QUỐC SƯ

nguyenvien

1.

Cơn mưa từ chiều đến giữa đêm vẫn chưa chấm dứt. Những cuộc hành hình liên tiếp bằng cách quấn rơm chung quanh kẻ bạo loạn rồi đốt giống như thui chó mấy ngày trước thịt vẫn còn khét. Sư bần thần đi lại trong thư phòng. Bất chợt một tiếng sét lớn sáng lòa đánh ngang cây gạo trước cổng chùa. Sư nghe thấy tiếng cây đổ vang dội trong tâm khảm. Điềm báo đến. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng, sư ngồi xuống, xếp bằng hai chân. Tịnh.

2.

Dân làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp nằm ở phía đông kinh đô Hoa Lư thầm thì với nhau về một bài sấm được khắc trên phần còn lại của cây gạo cổ thụ mới bị sét đánh đêm qua. Không ai hiểu bài sấm có ý nghĩa gì. Họ đem nghi vấn của mình đến gặp sư.

3.

“Thụ căn diểu diểu, mộc biểu thanh thanh, hoà đao mộc lạc, thập bát tử thành, Đông A nhập địa, mộc dị tái sinh, chấn cung hiện nhật, đoài cung ẩn tinh, lục thất niên gian, thiên hạ thái bình.” [*] Sư nói: Ý tứ của bài sấm này ám chỉ nhà Lê sắp mất, nhà Lý sẽ lên ngôi và thiên hạ thái bình.

Người ta hỏi: Nhà Lý là ai?

Sư chỉ im lặng.

Việc này đến tai Lê Long Đĩnh, vua cho giết sạch bọn trẻ con nhà Lý.

4.

Lý Công Uẩn khi đó đang làm quan Thân vệ trong triều, tuy binh quyền trong tay nhưng cũng sợ tai hoạ. Ông mang giấu sư ở Tiên Sơn vì biết sư là tác giả bài sấm trên cây gạo.

5.

Lê Long Đĩnh chết vì kiệt sức giữa lúc tuổi trai tráng và chỉ làm vua được 4 năm. Con nối dõi quá nhỏ không thể tranh chấp ngôi thiên tử. Sư cho vời quan Chi hậu Đào Cam Mộc đến, nói: “Ông là người hiểu lòng bách tính và cũng biết thời thế. Việc phế lập nằm trong tay ông”.

6.

Họp bàn với các quan, Đào Cam Mộc nói: “Nay (đối với nhà Lê) ức triệu người đã khác lòng, thần dân đều lìa ý, mọi người chán ghét sự hà khắc bạo ngược của tiên đế, không muốn theo về vua nối dòng và đều có ý suy tôn Thân vệ. Nếu không nhân dịp nầy cùng suy tôn Thân vệ làm thiên tử, phút chốc xảy ra tai biến thì liệu chúng ta có giữ được đầu không.” (*) Bá quan len lén nhìn Lý Công Uẩn hiên ngang tì đốc kiếm, im lặng.

7.

Giữa triều, thái hậu phán: Thái tử Sạ còn nhỏ, một ngày nước không thể không có vua, ta thuận theo ý của quần thần, thay mặt tiên đế trao vương quyền lại cho Thân vệ Lý Công Uẩn.

Thái hậu biết cách bảo toàn bản thân và khúc ruột của mình.

8.

Lý Công Uẩn làm vua, phong cho sư chức quốc sư. Phật giáo trở thành quốc giáo. Mọi việc quốc gia đại sự đều thỉnh ý sư.

9.

Một ngàn năm sau.

Sư và thày Quảng Đức bách bộ trong chùa Thiên Mụ.

Sư nói: Cần có một ngọn lửa bùng lên đưa phong trào đấu tranh đến sự quyết thắng.

Thày Quảng Đức hỏi: Thày muốn tôi là một ngọn lửa?

Sư nói: Vâng, cho đạo pháp được hoằng dương.

Thày Quảng Đức lại hỏi: Ở đâu?

Sư nói: Ngay trung tâm Sài Gòn. Mọi việc chúng tôi sẽ chuẩn bị hết.

Thày Quảng Đức: Vì đạo pháp, tôi hy sinh.

Sư và thày cúi chào nhau.

Thày Quảng Đức vào chùa và phủ phục trước tượng Phật.

10.

Giám mục Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long được Vatican phong chức Tổng Giám mục và điều về phụ trách tổng giáo phận Huế. Cả Tổng thống Ngô Đình Diệm và Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đều muốn Công giáo phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, ngoài ý nghĩa tông đồ còn để làm chỗ dựa lưng và củng cố thành trì chống Cộng. Phật giáo cũng không muốn mất vai trò truyền thống của mình, họ đã tranh đấu cho sự tồn tại một cách công bằng cũng như khẳng định chỗ đứng trong lòng dân tộc. Cuộc đấu tranh giữa Phật giáo và chính quyền trở thành cuộc đối đầu một mất một còn, đặc biệt ở Huế.

11.

Cả người Mỹ và người Cộng sản miền Bắc đều muốn thu lợi trong cuộc tương tranh giữa những người theo đuổi lý tưởng tự do ở miền Nam.

12.

Khi người Mỹ phát hiện ra chính quyền Sài Gòn của Tổng thống Diệm mất khả năng đoàn kết các lực lượng chống Cộng và có ý muốn lật đổ ông Diệm, cũng là lúc chính quyền ông Diệm nhận thấy ý đồ của người Mỹ muốn giành quyền điều hành cuộc chiến thực hiện chiến lược toàn cầu. Ông Diệm đã chủ động liên lạc với miền Bắc nhằm tìm một giải pháp nội bộ cho người Việt Nam tránh sự can thiệp của Mỹ, nhưng thất bại.

13.

Thày Quảng Đức được đưa đến ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng trên một chiếc xe hơi. Một số phóng viên quốc tế được cho biết trước sự việc cũng đã có mặt. Thày Quảng Đức ngồi thiền dưới đất. Hai người đổ xăng vào người thày, châm lửa đốt.

14.

Sự kiện thày Quảng Đức tự thiêu với sự hỗ trợ của các phóng viên quốc tế đã làm bầu khí chính trị miền Nam trở nên nóng bỏng.

Chính quyền cho tấn công chùa Xá Lợi, bắt tất cả các tăng ni trong đó.

Mỹ đưa sư vào tòa đại sứ của họ ẩn trốn. Họ mua cho sư một bàn cờ tướng giải khuây.

15.

Cùng với sự xâm nhập của các chiến binh Cộng sản miền Bắc, Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam gia tăng hoạt động và nhanh chóng chiếm lĩnh được nhiều khu vực rộng lớn khắp nông thôn.

Các tướng lĩnh miền Nam sốt ruột trước tình hình chiến sự và được thúc đẩy bởi phong trào tranh đấu của Phật giáo, họ thoả hiệp với Mỹ làm cuộc cách mạng 1.11.1963. Hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã được thu xếp rời Việt Nam trước khi có chính biến. Người em út của họ, ông Ngô Đình Cẩn sau đó cũng bị giết ở Huế.

Người Phật giáo coi việc lật đổ chính quyền Diệm – Nhu là công lao của mình. Và họ đã tận hưởng công lao đó một cách xứng đáng. Các cơ sở và tổ chức của Phật giáo lần lượt ra đời và tạo ra một ảnh hưởng bao trùm đời sống xã hội.

16.

Tin tức về cái chết của anh em ông Diệm được đích thân tướng Minh, chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng báo trực tiếp cho sư qua điện thoại. Sư chỉ nói “thế à” rồi cúp máy.

Trong trai phòng, toàn thể tăng chúng đứng bật dậy khi sư xuất hiện và họ nồng nhiệt vỗ tay chào đón sư. Sư cúi đầu tạ lễ rồi ngồi xuống bàn ăn. Không bàn luận điều gì.

17.

Chỉ ba tháng sau ngày lật đổ ông Diệm, tướng Nguyễn Khánh đã làm cuộc chỉnh lý. Phật giáo bị phản bội. Các cuộc đảo chánh liên tiếp xảy ra để tranh giành quyền lực. Chính quyền quốc gia bị bao vây cùng lúc bởi cả Công giáo, Phật giáo và giới sinh viên học sinh.
Nhưng chỉ có Mỹ và Việt Cộng thu lợi.

18.

Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam.

Chiêu bài hoà bình và dân tộc được Cộng sản phát động đã thành công trong việc đồng nhất nó với phong trào tranh đấu của sinh viên học sinh và Phật giáo.

19.

Người Mỹ cho rằng, chính họ mới là chủ của thành quả cách mạng. Họ dựng một người Công giáo khác: tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống của nền đệ nhị cộng hoà.

20.

Các cuộc tranh đấu chống Mỹ – Thiệu và đòi chấm dứt chiến tranh càng lúc càng lên cao. Nước Mỹ rung rinh. Hình ảnh của sư tràn ngập báo chí phương Tây. Các chính trị gia và các tướng lĩnh bu quanh sư. Bàn cờ chính trị do sư điều khiển, nhưng chưa bao giờ sư là người toàn thắng. Các cuộc tự thiêu của giới tăng lữ vẫn tiếp tục. Chính quyền Huế và Đà Nẵng tê liệt bởi các cuộc bãi công bãi thị. Bàn thờ Phật được đưa xuống đường cả ngay tại Sài Gòn. Toà đại sứ Mỹ buộc phải điều đình với sư. Họ đón sư bằng trực thăng đưa vào căn cứ Chu Lai.

Ông Đại sứ nói: Chúng tôi muốn ngài chấm dứt mọi cuộc xuống đường bãi công bãi thị.

Sư nói: Có thể được.

Ông Đại sứ hỏi: Ngài muốn thế nào?

Sư rút từ trong tay áo ra một tờ giấy đưa cho ông Đại sứ. Đó là danh sách nội các, kể cả chức tổng thống do sư đề nghị.

Ông Đại sứ xem qua, bảo: Chúng tôi sẽ nghiên cứu đề xuất của ngài một cách nghiêm túc.

Trước khi chia tay, ông Đại sứ tặng sư một bộ cờ tướng bằng ngà voi.

Như thói quen thanh bạch của sư, tất cả mọi thứ quà cáp chúng sinh dâng tặng, sư đều tặng lại cho tăng chúng. Bộ cờ tướng, sư tặng cho một tăng sinh trẻ.

21.

Trước chùa Diệu Đế, sư nói với đám đông cuồng nhiệt: Đồng bào hãy nghe tôi. Tôi nói đồng bào đứng thì đồng bào đứng. Tôi bảo đồng bào đi thì đồng bào đi. Nay tình hình đang biến chuyển tốt, cuộc tranh đấu của chúng ta đã gần đến thắng lợi, đồng bào hãy về nhà…

22.

Cơn mưa đổ xuống đám cháy. Cuộc sống trở lại bình thường.

23.

Chính quyền Sài Gòn đem lính nhảy dù ra dẹp loạn, lần lượt từ Đà Lạt, đến Qui Nhơn, Đà Nẵng rồi Huế. Tướng tư lệnh vùng I mất chức. Một số lãnh tụ sinh viên tranh đấu buộc phải nhảy núi chạy theo Mặt trận Giải phóng. Sư bị phản bội một lần nữa. Những cuộc tự thiêu của tăng chúng không làm quân đội chùn tay. Việc sư tuyệt thực cũng không làm cho “cuộc biến động miền Trung” bốc lửa trở lại.

24.

Trong khi người Mỹ thất bát trong cuộc chiến, Việt Cộng tiếp tục thu lợi và họ quyết tâm chiến thắng bằng cuộc tổng nổi dậy Mậu Thân 1968. Người miền Nam không tuyên truyền và giáo dục lòng căm thù như người miền Bắc, nhân dân đã không hưởng ứng cuộc tổng nổi dậy như Việt Cộng mong đợi. Cuộc tổng nổi dậy thất bại ở miền Nam. Nhưng với chiêu bài hoà bình, Cộng sản Bắc Việt đã thắng ngay trong lòng nước Mỹ.

Mỹ bỏ cuộc và bỏ rơi đồng minh. Hiệp ước Paris 1973 chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Mỹ cắt giảm viện trợ cho miền Nam. Đầu tháng 1.1975, Ngũ Giác Đài kèo nài thêm 300 triệu USD chiến phí cho Tổng thống Thiệu, nhưng quốc hội Mỹ không duyệt.

Hết đạn, hết tiền, quân đội Việt Nam Cộng Hoà tan hàng vào tháng 4.1975.

25.

Những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh ủy nhiệm, sư đã thành công trong việc đưa tướng Minh vào chức vụ Tổng thống của miền Nam chuẩn bị cho một kết thúc ít đổ máu nhất. Nhưng dường như vai trò lịch sử đó vượt quá tầm vóc của Tổng thống Minh, ông bồn chồn nhấp nhổm giữa chùa Ấn Quang và dinh Độc Lập.

Sư trấn an tướng Minh: Tôi đã liên lạc và lo liệu hết mọi việc, họ sẽ đến với Tổng thống, Tổng thống cứ bình tĩnh chờ…

Tổng thống Minh chờ một cuộc bàn giao, nhưng trưa 30.4.1975, ông đã phải lên đài phát thanh đọc lời đầu hàng do một người lính Cộng sản soạn ngay tại chỗ sau khi tiếp quản chính quyền Sài Gòn.

26.

Sư bị buộc phải rời chùa Ấn Quang, vốn là cứ địa tranh đấu của sư, ra ngoại thành ẩn tu. Những năm cuối đời, sư về chùa ở Gò Vấp biên soạn kinh sách.

27.

Nhìn xuống hồ nước tĩnh lặng, sư không thấy bóng mình. Nước đục. Cũng như lịch sử của dân tộc này vốn đã là một huyền thoại mù mờ ngay từ khi lập quốc, việc sư đến và đi khỏi một giai đoạn lịch sử khốc liệt tang thương cũng rất mù mờ như huyền thoại của cái lý sự vô thường.

NGUYỄN VIỆN

(*) Theo Trương Hoàng Minh

(2011)

KHÔNG ĐỀ

tonnuthudung

Những chiếc nấm của một ngày đông muộn
Mọc hoang vu trên vườn cỏ xanh buồn
Tôi cũng thế
đành buông tim mình xuống
Nghe rã rời từng hạt máu cô đơn

Những cây nến của một chiều ly biệt
Lay âm u trong tiếng hát Uyên hờn
Tôi cũng thế
đành thả mình mỏi mệt
Sông chưa dài
đủ độ lượng tay ôm!

Những ngọn gió của một đêm sa mạc
Chạy điên cuồng tìm lại một chân mây
Tôi cũng thế
dặn mình không tuyệt vọng
Dù nhiều lần
tôi đã muốn buông tay…

Tôn Nữ Thu Dung

bụi . của giấc mơ II

phuonguy

chạy
và nhặt cơn mơ
trên đọt thời gian gãy cánh
cơn áp thấp tròng trành khoảng tối
niềm yêu co ro

chạy
và nhặt cơn mơ
đêm rát giọng trào giọt khóc
gió níu chân thềm
cuốn mây vừa rụng lưng trời

chạy
hòng nhặt được một niềm tin
giữa con đường quá vãng
khách lâu rồi vắng dấu
hài xưa nhớ đôi bàn chân

chạy
về phía ngày bão lũ
mình đi là chớp bể mưa nguồn
tôi còn đong chi nỗi nhớ
cầm cho mưa tuôn

chạy
trong ngút ngàn khoảng tối
giấc mơ thường không màu
cơn mơ tôi cầu vồng trôi dạt
úp mặt khóc đêm thâu

thôi
trả mình về kỉ niệm
ngày xa là đã không còn
tôi về cầm kí ức
chùi đi vết son
đứng lại
ừ đừng chạy nữa
xác thân rồi úa nhàu
một mai hoang tàn
kí ức em rồi thành mùa sau

Phương Uy

Dự cảm trước khi chết của Trịnh Công Sơn

khuatdau

Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã giữa tim người

( Sóng về đâu? TCS)
Khi Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ tài hoa nhất mà cũng bất hạnh nhất, suốt một đời dài giữa gió đồng vi vu đã tìm được một nơi trăng mờ quê cũ, thì cũng là lúc những ồn ào không đáng có, những giành giựt níu kéo, những bè nhóm hơn thua quật đập suốt ngày đêm trên biển đời lao xao sóng vỗ.
Biển đánh bờ xôn xao bờ đánh biển
Trong bài Biển nghìn thu ở lại và Sóng về đâu, bằng cái nhìn của ngàn năm trôi qua, anh đã dự cảm một cách chua xót, chính những người tự xưng là bạn bè đã đem anh ra lấy cớ khen chê mà vùi dập không thương tiếc. Những lời cầu xin của anh gửi cho biển nghìn thu cứ như một lời trăn trối.
Đừng đánh nhau, ơi biển sẽ tàn phai
Đừng gạch tên vì yêu, đừng xé nát…
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã giữa tim người
Biển sóng, biển sóng đừng âm u
Đừng nuôi trong ấy trái tim thù

Hóa ra những trái tim tưởng chừng là bè bạn lại là những trái tim thù. Bọn họ lao xao, nâng anh lên rồi lại dìm anh xuống. Cái hình tượng biển đánh bờ, bờ đánh biển thật vô cùng khốc liệt. Chính người một thời yêu anh, quý anh đã gây nên một cơn địa chấn dữ dội nhất trong những năm gần đây. Người đó tự cho rằng có nghĩa vụ nói lên một sự thật nhưng vô hình chung lại bôi xóa sự thật một cách tàn nhẫn nhất.
Một ngày còn sống
Góp tiếng mong manh
Bạn bè ngồi quanh
Tuốt sáng giáo gươm
Từng ngày đảo điên
Giết chết linh hồn

( Vẫn nhớ cuộc đời)
Với những bạn bè như thế, lúc sống, chính anh đã hai tay qui hàng. Anh chỉ muốn một ngày cầu xin/ thong dong con đường/một chiều được quên/ ngồi chờ tình nhân
Một người nổi tiếng như anh khi chết đi, chuyện khen chê là thường tình. Khen hay chê nhạc anh đều được cả, vì tất cả những gì anh viết ra đều không còn là tài sản của riêng anh. Nhưng đem cái nhãn quan chính trị hồ đồ, cái hoan hô đả đảo của bè nhóm đã thâm căn cố đế suốt hơn nửa thế kỷ qua mà chụp lên đầu anh những chiếc mũ lòe loẹt đỏ xanh là giết đời nhau đấy biết không?!
Tôi chưa hề có cái vinh dự được ngồi với anh bên một tách cà phê hay một cốc rượu, cũng chưa có cái may mắn nghe anh đàn hát, nhưng qua những ca khúc viết bằng tim máu của anh để lại, tôi hiểu anh là một người cực kỳ cô đơn.
Anh đi về đâu
Về cõi chiêm bao
Lìa những cơn đau
Ngọn gió hư hao
Thổi suốt đêm thâu
Bạc đầu tôi đi

( Có một ngày như thế )
Chính vì nhìn thấy những trái tim thù trong lồng ngực bọn họ, chính vì nghe ra từ một ngàn năm trước những xun xoe ồn ào, những huênh hoang sáo rỗng mà anh đã dự cảm một cách chua chát
Tôi đang lắng nghe
Tôi đã lắng nghe
Im lặng thở dài
Bao đêm đã qua
Im lặng mặt người
Nghe bao nỗi đau
Trên một bàn tay!

Bàn tay nào mà nghe ra đớn đau như thế nếu không phải là một bàn tay sắt bọc nhung?
Nhưng anh là một người có trái tim nhân ái, một người rất chi độ lượng, nên chẳng những đã không oán hờn mà còn thiết tha mong đợi.
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng nằm đau
Biển sóng, biển sóng đừng trôi xa
Bao năm chờ đợi sóng gần ta

Chưa có nhạc sĩ nào viết về những ngày sắp ra đi nhiều như anh. Một ngày mà Bùi Giáng viết tôi sẽ đi nhưng chưa biết đi đâu, thì anh biết là sẽ về với cõi chiêm bao, với trăng mờ quê cũ, với vạt nắng vàng nhắc lời thiên thu
Giờ đây, nơi trăng mờ quê cũ ấy, anh không còn bận tâm làm chi tới những ồn ào xôn xao vô lối. Anh đã là một vạt nắng vàng ngàn năm vẫn còn bảng lảng. Chỉ tội nghiệp cho chúng ta, những kẻ yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau. Sao chúng ta không yêu anh như người Nhật người Pháp, sao không lột bỏ những cặp kính đủ màu để nhìn tận mặt một tài năng thuộc loại xưa nay hiếm, như đã từng yêu The Beatles hay M. Jackson? Có phải vì chúng ta nhỏ nhen quá, tầm thường quá. Chúng ta đã bằng số đông cố sức kéo anh xuống cho bằng mình chứ không phải nâng mình lên để bằng anh.
Một người đã từng đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối, một người yêu quê hương như yêu đồng lúa chín, một người đã từng nhìn ra hai mươi năm nội chiến từng ngày, không thể và không bao giờ là người cộng sản. Những ai còn cố tình giành giật lôi kéo đều không xứng và không phải là bạn anh./.

KHUẤT ĐẨU

MỘT ĐÊM TÔI DỖ GIẤC TÔI

buidiep

một đêm tôi dỗ giấc tôi
gặp em ngồi héo bên trời thiên lương
trầm luân mưa gió sắm tuồng
nghe sông chết giữa đồng nương vạn mùa
hạt buồn nứt buốt môi khô
đã đời một chuyến xô bồ nhân gian
mầm đau nghèn nghẹn đá vàng
cầu lên chín khúc trôi hoang mang bờ
tôi giờ rao bán mộng mơ
về mua một nhúm ơ hờ hiện sinh
nửa khuya dan díu chút tình
mọt đôi trang sách bụi lên phận người
đầu đường cuối chợ mưa ơi
tràng giang nhắm mắt trùng khơi hát cuồng
rượu nào mà chẳng rượu suông
mời nhau nửa chén trăng luồn sông mê

Phanrang, III/2016
bùi diệp

TÌM EM TRONG GIỌT CÀ PHÊ

linhphuong

Tìm em
trong
giọt cà phê
Mang hương vị đắng
si mê một thời
Xót xa
gần hết nửa đời
Ghế xưa bỏ trống
chỗ ngồi thiếu em
Hai con mắt ngó
đã thèm
Giọt cà phê
rớt
giữa nghìn bể dâu
Buồn
vui
lặng lẽ
mùa ngâu
Giọt cà phê đắng
bỗng đâu ngọt ngào
Trên bàn phím
sáng mai nào
Chữ thương
chữ nhớ
bạc đầu gặp nhau…

LINH PHƯƠNG

Phút mặc khải

elenapucillo

“Đồ chết tiệt!”

Ngồi trong gian bếp, tôi giả bộ đang may để lén quan sát con búp bê rỗng tuếch đang xoay người nghiêng qua nghiêng lại trước gương trong phòng ngủ.

Mảnh mai như một vũ nữ, cô ta đưa tay lên cao để duỗi thẳng tóc rồi sau đó thoa một chút son lên môi trông như những giọt sương trên hai cánh hoa hồng.

“Ui chao! Lại bị kim đâm rồi!”. Quá tập trung vào nó tôi đã lơ đễnh để kim chích vào ngón tay. Cố tạo vẻ lãnh đạm, tôi làm như không quan tâm khi cô ta bước vào nhà bếp.

“Thưa mẹ trễ rồi, con phải đi làm bây giờ đây. Con sẽ tranh thủ về nhà sớm. Các món ăn con đã chuẩn bị xong, không biết mẹ còn cần gì nữa không?”

“Thôi, cứ đi đi, đừng có bận tâm.”

Cô gái bối rối nhìn tôi, như thể còn muốn nói thêm một điều gì nữa nhưng cuối cùng im lặng, cầm lấy chiếc xách tay và xâu chìa khóa, lặng lẽ bước ra khỏi nhà.

Bây giờ thì tôi mới thực sự là bà chủ. Kể từ khi cô ta bước vào sống trong căn nhà này, tôi thực sự thấy mình chỉ là một người khách lạ hay thậm chí là một kẻ đột nhập, giữa cô ta và đứa con trai.

“Ngốc thật!” Chính tôi đã là người khăng khăng nài nỉ con trai mình. Nó ăn chơi lêu lổng và hoang phí thời gian, chỉ thích chơi đùa và không muốn lập gia đình. Chính tôi đã khăng khăng đòi hỏi nó phải quyết định. Ba nó mất đến nay đã nhiều năm và tôi cũng đã già. Tôi không muốn thấy con mình cô độc, nó cần phải tìm một người vợ, đã hơn ba mươi lăm tuổi rồi còn gì… nó đâu còn thời gian để chờ đợi nữa…

Và thế là một ngày cô gái ấy đã đến đây, núp sau lưng thằng con trai, hai bàn tay căng thẳng và bối rối siết chặt chiếc dây đeo của túi xách. Chặt đến nỗi màu các khớp trên ngón tay biến thành màu trắng bệch. Không một sợi tóc nào nằm ngoài vị trí, trên má cô ửng một chút phấn hồng và đôi mắt chiếu sáng như một hòn than đang cháy trên tàn tro. Đúng rồi, chính nó đã hớp hồn con trai tôi!

Trước đây, từ ngày chồng mất, đứa con trai là tất cả với tôi và ngược lại. Tôi là người duy nhất mà nó quấn quýt và ngưỡng mộ. Rồi khi cô gái bước vào nhà, tình yêu bị chia sẻ. Thứ gì cô ta cũng làm tốt hơn tôi. Tôi trở thành kẻ thừa thãi và vô dụng.

Và bây giờ cô ta trở thành bà chủ nhà. Chỉ mấy ngày sau đám cưới là mọi chuyện đã rõ ràng. Tôi bị gạt qua một bên. Cô ta đã trang hoàng nhà cửa theo một cách khác và thằng con tôi lại thích nghe theo. “Má thấy không, như vậy ngăn nắp hơn… nhà đẹp hơn. Vợ con thật giỏi…”.

Bao nhiêu lần tôi muốn nói là tôi thích căn nhà được sắp xếp như xưa, đó là căn nhà của tôi… thế nhưng tôi chỉ biết nhếch mép, cười, lúc lắc cái đầu và tiếp tục giữ im lặng… dù ánh mắt thường ném một cái nhìn về phía cô ta. Cái nhìn tóe lửa, muốn thiêu đốt, làm cô ta biến mất.

Đây rồi, cô ấy đã bước ra khỏi nhà. Một tiếng thở phào, giải thoát. Bây giờ thì tôi có thời gian dành cho mình. Nhưng thời gian ấy để làm gì đây? Trong nhà bếp tất cả đều ngăn nắp, phần ăn của tôi cũng đã được chuẩn bị xong xuôi, khi nào muốn tôi chỉ cần hâm nóng là xong.

Đã từ lâu tôi ít ra khỏi nhà, các bạn cũ đều ở xa, rất nhiều người đã dọn ra ngoài thành phố. Có những kẻ bất hạnh thì giờ đây không còn nữa, còn chăng họa là kỷ niệm… trường học, tuổi trẻ, hôn nhân…

Tôi bước loanh quanh giữa những gian phòng trống của căn nhà mà tôi không cảm thấy nó là của mình. Tôi là bà chủ. Ừ, thì là bà chủ, mà chủ… cái gì? Và, rồi sao nữa? Là bà chủ để được một mình. Lúc nào cũng cô độc. Tôi chua xót nhìn đời bằng nửa nụ cười rồi lặng lẽ chôn kín tất cả những niềm đau vào bên trong.

Ngày giờ trôi qua trong sự quen thuộc đến độ nhàm chám. Chỉ còn vài giờ nữa thì bà chủ trẻ sẽ về nhà và tôi sẽ biến thành một bóng ma.

Thế nhưng có tiếng động trong ổ khóa. Nó! Nó đã về nhà!

Sao sớm thế nhỉ?

Làm bộ lãnh đạm tôi trở về phòng mình. Tôi nghe tiếng nó đặt xâu chìa khóa và chiếc xách tay lên bàn. Tôi chẳng muốn nghĩ đến nó chút nào… Phải rồi, nó chiếm hữu căn nhà của tôi, chiếm hữu đứa con trai của tôi… nên tôi chẳng muốn phí thời giờ để nghĩ về nó! Đó đâu phải là việc của tôi!

Cầm lên tay vuông vải nhỏ vừa mới bắt đầu thêu, đó chỉ là cái cớ để cầm một vật gì, nhưng đầu óc tôi trống rỗng. Chỉ có đôi tai là căng lên, sẵn sàng nắm bắt những tiếng động rất nhỏ. Cái gì vậy? Có điều gì bất thường. Tôi không thể ngồi yên được nữa.

Đứng dậy để xem. Phòng ngủ bên kia trống rỗng. Trong gian bếp chẳng có ai. Thế nhưng trong sự im ắng này tôi lại nghe có tiếng nấc, tiếng rên rỉ, rất khẽ, đến từ phòng tắm. Cửa phòng chỉ khép hờ và trong lúc đẩy vào, tôi thấy nó đang đứng, khom người trên nền nhà, nước mắt nước mũi chảy ròng trong nỗ lực ngăn chặn một cơn nôn mửa. Chân trần, chiếc áo đẹp mặc đi làm bị ướt một quầng lớn ở vạt trước, hai cánh tay yếu ớt buông thõng.

Một tia chớp lóe lên trong đầu tôi!

Ui chao, tôi chính là một con mụ ngốc! Quá đần độn và chẳng hiểu gì!

Bây giờ thì tôi nhớ ra rồi… cái cách mà nó đưa tay lên che trước bụng, như thể muốn bảo vệ cái mầm sống đang bắt đầu lớn lên ở bên trong. Khuôn mặt tái mét nhưng đường nét dịu dàng, các cử động đều chậm rãi khác với cách cuống cuồng lúc trước.

Rồi tôi chợt nhìn lại, nhớ lúc mình cô độc và sợ hãi khi mang thai lần đầu mà hoàn toàn không nhận được sự giúp đỡ nào của mẹ chồng. Thời đó tôi chỉ cảm nhận sự ghét bỏ, về cái cách bà ấy mắng nhiếc bằng những lời thô bạo, làm tôi còn đau hơn những trận đòn roi!

Sao mà mình lại không thể nhận ra? Tôi đã tự đóng khung, đã đóng cửa trái tim trong chiếc lồng ích kỷ và lãnh đạm của mình! Bao nhiêu thời gian đã mất cho những điều phù phiếm là quan trọng, và sống bằng thành kiến ngu xuẩn để đời mình như tẩm độc?

Liếc nhìn cô gái nhỏ, tôi thấy đôi mắt đầy sợ hãi và ươn ướt như vừa khóc.

“Bình tĩnh đi con. Mẹ hiểu rồi. Đợi một chút, mẹ sẽ giúp con!”

Chạy đi lấy chiếc khăn bông, tôi dấp nước và lau mặt cho con dâu, chùi mấy đóm bầy nhầy thốc tháo còn dính xung quanh miệng. Rồi tôi tiếp tục nói, bao nhiêu lời lẽ mà lâu nay tôi đã giữ kín trong lòng mình. Ngay cả chính tôi cũng không thể ngờ là mình có thể nói được những lời dịu dàng đó.

“Con sợ”… giữa những tiếng nấc đứa con dâu gắng gượng nói. “Con thấy mệt. Thức ăn trong bụng như cứ muốn trào ra…”.

Tôi dìu con dâu vào phòng ngủ, giúp nó thay đồ. Cô nhỏ quá yếu, tôi cảm giác như mình đang cởi đồ cho búp bê.

“Con gái yêu, đừng lo nữa. Mẹ sẽ giúp đỡ con. Chờ một chút nhé, đây, chiếc gối nhỏ đây, bây giờ mẹ đi lấy chai dầu xanh, thoa chỗ này nè, trên cổ tay, một chút lên màng tang nữa… đấy, thấy chưa, con có vẻ đỡ hơn rồi đấy. À, mà đợi mẹ đi lấy cho con vài lát gừng, nhấm một chút sẽ hết buồn nôn. Cố gắng nhé, chỉ vài tháng đầu thôi… sau đó con sẽ khỏe…”.

Tôi trở lại với một tách trà nóng và mấy lát gừng trên tay. Tôi nhìn thấy khuôn mặt con dâu đã bớt tái và đang nằm áp đầu vào chiếc gối con, đôi mắt vẫn còn ướt vì nước mắt.

Nhưng mắt tôi cũng đang ẩm ướt. Chúng tôi sẽ có thời gian để làm lại… và trong chính phút ấy lại có tiếng chìa khóa tra vào ổ… Thằng con trai của tôi cũng đang bước vào nhà.

“Sao im lặng quá vậy… có gì ăn chưa?” Lời chưa dứt đã thấy nó đứng trước phòng ngủ, ngỡ ngàng nhìn chúng tôi.

“Bây giờ mẹ đi nấu cái gì để ăn đây. À, từ rày về sau con cần phải kiên nhẫn hơn đó. Trong lúc mẹ đi nấu ăn, con phải ngồi đây để canh chừng và chăm sóc vợ. Vợ con sẽ thông báo cho con một tin quan trọng, nó sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta… và là một tin rất vui!”

Trương Văn Dân dịch

Đôi Khi Nắng Lên Phố Xưa Làm Tôi Nhớ *

huyenchieu

Nha Trang của tôi thuở ấy nhỏ bé, yên tĩnh, nằm lọt thỏm vào một vùng mênh mông cát trắng. Nha Trang thật đẹp nhưng đó không phải là vẻ đẹp của một cô thôn nữ.

Dầu nằm ngay khúc eo khô cằn của miền Trung, Nha Trang không là quê hương của:

“Xứ dân gầy
Ôi bông lúa
Con sông xưa
Thành phố cũ”

(Về Miền Trung – Phạm Duy)

Nha Trang là một thành phố mới, rất mới. Đó là một thành phố không có lũy tre làng bao quanh. Thành phố ấy không có tiếng ếch, nhái kêu khi đêm về. Nha Trang kỳ lạ như được thần đèn, một đêm nào đó, mang từ châu Âu về đặt trên bãi biển đẹp nhất miền Trung.

Nha Trang rất “Tây” . Tây từ cái nhà ga xe lửa đến cái nhà thờ nằm chênh vênh trên vách đá. Tây từ Viện Pasteur đến nhà hàng Fregate, Tây trên những mái nhà, trên những ô cửa theo kiến trúc Gô-tích, trên những cánh cổng có màu hồng của hoa ti gôn khép hờ trước những căn nhà ấm cúng.

Nha Trang Tây nhưng không ồn ào, bởi người Nha Trang thuở ấy biết yêu quý thành phố của mình và họ rất sợ bất cứ sự thay đổi nào làm mất đi vẻ nhã nhặn, duyên dáng của một thành phố thanh lịch. Biển Nha Trang, linh hồn của thành phố này là niềm hãnh diện thầm kín của người dân nơi đây. Biển Nha Trang mang màu xanh kỳ ảo tuyệt đẹp. Có ai quên được những giây phút ngồi trên bãi biển ngắm những con sóng bạc đầu xô vào bờ cát, ngắm cánh chim hải âu bay vút về hướng những ngọn đảo ngoài khơi xa. Con đường Duy Tân trải dài theo bờ biển thật yên tĩnh. Khép nép nhìn ra biển sau khu vườn cây cỏ, hoa lá xinh tươi có ngôi nhà ai sao quá bình yên.

Nha Trang Tây trong ngôn ngữ. Bán cho tôi ký đậu “vert”, ký cà “tomate”, hộp” beur Bretaigne…” Rạp xi nê treo bảng bằng tiếng Tây: Tant Qu’Il Y Aura Des Hommes”, “Les Trois Mousquetaires”, “Giant”…

Đường phố Nha Trang như dành riêng cho người đi bộ. Một vài chiếc vespa chạy thong dong, một vài chiếc xích lô chậm rãi lăn bánh. Đi dạo phố thời đó là một thói quen thú vị, nhàn nhã của người Nha Trang, dù chỉ ghé tiệm vải của người Ấn xem qua một vài khúc vải đẹp, dù chỉ bước vào tiệm sách giả vờ xem vài tờ báo để có cớ nhìn trộm cô hàng sách, dù đi lên, đi xuống con phố Độc Lập, Phan Bội Châu chỉ để mong gặp được một ai đó. Người Nha Trang luôn thấy lòng bâng khuâng khi bước chân xuống phố. Đang bước đi vô định, lòng bỗng bồi hồi nghe có tiếng hát rất chậm, rất khẽ từ chiếc radio nhà ai:

“Phố chiều bao tà áo trắng
Lượn trên hè phố nắng
Những cô nàng xuân tròn trăng.
…………………………..
Có chàng đi tìm quá khứ
Lần theo đường phố vắng
Nắng hanh vàng đan chiều mơ

(Phố Chiều – Hoàng Thi Thơ)

Nha Trang thuở ấy là như thế. Không giàu có nhưng cuộc sống thật lãng mạn, yên bình và quý phái.

Còn bọn trẻ chúng tôi, con đường thân quen nhất cũng mang một cái tên rất Tây, đường “Bá Đa Lộc”. Trường Võ Tánh nằm trên con đường ấy. Đó là một ngôi trường có vẻ bề ngoài rất uy nghiêm với mái ngói rêu phong, tường vàng, cửa sổ màu nâu sậm nhưng lại chứa bên trong một lũ học trò trẻ trung, vui nhộn, nghịch ngợm, phá như quỷ. (Ở lớp Đệ Nhất C, nữ sinh Nữ Trung Học được học gửi chung với nam sinh Võ Tánh).

Bọn chúng tôi thuở ấy sao vô tình quá.
Mãi đến khi xa tất cả, mất tất cả mới thấy lòng bồi hồi thương yêu quá đỗi.

Mười tám tuổi, rời trường đi học xa, sắp phải làm người lớn rồi, cuộc sống bộn bề âu lo phía trước làm tôi ra đi không nhiều lưu luyến.
Tôi bỏ lại Nha Trang những ngày áo dài trắng đến trường, bỏ lại chàng trai lóc cóc xe đạp theo sau, bỏ lại những lần hồn nhiên vui mừng nghe tin thầy bệnh được nghỉ học kéo nhau ra biển ngồi chơi, bỏ lại tiệm sách hình ngũ giác nằm giữa chợ Đầm, bỏ lại rạp Tân Tân những lần đi ngang ngước nhìn tấm bảng quảng cáo phim đang chiếu, thèm lắm mà không có tiền mua vé.

Ở một nơi rất xa Nha Trang, thoáng chốc nghe trong tim có chút gì thổn thức khi nghe tiếng ai hát:

“Nha Trang, ngày về
Mình tôi, trên bãi khuya
… Khóc người tình”

(Nha Trang Ngày Về – Phạm Duy)

Xa Nha Trang nhưng không mất Nha Trang.

Cho đến ngày ngôi trường Võ Tánh bị bức tử.
Cho đến ngày đường Bá Đa Lộc biến thành đường Lý Tự Trọng.
Cho đến ngày đường biển Duy Tân, linh hồn của Nha Trang, biến thành đường Trần Phú.

Có đôi khi tôi thấy lòng quặn đau, nhưng đó là những cái chết đẹp và đúng lúc.

Cũng có khi trở lại Nha Trang.
Cầu Xóm Bóng vẫn còn, Tháp Bà vẫn còn, Cầu Đá vẫn còn và biển vẫn xanh nhưng tất cả đều trở nên phô trương, huyên náo, lòe loẹt.

Còn đâu Nha Trang xưa!

Huyền Chiêu

* lời nhạc Trịnh Công Sơn

KHÔNG ĐỀ

daolam

ta ngồi
dưới cội
trăng non
tìm xưa bắt bóng
mê hoang một thời
ngóng trông
bóng hạc
chim trời
anh xưa mất hút
thả lời ăn năn
buồn chi
ánh mắt
ngại ngần
đãi bôi chi lắm
ngàn lần thế thôi
ta về
dựng lại
dấu môi
buồn ta hun hút
nhớ người
thiên thu

DaoLam

CHỊ LẠI LÊN ĐƯỜNG

nguyenbatrac

Chị lại lên đường hứng tuyết sương
chắt chiu giữ lại những mùi hương
Một mai em có về bên ấy
Đem rải bơ vơ khắp phố phường

Dẫu chẳng vui mà cũng chẳng buồn
Hoa đồng cỏ nội vẫn luôn luôn
bên nhau gửi gấm lòng thương mến
đến bốn phương trời lạnh tuyết sương

Chị luôn luôn đứng giữa núi đồi
Biết mình là mộng thế gian ơi
Sáng nay chị thấy nhành hoa đẹp
Chị mỉm cười
Mà lại hắt hơi

TÁI BÚT
Thích nhất là khi mắt đã mờ
lại nhìn ra được mấy vần thơ
xanh tươi giữa đất trời hoa lá
trong lúc tâm hồn biết ngẩn ngơ

Trong lúc mây Tần với suối Mơ
dập dìu lập lại những vần thơ
bang khuâng thương nhớ pha hờ hững
Hễ nhớ thương
thì lại hững hờ…

NGUYỄN BÁ TRẠC