HIỆU ỨNG BẦY ĐÀN

hangon

Luật lệ trong xã hội được tao ra do quy ước hoặc bất quy ước. Dù muốn dù không, con người sống trong xã hội bị chi phối bởi những luật lệ đặt ra để bảo vệ trật tự, và đồng thời bị ảnh hưởng bởi những “luật lệ” bất quy ước. Đó là những “luật lệ” phát sinh từ thói quen, tập tục, và truyền thống. Luật (tục) lệ theo kiểu này nên viết trong ngoặc kép, vì nó không hẳn là luật lệ do con người đặt ra kèm theo hình phạt. Chẳng hạn như chuyện dựng vợ gả chồng, phải có trầu cau, có lễ gia tiên, có rước dâu…v..v.. trong quan hôn tang tế. Luật pháp chẳng bắt buộc nhưng ai cũng phải làm chỉ vì tập tục. Ngoài luật lệ và tục lệ, đời sống của con người cũng bị ảnh hưởng bởi tình huống xã hội, tạo ra do sự va chạm trong cuộc sống, hoặc do nếp sống kết hợp thành nhóm. Tuy không ý thức được nhưng con người vẫn bị ràng buộc; đôi khi nó chặt chẽ như một định luật. Nói khác đi, con người bị ràng buộc một cách vô ý thức. Môn Tâm lý Xã hội được hình thành là để tìm hiểu bản chất và nguyên nhân tạo ra phản ứng cá nhân trong những tình huống xã hội như thế (theo Baron, Byrne & Suls). Môn khoa học này đào sâu những hiện tượng tâm lý xã hội như quan niệm về bản thân, nhận thức, ảnh hưởng, và phản ứng xã hội, thành kiến và kỳ thị, định kiến…v..v.

Một trong những trạng thái tâm lý xã hội là Hiệu Ứng Bầy Đàn (HƯBĐ).
Nói nôm na, hiệu ứng bầy đàn là phản ứng của một cá nhân bị chi phối bởi đám đông. Đám đông không cần nhiều, chỉ cần hai người là đủ áp đặt ảnh hưởng lên người kia. Phản ứng của cá nhân đều phù thuộc vào lối suy nghĩ và hành động của đám đông. Mỗi cá nhân đều mong muốn trở thành một phần tử trong tập thể. Vì nếu hành động khác đi, cá nhân đó có thể bị loại trừ khỏi đám đông, trở thành một phần tử lẻ loi. Nhu cầu bầy đàn mãnh liệt nằm trong tiềm thức, và chính tiềm thức hướng dẫn hành động tương ứng của mỗi cá nhân.

Một triết gia cổ Hy-lạp, kể lại một câu chuyện rất lý thú. Một người sinh ra có cái sừng mọc ngay giữa trán. Từ khi lớn lên, anh xấu hổ vì không giống ai. Nỗi đau khổ vì sự khác biệt với mọi người chung quanh dằn vặt anh suốt một thời gian dài. Một buổi sáng kia, anh thức dậy và chợt nhận ra cái sừng mọc giữa trán của anh… biến mất. Anh sững người không tin khi nhìn hình mình trong gương. Sự sung sướng làm anh ngạt thở không thốt nên lời. Một lúc sau, anh hoàn hồn, mở cửa chạy ra ngoài hét lên sung sướng. Anh muốn chia sẻ niềm hạnh phúc mất sừng vì từ đây anh có thể sống bình thường như mọi người. Ra ngoài đường, anh bàng hoàng khi thấy mọi người bây giờ lại có một cái sừng mọc ngay giữa trán. Anh đau khổ. Cuối cùng, anh vẫn là một cá nhân lẻ loi giữa đám đông, vì một lẽ anh vẫn khác biệt với mọi người.

Xã hội Hy-lạp phát triển có hệ thống, mang màu sắc dân chủ kể từ năm 500 BC. Các triết gia nổi tiếng như Socrate, Aristotle, Plato, Diogenes… sống trong thời đại phát triển dân chủ cực thịnh đó nhưng không hiểu người đặt ra câu chuyện này có hiểu gì về hiệu ứng bầy đàn không. Nhưng rõ ràng câu chuyện biểu hiện nhu cầu kết đàn, sự cần thiết đồng hóa của một cá nhân khi sống trong xã hội. Từ đó, ta có thể hiểu HƯBĐ là nhu cầu tâm lý của con người muốn đồng hóa với mọi người, từ đó phản ứng và hành động rập khuôn như những người chung quanh. Bản năng đã thôi thúc con người thích nghi vào môi trường và hoàn cảnh đang sống.

Cần phân biệt sự thích nghi vào môi sinh tạo ra sự biến đổi về thể lý và sự thích nghi vào hoàn cảnh sống của con người do tác động tâm lý.

1. Sự thích nghi (adaptation) là một tiến trình thay đổi thể lý của động vật nhằm thích nghi với môi trường sống. Gấu bắc cực phát triển bộ lông dày hơn gấu ở miền nhiệt đới để giữ thân nhiệt. Sinh vật ở dưới nước chân có màng giúp cho bợi lội dễ dàng. Những động vật ăn thịt lại có móng sắc để giết mồi, răng nhọn để xé thịt… những biến đổi này một phần được giải thích qua thuyết Tiến hóa của Darwin. Tục ngữ ta có câu, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Sự thích nghi của thực vật trong nông nghiệp cũng tạo ra những hoa quả có hình dáng lạ mắt. Ngày nay, các nông gia ở Nhật và ở Việtnam đã trồng được những quả dưa hấu hình vuông, bưởi hồ lô, dưa thỏi vàng (http://www.instructables.com/id/Grow-a-square-watermelon/; http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/221386/nua-ty-dong-khong-mua-duoc-150-cap-dua-hau-thoi-vang.html)

2. Sự thích ứng (conformity) là kết quả của một phản ứng tâm lý của con người trước áp lực của đám đông. Dưới áp lực này – đôi khi cụ thể qua sự khuyến khích bằng lời nói trực tiếp – mỗi cá nhân có khuynh hướng hành động rập khuôn theo đám đông; nhưng đôi khi áp lực của đám đông diễn ra âm thầm, gián tiếp nhưng vẫn dẫn đến một kết quả giống nhau. Tục ngữ ta có câu, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, nhằm khuyến cáo con người về HƯBĐ.

Một thí nghiệm phổ biến của Solomon Asch (1907-1996), một tâm lý gia đi tiên phong về ngành tâm lý xã hội minh chứng HƯBĐ của con người dưới áp lực của đám đông (peer pressure, or group pressure). Trong thí nghiệm này, Asch gom một nhóm gồm 8-10 người, trong đó tất cả (all accomplices, tạm gọi là X) – trừ một người là nhân vật thí nghiệm (subject of the experiment, tạm gọi là Y) – đều cố ý trả lời sai hay đúng theo yêu cầu của Asch. Dĩ nhiên, nhân vật chính của cuộc thí nghiệm không hề biết những người kia (X) làm việc cho Asch. Cuộc thí nghiệm rất đơn giản, Asch đưa ra một bảng gồm 4 đường thẳng đứng, một bên (Exibit 1) là một đường thẳng mẫu, bên phải gồm 3 đường dài ngắn khác nhau có tên A, B, và C (Exibit 2), trong đó có một đường dài bằng đường bên trái. Câu hỏi cũng đơn giản, đường A, B, hay C dài bằng đường bên trái? Cả cuộc thí nghiệm gồm 18 bảng khác nhau, và 3 đường thẳng A, B, và C cũng được thay đổi thứ tự và độ dài 18 lần khác nhau. Điều kiện đặt ra là nhóm X luôn trả lời trước, và thường Y xếp ngồi ở gần cuối.

Screen Shot 2016-03-08 at 12.57.27 AM

Hai lần đầu, X trả lời đúng câu hỏi, và Y cũng trả lời đúng. Những lần sau (16 lần) X cố ý trả lời sai, và Y cũng trả lời sai. Đoạn phim ghi lại cuộc thí nghiệm cho thấy Y lưỡng lự trước khi trả lời vì Y biết câu trả lời của nhóm là sai, nhưng cuối cùng cũng trả lời (sai) giống như X (https://www.youtube.com/watch?v=NyDDyT1lDhA). Thí nghiệm này được lập đi lập lại với nhiều Y khác nhau và kết quả thật bất ngờ.

Trong 50 lần thí nghiệm với 18 câu hỏi cho mỗi lần và với 50 nhân vật thí nghiệm Y khác nhau, 37 lần Y trả lời sai theo X ít nhất là 1 lần và 14 Y trả lời sai theo X hơn 6 lần. Sau cuộc thí nghiệm, một số Y tiết lộ rằng họ biết X sai nhưng vì đa số nên (đành) phải trả lời theo; một số Y khác nghĩ rằng đa số (X) chắc chắn phải đúng nên đành hy sinh nhận xét riêng mình. Một tình huống ta thường gặp nhằm giải thích hiện tượng này. Khi vào một bữa tiệc, ta thấy muỗng nĩa hai ba loại đặt cạnh đĩa. Món ăn dọn ra, và người không biết phải dùng muỗng hay nĩa nào thích hợp với món ăn, thường nhìn các thực khách và bắt chước để dùng đúng loại muỗng (nĩa). Nhiều người làm giống nhau, ta làm theo đám đông thì chắc chắn đúng.

– Thêm một điểm quan trọng nữa là số người của nhóm càng tăng, HƯBĐ tác dụng càng cao. Nếu nhóm chỉ có 2 người (một X và một Y), nhân vật thí nghiệm sai chỉ có 3.6%; nhóm 3 người, sai 13.6%; nhóm 4 người, sai nhảy vọt lên 31.8%; nhóm 5 người, sai 35.1%; nhóm 7 người, sai 35.2%; nhóm 8 người, 37.1%; nhóm 10 người, 35.1%; và nhóm 15 người, 31.2%.

– Chỉ cần một trong số người X trả lời khác với nhóm, thì nhân vật thí nghiệm Y lại trung thành với nhận xét của mình. Nói khác đi số câu sai giảm thiểu đáng kể. Như thế, HƯBĐ gây hiệu quả lớn nhất khi tuyệt đại đa số đứng về một phía, một người còn lại sẽ cảm thấy áp lực nặng nề và nhu cầu muốn được đồng hóa càng mãnh liệt.

Các nhà tâm lý xã hội rút ra những lý do tại sao mỗi cá nhân (cần) phải đồng hóa với cả nhóm:

1. đạt được sự chấp nhận là một thành viên trong nhóm
2. đạt được mục tiêu mà nhóm theo đuổi
3. đạt được mục tiêu cá nhân khi theo đuổi mục tiêu của nhóm
4. thụ hưởng sự tham gia vào các sinh hoạt nhóm và muốn bảo đảm sự tiếp nối của nhóm

Như thế HƯBĐ là một hiện tượng tâm lý xảy ra hằng ngày do sự chung đụng với đám đông. Nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của mỗi cá nhân sống trong xã hội và chính hiện tượng tâm lý này đã hướng dẫn mọi hành động và quyết định của cá nhân đó.

Hãy cùng nhau tìm hiểu HƯBĐ gây ảnh hưởng thế nào trong một vài lãnh vực sau đây và từ đó chúng ta rút tỉa được những bài học gì:

I. Giáo dục. Ông bà ta chẳng hiểu gì về HƯBĐ nhưng răn đe con cháu thật rõ ràng, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” hoặc “Chọn bạn mà chơi.” Ngạn ngữ có câu, “Hãy cho tôi biết bạn của anh, và tôi sẽ cho biết anh là người thế nào. Show me your friends, and I’ll tell you who you are.” Trong Kinh thánh cũng nói đến HƯBĐ, “Đi với người khôn, ắt sẽ nên khôn, chơi cùng kẻ dại, sẽ mang lấy hoạ.” (Châm ngôn 13:20).

Sự ảnh hưởng của bạn bè ở thời niên thiếu rất lớn. HƯBĐ có lẽ đã ảnh hưởng từ khi biết kết bạn ngay từ thời tiểu học, nghĩa là khoảng 9-10 tuổi. Những con số thống kê cho ta thấy sự nguy hiểm của HƯBĐ. Tại Hoa kỳ, theo một nghiên cứu của National Center on Addiction and Substance Abuse tại ĐH Columbia, 75% thiếu niên có dính đến ma túy và rượu tuổi từ 12 đến 17 thú nhận rằng chính áp lực của bạn bè là nguyên nhân đưa đến tình trạng nghiện ngập hiện tại. Một cuộc khảo cứu khác từ National Drug Agency tại Mã lai cho thấy trong số 26,841 thiếu niên nghiện ngập, 55% bắt đầu nếm thử là do bạn bè. Tại Đại hàn, con số nhảy vọt lên 95% theo báo Korea Times.

Sự nguy hiểm của áp lực bạn bè, hay nói khác đi HƯBĐ tác động lên con trẻ ngay từ thuở thiếu thời. Bởi thế, cha mẹ phải để ý đến bạn bè của con cái, đưa chúng vào những môi trường lành mạnh như Hướng đạo, hoặc đoàn thể tôn giáo vì từ những môi trường này số bạn bè xấu rất ít và cơ may đứa trẻ lớn lên thành người hữu dụng cho xã hội sẽ cao hơn nhiều.

II. Kinh tế. Cuộc khủng hoảng dotcom năm 2000 làm tiêu tán tài sản của một số người không nhỏ cũng phát xuất từ HƯBĐ. Để đầu tư vững chắc trên thị trường chứng khoán, sự hiểu biết về thị trường, về kinh tế, và nhất là thu nhập và chi tiêu của công ty đó. Khi thị trường chứng khoán bị thổi phồng, mọi người đổ xô bỏ tiền vào đầu tư mà chẳng có một chút kiến thức gì cả. Thấy mọi người bỏ tiền mua trăm cổ phần, ngày hôm sau kiếm được vài ngàn. Dễ đến thế thì tại sao không làm. Mà lời thật, chỉ trong vòng vài tháng, trương mục cổ phần tăng vọt 100%. Thế là mọi người như con thiêu thân, lấy hết tiền lời của căn nhà bỏ hết vào canh bạc… bịp. Kết quả thì ai cũng biết rồi, giữa năm 2000, cơn sốt chứng khoán xì hơi và rất nhiều người mất hết của cải, trở thành trắng tay chỉ sau một năm đầu tư theo HƯBĐ.

Chưa hết, thị trường địa ốc làm bùng nổ cơn khủng hoảng tài chánh năm 2008. Bài học chỉ sau 8 năm vẫn chưa có người học thuộc. Họ lấy tiền lời của căn nhà đang ở và mua thêm vài căn nữa. Một cặp vợ chồng với thu nhập dưới 100K, thế mà “cả gan” làm chủ một lúc 5 căn nhà. Chuyện tưởng như thần thoại, thế mà nó lại xảy ra nhan nhản vào những năm đó. Một lần nữa, HƯBĐ tác động mạnh lên tâm lý của con người. Lòng tham là một nhân tố, nhưng HƯBĐ đã đóng một vai trò quan trọng trong 2 cuộc khủng hoảng xảy ra chỉ cách nhau 8 năm.

Vấn đề nhức nhối nhất hiện nay ở xã hội Tàu & Việt nam là thức ăn độc hại. Kiếm được một món ăn tinh sạch thật hiếm. Dĩ nhiên, vấn đề chính phát xuất từ lòng tham nhưng HƯBĐ vẫn có tác dụng trên những kẻ buôn bán. Mới đây, tôi được dịp nói chuyện với một linh mục ở VN. Ngài kể rằng khi đi mua rau cho nhà dòng, đến một cửa tiệm của một người công giáo. Anh ta nói thẳng, “tiệm con không bán rau sạch, vì giá quá cao không thể cạnh tranh với những tiệm bên cạnh…” Anh ta thêm, “tuy biết bán rau tẩm thuốc là không tốt nhưng mọi người chung quanh đều làm nên con cũng phải làm theo để kiếm sống.” Vị linh mục này kết luận, “những người công giáo đã được khuyến cáo mỗi tuần qua lời khuyên của các cha trên tòa giảng, thế mà họ vẫn phải làm. Thế thì những người khác, chưa bao giờ nghe một lời khuyên nào thì họ sẽ không từ nan bất cứ phương tiện nào để kiếm lợi nhuận cao nhất.” Đó là một thực tại đau lòng cho xã hội VN bây giờ.

Ngay cả chúng ta, đôi khi cũng tự biện hộ, “mình không làm thì người khác cũng làm.” chỉ vì cái lợi vật chất trước mắt. Nói đơn giản đi, vì nhiều người làm nên tôi làm, cho dù sai. Biết bao vụ lừa đảo về tiền trợ cấp được phanh phui tại Hoa kỳ cũng từ câu nói ngụy biện này. Năm ngoái, trong một bữa giỗ, tôi nói chuyện với một anh tầm tầm 60. Anh ta vừa được con bảo lãnh sang Mỹ được chừng vài tháng. Ở VN, anh giữ chức Phó phòng Mặt trận Tổ quốc của phường. Nói chuyện lan man một lúc, sang đến chuyện hối lộ, anh thẳng thừng, “Hối lộ là chuyện bình thường. Một chút tiền khôn đi trước để công việc suôn sẻ không thể gọi là hối lộ.” Anh còn bồi thêm, “Phường nào cũng làm thế, có phường nào hay cơ quan nào mà không làm.” Khi tôi hỏi, “anh có biết hối lộ ở Mỹ là một trọng tội không?” Anh trả lời, “Ở Mỹ thì tôi không biết, nhưng ở VN ai cũng dùng tiền để chạy việc nên tôi nghĩ chẳng sai.” Hóa ra một việc sai nhưng nhiều người làm nên trở thành đúng. Hành động của đám đông cuốn hút những người khác làm theo, như thí nghiệm của Asch ở trên. Nguy hiểm là ở chỗ đó. Ý thức về sự sai trái (về tội) không còn nữa. Não trạng của họ không còn phân biệt được đâu là đúng và đâu là sai. Đức Giáo hoàng Piô XII khuyến cáo, “Cái đau khổ lớn nhất của nhân loại ở thế kỷ 20 không phải ở chỗ phạm những tội tày trời, nhưng ở chỗ con người đang đánh mất dần ý thức về tội.” Khi con người mất hẳn khái niệm căn bản về đạo đức (đúng và sai) thì không còn gì kiềm chế được hành động của họ nữa. Họ không còn phân biệt được trắng hay đen nhưng não trạng họ chỉ còn là một màu xám tro nhợt nhạt.

III. Chính trị. Năm 1953, Stalin chết và cả triệu người túa ra đường bày tỏ lòng thương tiếc. Có người khóc, có kẻ chẳng nhỏ một giọt nước mắt nhưng khuôn mặt người nào cũng lộ vẻ buồn sầu (https://www.youtube.com/watch?v=2ze0gzwZQJY). Không thể chối cãi một sự thật là có hàng triệu người khóc nhưng trong số đó chắc chắn một số khóc theo vì HƯBĐ. Một số người khác không khóc được nên phải dùng một vài thủ thuật trông giống như đang khóc. Năm 2013, trang mạng “Russia Beyond the Headlines” phỏng vấn một số người sống vào thời điểm Stalin chết và ghi lại một vài trường hợp đáng chú ý. Viktor Yerkovich, 74 tuổi thú nhận dùng nước miếng bôi lên mặt cho ươn ướt. Felix Kvasha, 79 tuổi, thú nhận không thể khóc. Dalila Avanesova, 73 tuổi, kể lại cả nhà vui hẳn lên nhưng phải kín miệng. Đây là một số nhỏ trong hàng triệu người khóc lóc về cái chết của một “người cha”, “người thầy”, “vị anh hùng”.

Mao chết năm 1976, cũng hàng triệu triệu người khóc lóc. Khóc trong nhà, khóc ngoài đường, khóc nơi công sở. Cả nước chìm trong màu tang. Yu Hua viết một cuốn sách khá nổi tiếng, “China in Ten Words” gồm 10 chương, mỗi chương là một chữ tiêu biểu cho xã hội Tàu. Chương thứ hai ông viết về “Lãnh tụ”, và dĩ nhiên nói đến cái ngày Mao lìa cõi đời. Năm đó, Yu Hua đang học trung học và tất cả học sinh được lệnh phải có mặt tại hội trường lúc 9 giờ. Hơn nghìn học sinh lục đục đứng dậy mang ghế đến hội trường. Ngay sau khi báo tin Mao chủ tịch vừa chết, cả hội trường chìm trong tiếng rền rĩ và than van. Yu cũng nước mắt đoanh tròng. Cả một đám đông chìm trong nước mắt. Nhưng khi tiếng khóc bùng lên, tiếng than van gào lớn khắp hội trường, tiếng kể lể xen lẫn với tiếng ho sùng sục, tiếng thở hổn hển khi nuốt hơi lấy sức để tiếp tục than vãn thì Yu ngưng tiếng khóc và cảm thấy buồn cười. Yu viết, “nếu chỉ chừng vài ba người khóc thì còn hiểu được, đằng này cả một hội trường lớn bé từng ấy người khóc lóc thảm thiết như phường chèo (cacophony) nên tôi cảm thấy buồn cười. Vì buồn cười, tôi bật ra tiếng cười nhưng tôi cố mím chặt môi. Cười trong lúc này chắc chắn bị quy tội phản cách mạng và rất dễ mất mạng. Tôi càng cố, áp lực của sức cười dồn ứ trong phổi khiến tôi khó chịu. Cuối cùng tôi phải chồm người tới trước, ôm chặt thành ghế, gục đầu vào 2 cánh tay mà cười rung người. Sau này bạn bè bảo tôi khóc thương Mao chủ tịch một cách đặc biệt, không giống một đứa nào.”

Năm 1969, tình cờ tôi cầm được tờ báo Time của ông cậu, trên đó chụp hình một người đàn bà trẻ khóc sướt mướt, nước mắt nước mũi ràn rụa, phía trên chạy hàng chữ Ho chi Minh Died. Năm đó tôi đủ lớn để biết thương, biết nhớ, biết buồn, biết khổ nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao chị ta khóc đau đớn đến thế. Nhà tôi chưa bao giờ có tang nhưng tôi đã chứng kiến nhiều đám ma của những người lính và thấy thân nhân họ hàng khóc lóc thảm thiết. Khi lớn lên tìm hiểu và tôi nhận ra đó là những giọt nước mắt chân thành. Chị khóc thương ông Hồ thật tình, thật lòng. Ở đây tôi không bàn đến cả một hệ thống tinh vi đánh bóng thân thế và sự nghiệp của ông, và tạo cho ông một huyền thoại có một không hai trong lịch sử Việt nhưng tôi chỉ muốn nói đến cảm xúc của những người khác khi nghe tin ông Hồ chết. Ngoài chị ra, chắc chắn có một số không thể khóc, cố bật ra tiếng khóc mà không được. Một số người khác thấy đám đông khóc và họ khóc theo. Áp lực của đám đông đã làm những giọt nước mắt rơi.

Riêng cái chết của cha con nhà họ Kim ở Bắc Hàn là những trường hợp hết sức dị thường, vượt quá tầm hiểu biết của con người. Nó trái ngược với sự suy nghĩ bình thường. Hành động của dân Bắc Hàn không nằm trong tự điển của loài người. Nó tách biệt, lạ lẫm, xa cách như nếp sống ẩn dật của một bộ lạc hiếm hoi trong rừng rậm Amazon.

Mỗi cái chết của họ Kim là nước mắt của cả nước, đủ nam phụ lão ấu, trừ con nít chưa biết nói. Như trường hợp khóc thương các lãnh tụ khác, vẫn có những giọt nước mắt chân thành. Thế còn áp lực của đám đông? Không, không thể gọi là HƯBĐ bình thường nữa, mà là sự kích động cuồng loạn của đám đông (mass hysteria). Darcie Sims, một chuyên viên nghiên cứu về sự chế ngự buồn sầu và giám đốc của American Grief Academy tại Seattle, cho biết. “Sự kích động của đám đông lây lan rất nhanh như nạn cháy rừng. Chỉ cần vài ba người thôi là đủ gây ảnh hưởng đến số người còn lại.” Nhân tố cuối cùng vắt hết nước mắt của dân Bắc hàn là sự sợ hãi. Đám đông sợ cái gì? Thưa họ sợ khóc chưa đủ và nếu bị kết tội, hình phạt 6 tháng ở các trại khổ sai đang chờ đợi họ. “Khóc chưa đủ” là một hình tội. Tất cả đua nhau khóc, giống như vào một cuộc đua chạy việt dã. Ai cũng phải cố chạy thật nhanh để đến đích trước mọi người. Thi đua nhau khóc (competetive crying) là một hiện tượng tâm lý quái đản còn tồn tại đến tận ngày nay và chỉ hiện diện tại mỗi Bắc Hàn, theo Anthony Daniels, một nhà tâm lý.

Một điểm son không có nước mắt về HƯBĐ trong lãnh vực chính trị là sức ép của đám đông trên các mạng xã hội. Năm 2012, công nghệ điện thoại thông minh chế là một ứng dụng nhằm khuyến khích mọi người đi bầu và được các ứng cử viên Cộng hòa & Dân chủ sử dụng triệt để. Mỗi khi bầu xong, một người có thể khoe thành tích của mình ngay trên mạng Facebook, Twitter, hoặc Instegram. Những người đã bầu khuyến khích và thúc dục bạn bè trong cùng mạng lưới đi bầu. Một số người không muốn đi bầu nhưng vì áp lực của đám đông trên mạng lưới, họ đi bầu. TT Obama chiếm 60% số phiếu của giới trẻ cũng nhờ ứng dụng này. Năm nay, 2016, là năm bầu cử và chắc chắn bà Hillary và ông Trump sẽ dùng ứng dụng này triệt để, (tôi đoán họ sẽ là 2 ứng viên Tổng thống của 2 đảng chứ chưa hẳn đúng).

IV. Tôn giáo. Với chủ trương tam vô: vô gia đình, vô tổ quốc, và vô tôn giáo chủ nghĩa cộng sản luôn tìm cách tiêu diệt tôn giáo và hủy hoại giá trị gia đình, riềng mối chòm xóm láng giềng, vã dĩ nhiên cả những giá trị căn bản của xã hội nữa. Vô gia đình vì tất cả cho đảng, và đảng chính là đại gia đình. Vô tổ quốc vì họ tin tưởng chủ nghĩa cộng sản sẽ toàn thắng và thế giới trở thành đại đồng. Một khi đại đồng thì biên giới nước này nước nọ sẽ không còn nữa. Tại sao họ chủ trương vô tôn giáo? Theo thuyết duy vật biện chứng của Marx thì bất cứ một sự kiện nào đều có mâu thuẫn nội tại. Chính sự xung đột của mâu thuẫn nội tại nảy sinh một cái mới, tiến bộ hơn (ví dụ con gà và quả trứng nhằm biện minh cho mâu thuẫn này). Rồi chính cái mới lại có mâu thuẫn nội tại nữa. Cứ thế sự vật biến đổi không ngừng. Cái mới sẽ tiếp tục nảy sinh từ cái cũ và khi đạt được chủ nghĩa cộng sản thì ngưng, vì chủ nghĩa này là đích điểm cuối cùng (không còn mâu thuẫn nữa). Tinh hoa của con người, của lịch sử nhân loại là chủ nghĩa cộng sản. Vì thế phải đấu tranh, phải dùng bạo lực để tiếp tục tạo ra cái mới. Còn giáo lý tôn giáo dạy dỗ sống đời này là “nhân” để gặt “quả” ở đời sau. Công giáo cũng tin có thiên đàng sau khi chết. Giáo hữu được dạy dỗ đời này chỉ là tạm bợ, đời sống đích thực là sau khi chết đi. Marx không chấp nhận vì ông kêu gọi đấu tranh để bột phát cái mới. Nếu chủ trương đời này tạm bợ thì lấy ai đấu tranh. Nếu có thiên đàng thì thiên đàng là ở đời này. Chủ nghĩa cộng sản chính là thiên đàng hạ giới của nhân loại. Do đó, Marx kết luận tôn giáo là thuốc phiện nhằm ru ngủ (sự đấu tranh) của quần chúng.

Khi đặt nền móng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc từ 1954 đến 1975, nhà nước đã cô lập và tìm cách tiêu diệt tôn giáo một cách có hệ thống. Nhưng sau 21 năm, nhà nước đã thất bại vì những làng công giáo ngoài Bắc dứt khoát không hợp tác với chính quyền, nhất là vùng đất Nghệ Tĩnh Bình, vùng Thái bình, Phát diệm (khu tự trị cũ của ĐC Lê Hữu Từ). Họ chấp nhận con cái dốt chữ chứ không thể dốt giáo lý. Họ giữ đạo thầm lặng như thế trong suốt 21 năm.

Một cơ quan của nhà nước được thành lập năm 1955 lấy tên Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc do linh mục Vũ Xuân Kỷ làm chủ tịch. Ngoài một vài linh mục tham gia Ủy ban, còn hầu hết tất cả giáo dân bất hợp tác. Họ khốn khổ, khốn nạn với tổ chức phá đạo này nhưng đồng thời họ tỏ thái độ dè bỉu, nếu không nói là khinh bỉ. Trong thời kỳ đó, tổ chức này sinh hoạt lèo tèo, có dăm ba linh mục, vài giáo dân xách cặp đi họp thường xuyên với cán bộ Ủy ban. Mãi đến năm 1983, tổ chức phá đạo này được đổi thành Ủy ban Đoàn kết Công giáo mà giáo dân thường gọi chệch đi là Ủy ban Đàn két. Trong cuốn hồi ký “Chứng Từ Của Một Giám mục” của cố GM. Lê Đắc Trọng, Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Hà nội, ngài nói đáng lẽ Ủy ban này chết rồi nhưng biến cố 30/4 đã giúp nó sống lại. Ngài cho rằng, khi du nhập Ủy ban này vào miền Nam, các giám mục và linh mục trong Nam với mặc cảm thua trận (tr. 261, sđd) nên vồ vập lấy Ủy ban này xem như lẽ sống, cái kiểu đem đạo vào đời. Thật vậy, các ngài không có một kinh nghiệm gì về chủ trương của cộng sản, chứ giáo dân miền Bắc đã rõ mục đích của Ủy ban này từ lâu.

Nhà nước cộng sản rất khôn ngoan trong việc lũng đoạn các tổ chức. Cấm đạo không được vì giáo dân sẵn sàng chết. Trà trộn để phá đạo cũng không xong vì giáo dân biết rõ mặt từng người. Cách duy nhất là dùng người công giáo để phá công giáo, kiểu dùng “gậy ông đập lưng ông”. Cách này rất hiệu quả vì trong giáo hội vẫn có những linh mục không đạo đức (tr. 261, sđd), vụng tu sẵn sàng “hiến thân” làm thân trâu ngựa cho đảng. Linh mục có tòa giảng, mỗi tuần giảng lời Chúa mươi lăm phút, đồng thời truyền đạt tư tưởng của nhà nước luôn thể. Những cán bộ tuyên huấn rất thèm tòa giảng này. Họ có lần hỏi các cha rằng các cụ chỉ có 15 phút mỗi tuần mà nói gì giáo dân cũng nghe, chúng tôi tổ chức học tập ngày này qua tháng nọ mà dân vẫn không nghe. Lời nói của linh mục ở nhà thờ rất quan trọng. Nắm được linh mục là nắm được cả giáo xứ nhưng tốt nhất vẫn là nắm cho bằng được giám mục vì giám mục cai quản cả trăm họ đạo.

Giáo dân gọi những linh mục gia nhập Ủy ban Đoàn kết, một đơn vị thuộc Mặt trận Tổ quốc, là linh mục quốc doanh. Phần lớn những linh mục này là đảng viên. Họ thường được đề cử vào chức vụ đại biểu trong các khóa của Quốc hội, khiến cuộc đời linh mục càng lún sâu vào con đường tục hóa. Theo trang mạng Wiki, tính đến năm 2007, Ủy ban Đoàn kết thành lập được 39 ban trên toàn quốc và quy tụ được 470 linh mục quồc doanh. Cũng năm 2007, tổng số linh mục là 3721 vị. Như thế, tỷ lệ các linh mục quốc doanh mến Chúa yêu… đảng là 12.6%. Một tỷ lệ đáng sợ.

Những công tác mục vụ của những linh mục này tất nhiên giảm sút vì họ dành thì giờ để họp hành, học thuộc nghị định, nghị quyết, và vạch kế hoạch để thực thi đường lối của đảng. Và cái đáng sợ nhất là khi gia nhập cái Ủy ban Đoàn kết để phá đạo, các linh mục quốc doanh ngày càng thoái hóa, tha hóa, biến chất, ngang nhiên lỗi các lời thề của thiên chức linh mục gồm Vâng lời, Khó nghèo, và Khiết tịnh. Hiệu Ứng Bầy Đàn đã đưa đến một hậu quả thật đau lòng.

Một số linh mục quốc doanh lạc quan (tếu) cho rằng phải mang đạo vào đời, phải hợp tác với nhà nước để truyền đạo, trước để cảm hóa và sau là đồng hóa họ theo đường lối Tin mừng. Sự thật là trước khi họ mon men cảm hóa các cán bộ, chính họ đã bị đồng hóa. Ông bà ta bảo,“Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.” Họ, những linh mục quốc doanh, định khoác mảnh áo cà sa lên người cộng sản thì chính họ đã mặc áo giấy từ lâu. Họ “mặc áo giấy” vì suy nghĩ và hành động như một người cộng sản. Cái tệ nhất là nếp sống tha hóa của họ mới là gương mù gương xấu không những cho giáo dân, mà còn cả lương dân nữa. Chính môi trường đã đồng hóa các linh mục không đạo đức này (chữ của cố GM Lê Đắc Trọng). HƯBĐ tác dụng lên họ một cách dễ dàng. Dễ thế nào? Thưa chỉ cần vướng vào một trong những tệ đoan như rượu, tiền, và sắc. Ban bố một chút chức danh, và chụp thêm vài tấm hình lưu trữ ở thư khố thì họ – các linh mục quốc doanh – sẵn sàng làm nô bộc cho đảng và nhà nước đến suốt đời.

Một trường hợp điển hình về HƯBĐ của những linh mục biến chất là ông Phan khắc Từ, chánh xứ Vườn Xoài. Trước 75 ông có hỗn danh là linh mục hốt rác, vì tự nguyện làm công nhân hốt rác ở Sở Vệ sinh SG; tham gia đấu tranh quyền lợi cho công nhân hãng pin Con Ó. Ông xuống đường hốt rác, nhưng ông cũng thường xuyên xuống đường chống chính phủ. Năm 75, ông lộ nguyên hình là một đảng viên cộng sản. Ông ngang nhiên có vợ là bà Ngô Thanh Thủy, một sinh viên (Luật?) chuyên đấu tranh trước 75. Ông và bà Thủy có 2 con gái hiện đang học và sống ở Pháp. Ngày ăn thôi nôi con đầu lòng, ông mời toàn bộ cán bộ thuộc Thành ủy HCM đến ăn mừng. Mọi người đến mừng mà không biết con của ai, cứ nghĩ con của một cán bộ nào đó trong thành ủy. Mãi đến khi ra về mới ngã ngữa ra đó là con của ông PKTừ. Chân Tín, một linh mục dòng Chúa Cứu Thế, cũng nằm trong hàng ngũ đấu tranh với ông Từ trước 75 đã thẳng thắn đề nghị ông nên hoàn tục để sống đời sống gia đình. Nhưng đến nay ông vẫn ngày làm linh mục, tối làm giáo dân ngang nhiên thách thức quyền bính của giáo hội. Tổng giáo phận SG không thể kỷ luật ông Từ được vì ông Tổng quản của Tòa Giám mục lại là một ông quốc doanh khác, quyền thế hơn, uy lực hơn. Đó là ông Huỳnh công Minh, một đảng viên gộc.

Screen Shot 2016-03-08 at 1.03.30 AM

Ngày 28/6/2010, nhân ngày lễ Gia đình Việt nam tại giáo xứ Vườn Xoài, bà Thủy (bí danh Tư Liên) công khai tuyên bố bà là vợ ông Từ. Bà nói, “Tôi là vợ chính thức, có hôn thú với ông Phan Khắc Từ. Tôi đã có 2 con với ông ấy. Chúng tôi sống rất hạnh phúc…” Khi được hỏi ông Từ có ý định cởi áo dòng để chính thức sống với bà không thì bà trả lời:

– Chuyện gia đình tôi là chuyện riêng tư. Quý vị nên nhớ, trong đạo anh Từ là linh mục nhưng ngoài đời anh ấy là một đảng viên… Anh ấy giúp đạo thì phải có bổn phận phục vụ đảng chứ…
Bà Tư Liên còn hãnh diện:

– Tôi xin hỏi quý vị… Ngày hôm nay là ngày gì? Có phải chủ trương 1 vợ 1 chồng để gia đình hạnh phúc không? Nếu thế thì chúng tôi (anh Từ và tôi) đã đạt được mục đích của phong trào… Còn những ông giám mục, linh mục đang sờ sờ trước mắt kia, đang thậm thụt vợ nọ con kia, gái bao đủ thứ chuyện. Tôi hỏi ai phải ai trái?

Lại được hỏi: “Bà có can đảm chỉ đích danh các vi giám mục, linh mục ấy không?” Bà nói: “Tôi sợ gì mà không nói, nhưng bây giờ chưa phải lúc!” Có phải bà Thủy thổi phồng sự kiện để bêu xấu giáo hội? Thưa không, bà nói đúng lắm. Theo tìm hiểu riêng của tôi và qua chuyện trò với một vài linh mục từ VN cho biết danh sách các linh mục lăng nhăng, con rơi, rượu chè be bét… khá dài.

Đơn cử một trường hợp khác ở hạt Phú Yên, linh mục Nguyễn Cấp là người nát rượu, suốt ngày say xỉn, kể cả lúc cử hành thánh lễ. Từ nát rượu đến con rơi là một bước ngắn. Một bạn học cũ của tôi có con chịu chức linh mục, hớn hở đến gặp thầy cũ để báo tin vui. Đến nơi chỉ thấy một ông già say sưa, ngồi nhậu với các cán bộ ở nhà xứ. Bạn tôi ra về lòng buồn rười rượi. Đọc vi-thư của người bạn, tôi không ngạc nhiên lắm vì hơn 10 năm trước, tôi đã gặp ông khi ông qua Mỹ để xin tiền xây nhà thờ. Vì là thầy dạy cũ, tôi đến gặp để đóng góp và thấy tay ông đang cầm chai bia, giọng lè nhè (không biết đã uống mấy chai rồi) và nghe ông mở miệng chưởi tục không thua gì một tay anh chị. Tôi lẳng lặng ký ngân phiếu và ra về ngay. Ít nhất có 2 linh mục khác có mặt với tôi lần đó và lên tiếng chỉ trích cách ăn nói của ông Cấp. Dĩ nhiên, quý vị nhắm mắt đoán mò cũng biết ngay ông Cấp là linh mục quốc doanh. Ở Giáo phận Vinh lại có linh mục Nguyễn thái Từ, ông này chối có đạo. Ngày xưa, các giáo hữu chỉ cần nói tôi bỏ đạo đã được tha nhưng rồi họ can đảm nhận cái chết chứ không chối, cho dù chỉ là một lời nói suông. Ngày nay có linh mục thẳng thắn chối đạo. Một lần nữa, quý vị cũng đoán ra ông này là linh mục quốc doanh.

Screen Shot 2016-03-08 at 1.04.42 AM

Có thể ông PKTừ muốn hoàn tục để tránh lời thị phi. Có thể những linh mục quốc doanh khác cũng muốn trả áo dòng hầu bảo vệ thanh danh giáo hội. Mục đích của nhà nước là muốn bêu xấu giáo hội nên chắc chắn không cho phép họ hoàn tục. Phải có một ông linh mục sống sượng có vợ, trắng trợn đi ngược lại đường lối của giáo hội, như thế mới tỏ được quyền lực của nhà nước; đồng thời cũng là bài học răn đe những tu sĩ khác, kể cả giám mục. Thuận tôi thì sống, nghịch tôi thì chết. Giữa đường lối của nhà nước và đường lối của giáo hội, đường lối của giáo hội bị xem nhẹ. Giữa thần quyền và thế quyền, thế quyền hơn hẳn. Thật ra, nếu những ông này cứ can đảm, trả áo dòng hoàn tục thì nhà nước cũng chẳng làm được gì. Nhưng vì những lợi lộc vật chất đi kèm (tiền bạc, bổng lộc, chức tước), hoặc những tội lỡ phạm (sắc dục) mà nhà nước có bằng chứng trong tay, tất cả những thứ này là vòng kim cô siết chặt cổ họ đến nghẹt thở. Bởi vậy cố GM. Lê đắc Trọng mới bảo họ là những linh mục không đạo đức (không, chứ chẳng phải kém; nghĩa là zêrô, vô đạo đức). Ngài báo trước hậu quả, “Nhưng một khi đã trót rồi, không thể rút ra được nữa. Kinh nghiệm xưa là thế, nay vẫn thế. Nào là mất quyền lợi, nào nguy cơ tưởng tượng, nào sĩ diện…”, (tr. 262, sđd). Những lầm lỡ trong quá khứ có bằng chứng, những lợi lộc vật chất như cái ách đè lên cổ con trâu, và khi nghe tiếng roi vun vút sau lưng, con trâu lầm lũi bước tới, cày xới tung mảnh đất hoa màu chưa gặt hái mà giáo hội ươm trồng và gìn giữ qua suốt bao nhiêu thế kỷ. Những linh mục này mãi mãi làm tôi tớ cho ma quỷ cho đến ngày bị vắt kiệt nước. Lúc đó, họ như một múi chanh bị ném vào sọt rác.

Nói cho cùng, một linh mục sa ngã cũng là chuyện thường tình. Nhưng phải dứt khoát với lòng mình. Hoàn tục để lập gia đình chẳng có gì sai cả, vì tu trì là một ơn gọi, hôn nhân cũng là một ơn gọi khác. Cả hai đều là Bí tích và được xem cao trọng ngang nhau. Đời sống mục vụ của linh mục là dành trọn thì giờ lo cho giáo dân, không thể dính dáng đến chính trị, càng không thể là đại biểu quốc hội. Linh mục Jean-Bertrand Aristide thuộc dòng Don Bosco chuyên tranh đấu cho người nghèo tại Haiti đã hoàn tục để ra tranh cử và đắc cử chức vị Tổng thống đến 3 lần. Ông này phân biệt rõ rệt trắng đen chứ không như số linh mục quốc doanh phá đạo kia.

Từ 1945 đến nay, lịch sử của Giáo hội Công giáo VN chưa ghi nhận được một linh mục nào cảm hóa được một cán bộ cộng sản mà chỉ thấy chủ nghĩa cộng sản đã cảm hóa được rất nhiều linh mục, (cần mở một ngoặc kép ở đây, là tôi có thể sai… nếu ai biết được một trường hợp nào cụ thể, xin cho tôi biết để củng cố đức tin). Trừ một người. Đó là Đức Hồng Y Nguyễn văn Thuận (cháu của TT Ngô đình Diệm, gọi bằng ông cậu). Suốt 13 năm ngài còn là Giám mục và bị giam lỏng tại làng Giang xá, thuộc ngoại ô Hà-nội, đời sống đạo đức của ngài đã cảm hóa được rất nhiều anh công an có nhiệm vụ canh gác ngài. Chính ngài đã rửa tội cho những cán bộ cộng sản trung kiên này. Mãi rồi nhà nước không dám đưa một cán bộ nào đến canh gác nữa. Cuốn sách “Đường Hy Vọng” ngài lén lút viết trong tù trên những tờ giấy lịch và được bí mật chuyển ra ngoài đã được dịch ra trên 15 ngôn ngữ. Đây là cuốn sách viết lại hành trình đức tin của ngài trong suốt những năm tù đày và giam lỏng. Rõ ràng ngài đã cảm hóa đám đông, chứ đám đông không hề cảm hóa được ngài. HƯBĐ của đám đông đã có tác dụng ngược, và chỉ mỗi trường hợp đặc biệt này.

HƯBĐ có tác dụng hai chiều: cá nhân đồng hóa môi trường hoặc môi trường đồng hóa cá nhân. Tưởng rằng cảm hóa được những người cộng sản nhưng không, họ đã đồng hóa các linh mục quốc doanh trước. Môi trường đã làm những linh mục quốc doanh sa đọa, biến chất, không còn tinh tuyền như thân thể của Đức Kitô. Bà Brigitte Gabriel, Chủ tịch Phong trào Act for America, đưa ra một nhận xét hết sức chí lý: “Không phải tất cả những người Hồi giáo đều là khủng bố, nhưng tất cả những kẻ khủng bố đều là Hồi giáo.” Tôi cũng xin nói, “Không phải tất cả các linh mục đều biến chất nhưng tất cả các linh mục biến chất đều là linh mục quốc doanh.”

Tôi có bi quan với số lượng 460 linh mục quốc doanh (con số này còn nhiều hơn tính đến năm 2016) không? Thưa không. Cho dù là 12.6% tổng số linh mục là quốc doanh, cho dù con số lên đến 50%, tôi vẫn vững tin vào ơn Chúa Thánh thần chỉ vì Đức Giêsu đã nói với vị Giáo hoàng tiên khởi, “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực Satan không thể nào thắng nổi,” (Matthêu 16:18). Chủ nghĩa cộng sản đồng hành với Satan nhưng họ không thể mạnh hơn Satan. Bằng chứng là Satan vẫn còn quấy nhiễu nhưng chủ nghĩa cộng sản đã chết từ lâu rồi. Tuy vậy, Hội thánh cần kinh qua những thử thách để hun đúc đức tin và tôi luyện giáo dân. Giáo hội tiên khởi đã bị bách hại từ thời hoàng đế La mã Nêron (năm 64) đến Sắc lệnh của vua Costantine (năm 313) tính ra kéo dài gần 3 thế kỷ. Giáo hội hoàn vũ cũng đang bị đau khổ khắp nơi, đặc biệt tại các nước Hồi giáo. Riêng Giáo hội Công giáo bị các vua chúa bách hại trong hơn 4 thế kỷ, nhưng sứ điệp Tin Mừng vẫn được loan truyền, đức tin của giáo dân vẫn triển nở như hoa quả đầu mùa, vẫn được củng cố mãi cho đến bây giờ, và còn tiếp tục cho đến khi nước Cha trị đến. Cho dù cuộc bách hại có tinh vi hơn, hệ thống hơn vì có những linh mục biến chất, phá đạo từ bên trong, nhưng chủ nghĩa cộng sản (đã biến thái) không thể nào tiêu diệt tôn giáo được. Họ có thể thắng một hai trận chiến nhỏ trong vài giai đoạn nhất thời, nhưng trường kỳ họ sẽ bị Thiên Chúa khuất phục.

Bài học rút tỉa được qua sự kiện này là gì? Xin thưa đừng đánh giá mình quá cao, và cũng đừng đánh giá kẻ khác quá thấp. Quan sát và đánh giá môi trường thật kỹ. Nên tự lượng sức mình, nhận ra khả năng của chính mình. Biết chỗ đứng và nên chu toàn nhiệm vụ theo lý tưởng mình đã chọn. Đừng mập mờ nhưng hãy phân biệt rõ trắng đen.

Lời cuối. Phần kết của HƯBĐ, tôi xin bàn đến sự tiến trình đồng hóa của môi trường. Thường thì ai cũng đánh hơi được sự nguy hiểm khi nó hiện rõ nét. Nhưng có sự nguy hiểm đến từ từ để cho nạn nhân quen dần, để cuối cùng khi nó hiện nguyên hình là một con quái vật thì lúc đó đã muộn. Môi trường nuốt chửng lấy nạn nhân, và khi nó mửa ra, nạn nhân đã hoàn toàn lột xác từ hình dáng đến suy nghĩ, từ hành động đến cư xử, tất cả đều bị biến thái rập khuôn theo đám đông. Những người cộng sản rất quỷ quyệt trong tiến trình đồng hóa môi trường.

Năm 1869, nhà sinh lý học Đức, Friedrich Goltz thực hiện một cuộc thí nghiệm về khả năng tiếp nhận môi trường của loài ếch (The Boiling Frog). Ông bỏ một con ếch vào nồi nước rồi đun sôi dần. Đến 25 độ C thì nó cảm thấy nóng và nhảy ra ngoài. Edward W. Scripture, y sĩ và tâm lý gia tại ĐH Yale, lập lại thí nghiệm này vào năm 1897. Ông tăng nhiệt độ từ từ, cứ 0.002 độ C mỗi giây và sau 2 tiếng rưỡi, con ếch vẫn nằm yên cho đến khi bị luộc chín. Nhiệt độ lúc đó là 82 độ C.

Gần đây, tiến sĩ Karl S. Kruszelnicki, nhà khoa học Úc, bác bỏ kết quả của thí nghiệm này. Ông chứng minh khi độ nóng tăng lên một điểm nào đó, chất đạm ở 4 chân ếch bị chín cứng tạo thành một màng trắng cột chặt con ếch vào đáy nồi. Nó giống như khi ta thả lòng trắng trứng (đầy chất đạm) vào nước sôi, lập tức lòng trắng chín cứng lại. Vì thế, dù muốn hay không, con ếch vẫn không thể nhảy ra ngoài được. Lập luận này được tiến sĩ George R. Zug, thuộc American Museum of Natural History, và giáo sư Doug Melton tại ĐH Harvard tán thành.

Như thế, về phương diện sinh học, thí nghiệm “The Boiling Frog” không thích dụng. Nhưng về phương diện tâm lý thì sao. Các nhà tâm lý xã hội học nhận xét “The Boiling Frog” qua một lăng kính khác. Họ nhận xét rằng đôi khi chúng ta cũng bị môi trường luộc chín từ từ mà không nhận ra. Nó thay đổi từ từ để chúng ta thích ứng, làm quen dần để đến một lúc nào đó, khi cả môi trường sôi bỏng thì không kịp trở tay nữa. Nạn nhân sẽ bị luộc chín. Các linh mục quốc doanh đang bị môi trường chính trị (ỦB Đoàn kết) luộc chín dần mà không nhận ra.

Riêng chúng ta, hãy tỉnh thức với môi trường chung quanh. Nên tập nhạy bén với tình hình. Mở mắt to, mở tai lớn và dè chừng môi trường. Nó có thể như một viên thuốc độc bọc đường. Nó có thể là một bàn tay sắt bọc nhung. Cứ hòa đồng với đám đông nhưng đừng để bị đồng hóa với cái xấu.

HƯBĐ là một hiện tượng tâm lý đáng để chúng ta suy nghĩ và nên luôn luôn cảnh giác.

HẠ NGÔN

_________________________

Tài liệu tham khảo
http://www.age-of-the-sage.org/psychology/social/asch_conformity.html
http://www.correntewire.com/basic_sociology_group_behavior
https://www.uky.edu/~drlane/teams/pavitt/ch6.htm
http://www.simplypsychology.org/social-psychology.html
http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2011/04/117_63695.html
https://www.elementsbehavioralhealth.com/addiction/study-examines-peer-pressure-and-addiction/
http://www.narconon.org/blog/narconon/a-new-kind-of-peer-pressure-that-is-fueling-addiction/
http://www.digitaltrends.com/social-media/forget-social-media-this-was-the-peer-pressure-election/
http://www.danchimviet.info/archives/71021/thuc-trang-giao-hoi-thien-chua-giao-mien-bac-tu-1945-1975/2012/12
http://chemgiocatuan.blogspot.com/2014/04/hot-hot-linh-muc-phan-khac-tu-co-vo.html
http://chungnhan.org/giaoxu/event/Viet-Nam/Thu-ngo-cua-Linh-muc-Chan-Tin-gui-anh-Phan-Khac-Tu-230/
https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BB%A6y_ban_%C4%90o%C3%A0n_k%E1%BA%BFt_C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_Vi%E1%BB%87t_Nam
http://hdgmvietnam.org/thong-ke-linh-muc-cong-giao-tren-the-gioi-va-tai-viet-nam/448.43.13.aspx
https://yeumensuthat.wordpress.com/2011/07/04/%E1%BB%A7y-ban-doan-k%E1%BA%BFt-cong-giao-bao-gi%E1%BB%9D-d%E1%BA%BFn-h%E1%BB%93i-k%E1%BA%BFt/
http://www.britannica.com/biography/Jean-Bertrand-Aristide
http://www.nguyenvanthuan.com/hiswritings.html
http://conservationmagazine.org/2011/03/frog-fable-brought-to-boil/
China in Ten Words, Yu Hua. Pantheon Books of Random House Inc., New York, 2011
Chứng Từ Của Một Giám mục, cố GM Lê Đắc Trọng. Diễn đàn Giáo dân

LỤC BÁT HAI CÂU

nguyenhuynh

1.
Nửa đêm uống chén rượu thừa
Thấy trong đáy cốc vạt thưa nắng chiều.
2.
Đọc đi đọc lại thơ mình
Dường như con chữ rập rình đằng xa.
3.
Đêm đông bó gối ngủ vùi
Mơ trong bếp lửa một mùi khoai lang.
4.
Cong môi đánh một vòng tròn
Thấy thân vô chủ nằm trong vô thường.
5.
Câu thơ cùng với gạo tiền
Nhìn tôi như thể muộn phiền điều chi.
6.
Mặt trăng cùng với mặt trời
Là hai bản mặt, mặt người nữa ba.
7.
Buồn tay ném đá xuống sông
Đáy sông đá chết, đáy lòng dửng dưng.
8.
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu!
Gợi bao viễn xứ xanh màu viễn du.
9.
Nấu cơm nghĩ mộng kê vàng
Giật mình cơm cháy, cháy lan đời người.
10.
Nằm im giả chết xem sao
Gối lên hư ảo mộng vào hư không.

NGUYỄN HUỲNH

Em Bỏ Bùa Cho Tôi Phải Không

tranvanle

Em bỏ bùa cho tôi phải không?
Khi không mà nhớ má em hồng
Khi không mà nhớ môi em thắm
Mà nhớ vô cùng đôi mắt trong…

Em bỏ bùa nên gió quá thơm
Chiều xanh bát ngát rồi hoàng hôn
Bao nhiêu ngọn gió tôi vừa bắt
Rồi thả ra bay mất biệt hồn…

Em bỏ bùa nên tôi biếng ăn
Cơm hôi canh lạt chẳng buồn chan
Mà chan lại sợ đầy con mắt
Ai hiểu giùm tôi quá nhớ nàng?

Em bỏ bùa nên tôi ngẩn ngơ
Mở tờ giấy trắng viết chi giờ?
Rằng thương không biết làm sao nói
Mà nói làm sao cho giống thơ?

Mà nghĩ cũng buồn thơ nhạt nhẽo
Bao nhiêu bài rồi ai ngó đâu?
Ném ra sân gạch chim không nhặt
Sợ nhặt tha đi bẩn mái lầu?

Em bỏ bùa tôi không bỏ em
Đêm nay tôi sẽ nói cùng đêm
Tắt giùm tôi hết trăng sao nhé
Để một mình tôi với ngọn đèn…

Để một mình tôi ngồi đối bóng
Lầm thầm tôi nói một tôi nghe
Tương tư không phải vì trăng tỏ
Không phải sao mờ cuối biển kia…

Mà cuối biển kia em đó chứ
Vầng trăng ẩn hiện giữa trời mây
Chùm sao ẩn hiện trên nền sóng
Đêm lạnh lùng tôi thêm nhớ ai!

Trần Vấn Lệ

ĐÀ LẠT: CÙNG RÓT BAO NHIÊU NGÀY HOANG…

nguyentruongtrunghuy

Mắc giữa hai cây cành một điệu boston. Rồi bằn bặt giấc thiếp.

Căn nhà màu tím . Lũ lũ diệp lục trườn bò khắp trên ngọn đồi sầu hoang.

Một lắng đọng chìm…chìm xuống giữa những bạt ngàn gió núi đơn côi…chìm sâu hơn lũng thấp…
Dưới lũng, một cánh bướm ngơ ngác bay lạc trong nắng… Một đóa quỳ vàng nở ra như từ vạn đại, một con ong chết trầm mặc trong lòng nhụy như từ ngàn kiếp sau…

Xao xác từ căn phòng trên cây là mênh mông phù ảo những cung điệu…Sang Ngang còn nhiều tình khúc “đổ lệ” khác…Và bây giờ, ám ảnh trong rung rẩy giọng tình âm tính cùa nam ca sĩ Tuấn Anh là “Rồi em cũng bỏ tôi đi”…

“Lùa cơn nắng say vào đôi cánh tay
Lùa cơn gió lên vào đôi môi mềm thấy lòng bồi hồi…”
Ngước lên…

Lá đổ xuống thành một dòng thác nhỏ. Mưa của lá mang theo mùi hương xa ngái. Phải chăng là mùi của một lặng im thông Cam Ly một-chiều-nào-chúng-ta, một ngọt quyện hồng Trại Mát đến-và-đi-phiêu-du-như-gió, một thơm-như-môi-hồng đào hồ Tuyền Lâm của mùa xuân nào phôi pha, và cả bàng hoàng sương nữa, sương sớm Suối Vàng hoặc những giọt lệ đầu ngày ướt trên mi Thung Lũng Hồng.

Cây cuối xuống và lá rụng đầy hồn người, sợi chiều trói mình vào khoảng mông lung, rớt trên lưng chừng đèo một tiếng chim xao xác…

Chợt vang vang về một ý nghĩ ngông cuồng ngày cũ của Thiện: “Tất cả lịch sử Việt Nam đã chết trong tôi. Tôi muốn tất cả nước Việt Nam bị tiêu diệt và chỉ chừa lại thành phố Đà Lạt mà thôi. Chỉ có Đà Lạt mới xứng đáng là Việt Nam trong tất cả mọi ý nghĩa thiêng liêng nhứt và thơ mộng nhất của Việt Nam. Hãy để tất cả thế giới bị tiêu diệt và chỉ xin chừa lại Đà Lạt …”

NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY

12299158_10201076557271999_1006992831975063541_n

Thăm bạn ở núi…

nguyenminhphuc

Gửi Tạ Văn Sĩ– Kon Tum

Thăm nhà bạn ở lưng chừng núi
Con dốc trôi hoài tay đụng mây
Khói sương tạt bóng chiều hoang hoải
Níu cả hoàng hôn đầy vốc tay

Bạn vít mây trời về dán ngõ
Nên nắng chiều nghiêng như cánh chim
Bạn lột cây rừng về theo gió
Nên khói mù sương ngơ ngác đêm

Gùi dăm quả chuối cùng bầu rượu
Bạn đãi ta say muốn chết chìm
Uống cả mây trôi cùng tiên tửu
Nốc hết sương trời bát ngát đêm

Thấy trăng tròn quá mà cứ ngỡ
Ai mang nhan sắc lạc trên đồi
Hốt cơn mê thả tràn nhung nhớ
Lùa khói bên trời in dấu môi

Đêm mộng quá thành không muốn ngủ
Hái một trời sương trắng trên tay
Mai ta đi nhớ đôi bầu vú
Của mênh mang bóng núi rơi đầy…

Nguyễn Minh Phúc

NGOÀI KIA. MÙ BỤI HỒNG TRẦN

chuthuynguyen

là cõi lạc mê. hay nẻo khuất?
lòng đá lạnh căm. nhớ hận người
tạc giữa hôn mê. và sóng cuộn
nhện giăng. ừ nhỉ! nhện giăng tơ

ồ không! lũ bướm mơ trăng gió
gục chết đêm qua. giấc mộng con
tơ tóc. dây chùng. mây đứt đoạn
một đời phù ảo. kén nằm khô

góa phụ ngồi. thương tưởng dáng xưa
hoàng lan sầu nhớ. tiếng dương cầm
đêm. leo lét bóng. thuyền nan cũ
và khói lặng mờ. trăng viễn du

không bóng đổ. chiều rơi. còn chiếc lá
là mù sương. ngày đó. bóng chơi vơi
là dạ khúc. đường về. chân đã mỏi
là thềm hoang. bóng núi khuất xa rồi

là cõi nhân gian. nắng lại mưa
tắm gội phù du. cuộc bỡn đùa
là duyên. hay nợ? phương trời ấy.
ta gọi vào ta. lòng nghe thơ…

Chu Thụy Nguyên

Nails, nails, nails….

doanthilethanh

Ở bên nhà, nghề làm nails có từ xa xưa và cũng chỉ là một nghề như bao nghề lương thiện khác, không bị ai coi thường đến nỗi truyền đời báo danh trong thành ngữ như nghề ca sĩ “ xướng ca vô loài”. Cho đến khi di cư qua Mỹ theo bước chân của người Việt tha hương thì tự nhiên nghề lương thiện này bị dư luận xì xầm dè bỉu. Bởi vậy, khi cuộc sống mới của tôi chưa định hình rõ rệt, tôi đã dứt khoát không bước chân vô tiệm nails để trau chuốt bộ móng (tất nhiên, đâu phải như ở xứ mình, làm một móng thiệt đẹp cũng chỉ tốn vài chục ngàn, tính ra chỉ vài dollar), và càng không phải để chà gót tỉa móng cho thiên hạ. Lúc đó, khi nghe hai tiếng “làm nails”, tôi còn cảm nhận một dư âm tội nghiệp và rẻ rúng. Cùng là dân nhập cư, nhưng mỗi dân tộc chiếm lĩnh một phường kinh doanh. Người Tàu thường là những ông chủ bà chủ nhà hàng. Đôi khi tôi cũng đi ăn ở một vài nhà hàng vào những dịp đặc biệt. Tại nhà hàng Mỹ, hay Mễ, thái độ của nhân viên phục vụ thường là lịch sự và thân thiện; vào nhà hàng Ý, tôi cảm thấy được chìu chuộng, được chăm sóc và tôn trọng. Nơi tôi ở, nhà hàng Tàu chiếm đa số mà lúc nào cũng thấy khách hàng kiên nhẫn xếp hàng chờ. Nhân viên phục vụ đến bàn nhận đặt món với gương mặt mệt mỏi vô hồn, và những ngôn từ lạnh lùng miễn cưỡng, có lẽ vì họ quá bận rộn và mệt mỏi, đôi khi tôi cảm thấy áy náy vì đã làm phiền họ khi ngồi ăn ở đó. Thế mà tôi chưa nghe ai than phiền về cái cách phục vụ bất cần ấy. Chủ cây xăng nhất định là người Ấn Độ, dù đó là Valero, Texas, hay Exon hoặc Chevron. Tôi cũng đã quen với cái cách tiếp đón của họ cũng như đã quen cái mùi hắc hắc của loại gia vị có nhiều nghệ và cà ri. Ở đó, người thâu ngân chẳng buồn chào hỏi khách, nhận tiền xong cũng chẳng có chút biểu cảm nào gọi là cám ơn, khách dù hèn hay sang gì thì tự cầm vòi đổ cho đầy bình xăng của xe mình. Còn người Việt mình từ lúc nhập cư vào Mỹ đã khiến ngành nails phồn thịnh tưng bừng. Tiệm nails mỗi lúc một chi chít, một đoạn đường ngắn mà có tới sáu bảy tiệm là thường. Nhưng dường như cắm lưng cắm cổ chà gót bóp chân cho đủ bàng dân thiên hạ, thì cũng chẳng vẻ vang chi, có phải? Lại thêm tiếng lành không có, tiếng dữ thì nhiều. Những bản tin trên báo vẽ ra trong trí tưởng của tôi một thế giới nhộn nhạo xô bồ, tranh giành ganh ghét nhau, là một ô hợp những người kiếm tiền dễ dàng không sang mà chảnh…..Không dấu gì, tôi cũng có chút đỉnh thành kiến đối với nghề làm nails.
Thì ra thế giới có màu sắc hình dạng ra sao là tuỳ ở chỗ đứng của mình.
Vậy mà rốt cuộc tôi đã thật sự là một thợ nails! Nguyên nhân vì sao thì chắc ai cũng biết, tôi có khai ra cũng bằng thừa! Biết mình biết ta (nhưng không thắng trận nào hết), tôi là một thợ nails dở ẹt. Tôi trở thành một thợ sửa móng khi chưa học xong khoá đào tạo nào. Mùa hè là thời vụ của nghề nails, nên tiệm nào cũng cần thợ. Tôi gọi điện cho một tiệm đang treo bảng kiếm thợ. Mặc dù tôi thú thật chưa từng đi làm nơi nào cả, cô chủ vẫn vui vẻ “ Tới tiệm đi rồi em luyện cho chị”. Tôi tới liền. Ngày đầu tiên chỉ là để làm quen với những quy định, các cách thức làm tay (manicure) – mà mới ngày đầu tôi nghe là “ làm me”, làm chân (pedicure) và quan sát các chị thợ ”tác nghiệp”. Hôm sau, khách vô ra tấp nập, cô chủ vừa đon đả chào khách, vừa hối tôi lấy đồ nghề đi làm chân. Tôi giật bắn người, giống như hồi còn đi học, bị thầy kêu đích danh dò bài mà thót tim, ôm tập vở lên bàn thầy như ôm trái tim bị trúng đạn. Tôi rán giả bộ điềm nhiên đi tới chỗ để các vật dụng làm móng, ra vẻ ta đây cũng rất chuyên nghiệp, để các chị thợ ma cũ kia đừng khinh thường lính mới. Chà, nhiều thứ quá, tôi tần ngần đứng nhìn, nhẩm lại “bài” coi phải lấy bao nhiêu thứ. 5 thứ, buffer, giũa, bàn chà sắt, miếng chà gót, bàn chải nhỏ, bộ kềm cắt da và cắt móng. Tôi tới ghế của bà khách đang chờ, chào và ngồi xuống chiếc ghế nhỏ của thợ. Chị thợ đang làm cho bà khách bên cạnh nhìn tôi cười hiền. Chị vừa làm vừa thầm thì nhắc tuồng cho tôi. Các bước rửa nước sơn hay chà cát thì cũng dễ, tôi sợ nhất là phần cắt da. Cây kềm trên tay tôi run bần bật theo nhịp massage của cái ghế. Tôi cố giữ chặt kềm, cầm ngón chân út của bà khách nhìn lên nhìn xuống, nhìn qua nhìn về không biết chỗ nào cần cắt (da), đúng ra là cắt cuticle, da viền quanh móng. Tôi nghĩ, cái gì không biết thì đừng làm cho nó lành, cứ làm cách nào mà móng sạch sẽ là được chứ gì. Tôi lấy cây xủi móng, xủi cho sạch lớp da chết trên móng, lấy kềm cắt những chỗ da cộm lên hai bên móng. Xong bước cắt da, nhìn lại thấy mười cái móng cũng tạm được, liếc sang bên cạnh, tôi mất tự tin khi nhìn thấy chị thợ bạn tay thoăn thoắt, mũi kềm ứ đầy những cọng da chết, mười móng chân của khách trắng tinh sạch sẽ. Bà khách của tôi nhìn xuống chân, cười khen rối rít “Ồ, tôi không muốn cắt cuticle đâu, như thế là sạch rồi”. Tạ ơn Chúa lòng lành! Tôi yên tâm làm nốt những việc còn lại, chà gót kĩ lưỡng, rửa chân rồi massage. Tôi thường xem cách massage chân trên you tube, bây giờ cố nhớ lại và thực hành. Cuối cùng là sơn móng. Tôi hồi hộp cắm cúi cày cục trên mười ngón chân trắng muốt của bà khách, điểm trang cho các em thêm mỹ miều sáng bóng. Hãy hình dung một em bé gò lưng tập viết và tập tô màu, mím môi mím lợi mà những chữ, những màu vẫn lem luốt, thiệt tội. Hãy hình dung một tôi tóc tai bơ phờ, mồ hôi ướt đẫm tấm lưng còng để cho ra một cái gọi là thứ phẩm, với móng chân cái bị sọc và dày cui như đắp một lớp bột màu. Trước khi ra bàn ngồi hơ chân, bà khách ghé qua bàn cô chủ nói nhỏ gì đó. Tim tôi lại vừa nhẩy vừa đập trống, cô chủ kêu tôi lại bàn làm việc của cổ, nói nhỏ “ Bả nói chị sơn không đẹp, nhưng bả không chịu để em sơn lại. Chị kéo nước sơn chậm nên không đều, vừa bị sọc vừa dày”. Tôi líu ríu tới bên cạnh bà, xin lỗi rối rít. Bà lịch sự trả lời “ Không sao. Chị tên gì để lần sau tôi tới tìm chị nữa”. Trước khi về, bà vẫn “tip” hậu hĩnh và “Thank you, see you next time” nữa chứ. Trời ơi, bà khách này thiệt là biết cách chửi thiên hạ, giá bả chê tôi vài tiếng hoặc hầm hầm bỏ đi không trả tiền, chắc tôi đỡ phần nào áy náy xấu hổ. Những ngày sau đó, cô chủ và chị thợ bạn hết lòng “kềm cặp”, tôi ghi hết cẩm nang vào một cuốn sổ tay, chùi nước sơn không phải cứ cầm bông gòn mà quẹt, nước sơn tèm lem ra da trông rất dơ, nhất là sơn đỏ; cắt da làm sao cho khỏi đứt chân; chà gót như thế nào để không làm chảy máu; khi sơn phải cầm ngón chân theo cách nào ; làm đẹp thì phải cẩn thận và tất nhiên là phải đẹp….Tay nghề tôi có phần cứng cát, nghĩa là không còn run.. chớ không phải chuyên nghiệp hơn! Một chị khác trong tiệm, tính có phần bộc trực, mỗi lần tôi cầm kềm chuẩn bị “ cạo móng chân”, chị cười (tôi thật tình không hiểu cho lắm kiểu cười này), “ Thấy cái kềm trong tay của bả mà ớn, cứ chỉa chỉa vô người ta, ở Mỹ này họ dạy cầm kềm khác bên mình há!”. Nhưng “người ta” không phải là thợ làm nails, nên “người ta” không sợ cái kềm của binh- nhì -thợ- nails- tôi, “người ta” hoặc lim dim mắt tận hưởng giây phút được chăm sóc như em bé, hoặc chăm chú bấm bấm trên iphone, ipad, phó mặc hai bàn chân cho tôi chà nạo (như cạo phó mát), hay vò bóp như vắt sữa đậu nành. Hơn nữa, tôi biết mình là học trò dốt nên cố “cần cù bù khả năng”, hết sức tận dụng trí nhớ và hai bàn tay để thực hành xuất sắc những bài học (lóm) trên you tube bạn hiền, hầu giúp quý bà quên đi chút sơn còn lem hai bên viền móng như vết quẹt của mấy bà già trầu luộm thuộm, hay những sọc sơn chỗ đậm chỗ nhạt như vó dưa leo.
Những ngày trong tuần không làm ở tiệm, tôi chăm chỉ học hành chờ ngày ứng thí. Ba tháng sau tôi ra nghề. Không biết sao tiệm tự dưng văng vắng, Có những ngày cuối tuần mấy chị em ngồi nhìn nhau, rồi rủ nhau vào bếp coi có gì ăn, hoặc người này sơn móng cho người kia. Tôi lo lắng tự chất vấn, hay là tay nghề vụng về của mình đã đuổi khách người ta đi. Thôi chi bằng ra đi còn hơn cứ tự hỏi và tự trách như thế này thì tổn thọ lắm. Rồi tôi ngậm ngùi cầm tấm bằng mới lãnh từ biệt những đồng nghiệp – có người tốt nhiều, có người tốt ít- . Dù cô chủ cứ an ủi và lưu luyến giữ tôi ở lại, tôi vẫn quyết ra đi.
Tôi lại gọi điện tới một tiệm khác theo lời mách của một người quen. Giọng của cô chủ này ngọt như khoai lang mật “ Em làm ngay ngày mai được không?”. Được chứ. Sáng hôm sau tôi rụt rè bước vào một căn tiệm nhỏ khá dễ thương. Cô chủ “chị em”với tôi rất thân mật, nhưng thật ra cũng trạc tuổi tôi mà thôi. Lần đầu gặp mặt, tôi đã có cảm tình với cô, bởi đôi mắt có đuôi biết cười. Sau vài câu thăm hỏi, tôi biết cô vốn là học sinh trường Sương Nguyệt Ánh, Sài Gòn. Cô có cái tên khá lạ, Ngọc Lang. Theo lời giải thích của ông nội cô, Ngọc là đá quý, thu hút người ta không vì trị giá vật chất mà ở vẻ đẹp vẻ sáng bất diệt. Vì thế, vàng thì có giá nhưng ngọc muôn đời vô giá; Lang theo nghĩa thông thường, là khoai lang, loại lương thực hiền lành bình dị của người Việt mình. Cho nên số cô sau nay sẽ giàu có no đủ suốt đời. Hồi còn nhỏ cứ bị bạn bè chế giễu là củ khoai lang, cô chán cái tên -giàu -có no- đủ này lắm, mấy lần khóc lóc đòi ba đổi tên – Ngọc Lan dòng suối tơ vương, hay Dạ Lan Hương đêm thơm như một dòng sữa chi đó, nhưng ông nội quyết liệt phản đối. Bây giờ thì cô tự hào với cái tên hàng độc hàng hiếm của mình lắm.
Ngoài cô chủ, tiệm có một chú thợ làm bột, một cô thợ trẻ và một chú thợ khác làm cuối tuần. Chú thợ làm bột tay nghề thuộc loại siêu đẳng, lần đầu tiên thấy chú cầm kềm cắt da cuticle thoăn thoắt như máy, tôi phải kinh ngạc dừng tay để nhìn, trong lòng thầm thán phục và ngán ngẩm cho tay nghề của mình. Trong khi tôi rị mọ chưa xong một bàn chân thì chú ta đã rửa sạch sẽ hai bàn chân khách của chú rồi. Đôi khi khách chờ đông, mà tôi thì cứ thận trọng nhấp từng nhát kềm, chú sốt ruột “ Cô để con sơn dùm cho nhanh, qua bắt cái chân kia mà làm.” Thì ra đâu phải thợ nails nào cũng chỉ biết có tranh giành ganh tị!
Không ở đâu mà khách chủ tình thương mến thương như ở tiệm nails. Khách chủ ôm nhau thắm thiết khi tới cũng như khi về, hẹn hò lưu luyến. Và phần lớn họ đều đến hẹn lại tới, tình chung thuỷ tính đến hàng chục năm chứ không ít. Ai cũng một lòng một dạ trao chân gởi phận, dù máu đổ (do bị cắt phạm) hay thịt rơi (bàn chà bén quá cắt luôn gót) vẫn chung thuỷ không dời (sang làm tiệm khác). Phải chăng các bà các cô đến tiệm nails không chỉ với mục đích làm đẹp. Phần lớn trong số họ thích nói chuyện – với nhau hoặc với thợ. Có những cô, bà nói chuyện tía lia với nhau như tri âm tri kỉ từ tiền kiếp, hoá ra lần đầu tiên mới ngồi bên nhau. Có người kể hết mọi chuyện riêng tư thân thiết với thợ như nói với người trong nhà mình. Tôi thường đến tiệm sớm. Vừa mở cửa, đã có bà xăm xăm bước vào, “Tôi muốn sơn móng tay và móng chân màu tím hồng để tiệp với màu áo của con gái tôi”. Chỉ sau vài câu hỏi chiếu lệ của tôi, bà huyên thuyên khoe con gái vừa giỏi và vừa xinh của bà. Thì ra cái sự khoe con khoe cháu này thì người nước Tây cũng giống như người xứ Việt mình. Khách trưa trưa xế xế là những bà cụ về hưu đến cùng với chồng, với con gái hay cháu gái. Một bà thường đến với con gái, tóc bà như mây trời lúc hoàng hôn, không trắng bạc, mà anh ánh sắc vàng, đi đứng khập khiễng thận trọng vì một chân của bà bị teo cơ. Lần đầu gặp bà, tự dưng tôi nhớ mẹ, mặc dầu bà không giống mẹ tôi một chút nào, tất nhiên. Mái tóc bà cũng uốn lượn sóng ôm khuôn mặt hiền từ và đôi môi bà tô son thắm màu đỏ mặt trời. Hay vì bà là người khách lớn tuổi nhất từ khi tôi khởi nghiệp nails? Tôi vuốt ve đôi chân gầy guộc của bà bằng đôi tay thương nhớ mẹ, tôi chưa bao giờ chăm sóc tay chân cho mẹ tôi như thế này. Bà hỏi tôi là người nước nào, tại sao qua đây sinh sống, bên nhà còn những ai. Tôi kể cho bà rằng mẹ tôi sống với người em út, cậu em đi làm suốt ngày nên mẹ tôi rất cô đơn. Bà hỏi bên VN có nhà dưỡng lão như bên này không. Bà khoe nhà dưỡng lão nơi bà đang sống rất vui vì có nhiều hoạt động giúp người già quên muộn phiền của gia đình và tuổi tác. Đưa bà tới bàn hơ móng chân, tôi vội vã quay về bồn để lau rửa, bà kéo tay tôi và ôm nhẹ vai tôi, “ Khi nào nói chuyện với mẹ cháu, nhớ cho tôi gửi lời hỏi thăm. Tôi tên Marlene”. Tôi nói tên tôi đồng âm với lời cám ơn của tiếng Anh, còn tên bà giống như tên của người Pháp, bà nói bà gốc người Ireland.
Hai tuần sau bà trở lại và chờ tôi. Trong khi làm chân cho bà, tôi kể rằng mẹ tôi sẽ đến ở với một người em trai khác, em dâu và cháu tôi sẽ giúp mẹ tôi đỡ buồn hơn và mẹ cũng được chăm sóc chu đáo hơn, bà vui mừng bảo đó là quyết định sáng suốt. Theo thường lệ, hai tuần sau bà lại đến, bà hỏi mẹ tôi có vui khi thay đổi chỗ ở không. Tôi ngẩn người, ủa sao bà lại biết chuyện này? Thiệt tệ, tôi đáng tuổi con bà nhưng lẩm cẩm như mẹ của bà. Người nói thì thường quên những gì mình nói, còn người nghe thì nhớ rất lâu. Tôi cảm động cám ơn bà đã hỏi thăm, và thất vọng nói với bà rằng mẹ tôi không muốn bất cứ sự thay đổi nào – dù nhỏ nhặt- trong đời sống buồn tẻ của mẹ. Bà an ủi tôi, bà cũng vậy, bà thích sự quen thuộc dù nó nhàm chán. Ôi, Marlene, tôi yêu bà biết bao.
Đến chiều chiều cuối tuần thì bà 39 tới. Không phải bà 39 tuổi mà vì bà thường trả 39 đồng vừa tip vừa tiền làm chân hoặc tay. Maria đã hơn 60 nhưng vẫn còn rất đẹp, dáng dấp thon thả như thiếu nữ. Bà thường mặc áo không cổ không tay bó sát người làm bộ ngực thả lỏng cứ vênh lên khiêu khích, và phía dưới cánh tay lấp ló một phần da thịt rám nâu hấp dẫn theo cách nửa kín nửa hở. Ngọc Lang thường cười mỉm, nàng cười mỉm cũng rất duyên, “ Đồ giả thường đẹp hơn đồ thiệt”. Trước đây, bà 39 không vui, thường ngồi buồn mơ màng lãng mạn trên ghế làm chân, đôi khi nhắm mắt lặng lẽ tận hưởng nhịp đưa đẩy của ghế dựa massage, đôi khi khóc thút thít. Ngọc Lang kể bà 39 hay bị thất tình, thất tình thì chắc chắn là chưa có chồng ở thì hiện tại. Hình như bà cũng chưa có con, vì nếu có, bà đã khoe. Độ sau này, Maria không buồn bã âu sầu nữa, bà cười cười nói nói vui vẻ trẻ trung. Thường bà hay nói chuyện với chú thợ – vốn là kĩ sư điện tử, làm ở sở năm ngày và còn cố đi làm nails hai ngày cuối tuần cho vui. Chú có tay nghề massage khiến các cô các bà hâm mộ. Hình ảnh chú bóp nắn vuốt ve mấy cẳng chân trắng thon, hay gầy ngoẵng, hay bự chảng như cột đình khiến tôi liên tưởng tới những nhạc sĩ đang gảy đàn harpe. Mắt chú nhắm, đầu hơi cúi xuống, hai tay nhẹ nhàng nâng niu trân quý những đôi chân như các tông đồ rửa chân Chúa. Chú hay kể chuyện vượt biên của gia đình chú, vô vàn hiểm nguy và gian khó, còn bà thì kể chuyện đi du lịch, khi thì Carribean, khi thì Florida, khi thì Châu Âu…Cả hai ý hợp tâm đầu đầm ấm lắm khiến tiệm thêm phần rộn ràng hào hứng. Mỗi ngày Maria càng đẹp hơn và siêng làm đẹp hơn, cứ cuối tuần thì tung tăng bước vào tiệm, hớn hở cười chào mọi người. À, thì ra Maria đã có người yêu, đẹp trai và trẻ hơn bà gần chục tuổi, bà khoe hình cho mọi người trong tiệm xem, ai cũng thật lòng chúc mừng cho người đẹp…
Có khi thầy thợ đang làm vệ sinh cuối ngày thì một vài cô da màu tới, rụt rè hỏi tiệm sắp đóng cửa chưa, xuýt xoa xin lỗi tới trễ vì mới đi làm về. Hôm đó cô Janet cũng đến tiệm khá muộn. Cô không hẳn đen, thân hình to lớn dềnh dàng như bất kì người Mỹ da màu nào, mái tóc lơ thơ ép sát vào cái đầu hơi méo làm lộ hai gò má cao to thô kệch. “ Lâu lắm không thấy cô tới”, tôi đon đả. Cô uể oải ngồi lên ghế, vừa kéo tay ghế xuống vừa nói, đôi mắt rưng rưng “ Mẹ tôi vừa mất tháng trước”. Tôi xuýt xoa chia buồn, thì cô được dịp thổn thức tâm sự. Cô làm hai công việc từ nhiều năm nay vì phải nuôi cha mẹ. Cha cô mất ba năm trước, bây giờ thì mẹ cô cũng theo cha cô. Chị em cô rất đông, chín người, nhưng ai cũng thờ ơ khi cha mẹ đau yếu. Tôi an ủi cô “Mình sống hiếu thảo thì khi cha mẹ mất đi mình không có gì ân hận hối tiếc”. Giọng nói cô nghe nặng trong cổ và đôi mắt cô ướt sũng “Tôi thương mẹ nên chỉ muốn ở bên cạnh bà, tôi đã nghỉ làm thêm để dành thì giờ cho mẹ. Bây giờ mẹ đi rồi, tôi thấy trống trải quá”. Gương mặt thô kệch nhuốm nỗi buồn hiếu thảo tự dưng trở nên dịu hiền và xinh xắn. Với vốn liếng tiếng Anh ít ỏi, tôi không hiểu hết những gì cô kể lể, nhưng tôi thấu cảm những gì cô nghĩ, cô yêu thương. Quá giờ đóng cửa tiệm đã lâu, nhưng vẫn cố chăm sóc đôi chân nặng nề và sần sùi của cô thật kĩ lưỡng, dù tay nghề vụng về, tôi cũng đã sơn vẽ những móng chân vẹo vọ của cô trở nên đẹp tuyệt.
Hôm khác, một cô Mễ đến khi tiệm chuẩn bị đóng cửa. Cô khoe hôm nay làm đẹp để mừng căn nhà mới mua. Căn nhà này cô tậu được nhờ …..bị chồng bỏ. Một bữa tối, chồng cô nói với cô rằng, “Anh đã lỡ yêu một người, bây giờ anh không biết chọn ai, em hay cô ấy” . Cô không cần suy nghĩ, quát vào mặt tên chồng mặt dê tim lợn “Tôi không cần anh chọn, tôi bỏ anh”. Và hôm sau, anh ta bỏ nhà đi theo cô đồng nghiệp người Nga trẻ đẹp chân dài. Tôi và chị thợ bạn có cùng phản ứng là “ há…” một tiếng thật to. Cô nói rằng cô cũng muốn “há…” như vậy khi nghe anh ta thú thật chuyện mèo mỡ ớn ngấy đó. nhưng cố giữ chặt nó trong cổ. Những ngày sau đó, cô không buồn, chỉ bất ngờ đến sửng sốt vì không tưởng được cuộc chia tay sau vài chục năm chung sống lại chóng vánh đến lạ lùng như thế. Cô cười cười nói “Bây giờ thì tôi quên hẳn thằng cha khốn nạn đó rồi. Hắn để tôi bán căn nhà cũ và tôi lấy hết tiền mua lại một căn nhà khác, nhỏ hơn nhưng mới hơn và đẹp hơn. Tôi còn có một con cún cưng, tôi sẽ tận hưởng cuộc sống mới, sẽ chăm sóc mình cho đẹp hơn”. Tôi tán đồng “ Phải đó, thứ đàn ông đó không đáng cho mình phải đau khổ đến nỗi già cỗi đi. Cô còn trẻ, và xinh như vậy, thế nào cũng gặp được người đàn ông tốt”. Cô chán nản lắc đầu “Tôi không tin trên đời này còn có loại đàn ông tốt. Tôi không cần đàn ông nữa, tôi sẽ quên tất cả chuyện buồn”. Tôi không cho rằng cô đã quên câu chuyện tình duyên buồn chết người đó. Nếu cô quên được thì đâu có huyên thuyên kể chuyện bằng giọng của bà thím bị phụ tình, và đâu cần ra vẻ bất cần đàn ông. Sau khi cô đi khỏi tiệm, tôi chợt buồn bã như vừa bị chồng bỏ, chợt thấy căm ghét những ông chồng đã già mà ham gái trẻ, tự hỏi có phải trên đời này đàn ông tốt bị mấy cô gái trẻ tiêu diệt hết rồi chăng. Thôi dù sao cũng cầu cho cô thật sự vui trong căn nhà mới với chú chó trung thành.
Khi kể những chuyện này, tôi đã xa căn tiệm nho nhỏ của cô chủ có đôi mắt biết cười theo khuôn miệng duyên dáng. Mười đầu ngón tay tôi cứ bị bong da rồi nứt chảy máu nên tôi phải nghỉ làm nails. Tôi rất nhớ không khí ấm áp của tiệm, nhớ Marlene, nhớ bà 39, nhớ Janet, ….. Có thể họ quên tôi rồi, vì họ vẫn còn có thể tâm sự với những người thợ khác như với người thân. Được lắng nghe và thấu hiểu chẳng phải là một phương thuốc hữu hiệu sao. Tôi vẫn thường tự an ủi, dù vụng về và chậm chạp, tôi đã làm nghề với tất cả tấm lòng thành, thì có gì phải xấu hổ với nghề làm nails?

LỆ THANH

Ghẹo Vợ Tương Lai

buichivinh

Mỗi lần say sưa anh lại nhớ em
Làm như thể em là ly bia vậy
Ly bia nhấp môi thì anh uống đại
Em nhấp anh thì biết uống cách nào

Em nhấp anh nghĩa là kép nhấp đào
Hoa nhấp bướm và rơm nhấp lửa
Bướm đụng hoa thì hoa tàn, nhị rữa
Lửa đụng rơm thì rơm bén hết mình

Mà chúng ta thì khác hẳn trái chanh
Vắt nước sớm chỉ còn trơ miếng vỏ
Anh sẽ vắt em như chồng vắt vợ
Trăng mật cả năm đâu chỉ một tuần

Đâu chỉ gối chăn mới hết nghĩa động phòng
Ta động phòng nhau từ trong cái nhớ
Cái “động” dễ thương, cái “phòng ” dễ sợ
Dễ sợ, dễ thương nên nhớ nhau hoài

Cái nhớ lũy thừa mỗi lúc anh say
Làm như thể sắp bồng em ra biển
Đặt xuống cát đen chờ con sóng đến
Chứng kiến anh đang tuyên thệ ái tình

Cái nhớ bình phương lúc nhớ thình lình
Nhớ mà giấu thì làm sao chịu được
Anh sẽ hét lên cho lỗ tai em nhột
Còn hét tên ai, đố em biết… hà hà

BÙI CHÍ VINH

Bài Tặng Vợ

tankan

em từ
độ lượng đôi tay
cho tôi ấm áp từng ngày nắng nôi
em từ
thong thả ngược xuôi
nghe trong hơi gió dậy mùi cơm canh
em từ
uyển chuyển ngày xanh
cho tôi sợi bạc để dành thảnh thơi
tôi từ
lận đận đầy vơi
cuối cùng chân cũng thèm nơi hiên nhà…

Tấn Kận

TÔI THI QUỐC TỊCH

tonnuthudung

Những bài viết đăng ở TUONGTRI.COM và VIỆT BÁO như TÔI ĐI HỌC, TÔI HỌC LÁI XE, TÔI ĐI THỬ VIỆC, AI XUI TÔI HỌC NAILS, CHƯA HỀ TUYỆT VỌNG v.v… chỉ là những trải nghiệm rất riêng của tôi trong 5 năm ở Mỹ. Tôi không dám có tham vọng chỉ dẫn hay truyền đạt kinh nghiệm cho ai… nhưng tôi biết, sứ mệnh của tôi là đem đến tặng cho các độc giả yêu quý những nụ cười sảng khoái!… Dù rằng trong mỗi trải nghiệm đó đôi khi cũng ngập tràn nỗi buồn và nước mắt của một lưu dân.
Hôm nay, tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện mới nhất nhé : TÔI THI QUỐC TỊCH

Sau gần 5 năm bước chân đến Mỹ, tôi bắt tay vào việc điền đơn xin nhập tịch. Chứ sao, một lưu dân gương mẫu như tôi xứng đáng làm điều đó hơn ai hết. Đúng 5 năm, Sở Di Trú gởi thư mời đi lăn tay để chứng minh “nhân thân” trong sáng như tờ giấy trắng, lý lịch không hề có “tiền án tiền sự ” gì ráo! Điều đó dĩ nhiên rồi, một dân nhập cư lương thiện cần cù như tôi suốt 5 năm nay chỉ biết vùi đầu vào đi học, đi làm, đi bệnh viện và đi Las Vegas… không kể một lần đi nếm rượu nho ở Napa Valley mà chỉ vài tuần sau là ông chủ vựa rượu nho ấy lăn đùng ra chết (chắc là quá đau khổ vì những lời phê bình góp ý vô cùng thẳng thắng của tôi!!!)
Đừng coi thường tôi nghen! Tôi có những người bạn (mà tôi không dám và không thể nói tên công khai ở đây), họ luôn tự hào họ là những tay SÁT CÁ, SÁT GÁI, SÁT THỦ, SÁT NHÂN, SÁT…THÁT v.v… Tôi khiêm tốn hơn, tôi chỉ có một niềm hãnh diện nhỏ bé (nhưng vô tận) là SÁT PHẠT… Tôi chơi bài luôn luôn thắng, từ bầu cua, xì lát, tiến lên, xập xám cho đến những… ván bài lật ngửa, tôi cũng đều nắm được những quy luật để không thể nào thua!!! Tôi chơi nhỏ thắng nhỏ, chơi lớn thắng lớn, không chơi thì không thắng! Kể cả đứng gần ai người đó cũng thắng luôn!!!
Khi chụp hình lăn tay xong, nhân viên Sở Di Trú phát cho tôi một cuốn cẩm nang Luyện Thi Quốc Tịch LEARN ABOUT THE UNITED STATES và một Video Clip để luyện nghe và nói. Làm bất cứ việc gì tôi cũng là người ham chơi mau chán, nhưng những gì liên quan tới chữ nghĩa là tôi say mê cùng cực, đời tôi gắn liền với chữ nghĩa, tôi học như điên vì càng học càng thấy mình ngu kinh khủng.

Thấy tôi cứ chúi đầu vào học, Chief tò mò gạn hỏi:
” Ủa chớ You quan tâm đến ba cái quái này làm gì? Ai cần biết Hoa Kỳ có bao nhiêu Senator? Ai cần nhớ ông nào làm Tổng Thống suốt Thế Chiến I? Ai cần hiểu khi cả Tổng Thống lẫn Phó Tổng Thống lăn đùng ra chết mẹ nó hết cùng một lúc thì thằng quỷ nào sẽ lên thay nắm quyền sinh sát?”
Rồi nheo mắt rất thập phần đểu cáng:
” Hay You chán săn sóc người tàn tật rồi nên muốn ứng cử vô DÒNG CHÍNH?”
Chief là dân Trắng cao sang quyền quý, xuât thân từ một danh gia vọng tộc đâu đó ở một trong 13 tiểu bang từ thời lập quốc…( nghe khoe vậy chớ tôi đâu có biết thật hay xào xạo!!!) nay về CALI điều khiển cái Nursing Home sang trọng này. Chief cũng không nghĩ tôi chưa phải là công dân Hoa Kỳ khi thấy tôi hơn khá xa các dân nhập cư đến từ các nước… chậm tiêu khác!
Chief còn có dòng máu kỳ thị chủng tộc chảy ào ào trong huyết quản dù bề ngoài vẫn rất thân thiện dễ thương (hay tôi nhạy cảm quá chăng?). Chief không thích Tổng Thống Obama chút nào, cứ mong mõi đến tháng 11 đi bầu cho người khác. Chief còn vận động hành lang, muốn xâm phạm bí mật đời tư của tôi bằng cách cứ cà rà theo hỏi tôi sẽ bỏ phiếu cho ai trong đợt này. Chief thuộc Đảng Cộng Hòa nhưng không hiếu chiến kiểu Trump… Nghe tôi trả lời tôi học “ba cái quái này” để thi Quốc Tịch, Chief rất bất ngờ và ngạc nhiên khi biết tôi mới qua Mỹ 5 năm và chưa có Quốc Tịch Hoa Kỳ.
Nhưng cũng phải nói Chief rất dễ thương khi thỉnh thoảng lại ôn cùng tôi vài câu lịch sử , chính trị , địa lý và uốn nắn giùm tôi những chữ phát âm không đúng… cho đến ngày tôi thuộc lòng như cháo chảy đủ cả 100 câu thì cũng là lúc tôi lên đường ứng thí.
Chief tuyên bố:
“You mà không đậu thì chẳng ai đáng đậu.”
Rất nhiều lần Chief bày tỏ lòng ngưỡng mộ tôi nhưng không nói gì tới chuyện tăng lương. Nhưng dù sao Chief cũng biết cách ngăn chận lòng tự cao tự đại của tôi bằng một câu an ủi chí lý vô song:
“Hơn nữa, đợt này nhằm kỳ bầu cử nên bọn nó sẽ cho đậu ráo hết để kiếm cử tri!”
Mẹ kiếp, tôi muốn chửi thề ghê gớm nhưng không dám vì sợ mất đi hình tượng sang trọng, lịch sự, rất Lady trong mắt Chief, đúng là bản chất của bọn thực dân đế quốc, lúc nào cũng muốn ra vẻ ban ơn và không công nhận người khác giỏi hơn mình… Nói thật, Chief mà biết độ 20% những câu tôi vừa học thì tôi sẵn sàng bỏ việc!
Tôi tự nhủ với lòng mình sẽ có một lúc nào đó phanh phui hết những tội lỗi trong từng lời nói của Chief khi nào Chief sa cơ thất thế hoặc là khi nào tôi thật giỏi tiếng Anh. Cứ chờ đó đi.
Ngày đi thi: Một sáng cuối tuần đẹp trời, sương hồng phủ mờ phố núi, đẹp như thơ, như tranh.
Giờ thi: 7:55′ yêu cầu tới trước 30′ để kiểm tra giấy tờ.
Địa điểm thi: San Bernardino… Chúa ơi, cái thành phố vừa bị khủng bố tấn công dã man vào mấy tháng trước.
Xe vừa vào Free Way 210 East thì mặt trời nhô lên màu đỏ vàng rực rỡ như nửa trái cam CALI ngọt ngào xinh đẹp. Con gái nói:
“Mặt trời lên đẹp ghê chưa má, đó là điềm hanh thông đại cát”
(Con gái là dân làm báo chuyên nghiệp, lương cao bổng lộc hậu chớ không phải dân báo đời như má nó, nó có liên quan đến ngành địa ốc như ba nó nên đi học thêm phong thủy và nói năng pha lẫn tiếng tàu như sư phụ nó cho sang!)
Nó xin nghỉ nửa ngày để chở tôi đi thi vì biết tôi luôn luôn đi lạc , không cách nào phân biệt được đâu là hướng South, hướng West, hướng North, hướng East khi đến một thành phố khác.
Thường tôi tới San Bernardino là tới những khu vực nghèo khổ, phát thức ăn, áo quần cho những người Homeless. Thật sự San Bernardino cũng có những thành phố xinh đẹp, sang trọng như những nơi tôi vừa đi qua … những ngôi nhà mới sáng trưng trong nắng, những con đường hoa đào trắng đẹp mê hồn soi bóng xuống cỏ xanh, những biệt thự cổ kính nép bên sườn đồi. Tôi nói:
”Nhà đẹp quá, hay mình tới đây mua nhà đi con.”
Nó la lớn:
” Má, làm ơn tĩnh tâm mà nhớ lại rằng là má đang trên đường đi thi quốc tịch chớ không phải là đi coi nhà hay mua nhà. Làm ơn rơi khỏi chân mây chút!!!”
Tôi cười, tôi rút ra một kinh nghiệm xương máu sau rất nhiều nỗi đoạn trường cay đắng rằng thì là nếu tôi đang bị ai giận dữ la mắng, hay tôi dại dột làm điều chi lầm lỗi thì đừng có mà gân cổ lên cãi vã làm gì cho mệt,…Tôi chỉ cần cười thôi là mọi điều đều được hóa giải hết trọi hết trơn… Hơi vô duyên lãng nhách một chút , nhưng tôi phải công nhận tôi cười … dễ thương thiệt đó!
Nó hạ giọng liền:
“Để con ghé vô mua cho má một ly starbucks”
Đúng là đứa con có hiếu.
Tôi vào nộp giấy, nó gọi tôi lại gần, nói nhỏ:
“Má, nếu má thi rớt con sẽ để má đi bộ về, chỉ có 3,4 chục miles chớ mấy!”
Đúng là đứa con bất hiếu. Bộ mày chưa từng nghe ai nói câu “học tài thi phận” bao giờ sao?
“Nhưng nếu má đậu con sẽ cho má $100”
Tôi không thèm trả lời, mặc kệ nó xếp hàng đứng sau lưng.
Cởi giày, đi chân không qua cổng an ninh… Bóp, điện thoại , áo lạnh chạy qua máy dò. Ly cà phê mới uống một hớp bị quăng vô thùng rác cùng chung số phận với chai nước suối. Không sao, tôi sẽ có $100 đồng cá cược của nó để mua lại vài chục ly cà phê khác.

Vào sảnh lớn ngồi chờ gọi tên phỏng vấn tôi bắt đầu run… đã nói tôi là con thỏ nhưng luôn phải khoác cho mình cái lốt con sư tử… Không ai biết tôi run trừ nó khi thấy tôi kéo cái khăn quàng lên cổ. nó nheo mắt hết sức đểu cáng:
“Sợ rồi phải không? Can đảm lên, my Great Mom”
Bao nhiêu người được gọi vào, bao nhiêu khuôn mặt méo xẹo trở ra. Ai dám nói:”Mùa bầu cử nó cho đậu ráo” là nói tầm bậy tầm bạ. Bởi những lời đồn đãi vô căn cứ như vậy nên cứ đến mùa bầu cử là dân nhập cư tấp nập nộp đơn đi thi để ảnh hưởng không nhỏ đến… tôi.Thôi thì cùng lắm là … gọi taxis về nhà, tốn năm bảy chục!
Một vị giám khảo ra gọi tên ông thầy tu ngồi hàng ghế sau tôi… vài phút trước, tôi đã kịp hỏi và biết ông thầy tu đó người Bangladesh, dân Hồi Giáo, tên Hosain Rahman, di dân theo diện tu sĩ…(Ai nói tôi không có dòng máu ngoại giao chảy tràn huyết quản?) đi cùng ông là 3 đồng nghiệp, ủa quên 3 đồng đạo cho vui chớ chỉ một mình ông thi.
Vị giám khảo mập, lùn, đầu không có tóc, mặt mày hiền lành phúc hậu… tôi ước chi ông này phỏng vấn thì mình đỡ sợ… vì nãy giờ ngồi đây, tôi toàn chứng kiến những giám khảo mặt mày đằng đằng sát khí, làm như dân nhập cư vô ăn hết gia tài hương hỏa không bằng…. Họ giả vờ làm như không hề biết rằng chúng tôi đã cống hiến cho đất nước này đôi khi nhiều hơn cả họ.
Ông thầy tu vào và ra rất nhanh, không biết vì thiếu giấy tờ hay sao sao đó, khuôn mặt ông đã đen thì chớ bây giờ tối thui luôn… Tôi chưa kịp định thần thì vị giám khảo ấy đọc rất rõ tên người tiếp theo từng tiếng một DUNG NU THU TON.
Tôi không nghĩ đó là tên tôi, tôi không nghĩ Chúa , Phật , Alah và các đấng linh thiêng đã nhận lời tôi cầu khẩn là cho tôi được phỏng vấn bởi vị giám khảo này! Nếu biết các ngài rộng lòng bao dung đến vậy tôi đã xin thêm một điều nhỏ bé khác là được song suốt qua truông qua ải!!! Dịp may đâu đến 2 lần, tôi chắc lưỡi: Cùng lắm là chết!
Tôi đứng lên:
“I’m here”
“Good Morning”
“Good Morning, How are you today?”
” Good, and you?”
” Good”
” Follow Me, Please.”
Cuộc tra tấn bắt đầu, tôi thầm nghĩ, rất kiên cường, tôi hít một hơi dài trấn tĩnh.
Giám khảo hỏi trên con đường đi qua mấy dãy hành lang sao mà dài lê thê ( bắt đầu từ đây tôi sẽ dịch ra tiếng Việt)
” You đi với ai đến đây?”
“Con gái tôi”
“You không thể đi một mình sao?”
” Nói thật, tôi hơi sợ…”
“Sợ? Sợ điều gì?”
Tôi liền chơi trò vận động hành lang:
” Đây là một ngày rất quan trọng của tôi, tôi sợ đi lạc , sợ trể giờ, sợ tai nạn xe cộ và kể cả sợ thi rớt nữa!”
Ông ta cười:
” Đừng lo, mọi sự sẽ tốt đẹp thôi!”
Vào phòng phỏng vấn, tôi chuẩn bị tư thế đưa tay phải lên thề theo đúng như sách vở là nói tất cả sự thật và chỉ là sự thật mà thôi như trong cả ngàn trường hợp phỏng vấn mà tôi coi trong Video clip đến mòn cả cái đầu đĩa. Ngạc nhiên chưa, ông ta lại bảo tôi ngồi xuống , đưa passport, thẻ xanh , thẻ An sinh xã hội, bằng lái xe. Ổng cầm, coi sơ , xong ôm xấp hồ sơ của tôi đi ra sau khi biểu tôi ngồi chờ vài phút và không được move chỗ khác( Wait me few minutes and don’t move… please). Move đi đâu trời hỡi? Tôi đang run cầm cập như con cầy sấy đây !
Chừng 5′ sau ông trở lại, chắc đi điều tra nghiên cứu gì thêm ở các cấp cao hơn. Ông ngồi xuống, bắt đầu hỏi, bỏ qua phần thề thốt… chắc ổng quên, tưởng tôi đã thề hồi nãy rồi… không lẽ tôi nhắc là tôi chưa được thề… Tôi chắc lưỡi: “ngu sao nhắc, ai lại đi mua thêm cái dây để tự trói mình!!!”
Hay ổng thấy mặt tôi rất lương thiện ngây thơ trong sáng nên không hề biết nói dối và nếu bắt tôi thề sẽ là một xúc phạm nặng nề???
Ai biết ổng nghĩ gì làm gì với cái thái độ nhỡn nhơ vừa hỏi vừa gài như vậy.
Chỉ biết được một điều lạ lùng duy nhất là tôi không được thề thốt gì cả như mấy chục triệu dân nhập cư từ mấy trăm năm nay!!!
Tôi thấy mình đặc biệt và hãnh diện vì điều này cho đến khi kể lại cho một số người nghe điều bí ẩn ấy, thì ai cũng tức cười và nói ổng quên tại tôi cứ xí xô xí xà làm ổng líu qíu, chỉ có một người bi quan yếm thế làm tôi lo sợ mất ngủ mấy đêm:” Vậy là kỳ thi của bạn hỗng có giá trị gì ráo. Bạn chuẩn bị thi lại đi chớ ở đó mà huênh hoang những là hãnh diện với là đặc biệt!!!”
Kệ , chuyện này để sau tính.
Còn bây giờ kể tiếp chuyện phỏng vấn, khi cầm Passport của tôi cẩn thận lật từng trang rất kỹ, ổng hỏi:
” You về Việt Nam 1 lần?”
“Yes”
“Ai là người trả tiền cho chuyến đi này?”
Câu hỏi không có trong bất cứ bài học nào của Sở Di Trú như thế này thực sự xúc phạm đến tôi, tôi cáu kỉnh, Hắn nghĩ mình là ai vậy chứ?
Nhưng một tia chớp nhanh chóng hiện ra trong đầu, à, hắn đang gài độ, thử coi mình có nhận tiền hay ân huệ gì của bọn ISIS không chứ gì? Chắc hồi nãy Camera có quay tôi chuyện trò thân thiết với ông thầy tu Hồi Giáo!
Tôi nghiêm trang trả lời:
” Tự tôi trả tiền cho tôi, tôi đã và đang làm việc, cần gì tiền của ai!”
Hắn( tôi bực mình lắm rồi, không thèm lịch sự gọi là Vị hay Ông gì nữa) ôn tồn giải thích:
“Ồ không, tôi hỏi vì hơi ngạc nhiên khi thấy You low income mà có tiền về Việt Nam. Mọi thứ ở đó đắt hơn ở đây rất nhiều.”
Đúng là tráo trở như dân ngoại giao, miệng trơn tru còn hơn bôi mỡ.
” You sinh ở NhaTrang?”
” Không, tôi sinh ở Huế”
” Thừa Thiên Huế?”
Cách phát âm chữ Thừa Thiên Huế của hắn chuẩn không chê vào đâu được. Tôi đâm nghi ngờ hắn thuộc dạng CIA hoặc FBI gì đây nên vô cùng cảnh giác
“Yes”
” Đó là một nơi rất buồn, You có biết chuyện gì xảy ra ở đó vào năm 1968 không?”
Tôi lại cáu, hắn đâu có ngờ tôi chỉ có một nhúm chữ tiếng Anh ít ỏi làm vốn mà hắn đã moi ra gần hết rồi… Hỏi tiếp nữa chắc dồn tôi vào thế phải sử dụng ngôn ngữ thứ ba là TO QUƠ! Nhưng đã nói, tôi là một kịch sĩ tài ba như lời thầy Bửu Ý khen hồi nhỏ, tôi điềm tĩnh trả lời:
” Biến cố Mậu Thân”
” Good”
Nhắc tới Huế là tôi ngứa miệng, bèn hỏi:
” You có ở đó vào ngày ấy?”
” Tôi ở gần Đàn Nam Giao, lúc bấy giờ  tôi là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan thông tin Hoa Kỳ”
Ai nói tôi hiền không biết chơi trò ngoại giao là vô cùng lầm lẫn:
“Lúc ấy ông còn rất trẻ, và đẹp trai, tôi nghĩ vậy!”
Hắn cười, đỏ mặt lúng túng, im lặng vài giây và nói thật buồn:
” Tôi chỉ là một chàng trai trẻ thôi. Tôi yêu một cô gái Huế, nhưng You biết đó. Người Huế không muốn gả con cho người nước khác. Chúng tôi chia tay, và cô ấy… lên núi!”
Tôi ngớ người trước chữ “lên núi” của hắn. Tưởng trong biến cố Mậu Thân hắn phát giác cô là việt cộng , nhưng không phải, cô  bị chết vì đạn lạc… được mang về chôn trên đỉnh Ngự Bình.
Bỗng dưng tôi trở thành người phỏng vấn, hắn  chìm vào cơn hoài cảm nào đó dù đã gần nửa thế kỷ trôi qua.
Im lặng hồi lâu, tôi hỏi :
” Có phải vì vậy mà You nhận phỏng vấn tôi khi thấy tôi mang họ TÔN NỮ?”
” Tôi không thể nói có hay không, You thông cảm. You  hãy nói cho tôi biết: Ai là người có tội trong cái chết ấy?”
Tôi tự giận mình đã không giỏi tiếng Anh để hỏi và nghe câu chuyện với nhiều tình  tiết ly kỳ có thể khai thác ở hắn, cái máu làm báo nghiệp dư đang muốn nổi lên nhưng vốn biết người biết ta, tôi thấy vốn liếng ngôn ngữ của mình tới đây là cạn kiệt, bèn lôi hắn ra khỏi cơn trầm cảm cuối tuần:
” Rất nhiều cái chết vào năm ấy,  nhưng tôi không nghĩ câu này nằm trong phần 100 câu hỏi tôi được học để biết về nước Mỹ?”
” Ồ không, tôi chỉ trắc nghiệm tiếng Anh của You thôi. Bây giờ tôi mới bắt đầu hỏi về những điều You cần biết về nước Mỹ!”
Câu 1: Có bao nhiêu chánh án trong tòa án tối cao?
– 9 người ( tôi lanh chanh thêm : mới chết 1 người á.) Hắn cười khen tôi giỏi
Câu 2: Tên 3 tiểu bang nguyên thủy của Hoa Kỳ ?
– Virginia ( tôi nghĩ tới thầy  Trương Hồng Sơn)
– Maryland ( tôi nghĩ tới nhà thơ Phạm Khánh Vũ)
– Georgia ( tôi nghĩ tới quê hương của tác giả Cuốn Theo Chiều Gió)
Câu 3: Ai là Thượng Nghị Sĩ của California ?
(tôi định nói Janet Nguyễn cho oai, nhưng hơi sợ rằng sách vở chưa in kịp , hắn không biết lại cho rằng tôi sai nên tôi đành cay đắng nói theo sách vở)
– Diane  Feinstein
Câu 4: Ai là nghị viên của California ?
( bà này vẫn ký thường xuyên vào các giấy khen thưởng này nọ của tôi nên tôi trả lời không suy nghĩ luôn)
– Lorreta Sanchez
Câu 5: Ai là Tổng Thống trong suốt Thế Chiến 1?
( cái này tôi học mẹo cho dễ nhớ tên cái ông đọc ra  là trẹo bản họng  : WW1 Tên ổng cũng bắt đầu bằng WW)
– Woodrow Wilson
Câu 6:Tên tiểu bang giáp ranh Mễ Tây Cơ ?
( tôi nhớ tới em Lu Xì  nên trả lời nhanh như chớp)
-Texas
Câu 7: Tên bài Quốc Ca Hoa Kỳ ?
( tôi biết bài này rõ , nhưng nhỡ may trả lời xong hắn biểu hát cho hắn nghe thì tiêu tán đường, nên từ chối ngay lập tức)
– Xin lỗi, tôi không nhớ rõ lắm, cái tên thật khó nhớ, Nhưng tôi đã trả lời đúng cả 6 câu rồi, đâu cần trả lời thêm .
Hắn lại cười ,  lẩm nhẩm đếm coi thử đủ 6 câu chưa:
” Ồ , xin lỗi,  You nói đúng, bây giờ You đọc và viết cho tôi  những câu này”
Hắn đưa 2 tờ giấy,
Tôi đọc: “Why does the flag have 50 stars?”
Và viết theo lời hắn đọc : “Because there is one star for each state.”
Chưa điều gì dễ hơn 2 điều hắn vừa bảo tôi làm… Hắn khen tôi chữ đẹp.
” Congratulations! You chờ 2 tuần sẽ có thư mời đi tuyên thệ.”
Tôi đậu , tôi đứng lên, không cảm thấy vui mừng chi lắm như vẫn tưởng tượng xưa nay, cảm ơn, chào tử tế… đi ra cửa.
Cảm thấy mình là một công dân hạng hai vừa được đặc cách lên hạng nhất như một ân huệ được ban bố… mà tôi thì chúa ghét nhận ân huệ từ ai!
Tôi muốn khóc, không phải vì vui mừng mà chỉ cảm thấy mất mác một điều gì vô hình mà to tát xiết bao! Điều gì? Tôi khắc khoải mất ngủ nhiều đêm.

“Má, sao lâu vậy má? Mấy người vô sau má đều rớt hết trơn hà! Con biết thi càng ngày càng khó… Nếu má rớt con cũng chở má về chớ không bắt má đi bộ đâu! Con chỉ nói giỡn thôi mà, má đừng giận!”
Mặt tôi buồn thiu nên con nhóc tưởng tôi rớt liền an ủi hỏi han. Tôi đưa tờ giấy có chữ ký giám khảo đóng dấu xác nhận YOU PASSED THE TESTS OF ENGLISH AND U.S HISTORY AND GOVERNMENT cho nó cầm. nó hớn hở:
” Má giỏi quá, má đúng là GREATTTTTT…….. MOM của tụi con!”

Bây giờ, nếu ai hỏi tôi thi Nhập Tịch dễ hay khó thì tôi sẽ trả lời: tôi không biết.

Tôn Nữ Thu Dung