EM, MƯA, ĐÀLẠT

phamnguyen

Chút hương thời gian
Cho đời thắp lửa
Với em là mưa,
Chiều xanh nhánh cỏ
Nghe lòng chiêm bao

Bây giờ trên áo
Thơm mùi hương ai
Em về nắng mỏng
Mưa bay tình ngoài
Buổi chiều gió động
Thổi lòng măng mai
Đóa hồng cuống quit

Đêm qua Hàm Nghi
Giáo đường trống trải
Chè Phan Đình Phùng
Ngọt ngào con gái

Ngói đỏ Couvent
Dấu giầy Cẩm Cúc
Hoa quỳ vàng rực
Giữa bàn tay em

Giữa bàn tay ta
Dòng mưa đầu mùa
Em về đường xưa
Trại Hầm dâu chín
Qua cầu câm nín
Tiếng cười mạc lan

Buổi sáng lang thang
Qua nhà Thủy tạ
Ly cà phê đá
Ngập ngừng trên môi
Vẫn đầy chưa uống

Giữa em và mưa
Ta còn Đà Lạt…

PHẠM NGŨ YÊN

LỬA MUỘN

nguyenlienchau

Gởi Nguyễn Vân Thiên

Tay bật diêm ngọn lửa cháy xòe
Ánh sáng bùng lên khởi nguồn bao bóng tối
Điếu thuốc ngún dần những hao hơi lầm lỗi
Ngọn nến ngắn dần những hoang tưởng đảo điên

Nhập nhằng cõi người bao ngộ nhận chung riêng
Lửa trong thơ hắt lằn ranh thực mộng
Ánh sáng ảo ở bên này sức sống
Trở thành nguồn tối ám phía không thơ

Chúng ta ngồi nhóm lửa nhớ ngày xưa
Chú dế ốc tiêu phùng mang trợn má
Thuở hồn nhiên nhờ thở hương rơm rạ
Chẳng biết nề hà giữa nhận và cho

Chúng ta làm thơ khêu lại tàn tro
Ngọn lửa tim buồn âm âm le lói
Que diêm ẩm từ khi không phục tùng bóng tối
Ước ao sáng lên dù chỉ một lần thôi.

Chúng ta ngồi đốt thuốc gọi mù khơi
Khao khát lửa ấm đều cho năm tháng
Đời quen thói hổ ngươi bao hạn hán
Cho lòng riêng mưa gió đến bão bùng

Chúng ta bật diêm như một thói quen chung
Lửa bùng lên… lửa lụi dần… lửa tắt
Chân chôn cứng ở bên này sự thật
Đốt thuốc cuồng điên cho ngắn lại hoang mang

Đốt thuốc ngồi mong những giấc mộng hóa vàng
Chỉ thấy phản quang ánh sáng đèn điện tử
Cháy về đâu ngọn nến thơ ảo dụ
Điếu thuốc buồn tiếc nuối những que diêm

Cháy đời ta những vây bủa im lìm
Ngọn lửa muộn trong chân tìm nẻo sớm
Ngọn lửa muộn trong tay run cạn vốn
Nến thơ ta nhựa sáp nhão lâu rồi…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

CẢNH CỬU VÀ SỰ CÔ ĐƠN ĐẾN TẬN CÙNG

nguyenleuyen

“Tôi yêu anh yêu biết nhường nào
như quê hương yêu anh yêu mê mệt
mà anh dửng dưng, nguội lạnh.
Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh.
Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”
.
(Cảnh Cửu)

Trước đây, nhiều người vẫn nghĩ rằng, Cảnh Cửu chỉ có một truyện ngắn duy nhất là Thư từ Tuy Hòa, đăng trên tạp chí Văn số 45 chủ đề Françoise Sagan ra ngày 1.11.1965. Nhưng thật ra không phải vậy. Hơn một năm sau, truyện ngắn thứ hai Vòng đai học vấn (1) xuất hiện trên Văn số 72, ngày 1.11.1966; rồi 5 tháng sau là truyện Khởi hành vào mùa xuân tương lai (1) Văn số 79, ngày 1.4.1967; đây cũng chính là truyện cuối cùng ký tên Cảnh Cửu.
Như vậy, trước sau Cảnh Cửu có 3 truyện đều được đăng tải từ tạp chí Văn, một tạp chí văn chương nổi tiếng của miền Nam. Đây có thể coi là một trong số những truyện ngắn độc đáo trong dòng văn học nghệ thuật miền Nam (1954-1975).
Chỉ riêng việc Cảnh Cửu đến với văn chương không ồn ào, rồi lặng lẽ rút lui (không viết thêm một truyện nào khác trên bất kỳ tạp chí văn chương nào khác) đã khiến nhiều người đặt dấu hỏi tại sao, và Cảnh Cửu là ai?
Cảnh Cửu là ai? Không hề có một thông tin nhỏ nào. Ngay cả khi còn là thư ký tòa soạn Văn, chính ông Trần Phong Giao, lúc cho đăng truyện Thư Từ Tuy Hoà mà “không cần qua Ban tuyển đọc tác phẩm, chỉ vì truyện khá hay, lại là truyện ngắn đầu tay” – lời TPG. Ông viết thư khuyến khích Cảnh Cửu, gửi nhuận bút cho tác giả với hy vọng của một người luôn nặng lòng với văn chương, luôn để mắt khám phá những cây bút trẻ tài năng, sẽ có thêm một Cảnh Cửu chói sáng như một số nhà văn trẻ trước đó. Nhưng rồi hy vọng đã không thành và những gì ông nói về Cảnh Cửu trong những buổi “trà dư tửu hậu” chỉ là những từ “hình như” nối liền nhau: Lúc truyện ngắn đầu tiên được chọn đăng, hình như Cảnh Cửu đang theo học ngành Nông Lâm Súc tại Sài Gòn. Trước đó, hình như Cảnh Cửu theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, nơi đến đầu tiên là Tuy Hòa, vùng đất nghèo nàn, khô cháy ở duyên hải miền Trung. Hình như Cảnh Cửu cũng học bậc trung học ở đấy (trường Nguyễn Huệ, Tuy Hòa – dẫn của người viết).
Mà đúng vậy. Ngoại trừ truyện Vòng đai học vấn, còn hai truyện kia, Cảnh Cửu đều lấy bối cảnh là Tuy Hòa – Nha Trang – Qui Nhơn, thông qua những lần lui tới trên những chuyến tàu lửa “hậm hực phun những tàn lửa và thét inh ỏi, vang động núi rừng”. Điều này chứng tỏ rằng, Cảnh Cửu đã từng sống, từng qua lại ba thành phố này nhiều lần và hiểu biết khá cặn kẽ miền đất ca dao duyên hải nam Trung bộ “anh về Bình Định thăm cha, Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em” hay “Bình Định tốt nhà, Phú Yên tốt lúa, Khánh Hòa tốt trâu”!
Với sự hiểu biết về nơi tạm cư như một khám phá mới mẻ cá nhân, ngay ở cửa ngõ ra vào Tuy Hòa, Cảnh Cửu giới thiệu: “Con sông Đà Rằng chảy qua cây cầu một ngàn hai mươi thước đó làm anh mê à. Mùa mưa nước lênh láng bao la thật. Cũng mùa mưa nước đổ dầm dề gió bấc cắt da chỉ còn con sông Đà và chỏm núi Nhạn là tương phùng như trong chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh. Cá ở ngoài biển dám chèo vào với bánh tráng trong thành phố đó…” (TTTH).
Còn Nha Trang thì: “Con đường Gia-Long với hai hàng me thẳng tắp trước cổng nhà thờ. Tôi không thể nói gì nhắn gì. Hàng me thì những lá nhỏ. Nhà thờ thì tháp chuông cao” (KHVMXTL) và: “Hương khói mùa xuân còn nghi ngút ở Tháp Bà. Tôi đứng trên những bậc cấp nhìn xuống Cầu Xóm Bóng cong cong, nước dưới cầu lặng lờ” (KHVMXTL).
Với Qui Nhơn: “Tàu chạy ngày càng sâu trên đất Bình Định. Tôi chỉ cho anh vài tên vùng đi qua: Vân Canh nhiều thượng. Diêu Trì ngã ba. Cầu Đôi nước đứng. Tháp Chàm gạch đỏ và núi Qui Nhơn lở lói. Nhưng chắc anh không thấy gì… Thành phố những miền này như thế cả. Nó chắp nối, vay mượn không ra cái thể thống gì. Chiến tranh giày vò, dẫm đạp nó quá nhiều làm sao nó giữ được một truyền thống. Nhưng Qui Nhơn còn hơn Tuy Hoà tôi nhiều” (TTTH).
Cái cách Cảnh Cửu miêu tả, nhận xét những cảnh vật, con người mà mình từng có dịp tận mắt nhìn thấy và từng sống với trong khoảng thời gian ít ỏi, tuy không óng ả, trau chuốt, đôi lúc có vẻ mộc mạc, thô kệch đến trần trụi… nhưng lại làm cho đoạn văn bỗng trở nên sáng đẹp và lộng lẫy như chút ráng chiều hửng lên những quầng sáng sặc sỡ phía đằng tây: “Anh có thấy Tuy Hòa là bãi cát mênh mông những gai lưỡi long và cỏ may lẫn lộn. Nắng nóng làm cát bỏng dưới chân. Gió nam quét mạnh làm bụi cát bay tứ tung. Những con đường phố, những đầu tàu, những mái nhà, những phu xe, những con người nghèo khó áo đen nón lá và cát bụi vò trộn quay cuồng thảm hại. Hãy tưởng tượng đến một thôn làng: Nhìn ngoài có vẻ phong phú dừa xanh lúa tốt. Nhưng bên trong, mùa gió cát bay như mây… Những đồi cao ngất lần lần tràn xuống xóm làng làm sự sống nhỏ nhoi vô nghĩa. Mà thật vậy sỏi cát đã chiếm hết những thỏi đất màu mỡ, cây cao lên không nổi, lá mỗi ngày một lụn tàn. Sự nghèo khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng trộn với muối rang là món ăn đắt giá. Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ sở tôi đãi du khách đấy” (TTTH).
Đúng là, có sống ở Tuy Hòa lâu ngày, trong thập niên 50, 60 mới có thể nhìn thấu suốt cảnh sắc ở đây để miêu tả một cách chính xác đến như vậy. (Và hẳn nhiên, những con người từng sinh ra và lớn lên bên dòng sông Ba, ở độ tuổi trên dưới 70, khi đọc những dòng miêu tả trên kia, tôi chắc họ sẽ rất đỗi tự hào với chút ngậm ngùi khi hoài nhớ về xứ sở họ, với cả tấm lòng gửi đến nhà văn, vì chí ít, những đoạn miêu tả đó sẽ như tấm ảnh cũ nát để ta tưởng vọng về chốn xưa!).

Điều đáng lưu ý: truyện Thư từ Tuy Hòa được Văn ghi bên dưới là đoản tác của Cảnh Cửu đăng ngay trong số đặc biệt Françoise Sagan, một nhà văn nữ của Pháp (thuộc lớp nhà văn hiện sinh nổi tiếng được độc giả miền Nam ưa chuộng, bên cạnh A. Camus, J.P. Sartre… trong thập niên 60).

Thư từ Tuy Hòa là một truyện ngắn độc đáo, bởi kết cấu của loại truyện không phải truyện; nội dung chỉ dồn về một phía nhân vật, như một truyện kể mà lại không phải lời kể lể; như một xâu chuỗi độc thoại rối nùi giữa quá khứ và hiện tại, giữa sau và trước, để phơi bày nội tâm của một cô gái đang hoang mang trong mớ tình cảm lùng nhùng, bởi đối tượng cô nhắm tới luôn ở trạng thái tĩnh, luôn cách xa lạnh lùng, dửng dưng đến nỗi ngay cả lúc yêu đương sôi nổi, cái sự lạnh lùng dửng dưng kia vẫn cứ sừng sững đeo bám bên người (!), khiến cho những cảm xúc, đôi khi như chen giữa hai nhân vật đối mặt nhau để thầm thì nhỏ to, rồi lại ẩn náu nơi góc khuất nào đó có vẻ hững hờ chừng mực, nồng nàn chừng mực, như một lời than trách. Tất cả được nguỵ trang dưới một bức thư.
Nhân vật “anh” luôn vắng mặt, nhưng cũng luôn hiện hữu trong tâm cảm cô gái là một “anh” nào đó, một đại từ danh xưng ngôi thứ hai. Nhân vật này được Cảnh Cửu tạo ra như cái vẫy cánh của con chim hải âu ngoài khơi. Nó thật gần trong tầm tay nhưng không thể nắm bắt được trong tay, rồi lại chấp chới đâu đó tít đường chân trời mà cũng thật gần trong từng cử chỉ, hơi thở lúc cô hồi tưởng, nhớ nhung… Đó là Hắn (tên gọi từ sự sắp đặt của tác giả). Nhưng hắn đã chết trước khi cầm trong tay nỗi khao khát, thương nhớ! “Hắn chết được vài ba hôm thì có một bức thư gửi cho hắn… mãi hăm mốt ngày sau mới được xé ra”. Và, cuối truyện: “Lá thư sau đó được đem đốt thành tro, những cánh tro mỏng manh men theo gió bay đi dọc con đường ngắn, không có gì nguy hiểm cả”. Lối viết theo cách mở và đóng này, trong thập niên 60 kể như là một lối hành văn mới lạ so với dòng văn chương lãng mạn của những năm 30 còn sót lại, đã gợi sự tò mò, đã lôi cuốn và không kém hấp dẫn đối với người đọc.
Nhưng cốt lõi vẫn là nội dung lá thư kia, trong đó ta được biết cô gái là một cô giáo quê ở Tuy Hòa, và “anh” gốc Qui Nhơn đã rời quê khá lâu, biết về nơi chôn nhau cắt rún khá lờ mờ, hời hợt.
Kết cấu của truyện là những hình ảnh, những lần gặp gỡ “lấn cấn”, những tình cảm dậy lên giữa quá khứ và hiện tại trộn lẫn với nhau, nhằm giãi bày tâm trạng, tình cảm của cô gái, khi thì hưng phấn nồng cháy, lúc chìm vào vùng xơ xác bất toàn. Những chuyến tàu xuôi ngược đưa hai người gần nhau trong giây lát rồi lại tách đôi giống như “hai khoảng đường ray tránh nhau rung lên hối hấp” (HTVMXTL). Cũng có thể ví “anh” là con chim thiên di quên lối về, đã biệt xứ; con chim đến rồi đi rất đỗi bất ngờ, trong khi cô gái thì như một con chim cắt đơn độc luôn dõi theo săn lùng, với tham vọng muốn mở banh lồng ngực của “anh” bằng bất cứ giá nào để coi trái tim “anh” đập theo nhịp ngân rung của bao nhiêu trường canh, bao nhiêu đoạn khúc của nhịp sênh phách? Đấy là khoảnh khắc hai người gặp nhau trên chuyến tàu lửa và tình cảm của cô gái vụt trỗi dậy một cách ồn ào (chỉ có một mình cô ta cảm nhận được): “Tôi biết anh cũng muốn vào nhưng muộn rồi. Tôi đứng chận đây. Đầu đằng kia là cuối con tàu. Anh chạy đằng trời nào. Tôi khoanh tay ra sau tì lưng vào thành tàu ưỡn người. Ngực tôi lồ lộ. Gió tung vạt áo trước tôi đi xa thấy rõ hàng nút xẻ dọc trên quần. Gió càng mạnh làm vải ở hai bên đùi tôi mỏng thêm và chiếc xì-líp dày cộm kinh khủng. Tôi biết nhưng cũng chẳng buồn sửa lại” (TTTH).
Đây là dấu hiệu khởi đầu cho sự khiêu khích thị dục. Sự khiêu khích đối phương trổi dậy từ bản năng gốc của cô gái, bởi từ những cảm xúc có thật, đã nảy sinh một thứ tình yêu chưa được xác định mức độ, rồi chuyển sang ước muốn đụng chạm lững lờ bên ngoài da thịt mang ít nhiều nhục cảm, không tiến xa hơn, nhưng vẫn để ngỏ: “Tôi biết nhưng cũng chẳng buồn sửa lại”. Những ham muốn luôn bị ức chế, dồn nén bởi ý thức không rõ ràng giữa một giống cái và một cô giáo buộc phải đạo mạo, đôi lúc chuyển thành liều lĩnh đến cẩu thả trong nhân cách? May mà nó chỉ tồn tại trong ý nghĩ, không được thể hiện bằng những hành động chính xác “đè bẹp… ngạt thở chết…”. Tất cả những hình ảnh được ghi lại chỉ có chi tiết “Tôi khoanh tay ra sau tì lưng vào thành tàu ưỡn người” là động tác có thật. Còn lại, tất cả những gì hiển lộ trên thân thể cô gái như “ngực tôi lồ lộ, vải ở hai bên đùi tôi mỏng thêm và chiếc xì-líp dày cộm kinh khủng…” chỉ là những cái cảm thấy từ một phía; chắc chi “anh” thấy ngực lồ lộ, vải mỏng trên đùi và chiếc xì-líp dày cộm như cô vừa cảm, đã thấy?
Đây cũng chỉ là dạng rung động dục tính, là sự rung động cô đơn từ một thân xác có sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí, giống như một đốm sáng chợt lóe trong đêm và thong thả tắt, như một đe dọa ngọt ngào: “Tôi đâm ra chưng hửng khi đứng trước căn nhà ấy. Phải chi một căn nhà nào khác khó kiếm tôi sẽ chui anh vào một phòng ngủ nào đó đè bẹp anh ngạt thở chết cho rồi.” (TTTH)
Trong khi đó, nhân vật “anh” của Cảnh Cửu thì có vẻ như mang dáng dấp của một kẻ mộng du, luôn lầm lẫn về những sự vật đang tồn tại trước mắt anh ta. Đó là lúc tàu vào Qui Nhơn, là lúc hai người bước ra khỏi sân ga nhưng “anh” không có một chủ đích nào, thậm chí không có một khái niệm rõ ràng về không gian: “Tôi hỏi anh đi đâu. Anh nói vào ga chứ đi đâu nữa. Vào ga sao lại đi tuốt đằng này. Anh chỉ cái nhà cao có đèn nê-ông xanh đỏ: Không phải ga đó sao. Tôi rụng rời: Rạp xi-nê KK. Anh không thấy chữ đó sao. Anh nói tưởng đó là chữ quảng cáo li nhi quá. Tôi lại buồn nhà ga thì thấp hơn con tàu, tối om làm anh không biết đâu mà đến. Còn rạp xi-nê thì diêm dúa màu mè, cái điểm chính không hiện rõ làm người ta phải lầm tưởng” (TTTH). “Anh” lầm lũi bước đi để tự lẫn lộn, ngay cả không hề để ý đến cô gái đi bên cạnh. Và điều này khiến cô gái càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ, mủi lòng hơn bao giờ: “Tối đó đáng lẽ tôi thây kệ anh, mình về nhà tắm rửa, ngủ một giấc cho khỏe. Nhưng thấy anh lầm lũi tôi thương quá”.
Tiếp theo: “Anh đi bên tôi như một tín đồ ngoan đạo. Thành phố Qui Nhơn không có gì làm anh kinh ngạc. Tôi ức nghẹn cổ. Chốc lát con phố Gia Long đã cụt. Những phố khác không đèn. Biết đi đâu bây giờ. Tôi thương tiếc tôi. Tôi thương tiếc cái thành phố này. Chỉ còn cách dẫn anh xuống bến tàu trấn nước cho ngộp thở bõ ghét chứ đi đâu nữa.” (TTTH).
Có lẽ đây là đoạn văn cao trào nhất trong truyện khi cái nín lặng, lầm lũi của “anh” trở thành bức tường rêu ám lạnh lẽo ngăn cách tình cảm bắt đầu dậy men, ồn ào trong lòng cô gái. Cô lại thấy mình hoàn toàn cô độc đến nỗi muốn dẫn anh xuống bến tàu trấn nước cho ngộp thở bõ ghét chứ đi đâu nữa? Phải chăng đây là nỗi cô đơn song trùng trong buổi chiều trên tàu cô nhìn thấy: “Đám người đó khiêng một thây người trên cái võng máu me loang lổ trên áo trên mặt trên thân hình. Ruột thì lòng thòng thật dị hợm”?
Tàu lật ở Phan Thiết, một thây người máu me, ruột lòng thòng ở vùng Ninh Hòa – Vạn Giã, bị mắc lừa ở nhà ga Qui Nhơn và bóng người đi bên cạnh lầm lũi… hình như đã khơi gợi trong lòng cô sự xót xa mất mát, mất mát bên ngoài và mất mát cả trong tâm hồn cô? Những với chụp của cô luôn bị hẫng hụt đã trở thành nỗi khao khát mãnh liệt, lẻ loi tận cùng, khiến cô phải kêu lên: “Tôi ước ao có anh đến để anh hôn tôi dưới bóng cây này hay mình vào xi-nê hôn nhau trong bóng tối. Tôi thích như vậy… Sân ga vắng tanh. Đèn phố có chỗ không. Tôi cô đơn quá. Tôi khóc một mình”. Và: “Tôi yêu anh yêu biết nhường nào như quê hương yêu anh yêu mê mệt mà anh dửng dưng, nguội lạnh. Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh. Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”.
Liệu rằng những lời kêu than nức nở kia có cứu vãn những giây phút ngọt ngào khi “anh” bất ngờ lao tới, bất ngờ lôi cô ra khỏi nhà trong buổi sáng sớm. Hai người đưa nhau ra Ghềnh Ráng. Chỉ có hai người trong nắng sớm và biển xanh ngắt sâu thẳm dưới chân núi? Với một khoảng không gian bao la như vậy, đã khiến cô phải thú nhận: “Ý thức tôi mơ hồ về thời gian không gian”. Và cô gái phải cảm ơn về sự mơ hồ ấy từ ý thức bắt đầu lao ra khỏi thế giới đang mất dần trọng lực: “Và anh giằng hôn tôi dưới nắng chói chang. Tôi kinh ngạc. Tôi đâu dễ dàng để anh hành động như vậy. Tôi xô đẩy anh và bỏ chạy”.
Cuộc dạo chơi tình cảm đẩy lên thành cuộc đuổi bắt tình cảm, để cuối cùng cô trở thành những cuộn mây “đâm vào núi cao như con chim mù đâm vào ghềnh đá”. Đây cũng chính là sự chống chế cố hữu của tất cả mọi giống cái. “Tôi biết kêu ai” hóa thành sự thắng thế luôn âm ỉ nỗi khát khao đến khờ dại trước kia và ngay cả lúc này, trong người cô? Và hệ quả của mối tương tác kia là: “Tôi bủn rủn chân tay. Tôi sụm xuống sụm xuống cho đến khi mềm nhũn trong tay anh. Anh đã hôn tôi không sót một khoảng thịt da. Buổi sớm tôi còn mặc thêm một áo lót mà sao cái hôn anh vẫn thấu suốt. Chiều hôm qua tôi trông gió nâng vạt áo thật xa, thật cao và vải quần được ép thật sát vào da. Lằn chiếc xì-líp nổi kinh khủng mà tôi vẫn chưa thấy hài lòng. Sao bây giờ những thứ nghi trang của tôi tan biến đi đâu mất”.
Lá khi rụng thì rơi xuống mặt đất. Nước luôn tích tụ ở vùng trũng và chảy xuôi ra biển, không bao giờ trở ngược lên núi cao. Tất cả mọi vật trong vũ trụ đều bị lực hút của trái đất. Chúng rơi xuống và rơi theo chiều thẳng đứng. Cái định luật này cũng đã và đang xảy ra với hai người, “anh” và cô gái, trong trạng thái hưng phấn của hai mảnh ghép để cô kịp nhận thấy những thứ nghi trang đã biến mất là thuận chiều: “Anh đam mê buổi sáng. Tôi đam mê buổi chiều. Mỗi người đam mê ở một lúc khác nhau, phải chi nó trùng lại một thì đỡ khổ biết mấy”.
Giống cái luôn biết cách phòng thủ, và cô cũng đã mang ra niềm đam mê, hoan lạc để phòng thủ cho chút hạnh phúc như con chim mù đâm vào ghềnh đá. Cô, lúc này chính là những cuộn mây và con chim mù đó: “Tôi thấy ấm êm lạ thường. Anh siết chặt tôi đến nghẹt thở muốn gãy xương. Anh ôm giữ tôi chờ mặt trời lặn. Nhưng rồi mặt trời đã lặn và anh cũng không được gì. Tôi biết, tôi hiểu và tôi thương anh. Nhưng tôi cũng thương tôi chớ. Đó là cái quyền có ở mỗi con người”.
Với cô, niềm hạnh phúc êm ái luôn đến sát gần trong trạng thái gãy vụn, tan nát. Nó bất ngờ lao tới ôm siết cô và bất ngờ rời xa khiến cô càng lúc càng trở thành con chim nhỏ ướt mưa, run rẩy đến tội nghiệp. Cô luôn là kẻ đi chụp bắt cái bóng nhỏ ngọt ngào thật mong manh. Nhưng cuối cùng, nó chỉ là cái bóng của chính cô rớt xuống nền đất lạnh. Cô luôn bị đặt trong trạng thái đơn độc: “Tôi ước ao có anh đến để anh hôn tôi dưới bóng cây này hay mình vào xi-nê hôn nhau trong bóng tối. Tôi thích như vậy. Những chiếc phi cơ lên xuống ở phi trường đèn đỏ chớp chớp nhoè nhoè như những con bướm lửa. Bầu trời mênh mông và một màu đen khảm kín. Sân ga vắng tanh. Đèn phố có chỗ không. Tôi cô đơn quá. Tôi khóc một mình”.
Cuối cùng, cô gái vẫn rơi vào tình thế bị động, là kẻ không thể “tham dự vào một phần đời của anh” là một sự thất-bại-tình-cảm dẫn đến tình thế gần như tuyệt vọng và càng cô đơn hơn bao giờ, khác với buổi ban đầu, hai người, hoặc cách nhau một lối đi, hoặc xa trong tầm mắt đợi chờ, trông ngóng. Cô lại bắt đầu quay lại với khoảng trống mênh mông: “Tôi thì yêu anh mà sao không được dự vào một phần đời sống anh. Tại sao chúng ta bị đưa đẩy vào những nghịch lý như vậy để rồi đơn độc trong những cuộc hành trình không mấy chi đẹp đẽ: Quê hương đang đi dần vào cái đói khổ, điêu tàn. Tôi đang đi dần vào cái già nua, nhục nhã. Còn anh, anh đang đi dần vào cái gì? Tôi nghĩ là anh đang đến thăm tôi”.

Truyện ngắn thứ hai: Vòng đai học vấn không có gì đặc biệt. Đó là nỗi thất vọng, sự mất phương hướng của tuổi trẻ miền Nam trong bối cảnh chiến tranh bắt đầu nhìn thấy rõ ràng ngay trong thành phố được xem là bình yên nhất: “Bạt thức dậy khi chiếc máy bay phản lực đang rồ máy trên nóc nhà”. Sự học gần như bắt đầu lâm vào ngõ cụt: “Con đường đại học còn hun hút. Tôi chưa thay đổi xê dịch gì”. Những thông tin xấu về thời cuộc là nỗi ám ảnh đối với bọn họ. Những buổi hội thảo của sinh viên như phương cách mở ra những hướng đi mới cho tuổi trẻ, nhưng hóa ra là nó đi ngược lại, như buổi sáng đó có buổi hội thảo bên trường Dược. Không nghe thấy buổi hội thảo này đang đề cập, thảo luận những vấn đề gì, mà chỉ có hậu quả: “Đám đông ùa chạy dạt ra sân trường. Hai đám đuổi đánh nhau thì rõ rệt nhất. Đám chạy trước vượt qua trường được thì chạy biến. Đám kia đuổi theo rồi cũng mất. Còn lại mấy người bị thương được bao quanh săn sóc…”. Bạt loanh quanh trong thành phố rồi bỏ ra Vũng Tàu với những người bạn làm việc ở tòa hành chính để chứng kiến những chiếc xe Jeep lùn, một anh lính Mỹ chở một cô gái chạy vụt đi… Truyện được viết với tâm trạng rã rời, mệt mỏi. Các nhân vật và khung cảnh xuất hiện lộn xộn, rối rắm mà không nói lên được điều gì mới mẻ, chí ít là thái độ, sự lựa chọn của những người trẻ tuổi như Bạt, đang ở vào thời kỳ khốc liệt của chiến tranh Nam-Bắc như nhiều nhà văn trẻ cùng thời đã biểu tỏ? Tôi nghĩ, truyện này của Cảnh Cửu đã bộc lộ những lúng túng của tác giả trước ngòi bút khi đặt ra vấn đề không lấy gì làm to tát, nhưng không thể giải quyết được vấn đề ấy. Đây cũng chính là bi kịch cho không ít nhà văn có nhiều tham vọng!

Truyện sau cùng trên Văn, Khởi hành vào mùa xuân tương lai, cũng chỉ có nhân vật chính là cô gái đang lâm vào ngõ cụt của cuộc tình-yêu-kiếm-tìm, tiếp tục giãi bày những hy vọng và thất vọng, thắp lên ngọn đèn “leo lét” giữa hạnh phúc và đau khổ. Truyện này là sự lặp lại nội dung của Thư từ Tuy Hòa, ở đó Cảnh Cửu lại viết tiếp những hy vọng, thất vọng, đợi chờ, nắm chụp và mất đi và cô đơn mà Thư từ Tuy Hòa đã nói hết, viết hết? Khởi hành vào mùa xuân tương lai chỉ là cái bóng, là đứa em sinh đôi với Thư từ Tuy Hòa!
Ở hai truyện này, có nhiều đoạn, nhiều suy nghĩ, cảnh sắc được mô tả gần giống như nhau: “Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh. Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu” (TTTH). Và: “Anh hãy cúi nhìn lại tôi đi – mướt xanh như những đám dương vùng Đại Lãnh… Tôi phát khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu” (KHVMXTL) cùng nhiều đoạn rải rác nữa trong hai truyện vừa dẫn.
Nhân vật chính cũng diễn lại một thứ tình cảm nảy lên từ một phía, từ những chuyến tàu, một chuyến đi và sự gặp gỡ không hẹn trước. Độc giả chỉ được Cảnh Cửu cho phép được nhìn từ một chiều về những suy nghĩ, tình cảm của cô gái như một con ốc tự thu mình vào chiếc vỏ dày. Cô khao khát rồi tự ngăn chặn chính mình, tự làm khổ chính mình. Đôi khi nhẩm đọc, ta có cảm tưởng như cô là nhân vật nữ trong dòng văn chương Tự Lực văn đoàn còn sót lại trong thập niên 60?: “Nhưng tôi thật ngạc nhiên thấy anh cũng xuống Nha-Trang. Suýt nữa tôi buông tay đánh rơi chiếc giỏ của chị. Nỗi hốt hoảng nào đã làm mình khốn đốn. Anh xuống đây hay anh đi đâu đó chỉ là phần việc của anh. Mỗi người khỏa mình trong một cử động. Cử động của anh khác cử động của tôi nào có liên hệ gì. Tôi cố trấn tĩnh đừng cho tình cảm thành hời hợt. Nhưng thật chưa lúc nào tôi lúng túng bằng: anh đã áp tới nhét vào tay tôi mảnh giấy con. May là chị tôi không để ý. Còn muốn nói gì nữa. Như thế tôi đã quá nhọc nhằn anh chưa hả sao. Anh còn có ý viết giấy đưa tận tay tôi giằng giật nữa cho hả. Tôi không muốn phải chịu đựng thêm một cái gì. Hai mươi mấy tuổi – hai mươi mấy năm – bây giờ tôi không muốn chịu thêm một cái gì nữa cả”.
Một cách khác, thì cô thật giống với hình ảnh con kiến bò quanh miệng chén với hai chiếc râu nhỏ bé luôn hướng về phía con mồi, trong khi những chiếc chân thì luôn hành động điều ngược lại, để cuối cùng phải tự dằn vặt, đau khổ, than oán: “Nhưng hai con mắt chỉ dõi trong và khô cứng như đôi mắt đã hóa đá như người mẹ bồng con đứng choi loi giữa Vũng, năm tháng nhìn ra biển khơi chờ đợi mỏi mòn mà không biết thời gian đi nhanh trên vai trên tóc… Sao anh không đọc hết niềm yêu thương trong ánh mắt tôi. Tôi yêu anh yêu biết nhường nào như quê hương yêu mê mệt mà anh lừng khừng ngớ ngẩn. Nơi ruộng lúa bao la miền Nam nào đó đã làm anh quên đi đập đồng khô cằn ở đây chăng”.
Cô giáo trong Thư từ Tuy Hòa và cô gái trong Khởi hành vào mùa xuân tương lai chung quy cũng chỉ là biểu tượng của sự thất bại ê chề trong thứ tình yêu bất hợp và bất toại. Ba thành phố liền kề nhau Nha Trang – Tuy Hoà – Qui Nhơn và những chuyến tàu lửa đeo mang một chuyện tình không lối ra. Những địa danh Cầu Đá, Hòn Chồng, Cầu Đà Rằng, Ghềnh Ráng, Tháp Bà… có mặt trong truyện như là những nhân chứng cho sự dãy dụa tình cảm của cô gái không hơn kém. Nếu dùng từ ngữ theo giáo sư Nguyễn Văn Trung thì cũng có thể coi sự dãy dụa tình cảm này như một bằng chứng vong thân khốc liệt nhất trong đời thiếu nữ 21 tuổi khi gặp “anh” luôn mải mê “trên bước đường phiêu bạt” , còn “em” thì “man dã trong tuổi đời ngơ ngác”.
Kết cục, dẫu cho cuộc tình phút chốc kia có được ghi lại, rồi có đốt thành tro hay kêu lên “nhục nhã” từ trong ý nghĩ, thì nó (cuộc tình) vẫn luôn sưng tấy lên mặc cảm phạm tội của người thua cuộc, tự nhận đang chìm trong “tuyệt vọng”. Con tàu, một phương tiện dịch chuyển nhưng lúc thì mang đến những háo hức đắm đuối trong ánh mắt, khi thì hất tung cô gái ra khỏi miền đam mê. Xem ra, con tàu cũng tích cực dự phần vào ngõ ngách tình cảm được mất của cô.
Về tình yêu, về nỗi cô đơn, giận hờn… luôn được các nhà văn xây dựng với những cách nhìn, thể hiện khác nhau: Nàng Janine (2) của A. Camus chỉ ý thức được mình cô đơn khi lặng lẽ rời khỏi giường Marcel, chồng nàng, và bỏ ra ngoài phòng khách sạn ở một thị trấn nhỏ trong sa mạc, bước qua những bậc cầu thang hẹp tối om trước khi đứng trên sân thượng, nhìn bầu trời đầy sao trong đêm tối sa mạc mênh mông! Còn người nữ của Cảnh Cửu thì luôn miệng kêu lên ầm ĩ: “Tôi cô đơn quá” trong sự chuyển động ầm ầm của những hồi còi thét dài, bánh sắt nghiến trên đường ray: “Con tàu cứ miệt mài mang tôi xa nữa. Từng bước rung rinh hì hục mang sự ngồi im của tôi bay vào sự tuyệt vọng… Tôi gục mặt để khỏi thấy ga Tuy-Hòa như một điều nhục nhã không thể tránh”.

Một dấu hỏi khác cũng được đặt ra: Cảnh Cửu là nhà văn nam hay nữ? Chẳng ai hay biết! Nhưng dẫu cho là gì đi nữa, thì những hiểu biết khá tường tận về tâm sinh lý người phụ nữ đã là sự thành công, khi Cảnh Cửu để cho các nhân vật nhập vai ở truyện đầu và truyện cuối, phải thừa nhận là rất hoàn hảo. Có lẽ, khi viết, Cảnh Cửu đã thả hết hồn mình vào tính cách, tâm lý nhân vật giống cái chính xác đến từng li mét. Ngay cả sự ham muốn tính dục và sự kềm nén thì cũng chỉ có một số ít nhà văn nữ, như Nguyễn Thị Thụy Vũ hay Trần Thị NgH. mới đạt được sự tinh tế trong ngôn ngữ miêu tả ở những thời khắc tế nhị nhất và cũng “trân tráo” nhất.
Cho tới lúc này, các tác giả nghiên cứu văn học miền Nam, các độc giả yêu mến hai truyện ngắn trên chưa một ai biết rõ về Cảnh Cửu. Còn hay mất? Đang ở đâu? Làm gì? Chỉ hy vọng những dòng chữ này đến được tay Cảnh Cửu hay người thân của Cảnh Cửu, để có thể giúp làm sáng tỏ những tồn nghi mà tác giả đã để lại trong một quãng lặng khá dài trong dòng văn học miền Nam.

(khởi đầu mùa gió Nam non 5/2013)
Nguyễn Lệ Uyên
________________________________________
(1) Truyện ngắn thứ hai do bạn của anh Trần Hoài Thư sao lục ở thư viện Hoa Kỳ, chụp ảnh, đánh máy gửi về.
(2) Nhân vật trong truyện La femme adutère trong tập l’Exil et le Royome của A. Camus.

không đề

npphan

níu một giọt sương trong
bước tới bờ tâm thức
lắng một tiếng vô cùng
xôn xao miền ký ức

chạm vào cõi an nhiên
lửng lơ vầng nguyệt bạch
cây trút lá ưu phiền
trên đường về xa lắc

điểm một nét bi hài
vở kịch đời vay mượn
mơ hồ chút tỉnh say
tạ ơn tâm vô lượng

NP phan

CHIỀU NHÌN MƯA BÊN HÈ PHỐ

nguyenngocnghia

Tay vin cành gió rũ
Em hái trái mưa xa
Nụ hôn ngân ngấn lệ
Thấm lọn tóc chiều tà

Chừng như chiều đã muộn
Chừng như ta mênh mông
Em thấp thoáng bụi hồng
Tan trong trời gió nổi

Uống một ngụm tà huy
Lẫn màu mưa hiu hắt
Kí ức bỗng xanh rì
Giữa sắc chiều phiêu dạt

Cớ chi lòng sũng nước
Bên hiên đời hanh hao
Cớ chi sầu buốt ngực
Giữa phố người lao xao

Huơ chân thềm gạch cũ
Ừ. ngày trôi. mùa trôi
Ta cũng trôi âm ỉ
Một đời đăm đắm…
… trôi.

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

Trịnh Cung: Treo mình trên giá vẽ

dangphuphong

10182435_hinh 6

(Sơn dầu trên canvas-80 x 99cm. 1989).

Năm 1962 Trịnh Cung dù chỉ là một cậu thanh niên tỉnh lẻ 23 tuổi, vừa tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế đã xuất hiện như là một họa sĩ tài danh do được giải bằng Danh Dự trong cuộc Triển lãm Mỹ Thuật Quốc Tế lầ thứ nhất (1 st National Fine Art Exhibition), nhất là nhờ bài viết của Họa sĩ Thái Tuấn khen tặng anh trên tờ Bách Khoa. Lúc này anh chưa lấy họa danh là Trịnh Cung, vẫn cái tên khai sinh là Nguyễn Văn Liễu được giới hội họa đàn anh như Duy Thanh, Ngọc Dũng khen tặng nhiệt tình.
Chỉ trước thời gian này chừng 5, 6 năm, Nguyễn Văn Liễu, chất ngất một niềm đam mê thơ văn đầy lãng mạn, luôn mong ước trở thành một thi sĩ nổi tiếng. Họ Nguyễn đi học vẽ chỉ vì không có trường dạy làm thơ viết văn, với hành trang: “ Thơ là họa vô hình, họa là thơ hữu hình”. Cứ vậy, song song với việc làm quen với màu sắc, nét cọ, chàng vẫn sáng tác những bài thơ với cách dùng từ mới. ý, tứ lạ, lung linh tỏa sáng cho đến bây giờ. Cũng nên nhắc đến bài thơ “Cuối cùng cho một tình yêu” Trịnh Công Sơn phổ nhạc là một bài hát hay được rất nhiều người ưa thích. Nhưng họ Nguyễn đã từ giã thi ca. Vì, hội họa đã chọn Trịnh Cung!
Từ đó, xuyên suốt một con đường dài 53 năm, trong cuộc chơi màu sắc Trịnh Cung nổi bật lên như một ngôi sao sáng; trong lý luận về hội họa Trịnh Cung xuất hiện như một kiện tướng. Qua những bài báo, trả lời phỏng vấn, viết sách với những khám phá, nghiên cứu bằng những lý luận vững chắc, cũng như được thỉnh giảng mỹ thuật, đọc tham luận tại một số đại học ở Mỹ,viện bảo tàng mỹ thuật ở Singapore, Trịnh Cung đã gây được ảnh hưởng đến đương thời và cả tương lai cho mỹ thuật tạo hình VN. Để nói về những việc ngoài khung vải của Trịnh Cung, tôi đồ rằng phải viết cả cuốn sách, ngoài phạm vi cũng như ý định của bài viết này. Ở đây, người viết chỉ cố gắng đưa ra những cảm nhận về một số tranh tiêu biểu, một cái nhìn rất sơ lược, khái quát trong hành trình hội họa dày cộm của người họa sĩ tài ba này.
Tính cách tìm kiếm cái mới lạ trong văn học nghệ thuật của Trịnh Cung đã phát sinh từ thời anh còn học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế. Chỉ vì anh dám vẽ theo lối Hiện Đại (Modern Art), một trường phái không có dạy trong trường nên anh đã bị vị Giám đốc là họa sĩ Tôn Thất Đào đuổi học. Thời bấy giờ nghệ thuật phương Tây du nhập vào miền Nam chỉ qua ngả sách báo, các họa sĩ chỉ được tiếp cận như vậy nhưng vì quá say mê nghệ thuật, anh đọc sách, tự tìm hiểu nên lãnh hội được nhiều. Tên tuổi của những họa sĩ tài ba trên thế giới như Henri Matisse, Picasso,Wassily Kandanski, Amedeo Modigliany đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ lên nhiều họa sĩ miền Nam, trong đó có Trịnh Cung. Nhưng Trịnh Cung đã nghiêng về trường phái Biểu Hiện (Expressionism).
Chủ nghĩa biểu hiện xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở châu Âu do những thái độ hoài nghi, bất đồng, lo ngại đối với xã hội, có đặc điểm nhấn mạnh, thậm xưng cảm tính – xúc cảm trong sự thể hiện trên khung vải của người họa sĩ. Chủ nghĩa này còn được thể hiện trong văn chương và các loại nghệ thuật khác. Có sự trùng lập nào chăng nếu đem so sánh việc ra đời của Chủ Nghĩa Biểu Hiện ở châu Âu trong khoảng tiền Thế chiến thứ nhất và sự tham gia Chủ nghĩa Biểu Hiện của những họa sĩ Việt Nam trước năm chiến tranh Nam Bắc bùng phát phát dữ dội 1965? Tính chất của Trịnh Cung rất hợp với những quan điểm của Trường phái Biểu Hiện nên anh đã ở với nghệ thuật Biểu Hiện khá lâu dài, từ 1962 cho đến thập niên 90 sau đó anh bước sang Biểu Hiện Trừu Tượng (Abstract Expressionism). Khoảng 10 năm trở lại đây anh đã đi hẳn vào Trừu Tượng nhưng thỉnh thoảng anh cũng vẽ những bức tranh hình tượng (figuration) như bức tranh “Đôi chúng” là một thí dụ.
Tôi muốn dùng sợi chỉ xuyên suốt qua những tác phẩm “đình đám” khá tiêu biểu của Trịnh Cung trong một hành trình dài hơn 50 năm có đầy hoài nghi, bi quan, thương tích, âu lo, gây hấn, trầm tích muộn phiền trong đời sống của anh “ nổi trôi theo vận nước”, bị trấn lột bỡi xã hội bất công. Những cảm nhận, thọ. chịu đó hầu như thể hiện toàn bộ trong tranh của anh. Nói cách khác tranh Trịnh Cung đã bày tỏ, hiển lộ căn cước của tác giả – một con người chung thân bất mãn. Với cá tính mạnh mẽ, nhuần nhuyễn lý thuyết hội họa, luận giải, phê phán về nhiều vấn đề hội họa, cả luôn bộ môn văn học đều rất logic, vững chắc, rất bảo lưu ý kiến, và, anh cũng lại một người rất nhạy cảm cho nên Trịnh Cung không tránh khỏi người yêu kẻ ghét.
Trở lại từ năm 1962 với “Mùa thu tuổi nhỏ”, bức tranh đoạt bằng Danh dự Triển lãm Quốc tế Sài gòn lần thứ nhất, đã đưa tên tuổi của anh chói sáng. Mặc dù bức tranh nói về niềm vui của tuổi thơ, đi rước lồng đèn Trung thu, nhưng hầu như toàn bộ bề mặt tranh phủ lên một màu đen tối. Cái đen tối không phải của đêm đen mà là sự tăm tối trong bối cảnh xã hôi của những em nhỏ nghèo hèn này. Phần trắng sáng ở giữa cũng không phải là cái ánh sáng hiền lành, tươi mát của ánh trăng mà chính là sự đối chọi, phản diện của những cuộc đời khốn khó. Bức tranh nói lên niềm ao ước hơn là sự vui chơi của trẻ thơ. Niềm ao ước đó thật quyết liệt qua những cây gậy mà chúng mang theo. Đây là hình ảnh tuổi thơ cơ cực củaTrịnh Cung ở một vùng quê nghèo khó; nó đã được nung nấu trong tâm thức cho đến khi có cơ hội bộc phát bằng một bức tranh Biểu Hiện thật tài tình. Bức tranh báo hiệu cho một Trịnh Cung dấn thân mang tính phẩn nộ trong tâm thức sâu sắc của một họa sĩ tài ba.

Khoảng năm 1958, Trịnh Cung bắt đầu chơi thân với Đinh Cường và Trịnh Công Sơn. Đây là một bộ ba tuyệt đẹp trong văn nghệ. Một Đinh Cường hiền hòa, lãng mạn. Một Trịnh Công Sơn thống thiết trong nỗi đau thân phận con người, tình yêu. Một Trịnh Cung thẳng thắn bộc trực, đầy lửa. Cả ba đều tài hoa và bổ sung cho nhau. Họ đã tự tạo nên những trên tuổi lớn trên vòm trời văn học nghệ thuật của Miền Nam.
Bức tranh thứ hai tôi muốn giới thiệu đến là “Đứa trẻ du ca” vẽ 1969. Từ năm 1966, phong trào Du ca nổi lên rầm rộ, khắp nơi trong miền Nam , thanh thiếu niên thi nhau hát những bài thanh niên ca, thiếu nhi ca, , sử ca, dân ca, đồng (dao) ca… tôi cho rằng bức tranh này đã được vẽ khi vang vọng bên tai anh những bài hát đồng dao ấy. Hình ảnh của một thằng bé mặc chiếc áo đầm lam lổ, bẩn thỉu (tác giả giải thích chiếc áo từ viện trợ nhân đạo nên được gì mặc nấy, không kể gái trai) trên cổ mang lá bùa hộ mệnh (cũng theo tác giả) đang gảy đàn Mandolin đàng sau là một xóm nghèo rách nát. Nói về cây đàn,Trịnh Cung, với giọng xa xôi trầm lắng, anh kể về cái quá khứ tăm tối, với chiếc đàn cũ kỹ, sứt mẻ anh từng hát nghêu giữa cánh đồng mông quạnh mà mơ ước những điều tốt đẹp đến cho quê hương như cậu bé trong tranh đang hát một khúc hát mong mỏi hòa bình trong trận chiến bạo liệt đang xảy ra trên đất nước. Con chim, biểu tượng hòa bình, đậu trên đầu đứa bé, tuy thật gần mà cũng rất xa vì nó ở ngoài tầm mắt. Toàn thể bức tranh đều được xử dụng màu xám ảm đạm, một chút xanh của bầu trời không thể cứu vãng được cả không gian buồn lạnh lẽo. Đây là một bức tranh gợi cảm, âm vang của bài hát không nằm trong phạm vi bức tranh, nó vang vọng ra ngoài đi vào lòng khách xem tranh.

Năm 1974, Trịnh Cung cảm thấy hoàn toàn thất vọng trước tình hình đất nước; miền Nam sắp sửa sụp đổ. Anh thể hiện suy tư này qua bức tranh “ Cuộc đầu hàng của gia đình tôi”. Toàn bộ bức tranh phủ bằng màu vàng thổ-màu của bi quan. Thế giới đã không còn gì ngoài một màu đất chết. Bốn người trong gia đình anh (vợ, chồng và hai đứa con nhỏ) đã trở thành 4 thân cây chết, trơ mấy nhánh khẳng khiu, gầy guộc. Màu sắc và bố cục của bức tranh làm người xem có cảm tưởng đang đứng trong sa mạc với mấy nhánh xương rồng cháy đen vì nắng hạn, cuộc sống tươi đẹp với hoa cỏ xanh tươi đã mất hút tự phương nào. Tâm thái của tác giả cũng là tâm thái của những người hiểu biết tình hình chính trị, quân sự của miền Nam bấy giờ.

Trịnh Cung trở về sau gần ba năm lao tù, anh không còn tâm trí sáng tác được. Vẽ chỉ để kiếm tiền cho cơm áo. Chỉ đôi bức anh sáng tác sau những năm tháng dài bi quan và cô độc. Điển hình là bức tranh “ Hòa tấu trong sa mạc” mà nhà phê bình hội họa Corinne de Ménonville cho rằng “cái tựa nói lên tất cả” (the title says it all ).
Khoảng 1996 cho đến khi chính thức định cư tại Mỹ 2014, Trịnh Cung có dịp ra hải ngoại nhiều lần , khi thì được mời thỉnh giảng ở các đại học tại Mỹ , Singapore…. Đây là thời gian anh có được nhiều thì giờ tiếp xúc trực tiếp với nền hội họa Âu Mỹ, đi tìm tòi, học hỏi ở các viện bảo tàng danh tiếng nhất thế giới. Nhiều bài viết nhận định sâu sắc về hội họa của anh ra đời. Anh đã có một cuộc triển lãm gây nhiều tranh cãi tại thành phố Garden Grove, Mỹ lấy tên “Âm vang của đất” (Echo of the Land) và một tuyển tập nghệ thuật cùng tên. Trong thời kỳ này Trịnh Cung đã tưởng mình không khỏi thoát cái chết vì căn bệnh cancer tụy tạng. Nhưng anh đã tái sinh trong một tình huống lạ kỳ mà y khoa không thể giải thích.
Năm 1989 bức tranh “Treo mình trên giá vẽ” (tên tiếng Anh: Self-crucsifixtion) ra đời. Đây là kết quả nhiều năm trời suy tư của Trịnh Cung về hội họa. Bức tranh nâng hội họa thành tôn giáo, nhưng tín đồ đã sùng bái đạo không có tham vọng cứu rỗi nhân sinh mà chỉ để tử vì đạo một cách thật cô đơn. Đây là bi kịch của đời họa sĩ. Chúng ta liên tưởng đến cuộc đời khổ. khó, rồi chết trong đau thương tăm tối của các danh họa như Vincent van Gogh (1853-1890), Amedeo Modigliani (1884-1920)… Màu xám ngăn ngắt là màu chủ đạo cho bức tranh, những dòng máu đỏ bầm chảy lan ra trở thành những áng mây huyết dụ. Lạnh lùng. Quỷ ám. Tôi cho rằng góc này của bức tranh là một biểu tượng tuyệt vời của nghệt thuật. Đàng sau cái giá vẽ đang treo mình người họa sĩ là đồi núi chập chùng. Trên đỉnh đồi, người chơi dương cầm (được tác giả cho biết là cô con gái đầu lòng) như dùng âm thanh của chiếc đàn như tiếng chuông gọi hồn, chia xẻ nỗi lòng của người tử đạo.

Qua những bức tranh Trịnh Cung vẽ theo trường phái Biểu hiện, trừ một số ít anh rập khuôn theo đường lối là chú trọng đến những mảng và khối màu dày không bằng phẳng, nhiều màu sắc, tô đậm các đường viền đậm nét, dùng hình thức phóng đại, sử dụng những nét mờ tạo cảm giác chuyển động v.v. còn lại là những bức tranh anh vẽ theo phong cách dùng màu mỏng hơn, không dùng nhiều màu. Đây là phong cách riêng của anh trong tranh Biểu Hiện.
Từ khi được tái sinh, gặp mối tình tuyệt vời của một nhà thơ nhỏ hơn anh hơn 40 tuổi, rồi lấy nhau, Trịnh Cung lần hồi nhẹ đi những bi quan cũng như những cá tính mạnh mẽ. Anh tin vào một điều mà theo cách anh gọi là “số mệnh có điều kiện”. Và, anh chú tâm vào lối vẽ Trừu Tượng. Anh muốn đưa đến người xem những cảm xúc về mỹ thuật nhiều hơn là cảm xúc về nội dung. Màu sắc lãng mạn, trử tình mang hơi hướm phương Đông, tranh Trừu Tượng của Trịnh Cung rất được nhiều người ngưỡng mộ.
Anh thường nói: “Tôi chọn cách xuất hiện bằng số ít hơn là số nhiều mà chẳng là con số thật sự.”. Chẳng phải vậy mà nhà thơ Du Tử Lê đã gọi. chỉ. đích danh Trịnh Cung, Con sói đơn độc(?).

Đặng Phú Phong
(Trích” Bên kia chữ nghĩa & nghệ thuật”
Chương Văn sẽ xuất bản cuối tháng 12/2015)

THẾ GIỚI NÀY NÀO CỦA RIÊNG AI ?

quanduong

Khu chung cư căn phòng ẩm chật
Gã đàn ông đến từ Việt Nam
Có con gián là dân bản gốc
Có ban ngày và có ban đêm

Hắn mỗi sáng nấu tô mì gói
Ðun cà phê trên ngọn lửa buồn
Múc muổng đường pha bằng ký ức
Quậy tháng ngày tiếng muổng loong coong

Nâng tách hớp cô đơn từng ngụm
Uống nỗi nhà tăm cá bóng chim
Ðôi đủa gắp cọng mì đất nước
Nhai điểm tâm trợn trạo nỗi buồn

Con gián chia cọng mì rơi vãi
Như một phần thân thể Việt Nam
Hai cọng râu nhíu mày chụm lại
Cuộc sinh tồn như một phản năng

Hắn mỗi tối trùm chăn kín mít
Chiếc nệm giường cọt kẹt kêu đau
Uống không cạn, uống hoài nước mắt
Tháng ngày qua lặng lẽ bạc đầu

Con gián đứng nhìn từ kẹt cửa
Lắng im chia những tiếng thở dài
Phòng ẩm chật ngăn hai thế giới
Thế giới nào là của riêng ai?

Thế giới nào là của riêng tôi?
Xuân khều động vết thương mưng mủ
Cục bông gòn nhúng lên lịch sử
Vết bầy nhầy không kéo da non

Quê nhà tôi bên kia đại dương
Cách bên này một bờ biển động
Vành biển máu một thời tang trắng
Phủ lãng quên trên những oan hồn

Những cuộc tình mỏng như khói sương
Là khói mây tụ về hậu kiếp?
Mò chai rượu nửa khuya bật nút
Nhớ đen thui con mắt hạt huyền

Ðêm xuân này đứng ở khoảng không
Không gia cư cũng không tổ quốc
Ðứng tứ trụ hai chân bám chặt
Ðội trên đầu nửa mảng trời xa

Ðêm dật dờ như một thây ma
Hả họng hú tiếng gào thăm thẳm
Vào vũ trụ. Vọng lời im lặng
Có còn ai nghe một lời gào?

Còn. Còn đây con gián lêu bêu
Trố ngạc nhiên vào lời hắn hét
Ôi! Chữ nghĩa hiển nhiên rất thật
Nhưng được gì? Hỡi những lời thơ?

Thời gian trôi trở lại bao giờ?
Thời gian không trở lại bao giờ…

QUAN DƯƠNG

vang & chạm

khalycham

ta dọn thơ đổi lấy rượu giang hồ
bạn bè say ngủ vùi theo màu nắng
giá có được trong tay vòng lục lạc
tiếng khua vang chạm vỡ bốn phương trời

cười hiền lành, Phật hỏi ai đang chơi
sao lại dám phất cờ rồi nói phướng?
xin thưa ngài: ta là con gà trống
hóa kiếp làm người cao hứng gáy thơ

chữ nghĩa cuồng tâm khuấy động bến bờ
ngộ hay mê đến bao giờ tỉnh giấc
nếu đá cuội trong nắm tay hóa ngọc
ta an nhiên mài dũa để siêu phàm

đường nào về lửa chạy theo dung nham
đem thơ trả nhập vào hồn dế chó
nào ai hiểu âm buồn từ cánh gió
hồn ta run giữa ma trận đen ngòm

ngày đảo điên rình trộm mõ chùa thiêng
ngồi giữa chợ gõ nhịp tìm ngạ quỷ
nhìn bồ tát choàng áo vàng mỹ nữ
thơ một dòng huyết lạnh chảy về đâu?

Khaly Cham

Đã đến lúc, dù không đúng lúc, ông tôi chết!

khuatdau
Ông tôi đã chết!

Chết ở tuổi 99 nên sự tiếc thương được mọi người dành cho ông chỉ là: Uổng quá há, còn năm nữa thôi, sao không ráng sống cho đủ trăm? Làm như thể “đủ trăm” thì ông mọc được cánh mà bay lên giời! Dĩ nhiên, vì chưa đủ trăm nên đến tận cuối đời, ông vẫn cứ phải nằm trên chiếc giường mà dù có thay chăn chiếu từng ngày, thì cái mùi của người già, một cái mùi ngai ngái, khăm khẳm vẫn khiến cho những cái mũi trẻ trung của khách đến thăm phải khó chịu. Họ kính cẩn (hay giả vờ kính cẩn) đặt quà lên bàn, run rẩy đưa cả hai bàn tay úm lấy tay ông. Bàn tay ông thì xương xẩu lạnh lẽo. Bàn tay họ thì mum múp ấm áp. Chưa khi nào mà sự tương phản của tuổi trẻ và tuổi già lại rõ rệt đến thế.

Ông chết ngày 15 tháng 8. Lại tiếc!

Phải chi ráng thêm 4 ngày nữa thì trọn vẹn làm sao, vì đó là ngày cách mạng thành công! Một ngày mà ông sung sướng, hãnh diện, luôn nhắc tới, luôn nhớ tới. Ông thường nói, mẹ cha chỉ sinh ra mỗi cái xác, chính cách mạng mới sinh ra ông cái phần hồn. Không có cái ngày ấy thì ông cũng u mê tăm tối như bao thế hệ trước mà thôi.

Ngày ấy ông 26 tuổi. Từ một anh chân quê, quanh năm bận bịu với cái cày cây cuốc, ỗng bỗng dưng được mặc đồ đại cán, đi dép cho dù là dép râu, đội mũ nan bọc vải, mang xách cốt bằng da bò và cứ thế đi xuống xã chạy lên huyện vun vút như con thoi. Có trời mới biết được ông làm đến chức gì. Ngay như bà tôi, là người có một thời tâm phúc ruột rà với ông, mà cũng chỉ biết ông có mỗi một việc là hết đi lại về. Chuyện nhà cửa ruộng vườn, chuyện con cái ốm đau, chuyện tết nhứt giỗ chạp… ông mặc nhiên trút cái gánh hết sức nặng nề đó lên đôi vai mỏng mảnh của bà. Công tác, lúc nào cũng công tác, bà nói. Mà có đưa về được đồng xu cắc bạc nào đâu. Toàn là lấy của nhà. Nhưng nhà đâu có của nả gì. Cũng chỉ toàn là mồ hôi, nước mắt của vợ con thôi. Hỏi thì bảo cấm hỏi, làm cách mạng là phải hy sinh. Đến xương máu còn chưa tiếc, huống hồ là bạc tiền.

Vậy đó, bà nói, ông mày làm cách mạng như thể được mời đi ăn cỗ. Chỉ có mỗi một việc là bỏ dép, phủi chân cho sạch bụi lên ngồi xếp bằng trên phản. Trước mặt là cỗ bàn ê hề. Hết chả lụa đến chả giò. Hết tim cật xào lăn đến canh cá ám. Hết bún Song Thần đến bún Bồng Sơn. Mời mọc nhau, mà thực ra là rình rập nhau, lựa riêng miếng nạc cho mình mà đẩy miếng xương cho kẻ khác. Thi nhau nói, thi nhau cười, vẫn không quên thi nhau gắp, thi nhau múc, thi nhau chan, thi nhau húp, thi nhau lua… xì xoạp đến hả hê. No nê xong lại bày ra bài bạc, đàn hát. Trong khi đám đàn bà con gái dưới bếp thức dậy từ khuya, hết mổ gà lại cắt tiết vịt, hết chiên lại xào, hết đưa những cái tô đầy ụ lên lại đem những cái đĩa nhẵn bóng xuống, hết rượu đến trà, để rồi khi cỗ tàn thì chỉ còn lại trong nồi chút nước có váng mỡ, chan húp đại một chén cơm hay đĩa khoai rồi lại phải mướt mồ hôi mà dọn rửa chén bát, kỳ cọ chảo nồi cho đến tận nửa đêm… Ai là dân, ai là quan? Ai sướng, ai khổ? Cháu biết rồi đấy, không cần phải nói!

Thưa rằng, sở dĩ bà có giọng cay đắng phản cách mạng như thế là vì sau 9 năm, tức hơn 3000 ngày đi đi về về không một chút nào ngơi, ông tôi bỏ bà ở lại trong tay giặc để đi tập kết! Đi một mình thì nói làm chi, đằng này lại được Đảng ưu ái cho đem hai bác tôi theo, một người lúc đó lên 10, một người lên 8. Còn ông thì cũng không quên ưu ái tặng thêm cho vợ một cái bụng bầu, để rồi sau đó phải gạt nước mắt mà sinh con trong tù.

Cứ tưởng ông và các con đi 14 tháng lại về, không ngờ đến những hơn 20 năm. Đó là quãng đời dài cơ cực nhất của bà. Vì là vợ của cán bộ nên bà bị chính quyền mới hành tới hành lui, kêu lên kêu xuống hạch hỏi đủ điều. Cái ô nhục của một người đàn bà có chồng cán bộ không kể sao cho xiết. Bọn nghĩa quân, bọn dân vệ đứa nào cũng tự cho mình có cái quyền được chọc ghẹo, gạ gẫm, sờ mó, tán tỉnh bất kể là ngày hay đêm. Có đứa đáng tuổi em út cũng lên giọng cớt nhả: bỏ quách thằng cán bộ già đó đi, về với anh, em Hai ơi!

Ruộng đồng bị bom đạn hai bên thi nhau cày xới, bà phải bồng con lên chui rúc ở chợ súc vật Bình Định. Mùi phân heo gà, mùi nước đái trâu bò nồng nặc trong suốt hai chục năm, khiến cho cái đầu của cha mày trở nên khai ngấy, tối đen, học mãi cũng không đậu nổi cái tú tài, đành phải đi trung sĩ, bà nói một cách chán nản.

Đến tuổi lính thì phải đi thôi, không đi mà yên thân với nó à? Nhưng ông mày lại nổi xung lên, cho đó là nỗi nhục! Ở Bắc về, cha tôi kể thêm, câu đầu tiên ông mày hỏi bà là, sao không đưa nó lên núi theo cách mạng?

Nghe hỏi thế, bà hứ một cái cốc, theo làm gì, theo chi ba cái thứ mà ai cũng ghét!

Ông gầm lên, bà dám ăn dám nói như vậy hả? Nó theo ai, bà để nó theo giặc à?

Ừ, bà ngẩng đầu lên, cái đầu giờ đã lốm đốm bạc, thách thức, thì theo giặc đó, sao ha? Còn thằng Hùng và thằng Cường theo ông thì giờ ở đâu, sao không thấy về?

Ông nói lấp mấp, tụi nó đang công tác.

Công tác gì, bà hỏi dồn, hòa bình thống nhất rồi thì cũng phải về thăm mẹ chứ.

Rồi như linh cảm bởi cái sợi dây thiêng liêng giữa mẹ và con, bà gào lên, con tôi đâu, con tôi đâu? Trả lại con cho tôi!

Đến lúc này, ông mày mới rón rén bước lại bên bà, nói nhỏ đủ để bà nghe, hai đứa hy sinh hết rồi!

Hy sinh là sao? Bà khóc nức nở. Ai bắt chúng nó hy sinh? Ông hả? Hay là cái Đảng chết tiệt của ông?

Tôi cấm bà nói thế, ông lại gầm lên.

Cấm mà được à, mất con mà không cho tôi nói sao? Tôi sẽ đi ăn xin, sẽ gối đất nằm sương ra tận cái Trung ương Đảng của ông để đòi lại con.

Để tôi nói cho bà nghe, ông trở nên nhũn nhặn, tụi nó lần lượt hy sinh là hết sức vẻ vang cho gia đình mình đó. Một đứa trên đường Chín Nam Lào, một đứa tại Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân, nghe đâu tại kho xăng ông Tề.

Vậy là các con tôi chết cả rồi, bà khóc quều quào, con ơi là con ơi! Con chết bờ chết bụi, chết tức chết tối, chết đói chết khát mà người ta bảo là vẻ vang, vẻ vang cái nỗi gì hả trời! Đi, ngay bây giờ đây tôi đi ra Bắc đòi con, ông có dám đi với tôi không?

Ai cho phép bà làm cái việc phản động đó, ông hốt hoảng, tụi CIA xúi giục à, hay là cái thằng con theo giặc trời đánh của bà? Phải chi không có nó thì bà đã được phong tặng bà mẹ anh hùng rồi.

Ối trời ơi, anh hùng cái nỗi gì! Bà lại gào lên, con chết mà mẹ lại anh hùng! Có người mẹ nào lại khốn nạn như thế?

Cái buổi chiều đoàn viên không có tiếng cười ấy, tưởng chừng sẽ chia cắt hai người mãi mãi, nhưng không hiểu sao họ vẫn cứ sống chung một nhà. Có lẽ ngoài những điều khác biệt như tối và sáng, ông tôi và bà tôi may ra hãy còn có một điểm chung. Đó là, trong suốt 20 năm ở miền Bắc, ông không dối Đảng để lấy vợ khác, còn bà, tuy chẳng tin gì ở ông nhưng cũng không chịu lấy ai.

Sống chung dưới một mái nhà, nhưng bao nhiêu uất hận đã được tuôn ra như một cái đập vỡ, nên bà chẳng hề mở miệng với ông một lần nào nữa. Ngay lúc lâm chung, ông ú ớ muốn giăng dối điều gì, bà cũng lặng câm như chưa từng biết nói. Bà đi chùa gần như mọi ngày. Ở đó bà lầm rầm cầu xin đức Phật giải oan cho các con. Bà cũng khóc mà xin các con tha tội cho mẹ, vì đã sinh ra các con nhưng lại thua một con gà mái, không dám xù lông ra trước con diều để bảo vệ chúng.

Ông thì ngược lại, ngày nào cũng đến câu lạc bộ hưu trí, đọc báo Nhân dân, đánh cờ và chê bai lớp cán bộ trẻ, nhất là những kẻ a dua, đầu đội nón cối nhưng bụng thì đầy bơ sữa của Mỹ Ngụy. Cha tôi, dù cố tránh mặt ông, nhưng vẫn bị ông càm ràm bực bội. Ông bảo, trong nhà có mùi của thằng giặc nên ăn không thấy ngon, ngủ không yên giấc!

Ngày 19 tháng Tám, ngày 30 tháng Tư, ngày 19 tháng Năm, ngày 2 tháng Chín và bao nhiêu ngày lễ khác nữa, ông sung sướng tự hào được khoác áo đại cán, có dịp đeo huân chương đầy ngực, hãnh diện được ngồi ở hàng ghế của cán bộ lão thành. Huân chương của ông nhiều đến nỗi, nếu đeo hết phải tràn ra cả sau lưng và chen nhau xuống tận rốn, lúc nào cũng được ông chăm chút lau chùi trịnh trọng.

Ông có thể ngồi kể suốt ngày cho con cháu nghe (mà có đứa nào chịu nghe đâu) lịch sử từng cái một, chiến công gì, thành tích ra sao, được trao ngày tháng nào, và ai trao, có bao nhiêu cái được chính tay Bác ký, bao nhiêu lần được gặp Bác, ôi thôi, cả một trời những chuyện có thật và những chuyện tưởng như có thật.

Đã có lần ông muốn viết hồi ký bằng cách kể lại cho tôi ghi. Ông cũng tập tễnh làm thơ ca ngợi Đảng và Bác. Thơ ông được in trên nội san của tỉnh ủy và đã có lần được ngâm đọc trên đài phát thanh. Như mọi người cộng sản chân chính, ông không hề biết khiêm nhường là gì, cứ đem cái vinh quang trong thời bình ấy ra kể mãi.

Ông cũng không hề xót xa mà ngược lại cảm thấy sung sướng khi ruộng đồng được san lấp để từ đó chạy dài những con đường thẳng tắp, mọc lên những ngân hàng nhà nước, cục thuế, đồn công an to đùng. Ông bảo, như thế mà không tiến bộ à, đúng như Bác nói, giờ to đẹp gấp mười lần xưa.

Vì là người cộng sản, nên ông cũng là một trong những người lạc quan nhất nước. Sợ gì Pôn Pốt, Đặng Tiểu Bình! Ông nói, mặc kệ cái lý thuyết mèo trắng mèo đen ngu xuẩn và cái giấc mộng bá bành đáng ghét của nó, mọi việc đã có Đảng lo. Vậy nên, so với bà lúc nào cũng ưu tư rầu rĩ, ông sống rất hồn nhiên, vô tư. Ông như đứa bé còn nằm trong nôi được Đảng đút từng muổng sữa, thay từng chiếc tã. Chỉ có mỗi một việc là nằm mút tay rồi ngủ, chưa cần biết tới những gì xảy ra ở bên ngoài.

Bà thường chua xót nói, ông mày chỉ biết ghét tao và căm thù thằng cha mày chứ biết yêu ai. Nói vậy là bà có hơi thiếu công bằng với ông. Đâu chỉ có ghét và căm thù không thôi, ông yêu nhiều lắm chớ, yêu XHCN, yêu các nước anh em, nhất là nước Lào anh dũng liền núi liền sông.

Có một phóng sự trên truyền hình khiến ông rất xúc động. Phóng sự kể rằng, có hai đứa bé Lào lạc mất cha mẹ đã được tình nguyện quân ViệtNamđem về nuôi. Đến nay hai đứa bé ấy đã thành người già. May mắn làm sao, cả gia đình nhà họ đã được đoàn tụ.

Chính cái lúc bốn mái đầu đã bạc chụm lại nhau trong ánh hoàng hôn trên sông Mê Kông khiến ông xuýt xoa kêu lên: tình đoàn kết Việt-Lào đẹp quá, vĩ đại quá! Và có lẽ vì quá đẹp, quá vĩ đại nên những mạch máu già nua trong não của ông không chịu nỗi, vỡ ra, khiến ông lịm dần rồi nằm im một chỗ.

Đúng như ông nói, mọi việc đã có Đảng lo. Từ ngày ông bị đột quỵ đến nay đã mười bốn năm. Mười bốn năm ông được Đảng đưa từ viện này đến viện nọ, từ Tây y đến Đông y. Đảng lo cho ông từng viên thuốc, ống kim tiêm (qua bảo hiểm y tế), nhiều lần đút cho ông ăn, lau rửa cho ông khi đái ỉa (qua hộ lý). Giờ ông chết, Đảng cũng lo hòm xiểng, tẩm liệm, lo cáo phó trên truyền thanh truyền hình, lo cả điếu văn… Và nhờ vậy con cháu mới biết được ông đã kinh qua rất nhiều chức vụ.Từ quân sự đến chính trị, từ văn hóa đến cả khoa học, nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành, khó khăn nào ông cũng vượt qua.

Nói chung, một người có đến 70 năm tuổi Đảng như ông, tức là được Đảng dạy dỗ trở thành người yêu nước yêu dân mẫu mực (nhưng không yêu vợ con) thì những chức vụ kia, những huân chương nọ là rất xứng đáng. Chỉ có một điều ai cũng lấy làm ngờ nhưng không dám nói ra, ấy là cái chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh X. bỗng dưng như từ trên trời rơi xuống tỏa ánh hào quang rực rỡ suốt một cõi (gần đủ) trăm năm của ông.

Nếu bảo rằng cái tin ông chết không khiến ai bất ngờ là thiếu kính trọng. Mà bảo rằng ai cũng thấy nhẹ người là thiếu nhân ái mà thừa tàn nhẫn. Còn bảo rằng rất đỗi vui mừng là quá hỗn. Tiếc rằng đó là sự thật.

Còn như khi đọc cái truyện thiếu văn hóa này mà có người mơ mộng: ước gì cái Đảng mà ông tôi và nhiều người đã lỡ tin tưởng ngây ngô, cái Đảng đã làm cho triệu người vui nhưng cũng rất, rất nhiều triệu người buồn này, cái Đảng đó cũng già nua, ngờ nghệch đang đột quỵ như ông tôi từ bao nhiêu năm nay, thì cũng nên chết quách cho rồi! Ước như vậy thì cái tựa đề có thể sửa đôi chút mà làm câu kết. Rằng: Đã đến lúc, dù không đúng lúc, Đảng chết.

KHUẤT ĐẨU

Trong nắng chiều phai

tranthoainguyen

Nắng chiều thoi thóp vàng nghiêng bãi
Tôi một mình tôi bóng đổ dài.
Thương nhớ người ơi thương nhớ hão,
Đời buồn theo những nhánh thu phai!

Tôi đi về mây trắng hai tay
Gió gọi thầm tôi trăng viễn khơi.
Có ai hò hẹn ngoài vộ tận
Lòng khắc khoải chờ trong nắng phai!

Ôi! Những chiều nắng úa tàn xiêu
Trên đỉnh hồn tôi quá hoang liêu
Chim ngậm thơ buồn phun lả chả
Những dòng tinh huyết nhuộm cành yêu!

Lối em về sương tím chiều buông
Tôi một mình tôi mỏi mắt trông.
Ôi một thuở yêu người ảo mộng
Ôi một thuở dương gian bạc lòng!

Nắng chiều lả ngọn sầu chót vót
Tôi lặng mình tôi phơi đỉnh hồn.
Cây lá cô đơn màu nắng quái,
Em có về khoác áo hoáng hôn?!

TRẦN THOẠI NGUYÊN