ANH VỀ PHỐ CŨ TRỜI MƯA

linhphuong

Giữ ngoan
tiếng hát em buồn
Để mai chiều xuống
mà thương lấy người
Anh về
phố cũ
trời mưa
Tìm em áo
của ngày chưa nhạt màu
Giữ ngoan
nghĩa nặng
tình sâu
Thuở
mi khẽ chớp
mắt sầu đã mơ
Cho con bướm
mộng vào đời
Qua ô cửa sổ
một thời bâng khuâng
Giữ ngoan
mười ngón tay cầm
Giấc mơ hoa
ngọt môi hồng
em xưa
Anh về
phố cũ
trời mưa
Sài Gòn ơi !
Áo em
chưa
nhạt màu
Bây giờ
cho đến mai sau

Linh Phương

CHẬP CHỜN MÀU HOA CẢI

tranvannghia

* Tặng bạn Ngô Đại Hùng
Màu hoa cải ven sông
Vàng cả chiều tháng Chạp
Có miền quê xa tắp
Mây trời trắng tìm đâu?

Bóng mẹ nép chân cầu
Rét run mùa gió tạt
Vẫn nặng lòng câu hát
Ru đời con lớn khôn

Mắc nợ chuyện áo cơm
Lệch vai đời lữ thứ
Quên dòng sông xóm cũ
Long đong kiếp thương hồ

Chợt bắt gặp cơn mưa
Biết mùa đông trở lại
Chập chờn đêm, hoa cải
Nở rực vàng giấc mơ

Rưng rưng trước ảnh thờ
Nén hương buồn nhớ mẹ
Con suốt đời nhỏ bé
Giữa màu nắng và hoa

TRẦN VĂN NGHĨA

DẠO KHÚC 1

nguyenquangtan

Khi chúa cứu thế làm rơi giọt máu nhân loại mong chờ
Ướt đẫm trang thơ
Tôi xé chiếc áo độc nhất
Lau gương mặt em bụi mờ.

Khi những ngón tay nhạc công bắt đầu kiệt lực
Linh hồn tôi khao khát ngã xuống ven đường
Từ phương xa em đến
Tay ôm bình nước ngát hương

Khi bầy rắn xảo quyệt khôn ngoan
Cùng nhau giết chết chim phượng hoàng
Em từ trời bước xuống
Và lòng xót thương

Khi con hoàng oanh trong tôi chẳng còn ca hát
Vì nỗi buồn đâm suốt trái tim
Từ bức tranh xưa em về hiển hiện
Và hàng mi dài
Cong vút cánh chim

NGUYỄN QUANG TẤN

TƯỞNG NIỆM LARRY ENGELMANN

buihuuliem

Cuộc phỏng vấn này được thực hiện bởi phóng viên JOE HOLT vào ngày Chúa Nhật ngày 30 tháng 10 năm 2011 tại tư gia của LARRY ENGELMANN ở SAN JOSE.
Bản dịch của BÙI HỮU LIÊM

Phóng Viên: Từ lúc nào Ông biết là mình muốn trở thành nhà văn?
Tác giả: Tôi sinh ra và lớn lên tại Austin, một thành phố nhỏ cách Thành Phố lớn Minneapolis 100 dặm Anh. Thành phố này có cơ sở làm thịt heo xay “spam” đóng hộp nổi tiếng. Nơi đây chỉ có một người tốt nghiệp Đại Học, đó là vị Bác Sĩ Địa Phương. Đây là vùng nhiều cư dân sinh sống và chúng tôi không rõ mọi người sinh sống bằng các ngành nghề gì. Khi tôi vào Đại Học, tôi vẫn nghĩ đến các ngành chuyên môn như Triết học, Xã hội học, Lịch sử mà không bao giờ cho Viết văn là một nghề nghiệp . Lối nhận định nầy cũng nghịch lý vì viết và kể chuyện như là phần đời sống chúng tôi lớn lên, đặc biệt là tiểu bang Minesota. Tôi ở rất gần Sauk center nơi nhà văn lớn Sinclair Lewis sinh ra và lớn lên. Ngoài ra tôi có đọc tác phẩm của một nhà văn nổi tiếng khác là Ole Edvart Rovaag, con của ông là Thống Đốc Carl Rovaag thời tôi vào Đại Học. Tôi muốn nhắc một bối cảnh lịch sử khi Thế Chiến thứ hai chấm dứt, lúc đó tôi là cậu bé rất nhỏ nhưng vẫn nhớ các cựu chiến binh bạn của cha mẹ tôi và cả cha tôi nữa, họ kể lại những câu chuyện lich sử thật truyền cảm và sống động. Đúng là chúng tôi lớn lên trong cái nôi của nền văn hóa truyền khẩu, và các câu chuyện viết thời Trung Học. Thời đó vào Đại Học xu huớng thường chú trọng đến nền khoa học kỹ thuật nên tôi đã chọn ngành chính là Toán và Hóa Học, hy vọng sẽ trở thành một khoa học gia, một chuyên gia về Hỏa Tiễn. Nhưng vị giáo sư Hóa Học thuyết phục tôi nên từ bỏ giấc mơ này… tôi còn học vài môn phụ trong khi kiếm một ngành học chính khác. Giáo sư môn Lịch sử thật là tuyệt vời với các bài giảng quá hay. Tôi ra trường Cao Học chuyên ngành Lịch sử và Kinh Tế. Sau đó tôi lên Đại Học Michigan theo chương trình Tiến sĩ Lịch sử. Thời gian học các Thầy giảng cho những bài tuyệt vời về Cộng Hòa La Mã, Lịch Sử Âu Châu thế kỷ 19. Thực sự từ các câu chuyện hay sinh viên phải viết lại các bài nghiên cứu. Tôi được dạy là các bài viết này khô khan và chán ngắt… vậy mà tôi nhận được việc làm giáo sư Đại Hoc San Jose State năm 1969. Lúc đó tôi có hai đứa con gái , vợ tôi là nghiên cứu sinh ở Stanford. Lương giáo sư thấp lắm khoảng 6,000 USD một năm nên tôi đã viết cho các tờ báo Chúa Nhật địa phương đế có thêm phụ trội nhờ tiền nhuận bút.
Phóng Viên: Ông có nhớ tờ chi phiếu đầu tiên không?
Tác giả: nhớ chứ hình như là 150 USD ,tôi nghĩ là phải nhiều hơn, đương nhiên sau này tôi kiếm được nhiều hơn, rồi trong tiềm thức tôi bắt đầu nghĩ là mình có những năng khiếu mà người khác không có. Các câu chuyện thể loại này được đăng trên các tờ báo Chúa Nhật, đôi khi tôi lấy các bài nghiên cứu của tôi lúc trước… Như Câu chuyện tàu ngầm L44 bị đắm ở Daly city năm 1942 chẳng hạn… Lúc đó tôi gởi bài này đến tờ Life magazine. Một hôm đang ăn sáng có tiếng điện thoại, có người xưng là Jones London goi đến và cho biết đọc bài tôi viết trên báo Life, bài viết về Tàu ngầm… tờ báo Life trả 6500 USD bằng lương giáo sư của tôi 1 năm. Anh bày tỏ ý định mời tôi hợp tác với chương trình “Good Morning America”. Tôi tưởng tôi làm ở đây nhưng họ đưa tôi qua New York . Đây là một bước ngoặc thay đổi quan trọng trong sự nghiệp viết văn của tôi. Viết những áng văn, được trả công viết lách thật là điều rất hạnh phúc, như là một phần thưởng. Khi về lại con gái tôi đi đón và chúng tôi đến một tiệm Cafe nơi có các nhà văn mặc áo pull cổ cao màu đen hút thuốc và tập trung viết lách. Họ là nhà văn sao? Tôi viết văn mà sao không măc đồ như họ và không hút thuốc. Tôi thực sự là viết, việc này khác với giả vờ viết. Lúc này tôi chắc là mình có năng khiếu viết văn. Lúc đó tôi bán được cuốn sách đầu tiên.
Phóng viên: Ông có lúc nào giới thiệu mình là Nhà văn trong các buổi tiệc tùng này khác không?
Tác giả: Tôi nhớ tôi đã gặp một người phụ nữ và không bao giờ quên cuộc gặp gỡ này mặc dù không còn nhớ khuôn mặt của bà ta. Bà ta hỏi tôi làm nghề gì, tôi trả lời là viết văn (Tôi không nói nghề dạy học ít lương của tôi ). Bà ta nói là tôi trông rất giống văn sĩ. Về nhà tôi soi gương mãi xem tôi có nét nào văn sĩ như bà ta nói không?
Sau đó tôi ra mắt và bán cuốn sách đầu tiên Intemperance 1979. Năm 1984-1985 Tôi ký hợp đồng hai cuốn sách “The goddness and American girl” và “Tears before the rain”. Tôi không thích nói về tiền, chưa bao giờ nghĩ sẽ kiếm được bao nhiêu tiền trước khi viết, nhưng mình cố gắng viết hay, bỏ thời gian và tâm trí vào và được trả công xứng đáng cho việc mình làm là điều quá tốt. Năm 1988 “The goddness and American girl ” được chọn là cuốn sách hay nhất của năm. Tôi nhớ lúc đó nhận hợp đồng 1 năm đi dạy ở Trung Quốc và trước khi đi tôi phải tham dự khóa hướng dẫn ở Đại Học John Hopkins, có vị giáo sư mua cuốn sách của tôi từ tiệm sách ở trường bước vào và đưa cuốn sách lên, mọi người trong phòng họp đứng lên vỗ tay. Đây là phần thuởng tinh thần rất có giá trị với tôi. Mọi người nghĩ tôi là nhà văn, điều ấy rất ư đặc biệt. Cuốn sách này dày 500 trang viết về hai người đàn bà 20 tuổi và 30 tuổi. Sau đó tôi qua Trung Quốc và năm 1991 Tôi xuất bản cuốn “Tears before the rain”, xong cuốn sách này “hàng ngàn giờ công sức”, tôi mà biết được phải tốn quá nhiều thời gian như vậy thì đã không bắt đầu. Tôi được cơ hội giới thiêu sách trước Hiệp hội Thuơng Mại Người Việt ở San Jose, có mấy trăm người Việt, họ rất xúc đông và đưa tôi lên mục đích để vinh danh và tri ân tôi. Khi đến phần giới thiệu sách tôi không nói nên lời. Một người đàn bà trong ban tổ chức đứng gần đó vỗ vai tôi và nói là tôi cần nghỉ ngơi nhiều hơn. Người viết bỏ hết thời gian, tâm hồn và trái tim cùng ước muốn viết hay rồi chinh phục được người đọc, họ đồng cảm và tri ân người viết, đó là một niềm an ủi to lớn đối với tôi. Và rồi tôi nhận thức được là mình càng viết nhiều thì lại càng khó vì những thiếu sót cuốn sách trước, đòi hỏi những tiêu chuẩn cao hơn cho cuốn kế tiếp.
Gần đây tôi có dự khóa huấn luyện cho người mới viết văn. Tôi thấy là tôi khó có thể dạy cho người khác. Sự nghiệp viết văn của tôi là một sự thẩm thấu lần lần, do học vấn, môi trường sinh sống và trưởng thành, và có thể từ DNA sinh học, cho tôi khả năng viết truyện thật xúc cảm. Bắt đầu viết văn bằng những kỹ năng viết trên báo, các bài viết ở trường Đại Học, nhưng viết để đời là cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật là một tiến trình rất kỳ ảo. Tôi không hút á phiện tạo cảm hứng khi viết vì sợ tổn hại năng khiếu đặc biệt trong tâm thức, không muốn nó dãn ra hoặc co rút lại. Câu chuyện “The daughter of China” tưởng chừng không xảy ra – Tác giả như nghẹn lời và xúc động khi kể bối cảnh bắt đầu từ 1930 khi một gia đình có đứa con gái chào đời và dự định đổi về một đứa con trai, Người vợ đưa con cho người chồng đem đi, người chồng biết gia đình kia đổi ý không chịu nên trên đường về ném đứa con gái nhỏ xuống một con kinh đào và đem về tấm mền. Người mẹ giữ lại cho đến khi đứa cháu nội gái mở ra và thấy những mảnh vỡ vụn đỏ như máu . Khi tôi viết, lúc nào cũng thấy những thước phim này quay trong đầu và bật khóc, đọc cho vợ nghe đoạn nầy nhưng quá nghẹn ngào không nói được ra lời. Tôi như có một nối kết vô hình với những con người vô hình khi viết nên không biết làm sao dạy những điều cảm nhận rất đặc biệt này cho người khác… Cần phải có tấm lòng đồng cảm và nhân ái và thực sự sống trọn ven. Các Nhà văn lớn phải sống một cuộc đời, cần nên đi đến một nơi nào đó như Hemingway là một nhà văn lớn tôi rất ái mộ, không chỉ là tham dự những khóa hội thảo là có thể viết. Chúng ta phải bắt tay vào việc, mua một vé tàu và đi nơi nào đó. Chúng ta sẽ hiểu về mình nhiều hơn ở nơi xa lạ. Nếu biết một cuốn từ đầu đến hòan tất tốn cả hàng ngàn giờ có lẽ tôi đã không bắt đầu, nhưng rồi ta sẽ quên đi khi hoàn tất và lại có một bắt đầu mới (như là Mẹ tôi có 5 đứa con, lần nào sinh xong bà cũng không muốn sinh nữa rồi lại tiếp tục sinh đứa con khác.) Viết cuốn “the goddess and American Girl ” hơn 500 trang, từng đoạn, từng hàng, từng chữ, từng mẫu tự để hoàn thành. Tôi nghĩ là phí đi thời gian của Học viên và của tôi… đây hoàn toàn là một vấn đề không dạy được. Có ai biết dạy làm sao để đi xe đạp, phải tự đi lấy, có dự khóa huấn luyện này nọ cũng phải tự ngồi xuống và viết cả hàng ngàn giờ.

(Phóng Viên nhắc Ông Larry còn hai phút nữa. Ông kể chuyện trong hồi ký của Ông Henry Kissinger khi làm cố vấn An Ninh Quốc Gia năm 1969, có một chương trình điện toán của bộ Ngoại Giao và bộ Quốc phòng đưa vào các dữ kiện và đặt ra câu hỏi là khi nào thắng lợi trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Máy điện toán vận hành một hồi lâu và đưa ra đáp án là chúng ta thắng từ năm 1966. Giáo sư cười lớn và Phóng viên cười theo chấm dứt cuộc phỏng vấn 33 phút.)

Bùi Hữu Liêm (dịch)

TƯỞNG NIỆM 1 NĂM NGÀY MẤT CỦA TÁC GIẢ: Nước Mắt Trước Cơn Mưa ( Larry Engelmann) 01/04/2015- 01/04/2016

tuongtri

8111_engelmann_larry

Tears Before the Rain, Nước Mắt Trước Cơn Mưa, là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann, giáo sư khoa sử của đại học San Jose, California và được Nguyễn Bá Trạc, tác giả của Ngọn Cỏ Bồng dịch ra tiếng Việt.

Như trong một video clip phỏng vấn mình, tác giả Larry Engelmann cho biết mình không phải là nhà văn mà chỉ là người kể chuyện, storyteller, đến với sách vở chữ nghĩa chỉ là một sự tình cờ. Ông sinh năm 1941, lớn lên tại một thành phố nhỏ ở tiểu bang Minnesota. Ngay từ nhỏ ông đã say mê nghe người lớn, trong số đó là những người trở về từ Thế Chiến Thứ 2, kể chuyện. Ông say mê nghe người ta kể chuyện rồi từ nghe ông lại trở thành người kể chuyện. Nên không có gì lạ khi ông mê môn sử và chọn sử là ngành mình theo học khi lên bậc đại học, và học xong, ra trường lại đem chính cái tài kể chuyện của mình ra dạy môn sử tại đại học San Jose, California. Lương dạy học không đủ chi phí cho gia đình, ông mới viết và gửi bài cho một số báo để kiếm thêm tiền. Tài kể chuyện của ông khi đưa lên trang giấy lại gây lôi cuốn và xúc động cho người đọc, và ông thành nhà văn, không, ông thành nhà kể chuyện, storyteller, storyteller for money, người kể chuyện để kiếm tiền, như ông xác nhận mình là ai và vì sao viết.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa xuất hiện cũng là sự tình cờ như vậy. Khởi đầu ông gửi cho một nhà xuất bản 38 trang đầu tiên ông mới viết nháp để thăm dò. Chỉ đọc xong 38 trang bản thảo, đúng 11 giờ khuya, nhà xuất bản gọi điện thoại cho ông, trước tiên cho ông biết, theo lẽ thường, những cú điện thoại của bác sĩ gọi 11 giờ đêm là tin xấu, còn của nhà xuất bản là những tin tốt lành. Nhà xuất bản đề nghị ký hợp đồng xuất bản cuốn sách, và vì cuốn sách chỉ mới có 38 trang, nên đưa ra thời hạn trong vòng 12 tháng, ông phải hoàn tất và giao bản thảo cho nhà xuất bản và nhà xuất bản ứng trước cho ông 175 ngàn đô.

Cú điện thoại 11 giờ khuya của nhà xuất bản với 38 trang đầu là như vậy, nên bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc Tears Before the Rain qua bản dịch của Nguyễn Bá Trạc mà Tương Tri được phép của dịch giả Nguyễn Bá Trạc sẽ đánh máy lại và đưa lên. Xúc động, xúc động và xúc động như hai câu thơ đầy định mệnh:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa


TƯƠNG TRI

Chiều tháng Tư ở San Francisco

trantrungdao

Vô tình thôi, ta trở lại nơi này
Chiều tháng tư ngồi trông ra cửa biển
Cơn gió lạnh thổi lòng ta xao xuyến
Thái Bình Dương, ta nhớ lắm, Thái Bình Dương

Cũng thấy gần thêm, một chút, với quê hương
Một chút nữa trong nghìn trùng diệu vợi
Ôi đất nước, sau mười năm “đổi mới”
Có lớn hơn thêm một chút tình người

Từ độ vầng trăng tắt bóng trên đồi
Ta mang thơ đi vào đời máu chảy
Hờn vong quốc trong lòng ta lớn mãi
Vẫn ngày đêm mang nguyện ước đi tìm

Bước giữa quê người, đường mấy nẻo chênh vênh
Bao toan tính và bao lần dang dở
Chiều San Francisco, ta nghe hồn trăn trở
Bay về đâu, đàn chim Việt, sẽ về đâu?

Vô tình thôi, như những hạt mưa ngâu
Thấm ướt trên vai ta đời đơn bạc
Ba mươi tháng tư, mười lăm năm lưu lạc
Chưa nguôi niềm thao thức thuở hoa niên.

Trần Trung Đạo

TẶNG AI…MỘT MÌNH..

thuyvi

Tôi, lặng lẽ một mình.
Cười, nụ cười thật ngọt.
Vui, những nỗi vui thầm…

Tôi vẫn độc hành trên đường cô đơn. Những hàng cây rũ bóng, nhưng tôi không khóc. Chỉ nhẹ nhàng chia nhau chút buồn tội nghiệp.

Tôi vẫn một mình và một mình. Nhưng nỗi cô đơn không làm tôi bằng bặc. Kề môi hôn mỏng nỗi sầu, gửi trong đó ngàn câu an ủi.

Tôi một mình ra đi, lặng lẽ trở về, Bóng trên vách với tôi là một. Tôi thở dài mà không hiu hắt, bởi chưng mình chỉ một mình.

Sống trên đời khéo biết nhân chia. Nỗi vui buồn theo từng con số. Vui không nghĩa là sự tận cùng, buồn không nghĩa là nguồn tuyệt vọng.

Dẫu một mình tôi, lặng lẽ. Tôi vẫn cho đều những nụ cười tươi. Tôi vẫn sớt đều những dòng nước mắt. Với đời, với người, và có gì gọi là lặng lẽ.

Đời đâu là bóng tối. Đời đâu là bão nổi. Nên dẫu một mình. Tôi vẫn vui, những nỗi vui thầm. Như gieo trong trái tim cho mình chút lửa.

thụyvi

NGƯỜI TỬ TÙ (TT)

khuatdau

8. Nước ơi, nước!
Ta muốn uống một con sông đầy
ta hạn hán như cả một cánh đồng khô hạn
ta muốn uống cả một cơn mưa
nước ơi nước
ta muốn uống, ôi, cái bầu bé xíu khốn nạn chỉ làm cho cơn khát trong ta bùng lên như hỏa hoạn
lửa trùm kín môi miệng ta, trái tim ta, một bầu nước như một be rượu nào có ăn thua gì
ta muốn uống một con sông đầy
ta muốn uống hết thảy những hồ ao
đầu óc ta đang là một cái lò rèn phì phò lửa reo không ngớt, luôn vang động những tiếng búa nện xuống trên đe, tiếng cụp cắt gõ liên hồi trên miếng sắt nung đỏ, tiếng xèo xèo cháy khét của thép mới trui, hai lỗ mũi ta, môi miệng ta và cả trái tim ta phun khói không ngừng, hai lỗ mũi như hai ống bễ khò khè nhọc mệt, miệng ta là chậu nước ót bẩn thỉu đầy những dao và rựa, những lưỡi cuốc lưỡi cày, ta nghe bất tận tiếng leng keng xoáy thủng óc não ta
và ta vẫn muốn uống cho bằng được một con sông đầy
Những con sông hào sảng mênh mông ngày đêm vẫn miệt mài xuôi chảy, đang uốn khúc nơi đâu sao không đổ về đây mà lại phung phí đổ vào biển mặn, sao không tung mình lên như những con rồng vĩ đại phun nước vào đây?!
nước ơi nước,
ta thèm được chết trong nước biết chừng nào
ta sẵn lòng uống cả một đại dương nếu có thể uống được, cho dẫu bụng ta muối kêu lạo xạo, còn hơn là chết tại đây trong biển lửa ngụt trời
lửa trào lên từ lòng đất, lửa phun xuống từ trời cao, lửa reo phè phè như rắn hổ mang, lửa hát ca cợt cười, lửa chạy tròn quanh ta, uốn lượn như rắn và quật đập như sóng
ta bị căng như tấm da thuộc trên mặt trống, ta mỗi lúc một nâng cao như chiếc bè trong cơn hồng thủy, ta bị nâng lên cho tới gần trời và ta nghe tiếng hỏi xuẩn ngốc của mặt trời ngạo nghễ
mày chịu thua chưa hả thằng người lì lợm?
mặt trời, mặt trời,
nếu có một con dao chủy thủ trong tay ta sẽ đâm vào ngươi lút cán
ta là tên thích khách, tiếc thay, chưa lên đường đã bị tước mất dao
ta vẫn nghe tiếng gõ đập leng keng, ta vẫn trông thấy một màu đỏ láng ướt trơn như dầu
tiếng leng keng làm ta lắc lư, màu đỏ làm ta ngộp thở
ta mơ thấy một con sông đầy và ta thả mình trong đó, mặc tình cho dòng nước đưa ta đi cùng trời cuối đất
em thân yêu, tôi khát đến nỗi thèm uống nước tiểu em
em đang ở đâu, ngọn đồi đã cháy và dòng suối thân ái uốn lượn bên dưới đã không còn nữa, nước đã hóa thân bay lên đỉnh trời, chim không tìm ra chỗ đậu và một con chồn đứng khóc là em
phải vậy không
một con chồn dù thế nào vẫn chảy ra nước tiểu
xin hãy gửi cho tôi những hạt nước màu lưu ly nồng mặn, xin hãy tạo thành một dòng suối mới bằng nước tiểu và nước mắt của em
ô, tôi muốn cắn vào mạch máu tôi cho máu trào ra rồi uống vào
tôi thèm uống, thèm uống
ngay cả nước tiểu tôi
tôi đang là con cá nướng, là con heo quay, sắp dòn tan trong cái miệng đầy răng đá nhọn của ngục tù này
tôi vẫn nghe tiếng gõ đập trong đầu và tôi rút nước như một trái táo khô
tôi cùn mằn, bần tiện, hèn hạ, tôi không là tôi nữa trong cái biển lửa không bốc cháy mà nóng kinh người này
tôi muốn uống nước tiểu em, tôi chỉ còn có em là có thể cho tôi nước tiểu
thế nhưng em đang ở đâu, em có nghe tôi gọi em hụt hơi không nào?
ô, phép mầu cho một con người chỉ là nước và nước
hỡi mẹ trái đất tốt tươi, mẹ nỡ lòng nào để cho đứa con bé bỏng của mẹ chết khát như thế này!
Và những con dòi, thực phẩm cho kẻ bần hàn này sao?
ta uống nước tiểu ta, ăn dòi để rồi cũng thành dòi sao?
ôi, trái tim ta, mi ngây thơ và tội nghiệp biết chừng nào, tại sao mi vẫn còn miệt mài đập mãi trong lồng ngực ta như dòng sông là phải chảy, tại sao mi vẫn kiên trì mà không hề đói ăn khát uống?
mi vẫn đập, vẫn đập, ta nghe tiếng mi trầm buồn như tiếng chuông chiều, ô hay, đến lúc này mà mi vẫn ca hát được sao?
ta chịu thôi, mi ngây thơ như đứa trẻ nhưng lại dũng cảm như một vị tướng, mi cũng là người mẹ dịu dàng, mi đập như mẹ không ngớt lên tiếng gọi con
mi vẫn đập, đó là tất cả nỗi bi thống và sắt đá can trường của mi

9. Một thoáng nàng
Đã có lúc, giữa khi những ngôi sao chợt mờ đi, bởi một lượt sương kết tụ bằng hơi thở của hằng triệu bông hoa, những lá cỏ sắc run lên khe khẽ, một con dế chợt gáy lên lảnh lói đâu đó trong bụi rậm và chàng cảm thấy đêm dài như một đời người. Chàng đã nghe một tiếng rên nho nhỏ vừa thê thiết mà cũng vừa tha thiết, tiếng rên của nàng và chàng chợt hiểu tại sao những cánh hoa nở ra tuy có vẻ dịu dàng nhưng cũng vô cùng khốn khó, những cánh hoa có lẽ cũng đã rên như thế khi con ong mang phấn tới cho hoa kết thành nụ, một hạnh phúc cao ngất trời và một khổ đau sâu hút, cả hai như ngày và đêm, như sáng và tối, như sống và chết, như một cặp song sinh buộc chặt lấy nhau đến tận cùng cuộc sống miên viễn.
Chàng nghe tiếng rên ẩm ướt của nàng và chàng hiểu nàng đang vỡ ra như hạt mầm cựa mình trong đất. Chàng cảm giác bầu trời như thu nhỏ nóng sốt trong khi trái đất mỏng manh ấm áp trong tay. Chàng nghe tiếng rên ướt át kéo qua hồn mình như một dòng sông nhỏ đang tỏa hơi ngào ngạt trong buổi bình minh êm dịu. Chàng cảm thấy vừa phấn khích vừa ân hận. Một nửa giọt nước mắt nàng lấp ló giữa hàng mi đã được chàng làm vỡ ra bằng đôi môi, rồi lại hôn ngọt ngào thay cho một lời xin lỗi.
Người nàng chợt run lên như chiếc lá khẽ run dưới hơi thở mạnh mẽ của một loài chim đêm. Nhưng nàng yên lòng khép mắt bơi qua một con sông rộng, căng ngang từ bờ cõi sinh đến bờ cõi tử. Nàng thấy mình được nâng đỡ một cách trọn vẹn, an toàn, đến nỗi nàng tưởng chừng có thể bay lên cùng với mùi hương thầm kín. Một đôi lần giữa cơn mê đắm, nàng hé mắt nhìn chàng như đứa bé mới sinh lần đầu được nhìn thấy ánh đèn. Nàng hơi sửng sốt nhưng đôi môi dễ thương và ngoan hiền của nàng lại hé cười như một lời cảm tạ,
rằng anh đấy phải không, anh quen thuộc sao bỗng dưng lạ lùng quá đỗi, anh dịu dàng sao lại thô bạo dường ấy,
anh đáng giận nhưng cũng đáng yêu xiết bao, anh vừa giết chết em mới đó, rồi lại cũng chính anh cứu sống em mới đây, mà sống dữ dội, sống mãnh liệt hơn cả trăm lần.
Nụ cười ấm áp của nàng như một lời khen tặng và cái điều tưởng chừng thô bạo khiến nàng phải rên lên đau đớn hóa ra chỉ là tiếng pháo lệnh của hạnh phúc. Giống như dòng nước đã băng qua được thác ghềnh, đến lúc bình yên duỗi dài giữa hai bờ cỏ, chàng cũng tuôn chảy vào nàng và nàng cũng bình yên duỗi dài trong mê mệt.
Một lúc lâu gần như là một lúc ngủ ngon, cả hai cùng mở mắt nhìn nhau như thể vừa sống qua một cuộc đời khác. Chàng có vẻ lúng túng ái ngại vì ngực và lưng quá đồ sộ, còn nàng thì thẹn thùng vì nhớ ra mình đã rên lên nho nhỏ.
Nhưng đó là một đêm xinh đẹp hơn hết thảy mọi đêm, những vì sao được tẩm trong hơi thở của muôn hoa và không khí thoảng mùi hương của cỏ sắc và hương thầm của phấn bông lau, hai người đã chìm trong lối đi ngập tràn cỏ phấn hồng và trong tiếng ca ngân dài của côn trùng quen thuộc, hai người đã đuổi nhau như hai con chồn lông trắng chạy bồng bềnh giữa đám cỏ bềnh bồng, cho đến khi mệt nhoài hay là cố ý mệt nhoài để được ngã lên nhau.
Đó là một đêm mà sự sống và sự chết gặp nhau một cách bàng hoàng, sự sống và sự chết ôm riết nhau thân ái như hai người bạn tri kỷ, sự sống mạnh mẽ và quyến rũ như một người nam, còn sự chết đằm thắm và dịu dàng như một người nữ, sự sống và sự chết lướt tới như hai tia lửa điện gặp nhau trong mây.
Và trong mùi hương của cỏ bồ xít, dưới những vì sao đẹp như hạt lệ mừng và trong khi dòng suối của ấu thời cất tiếng ca quen thuộc, chàng cảm thấy hơi nóng của thân thể nàng đã làm cho khuôn mặt mình ửng chín.
Đột nhiên bẽn lẽn vì thân thể giàu có tinh khôi của mình trống trơn dưới mắt chàng, nàng dấu mặt trong mái tóc dài cứ như hờn dỗi, thực ra là náo nức đợi chờ như mặt đất ẩm ướt chờ mùa xuân.
Chàng mạnh khỏe ào ạt như dòng nước mát tưới lên thịt da nàng đang nứt khô hạn hán, làm nở rộ những bông hoa chưa nhìn thấy bao giờ.
Và nàng, nàng mênh mông như biển, ôm choàng tất cả, dung chứa tất cả, nàng không tan chảy như chàng, nàng lớn lên như bầu trời và mênh mông như đêm tối, chính nàng nâng đỡ chàng, dạy bảo chàng, chính nàng nghiêm mặt răn đe, nhưng cũng chính nàng ngợi khen khích lệ.
Cả hai đưa nhau lên tột đỉnh của sự sống và xuống sâu tận cùng của sự chết, cả hai đều cháy ấm và thịt da reo lên như lửa mùng gặp củi.
Nàng cảm giác hôm nay mình mới thực là mình, dường bệ và lộng lẫy, nàng ngự trị trên ngai kết bằng đài hoa do chàng mang tới và chàng chẳng phải là hoàng tử mà là một thị đồng ngoan ngoản.
Cả hai đều muốn nói cảm ơn lẫn nhau.
Chàng nằm sát bên nàng trên mặt đất hăng nồng mùi cỏ bồ xít, chàng luồn tay dưới chiếc cổ trắng và sáng như một ý tưởng nhân hòa thánh thiện, lùa những ngón tay vào trong tóc nàng với vẻ lười biếng, lặng nghe cảm giác rã rời nhưng hết sức dịu êm lan tỏa khắp châu thân, chàng nói khẽ,
ngủ đi em, ngủ một chút nghe em
và nàng ngoan hiền khép mắt,
nhưng chàng biết cũng như mình, nàng không ngủ, nàng thở thật nhẹ nhưng hơi thở nàng vẫn cứ lay động chàng bởi mùi thơm như ướp bằng hương lá chanh và không chỉ ở ngực nàng mà cả người nàng cũng bồng bềnh như một con thuyền nhấp nhỏm muốn ra khơi
Và con nước lại lên, gió lại nổi, buồm lại phồng căng, họ lại đưa nhau đến những miền trù phú tịch liêu là vương quốc của riêng hai người. Họ nhìn nhau yên lặng như chưa bao giờ được nhìn nhau no nê như thế.
Chàng thấy khuôn mặt nàng sáng lên trong đêm tối với hai con mắt nửa dỗi hờn nửa diễu cợt, nhưng miệng nàng lại tỏa sáng một nụ cười ấm áp rất bao dung. Chàng hiểu đó là một ân sủng sẽ đỡ nâng chàng trong suốt cuộc đời.
Còn nàng, trước mặt nàng không còn bầu trời, sao đêm, bóng núi mà chỉ có chàng mạnh bạo như một đám mây sũng nước. Có lúc nàng đã muốn nâng mình lên hôn phớt cái khuôn ngực mướt mồ hôi của chàng, liếm láp cái vị mặn ngọt ngào từ cơ thể săn chắc. Nàng nương theo hai cánh tay vững chãi như hai trụ chân cầu, cố đưa cằm cho môi chạm vào ngực và trong một thoáng mơ hồ nàng nghe tim chàng đập như một hồi trống thúc quân.
Nàng bàng hoàng đánh rơi mình xuống, không phải vì giật mình mà vì biết chàng đã vào thật sâu, nàng nhớ ra mình đã kêu lên, không biết có phải tên chàng hay một tiếng gì tựa như tiếng khóc, một tiếng rất nhỏ nhưng lay động đến cả đất trời,
nàng nghĩ thầm, mình chết, sung sướng được chết
Và với cái chết êm ái ngọt ngào như thế, nàng thấy trong người ứ căng niềm sống. Ngực nàng như buồm no gió với hai núm vú đỏ hồng đã ngã màu nâu ướt. Cả người nàng như được thay da nên rất mỏng, rất mới, rất thơm đến nỗi cảm nhận từng chút hơi ấm của người chàng. Nàng có cảm giác mình là ngôi nhà xây xong đẹp đẽ nhưng lại đóng kín, nay đã được mở cửa bởi bàn tay của chủ nhân thanh lịch. Ngôi nhà thân thể nàng giờ đây là của chàng. Lạ lùng làm sao, nhờ có chàng nên mới biết được mình có bao nhiêu là kho báu, bao nhiêu là khoái cảm, bao nhiêu là rẩy run. Chàng đã ân cần đưa tới những nơi giàu có, phát sáng, khiến nàng hiểu được rằng, từ đây nhịp máu chạy dưới thịt da nàng, ngân vang trong các đường gân mạnh khỏe đều vọng âm hơi thở và nhịp máu của chàng. Giọng nói của nàng cũng trầm ấm, thiết tha và nũng nịu hơn, như thể là hạ xuống nửa cung bậc cho vừa với bản hòa ca của chàng. Bằng cái nhìn rất mới, nàng nhìn chàng như thể chiêm ngưỡng một vị thần bổn mạng. Nàng muốn nói hết những ý nghĩ của nàng cho chàng nghe, muốn cảm ơn chàng một lần nữa và nàng tin chàng cũng muốn như thế.
Thật dịu dàng, nàng nghe tiếng chàng gọi nhưng không phải ở sát bên tai mà ở tận một dòng suối xa, một tiếng gọi nhẹ làm sao nhưng cũng vang dội xiết bao. Nàng nhìn chàng, không lên tiếng cũng không gật đầu, nàng muốn được hôn lên cái miệng nồng nàn đó, đôi mắt thắm thiết đó, cả bàn tay tọc mạch đó, nàng muốn được nói với chàng không chỉ một lần mà còn nhiều nữa trong suốt cuộc đời dài màu mỡ. Nhưng nàng e thẹn không nói nên lời, chỉ đáp lại chàng bằng một nụ cười mà chàng hiểu như một lời mời gọi. Nàng thấy chàng một lần nữa nghiêng xuống như một đám mây sũng nước, hơi thở chàng lại đun nóng khiêu khích nàng để rồi cả hai cùng tan ra hòa nhập với bóng đêm vô tận.
Và bây giờ nàng hiểu được tại sao dưới ánh nắng mặt trời hoa lại nở, nhựa lại chảy trong cây, trái nhú lúp xúp trên đầu những đài hoa, hiểu được tại sao lúa trỗ đòng đòng, lúa chín, tại sao con tằm bụng chứa đầy kén và nàng thầm kêu tên chàng như gọi tên môt nguồn phúc.
Bây giờ mọi sự hoàn hảo và tự nhiên như những lần đã tắm không quần áo, những lần gối đầu lên nhau nằm ngủ như chó con. Bây giờ hạnh phúc là một cái gì gần gũi và có thật.
Và như dòng suối vẫn chảy, như trái tim xinh đẹp của các vì sao vẫn đập, hai người đã nhu thuận khôn ngoan trong nhịp điệu âm thầm của trời đất, hai người đã chết hằng triệu lần và cũng hằng triệu lần được tái sinh, trong những phút giây của thiên thu ngắn ngủi, đã dạo chơi từ địa ngục đến thiên đàng, đã bay bổng trong những phút thoát thấn vi diệu như cái chóp đỉnh điên cuồng của các đại nghệ sĩ trong khi sáng tạo đã vươn tới.
Một lần nữa nàng thấy mình lớn bằng trời đất, nâng đỡ chàng, dạy dỗ chàng

KHUẤT ĐẨU

NGÀY RỜI PHỐ NÚI

nguyendangtrinh

ngoảnh lần nữa ngó ngàn thông cổ tích
ngó thiên thần thiêm thiếp giấc hương nhu
em khép mắt vờ như không hay biết
rèm mi gầy lấp lánh giọt hoang vu

bài thơ lính hiền hiền em giấu giữ
khẽ ngâm nga đôi lúc tự nhiên buồn
trang giấy trắng chưa ngả màu năm tháng
sao nửa chừng vô cớ dửng dưng buông

ấm ức mãi lờ mờ ta cảm nhận
hòn đá lăn rêu chẳng bám bao giờ
đời lính thú bọt bèo cơn gió núi
đạp trái mìn xác chưa lửng ba lô

những tên phố tên phường… thân thiết thế
mấy ai ngờ phút chốc lạ lùng nhau
những bờ thác bờ hồ… thơm thảo vậy
cũng vô tình lia nhát mắt dao cau

chào phố núi bụi mù mòn áo trận
chào búp tình vừa nụ đã tàn bông
chào niềm vui chào nỗi buồn sương khói
về miền xuôi ta chảy nốt đời sông…

nguyễn đăng trình

ÂM VANG CỦA SÓNG

nguyenhaithao

Sóng vỗ vào lòng ta
Một thời lãng mạn
Em chạm vào tim ta
Bằng vòng tay của cát
Bằng đôi mắt của đêm
Bằng đôi môi mặt trời

Một ngày
Đôi mắt của đêm
biến – mất
Đôi môi mặt trời
chìm – khuất
Vòng tay của cát
buông – xuôi
Để em cũng theo sóng
trôi đi – trôi xa…

Ta lại trở về ta
của tháng năm nào hiu quạnh
Đêm đêm
dạo những khúc bi ca
một thời lây lất
Vô tình quên
Mặt trời đã ngủ cuối chân mây
Ta còn gì
Ngoài âm – vang – của – sóng?

NGUYỄN HẢI THẢO