Hạc Thành Hoa: những ám ảnh trăng vàng nguyệt.

nguyenleuyen

Đến nay, Hạc Thành Hoa đã có 4 tập thơ được công chúng đón nhận: 2 trước năm 75 (Trong Nỗi Buồn Vàng, Một Mình Như Cánh Lá), và 2 sau 75 (Khói Tóc, Phía Sau Một Vầng Trăng).
Ở 2 tập trước do Văn và Giao Điểm ấn hành là những bài thơ viết về tình yêu, về thân phận con người luôn cô đơn trong nhịp sống ồn ào phố phường và bụi phấn, về những thấp thỏm trước cuộc chiến đang hồi lan rộng cùng nỗi ám ảnh về cây súng, quân trường, ba lô, giày trận…
Thời kỳ sau là sự thay ngôi đổi chủ đột ngột, phũ phàng, cứ ngỡ ông sẽ có những vần thơ véo von chim hót một bầy trước cung đình tráng lệ như một số (không nhiều) nhà thơ khác, nên tôi cố công đọc 2 tập sau, cố công “bới lông tìm vết” vì đầu óc luôn nghĩ đã là nhà giáo ưu tú được phong tặng, hẳn nhiên giọng điệu thơ sẽ có khác đi.
Đọc mãi, tìm mãi cũng chỉ có những rung động tơi tả trước sau, luôn tự nhìn chính mặt mình với cô đơn bất khả, luôn chất chứa những ưu uất trong lòng. Những cô đơn và ưu uất kia thánh thiện và thuần khiết như những giọt sương long lanh buổi sớm mai được dẫn dắt bởi nguyệt, trăng cùng với màu vàng buồn thê thiết.
Có thể nói, cả 4 tập thơ đã ấn hành của ông luôn thấp thoáng Trăng là Nguyệt là màu vàng rụng xuống hồn ông. Có cả hàng chục tựa bài thơ và hàng trăm câu thơ dát bóng trăng lạnh xa gần chiếu dọi như là những nỗi niềm trải dài, che kín cả một màu chia ly ở đôi bờ khắc khoải, nhớ nhung. Chừng như với ông, Trăng là nỗi ám ảnh một kiếp lưu đày, là nguyệt vàng nhuốm màu thời gian trước và sau của những mất mát, tìm kiếm, khao khát… vây phủ cả đời cuộc ông vậy. Trăng với ông là mối tình câm lạnh. Nguyệt vàng trăng là tâm cảm triền miên những con sóng vỗ vào bờ đá “tình người”:
Tình người bờ đá trăm năm
Sóng tình tôi cuộn trên dòng nước trôi
.
(Trên bờ đá tình người)
Bờ đá không còn là ẩn ngữ với ông, trong thơ ca, mà chính là hiện hữu phận người. Đó cũng là nỗi cô đơn của thời gian không thể đo đếm bằng những con số hữu cơ và phải chăng “tình” trong uẩn khúc nguyệt vàng trăng cứ mãi mê trườn cuộn trên phận người “trăm năm cô đơn” kia?
Nếu như những ngày lang bạt ở sông nước miền Tây, không gặp ông, không ăn đậu ngủ nhờ ở căn gác trọ của ông thì tôi không thể tin nổi ông là một con người đa cảm, đa đoan đến vậy. Mà căn gác ấy, căn nhà bên con rạch Cái Sơn, Sa Đéc đâu chỉ riêng mình tôi, còn có cả Vũ Hữu Định, Nguyễn Tôn Nhan, Hà Nghiêu Bích, Yên Bằng… kẻ trước người sau đến với ông như chút ấm áp của những que củi nhỏ buổi tàn đông, như hơi thở nguội sau những đêm dài đông cứng những cốc rượu tràn. Căn phòng nhỏ nhìn ra con rạch êm đềm, đầy bóng râm mát, đầy tiếng tiếng ve trên những tàn cây cổ thụ và tiếng đàn và thơ. Thơ như khí trời bám khắp bốn bức vách loang lổ, đổ xuống nền gạch tàu, treo lủng lẳng trên xà ngang, ám vào mái ngói âm dương rêu phong. Thơ quấn quít bên kệ sách, ngập ngừng chao lượn trên sàn gạch màu lá bàng bay lơ lửng trong không. Tiếng mái chèo quẫy nhẹ như chiếc vây bơi con cá chẽm bên dưới dòng Cái Sơn. Xa hơn chút, tiếng máy đuôi tôm khua động mặt sóng sông Tiền. Và nữa, tiếng đạn pháo ngoài lung xa, vũng sáng nhơm nhớp hỏa châu che khuất ánh trăng… đã đẩy ông vào góc tường tróc lở từng mảng vôi. Ông rưng rưng sợi dây đàn căng. Ông ngậm ngùi lưng tròng nhìn qua dòng sông đang với tay níu choàng con rạch nhỏ đặc sệt một dòng trăng vàng thấu đáy (nhưng cái đám bằng hữu “nhìn thấy cơm sôi chợt nhớ nhà” kẻ trước người sau, lần lượt quay về xó cũ bỏ ông lại một mình với cảnh “Gã giang hồ vẫn gác trọ cô đơn…Thân ta đôi lúc cơn gió lạnh/Thổi tạt mùa đông xuống đáy mồ”!).
Khoảng thời gian ấy, không bao giờ những vò rượu Lai Vung, Lấp Vò nhấn lút được những câu thơ từ chốn sâu thẳm tâm hồn ông tha thướt bước ra như một thiếu nữ khuê các. Nàng đẹp đến não nùng. Nàng Lục Bát của ông khoác áo màu hoàng yến tắm trăng. Mảnh xiêm y rơi nhẹ. Trăng ướt đẫm nàng, ve vuốt nàng rồi trần truồng phơi ra những thiên hà ngập ngừng bên cạnh con nước sông Tiền lên xuống.
Bên kia con rạch là Trăng vàng và bên này là nhà thơ, để trăng chụp úp lên thơ, quấn quít nhau hơi thở dồn dập của đôi tình nhân.
Một đời con suối lang thang
Mây thu cánh mộng trong khoang thuyền tình

(Vàng đôi cánh biếc)
Màu trăng lạnh huyễn hoặc kia chừng như không bao giờ rời xa ông, chỉ vì nó thật gần, cách nhau bằng tiếng thở của con sóng nhỏ lăn tăn, cách nhau chỉ mấy bước chân ngập ngừng, nửa quen nửa lạ. Lúc trăng xa, ông ngỡ như gần. Lúc trăng ẩn nấp đâu đó trong khoảng lặng của thời gian thì ông tưởng như Trăng đã Vàng Nguyệt rời xa ông mãi mãi, khiến ông sợ hãi cái thời khắc kinh khủng kia, thời khắc của mộng mị và những ảo giác mệt nhoài trong cơn mê lú, để, khi tỉnh lại, nỗi trống vắng càng lồ lộ như cảnh “người đàn bà ngoại tình” của Alberrt Camus trên terrasse quán trọ vùng sa mạc cận Alger, một mình, hoàn toàn cô độc. Nếu như người đàn bà của Camus cô đơn giữa bầu trời đầy sao trong đêm sâu thăm thẳm, thì ông, Hạc Thành Hoa bị người tình là Trăng vàng Nguyệt kia quay gót, bỏ lại cái hình hài thực giữa muôn trùng giun dế về đêm.
Hồn từ giã biệt cơn mê
Trăng đi bỏ lại bốn bề quạnh hiu
Đèn lu lòng ngại không khêu
Sợ trăng lên cánh rừng treo áo vàng

(Trong cánh rừng thiên thu)
Trăng vàng Nguyệt cũng giống như cái ảo giác mộng mị chìm lún trong cõi chiêm bao khiến ông cứ rơi mãi rơi hoài vào chiếc hố đen ngòm chuyển hóa từ cái màu vàng đậm đặc và huyễn hoặc kia.
Mù mưa trắng xóa chiêm bao
Mây qua biển rộng non cao tiếp trời
Áo em vàng nửa hồn tôi
Ngồi ru nắng mỏng trên đồi cây khô

(Mù khuya tiếng vạc lưng trời)
Câu thơ sang trọng, đẹp khiến tôi cứ ngỡ như bên tai vang lên điệu slow ngập ngừng, buồn man mác cùng mảng màu vàng muôn thuở trong những bức tranh của Van Gogh.
Không rõ Trăng đã nói gì, hẹn hò gì với ông mà ánh mắt và cõi lòng luôn ném về chốn xa xăm đến nỗi ông bị mất thăng bằng, từ hẹn hò mộng tưởng chuyển thành nỗi tuyệt vọng như thể Trăng đã phụ tình ông.
Tìm em sau giấc mơ tàn
Mùa thu nếp áo nguyệt vàng trong mây

Đêm đêm gió chở trăng đầy
Rơi theo nước mắt từng bầy sao khuya

(Trong tà huy bay)
Ông chưa hề phụ mảnh tình thoi thóp Trăng vàng Nguyệt, mà chỉ có trăng vàng nguyệt lạnh hờ hững với ông, từ cõi nào xa tít ông phải mãi kiếm tìm, như thể kẻ bị sa lầy. Đã một lần ông sa lầy khi chọn nghề dạy học ( nghề giáo là một nghề sa lầy – Camus), ngày hai buổi rút hết kiến thức phơi ra trên bảng đen; rồi lại phải làm kiếp “con tằm nhả tơ” khiến sự sa lầy nơi ông càng quay quắt, khốn đốn hơn.
Nay còn lại trong tay nùi giẻ rách
Đời mòn theo từng viên phấn ngu ngơ
Hồn ta rộng mà chỗ ngồi quá chật
Suốt một đời không vẽ nổi ước mơ…
…Chiều hôm nay không dưng buồn quá đỗi
Ta hôn mê đầu gục trước bảng đen
Khu trường rộng một bãi lầy quá lớn
Ta thấy mình ngày một lún sâu thêm

(Bậc thang thứ nhất)
Hay:
Mười năm bụi phấn hòa nước mắt
Đem đắp thành pho tượng thạch cao

(Pho tượng thạch cao)
Có thể tạm mượn tựa những “Điêu tàn, Mê hồn ca…” để làm nền lý giải cho một giai đoạn sáng tác trước 75 của Hạc Thành Hoa, giai đoạn của những u uẩn vì thất vọng, vì hoài nghi, vì những âu lo hoảng loạn màu hỏa châu che lấp nguyệt vàng, nên trong hồn ông, hình như chỉ còn khoảng không hẹp của sự thoi thóp, dãy dụa: “Trăng úa vàng hấp hối giữa cô đơn” hay “Từng đêm trăng múa trên đầu sóng/Trăng cười khiêu vũ với yêu ma/Men nhạt không mờ đôi mắt héo…Nghe trời tê dại nhớ thương em”.
Những yêu ma, men nhạt, mắt héo…có thể không còn là những mảnh vỡ lăn tăn nhạt nhòa mà là những mảnh vỡ quặn đau, tê điếng thẩm nhập tận cùng nơi sâu thẳm tôm hồn ông: Vì bên kia sông Trăng vẫn vàng Nguyệt còn bên này sông thì Nguyệt bắt đầu che khuất ánh trăng vàng! Một bên vẫn rực rỡ tung tăng một khoảng không vô tình đến trống rỗng, còn một bên thì vỡ tung những khối u lạnh câm. Kiêu sa hay hờ hững dáng cao sang?
Nàng Trăng luôn ám hồn ông là ai để đến nỗi thành những ám ảnh nặng nề trong suốt quãng dài thời dài rộng đến mênh mông, đến vô cùng tận? Trăng là Nguyệt là Trăng viễn mộng chăng?
Ông yêu tha thiết cái màu vàng trăng là nguyệt kia đến độ gần như phát cuồng
Có con rắn lục nằm trong lá
Rít một hơi dài lạnh buốt xuân…
Trăng bỏ người đi đêm nguyệt tận
Ly rượu hề môi chạm tảng băng…
Ai mang áo lụa vàng năm ấy
Mỗi cánh mai giờ một nỗi đau

(Đêm nguyệt tận)
Ông viết bài này năm 1990 bằng những hồi tưởng về một nỗi đau, mất mát đã ám suốt cuộc đời như lớp bồ hóng đen bóng trên gác bếp. Ông như một người chiến binh ngoài mặt trận, đang ngã ngựa. Bóng trăng đã xô ông té nhào đến thê thảm:
Ta chẳng còn là mây mùa thu trước
Em không còn là trăng của thu xưa

(Lại một mùa mưa sắp đến)
Không, rõ ràng ông không là một Hàn Mặc Tử thứ hai để say trăng, để điên vì trăng. Bởi màu trăng của Hàn Mặc Tử là màu trăng huyết, nhuốm đỏ cả khung trời, trước mắt nhà thơ. Đó là những cơn đau đớn vật vã đến cuồng loạn. Còn trăng của Hạc Thành Hoa là màu trăng của “Áo lụa Hà Đông, là trăng hoàng yến, là cánh mai vàng… Nó có đó, thật gần trong cái với tay nhưng lại vô cùng xa cách để cuối cùng, màu Nguyệt vàng Trăng ấy biến những khoảng cách nồng nàn kia trở thành những cơn mộng huyễn. Ông đuổi bắt, tìm kiếm hình bóng lay lắt có không kia đến mỏi mòn…
Ông đi tìm bóng, mỏi mòn tìm bống đến hụt hơi.
Ông say mộng chỉ vì say nhan sắc màu trăng, theo ngày tháng đã tẩm liệm hồn mình.
Ông say trăng trong cõi mộng mị ta bà suốt những năm tháng dài.
Cuối cùng ông say thực:
Thức ăn và rượu đều ra hết
Còn lại trong ta một nỗi buồn
Nỗi buồn lớn quá xô ta ngã
Nằm dài như xác chết chưa chôn

(Cơn say tuyệt vời)

Sau năm 75, cũng như bao nhiêu nhà văn khác, Hạc Thành Hoa bị rơi vào vùng hẫng hụt của những nghị quyết, bo bo, sắn mì… Cả bối cảnh xã hội và hoàn cảnh cá nhân đã đặt ông vào tình cảnh trì trệ, đầu óc khô cứng. Dẫu vậy ông vẫn cầm bút và tiếp tục viết, để cuối cùng cũng cho ra mắt độc giả 2 tập Phía Sau Một Vầng Trăng và Khói Tóc. Song thú thật, khi đọc tôi có cảm giác như thơ ông đã sắp ngừng hơi thở những cơn mộng mị đẹp, đối mặt với thực tế có phần khắc nghiệt hơn nhiều, bởi hoàn cảnh xã hội đã chọn chúng ta chứ chúng ta không có quyền chọn lựa gì cả. Cái quyền thiêng liêng bất khả kia giống như ngọn đèn cạn dầu, leo lét.
Thơ ông như mất đi một phần của nàng thơ mà ông đắm đuối một thời, chỉ còn một chút tròng trành trước mắt, chia sẻ với bạn bè đồng cảnh; chút đìu hiu về một nỗi nhớ xa gần hay ghi lại những cảm xúc trong những chuyến đi xa: Sơn Trà, Hội An… rồi lộn vòng về cố xứ đồng bằng sông nước mênh mông. Thỉnh thoảng ông vẫn nhớ đến Trăng, nhưng Trăng lúc này, với ông bắt đầu sứt sẹo, mất đi một nửa Trăng vàng Nguyệt.
Ở đây trăng chỉ còn một nửa
Nửa kia ở mãi tận phương nào

Tỉnh dậy chỉ còn trăng một nửa
Nửa còn lại bỗng hóa phù vân

(Trăng một nửa)
Rồi ông phải tự kêu với chính mình, trong cơn mưa, ở một ngóc ngách nào đó trên đường phố Sài Gòn rất quen mà hóa lạ!
Em biết không
Ở đâu anh cũng là người khách lạ
Ở đâu cũng không phải quê hương
Em ơi! Làm sao em biết được
Một gã ưu du
Cứ đi cứ đi như kim đồng hồ chạy ngược

(Nói với mình trong khi trú mưa)
Ở một đoạn khác:
Chỉ còn con cù lần biết lấy tay che mặt
Những con két đến đây từ một nơi rất xa trên trái đất
Đang gửi hồn về xứ sở quê hương

(Buổi trưa ở thảo cầm viên)
Đó là tâm trạng chung ta thường thấy trên các trang viết sau này của nhiều nhà văn chân thật
Và cuối cùng đành bất lực, phải thú nhận:
Suốt đời đuổi bắt một vầng trăng
Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ
(…)
Bên anh có một nàng tiên dịu dàng là thế
Mà cứ miệt mài đuổi bắt một vầng trăng

(Tạ lỗi cùng người vợ trẻ)
Như vậy là chấm dứt một chặng đường mộng mị bên cạnh những tân toan mà trước đây có lần ông thốt lên đầy đau đớn.
Mai tôi chết nhưng vầng trăng còn đó
Vẫn dịu dàng trông xuống nấm mồ tôi

(Vẫn còn vầng trăng…).
Đúng là cái hồn cái phách trong thơ ông vẫn vậy, ở hai tập sau, nhưng chất sâu lắng của nó thì tan ra thành lớp khói mỏng, không phải màn sương đêm dát trăng vàng nguyệt như trước. Có lẽ cũng tại “vì ai gây dựng cho nên nỗi này”. Phải vậy không?

NGUYỄN LỆ UYÊN
( Trang Sách Và Những Giấc Mơ Bay, Thư Ấn Quán XB 2012)

Hạc Thành Hoa tên thật: Nguyễn Đường Thai Sinh quán tại Xuân Phổ, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Giáo sư Việt văn Trung học Sa Đéc, Lương Văn Can Quận 8, Thị xã Cao Lãnh. Ông làm thơ từ năm 1961, đã đăng nhiều thơ trên các báo, tạp chí văn học miền Nam trước năm 1975 .
Tác phẩm đã xuất bản:
+ Trong nỗi buồn vàng (Nguyễn Đình Vượng, tạp chí Văn Sài Gòn – XB – 1971).
+ Một mình như cánh lá (Giao điểm Sài Gòn xuất bản – 1973), tái bản (Thư ấn quán Hoa Kỳ xuất bản) 2006.
+ Phía sau một vầng trăng (NXB Thanh niên – Hà Nội – 1995).
+ Khói tóc (NXB Lao động – Hà Nội – 1996).

Em có còn thương đến một người không

nguyenminhphuc

Ta đâu phải giang hồ mà gát kiếm
Chỉ làm thơ dăm câu chữ vật vờ
Đọc kinh sách mơ làm tên cuồng sĩ
Vậy mà rồi tay nải vẫn xác xơ

Ta chống gậy hỏi đất trời thiên hạ
Kẻ sĩ ư? Hay là gã Chí Phèo
Người đâu phải cháu con làng Vũ Đại
Mà lại đòi rạch nát mặt ăn theo…

Hồn trống rỗng và túi cùng trống rỗng
Ai ngồi đây cùng ngâm khúc hồ trường
Gói thương nhớ qua trăm ngàn ảo mộng
Sương khói đời xô lệch bóng mù sương

Thương ta một thưở hào hoa cũ
Hồn phách xênh xang kiếm chửa cùn
Ngắm trăng ngửa mặt sầu vô độ
Xé áo giang hồ trăm vết thương

Thương em một thưở ngồi hong tóc
Môi mắt thơm lừng hương quế thơm
Đưa tay ngắt một cành thiên mộc
Buồn vui rã cánh giữa thiên đường…

Ta có hay đâu đời tuyệt lộ
Trước mắt kia là dâu bể ngậm ngùi
Sau lưng kia là trùng trùng bia mộ
Đang cấu cào cho thân phận mù trôi

Thôi em ạ kẻ kiếm cùn áo rách
Giờ nâng ly rượu nhạt bước tang bồng
Qua sông xưa chiều mây ngàn gió giật
Em có còn thương đến một người không…

Nguyễn Minh Phúc

CHUYỆN NGÀY XƯA

quanduong

Ngày xưa em con dế ngủ trong hang…
Tôi đổ nước ngoi đầu lên để thở
Mẹ đã dặn coi chừng thằng ma giáo
Thế nhưng em vẫn bị tôi lọc lừa

Ngày xưa tôi cọng cỏ ngậm sương khuya
Thao thức thâu đêm nghe con dế hát
Sóng không đập thì đâu đau bờ cát
Tôi không lọc lừa đâu lụy vì em

Qua mỗi ngày ánh mắt đen sâu thêm
Bơi cỡ tôi đôi ba lần chết đuối
Hoa vì ai bám theo làn tóc rối
Biến tôi thành con bướm lượn loanh quanh

Đời gập ghềnh đi phải nhón gót chân
Sợ cọng cỏ vướng làm em vấp ngã
Sáng đầu xuân hái một chùm hoa lạ
Thả vào tay em hứng lấy tình đầu

Một năm. Mười năm. Rồi nhiều năm sau
Tự bao giờ tôi không còn được rõ
Chùm hoa ấy tuy đã già cằn cội
nhưng vẫn còn nở mãi sáng đầu xuân

Cuộc sống lăn như trải sỏi dưới chân
Thân lù khù tránh sao không trợt té
Trời những lúc làm mưa nguồn chớp bể
Nghe bùi ngùi tiếng dế vọng . Ngày xưa

Quan Dương

NHÀ TÔI

images (14)

LIÊN HƯƠNG

38 năm về trước là nơi đêm đêm hai đứa hay ngồi trên bậc thềm sau khi đèo nhau trên chiếc xe đạp mini dạo quanh thành phố.
Thị xã Qui-Nhơn nhỏ xíu, đạp xe loanh quanh con đường thẳng ra biển, ngang đường Nguyễn-Huệ dọc bờ biển dài với hàng dương xanh, đây đó những gốc dừa con mới trồng mà hai đứa thường ngồi hóng gió khúc khích cười gọi là “chống bão”. Ngày mưa cũng rủ nhau đi một vòng, túi rủng rỉnh tiền thì cùng nhau ghé quán cà phê ngồi nói chuyện không đâu, ngắm mưa rơi chờ Café nhỏ giọt… đố nhau xem phin ai nhỏ giọt trước thì sẽ bị làm em !
Không tiền(thường xuyên) hai đứa về ngồi trước hiên rủ rỉ rù rì, nói toàn chuyện trên trời dưới đất mà cũng khô cổ khản tiếng, tôi chỉ cần vào nhà múc ca sắt nhà binh nước lạnh uống thấm giọng rồi lại rù rì rủ rỉ…
Trụ đèn điện tỏa ánh sáng vàng vọt soi rõ đám thiêu thân, xe phở gõ lóc cóc từ xa, tiếng rao lanh lảnh trong đêm khuya của cô hàng vịt lộn…và có khi là tiếng nhạc ABBA, Modern Talking… bập bùng vẳng qua từ quán cà phê ông Dư nháy hàng xóm dưới tàng cây trứng cá, sau 75 mấy ai còn giữ được giàn máy hát và dĩa nhạc hay.
Và cũng trên bậc thềm nhà dưới trụ đèn vàng ấy chàng đã hôn tôi… nụ hôn đầu (của tôi, không phải của chàng)

Mỗi chiều Chàng đi ngang qua nhà tôi, ngực ưỡn, chân vòng kiềng, tóc chải láng, áo bỏ trong quần nai nịt đàng hoàng ; Chàng đi ngang qua liếc nhìn không có tôi ở đó thì chàng đi ngược về, rồi lại ngang qua cho đến khi biết tôi đã nhận được tín hiệu chàng mới đi thẳng… Tôi nhẹ nhàng dắt xe đạp ra khỏi nhà bỏ ngoài tai tiếng càu nhàu của má :
– Họp hành gì mà tối nào cũng đi…!
Tôi ngồi sau vịn ngang hông, chiếc mini yên cao nên chàng ngồi trước cao nhòng, tôi nép mái tóc dài sau lưng chàng tránh những hạt mưa phùn sẽ làm nhòe lớp trang điểm nhẹ trên mặt. Chàng cầm tay tôi quàng ngang bụng, tôi cười thầm “cũng lợi dụng dữ a! ” mà không biết rằng Chàng từ lâu đã là con cáo…
Chiếc xe đạp mini cứ bương trong mưa, nhảy chồm chôm trên ổ gà loáng nước và tôi thì cứ vậy, ôm chặt chàng hơn!

Chàng trách :
– Sao em không đòi làm đám cưới?
– Cưới chi?
– Mấy nhỏ khác anh quen một tháng là đòi làm đám cưới!
– Tui đâu cần ông cưới!
– không cưới vài tháng nữa nhà anh đi theo tàu người Việt gốc Hoa… em ở lại một mình…
– Ừa! Có sao đâu, ông đi rồi gửi thư về cho tui…
– Nhưng em không đi thì anh cũng không đi!
Tôi ngần ngừ :
– Ông không đi uổng lắm, mà ba má ông la tui!
– Mà em có muốn làm đám cưới với…
– Không đám cưới cũng không sao, ông đi với gia đình ông đi, tui hổng có sao hết.
Chàng ngập ngừng :
– Anh viết thơ cho ba má anh rồi nè! Thơ nói ba má anh cho cưới em… bây gìơ hai đứa mình đi gởi.
– Không! Ông muốn cưới thì ông gửi, mắc chi tui…

Buổi chiều tôi nói với má :
– Sáng mai 9 gìơ má ổng với bà sui gia đem trà rượu tới dạm coi mắt gì đó.
Má tôi cười cười:
– Đừng có giỡn! Thằng đó mà cưới hỏi gì, nó con nhà giàu mà cà chớn bồ bịch lung tung, bà hàng xóm nhà nó ở xóm trên bả nói: “thằng đó mà cưới con gái bà, tui đi cái đầu xuống đất”.
– Con không biết, nhưng mà ổng nói sáng mai…
Má chép miệng thở dài:” chuyện cưới hỏi mà như giỡn chơi! Để mai rồi coi… ”
Chàng cười toe khi thấy tôi bước ra khỏi cửa, cúi đầu chào Má tôi rồi xán tới gần ôm ngang eo, tiếng má nói với theo:
– Đi giãn giãn ra! Nắm tay được rồi, cứ ôm ôm đó rồi ế chồng cho coi…

Buổi sáng, má tôi chẳng mấy tin tưởng ở chàng, nên bà chẳng thèm trang điểm tóc tai, chỉ có tôi chuẩn bị dĩa đông sương màu mè, sắp sẵn bộ bình trà trên bàn phòng khách rồi lóng ngóng cửa trước chờ… cho đến khi thấy bóng hai người đàn bà mặc áo dài từ xa, mới thở phào nhẹ nhõm hối má tôi thay áo dài tiếp khách!
Chiều về Chàng nói :
– Má anh kêu em đeo nữ trang để lấy ngày hên.
– Tui không thích đeo vàng…
– Đeo cho người ta biết mình sắp cưới.
– Tui đeo tối nay thôi, mai tui cởi trả lại má ông…
Chàng ôm siết vai tôi:
– Kêu bằng anh xưng em đi ! Gần cưới rồi mà cứ tui với ông…
– Không ! Chừng nào cưới hẳn hay, tự nhiên biểu tui kêu anh em dị òm.

Rồi đám cưới nghèo bạn bè sáu bảy chục người đến nhà chúc mừng đôi uyên ương, nhà tôi đãi bạn bằng bánh khoai mì nướng, bánh mậu dịch hôi mùi bột cũ… Phòng uyên ương là căn lầu gác riêng phía sau nhà chính… Bao nhiêu cay đắng ngọt bùi chàng và tôi sẻ chia nơi đây.
Chuyện cùng gia đình chàng đi bán chính thức diện người Việt gốc Hoa tan tành mây khói, chiếc tàu sắt đầy đủ cho mấy chục gia đình cuối cùng đậu bến cảng cầu tàu bị tịch thu ; Nhóm tổ chức chính thức bị ngồi tù, bao nhiêu mồ hôi nước mắt, bao nhiêu hy vọng trên chuyến tàu sắt cuối cùng chìm theo tàu trên bến cảng cầu tàu Qui-Nhơn .

Bao nhiêu lần trở về thăm quê hương, căn nhà ngày xưa của gia đình mà chàng và tôi đã chia nhau bao kỷ niệm vẫn còn đó không thay đổi, chỉ khác cái bảng hiệu công ty che khuất balcon nơi tôi đã từng trồng mớ hoa mười giờ nở tím rực, hoa cúc Nhật vàng đỏ cam chen màu, những bông hoa tóc tiên màu đỏ quấn quýt cùng đám lá xanh non…
Ở đó trên hàng hiên hoa tóc tiên, tôi cũng đã ngó theo dáng chàng trên chiếc xe đạp mini chở phía sau cô bạn nhỏ của tôi và chàng đến dự đám cưới chúng tôi sai ngày trở về nhà cô! Cô bạn nhỏ cũng một thời yêu chàng! Nhà tôi đến nhà cô bạn chỉ 15 phút đạp xe về hướng nhà thờ, mà chàng quanh quẩn sao đến hai tiếng mới ló dạng về nhà.
Và cũng ở đó bên balcon hoa tóc tiên xanh mướt tôi cũng đã đứng ngó theo chàng đi về hướng ngược lại ; Đêm trước ngày cưới, chàng là kẻ chung tình không muốn phụ lòng ai nên đã đến nhà người yêu cũ nói lời chia tay… và tôi cũng đã chờ chàng đến… trước nửa đêm!

Chàng đi trước, ba tôi kế tiếp, và tám năm sau lần lượt tôi cùng thằng em út vượt biên thành công… Rồi mấy năm sau cả nhà 14 người đi theo diện bảo lãnh, căn nhà để lại cho nhà nước… quản lý!!!
Bao nhiều lần về thăm lại căn nhà với bao kỷ niệm, một thời tuổi nhỏ, một thuở mới lớn, nên vợ nên chồng; Chúng tôi (nhà tôi và tôi) chỉ có thể đứng phía trước chụp hình, cũng đành !
Phải chi ngày đó căn nhà được phép bán thì biết đâu đã được vào tay người chủ tốt, đã được chăm sóc sửa sang đẹp hơn, bề thế hơn… đằng này nó lại bị nhà nước quản lý, chỉ được xử dụng cho công sở thì… ai mà bỏ công bỏ của ra sửa sang làm gì !
Đằng nào cũng mất thì thà mất vào tay kẻ biết dùng và giữ gìn cái nhà của chúng ta…

LIÊN HƯƠNG PHAN TẠ

Mùa Xuân Bất Tận, Cơn Đau Dịu Dàng.

luutrongtuong

Thơ như dòng nước chảy
Vào Xuân bất tận cùng.
Tình ta như lửa cháy
Trong vũ điệu loạn cuồng.

Rừng núi nhìn xanh ngắt
Khe suối ở đâu ra.
Trời ơi! Ai dập tắt?
Mà sương khói âm u.

Mùa xuân về rồi đó
Nghe ngập tràn đắng cay.
Dáng kiều trong hơi thở
Mà sao lòng xót xa.

Ghềnh đá bao la phủ
Sóng núi điệp trùng trùng.
Dĩ vãng như cơn gió
Cơn đau đến tận cùng.

Vỗ về rồi cũng thế
Đành lòng với cơn mê.
Đưa tay cho anh níu
Cùng nỗi đau dịu dàng…

(Những Dòng Thơ Cuối Đời)
LƯU TRỌNG TƯỞNG

CÁM ƠN EM ĐÃ ĐI VÀO THƠ TÔI

truongdinhtuan

Cám ơn trong nỗi tình cờ
Vẫn tin là có mà vờ như không
Người còn nấn ná phố đông
Ta còn chẳng đặng cầm lòng con tim
Cõi nào xa hút thiên kim
Chiêm bao ở lại nổi chìm mê hương
Nhánh hoa tiểu muội khiêm nhường
Vầng trăng thao thức bên đường mù sa
Nguyệt cầm ơi ngón tay ngà
Dung nhan khuấy động bóng tà dương côi
Vết dằm từ độ tinh khôi
Cỏ may rưng rức chỗ ngồi hôm qua
Níu nương con chữ đơm hoa
Khai sinh tên tuổi lụa là xôn xao
Dạ thưa, men rượu hồng đào
Cám ơn em đã đi vào thơ tôi…

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

CÁNH DÙ TRÊN ĐỒI 31, HẠ LÀO ANH KHÔNG CHẾT ĐÂU ANH

sonnghi

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm tấn công vào hệ thống tiếp liệu của cộng quân Bắc Việt ngay trong lãnh thổ Ai-lao khởi sự vào một ngày đầu tháng 2/1971. Bọn việt cộng tải quân vào miền Nam theo con đường bắt đầu từ Hạ Lào, men theo đường mòn HCM và đến B, mật mã của Trung ương Cục miền Nam.

Đến bây giờ ai cũng phải nhìn nhận rằng chiến dịch Lam Sơn vào đầu năm 1971 là một thảm bại. Tổng thống Thiệu ra lệnh đưa 3 lữ đoàn bộ binh nhằm triệt hạ đơn vị tiếp liệu và hậu cần của cộng quân với một kế hoạch khá lộ liễu. Một chuẩn bị sơ sài nhằm phô trương thanh thế cho mục đích Việt nam hóa chiến tranh và lợi ích cho cuộc tái tranh cử của Tổng thống Nixon sắp diễn ra vào cuối năm 1971 đã đẩy hàng nghìn binh sĩ VNCH vào chỗ chết.

Một trong những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh là Đại úy Nguyễn văn Đương.

Đúng ra, ông tự sát tại căn cứ 31 chứ không hề hàng địch. Ông dành viên đạn cuối cùng để tự tử. Xác ông vĩnh viễn nằm tại ngọn đồi 31. Bây giờ có lẽ ngọn đồi hoang vu ngập cỏ xanh, như một lần quân bắc việt tràn ngập với chiến thuật biển người. Cuộc hành quân đã bị lộ tẩy vì tin tức lọt ra ngoài từ cấp chỉ huy. Một thất bại từ nội bộ dẫn đến 1483 sinh mạng chiến sĩ VNCH tử vong, và 691 xác thân chôn vùi trên ngọn đồi 31 khốc liệt.

Cái tin tuẫn tiết của Đại úy Nguyễn văn Đương đưa về hậu phương như một nỗi buồn giống như bao nỗi buồn của mẹ già ngóng đợi con khi tiếng đạn pháo kích nổ vang bầu trời bào mòn niềm hy vọng, như nỗi đau đớn của người vợ trông vời bóng người chồng từng ngày khi tiếng súng đêm đêm vọng về từ vùng ngoại ô là nỗi bất an, như sự mong chờ của đàn con thấy bố oai hùng trong bộ quân phục hơn là chiếc hòm gỗ phủ cờ vàng. Bà, phải gọi là chị thì đúng hơn vì lúc đó chị Nguyễn thị Mai mới ngoài 30, mơ thấy chồng về bị thương ở chân, bảo em ráng nuôi con vì anh không về được nữa. Chị giật mình tỉnh dậy và òa khóc. Ba ngày sau giấc mơ kỳ lạ, chị nhận được giấy báo tử chính thức từ chính quyền VNCH, và lặng lẽ khoác áo sô, chít mảnh khăn tang lên mái tóc mượt mà, và cả lên đầu 4 đứa con, nước mắt lại tuôn mà ngỡ như đã cạn kiệt sau 3 ngày khóc thương chồng kể từ đêm anh Đương hiện về trong giấc mơ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cảm động về mối tình, về cái chết bi hùng của Đại úy Nguyễn văn Đương, đã viết thành ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh”, (https://www.youtube.com/watch?v=Juf048ZAR1c).

Mặc dù Đại úy Đương bỏ xác trên đồi 31 vào cuối tháng 2 năm 71 nhưng mãi đến đầu năm 1972, ca khúc này mới được giới thiệu cùng đồng bào miền Nam qua phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông. Tác giả của bản nhạc đóng vai Đại úy Đương, Thanh Lan trong vai Lệ, người yêu và là vợ của Đại úy Đương. Tôi còn nhớ một buổi tối, cơm nước xong, cả nhà ngồi chăm chú vào màn truyền hình đen trắng, và truyện phim dài 45 phút bắt đầu xuất hiện trên màn ảnh. Tôi, đúng hơn cả nhà, bị cuốn hút vào câu truyện. Đoạn phim quay ngoại cảnh là một điều mới mẻ trên đài truyền hình vào đầu thập niên 70 vì cảnh thật chứ không như những tuồng cải lương quay tại phim trường. Chuyện bắt đầu cảnh 2 anh lính lái xe Honda vô tình đụng phải cô sinh viên Văn khoa, (https://www.youtube.com/watch?v=awSG7dmGHhw). Thanh Lan ngã ngồi ở góc phố, nét mặt phụng phịu muốn khóc, lố nhố những người bao quanh. Một trong 2 người lính nghỉ phép rong chơi trên đường phố SG là Thiếu úy Đương. Quen nhau rồi yêu nhau như bao chuyện tình khác xảy ra trong thời kỳ chiến tranh sôi động của miền Nam. Thanh Lan năm đó đang độ xuân thì, đẹp thùy mị trong phim. Tuy màn hình đen trắng, nhiều hạt mưa nếu thời tiết xấu, nhưng khán giả vẫn nhận ra một Thanh Lan xinh xắn, một tiêu biểu của nữ sinh viên trường Luật, và Văn khoa. Cuối cuộc tình là đám cưới rồi con cái. Thân phận của thiếu nữ miền Nam thời đó hầu như đều làm vợ lính. Lấy chồng lính đồng nghĩa gánh lấy nhọc nhằn, sống trong phập phồng lo sợ vì tin dữ đưa đến bất cứ lúc nào.

Như những lần lên đường diệt giặc phương Bắc trước đây, Đại úy Đương từ giã vợ tung cánh dù vào cuộc hành quân Lam Sơn 719. Có khác chăng là lần này Đại úy Đương đi luôn không về nữa. Xả hết đạn vào đám giặc thù, anh dành viên đạn cuối cùng để tuẫn tiết.

Tin dữ đưa về. Lệ ôm lấy con khóc ngất. Tôi còn nhớ buổi tối hôm đó, Thanh Lan khóc nức nở trong phim, cả nhà ngồi lặng yên, không ai nói với ai một lời nào. Lòng tôi xúc động khi thấy anh Đương trong phim khuôn mặt đầy máu, ôm lấy vai vợ và nói, “anh không chết đâu em…” Em gái tôi mới học lớp 7, ngồi im như tượng gỗ, đôi mắt đỏ hoe. Và tôi kịp nhận ra cặp mắt tôi cũng đã ươn ướt.

Năm đó tôi sửa soạn thi Tú đôi. Tối hôm đó, xem phim xong, không hiểu sao tôi nghĩ khi lấy xong mảnh bằng thế nào tôi cũng lên đường nhập ngũ. Cái chết oan nghiệt của Đại úy Đương không hề làm tôi sờn lòng, nhưng tôi thật sự cảm phục những cái chết hào hùng như thế và muốn noi gương anh để cầm súng bảo vệ quê hương. Thi đậu xong, tôi nộp đơn vào khóa Biên tập viên của Sĩ quan Cảnh sát. Thêm thằng bạn rủ tôi nộp đơn vào khóa 29 của Sĩ quan Đàlạt. Chúng tôi gửi thư ra Nha trang để xin Phiếu lý lịch số 3. Tôi còn nhớ tờ giấy màu xanh gửi về thông báo tôi được quyền gia nhập quân đội. Đang phân vân không biết chọn ngành nào thì ông cụ tôi khuyên nên tiếp tục học vì khả năng tài chánh của gia đình còn cho phép. Thế là mộng khoác áo chiến y của tôi không thành.

Đồng bào miền Nam chỉ muốn đất nước thanh bình, yên ổn làm ăn, sống cho xứng đáng với nhân phẩm con người. Bọn việt cộng xua quân đánh phá với chiêu bài cứu đồng bào miền Nam khỏi ách thống trị của Mỹ Ngụy. Thật ra chính quyền Bắc việt đang áp đặt cái ách độc tài lên đồng bào miền Bắc từ năm 1954. Dân quân miền Nam cố bảo vệ mảnh đất hiền hòa, chẳng hề muốn gây hấn một ai. Đại úy Đương sẽ không chết tức tưởi nếu bọn việt cộng đừng tấn công miền Nam. Chị Trần thị Mai sẽ không trở thành góa phụ nếu quân bắc việt đừng theo chủ thuyết cộng sản. Không một ai thích chiến tranh cả vì chiến tranh tàn phá, nghiệt ngã, chết chóc, chia lìa, và để lại nhiều đau thương. Như bạn tôi, rớt Tú tài I, đăng lính cấp bậc trung sĩ. Mùa hè năm 72, khi tôi đang học lớp 12, thì xác bạn tôi phủ cờ vàng đem về đến tận nhà. Bạn tôi đền nợ nước khi tuổi chưa tròn 18. Chúng tôi còn đi chơi với nhau năm trước, nào cắm trại, nào du ngoạn, nào cưỡi xe gắn máy rong ruổi đến tận làng quê. Thế mà chưa đầy một năm sau, bạn tôi nằm và tôi đứng lặng lẽ trước hòm gỗ lung linh hương khói, ngọn đèn bạch lạp cháy leo lét như nỗi cô quạnh của người mẹ với đôi mắt sưng húp, vật vã kể lể bên quan tài buồn hiu hắt.

Đau đớn ở cái chết. Oan nghiệt ở tuổi còn xanh.

Nếu thân phận Kiều bấp bênh, trôi nổi, lưu lạc suốt 10 năm trời qua câu, nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương, nhưng cuối mảnh đời lưu lạc Kiều cũng được sum họp với Kim Trọng. Còn thân phận của phụ nữ miền Nam thời chiến, cuối mảnh đời bấp bênh là sự chia lìa, là đơn côi, là lẻ loi, là cực nhọc một tay nuôi đàn con mất cha. Bà Trần thị Mai đã chịu đựng một cuộc sống nghèo khổ cơ cực như thế đã hơn 40 năm nay.

Lẽ ra, thủ đô SG phải có con đường mang tên Nguyễn văn Đương để vinh danh một cái chết hào hùng. Lịch sử giở sang trang khi sự dối trá thắng sự ngay thẳng, tàn ác thắng thiện lương, độc tài thắng dân chủ, vô tâm thắng nhân tâm, khỉ thắng người. Tên đường ở SG bây giờ mang tên một anh thợ điện, được vinh danh vì gài mìn giật sập cầu Công lý. Nhà nước cộng sản dạy trong sách giáo khoa rằng trước khi chết anh ta hô to ba lần tên HCM. Thật ra những người lính hành quyết tối hôm đó bảo anh thợ điện run rẩy đứng không vững trên đôi chân, miệng lắp bắp nài xin sự khoan hồng. Lừa dối ở chỗ đó. Lại có đường mang tên Lê văn Tám, một em bé dám tẩm xăng vào người làm nổ tung kho đạn. Một nhân vật huyền thoại, vì sau này một người cộng sản thú nhận ông đã nặn ra nhân vật Tám để kích động lòng “yêu nước” (sic). Lịch sử là viết lại sự thật nhưng lịch sử của nước cộng sản lại có nhiều huyền thoại, đi ngược với sự thật. Đường SG bây giờ mang rất nhiều tên lạ lẫm, và không thể nào có một con đường mang tên Nguyễn văn Đương vì kẻ chiến thắng viết lại lịch sử, (history is written by the victors) như lời của Thủ tướng W. Churchill.

Bà Mai chẳng hề muốn một con đường nào mang tên chồng cả, bà chỉ muốn có chút tiền lộ phí, tìm đến ngọn đồi 31 năm nào, để tìm lại xác chồng. Ngọn đồi nằm chơ vơ, lặng lẽ qua từng ấy năm. Đây là mồ chôn hàng nghìn xác cộng quân, kể cả 691 chiến sĩ VNCH bị mất tích, trong đó có thân xác của Đại úy Nguyễn văn Đương. Ngày tháng trôi, thân xác anh đã hòa lẫn với thiên nhiên cây cỏ từ năm đó. Người vợ đến tận nơi có ngửi được mùi chồng thoảng trong gió như trong đêm ân ái nồng nàn năm nào. Có lẽ không. Nhưng bà Mai phải đến nơi, để thấy lại cảnh xưa và thấy hình ảnh của người chồng trong đôi mắt nhắm, và để thắp lên một nén nhang cho vong linh chồng phiêu du ở chốn vĩnh hằng. Đời sống cơ cực của bà không cho phép bà thực hiện được ước mơ đó, dù chỉ một lần.

Ước mơ của bà bay tỏa không gian, vang đến tận hải ngoại. Đồng bào động lòng quyên góp cho bà chút đỉnh. Trước là để bà thực hiện được ước mơ, sau là giúp bà và anh con út (giờ đã 47 tuổi) có chút vốn sinh sống thoát cảnh nghèo. May mắn có ông Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí, người Việt đầu tiên được bầu vào chức Thị trưởng, đứng ra tổ chức một cuộc gây quỹ trên mạng để giúp mẹ con bà Nguyễn thị Mai, (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=224698&zoneid=1).

Xin cám ơn ông Trí có tấm lòng với gia đình những người lính VNCH. Rất mong bà Mai thực hiện được ước mơ gặp chồng trên đồi 31, Hạ Lào.

SƠN NGHỊ

lục bát tình đầy,

tranngochuong

Cho nhau lục bát tình đầy,
Cho nhau tròn một vòng tay hồng trần.
Em từ thăm thẳm bước gần,
Tuyệt vời năm tháng căn phần đôi ta.

Tiếng đàn xưa chạm phím ngà,
Hiên trưa quán vắng, em qua dáng gầy.
Mang theo chút gió heo may,
Đất trời riêng một chốn này lứa đôi.

Lá thơm thương phút tuyệt vời,
Môi anh quấn quýt quyến môi em hồng.
Theo từng hơi thở rướn cong,
Chắt chiu khoảnh khắc bế bồng tình yêu.

Bên nhau mới sáng đã chiều,
Biết âu yếm đến bao nhiêu mới vừa.
Sài Gòn gió lộng quán trưa,
Lá màu xanh tím đong đưa cội tình

Trần Ngọc Hưởng

CHIỀU NAY QUA BÊN KIA PHỐ

tranvannghia

Chiều nay qua bên kia phố
Thấy mưa chạnh nhớ quê nghèo
Thấy bông giàn bầu giàn bí
Xót đời mẹ lắm gieo neo

Thấy con sông mùa nước lũ
Thương cha gồng giữ tay chèo
Thấy dây trầu xanh giậu cũ
Quê chồng chắc chị hẩm hiu?

Thấy mùa đông đầy sương giá
Ngại em áo mỏng gánh bèo
Nghe bên hè con dế gáy
Vo tròn tuổi nhỏ buồn thiu

Chiều nay qua bên kia phố
Sững sờ tóc đã muối tiêu!

TRẦN VĂN NGHĨA

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Nó đưa hồ sơ cho thằng Chí xong quay trở vô rừng.
Trong rừng vừa mới có thêm người gia nhập. Anh Mười thọt, anh nói có tật ở chân đi cà thọt. Nó được phân công làm củi chẻ với anh này. Làm gần tuần lễ thấy ở anh Mười có nhiều biểu hiện rất lạ, nghe tiếng động lớn là anh giựt mình, dáo dát ngó nghiêng ra vẻ cảnh giác, nó chọc:
“Anh Mười bị yếu bóng vía hả?”.
Bị chạm tự ái Mười thọt cự nự, mỗi câu nói ra luôm kèm một tiếng chửi thề:
“Đ.m. yếu con c.”.
“Chớ sao thấy anh hay sợ sệt”.
Mười thọt quắt mắt:
“Đ.m. tao sợ kiểm lâm chớ sợ gì”.
“Mình làm củi chẻ, coi như đi mót nhánh kiểm lâm nào bắt, kiểm lâm bắt hạ cây lấy gỗ chớ”.
Mười thọt giả lả:
“Thì tao ngờ ngợ đang hạ cây, đ.m. mày nói nhiều quá”.
Mười thọt làm biếng, đòi nghỉ hoài, nó thì bị cằn nhằn chửi thề suốt. Lúc đưa củi chẻ về lán, tới dốc Bà già bật ngửa chỉ lại giống anh Lãm đã chỉ nó, nó nhảy tót lên oánh xe, Mười thọt cũng chửi:
“Đ.m. đó giờ tao ra lịnh, tao chỉ người khác chớ chưa có thằng nhóc nào dám chỉ tao”.
Xe trượt băng băng xuống, Mười thọt theo không kịp, thả cây thắng xe luôn, xe càng băng băng trượt, ngồi oánh xe nó muốn hú vía.
Buổi chiều lúc tắm nó nói nhỏ với bác Hai:
“Dạ, ngày mai bác Hai cho ai thay chỗ con đi, con có chuyện quan trọng này nói”.
Bác Hai gật đầu ờ.
Lúc ngồi nhâm nhi khề khà, bác Hai chỉ nó hỏi:
“Ê nhóc, muốn học đẽo hông mậy?”.
Nó bật ra liền:
“Dạ, muốn chớ bác Hai, con xin hoài mà bác hông cho”.
Bác Hai chỉ Chú Thiện:
“Mai thằng Thiện làm với Mười thọt nghe, tao chỉ vài chiêu cho thằng nhóc coi như truyền nghề chớ để nghề này mai một”.
Chú Thiện ực ly rượu:
“Chà, coi bộ chú Hai khoái thằng nhóc quá ta, bao nhiêu người kêu truyền nghề mà bác có đếm xỉa gì đâu”.
Bác Hai xì một tiếng:
“Khoái gì, thằng nào cũng như thằng nào, tại tao thấy nó khéo tay”.
Sáng hôm sau nó vác rìu theo bác Hai. Chỗ đẽo gỗ khá xa với với chỗ củi chẻ. Bác Hai hỏi nó:
“Có chuyện gì nhóc”.
Nó nho nhỏ, sợ sệt kể lại bữa giờ làm với anh Mười rồi nói:
“Con thấy cái ông Mười thọt này lạ lắm bác Hai, có gì đó mờ ám, ghê ghê, cái chân ổng hổng phải bị tật đâu, con có lén theo dõi thấy bị thương, băng bó”.
Bác Hai đăm chiêu nghe:
“Vậy hả, bữa giờ bác hông có để ý, ờ mà đâu bao giờ thấy nó cởi cái quần dài ra đâu hen”.
Chú Ba lém nói vô:
“Thằng nhóc nói có lý, tui cũng thấy vậy, thằng này bị cụt một ngón tay, nhớ gặp hay nghe danh mang máng đâu đó”.
Chú Ba Tỷ gật gật:
“Nghe thằng nhóc tui mới thấy đúng là lạ, tối tối thằng này biến mất tiêu cả buổi rồi mới vô nhậu”.
Nghe chú Ba lém nói nghe danh, nó nhớ lại thời còn đi học nghe đồn thổi về tên cướp điên cuồng lắm:
“Dạ, có phải chú ba nói là tên cướp Lũng cụt vượt ngục hông?”.
Chú Ba vỗ tay cái bốp:
“Đúng rồi, thằng tướng cướp Lũng cụt, thằng này lưu manh số một, cướp của giết người hông gớm tay, bị bắt vượt ngục mấy lần, nghe đâu lần này chưa bắt được, dám nó lắm”.
Bác Hai nhíu mày:
“Nhưng chưa chắc là thằng Lũng cụt tướng cướp, còn nếu thiệt thì tính sao”.
Chú Ba Tỷ ngần ngừ, chú Ba lém phẩy tay:
“Ái dà khổ ghê, để tối nay tui kiếm cách kêu tên thử thằng này phản ứng thế nào, đúng thì kêu đi cho, chú cháu anh em mình mỗi người một hoàn cảnh, người trốn tránh, người tu chí, người làm ăn, mang tiếng là lâm tặc đủ rồi, đâu chứa chấp được mấy thằng cướp mà mang tiếng xấu cả đời”.
Bác Hai, chú Ba Tỷ gục gật:
“Ờ, vậy đi”.
Buổi tối quây quần bên ly rượu, kể vài câu chuyện đời xong, bác Hai hỏi chú Bá lém:
“Ba lém mày một thời nổi tiếng ngang dọc, chắc mày là đệ nhứt chớ ai qua nữa hen”.
Chú Ba lém cười khà:
“Đệ nhứt gì chú ơi, tui hạng tép riu – chỉ Mười thọt chú Ba tiếp: Thằng Lũng cụt này mới là số một nè”.
Vừa nghe dứt câu nói, Mười thọt phóng cái ào lại ngay dàn dắt dao rựa, cưa búa, rút cây rựa dài, bén ngót ra thủ thế hét lớn:
“Đ.m. ngồi im đó hết, đ.m. thằng nào bước qua đây tao chém chết, muốn bắt tao hả, đ.m hông dễ đâu”.
Cả bàn nhậu ngỡ ngàng, bác Hai đưa tay chặn lại:
“Mày bình tĩnh Mười thọt, đâu ai bắt mày làm gì, nói thiệt vậy mày là thằng Lũng cụt nổi danh, tụi tao là dân làm ăn hông dính dáng gì mày, chẳng phá đám gì mày, chỉ muốn mày đi khỏi đây thôi”.
Mười thọt hất hàm:
“Tụi bây biết tao là Lũng cụt rồi, đ.m đừng xạo hông bắt, đ.m ai gặp thằng này lại hông muốn bắt lập công”.
Chú Ba lém nhỏ nhẹ:
“Chú Hai nói thiệt đó mày, nếu bắt mày tụi tao đã lập kế chuốt rượu chớ để vậy à”.
Vậy là đúng Mười thọt là Lũng cụt, Lũng cụt hăm he:
“Đ.m nói gì cũng được nhưng đứng yên đó hết, tao nói rồi, bước lên một bước là tao chém chết, đ.m. muốn tao đi cũng được, đi thì đi – hắn cười ha ha: Đ.m. muốn tao đi hả, thằng nhóc kia vô lấy ba lô của tao, đ.m. tụi mày gom hết tiền đưa bỏ vô ba lô tao sẽ đi”.
Nó đang tầng ngần, bác Hai hất đầu:
“Làm theo đi nhóc”.
Nó làm theo, ai nấy lấy tiền ra đưa nhét vô ba lô, chú Ba lém cầm ba lô thảy lại chỗ Lũng cụt, Lũng cụt vừa đưa một tay chụp thì cùng lúc một sợi dây thòng lọng tròng vô người, chú Ba Tỷ là người thảy dợi dây, chú giựt mạnh, Lũng cụt ngã cái rật chổng vó, mấy chú, mấy anh nhào vô đè, tó Lũng cụt lại không đường dãy giụa, chú Ba lém xiết chặc Lũng cụt vô gốc cây và nói:
“Giỡn mặt với anh em hả, mày khét tiếng ở đâu chớ ở đây thì quên đi, đã cho đi còn láo còn cướp à”.
Lũng cụt cựa quậy nhưng không nhúc nhích nổi:
“Đ.m thả tao ra, đ.m. tao mà ra được là chết mẹ tụi mày hết”.
Bác Hai cầm mớ giẻ nhét vô miệng Lũng cụt cho im bặt. Bác Hai gục gật:
“Vô ngồi uống tiếp rồi bàn tụi bây, thằng Ba Tỷ ngón nghề còn ngon hen, tao tưởng mày lụt nghề rồi chớ”.
Chú Ba Tỷ làm thinh thinh vậy chớ võ nghệ đầy mình, chú từng sợ về nhà gặp tay tình địch lang chạ với vợ mình sẽ nổi nóng cho một cước không chết cũng ngáp ngáp, đi tù có ngày.
Uống cạn ly rượu, bác Hai hỏi:
“Giờ thằng này tính sao?’.
Chú Ba lém có ý:
“Mẹ, thằng này ác, cướp của giết người hông gớm tay, để nó nhong nhong ở ngoài nó gây tội nữa, mà mình muốn nó đi vậy mà nó còn cướp của mình, phải cho nó vô tù”.
Ai cũng đồng ý với ý của chú Ba lém. Bác Hai nói:
“Thôi vậy sẵn dịp này, thằng Tỷ đưa về giao cho xã và về thăm nhà luôn nghe mậy, tao với mày cùng thằng nhóc về, thằng nhóc nói tuần sau nhưng thôi về luôn đi”.
Chú Ba Tỷ im lặng, vậy là đồng ý rồi. Anh Lãm hỏi:
“Ủa thằng nhóc về làm gì vậy?”.
Nó lý nhí chưa kịp ra tiếng, bác Hai trả lời thay:
“Nó về lên huyện làm việc”.
Anh Lắm lãng uống cái ực:
“Mày bỏ tụi tao hả mậy?”.
Bác Hai phẩy tay:
“Lãng dữ mậy, có chữ nghĩa để nó đi làm là mừng cho nó mày ơi!”.
Anh Lắm lãng cười hề hề:
“Nói chơi vậy mà bác Hai, mừng cho thằng nhóc nè, mừng cho anh Ba Tỷ luôn nè, uống cạn nghen”.
Nó đứng dậy:
“Con kính ông Bảy, bác Hai, mấy chú với mấy anh một ly, con về nhưng hông bao giờ quên những ngày ở rừng rú này đâu”.
Cả lán trại bỗng im lặng như tờ. Mọi người rưng rưng. Bác Hai ực cái mạnh:
“Thôi nghỉ, mai đưa thằng quỷ cô hồn các đảng này về sớm”.

***

Xếp mấy bộ đồ, mùng mền vô túi xách, thằng Chí đi ngang hú, nó chào má nó rồi đạp xe ra theo.
Lên huyện, mó được nhận vô làm chân thư ký một phòng kiêm luôn thằng lon ton, chạy gởi lá thư này gởi cái công văn kia cho cơ quan đó đây. Công việc dễ ẹc, chỉ tập đánh máy vài bữa cho nhuyễn tay, việc cũng chẳng gì nhiều.
Nó ở chung với thằng Chí, hai thằng một phòng rộng thênh thang. Huyện nằm cạnh ngay đường lộ nhưng bao bọc gần như là đồi núi. Từ phòng ở nhìn ra sau thấy dãy núi, nhìn trước cũng dãy núi, quang cảnh xa xa chẳng khác mấy khi nó ở rừng, buồn buồn chiều chiều hai thằng thôi nấu cơm, ra làm vài xị đế rồi ghé rạp phim coi ké. Rạp không còn chiếu màn ảnh rộng, cái ti vi bự mấy chục in chiếc băng video, chiếu phim chưởng, phim kiếp hiệp của Hồng Kông cho bà con coi nức mắt. Không còn cảnh chen lấn, leo trèo đạp trên đầu nhau, dành chỗ mua vé để coi, dành vé bán chợ đen.
Ngày ngày trôi qua, một tháng, hai tháng trôi qua và lặng lẽ hơn một năm trôi qua.
Một buổi trưa thứ bảy từ cơ quan về, thằng Chí nói:
“Tuần này hông về nghen mậy, mai đi nhậu với tao”.
“Nhậu ở đâu?”.
“Nhậu chùa, mai khánh thành con đập gần đây, đập lớn chắc khánh thành hoành tráng lắm”.
Nó chao mày:
“Làm sao tao đi được, ai cho vô”.
“Đi với tao, tao có giấy mời đàng hoàng, mà mày ở đây cũng lâu, nhiều người biết mặt, biết bạn tao rồi”.
Huyện xây đập lớn thiệt. Xây bờ đê phía cuối thung lũng chắn ngang tạo thành lòng hồ lớn trữ nước, ba mặt kia là đồi núi bao bọc, bờ đê hình thang dài chừng hơn cây số, cao gần chục thước, bề dày cũng lớn, có con đường bên trên xe tải chạy được.
Giống như con đập, lễ khánh thành hoành tráng không thua gì. Có cả từ trung ương, tỉnh và đủ các huyện về dự. Xe bốn chỗ, mười hai chỗ xếp hàng nối đuôi nhau đậu kín hết con đường vô đập. Sân khấu và nhà bạt được đựng lên với cờ xí rợp trời, âm thanh nhạc oai hùng mở vang trời đất. Trước và sau lễ có đoàn ca múa nhạc của tỉnh múa hát phục vụ. Báo đài cũng chộn rộn, quay phim chụp ảnh, phỏng vấn người này người kia, ai nấy nói thao thao bất tuyệt, không thấy vấp chỗ nào kể cả anh công nhân, nói chẳng thấy cảm xúc có lẽ chăm chú quá vào bài cần nói, sợ quên bài học thuộc lòng sẵn. Thằng Chí cầm cái máy hình Canon nó cắc ca cắc củm mua được chạy tới chạy lui.
Chừng hơn tiếng đồng hồ là lễ xong. Mấy ông đứng đầu huyện lên xe đưa mấy ông trung ương, tỉnh và các huyện khác về thị xã chiêu đãi. Phần còn lại, người các ban ngành ở huyện, đội thi công liên hoan tại chỗ. Món ăn, mồi mỡ được đặt sẵn chở đầy hai xe lam vào. Bia cũng xe lam chở đầy, hết xe này chở xe khác. Ăn uống độ từ mười giờ cho tới tối mịt mờ, vừa ăn uống vừa hát ca, đoàn văn công về thì còn đội thông tin lưu động của huyện, và ai khoái ca hát thì lên. Bia uống bia đổ tràn lan xối xả, người ói người cắm đầu xuống lòng hồ không ít, may mùa nắng, hồ chưa tích nước. Nó với thằng Chí cũng xà càng.
Tuần lễ sau thằng Chí lôi ra xấp hình đã rửa đưa nó coi, chụp đầy đủ hết từ lễ hoành tráng cho tới ăn nhậu be bét, bia bọt chảy như suối, nhỏng đầu nhỏng cẳng ói cũng không khác gì. Thằng Chí khề khà:
“Đã hông mậy?”.
Nó nhún vai:
“Dữ quá, đi đứt hông biết là bao nhiêu”
Thằng Chí thảy thêm xấp hình:
“Đây mới dữ hơn nè, cái này mới tốn dữ nè”.
Nó mở ra coi, thằng Chí chụp hình những chiếc xe chở vật liệu từ con đập, rồi hình lại thấy mấy chiếc xe này đổ xuống nhà mấy ông đứng đầu huyện. Nó thật thà:
“Là sao mậy, hổng lẽ…?”.
Thằng Chí nhếch mép:
“Hổng lẽ hổng chẳn gì nữa, mấy ổng chia chác chớ sao, rút ruột hay kê thêm vật tư rồi chở về nhà mình chớ sao, mày hông thấy à, đập chưa xây xong mà nhà đã hoàn thiện bự tổ chảng à, ăn mừng tân gia có thua gì đâu, bởi vậy mới cho trận nhậu lễ khánh thành hoành tráng đó”.
Nó trợn mắt:
“Giống như bịt miệng hả?”.
Thằng Chí gật đầu:
“Thì vậy”.
Nó chỉ vô hình:
“Mấy ông luôn”.
Thằng Chí cười ruồi:
“Thì kéo ban kéo bệ, mỗi người một chút, kể cả mấy ông thi công, mấy ông trên duyệt nữa mầy ơi, một danh sách dài lắm, một mình dễ nuốt à”.
Nó ậm ừ:
“Mày nói tao mới biết, chớ tao biết khỉ mốc gì”.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU