TÔI NGỒI …

nguyenhuynh

Tôi ngồi cạnh tuổi thơ qua
Không đi lớn nữa đường xa mệt nhoài.
Xoa lên ước vọng thiếu thời
Một câu xin lỗi một lời tri ân.

Tôi ngồi bên những dòng sông
Nơi tôi đã đến mà không thấy về
Vỗ lên mặt nước sông quê
Tìm con sóng nhỏ lăn về mênh mang.

Tôi ngồi qua những đường làng
Kiếm chân gót sót thênh thang năm nào
Hỏi vào viên sỏi vì sao
Đường xưa phong tỏa dấu nào chân tôi!

Tôi ngồi trên cuộc đời rồi
Qua phong vũ biểu biết đời tôi ương!
Thôi thì mộng gửi Trùng Dương
Vào câu thơ với vào hương hoa đời.

NGUYỄN HUỲNH

dụ ngôn 5

phuonguy

những dự cảm già
phập phồng cơn áp thấp xám
trên những biển báo mang biểu tượng loài hoa tím
trận mộng du đã tràn qua

ngày ngọt lịm đã trôi qua
giới hạn trong đường biên chocolate bị nung chảy
thời khắc những giọt lạnh cuối mùa ngấm vào người
tình yêu cũng chỉ là một thứ xa xỉ phẩm
đặt bằng nỗi tò mò nhưng không liên quan

những ngày ngọt lịm đã trôi qua
bước chân đếm một .. hai … ba
máu của hoa hồng đã đổ xuống
những bông hoa màu tím nở ngát trên bàn thờ
giáo đường nhỏ
chiều vắng
là tiếng chuông nguyện người đi trước
” nay là chúng tôi….”

ngày những loạn ngôn trôi qua trên dòng bát nhã
là chân là tay
bộ não đã hoại tử từ mùa xuân thế kỉ trước
bắt đầu là những cơn mưa trong mùa mê sảng mới
“… mai là mọi người”

Phương Uy

NGƯỜI TỬ TÙ (TT)

khuatdau

6. Đôi khi nắng khuya làm tôi nhớ
ồn ào như những người bạn lâu ngày mới gặp nhau, những cơn mưa đầu mùa cũng kéo tới ồn ào và tươi vui như thế, những cơn mưa nở trắng như cả một rừng cúc trắng mênh mông và mùi thơm của nước mưa thấm qua lá tranh khô và những bông lau trắng ngẩn ngơ như một cái vẩy tay của kẻ gọi đò trong những ngày đông lạnh, những cơn mưa hào sảng đã xối ướt cả thân thể ta và nàng
ta đã làm gì
và nàng đã làm gì
sau khi đã nằm lặng thinh trên đỉnh đồi nhìn con diều giấy
ta đã hỏi nàng có muốn diều lên đến tận mây xanh
lên cao và lên cao mãi
nhưng nàng im lặng lắc đầu
một lúc sau, nàng nói, lên cao để làm gì khi mắt mình chẳng nhìn thấy được, em không thích chơi diều đứt dây
ta cũng vậy, ta chỉ muốn sống một cuộc đời vừa phải, một hạnh phúc mỏng mảnh vừa tầm, không xe cả lòng mình thành sợi chỉ dài để thả trái bóng hão huyền lên chín tầng mây, ta phải đi chân trần trên cuộc đời này, phải xắn cao ống quần lên mà cất bước, lúc mệt mỏi cứ ngồi phệch xuống đất mà nghỉ ngơi hay thoải mái nằm dài trong lòng nó
và cuộc đời nồng ấm nào có xa lạ gì với ta, đang nằm sát bên ta hé đôi môi xinh ấm đợi chờ
ta hôn nàng
hôn nhẹ hều dè sẻn,
như đứa bé chưa muốn ăn hết chiếc bánh trong tay mình
ừ, thì hôn nhin nhín, hôn chút chút
hôn cho đỡ thèm
môi nàng thơm như là nước mưa chảy qua những cánh hoa hồng thơm ngát và ta nhẩn nha liếm từng chút một như uống mật ong
những cơn mưa đầu mùa đã bất ngờ kéo tới
thực ra, cơn mưa đã báo trước bằng hơi thở mát lạnh và ta chẳng việc gì vội vã trong khi nàng mỉm cười chờ đợi
chúng tôi đã hôn nhau giữa lúc những giọt mưa reo vui nổ ròn trên khuôn mặt hai đứa, những giọt mưa như muốn xé rách quần áo chúng tôi, len lỏi vào tận những nơi sâu kín cho đến khi nàng cảm thấy giật mình e thẹn, vụt chạy đi mà vẫn không dấu che được hết đôi mông núng nẩy rất phì nhiêu
cho đến khi về được tới nhà thì cả hai đều ướt đẫm, tất cả những gì xinh đẹp nhất của nàng đều lộ ra đến nỗi có thể sờ nắn được
ta giục nàng đi thay quần áo
và ta nghe nàng cười khúc khích khi thấy mình xúng xính trong bộ đồ mới rộng rinh của ta, nàng reo lên ngộ quá, nhỡ có ai vào thì sao
nhưng chẳng có ai thèm vào
và cơn mưa đã đến lúc nhè nhẹ buồn buồn như thể những người bạn nhậu xong nằm lăn ra ngủ,
đang hong thả ngáy khò khò
lửa đã được đốt lên và chúng tôi ngồi sát bên nhau
chúng tôi hong tay lên lửa rồi áp lên thịt da của nhau, một đôi khi nàng đè mạnh tay tôi sát ngọn lửa hơn để phạt tôi vì cái tội đã áp cả hai bàn tay thô ráp lên đôi vú nhỏ nhắn và kiêu hãnh của nàng
khi đó, tôi nhớ tới những ngày tấm bé đã tắm không quần áo cùng nàng, tôi là nước và nàng cũng là nước
và lúc này nàng tỏa mùi thơm như hương đồng lúa trỗ, chẳng mấy nữa nàng sẽ đến ở hẳn trong ngôi nhà nhỏ này và điều đó giản dị tự nhiên như mưa là phải rơi xuống đất, như sông suối là phải chảy
và cũng bên ngọn lửa thơm mùi nhựa cây, giữa lúc những cây củi nhỏ đỏ rực thành than, khuôn mặt hai đứa nhập nhòa trong ánh lửa lung linh, tôi trông thấy đôi mắt nàng sáng ướt nhìn tôi cũng rực đỏ như đang bốc cháy và chắc nàng thấy tôi cũng vậy, tôi nghe nàng thì thào
anh muốn chúng mình có bao nhiêu đứa con
bốn đứa, có lẽ thế
em cũng muốn như vậy
có tham lam quá không
không đâu, bốn đứa mới chia hai được chứ
sao lại chia hai
chia để đánh nhau chơi ấy mà, em yếu hơn chọn hai đứa trai, còn anh hai đứa gái
a, vậy thì tập đánh nhau trước đi
tôi đã rất nhanh ôm gọn nàng vật xuống, nằm đè lên
tôi nghe nàng hét la dãy dụa, nhưng thịt da nàng lại đỡ nâng tôi âu yếm
thân thể nàng nhỏ, thơm và ấm nóng, quấn quít cùng thân thể tôi như muốn bứt tung cả quần áo
chúng tôi là hai con sông nhỏ xa nguồn, suốt một quãng đường dài chảy bên nhau, giờ sắp hòa thành một để đủ sức chảy vào biển rộng
suốt đêm hôm đó, chúng tôi đã nuôi mãi ngọn lửa êm đềm ở giữa nhà, suốt đêm chúng tôi đã ôm lẫn nhau giữa lúc tiếng mưa không ngừng thủ thỉ kể cho ngọn lửa nghe những chuyện dọc ngang trời biển và tôi không bao giờ quên được tiếng đập nũng nịu của trái tim nàng bé nhỏ
một đôi khi tôi nhìn thấy thân thể nàng sáng rực lên, ngực nàng thơm như là sáp quý và bụng nàng chơn mát như thạch
và ở những nơi mê đắm như thế, những nơi mà người con gái hằng nâng niu để đợi chờ, không biết tại sao tôi chỉ có thể đặt đôi môi của mình lên, ngoài ra không làm điều gì xúc phạm
lửa bên ngoài, lửa trong tôi và nàng không hiểu sao chưa đốt cháy được chúng tôi
có lẽ vì đêm thanh khiết quá, đêm thiêng liêng đầu đời đã nâng chúng tôi lên đỉnh trời thanh tịnh
cho đến sáng ra, trong khi đất trời cỏ cây tươi mới, chúng tôi cũng cảm thấy mình mới tươi trẻ trung, chúng tôi nhìn thấy trong mắt nhìn của nhau lòng biết ơn còn bao la hơn cả tình say đắm.

7. Bước vào cuộc giác đấu
Vọt thẳng lên cao với tất cả kiêu kỳ hiếu thắng, mặt trời khoái trá xua đám thổ phỉ hung hãn ra sức vây hãm người tù bé nhỏ. Mặt trời cười oang oang như cồng chiên được đánh lên rộn ràng trước lúc con trâu tội nghiệp bị thọc sâu con dao vào cổ họng. Và núi đá cũng đang reo hò bất tận với những âm thanh rền rĩ. Núi uống hút cái sức nóng dữ dội của mặt trời, rồi dùng trái tim nham hiểm tôi luyện cho đến khi bốc khói. Và như những cuộc hành quyết bằng cách ném đá cho đến khi tội nhân gục xuống, đá và cả mặt đất đều ném không ngừng vào thân thể người tù những hòn lửa nóng ran. Người tù gục xuống trên cây gậy trong khi xác chết phơi mở tênh hênh, căng phồng như con nhộng vừa ném vào chảo dầu.
Đã nhiều lần, người tù đuối sức ngã quỵ, nhưng chỉ ít lâu sau, anh cố gượng dậy, nghiêng đầu trên cây gậy khốn khó bước đi từng bước một. Nằm được một lần là nằm mãi, anh nghĩ, mình không được nằm, mình phải gượng đứng lên thôi. Mình phải đi, phải đi, muốn sống là phải bước đi, không thể không đi. Mà anh đi đâu vậy? Đào thóat chăng? Không. Mình phải đi như là phải thở. Mình phải bước tới chứ không thể dừng lại.
Đứng lại là chết.
Bước tới, mặc dù phía trước là đá khô đỏ khé.
Bước tới, mặc dù trên cao kia là thành lũy khó vượt qua.
Anh chẳng hề hy vọng tìm được một bờ khe hay hang hốc nào êm mát giữa cái nhà tù kheo khu này. Anh đi khập khiễng, xiêu vẹo từng bước thấp, hụt hẫng từng bước cao. Cái xác trên lưng cũng nghiêng ngã theo như một người đồng hành cùng số phận. Mỗi bước đi của anh bây giờ là cả một năm dài. Cuộc đời anh, tuổi thọ anh, giờ được tính theo từng bước chân. Đi để được sống nhiều hơn, sống dài hơn cho dù chỉ là một bước ngắn.
Đi,
đi, và đi.
Ngay cả trong xà lim chỉ nửa mét vuông.
Nắng mỗi lúc một đỏ chát và mặt trời nghiệt ngã dường như thu nhiếp tất cả sức mạnh tột đỉnh của mình, chỉ để hành hạ một con người đơn độc yếu ớt. Cái xác được sức nóng hà hơi càng lúc càng phồng căng như một cái bong bóng của cá ươn. Nó phơi cái mặt vàng ệch với hai con mắt ốc nhồi như muốn rớt ra ngoài, cái mũi đầy lông và cặp môi vểnh cong không che nổi cái miệng đang xì hơi thúi hoắc. Nó nằm ngửa trên lưng anh, phơi cái bụng to kềnh như một thằng trọc phú đang đùa giỡn với lũ gia nhân.
Nó là ai vậy cà? Nó từ đâu tới, sao bỗng dưng nhảy xổ trên lưng tôi. Sao bắt tôi phải làm phu đòn để đưa tới huyệt. Sao chết rồi mà vẫn còn muốn dạo chơi vào nơi quỷ quái này? Là đàn ông hay đàn bà, là già hay trẻ, giàu hay nghèo, quyền quan cỡ bự hay không cửa không nhà, cùng một quê hương nghèo đói hay xứ lạ giàu sang, là bậc trí giả hay kẻ tiện nhân?
Anh mơ hồ nhớ lại những cơn sóng ngầm đã không ngớt lay động đời anh, nhớ tới cái đêm hãi hùng khi thức dậy thấy mình bị buộc chặt với một cái xác không phải của một tù nhân vừa bị giết đêm qua, mà cũ xì, mốc thếch, hôi hám khiến anh có cảm giác như mình đang bị chôn sống trong huyệt mộ hay một lăng tẩm nào đó vừa mới khai quật.
Trong cái nhà ngục chật hẹp bằng đá, lớn không hơn một chiếc chiếu, đã không còn những mặt người đầy sẹo, những con mắt sắc lạnh, những bàn tay thép nguội, không còn những tiếng cười man rợ, những tiếng quát tháo âm ào, không còn những khảo tra man dã thời trung cổ, không còn những lục vấn về nguồn gốc cha ông, không còn truy đuổi bè đảng này hay bầy đàn nọ. Chỉ còn một mình anh với cái xác được buột chặt trên lưng, như một quái thai là một cặp song sinh dính liền nhau ở lưng, mà một đứa thì đã chết từ lâu trong tử cung, đứa còn sống phải một mình mang tới bờ huyệt.
Anh đã bật dậy với tất cả sức mạnh của một người trai trẻ và một nỗi căm giận tràn đầy. Anh quay mấy vòng, cố hất tung cái xác trên lưng, nhưng với bao nhiêu là thừng là xích, cái xác vẫn đeo cứng trên anh như một cái bướu khốn nạn. Anh gào lên, hãy bỏ cái xác này ra, hãy băm vằm bắn giết gì tôi cũng được, nhưng đừng bắt tôi phải sống với nó. Trời hỡi, làm sao có thể sống được với một xác chết mục rữa!
Anh đã thức suốt phần đêm còn lại để suy đoán cái xác là của ai. Anh cầm cái bàn tay đang chìa ra không phải để bắt tay chào đón mà để thử đoán xem là của một người nào. Cái bàn tay không còn thiết tha gì đến phép xã giao, không còn chút sinh khí đó làm anh giật mình.
Mặc dù nắng nóng, anh vẫn cảm giác như đang chạm vào tử khí lạnh lẽo. Một nỗi hãi sợ truyền kiếp chạy suốt dọc sống lưng anh. Có một điều gì đó bi phẩn như vừa mở ra một cánh cửa tuyệt vọng. Anh biết chắc đây là bàn tay của một người đàn ông vì những ngón tay thô và ngắn nung núc như củ khoai. Bàn tay của một người nông dân hay của một người thợ, thì anh chưa biết và cũng không muốn biết. Nhưng không hiểu sao anh lại nghĩ đây là bàn tay của kẻ đã từng giết người, không chỉ một người mà nhiều người. Có thể bóp cổ, có thể siết cò, cũng có thể chỉ một cái phẩy tay ra lệnh là có hàng trăm kẻ đầu rơi máu chảy. Cái ý nghĩ ấy làm anh buồn nôn và tức giận. Anh, kẻ yêu đồng loại còn hơn chính bản thân mình, giờ đây phải kề vai sát cánh với một tên giết người, quả là điều ô nhục.
Vẫn chưa hết những điều lạ lùng khi cánh cửa ngục được mở ra, anh lại bị nhét vào một cái thùng sắt. Một đoàn người ngựa đưa anh ra khỏi những ruộng đồng phố quận, đến những miền hoang vắng không dấu chân người. Suốt một ngày dài, anh bị nhồi xóc trong chiếc hôp tối đen tưởng chừng như đang đi vào địa phủ. Rồi họ đốt đuốc đưa anh qua một đường hầm sâu hút dài thăm thẳm, sâu và dài như xuyên vào ruột đêm. Họ bố thí cho anh một ít nước, một ít bánh và diễu cợt cho anh thêm cây gậy.
Và như thế, người ta đâu có muốn anh chết không kịp ngáp như cha anh đã từng lãnh một đai cuốc sau gáy. Họ muốn hành hình anh mà không phải tốn một chút công sức nào. Cái xác trên lưng anh sẽ thay họ nhục mạ anh, nguyền rủa anh, khiến anh sống dở chết dở, vừa vâng phục nó vừa hèn hạ kêu xin. Cay độc hơn nữa, họ muốn tâm hồn anh vật vã, lụn bại trước khi xác thân mục rã.
Anh dừng lại, nhìn bốn hướng và nhận ra cái miệng hang xa tít đen ngòm mà bọn họ đã đưa anh vào. Đấy là con đường ra, là cái cuốn rốn chưa lìa nối với chùm nhau xã hội bên ngoài. Biết rằng không cách gì thoát ra được, nhưng anh vẫn cảm thấy một niềm yêu sống mạnh mẽ. Anh quyêt phải đi tới đó. Phải đi cho dù không bao giờ tới. Phải đi cho dù cái xác nhọc nhằn cứ muốn lôi anh nằm xuống.
Trưa.
Ở đây lúc nào chẳng là buổi trưa, anh cảm giác núi non nghiêng ngửa vì uống nắng say khật khừ. Anh cũng say, cũng thấy mình cuồng quay điên đảo. Anh gục xuống, tưởng chừng mình đang biến thành hơi và bay lờ đờ trong nắng đỏ. Nhưng mặt đất bỏng rát làm cho anh tỉnh lại. Anh cố gượng dậy. Anh cầm bầu nước nhấp một chút cho ướt môi, mặc dù anh muốn ngửa cổ nốc một hơi dài. Anh phải dè sẻn cho tới giọt nước cuối cùng. Anh đi lảo đảo. Cái xác trên lưng anh như muốn sôi lên. Độ căng phồng của nó đã đến lúc sắp vỡ ra. Phải chi là một người tù còn sống thì hắn và anh sẽ đổi vai cho nhau. Anh sẽ nói, tao mệt quá, mày thay tao cõng tao một lát. Anh sẽ nằm ngửa ra mà nhìn đất trời. Anh sẽ cười lớn, coi khinh hết thảy mọi sự. Anh sẽ thách đố mặt trời, xem ai có thể nhìn lâu mà không chớp mắt.
Nhưng con gì kia, phải chăng là một con dòi?!
Anh chợt rùng mính nghe lạnh tận tim óc. Một con dòi, tức là một sinh vật, với những hàng lông trắng như tóc bạc đang cố níu cánh tay anh để khỏi rơi xuống đất. Một con dòi như trong xác chết thối rữa của gà vịt, trong các hố xí công cộng, sao lại xuất hiện ở đây. Nó từ đâu ra nếu không phải từ thịt da đang tự hủy của cái xác trên lưng anh. Có nghĩa, nó sinh ra từ chính con người.
Mà sinh ra từ đâu?
Từ hai lá phổi khép mở như cánh quạt, từ trái tim nhún nhẩy phập phồng, hay từ óc não ngọt mềm như sữa đặc? Nó được sinh ra từ ruồi hay đã được sinh ra cùng lúc với hắn ta từ trong bụng mẹ?
Chưa bao giờ anh ngao ngán và tuyệt vọng như lúc này. Anh lắc tay cho con dòi rơi xuống đất, nhìn nó ngo ngoe chống chọi với cái nóng, cảm thấy nó chẳng khác gì mấy so với thân phận anh. Cũng được sinh ra không biết vì sao, rồi cũng chết mà chẳng biết vì lẽ gì. Nhìn cái cách nó cong mình lên đợi chết, anh thấy nó dẫu sao cũng còn may mắn hơn anh. Ít ra nó cũng không phải mang trên mình một con dòi thối rữa nào, và, điều này mới dễ chịu làm sao, nó chẳng cần tra vấn, hồi tưởng hay trông đợi điều gì ngoài cái chết đang đợi chờ nó trong chớp mắt.
Nhưng, có lẽ nào một con người với trái tim quý hơn mọi viên đá quý, với đầu óc chứa đầy tri thức, với môi miệng để hôn, để nói để cười, một con người được cho là tác phẩm hoàn mỹ nhất của tạo hóa, được sinh ra để thống lĩnh muôn loài, một con người chỉ thua thượng đế có mỗi cái chết, một con người như thế rốt cuộc cũng chỉ để sinh ra dòi sao? Không phải chỉ một con mà nhiều con, cả ngàn cả vạn nhung nhúc trong từng thớ thịt đường gân. Không phải chỉ một người mà nhiều người, tất cả những sinh vật thượng đẳng từ xưa tới nay và tới tận mai sau, đều sẽ sản sinh ra dòi.
Ở tôi, trong tôi, từ tôi cũng sẽ sinh ra dòi! Tôi, với thân thể đã từng tỏa mùi thơm nồng nàn làm ngất ngây một người con gái, tôi và trời ơi, cả nàng nữa sao, nàng với thân mình láng cuộn, với ngực và bụng thơm như hoa quỳnh, với môi miệng ngon ngọt hơn hết thảy mọi thứ ngon ngọt của trần gian, cái tấm thân xinh đẹp đáng quý nhường ấy, trời hỡi, rồi cũng sinh ra dòi sao!?
Người tử tù cảm thấy như chảy tuột tất cả mọi sinh lực. Anh đánh rơi mình xuống đất như một chiếc tháp cũ xưa ngã nhào trong cơn địa chấn. Mặt trời ý chí lặn xuống trong anh. Trên nền cao rỗng của lý trí đã bao lần rực sáng giờ chỉ còn hắt hiu chút phấn của hoàng hôn ngậm ngùi. Anh không thiết gì gậy, không thiết gì nước, không thiết gì bước đi, anh muốn được chết ngay, dễ dàng và vô vị như con dòi vừa chết. Chết như đầu hàng, như trốn chạy, như gì gì cũng được, miễn là chết. Chết và mặc kệ tuốt. Mặc kệ nắng, mặc kệ nóng, mặc kệ cái xác đang là hang ổ của dòi.
Và dòi, nếu các ngươi đã chật ứ thịt da ta thì cứ việc thức dậy đi. Các ngươi cứ hò reo đập phá cái thân thể tù ngục này mà mở hội cuồng say. Ta mỏi rụi cả rồi.
Ta đuối sức và thua cuộc.

KHUẤT ĐẨU

PHÙ VÂN MỘT ĐÓA

tranvanle

Tại sao Ngô Phù Sai yêu Tây Thi đến vậy?
– Rắc hoa vàng sau mỗi bước giai nhân!
Trong kim cổ dễ chi tìm được thấy
Một người như em để ta bâng khuâng…
Em không phải Tây Thi, em không phải Đông Thi, em là trái tim ta nằm giữa ngực
Ta nâng niu em ta muốn nói ân cần:
Không có em ta không có hơi thở
Nhưng đầu trời cuối đất mênh mông
Ta ôm em vào lòng Phù Vân một đóa!

Trong buổi chiều sương nắng tỏa ngập ngừng
Xin cảm ơn em đã dìu ta vào con đường tình sử
Hai đứa mình hai người dưng
Bởi vậy đó mà đem lòng thương nhớ!

Trần Vấn Lệ

TREO ĐẦY TIẾNG CHIM

levanhieu

Vài cụm hoa kịp nở
Để đi vào hoàng hôn

Vầng Trăng kia kịp khuyết
Để mốt mai đón rằm

Đôi mắt nào xa xăm
Như đã là hội ngộ

Ta kịp làm sợi gió
Thổi vờn lên tóc mây

Hồn vừa ngấm men say
Ta kịp thương kịp nhớ

Cây trĩu oằn những quả
Kịp treo đầy tiếng chim .

Lê Văn Hiếu

Đen hơn bóng tối

nguyentri

Sáng nào cũng thế. Sau lễ Misa là bốn mái đầu muối tiêu ghé quán cóc làm ly đen. Nhìn bốn lão là thấy một trời trí thức. Mục kỉnh trên mắt và anh nào cũng chúi mũi vào, không báo thì cuốn sách dầy cộp. Chủ quán khoái lắm bởi họ là linh hồn của quán. Không có họ dân chơi xứ ruộng không thèm ghé thứ quán cóc keng năm nghìn một ly đen nóng.
– Nầy – một tóc muối tiêu lên tiếng – hôm nay mời mấy ông đi phở bò Lý Quốc Sư với tôi nhé.
– Có gì vui mà đãi thế bạn già? Mà tôi thấy chớ nên vô cái thằng Lý giả hiệu đó. Thua cái xe bình dân của bà Bẩy Phở xa lắc.
– Nhưng bà Bẩy thì nóng quá ông ạ. Biết giả hiệu nhưng mà dù sao cũng có cái quạt hơi nước. Thời tiết nầy ăn tô phở mà mồ hôi chảy ròng ròng thì có ngon cũng vô vị
– Ừ thì lý quốc. Nhưng ông vô cái gì mà đãi thế? Đô la con gái gửi về à?
– Hơn cả đô la, hơn cả trúng độc đắc ông ạ. Tôi vừa hút cái chết.
– Ghê thế?
– Mấy ông biết không? Hôm trước tôi đi nghĩa trang giáo xứ đọc kinh cho bà chị. Đạp trúng một kim tiêm đầy máu. Sợ quá, tôi lên trung tâm y tế dự phòng xin xét nghiệm. Mấy ngày nay tôi đọc có cả nghìn thời kinh cầu cho bình an. May quá, hôm qua cầm kết quả xét nghiệm. Không bị hát có ết tôi như sống lại lần nữa các ông ạ.
– Ôi dào…Ông nói tôi mới nhớ. Đừng nói chi nghĩa trang. Ngay cả khu công viên cây xanh của thị trấn cũng đầy kim tiêm ông ạ.
Một tóc bạc khác góp chuyện:
– Đời sống bây giờ tăm tối quá. Tôi nhớ những năm mới thống nhất, tuy kinh tế có khó nhưng không có cái nhìn đâu cũng ra hiểm nguy như hôm nay. Ngoài đường thì bầy trẻ chạy xe như ăn cướp, trong nhà thì con giết cha, vợ đốt chồng… cầm tờ báo là thấy toàn cướp của giết người, lừa đảo. Thậm chí người tu hành cũng uống rượu ăn thịt chó ôm gái ngay trong nơi thờ phượng.
Một khách trẻ trong quán ý kiến:
– Mấy bác cho con góp một ý. Chuyện nhà ông Đa còn bi bội phần.
– Ừ – tóc bạc thứ tư nói – Tôi thấy ông Đa chả còn gì bi hơn.
– Ông ấy ra sao rồi?
– Dạo nầy khốn đốn vì thằng con hư hỏng lắm.
– Vẫn cứ đường cũ mà đi à? Mà tôi thấy chừng như ông ấy cũng quen rồi với những bất hạnh mà thằng khốn đổ lên đầu cha mẹ. Tôi thấy ông ấy đã biết chấp nhận khi sống chung với lũ. Đâu chừng tháng trước gặp tôi ông Đa còn hả hả cười nữa kìa.
– Bây giờ thì không như vậy. Bi và tối lắm các ông ạ.
***
Một khách trong quán nói:
– Chỉ khi nào thằng Vũ chết đi thì may ra ông Đa sáng lên một tí.
– Bây giờ nó có chết thì vẫn cứ tối tăm thôi.
– Còn chuyện gì thằng khốn mang về cho ông ấy nữa vậy?
– Lúc thằng Vũ bị bắt vì tội tổ chức sử dụng chất cấm tôi nghĩ rằng ông Đa thoát hiểm rồi. Ai ngờ không đủ chứng cứ để tống ông con đi tù nên công an phải thả.
– Sao không tống nó vào trung tâm cai?
– Ông làm như dễ lắm. Phải test máu. Phải cũng cố hồ sơ, đến đợt mới đưa đi tập trung, đâu phải muốn đưa đi lúc nào cũng được. Kinh phí ở đâu để chỉ đưa một thằng đi cai? Ông Đa bây giờ còn có cái gì để đưa đi tự nguyện? Mấy ông thấy đó, ba lần cai hết sáu năm, thêm một năm tù mà nó vẫn cứ ngựa quen đường cũ. Ma tuý đã dính vào là xem như bỏ. Một nghìn thằng may ra được một.
– Nhưng bây giờ thì làm sao rồi?
– Sau khi được thả thằng Vũ dẫn về nhà một đứa con gái buộc ông Đa nhận làm con dâu. Nhưng mấy ông và mấy cháu biết con nhỏ đó là đứa nào không?
– Đứa nào vậy chú?
– Con vợ thằng Thành, dâu ông Thạch bán vé số.
– Trời đất ơi!
Thiên hạ xứ nầy ai cũng biết ông Thạch vé số. Ông nầy chả hiểu vì sao mà chỉ một cu Thành là con, nghe đâu khó quá nên cô vợ quăng con lại và biến mất. Mười sáu tuổi Thành ham vui nên đòi lấy vợ. Cả xóm bu lại khuyên chớ có nên, một là dưới vị thành niên không thể đăng ký kết hôn, hai là, ông Thạch người thiên chúa giáo, chả có vị linh mục nào làm bí tích hôn phối cho đâu. Nhưng thằng Thành con một được nuông từ nhỏ. Nó quyết theo kiểu con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó. Ông Thạch bỏ tiền ra hỏi cưới. Xe hoa đưa về một cô dâu hơn Thành ba tuổi. Nhỏ nầy dân chơi hết phép. Nó ở được hai tháng là dông tuốt. Hỏi sao bỏ chồng nó nói:
– Ông già lựu đạn khó quá. Tui hồi nhỏ giờ đâu biết nấu ăn. Kho nồi thịt bị cháy mà ổng chửi tui hư. Nghe thằng Thành nói nhà nó ngon ai ngờ dân vé số dạo, tui xù.
Vậy là Thành qua một đời. Đến năm mười chín nó dẫn về một con mặt xinh như diễn viên điện ảnh. Vòng một vòng ba trông cũng bắt mắt chỉ có cái vòng hai quá khổ vì bầu. Lại đồn rằng nhỏ tên Nhí nầy trước yêu đương với một anh tên Lộc. Lộc thấy đẹp thì qua đường tí thôi chứ chịu trách nhiệm cái em đang mang thì không có tên anh, anh nói đâu phải mình tao là người yêu của nó. Thành đưa đầu ra chịu là nó yêu Nhí thiệt, tin trăm phần trăm cái trong bụng ẻm là con mình. Ông Thạch dân vé số dạo nên nghe cũng tràn hai lỗ tai, nhưng biết làm sao khi con mình thương. Chừng con Nhí lâm bồn ra một trai cũng tai mắt mũi họng chim cò tốt như bất kỳ thằng liền ông nào là ông Thạch mê ngay. Ông nâng thằng cu như nâng trứng ẳm đi khắp xóm khoe cháu nội, nhưng bà con cô bác xì xầm rằng nhìn thằng nhỏ là ra cái mặt thằng Lộc. Thiệt là hết biết.
Tò mò Lộc cũng đến thằng bạn Thành xem hư thực. Chả biết nó xem cái gì mà một hôm kia thằng Thành quả tang Lộc và Nhí trong nhà nghỉ Nhị Kiều. Đúng là tình cũ không rủ cũng tới. Mà cũng thông cảm cho. Đã nói Nhí đẹp như diễn viên. Đẻ xong cô đẫy ra và mơn mởn người phàm ai chả động? Lòng đầy cay đắng Thành dẫn vợ về. Nhưng cái nết vụng trộm Nhí không bỏ được. Thành buộc phải trả cô về nguyên quán, dù lúc về bụng cô đã vượt mặt. Thành không tin cái bụng ấy là con mình. Lộc cũng không. Nhưng bên ngoại Nhí thì tin cháu ruột họ trăm phần trăm. Bà má goá chồng và mấy bà dì ế ẩm sẵn sàng cứ đẻ tao nuôi.
Tù về Vũ gặp Nhí trong một Karaôkê. Mầy thằng xì ke tù tội miệng mồm ghê gớm lắm. Không ghê dễ gì chúng lừa cha dối mẹ tạo niềm tin với xóm giềng để kiếm tiền. Vợ Vũ quăng hai đứa con một trai một gái cho vợ chồng ông Đa rồi ôm cầm theo thuyền khác khi Vũ đi cai nghiện lần thứ hai. Cũng đúng thôi. Chả có con ma nào ngu mà đi chờ đợi một thằng lấy ma tuý làm mạch sống. Ông Đa vừa chăm cháu vừa thăm nuôi thằng con hư hỏng thiếu điều sói trán, cũng mong nó về mà làm lại đời. Ai ngờ mới về được một tháng thằng Vũ cùng đồng bọn tham gia trộm xe, lại tù thêm một năm. Hai mươi bảy tuổi mà có thành tích bảy năm ở trại. Thiên hạ mới bình rằng:
– Gặp con tao, tao cho một búa chết cho rồi.
– Rồi mày đi tù hả?
– Tù cũng được. Phá quá chịu sao xiết?
– Mày có nghe câu nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại không? Mày người ngoài nên nói vậy thôi, có lâm cảnh mới biết. Con dại thì cái mang, chồng hoang vợ phải chịu. Ông bà dạy vậy.
Chả biết cặp Vũ Nhí yêu nhau đến cỡ nào mà Vũ dẫn Nhí về nhà. Nhí cũng giới thiệu với ba quân trong giới bụi rằng Vũ là chồng.
– Rồi ông Đa phản ứng ra sao?
– Dữ dội lắm. Ông Đa và già Thạch vé số là bạn. Ông ta mặt mủi nào cho con nhỏ hư hỏng đó vào nhà? Mấy ông nghĩ coi. Thằng Vũ quăng hai đứa con cho ông bà Đa. Con Nhí một đứa cho già Thạch, một đứa cho má nó. Tệ hại như vậy thánh thần còn không dung nói chi ông Đa.
– Ông ấy bảo sao?
– Ông Đa nói với thằng Vũ rằng mày muốn lấy ai đó kệ mày. Nhưng đừng dẫn bất kỳ ai về nhà của tao. Thằng khốn liền đưa con kia đi thuê phòng trọ.
– Vậy thì kệ chúng nó. Có chi mà tăm tối với tối tăm?
– Ông có biết vì sao mà thằng Thành buộc phải bỏ con Nhí và má con nhỏ chấp nhận nuôi cháu và mặc kệ con ruột ra sao thì ra không?
– Không?
– Con Nhí khi tư thông với thằng Lộc đã bị thằng nầy cho hít đá. Nó mê đắm vô cái chất gây nghiện nầy nên…
– Bà mẹ nó – một thằng trẻ kêu lên –. Nhưng mà bọn nầy ráp vô vui chơi có thưởng chứ có chi mà tối hả chú?
– Tối ở chỗ là con Nhí đang vun cái bụng lên mày ạ.
Cả quán cóc lại tiếp tục ồ lên. Lần nầy thì kinh dị thật sự. Bàn tán một lúc rồi ai đó cất giọng:
– Nhưng chắc gì con thằng Vũ. Con Nhí vẫn gặp thằng Lộc kia mà?
– Thằng Lộc bị tập trung cai nghiện sáu tháng rồi con ơi. Con Nhí bá vô thằng Vũ mới ba tháng nay. Vậy cái bầu là của ai chắc mày rõ?
– Vậy đẻ ra thì chúng nó phải nuôi.
– Nuôi hay không không biết. Nhưng trước mắt chúng nó đã quăng con chúng cho ông bà nội ngoại. Hôm qua tao gặp ông Đa. Nghe ông ấy than thở mà tao muốn sa nước mắt.
Ông Đa nói với bạn thân rằng e là đẻ ra chúng sẽ quăng cho ông nội. Con Nhí và thằng Vũ đã không ngó đến những đứa con chúng đã sanh thì bây giờ có vất thêm cũng không có chi lạ. Hãy hình dung một đêm nào đó trước cửa nhà ông có tiếng trẻ con khóc, mở cửa ra thì một hài nhi không cha mẹ, và chắc chắc rằng đó là cháu mình ông Đa sẽ làm sao?
Ông Đa kể cho bạn già nghe chuyện một cầu thủ lừng danh của Manu hồi thập niên chín mươi của kỷ hai mươi tên Dright Yorke. Cầu thủ nầy cặp kè với một người mẫu cũng lừng danh. Cả hai đều nghiện rượu. Chỉ rượu thôi mà khi ra đời đứa con của họ đã bị mù bẩm sinh. Vậy một đứa bé mà cả cha và mẹ nghiện ma tuý sẽ ra sao?
Ra sao hỡi bóng tối?
Nguyễn Trí

Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh

phamtinanninh

Ngày đầu tháng 3/2015, trong không khí ảm đạm của cơn mưa xuân, đông đảo những người lính già, đủ mọi quân binh chủng, có mặt tại nhà quàn nghĩa trang Peek Family trong thành phố Westminster (California), để chào tiễn biệt vị niên trưởng- vị chỉ huy trưởng – vị Tư Lệnh – ngày trước. Nổi lên giữa màu đen tang lễ, là những bộ quân phục trắng với bê rê đỏ của Thiếu Sinh Quân, worsted màu vàng trang trọng của những SVSQ Trường VBQGVN và những Kỵ Binh Thiết Giáp với mũ nồi đen.
Bên quan tài, cũng có lá cờ Tướng với một sao trắng trên nền đỏ, đứng hai bên không phải là những sĩ quan đồng cấp mà hầu hết là những niên đệ, đàn em, uy nghiêm trong thế thao diễn nghỉ. Một buổi lễ phủ kỳ khá trang trọng, dù không đủ lễ nghi quân cách, không có ban quân nhạc với tiếng kèn khai quân hiệu thuở nào, nhưng đủ để thể hiện được lòng kính trọng đối với một vị tướng đã có nhiều công trạng với đất nước.
Tang lễ của cựu Tướng Lý Tòng Bá, người đã chọn binh nghiệp từ thời niên thiếu ở trường Thiếu Sinh Quân, tốt nghiệp thủ khoa từ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này trở thành Chỉ HuyTrưởng Thiết Giáp Binh và cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn Bộ Binh, mà có thời được nhiều người biết đến với danh hiệu “Người hùng Kontum” khi ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB, đánh thắng các sư đoàn nổi tiếng của Cộng quân, giữ vững thành phố Kontum, địa đầu Tây Nguyên trong suốt “Mùa Hè Đỏ Lửa”1972.
Đến trước linh cửu, đứng nghiêm đưa tay lên chào ông lần cuối, ngoài danh nghĩa là một người lính, tôi còn là một thuộc cấp của ông tại Sư Đoàn này. Đã có mặt tại chiến trường Kontum trong suốt trận chiến, và thường có cơ hội gặp ông. Cả những lúc bị ông la rầy hay được ông khen thưởng.
Cũng như tôi, có lẽ những người lính có mặt trong tang lễ hôm nay, chào kính và tiễn biệt ông, trong cái tình “huynh đệ”, với lòng kính trọng dành cho một người anh, một ông thầy khả kính hơn là một thuộc cấp đối với một ông tướng. Bởi cái khoảng cách “quân giai” ấy trên thực tế đã không còn tồn tại. Có thể có một số không mấy đồng tình với ông về đôi điều ông làm, ông tuyên bố, hay đứng chung với nhân vật này nhân vật khác trong vài tổ chức sau ngày ông sang Mỹ, hay một vài tấm ảnh do Cộng sản giàn dựng, nhằm tuyên truyền bôi nhọ ông, nhưng chắc chắn tất cả đều kính trọng ông từng là một tướng lãnh VNCH, đã ghi nhiều chiến công trong cuộc chiến chống Cộng sản bảo vệ miền Nam Việt Nam. Nhiều người còn dành cho ông sự thương cảm, bởi ông là vị tướng không bỏ rơi thuộc cấp, chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, bị địch quân bắt sống ngay trước giờ thứ 25 cuộc chiến, bị tù đày nghiệt ngã đến 13 năm, và nằm xuống khi không còn chút uy quyền hay ân sủng nào của quân đội hay quốc gia.
Trong cái không khí trang trọng thấm đẫm tình huynh đệ ấy, tự dưng tôi thấy lòng xúc động lẫn chút ngậm ngùi, khi liên tưởng tới sự ra đi và tang lễ của một vị Tướng Tư Lệnh khác, có nhiều điều giống ông, chỉ khác là vị tướng kia đã chết tại chiến trường khi miền Nam còn có quân lực và chính quyền. Và tang lễ của ông tất nhiên được tổ chức rất uy nghi trang trọng, với đầy đủ lễ nghi dành cho một tướng lãnh. Điều đặc biệt hơn, phu nhân của ông, nguyên là một nữ sĩ quan trong binh chủng Nhảy Dù, đã chết cùng ông, nên tang lễ đã được cử hành chung.
Trong hơn mười năm cuối cùng của miền Nam, cũng là thời gian tôi phục vụ tại Sư Đoàn 23BB, có hai vị Tư Lệnh nổi danh, đã tạo nên hai chiến thắng lẫy lừng: Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Đó là Tướng Trương Quang Ân và Tướng Lý Tòng Bá. Hai vị có nhiều điểm giống nhau trong lúc khởi đầu, nhưng kết thúc khác nhau ở cuối cuộc đời binh nghiệp.
Cả hai đều xuất thân từ nhữngThiếu Sinh Quân ưu tú và sau đó là Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Một trùng hợp đặc biệt lý thú khác, cả hai vị đều tốt nghiệp thủ khoa. Tướng Trương Quang Ân tốt nghiệp thủ khoa Khóa 7 (Ngô Quyền) và Tướng Lý Tòng Bá thủ khoa Khóa 6 (Đinh Bộ Lĩnh).
TướngTrương Quang Ân chọn binh chủng Nhảy Dù, ông đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong học tập, chỉ huy và chiến trận. Ngoài vị trí thủ khoa từ trường VBLQĐL, ông còn đậu thủ khoa tất cả các khóa tham mưu mà ông theo học, trong nước cũng như quốc tế, (đặc biệt đầu năm 1965, thủ khoa Khóa Chỉ Huy &Tham Mưu Cao Cấp tại trường Fort Leavenworth, Kansas – Hoa Kỳ, mà khóa sinh hầu hết là sĩ quan từ các quốc gia đồng minh, kể cả Mỹ). Ông đã tạo nhiều chiến công hiển hách từ khi còn nắm giữ các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng (TĐ8), Chiến Đoàn Trưởng (CĐ2) Nhảy Dù. Với những thành tích ấy, ông đã vượt qua người niên trưởng Thủ Khoa Khóa 6 cũng rất tài ba, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB vào ngày 24/11/1966 và được thăng cấp đặc cách Chuẩn Tướng vào ngày 19/6/1968, trước niên trưởng Lý Tòng Bá của mình đúng bốn năm.

Trong trận Mậu Thân, vào khoảng 1 giờ 30 sáng ngày mồng một Tết, Cộng quân bất ngờ tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột ( nơi đặt bản doanh BTL/SĐ23BB), với toàn bộ Trung Đoàn 33 được tăng cường 2 Tiểu Đoàn 301 và 401 cơ động tỉnh cùng 4 đại đội địa phương. Địch quân đã xâm nhập vào một số khu vực hành chánh và trại gia binh. Tư lệnh Sư Đoàn Trương Quang Ân điều động hai Tiểu Đoàn 1, 2 và Đại Đội Trinh Sát của Trung Đoàn 45 đang hành quân bên ngoài, bất thần đánh từ sau lưng địch và làm vòng đai bao vây. Ông cũng trực tiếp điều động hai chi đoàn của Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh phản công từ bên trong, tạo địch quân trong thế gọng kềm. Lực lượng địch bị chia cắt và tiêu diệt gần như toàn bộ. Xe của ông bị bắn cháy phía sau, nhưng ông rất bình tĩnh và can đảm, nhảy xuống xe thoát nạn, tiếp tục điều quân và tạo nên chiến thắng vẻ vang. Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích của địch bị đánh tan tác, để lại 924 xác trên trận địa và 143 bị bắt sống.
Cũng trong thời điểm ấy, tại Bình Thuận, một tỉnh cũng nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Khu 23 Chiến Thuật mà ông kiêm nhiệm Tư lệnh, Trung Đoàn 44 BB đang hành quân tại khu Vĩnh Hảo, Tuy Phong, cách thị xã Phan Thiết hơn 100 cây số, nhận lệnh trực tiếp từ Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II, di chuyển khẩn cấp vào giải vây thành phố Phan Thiết, bị Cộng quân tấn công và đã xâm nhập một số cơ sở. Trung Đoàn 44 và Chi Đoàn 4/8 TK tăng phái đã chiến đấu rất dũng cảm trong một vị thế cam go, bất lợi, cuối cùng đã đánh bật các đơn vị Cộng quân ra khỏi thành phố. Sau đó Tiểu Đoàn 3/44 và Chi Đoàn 4/8 TK được một đại đội bộ binh tùng thiết, chia làm 2 cánh truy kích và tiêu diệt một số lớn địch quân trên đường rút lui, tháo chạy. Giao các vùng tái chiểm lại cho TK Bình Thuận, BCH/Trung Đoàn 44 di chuyển về Trinh Tường, ngoại ô thành phố, chuẩn bị trở về vùng hành quân cũ.
Nhưng ba tuần sau, Cộng quân lại điều động một số lực lượng khác từ các tỉnh Bình Tuy, Ninh Thuận, tấn công đợt thứ nhì vào thành phố Phan Thiết. Lần này, chúng tung các toán đặc công tinh nhuệ đánh thẳng vào tòa tỉnh và chiếm lao xá bằng mọi giá, nhằm giải thoát những tù binh CS bị giam giữ, mặc dù trước đó Tiểu Khu Bình Thuận đã nhanh chóng chuyển số tù binh nguy hiểm đến một địa điểm an toàn khác.
Trong tình hình nguy ngập, vị Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, Trung Tá Nguyễn Khắc Tuân, vì một lý do nào đó bay lên BTL Quân Đoàn (Pleiku) chưa về kịp. Chỉ có Thiếu Tá Trần Văn Chà, Tiểu Khu Phó (nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/45) có mặt tại Tiểu Khu. Tướng Trương Quang Ân (khi ấy còn Đại Tá) vừa tạm xong trận chiến Ban Mê Thuột, liền bay xuống Phan Thiết. Khi biết vị Tỉnh Trưởng /Tiểu Khu Trưởng không có mặt, ông tuyên bố tạm thời kiêm nhiệm chức vụ Tiểu Khu Trưởng Bình Thuận kể từ giờ phút ấy, và tức khắc trực tiếp chỉ huy cuộc phản công. Đích thân ông đã ban kế hoạch, điều quân, và hướng dẫn một đại đội của Tiều Đoàn 3/44, chia từng toán nhỏ, trang bị nhiều lựu đạn tấn công và hơi cay, đánh từ nhiều hướng vào khu vực lao xá (nằm không xa tòa tinh) do sơ hở của một đơn vị bố phòng thuộc TK/ Bình Thuận, bị Cộng quân xâm nhập, thả một số tù binh.
Một trận chiến thật cam go, nhưng dưới sự điều động trực tiếp của ông, chỉ hơn 2 tiếng đồng hồ sau, quân ta đã đánh bật Cộng quân ra ngoài và tiêu diệt toàn bộ các toán đặc công cố thủ trong bờ thành lao xá. Cùng lúc ấy, Tiểu Đoàn 3/44 của Thiếu Tá Mai Lang Luông cũng đánh đuổi địch quân ra khỏi khu vực trường Thánh Tâm, lực lượng Cảnh sát phòng thủ mặt hướng Đông, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hồ Đức Nhị, một vị trưởng ty gan dạ và mưu lược, cũng đánh bật lực lượng địch cuối cùng ra khỏi vòng đai thành phố. Tiểu Đoàn 4/44 của Thiếu Tá Vũ Công Khanh truy kích tiêu diệt những tên địch cuối cùng trên đường tháo chạy. Ngay sau khi trận chiến vừa kết thúc, Tư Lệnh Trương Quang Ân, đã quyết định thăng cấp tại mặt trận và gắn lon trung tá cho Thiếu Tá Võ Khâm, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44BB, một người cùng khóa 7 Võ Bị với ông.
Với tài năng lãnh đạo, chỉ huy và tạo nên các chiến thắng lẫy lừng, ông được thăng cấp đặc cách lên Chuẩn tướng vào ngày Quân Lực 19.6.68.

Th.tướng-Trương-Quang-Ân
(Tướng Trương Quang Ân)

Ngày 8.9.1968, ông cùng phu nhân bay lên Quảng Đức để thăm viếng và ủy lạo binh sĩ. Lúc 10 giờ 30 sáng, sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập, chiếc trực thăng H-34 chở vợ chồng ông và tùy tùng bị rớt. Ông bà đã hy sinh cùng với Đại tá Cố Vấn Trưởng, hai phi công và các sĩ quan Việt- Mỹ tháp tùng.
Ông nổi tiêng là một vị tướng nghiêm khắc, nhưng rất cương trực, thanh liêm. Khi ông và phu nhân hy sinh, ngôi nhà nhỏ của ông bà trong cư xá Lê Đại Hành, chỉ vừa đủ chỗ cho 2 chiếc quan tài, và theo báo chí, trong sổ tiết kiệm vỏn vẹn có 50.000 đồng.
Sáng ngày 10/9/1968, tang lễ của ông và phu nhân được cử hành vô cùng trọng thể, với sự hiện diện đông đủ của các cấp lãnh đạo chính quyền và quân đội: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ, Thủ Tướng Trần Văn Hương, Đại Tướng Cao Văn Viên, Đại Tướng Creigton W. Abrams, Tổng Tư Lênh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, các vị Chủ Tịch Thượng và Hạ Viện, cùng rất nhiều tổng, bộ trưởng và tướng lãnh. Ông được truy thăng Thiếu Tướng và truy tặng Đệ Tam Đẳng BQHC kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Phu nhân ông cũng được truy tặng Đệ Ngũ Đẳng BQHC. Luân phiên túc trực hai bên quan tài của ông là các vị thiếu tướng, chuẩn tướng và đại tá, hai bên quan tài của bà là những sĩ quan nữ quân nhân. Đám tang được dẫn đầu bởi hai toán dàn chào danh dự của binh chủng Nhảy Dù, đứng trên xe trong tư thế bắt súng chào, đông đảo đại diện các quân binh chủng và nhiều tướng lãnh tháp tùng. Dù phải di chuyển dưới cơn mưa tầm tã, đám tang vẫn giữ sự uy nghiêm và đúng lễ nghi quân cách. Ông bà được an táng tại Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi, Sài gòn (khi ấy chưa có Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa)
Cuối tháng 1 năm 1972, Đại Tá Lý Tòng Bá về nắm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB, thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh. Tướng Cảnh là người ở Sư Đoàn khá lâu và đóng góp nhiều chiến công cho đại đơn vị này. Từ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 45, và sau đó là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, ông đã được đề bạt vào chức vụ Tư Lệnh thay thế Tướng Trương Quang Ân tử nạn.
Khi Đại Tá Lý Tòng Bá về Sư Đoàn, nhiều nguồn dư luận đã làm một số sĩ quan mất thiện cảm nơi ông. Nhiều người nghĩ rằng ông là “người”của John Paul Vann, một người dân sự (trung tá đã giải ngũ) nhưng lại làm Cố Vấn Trưởng cho Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II/QK2. Ông ta có tài, gan dạ, liều lĩnh, nhưng bản tánh nóng nảy bốc đồng và khá kênh kiệu, nhiều người không thích. Báo chí gọi ông là “phù thủy mắt xanh”, và cho biết là ông đã đề nghị (sau đó là áp lực) Trung Tướng Ngô Dzu,Tư lệnh Quân Đoàn, phải thay thế hai vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Đồng thời đề bạt Đại Tá Lê Minh Đảo thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh trong chức vụ TL/SĐ23BB và Đại Tá Lý Tòng Bá thay thế Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển, trong chức vụ TL/SĐ22BB. Riêng Đại Tá Lý Tòng Bá còn được báo chí cho biết là em bà con với người vợ Việt Nam của John Paul Vann. Điều này đã xôn xao trên báo chí và gây khó khăn không ít cho Tướng Ngô Dzu. Cuối cùng, với sự đồng tình của TT Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Ngô Dzu đã chấp nhận thay thế hai vị Tư Lệnh Sư Đoàn, nhưng chỉ có Đại Tá Lý Tòng Bá nhận Sư Đoàn 23BB. Riêng Sư Đoàn 22BB, Đại Tá Lê Đức Đạt, Tư lệnh Phó lên thay tướng Triển. Đại Tá Đạt là niên trưởng (Khóa 5 – Hoàng Diệu) của Tướng Bá từ trường Võ Bị và cùng Khóa Cao Cấp Thiết Giáp tại trường Saumur, Pháp năm 1955). Tướng Bá cũng đã từng làm việc dưới quyền (cấp phó) của Đại Tá Lê Đức Đạt khi hai ông còn ở Trung Đoàn 2 TG và TTHL Cơ Giới Bảo An/ Vũng Tàu. Vì lý do tế nhị này, nên ông cũng không muốn nhận Sư Đoàn 22BB, khi Đại Tá Đạt đang là Tư Lệnh Phó.
Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 24/4/72, chỉ gần hai tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh, Đại Tá Đạt hy sinh tại chiến trường Tân Cảnh, khi BTL/SĐ22BB bị đại quân CS tràn ngập bằng chiến xa T-54 và đặc công sau những trận địa pháo nặng nề và sử dụng hỏa tiễn Sagger AT-3 để làm tê liệt các chiến xa và sức chiến đấu của lực lượng trú phòng. Dư luận trong đơn vị cũng như báo chí cho rằng Đại Tá Đạt bị John Paul Vann ganh ghét và không yểm trợ B-52 cho Sư Đoàn 22BB, khi luôn tìm cách bác bỏ tin tức có sự xuất hiện chiến xa địch do BTL/SĐ22BB báo cáo lên Quân Đoàn, nên đã mang đến sự thất bại nặng nề cùng cái chết oan khuất của vị tư lệnh.
Khi thấy tình hình vô vọng, Đại Tá Kaplan, Cố vấn trưởng Sư Đoàn, đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu Cố vấn trưởng Quân Đoàn bay lên cứu ông và toán cố vấn. Khoảng 4 giờ sáng, ông John Paul Vann đích thân lái trực thăng trinh sát OH-58 Kiowa đáp xuống một bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn để bốc Đại tá Kaplan và các quân nhân trong toán Cố Vấn Mỹ.Trước khi trực thăng đáp xuống, Đại Tá Kaplan đã đến báo cho Đại Tá Lê Đức Đạt và yêu cầu ông cùng lên trực thăng ứng cứu của ông John Paul Vann nhưng Đại Tá Đạt đã từ chối. Vị Tư lệnh SĐ 22 BB đã biết rõ tình hình rất bi đát, nhưng ông vẫn không yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu cho trực thăng bay lên cứu. Ông ra lệnh cho tất cả các quân nhân còn lại trong căn cứ tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Khi bắt tay vĩnh biệt Đại Tá Tôn Thất Hùng và các sĩ quan, ông nói với mọi người: “Là Tư lệnh, tôi phải ở lại với Tân Cảnh” (theo lời kể của Đại Tá Hùng sau khi sống sót trở về, nhờ những người Thượng cứu giúp). Người ta đã hỏi nhau, nếu Đại Tá Lý Tòng Bá nhận chức vụ Tư Lệnh SĐ 22BB, liệu cục diện có đổi thay? Sư Đoàn 22 có phải thảm bại để Đại Tá Lê Đức Đạt đã hy sinh oan uổng?
Sau khi SĐ22BB bị thảm bại ở Tân Cảnh, Sư Đoàn 23 BB của Đại Tá Lý Tòng Bá nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp thời ngăn chặn một lực lượng địch hùng hậu (cấp quân đoàn) của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum và làm chủ Tây Nguyên. Lúc này việc di chuyển trên Quốc Lộ 14 từ Pleiku lên Kontum đã rất khó khăn vì Cộng quân đã dùng một tiểu đoàn đặt những cái chốt rất kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao với rất nhiều ổ súng đại liên, đại bác 75 ly, hỏa tiển chống chiến xa và phòng không. Đại Tá Bá đến Kontum với Trung Đoàn 45, Trung Đoàn 53, và một chi đoàn chiến xa M-41 thuộc Thiết Đoàn 8/KB. Khi đoàn quân của Trung Đoàn 45 bị nghẻn lại ở Chu Pao, bị thiệt hại mà không thể nào tiến lên được. với sở trường và kinh nghiệm của một sĩ quan Thiết Giáp kỳ cựu, Đại Tá Bá đã sử dụng Chi Đoàn 1/8 Chiến Xa (M-41), được một đại đội của Tiểu Đoàn 4/45 tùng thiết, theo vết xe be leo lên đỉnh núi để bất thần tiêu diệt đè bẹp các chốt kháng cự của Cộng quân, ngay sau khi hai chiếc trực thăng võ trang của Phi Đoàn Thần Tượng 215, chỉ huy bởi Trung Úy Vĩnh Hiếu, rất thông minh và gan dạ, bay sát mục tiêu, sử dụng hỏa tiễn đầu nổ đinh (fletchettes), tác xạ chính xác vào các chốt kiên cố trong các hầm núi đá, hổ trợ hữu hiệu cho quân bạn. Một trận chiến khó tưởng tượng nhưng đã thành công với sự chỉ huy tài ba và gan dạ của anh Chi Đoàn Trưởng trẻ tuổi, Đại Úy Lê Quang Vinh.
Đến Kontum, việc đầu tiên là ông yêu cầu được hoàn trả các đơn vị tăng phái gồm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân và một số đơn vị còn lại của Sư Đoàn 22BB, để được lấy lại Trung Đoàn 44 BB, đang hành quân ở An Khê, do Quân Đoàn sử dụng làm lực lượng trừ bị và bảo vệ BTL/Quân Đoàn. Theo ông, Trung Đoàn 44 là đơn vị thiện chiến nhất của Sư Đoàn, và với những đơn vị cơ hữu sẽ dễ dàng cho ông hơn về mặt chỉ huy. Hơn nữa các đơn vị tăng phái, dù thuộc các binh chủng thiện chiến, nhưng đã quá mệt mỏi và tinh thần giao động sau sự kiện Tân Cảnh và Căn cứ Charlie. Ngay từ quyết định đầu tiên này đã là một quyết định rất sáng suốt của vị Tư Lệnh Chiến Trường. Vì chỉ sau 24 tiếng đồng hồ được không vận xuống Kontum để trám vào tuyến phòng thủ Tây Bắc, cách thị xã Kontum 4 cây số, thay thế cho Liên Đoàn 6 BĐQ và một đơn vị của SĐ22BB, lúc gần 5 giờ sáng ngày 15.5.72, Trung Đoàn 44 BB đã mở đầu bằng một chiến thắng thật lẫy lừng, đánh bại lực lượng của Sư Đoàn 320 CS cùng một tiểu đoàn xe tăng T-54, từ Tân Cảnh tràn xuống tấn công trực diện vào tuyến phòng thủ của Trung Đoàn. Năm xe tăng bị bắn cháy, hai chiếc bị bắt sống với tên đại đội trưởng. Địch tháo chạy ngược về hướng Bắc, bị các oanh tạc cơ thuộc Phi Đoàn 530-Thái Dương (Pleiku) và sau đó là B-52 dội bom tiêu diệt. Sau trận này, địch quân bị loại khỏi vòng chiến hai Trung Đoàn 48 và 64 thuộc Sư Đoàn 320 và 15 chiến xa T-54 của Trung Đoàn 2 TG.
Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa tan, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa mới nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II thay Tướng Ngô Dzu, bay lên Kontum và cùng Đại Tá Lý Tòng Bá, dùng chiến xa M-113 di chuyển đến tận trận địa, mừng chiến thắng, khen ngợi Trung Đoàn 44BB và gắn lon đại tá cho Trung Tá Trần Quang Tiến, Trung Đoàn Trưởng.
Đúng một tuần lễ, sau chiến thắng đầu tiên, vào ngày 21/5/72, toàn bộ Trung Đoàn 44 được điều về “dưỡng quân” trong vòng đai thành phố, cũng là tuyến phòng thủ cho BTL/Sư Đoàn. BCH/Trung Đoàn đóng trong thành Dakpha, nằm ngay phía sau và chỉ cách Bệnh Viện 2 Dã Chiến một lớp hàng rào phòng thủ, (phi trường Kontum nằm hướng nam khoảng 600 mét), được bảo vệ bởi Đại Đội 44 Trinh Sát, cũng là lực lượng trừ bị. Tiểu Đoàn 3 và 4/44 phòng thủ vòng đai phía Đông, bên cánh phải BCH/Trung Đoàn. Riêng hai Tiều Đoàn 1 và 2/44 do Thiếu Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Phó chỉ huy, phòng thủ vòng đai phía Nam, bên bờ sông Dakbla. Nhưng chỉ hai ngày sau, theo yêu cầu của John Paul Vann, Cố Vấn QĐ, Đại Tá Bá ra lệnh cho Thiếu Tá Xuân cùng hai Tiểu Đoàn 1 và 2/44, tổ chức thành một chiến đoàn đặc nhiệm, trang bị súng cá nhân và lựu đạn, tham dự một cuộc hành quân hậu địch, mà chính cá nhân ông cũng thấy quá mạo hiểm. Sau khi B-52 đánh 2 box vào khuya hôm ấy, Chiến Đoàn Đặc Nhiệm được trực thăng vận đổ xuống phía Bắc, sau lưng phòng tuyến địch từ 10-15km. để bất ngờ mở một cuộc càn quét địch từ Bắc xuống Nam, lấy QL-14 làm chuẩn hướng về Kontum.
Nhờ kế hoạch đánh lừa địch cùng với kinh nghiệm tuyệt vời của các phi công thuộc Phi Đoàn Lạc Long 229, cuộc đổ quân an toàn và hoàn tất lúc 9 giờ sáng. Nhưng ngay sau khi rời bãi đáp, lực lượng ta liên tiếp đụng độ các toán hậu cần, thông tin liên lạc của địch. Bọn chúng đang gánh cơm đi tiếp tế và giăng giây điện thoại. Đến khoảng 12 giờ trưa, khi còn cách thị xã Kontum khoảng 10 cây số, sau khi nhìn thấy khói lửa ngộp trời ở hướng thành phố cùng tiếng pháo nổ dồn dập không dứt, Thiếu Tá Xuân nhận lệnh của Đại Tá Bá, bằng mọi cách, ngay cả việc phải đạp trên đầu địch, để đưa lực lượng trở về BTL gấp.
Những trận đánh tốc chiến xảy ra, phải đạp qua phòng tuyến hung hiểm của địch nằm đối diện với Trung Đoàn 45. Cuối cùng như một phép màu, Chiến Đoàn đã có mặt tại Kontum sau 4 tiếng đồng hồ, chỉ có một thiếu úy và 13 binh sĩ hy sinh, 5 thương binh đã mang về được. Đại Tá Bá ra đón đơn vị tại tuyến phòng thủ với nỗi vui mừng và xúc động. Tiểu Đoàn 1/44 được giữ lại phòng thủ BTL/SĐ, Tiểu Đoàn 2/44 về lại tuyến phòng thủ bên kia bờ sông, khu vực Phương Hòa. Thiếu Tá Xuân trở về BCH Trung Đoàn. Ngày hôm ấy, Cộng quân đã pháo kích liên tục vào thành phố hơn hai ngàn quả đạn pháo đủ loại. Căn cứ BTL/SĐ bị hư hại nặng nề, nhưng rất may, chỉ có một hạ sĩ quan chết và vài binh sĩ bị thương.
Sáng ngày 23.5, Tướng Hoàng Minh Thảo tung hai Sư Đoàn 2 và 10 cùng một đại đội chiến xa gồm T-54 và T-59 tấn công vào phòng tuyến phía Đông thị xã. Lần này Hoàng Minh Thảo áp dụng chiến thuật “nở hoa” với kinh nghiệm từ trận đánh Tân Cảnh, mà chúng vừa thu được kết quả ngoài sự mong đợi. Không đụng vào các tuyến đầu mà tìm cách thâm nhập đánh sâu vào vào đầu não của ta, Bộ Tư lệnh Sư Đoàn. Chúng chọn một tiểu đoàn của Sư Đoàn 2 Sao vàng được tăng cường một Đại Đội Chiến Xa gồm các xe tăng T-54 và T-59, làm nỗ lực chính xâm nhập vào Bệnh Viện 2 Dã Chiến (đã di tản thương binh), nằm phía trước cách thành Dakpha chỉ một hàng rào phòng thủ, nơi đặt BCH Trung Đoàn 44. Thành Dakpha nguyên là bản doanh của BTL/Biệt Khu 24 nên chúng tưởng lầm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB đang đóng ở đây. Một lần nữa Trung Đoàn 44BB chứng tỏ sự dũng cảm và thiện chiến của mình. Khi đợt tiền pháo vừa dứt, ba chiếc xe tăng T-54 đầu tiên ủi vào lớp hàng rào phòng thủ để tấn công vào BCH Trung Đoàn, chỉ cách hàng rào chừng 50 mét, Đại Đội 44Trinh Sát của Trung úy Đoàn Quang Mạnh (Đại Đội Phó tạm thay thế Đại Úy Phan Công Minh vừa bị thương còn nằm trong quân y viện) dùng M-72 chống tăng và XM-202 lân tinh chống biển người đồng loạt trực xạ vào toán xe tăng và bộ binh địch. Địch hốt hoảng bỏ chạy, hai chiếc tăng bị bắn cháy, trong đó có xe chỉ huy của tên đại đội trưởng. Lục trong xác chết của tên này (Đại úy Vinh), trước ngực có đeo một chiếc túi bằng da đựng bản đồ, một quyển sổ nhật ký và một lá cờ đỏ sao vàng có thêu bốn chữ “Đơn Vị Anh Hùng”. Sau đó, Phòng 2 Sư Đoàn xác nhận chính tên này đã chỉ huy đại đội chiến xa đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh của Sư Đoàn 22BB mới đây. Đại Đội 44 Trinh Sát chia từng toán nhỏ, tìm cách vượt qua hàng rào phòng thủ, men theo các vách nhà bệnh viện để tiệu diệt các xe tăng địch còn lại và hướng dẫn phi cơ oanh tạc. Tất cả tăng và bộ binh địch đều bị tiêu diệt.
Đại Tá Lý Tòng Bá có mặt tại BCH/ Trung Đoàn khi chiến trận còn đang tiếp diễn khốc liệt. Ông đựợc Đại Tá Tiến, Trung Đoàn trưởng trao cho tập sổ tay và lá cờ của tên Đại Đội trưởng xe tăng CS. Ông đến bắt tay khen thưởng, ôm Trung Úy Mạnh và một số chiến sĩ Trinh Sát, rút tiền trong túi ra tặng những chiến sĩ vừa bắn hạ xe tăng địch. Thái độ của ông đã làm nức lòng thuộc cấp.
Một đơn vị khác của địch xâm nhập vào trại Ngọc Hồi, khu gia binh và hậu cứ của Thiết Giáp, đánh vào sườn phải BCH /Trung Đoàn, bị Tiểu Đoàn 3/44 của Đại Úy Hồ Đắc Tùng đánh bật ra ngoài, sau đó hướng dẫn phi pháo tiêu diệt. Pháo Đội Pháo Binh 155ly trú đóng phía sau BCH/Trung Đoàn đã phải hạ tất cả nòng súng trực xạ liên tục, tiêu diệt địch quân từng đợt dàn hàng ngang tấn công trước mặt. Một đại đội địch chiếm được kho quân tiếp vụ và dành nhau ăn những hộp trái cây ngọt. Do đang đói nên hầu hết bị say, bị lính quân y thuộc Đại Đội Quân Y của Y sĩ Đại úy Nguyễn Văn Oánh bắt sống, một số đông đưa tay đầu hàng, xin được hồi chánh.
Một lực lượng địch hùng hậu khác đánh vào thành phố và chiếm được Tòa Giám Mục Kontum. Tiểu Đoàn 4/44 của Đại Úy Võ Anh Tài và sau đó Tiểu Đoàn 2/44 của Đại Úy Nguyễn Xuân Phán, được đích thân Đại Tá Lý Tòng Bá chỉ định tăng cường bao vây, giải tỏa khu vực, không xử dụng phi pháo, bằng mọi cách phải chiếm lại khu nhà thờ và Tòa Giám Mục trong tình trạng không bị hư hại. Trận chiến khá cam go này kéo dài gần hai ngày, cuối cùng Tiểu Đoàn 2 và 4/44 đã tiêu diệt những tên địch cuối cùng và chiếm lại Tòa Giám Mục.
Ngày 30.5.72, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến Kontum mừng chiến thắng. Khi trực thăng của ông vừa đáp xuống BTL trong căn cứ B-12, Cộng quân đã “dàn chào” bằng mấy loạt pháo kích. Ông tươi cười bình tĩnh, từ chối khi Đại Tá Bùi Hữu Khiêm TMT/ SĐ đưa cho ông chiếc áo giáp. Tổng thống đã tuyên dương công trạng Sư Đoàn 23 BB, gắn sao Chuẩn tướng thăng cấp đặc cách tại măt trận cho Tư Lệnh Lý Tòng Bá, gắn cấp bậc thiếu tá cho 4 tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 44BB và Chi Đoàn Trưởng Chiến Xa 1/8 KB. Đây chỉ là tượng trưng, sau đó còn nhiều quân nhân có công khác được thăng cấp đặc cách, trong đó có Thiếu Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 44BB, là người chỉ huy trực tiếp hai cuộc phản công và cuộc đánh hậu địch rất ngoạn mục. Trong cuộc tổng kết thành tích Mùa Hè 1972, Sư Đoàn 23 BB được Bộ TTM xếp hạng nhất (trước Sư Đoàn 1 BB: hạng 2, và Sư Đoàn Nhảy Dù: hạng 3) với phần thưởng 8.600.000- đồng. Thành tích tạo chiến thắng lớn, nhưng thiệt hại nhẹ nhất về cả nhân mạng lẫn phần đất bảo vệ.

Tướng-Lý-Tòng-Bá
(Tướng Lý Tòng Bá)

Chiến thắng vẻ vang này tất nhiên thuộc công trạng tất cả chiến binh các cấp của Sư Đoàn 23BB, đặc biệt là Trung Đoàn 44BB, Chi Đoàn 1/8 Thiết Kỵ, và các đơn vị Không Quân yểm trợ (gồm các Phi đoàn trực thăng Lạc Long 229, Sơn Dương 235. Thần Tượng 215, Phi Đoàn khu trục Thái Dương 530 và các Phi đoàn quan sát Sao Mai 114, Bắc Đẩu 118). Tuy nhiên B-52 của Hoa Kỳ đã góp phần không nhỏ trong trong việc tiêu diệt phần lớn lực lượng địch tham chiến hoặc đang ẩn nấp làm trừ bị. Nói một cách công bình hơn, một Sư Đoàn 23 BB (không đủ Thiết Đoàn Kỵ Binh và các Tiểu Đoàn Pháo Binh cơ hữu) không thể đánh thắng và làm tê liệt 3 Sư Đoàn của Cộng quân, (được tăng cường 1 trung đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn phòng không), nếu không có các đơn vị Không Quân VNCH và đặc biệt B-52 của Hoa Kỳ.
Với công trạng này, vị Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB kiêm Tư Lệnh Mặt Trận Kontum, Lý Tòng Bá, rất xứng đáng để được vinh danh, được báo chí và dân chúng gọi là “Người Hùng Kontum”
Một nhân vật rất quan trọng khác có tính cách quyết định chiến thắng Kontum, phải kể ông John Paul Vann, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II. Ông luôn có mặt bên cạnh TL Lý Tòng Bá, đặc biệt vào những thời điểm cam go nguy hiểm nhất. Ông thường xuyên bay từ Pleiku lên ngủ đêm ở BTL/SĐ. Ngoài việc gây tin tưởng cho Tướng Bá cũng như quân sĩ, ông còn bàn thảo tỷ mỷ các kế hoạch phòng thủ, phản công và đặc biệt đáp ứng những yêu cầu của Tướng Bá, dành quyền ưu tiên sử dụng tối đa B-52 cho mặt trận Kontum.
Mặc dù Tướng Lý Tòng Bá luôn minh định ông không phải là người “nhà”của John Paul Vann. Giữa ông và ông Vann chỉ quen biết và tôn trọng nhau từ khi ông Vann là Trung Tá Cố Vấn cho Sư Đoàn 7BB, thời Tướng Huỳnh Văn Cao là Tư Lệnh, và khi ấy ông Bá là Đại Đội trưởng ĐĐ7 Cơ Giới M113. sau đó là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 2 Thiết Giáp thống thuộc Sư Đoàn này, (mặc dù trước đó ông Bá rất bất bình John Paul Vann về việc nhận xét và tuyên bố sai lạc trên báo chí Mỹ về Trận Ấp Bắc, mà ĐĐ 7-M113 của ông đã rất anh dũng chiến đấu, đạt nhiều thắng lợi thay vì thất bại như ông Vann và vài ký giả người Mỹ khác đã rêu rao tạo cho CS có cớ để tuyên truyền. Sau này John Paul Vann đã nhận ra sai lầm và nhiều lần xin lỗi ông Bá).
Tuy nhiên, qua nhiều sự kiện, người ta thấy ông Vann đã đối xử rất đặc biệt với Tướng Lý Tòng Bá. Khi nhận chức vụ Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB, ông Bá không thích người Cố Vấn Mỹ, Đại Tá Robert Kellar. Vann liền thay thế Đại tá Kellar bằng Đại Tá John Truby, nhưng Đại Tá Lý Tòng Bá muốn người làm Cố Vấn cho mình phải là Đại Tá R.M.Rhotenberry, người đã từng làm cố vấn bên cạnh ông vào những năm 65-66, khi ông làm Tỉnh trưởng/Tiểu Khu trưởng Bình Dương, mà ông rất tâm đắc. Đại Tá Rhotenberry mãn nhiệm kỳ phục vụ tại Việt Nam và về Mỹ đã lâu, vậy mà John Paul Vann tìm mọi cách đưa ông trở lại Việt Nam để làm Cố Vấn cho Đại Tá Lý Tòng Bá. Ông nhận lệnh lên đường khần cấp và đến Kontum chỉ 5 ngày trước cuộc tổng tấn công của quân Cộng Sản.
Cũng vì giữ lời hẹn ở lại đêm tại Kontum với Tướng Bá, vào buổi chiều sắp tối ngày 9.6.72, từ BTL/QĐ II (thành Pleime-Pleiku) ông Vann tự lái trực thăng bay lên Kontum, nhưng khi còn cách Kontum 10 phút bay, gần khu vực Chu Pao, máy báy bị (bắn?) rớt. Ông đã chết với 2 quân nhân tùy tùng.
Ông là vị dân sự duy nhất được cử làm Cố Vấn Quân Đoàn. Người Mỹ gọi ông là ông tướng dân sự (civil general), những sĩ quan Mỹ dưới quyền ông và một số sĩ quan Việt Nam vẫn gọi ông là “Sir General!”
Sư Đoàn 23 BB có hai vị tư lệnh nổi danh vì đã tạo những chiến thằng vẻ vang nhất. Tuy nhiên với tình hình chiến tranh ngày một leo thang (sau khi Cộng Sản lợi dụng việc Mỹ rút quân về nước và cắt giảm tối đa mọi viện trợ quân sự cho VNCH, đã ngày đêm xua đại quân và chiến xa các loại vào chiến trường miền Nam), chiến thắng Kontum của Tướng Lý Tòng Bá, có tính lớn lao, nổi tiếng hơn là những chiến thắng trước đó của Sư Đoàn thời Tướng Trương Quang Ân làm tư lệnh.
Tướng Trương Quang Ân đã hy sinh tại chiến trường vào tháng 8/1968. Cuộc đời và cái chết của ông đã tạo nhiều huyền thoại, được mọi người hết lòng ngưỡng mộ. Đám tang của ông được cử hành vô cùng trọng thể. Có thể nói là một trong số đám tang trọng thể nhất trong hàng tướng lãnh tử trận.
Tướng Lý Tòng Bá thì không bị chết, nhưng bị bắt tại chiến trường, ngay trước giờ thứ 25 của cuộc chiến, khi ông đang làm Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB. Điều đáng buồn hơn là ông bị bắt bởi một đám du kích. Tướng Bá không rời đơn vị, không bỏ rơi đồng đội, chiến đấu tới giờ phút cuối cùng khi nhiều thượng cấp của ông đã đào tẩu. Ông bị tù đày, sĩ nhục, khốn khổ hơn 13 năm và sau đó sang Mỹ theo diện HO, để bắt đầu cuộc sống tha phương lưu lạc, với bao điều nhiễu nhương cay đắng.
Không có đủ từ ngữ tốt đẹp để nói lên lòng kính trọng và ngưỡng mộ đối với những vị tướng lãnh và những người lính đã tự sát trước giờ nước mất nhà tan. Không có gì cao cả hơn khi lấy cái chết để chứng minh trung liệt với tiền nhân và tổ quốc. Nhưng có những trường hợp mà sự sống sót cũng là một can đảm không kém, cũng rất đáng được kính phục. Cái sống của những vị anh hùng chưa kịp chết hoặc không thể chọn cái chết bởi còn ràng buộc bao trách nhiệm thiêng liêng khác, để rồi bị giết như Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Đặng Phương Thành, Trung Tá Võ Vàng…, hoặc bị tù đày, khốn khổ và cả việc nhục mạ phỉ báng, không chỉ của địch mà của cả một số cá biệt, những đồng đội, những người cùng chiến tuyến, chỉ vì đôi điều bất như ý, bởi một con người thì không phải là thánh nhân để được sự vẹn toàn.
Xin cám ơn những cựu Thiếu Sinh Quân, những cựu SVSQ Võ Bị, những chiến hữu Thiết Giáp cùng tất cả mọi người đã đứng ra tổ chức và tham dự phủ kỳ, tang lễ cho Tướng Lý Tòng Bá. Với những lễ nghi tượng trưng, nhưng là niềm vinh dự cuối cùng, rất xứng đáng, dành cho cá nhân ông và cho cả gia đình.
Xin đứng nghiêm chào vĩnh biệt. Xin Tướng Tư Lệnh của chúng tôi yên nghỉ. Những trách móc giận hờn của Tướng Quân đối với một vài cấp lãnh đạo, chỉ huy “bất tài, thối nát”, những ngày tháng nhục nhằn dâu biển, cùng dư âm của bom đạn chiến trường sẽ vĩnh viễn không còn theo Tướng quân về cõi vô cùng .

Phạm Tín An Ninh
(một người lính thuộc Sư Đoàn 23BB)

KHI TRỞ VỀ CHỐN CŨ

leminhvu

Anh trở về chốn cũ
Ngồi chỗ ngồi ngày xưa
Ký ức chừng rêu phủ
Tình vẫn chưa xanh mùa.

Anh trở về chốn cũ
Chạm nỗi buồn không tên
Những chiều mưa nhung nhớ
Những ngày hồng nắng lên
Những đêm trăng tràn vỡ
Những giọt tình mông mênh.

Anh và ngày tháng cũ
Lại gọi mùa thu xưa
Em giờ nơi viễn xứ
Tình thắp lên xanh mùa?

LÊ MINH VŨ

NỢ RỪNG

huvo

1.
Em ngỡ là rừng vắng
Vàng chiếc lá mùa thu
Gởi em làn gió nhẹ
Thoảng ru rừng hoang vu

Em ngỡ là rừng khép
Ôm ấp nguồn trong xanh
Ta theo mây vần vũ
Giọt mưa nào long lanh

Em ngỡ là rừng thấp
Ngút ngàn cây cao cao
Sương chiều hôm ta gọi
Về mơn man hôm nào

Em ngỡ rừng tận hiến
Từ vạn kiếp xa xăm
Ta nợ rừng mấy thuở
Một môi hồng hiến dâng

2.
Em đôi lần rực lửa
Ngỡ như “ ai đốt trời “
Những “anh hùng lỡ vận
Lên rừng đốt than “ chơi

Em nhớ là em nhé
Em là rừng nguyên sinh
Chở che từ khởi thủy
Từng nhỏ bé sinh linh

Qua sương nắng tháng ngày
Vai sờn và ngực lép
Gió khuya nghe rừng thở
Dưới sao trời lung linh

Đời còn bóng trăng ngân
Thì rừng còn gió lộng
Ta nợ rừng mấy thuở
Trả cho rừng câu thơ .

HƯ VÔ

Sài Gòn ra đường

duyenanh

Sàigòn ra đường không áo dài
Em sợ đang mùa gió chướng bay
Gió bay cuốn hút mùi hương cũ
Chỉ để riêng mình ta ngất ngây

Sàigòn ra đường không phấn son
Em sợ rừng sâu gỗ giận hờn
Chinh phu gió cát nghìn phương lạnh
Chinh phụ nào ham chuyện lược gương

Sàigòn ra đường không thích cười
Em sợ đèo cao lệ đá rơi
Nên đã mùa đông về tạm trú
Đã về sương tuyết phủ niềm vui

Sàigòn ra đường không líu lo
Em sợ âm vang động cõi hờ
Hãy nghe hơi thở còn xao xuyến
Trong đáy hồn nhau gọi ước mơ

Sàigòn ra đường không giống ai
Tóc mây lớp lớp khói u hoài
Mắt chim khuyên đã diều hâu hết
Cúi xuống nhìn lên vẫn ngậm ngùi

DUYÊN ANH

1981