VIẾT VỀ ANH NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Hôm nay là ngày giỗ 4 năm nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Anh Phạm Tín An Ninh gợi ý tôi viết một điều gì đó cho Đặc san Võ Tánh Nữ trung Học Nha Trang của năm 2015 để tưởng niệm cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng cũng là một cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang năm xưa . Điều tưởng rằng đơn giản kia nhưng khi ngồi xuống để lắng nghe dòng cảm xúc thì lại khó khăn , bởi vì anh Nguyễn Xuân Hoàng là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam thời đương đại . Có quá nhiều bạn bè trong giới văn thơ hải ngoại cũng như trong nước viết về anh ấy . Dùng ngôn ngữ để bày tỏ sự thương mến của mình dành cho anh ấy e rằng không đủ ngôn từ và cũng dễ trùng lấp vào những bài viết khác

Anh Nguyễn Xuân Hoàng mất cũng đã tròn 4 năm . Mộ của anh chắc giờ cũng đã xanh cỏ . Tháng 5 năm 2014 khi nghe anh Song Thao báo tin anh Nguyễn Xuân Hoàng bị vướng vào một căn bệnh hiểm nghèo mà sự sống có thể đếm được từng tuần thậm chí từng ngày làm tôi bàng hoàng và bất ngờ quá sức . Mới năm 2012 đây thôi nhân một chuyến đi Cali đến tham dự chương trình âm nhạc những sáng tác mới tại Le Petit Trianon Theatre, San Jose tôi còn gặp anh Hoàng và chị Vy tươi rói và khoẻ mạnh . Lần không hẹn nhưng tình cờ gặp lại đó anh tỏ ra mừng rỡ thân tình . Nhớ lại lần đầu tiên tôi còn chân ướt chân ráo từ New Orleans bay lên San Jose được anh đón tiếp cũng y như vậỵ . Anh dư biết tôi là dân nhà quê lên tỉnh, để tránh cho tôi khỏi bỡ ngỡ , anh đã ân cần chu đáo như thể là anh từng quen biết tôi từ thời lâu lơ lâu lắc . Ngay lần đó tôi đâm ra cảm mến và cả nễ . Anh Nguyễn Xuân Hoàng là vậy , lúc nào cũng niềm nỡ nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy trong cuộc sống của anh có rất nhiều bạn bè thương mến . Với tôi anh Hoàng đặc biệt hơn người khác vì gốc gác của anh là dân Ninh Hòa , địa danh này cũng chính là nơi tôi được sinh ra và lớn lên . Anh cũng là cựu học sinh Trường Võ Tánh Nha Trang thời trung học , đó cũng là ngôi trường cuối cùng của tôi trước khi bỏ lại giữa đời chiếc áo trắng quần xanh để khoác vào người chiếc áo nhà binh . Suy ra giữa tôi và anh Nguyễn Xuân Hoàng là người cùng quê quán và học cùng một trường dù anh ra đời trước tôi gần một thế hệ . Nếu tính thế hệ thì tôi là học trò của anh . May mắn cho tôi là quen biết anh như giữa hai người cầm bút khi anh phụ trách chủ bút cho tạp chí Văn tại hải ngoại mà tôi là người cộng tác nên được anh xem là bạn văn .

Từ ngày được qua Mỹ định cư muộn màng , tôi kiếm sống bằng nghề công nhân . Tôi làm việc bằng tay chân cho một hãng xưởng đóng tàu , do đó công việc viết lách phải dùng đầu óc đối với tôi không phải là một công việc dễ dàng . Tôi hiểu điều đó bằng kiến thức vô cùng hạn hẹp của mình . Nhưng tôi thích thơ văn , đôi lúc rảnh rang không biết làm gì tôi cũng tập tành viết lách với mục đích giải tỏa bớt những suy nghĩ lan man thỉnh thoảng mắc míu trong cảm xúc của mình . Nhờ anh, tôi làm quen với tạp chí Văn , tôi có thêm nhiều bằng hữu, bạn bè dể thương mà trước đó tôi không hề nghĩ đến . Những lần nói chuyện qua phone với anh, anh luôn tạo cho tôi một cảm giác an tâm và thân thiện . Giọng nói của anh hiền lành từ tốn pha chất tếu của người Nha Trang . Anh luôn tỏ ra lạc quan và bình thản dù đôi khi trên con đường anh đi gặp phải không ít tiếng chì tiếng bấc của những người không cảm hiểu được anh . Với tôi anh là một người khiêm cung dạt dào tình cảm .

Trên một võ đài hai võ sĩ cùng múa may quay cuồng cố tung cho nhau những cú đấm rất là hung hăng , khán giả vỗ tay rầm rầm khen ngợi khiến ta có cảm tưởng hai võ sĩ đó đều là cao thủ mà tất cả ngón nghề trong thiên hạ đều nằm trong tầm tay của họ . Nhưng một võ sư không làm thế . Một võ sư chỉ ngồi im lặng quan sát . Anh Nguyễn Xuân Hoàng đối với tôi là một võ sư . Ngay cả những ngày tháng này có thể gọi là từng những giây phút còn lại trên đời này , anh vẫn lạc quan để đón nhận . Nhìn nét mặt anh bình thản qua những tấm hình chụp trên giường bệnh không ai nói rằng đó là một người sợ phải ra đi . Tôi chưa bao giờ được chết cho nên không có kinh nghiệm nói về điều đó, nhưng tôi đã từng được sống và trên thế gian này nếu sống chỉ là một sinh hoạt theo nhu cầu ngày hai buổi và cứ thế tiếp diễn đến ngày nằm xuống gọi là cái chết thì sống và chết có gì khác nhau ? Vì thế cái chết chưa chắc hẳn đã là điều phải sợ

Nghe tin anh bệnh nan y trong khi vì công việc kiếm cơm tôi phải theo chiếc hộ tống hạm LPD 25 ra khơi trong vùng vịnh Mexico một tuần lễ để thử trước khi giao nó lại cho Hải quân vì đã hoàn tất . Chiếc chiến hạm này mà một số sắt dùng để đóng nó được lấy từ chiếc máy bay United Airlines Flight 93 bị khủng bố khống chế rơi ở Pennsylvania nhân sự kiện 9/11/2001 . Khi ra đến hải phận quốc tế mọi tín hiệu sẽ nằm ngoài vùng phủ sóng . Như vậy có nghĩa là tôi không có phương tiện để liên lạc được với bạn bè trong bờ để biết tin tức về anh .

Những ngày lênh đênh trên biển theo con tàu , mình tôi giũa biển trời mây nước bao la, trong tận cùng của một tia hy vọng nhỏ nhoi tôi cầu nguyện Phật trời sẽ ban cho anh một nhiệm mầu . Đó là diều duy nhất tôi có thể làm được cho anh . Nhưng điều nhiệm mầu đó đã không xảy ra . Ngày 13/09/2014 anh đã ra đi để lại bao tiếc thương cho bạn bè và gia đình . Tội nghiệp cho chị Vy vốn là người yếu đuối , bệnh hoạn trường kỳ luôn tựa vào vai anh . Trên Facebook có thể gặp chị Vy hằng ngày nhưng ít khi thấy chị được khoẻ mạnh . Hầu như lúc nào cũng thấy chị online khi nằm trong bệnh viện . Trong cuộc sống bạn có thể quên đi những từng cùng nhau vui vẻ , nhưng bạn không thể bao giờ quên được những từng khóc cùng nhau . Chị Vy là người đã những từng khóc cùng nhau với anh Nguyễn Xuân Hoàng . Còn tôi và những ai thương mến anh thì dù sao cũng chỉ là người từng cùng nhau vui vẻ

Vào một ngày nào đó thời gian sẽ nguôi ngoai vào quên lãng mọi thứ , nhưng những gì anh để lại cho văn học Việt Nam mãi mãi sinh tồn . Cũng như tình cảm tôi dành cho anh không phải là một công tắc điện muốn bật là bật muốn tắt là tắt . Tình cảm khi đã bật lên rồi thì khó mà tắt được . Anh như một người anh lớn đã có cùng tôi nhiều kỷ niệm . Chắc chắn một điều mỗi khi tối trời bước vào căn nhà thơ văn đầy bóng tối , tôi chỉ bật mở công tắc ra thì anh lại trở về .

Quan Dương

Trong hình trái qua phải : anh Nguyễn Đình Toàn – cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng – Quan Dương – Lê Thu Ba – cố nhà thơ Cao Đông Khánh – nhà văn Phạm Ngũ Yên

Advertisements

KỂ CHUYỆN VỀ MÁ TÔI

 

Khi quân Bắc vào cào xé miền Nam
Má mắc u lòng lên đôi vai gánh
Bảy thằng con trai, năm thằng là lính
Lần lượt vô tù bỏ má héo khô

Gió tụ đông về lạnh nhíu bờ da
Đỏ mắt má mòn chậm dòng lệ khổ
Năm thằng con trai, chiến tranh năm ngã
Khi đi ở tù, năm đứa năm nơi

Má xẻ làm năm giọt lệ già nua
Má trải chia đều ba miền đất nước
Những giọt già nua quặn từng khúc ruột
Má tưới thân gầy lên con mong manh

Tóc má trắng dày theo cuộc điêu linh
Núm ruột má mang làn dao ai cắt
Khi tôi ra tù lăn thân cầu thực
Bỏ má đoạn đành bỏ nước mà đi

Má nuốt ngậm ngùi má hiểu vì đâu
Thằng con cam lòng làm chim xa tổ
Má gầy hom như ngọn đèn trước gió
Nuối đợi thằng con, gượng lắt leo vàng

Thằng con thất thời trôi giạt tha phương
Bì bõm xăn quần lội dòng cơm áo
Vũng nước phù trầm rẽ năm, rẽ bảy
Cắn xé lòng đời lội mãi không qua

Để giọt má buồn buổi con đi xa
Ngập cả hồn con chuỗi ngày lưu xứ
Đất lạ quê xa cuối đời thấm hiểu
Hình bóng má giờ đã mất còn đâu

Quan Dương

LÝ SỰ ĐI VÀ VỀ

 

 

Sau 25 năm ta về từ chỗ ta đi
Nơi ta đi giờ không còn về đến
Nếu ai hỏi nơi nào quê hương của bạn
Xin trả lời quê hương là nơi này

Như vậy thì phải xét lại câu thơ
” Quê hương mỗi người chỉ một ”
câu thơ của một nhà thơ trong nước
“Ai không hiểu không lớn nổi thành người”

Ta nghĩ thầm có đúng vậy không đây
Việt Nam ở bên kia nửa vòng trái đất
Khi ta chết xác thân này sẽ lấp
Đất Mỹ này là nơi ta vùi xương

Nơi cuối đời đó chính là quê hương
Nếu nói một chưa chắc rằng đã đúng
Lịch sử sai lầm bởi từ thiên mệnh
Biết bao người quê hương trở thành hai

Giờ quay sang bàn luận chuyện đúng sai
Giữa hai chữ đi và về nhập nhằng chưa rõ
Mấy người bạn nhiều khi hỏi nhỏ
Khi nào thì ông về Việt Nam

Nhà cửa ta trên đất Mỹ rõ ràng
Hỏi ngược ngạo muốn vặn cho trẹo họng
Nhớ uốn lưỡi để hỏi sao cho đúng
Đi Việt Nam không thể gọi là về

Nói rõ hơn nơi đó giờ đã xa
Kể từ lúc chúng tràn vào cướp đất
Nơi không có nhà nên gọi về là trật
Hiểu đúng hơn phải nói là đi

Ai cũng biết quê hương là nơi có nhà
Là nơi mỗi lần chân gối mỏi
Là mái ấm chở che ta quay lại
Là vòng tay ôm chặt lúc ta về

Nói lòng vòng chỉ tóm lại một câu
Đi Việt Nam mà nói về sai bét
Lý sư kiểu này sẽ có nhiều kẻ ghét
Nhưng đâu có lý nào em lại hiểu không ra

11/04/2018
Quan Dương

KỂ LẠI MỘT CHUYỆN TÌNH HỒI ĐÓ

 

Ngày xưa có hai đứa bé sống ở ven sông
Thường ra ngồi nhìn lục bình trôi trên mặt nước
Con bé muốn thằng nhóc vớt cho bằng được…
Những đám lục bình tim tím để làm vòng hoa

Thằng nhóc dại khờ kết vương miện cô dâu
Đâu biết hoa sẽ tàn sau khi rời thân nước
Con bé dỗi hờn
Dậm chân muốn khóc
Rồi vứt vòng hoa trả lại dòng sông

Thời gian trôi.
Hai đứa cùng lớn khôn
Người con trai lên đường.
Quê hương sa vào tay gìặc
Cô gái mỗi chiều nhìn theo con nước
Dõi mắt trông tìm vòng hoa tím
Ngày xưa
Cho dẫu cuộc đời chỉ là giấc nam kha
Nhưng cũng đủ đã tím trôi từ đó

Năm 2000. Khi lái xe băng qua xa lộ
Gã đàn ông giật mình khi bắt gặp màu hoa xưa
Gã tấp vào lề, lội xuống nước vớt được vòng hoa
Ứa nước mắt nhìn về phương trời xa
Lặng lẽ …

Người cảnh sát không cùng màu da hú còi ngừng lại
Rất thản nhiên phạt gã một ticket màu vàng
(cái tội cản trở lưu thông)…

Quan Dương

LỤC BÌNH HẠ UYÊN

 

Giữa màu trăng sáng trong hồn gió
Con đợi ba về hạ uyên nguyên
Bao năm biệt xứ sầu không ngớt
đau nhói lòng theo mỗi khúc đường

Từ lúc quê nhà cơn bão rớt
Ba đã không về vuốt mắt con
Từng nhát búa gào lên khẩn thiết
trên nắp quan tài tiếng đinh rên

Ba đã đoạn trường không trở lại
Cho trọn tình con dẫu một lần
Hai tay ba bẻ đôi giọt lệ
lời thơ ụa máu sau chấn song

lời thơ ba viết là di chúc
vọng mãi đời sau tiếng búa buồn
Còn lại thời gian là nỗi nhớ
theo ba đi hết quãng đời còn.

QUAN DƯƠNG

NGẬM NGÙI

 

Chiếc xe đò rùng mình nín thở
Quẳng xuống đường một nhúm xương khô
Gã lính ngụy lưu đày ngơ ngác
Chưa dám tin mình đã trở về

Gã băng qua mùa đông vào phố
Nắng loe hoe đọng ngã ba đường
Chiều ngủ vùi trên manh áo vá
Có con chim cất tiếng chào buồn

Dãy bạc hà ngang Trần Bình Trọng
gió thều thào lúc gã đi qua
Vàng thiêm thiếp thẫn thờ lá đợi
Chút mong manh xuân ấm chợt về

Chiếc cầu Trạm tuổi thơ đánh rớt
Ðám lục bình khóc ướt dòng sông
Còn sót lại chút gì ký ức?
đường cắt ngang như nhát dao buồn

Cây trụ điện đứng nơi góc chợ
Gánh cặp loa ruột thắt gan bầm
Hát ra rả ngàn lời mị ngữ
Còn riêng mình mòn mỏi tháng năm

Gã tha thẩn mò vào xóm cũ
Người quen xưa tản lạc muôn phương
Trời lồng lộng cao không vói tới
Giẫm cuộc đời nát vụn dưới chân

Con chó già ngồi chơi trước cửa
Ngửi hơi xưa lúc lắc đuôi chào
Chiếc áo mặc tróc bươm từng mảng
Con ruồi bay quanh mũi lao xao

Người công an trông coi khu vực
Biết gã về mang súng đến thăm
Con chó nản nhắm nghiền mắt đói
Chuyện thường ngày lâu thét thành quen

QUAN DƯƠNG

NỢ MỘT ĐIỀU KHÔNG NÓI

 

Núi kết núi dáng em nằm xõa tóc
Đợi chờ ai mà năm tháng mõi mòn
Thành phớ biển cùng em trong tiềm ức
Ta nhớ mình còn có một cố hương

Cố hương với cánh chim trời bay lạc
vào hồn ta hót tiếng hót nhẹ nhàng
Chia tóc em thành hai bờ trái đất
Nửa ở bên này nửa ở Nha Trang

Nửa ở bên này dòng sông em chảy
Len êm đềm qua ngõ ngách đời ta
Có chuỗi nắng ai xâu từ ký ức
Đeo nụ hôn lên gò má trắng ngà

Có giọt biển xưa chạy vòng khoé mắt
Như bóng hoàng hôn quanh quẩn nỗi sầu
Từ New Orleans ngồi nhớ về cổ tháp
Nối nụ buồn vào mắc xích hư vô

Chiều xa xứ vàng hồn ai vật vã
Rót thời gian xuống dòng nước xanh trong
Con đường cũ hỏi khi nào trở lại
Để bao giờ biển mặn được vầng trăng

Mơ một giấc mơ về một thành phố
Cổng nhà ta xưa dĩ vãng chứa đầy
Có tiếng guốc em đi từ một buổi
Cùng lời thề ước nguyện ở đâu đây

Cuộc sống vốn có nhiều điều khác biệt
Cuộc đời ta và em chẳng giống nhau
Ta có một tuổi thơ đầy khánh kiệt
Tuổi thơ em dòng sữa ngọt ca dao

Ta trải qua thời chiến tranh khốn khổ
Thành trái cây lột vỏ vứt ngoài đường
Em là giọt sương bón ta nhú rễ
Nứt xuân thì trên cuối biển đầu non

Rừng hành quân xưa mùa này sim nở
Nghe bên tai tiếng bìm bịp kêu chiều
Nỗi thấm đó giải thích sao em hiểu
Dĩ vãng của ta buồn như tương lai

Mưa xuống núi trôi Nha Trang ra biển
Xưa bày em môn đánh lưới ái tình
Tay lớ ngớ bủa ra ngoài vô vọng
Mõi mắt trông vời đã mấy mươi năm

Ta mắc nợ em một điều không nói
Cuộc sống khiến ta phá sản ngôn từ
Đêm chắc lưỡi tiếng thạch sùng quá khứ
Nếu có luân hồi xin hẹn kiếp sau

Quan Dương

BAO NHIÊU NĂM RỒI

 

Bao nhiêu năm rồi má có bao giờ vui ?
Kể từ khi Bắc Nam hai miền thống nhất
Tháng tư này ở phương trời xa lắc
Có một người ngồi vọng nhớ cố hương

Bao nhiêu năm rồi con sóng đại dương
Vẫn chưa trả thằng con mất nước
Để má với tuổi già đơn độc
Quặn từng ngày mang nặng đẻ đau

Có một ngày vào cuối tháng tư
Má yên giấc nghe giữa miền đất lạnh
Tiếng thở nhẹ của một loài cây cỏ muộn
Đưa bình yên theo gió thoảng đưa xa

Biết bao giờ con trở lại quê xưa
Bên mộ má cô đơn quá thể
Kẻ chiến thắng với tiếng cười ngạo nghễ
Vọng mãi trong con một nhát dao buồn

Lũ cai thầu mị ngữ nhân danh
một chủ nghĩa làm đau lòng giấy trắng
Làn roi thù cướp luôn giọt nắng
Trùm bóng đêm vô tận lên non

Biết bao giờ tìm lại được vầng trang
của thuở thơ ấu còn vòng tay má
Đã lâu rồi một dòng sông chảy nhẹ
đợi con thuyền lắng tiếng hò đưa

Tháng tư này con lại viết bài thơ
Sau bao nhiêu năm nước mình đã mất
Con biết má chưa bao giờ nhắm mắt
Bởi con không về từ buổi má đi xa

Quan Duong

Chấm Phết

Trái tim tôi
(chấm)
(xuống hàng)
Nay xin nạp mạng
(gạch ngang)
cho người
Em thênh thang
(phết)
mây trời
Còn tôi
(hai chấm)
như loài bung xung
Em thanh khiết
(phết)
tựa trăng
Còn tôi
(chấm hỏi)
giống thằng cuội thôi
Đêm rằm dựa gốc đa chơi
Nhìn thiên hạ
(chấm)
mình tôi một mình
Quan Dương

RUỘT ĐAU CHÍN KHÚC

 

tặng Lê Thu Ba để cùng thương nhớ Lục Bình đứa con đầu bạc phước được sinh ra trong cơn hấp hối của đất nước và chết trong khổ não bần cùng

1.

Khi đổi về thị trấn Bình Khê
Tôi đâu biết hai chân chợt mỏi
Mái tóc dài chấm lưng con gái
Em thả thòng chặn mất lối đi

Thì thôi đành trồng đại cây si
Đời lính tráng làm sao biết trước
Em vô tư làm như không biết
Trên môi hồng nở nụ cười xinh

Lại cộng thêm khoé mắt long lanh
Làm mềm nhũn tim thằng sỏi đá
Rồi bỗng nhiên người dưng kẻ lạ
Em ngoéo tay kết nghĩa bà con

Tôi con trai nên gọi là chồng
Em con gái đương nhiên là vợ
Tôi cưới em trong cơn bão lửa
Kệ cuộc đời mấy độ thê lương

Tôi yêu em, yêu mỗi góc đường
Từng bước chân , đi, về in dấu
Như hận thù chiến tranh thống khổ
Đã lắng chìm giữa cõi vô biên

2.

Giặc tràn về chiếm lấy Phú Phong
Qui Nhơn thành tuyến đầu máu lữa
Buổi chia ly ngăn dòng lệ nhỏ
Sợ bận lòng em lúc tản cư

Mối u sầu gánh tuổi hai mươi
Em ray rứt tôi người ở lại
Cũng đành thôi chiến tranh là vậy
Nợ tang bồng phải trả cho xong

Đêm Qui Nhơn tay gạt nỗi buồn
Tay ghì súng nhìn đời cô quạnh
Tự nhủ lòng mai này còn sống
Đi tìm em giữ vẹn sắt son

3.

Chiến cuộc tàn, tháng ba tan hoang
Kẻ thất trận làm người sống sót
Chân bước qua xác người chồng chất
Trắng hai tay hụt hẫng tương lai

Tôi tìm em xơ xác tả tơi
Trái tim vẫn vương màu áo trắng
Vẫn trong tôi em về với nắng
Vẫn nụ cười một thuở đảo điên

Tìm em cùng trả nợ oan khiên
Ta đã trót vay từ kiếp trước
Biển thổi giạt tôi lên Phú Quốc
Cánh lục bình câm lặng đìu hiu

4.

Tôi cưới em chưa được bao ngày
Đâu có lẽ xa nhau mãi mãỉ
Từ giã biển theo hơi thở gọi
Dẫu sinh ly cũng một lời nguyền

Cuối tháng tư tôi gặp lại em
Sài Gòn đang vào cơn hấp hối
Em nghẹn ngào nhìn tôi không nói
Lệ lưng tròng chẳng dám thở than

Ngày chiến tranh nhịn đói đâu cần
Gặp lại nhau như còn tất cả
Dù cuộc đời cho là dâu bể
Dù trắng tay, đen bủa tương lai

Em bảo tôi con sắp chào đời
Quê hương lại sa vào tay giặc
Tổ quốc tôi: cánh bèo con nước
Đặt tên con: Dương thị Lục Bình

Mỗi cánh bèo là mỗi gian truân
Khi chào đời khổ đau, con nhớ
Mẹ đã ươm con từng hạt thở
Hoa lục bình: sắc tím quê hương

Nhục đau này để lại cho con
Giòng máu đó muôn đời bất khuất
Trên bản đồ không còn đất nước
Nhưng trong lòng tổ quốc muôn năm

5.

Tôi vào tù trả nợ tiền khiên
Miền đất khổ, em làm cô phụ
Biết bao năm trả hoài mới đủ
Cho nên em mưa nắng đợi chờ

Chiều mây rừng, trắng màu áo xưa
Trắng mênh mông bên bờ nỗi nhớ
Mái tóc dài thả buông quá nửa
Em nụ cười khờ dại xinh xinh

Con suối nhỏ len lách bên rừng
Cuốn thời gian mài mòn viên sỏi
Viên sỏi đau, lòng tay hôi hổi
Tôi bồi hồi trong nỗi xa em

Con phố nơi hai đứa mình quen
Giờ có còn đường chân bé nhỏ
Dấu chân đó, nay em thiếu phụ
Ngồi ru con để đợi người về

6.

Mùa đông gầy ướt mảnh sơn khê
Người thiếu phụ ôm con cô lẻ
Người chẳng lại đường trăng bỏ ngỏ
Người bây giờ người ở nơi đâu

Đứa con thơ từ buổi chào đời
Chưa một lần cùng cha gặp gỡ
Giọt sương rụng làm xanh lá cỏ
Giọt sương mềm ướt cõi u miên

Con chào đời giữa buổi truân chuyên
Củ khoai mì không là cổ tích
Bởi thượng đế không là có thật
Nên nhân gian chịu cảnh đọa đày

7.

Một năm, rồi năm năm trôi qua
Con kiệt sức không chờ ba nữa
Giơ hai tay rơi vào huyền sử
Con đầu hàng chối bỏ cuộc chơi

Giọt lệ nào còn sót trong tôi ?
Buổi lao công mài thơ trên đá
Chân bé bỏng con tôi đạp ngã
Tảng đá thù, đè nặng tâm can

Nắm đất bụm ủ nấm mồ con
Vung nhát kiếm chẻ đôi giòng lệ
Thôi hết rồi bàn chân bé nhỏ
Đã đi xa dẫm nát cả hồn

Vẫn chưa về sau buổi chiến chinh
Tôi biền biệt rừng sâu núi thẳm
Vợ của tôi miền quê khổ nạn
Con của tôi đất lạnh muôn thu

8.

Đừng bao giờ hỏi tôi tại sao
Trong con tim chứa đầy thống hận
Tôi người lính tự do nhân bản
Bị quân thù cưỡng đoạt từ tâm

Năm một nghìn chín trăm bảy lăm
Gã thanh niên hai mươi lăm tuổi
Đầu cúi gầm hai tay bị trói
Còn bao điều bỏ lại sau lưng

Manh áo tù rằn đỏ sọc xanh
Chiếc lon gô bám vài hạt gạo
Đường khẳng khiu giữa đời nhân ảo
Gọi tên em lây lất qua ngày

Năm một nghìn chín trăm tám mươi
Em đùm đụp bươn xuôi chải ngược
Mỗi xuân về già thêm cọng tóc
Chẳng áo hoa cũng chẳng lượt là

9.

Năm năm, rồi sáu năm trôi qua
Bầy sói lang nợ đời thanh thỏa
Canh bạc lường ăn thua đã đủ
Thấm ba đời di hận thấu xương

Liệng tôi ra tơi tớt bầm mình
Kẻ chiến thắng reo cười hả dạ
Quai dép đứt vấp chân vào đá
Cái đau nào cũng giống như nhau

Mảnh trên lưng . Mảnh vá trên vai
Áo tôi vá nhiều màu sặc sở
Trên đầu tôi mảnh cờ màu đỏ
Đít quần tôi mảnh vá màu đen

Tôi chỉ còn có mỗi con tim
Để ký gởi cho em yêu dấu
Ráng mò mẫm nơi xưa tìm lại
Chút tháng năm nào của riêng mình
Quan Dương