chặt và vót sẵn cây roi tre, chuẩn bị cho trận đòn mà tưởng tượng chắc chắn không hề nhẹ.
Trưa ba nó và chú Tư râu cùng ông Sáu Hoàng ôm cặp táp thêm chú du kích đeo súng nữa vô tới rẫy. Nó bần thần hết cả người. Chú Tư râu đi kiểm tra hết rồi quay lại chỗ bị bò ăn, chú nói lớn:
“Chỉ bị chỗ này mà cũng nhiều quá, phải chi ít ít tui bỏ qua, anh Sáu lập biên bản đi, đếm bao nhiêu gốc rồi tối hợp bà con lại xử lý, còn anh Hai phải coi rẫy cho kỹ chớ, dặn tụi nhỏ làm ăn đàng hoàng, làm ăn như vậy đâu có được”.
Lập biên bản xong ba người ra về. Tiễn ba người ra về ba nó ngồi ngay cổng rẫy chống cằm nhìn xa xăm không nói tiếng nào làm nó càng thêm sợ, phải chi la mắng nó tới tấp, kêu lấy roi oánh cho một trận còn dễ chịu hơn, đợi một hồi lâu chẳng thấy động tĩnh gì, nó làm liều đem cây roi lại kề bên, ba nó cầm cây roi nhịp nhịp, rồi kêu:
“Con ngồi xuống đi”.
Nó thấy lạ mon men lại ngồi xuống kề bên:
Ba nó vừa xoa xoa đầu tóc nó và nói nhè nhẹ:
“Con còn nhỏ chưa hiểu hết chuyện đời, kệ họ nói gì thì nói nghe, cái nào đúng thì mới nghe, con đâu có tội tình gì, nhưng từ nay về sau làm cái gì cũng phải cẩn thận nghe con”.
Nó ứa nước mắt, nãy giờ nó sợ ba nó không tin, nó lý nhí:
“Dạ”.
Hai cha con ngồi như vậy khá lâu, mặt trời qua xế chiều ba nó mới ra về. Nó ngồi một mình nhìn những đàn chim lục tục kéo nhau bay về tổ, chim chóc vừa bay vừa hót líu lo trên bầu trời chuyển dần màu vàng vàng, màu rất đẹp nhưng sao thấy man mác nỗi buồn.
Không chờ tiếng kẻng, vừa lua vội cho xong chén cơm ba nó đi tới nhà ông Sáu Hoàng chờ hợp liền. Nó len lén chạy theo sau. Chập sau chú Tư râu mới tới rồi oánh kẻng.
Bà con tập hợp đông đủ, chú Tư râu thông báo lý do có cuộc họp đột xuất ngày hôm nay, chuyện bò nhà nó giữ không kỹ càng ăn đễ sổng đi ăn bắp. Sau khi chú Tư râu nêu lý do xong nói tiếp:
“Bây giờ anh Hai tự kiểm điểm đi và cho hình thức kỷ luật luôn”.
Ba nó đứng dậy:
“Dạ thưa đại diện hợp tác xã, chú Tư anh Sáu và bà con, tui thiệt tình có lỗi lớn đã để xảy ra sự cố đáng tiếc này, đây cũng là bài học lớn cho tui… – nó thấy chú Tư ngồi gật gật đầu, ra điều vậy là tốt biết ăn năn hối cải – Ba nó tiếp: Tui tự ra hình thức kỷ luật như vầy, bò tui giữ lỡ ăn mất hai trăm gốc bắp, một là tới mùa tui sẽ đền lại đúng số trái, hai là trừ đi công điểm chăn bò”.
Chú Tư râu hỏi:
“Bà con ý kiến sao? tui thấy đền cho gọn”.
Chú Sáu Tình đứng lên:
“Vậy thiệt cho anh Hai lắm, bây giờ bà con còn có hai sào đất, mần được bao nhiêu, tui đề nghị trừ một tháng công điểm”.
Chú Ba Mạnh đưa tay lên:
“Tui đồng ý”
Chú Ba bừa cũng giơ tay:
“Tui theo anh Sáu Tình và chú Ba Mạnh”.
Bà con cũng râm ran theo: “Vậy đi, được đó”. “Đền bắp chắc đói nhăn răng quá!”.
Chú Tư râu phải chiều theo ý bà con nhưng chú tỏ ra không vui. Ba nó nói tiếp:
“Cảm ơn bà con, còn chuyện này nữa, tui nhận thấy mình hông làm tròn trọng trách đội và hợp tác xã giao nên xin giao lại cặp bò, trả về chủ cũ là đúng nhứt”.
Chú Tư gật gật đầu:
“Vậy cũng được, bà con thống nhứt chớ”.
Chú Sáu Tình nhìn ba nó, chú không ngờ ba nó lại làm như vậy. Bà con thì im lặng, không ai nói gì cũng không có ai phản đối. Chú Tư tiếp:
“Thôi vậy đi, kết thúc cuộc hợp”.
Nó là đứa vui nhứt, đã không bị trận đòn còn chỉ bị trừ điểm một tháng chăn bò thôi.
Sáng hôm sau dắt cặp bò qua nhà ông Sáu Hoàng, hai chị em chằn lửa đã có mặt nhưng tươi cười chớ không gầm gè thấy ghét, chú Sáu Tình quàng vai ba nó vỗ vỗ:
“Tui hông có trách gì anh Hai đâu nghen, tụi nhỏ nó chưa hiểu biết nên đôi khi nói bậy bạ, anh Hai có gì bỏ quá cho”.
Ba nó cười:
“Tui cực chẳng đã mới nhận, bây giờ được gởi lại cho chú tui mừng lắm rồi, ủa mà sắp nhỏ nó nói gì… ơi mà tụi con nít với nhau chấp nê gì anh”.
Đưa sợi dây mũi bò cho hai nhỏ chằn lửa, hai đứa cầm lẹ rồi phóng tót lên lưng bò như sợ bị giựt lại, sợ rời khỏi tay lần nữa, hai đứa thúc giò vô hông kình kịch cho nó đi nhanh, chợt nơi sống mũi nó cay cay, mới mấy tháng với cặp bò mà thấy bịn rịn, không muốn rời xa và chợt hiểu ra, hai con nhỏ chằn lửa bực tức là phải, bao nhiêu năm chăm sóc cặp bò từ nhỏ xíu cho tới bây giờ. Mái nhà, ruộng rẫy vườn tượt của bà con cũng vậy, gắn liền với công sức, với tấm lòng chất phát, chân thật của bà con nông dân vô cùng.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU