NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ: BÁ DƯƠNG

nguyenhoithu

VÀI LỜI VỀ TÁC GIẢ & BẢN QUYỀN:
Ông Bá Dương sinh năm 1920 ở Trung Quốc lục địa, chạy sang Đài Loan năm 1949 khi cộng sản thắng tại Trung Quốc. Là một nhà thơ, nhà văn, nhà báo và sử gia. Ông đã bị bỏ tù 10 năm tại Lục Đảo (Đài Loan) vì dịch sang tiếng Trung Quốc một tranh hý họa Popeye (Pôp-pay) mà chính phủ Đài Loan cho là phạm thượng. Năm 1977, khi ra khỏi nhà tù, ông bắt đầu đi nói chuyện về hiện tượng “người Trung Quốc xấu xí”. Những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông được tập trung lại thành quyển sách mà các bạn đang cầm ở tay. Ông hiện sống ở Đài Loan với vợ là bà Dương Hương Hoa, một thi sĩ. Vì chỉ có một bản in tại lục địa, chúng tôi không biết phải liên lạc làm sao để xin phép ông Bá Dương, nên nhân đây xin lỗi ông về việc đã mạn phép dịch sách của ông ra tiếng Việt trước khi được phép. Tôi nghĩ nếu ông biết được chắc cũng vui lòng tha thứ. Nếu có ai mách cho tôi biết ông ở đâu tôi sẽ trực tiếp xin lỗi ông một lần nữa và chính thức xin phép ông sau
. Nguyễn Hồi Thủ

Diễn văn đọc tại Đại học Iowa (Iowa), ngày 24/09/1984

Đã nhiều năm nay tôi muốn viết một quyển sách dưới tên gọi “Người Trung Quốc xấu xí”. Tôi nhớ quyển sách “Người Mỹ xấu xí” sau khi viết xong đã được Quốc vụ viện Mỹ dùng làm tài liệu tham khảo cho sách lược của mình. Người Nhật cũng có một quyển “Người Nhật xấu xí”. Tác giả là Đại sứ Nhật tại Ác-hen-ti-na. Ngài Đại sứ này (sau khi viết ra cuốn sách đó) liền bị cách chức. Đấy có lẽ là cái khác nhau giữa Đông phương và Tây phương. Trung Quốc so sánh với Nhật Bản có lẽ còn kém một bậc. Giả thử tôi viết quyển sách này, có nhiều khả năng các vị phải vào tận nhà lao để đưa cơm cho tôi. Vì thế tôi vẫn không viết, nhưng luôn luôn tôi tìm một cơ hội nói chuyện về vấn đề này để thỉnh giáo các cấp, các giai tầng trong nước. Thế mà cái chuyện báo cáo bằng miệng này cũng không phải đơn giản. Tại Đài Bắc, người mời tôi đến nói chuyện, chỉ nghe đến đề mục này đã vội bỏ lời mời. Cho nên suốt đời tôi đến nay đây là lần thứ nhất tôi được nói về “người Trung Quốc xấu xí”. Tôi cảm thấy rất là hứng thú. Xin cảm tạ quý vị đã cho tôi cơ hội này. Có một lần Đại học Đông Hải tại Đài Trung mời tôi đến diễn giảng. Tôi báo họ về đề mục này. Tôi hỏi Hội trưởng Hội Sinh viên xem có thể gây ra vấn đề gì không. Anh ta bảo: “Tại sao lại thành vấn đề?” Tôi nói với anh ta rằng: “Anh đi thăm dò nơi ông Hiệu trưởng xem sao, bởi vì cá nhân tôi vốn đã là người có vấn đề, lại nói về một đề mục có vấn đề nữa sẽ có thể thành nặng đấy”. Sau khi nói chuyện với Hiệu trưởng, anh ta gọi điện đến Đài Bắc cho tôi bảo: “Vấn đề thì không có, nhưng có thể sửa đổi đề mục không? Hiệu trưởng bảo cái tít này hơi khó nghe”. Tiếp đó anh đề nghị tôi một đề mục dài lòng thòng, với mũ áo đàng hoàng, rồi hỏi tôi có đồng ý không? Tôi bảo: “Dĩ nhiên là không đồng ý, nhưng nếu anh nhất định phải sửa thì tốt hơn là cứ sửa”. Đó là lần đầu tôi nói chuyện chính thức mà có liên quan đến “người Trung Quốc xấu xí”. Trước khi nói chuyện, tôi bảo: “Tôi mong rằng khi tôi nói sẽ thu băng lại để sau đó tôi có thể chữa lại thành một bài văn”. Anh ta khẳng khái hứa sẽ làm. Sau khi nói xong, lúc nghe băng thâu lại thì chỉ có mỗi vài câu đầu, sau đó toàn băng trắng! Năm nay tôi 65 tuổi. Ngày 7 tháng 3, hôm bạn bè ở Đài Bắc làm lễ sinh nhật cho tôi, tôi bảo họ: “Tôi đã sống 65 năm, toàn là những năm tháng gian nan”. Ý tôi muốn nói rằng đấy không phải là sự gian nan của riêng tôi, nhưng của tất cả những ai đã làm người Trung Quốc. Bạn bè ngồi đó đều rất trẻ tuổi, đặc biệt bạn bè ở Đài Loan đa số là những người lớn lên trong hoàn cảnh kinh tế sung túc. Cùng các bạn lại nói chuyện gian nan chắc các bạn không thích nghe, lại có thể không tin hoặc không hiểu. Sở dĩ tôi nói gian nan đây không phải là vấn đề cá nhân, lại không phải vấn đề chính trị. Cái vấn đề của mọi người Hoa này lại vượt ra ngoài phạm vi cá nhân và chính trị nữa. Đây không phải là gian nan một cá nhân đã trải qua, cũng không phải hoạn nạn của riêng thế hệ cá nhân tôi. Nếu chúng ta không thấu hiểu được cái hoạn nạn này, không hiểu được những nhân tố độc hại của văn hóa Trung Quốc thì vĩnh viễn chúng ta không thể ngăn ngừa được sự tái sinh của nó. Chín mươi phần trăm người trong trại tỵ nạn Khao-Y-Đăng ở Thái Lan là người Hoa bị trục xuất từ Việt Nam, Kampuchia, Lào (không nói quốc tịch mà chỉ kể huyết thống và văn hóa). Lúc ấy, có một nữ sinh viên do một viện văn hóa Hoa kiều tại Đài Loan phái đến Thái Lan gia nhập đoàn phục vụ. Đến nơi được vài hôm, cô ta đã không chịu nổi, khóc lóc rồi xin về. Cô ta bảo: “Cái thảm trạng này không ai chịu nổi!”. Tôi đến Thái Lan sau đó, thấy hoàn cảnh những người tỵ nạn quả tình không thể nào không rơi nước mắt được. Ví dụ người Hoa không được phép có tài sản riêng, không được buôn bán. Nếu áo anh rách, anh trả cho bà cụ bên cạnh nửa bát cơm để bà cụ vá áo cho anh, đó cũng bị xem là một hành vi buôn bán. Cảnh sát Thái vì vậy có thể lột truồng bà cụ này, giải ra tòa án địa phương để tra hỏi: “Tại sao mày lại làm chuyện phạm pháp như vậy?” Đấy, chỉ đơn cử một sự kiện nhỏ trong những bức nhục người tỵ nạn phải chịu. Ngoài đau xót và phẫn nộ, tôi chỉ có một suy nghĩ sau: Người Trung Quốc đã làm điều gì ác để phải chịu cái cảnh đối xử như vậy? Năm trước, hai vợ chồng tôi sang Pa-ri. Từ trong tầu điện ngầm ra, thấy một quầy hàng bán nữ trang, chủ quầy là một phụ nữ trung niên nét mặt Á đông. Tôi và vợ tôi vừa xem hàng vừa nói chuyện. Bỗng nhiên chủ quầy dùng tiếng Hoa giải thích cho chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy rất thân thiết bèn hỏi bà ấy: “Tại sao bà lại nói được tiếng Hoa?” Bà bảo: “Tôi là người Hoa, từ Việt Nam trốn sang”. Lại đúng là người đã từ trại tỵ nạn Khao-Y-Đăng. Bà vừa nói vừa nức nở. Tôi chỉ biết an ủi bà rằng: “Thôi, ít nhất là bây giờ cũng đỡ, không bị đói”. Lúc sắp sửa chia tay, bà ta thở dài nói: “Ôi! Làm người Hoa sao mà khổ nhục thế!”. Đối với lời than thở này suốt đời tôi sẽ chẳng bao giờ quên được. Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương – thời nay tức là Đông Nam Á, (thật ra Đông Nam Á còn rộng hơn ý ông Bá Dương muốn nói – ND) – còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Ma-lai-xi-a nói rằng: “Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn. Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận. Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết! Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chối tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?”. Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú có khác gì? Mười năm tai vạ lớn làm cho bao người đã biến thành cầm thú. Một dân tộc như vậy, phẩm chất sa đọa tới mức đó làm sao có đủ sức lại đứng lên được? (Mao Trạch Đông tuyên bố dân Trung Quốc từ đây lại đứng lên rồi – ND). Tại Mã-lai-á (Malaysia), nơi người Hoa chiếm hơn 30%, có lần tôi đi tham quan bảo tàng viện, bên trong dùng văn tự Mã-lai, có chua cả tiếng Anh, nhưng chẳng có tiếng Hoa. Nói thế không phải cứ có tiếng Hoa là tốt, không có là không tốt, đó là một vấn đề khác. Nhưng hiện tượng này nói lên một phần lòng dạ hẹp hòi của người Mã-lai, một phần lại nói lên tình trạng thiếu lực lượng, địa vị và không được tôn trọng của người Hoa. Người Hoa ở Thái Lan nói: “Chúng tôi nắm chắc trong tay mạch máu của lúa gạo Thái”. Đây chỉ là điều tự mình an ủi mình. Chỉ cần một pháp lệnh được ban hành là các người sẽ chẳng còn gì cả! Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao. Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế? Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi? Ở Cộng hòa Síp, một bên là người Thổ-Nhĩ-Kỳ, một bên là người Hi-Lạp, khác nhau về văn tự, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo mà còn có thể sống chung được. Tại sao chúng ta, những người cùng huyết thống, cùng mặt mũi, cùng tổ tiên, cùng văn hóa, văn tự, ngôn ngữ, chỉ khác nhau có khu vực địa lý mà lại có thể xảy ra hiện tượng này? Sự kiện trên khiến cho việc “làm một người Hoa” không những gian nan mà còn khổ nhục nữa. Ngay cả đối với những người Hoa sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hữu, trung lập, độc lập, thiên tả trung, trung thiên hữu, hữu thiên trung, vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò. Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cừu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược. Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên: “Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!” Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử”. Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào? Tôi sống ở Đài Loan hơn 30 năm, mười năm viết tiểu thuyết, mười năm viết tạp văn, mười năm ngồi tù, còn mười năm tới sẽ dùng để viết lịch sử. Một sự phân phối rất quân bình. Tại sao tôi không viết tiểu thuyết nữa? Tôi cảm thấy rằng tiểu thuyết thông qua một số hình thức, nhân vật tương đối chỉ nói lên sự thật một cách gián tiếp. Cho nên tôi mới quay qua viết tạp văn. Tôi muốn dùng tạp văn như một lưỡi gươm ngắn trực tiếp đâm vào tim tội ác. Nhưng rồi viết tạp văn cũng giống như ngồi cạnh một anh lái xe. Cứ phải luôn nhắc nhở anh ta lúc nhầm đường, lúc rẽ phải, lúc rẽ trái, lúc đừng vượt, lúc có cầu trước mặt, lúc bớt ga, lúc gặp ngã tư, đèn xanh, đèn đỏ, v.v… không lúc nào ngưng nhắc nhở, ngưng kêu. Nhưng nếu kêu nhiều lại có thể bị đi tù. Những kẻ có quyền bính đều biết rằng chỉ cần không có người khám phá ra những sai lầm của mình là mình được xem như không bao giờ sai lầm cả. Ở trong tù, lúc trầm tư tôi đã tự hỏi: “Tại sao tôi ngồi tù? Tôi phạm tội gì?”. Ra khỏi ngục tôi không ngừng tìm hiểu về cảnh ngộ của tôi. Phải chăng đó là một trường hợp đặc biệt ? Đến lúc tới Iowa (Mỹ), chính thức cùng ở chung với những tác gia từ lục địa đến, tôi mới hiểu những người như tôi là Thượng Đế đã chủ định bắt ngồi tù, dù ở Đài Loan hay lục địa. Họ giải thích cho tôi rằng: “Tính nết của anh như vậy, làm sao sống nổi với Hồng Vệ Binh, làm sao chịu nổi Cách Mạng Văn Hóa? Phong trào Phản Hữu sẽ đánh anh không còn manh giáp”. Tại sao một người Trung Quốc chỉ hơi bạo gan sơ xuất nói lên một ít sự thật, lại phải chịu số phận như vậy? Tôi gặp không ít người đã ngồi tù ở lục địa. Tôi hỏi họ: “Tại sao anh bị ngồi tù? ” Họ đáp: “Bởi vì tôi đã nói lên một vài sự thật!”. Thì ra vậy. Tại sao nói lên vài câu về sự thật lại phải chịu một số phận như vậy? Tôi cho rằng đấy không phải là một vấn đề cá nhân, mà là một vấn đề của văn hóa Trung Quốc. Mấy hôm trước, có một vị từ Bắc Kinh đến, Bí thư đảng ủy của Hiệp Hội Các Tác Gia Toàn Quốc. Lúc nói chuyện với ông ta, tôi tức đến nghẹn lời. Tôi biết tôi cãi nhau cũng không đến nỗi tồi, nhưng lần ấy tôi đã bị đánh gục. Tuy nhiên tôi cũng chẳng trách anh ta được, mà thậm chí cả cái người đặc vụ đã bắt tôi ở Đài Bắc cũng thế. Bị đặt vào cái hoàn cảnh đó, đi vào quỹ đạo đó, ai cũng đều có phản ứng tương tự và cảm thấy rằng mình làm đúng. Tôi có thể cũng vậy, vì tôi nghĩ mình làm đúng. Thậm chí tôi có thể còn tồi tệ hơn thế nữa. Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình”. Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác. Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa. Lúc chết, chúa Giê-Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu”. Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí. Vì Mỹ và Đài Loan đã cắt đứt bang giao nên khi vợ chồng chúng tôi đi Iowa, kinh phí một nửa do Đại học Iowa đài thọ, nửa còn lại do một tư nhân tên Bùi Trúc Chương tiên sinh đài thọ. Ông Bùi là chủ tiệm ăn Yến Kinh, một người chưa hề biết Trung Quốc là gì. Chúng tôi cũng chưa hề gặp ông bao giờ nên rất cảm động khi biết ông đã gánh vác một nửa chi phí. Sau này, lúc nói chuyện, ông bảo tôi: “Trước khi đọc sách của ông, tôi vẫn tưởng người Trung Quốc là ghê gớm lắm, sau khi đọc sách của ông rồi mới thấy là không phải vậy, cho nên tôi càng muốn gặp mặt để nghe lời chỉ giáo”. Khi đã thấy văn hóa Trung Quốc là có vấn đề, ông Bùi Trúc Chương lại tự hỏi không hiểu phẩm chất người Trung Quốc có vấn đề không? Lúc tôi ra nước ngoài lần đầu tiên, Giáo sư Tôn Quan Hán nói với tôi: “Sau khi trở về lại đây, anh đừng có mà nói với tôi rằng người Trung Quốc ở đâu cũng vẫn là người Trung Quốc nhé! “. Tôi trả lời: “Được rồi, tôi sẽ không nói!”. Sau khi trở về nước lần đó, lúc ông hỏi tôi: “Anh thấy thế nào?” Tôi nói: “Ông bảo ông không cho tôi nói câu ấy, nhưng tôi vẫn phải nói: người Trung Quốc ở đâu cũng vẫn là người Trung Quốc!”. Ông Tôn chắc hy vọng rằng với thời gian người Trung Quốc sẽ thay đổi mà không thể nào nghĩ được rằng chuyện đó đã không hề xảy ra. Thế có phải là phẩm chất của người Trung Quốc đúng là có vấn đề không? Có phải chăng Thượng Đế đã phú cho chúng ta một cái nội tâm xấu xa? Thật tình tôi không nghĩ rằng phẩm chất chúng ta có vấn đề, mà đấy cũng không phải là một điều an ủi. Người Trung Quốc là một trong những dân tộc thông minh nhất. Tại các đại học Mỹ, những người đứng đầu bảng thường là người Trung Quốc. Nhiều nhà khoa học lớn, gồm cả người cha đẻ của nền nguyên tử Trung Quốc Tôn Quan Hán, người được giải thưởng Nobel như Dương Chấn Ninh, Lý Chính Đạo đều là những bộ óc hạng nhất. Người Trung Quốc quả là không phải loại người có phẩm chất xấu. Phẩm chất này có thể đưa Trung Quốc đến được một thế giới lành mạnh và hạnh phúc. Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn. Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn? Nguyên do vì sao? Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh. Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!”. Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta. Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ! Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!” (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!” Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn. Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: ” Chúng tôi đang thì thầm với nhau”. Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế? Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau. Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch. Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20. Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi – nơi không cần quan hệ với người khác – thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau. Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng. Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹvới những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Ở Trung Quốc có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống”. Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết. Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học – anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước… – Ngày hôm sau tôi bảo: “Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!”. Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!”. Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”. Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng. Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?”. Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?” Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc. Nói ví dụ tại Mỹ, một nước rộng mênh mông, con người như hạt cát trong sa mạc, ai biết anh là người nhập cảnh không hợp pháp? Nếu có người tố cáo anh, thì đó là ai? Là ai, nếu không phải là một người Trung Quốc khác, không phải là bầu bạn gần gũi anh? Nhiều bạn ở Mỹ còn bảo tôi: “Nếu sếp của anh là người Trung Quốc anh hãy chú ý! Đặc biệt phải coi chừng! Không những anh không được giúp đỡ mà lúc cần anh lại còn có thể là người đầu tiên bị tống cổ đi để cho người chủ “biểu thị” tinh thần chí công vô tư nữa”. Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù”. Điều này phải chia làm hai phần: Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi. Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: “Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử. Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền. Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!” Có một lần coi một phim Anh, tôi thấy mấy đứa trẻ cãi nhau xem cùng leo cây hay bơi lội. Sau khi đã biểu quyết leo cây thì tất cả đều đi leo cây. Chuyện này đối với tôi có ấn tượng rất sâu sắc. Bởi vì dân chủ không phải là vấn đề hình thức, mà là một phần của sự sống. Cái dân chủ của chúng ta là dân chủ bề ngoài. Trong lúc bỏ phiếu, các quan lớn cũng cần được chụp ảnh với lá phiếu trên tay ra điều ta đây cũng bõ công tham gia vào cái cuộc chơi bầu cử này đấy. Dân chủ thật ra có là cái quái gì trong sinh hoạt của họ đâu, chẳng qua chỉ là một hành vi để biểu diễn! Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi”. Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng. Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó. Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương. Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!”. Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu? Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v…Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét. Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ “đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích). Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?” Tôi có một người bạn viết tiểu thuyết kiếm hiệp sau bỏ nghề đi buôn bán. Một lần gặp anh tôi hỏi thế nào, làm ăn có phát tài không? Anh bảo: “Tài gì, hiện đang muốn treo cổ tự tử đây!” Tôi hỏi làm sao mà bị thua lỗ? Anh đáp: “Anh không hiểu chứ nói chuyện với thương nhân Trung Quốc cả ngày cũng chả hiểu họ muốn gì!” Nhiều người nước ngoài cũng nói với tôi là giao thiệp với người Hoa rất khó, nói chuyện cả ngày cũng chẳng hiểu trong thâm tâm họ nghĩ gì. Tôi bảo: “Cái đó thì có gì mà kỳ quặc? Không phải chỉ người Tây phương các anh, mà ngay cả người Trung Quốc chúng tôi cũng gặp vấn đề đó”. Nói chuyện với người Trung Quốc anh phải biết quan sát sắc mặt, điệu bộ, cử chỉ, phải biết quanh co úp mở. Hỏi người nào “Anh ăn cơm chưa?”, anh sẽ nghe người đó đáp “Tôi ăn rồi!” nhưng kì thực anh ta chưa ăn, cứ để ý nghe thì thấy bụng anh ta hiện đang sôi lên sùng sục. Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!”. Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời. Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu. Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi. Có lần tôi đến một trường đại học ở Đài Trung để thăm một vị giáo sư người Anh. Một anh bạn tôi cũng dạy cùng đại học đó chợt đến. Thấy tôi, anh nói: “Tối nay đến đằng tôi ăn cơm”. Tôi đáp: “Xin lỗi, tôi còn có hẹn”. Anh bảo: “Không được, nhất định phải đến”. Tôi trả lời: “Được rồi, ta bàn sau”. Anh lại bảo: “Nhất định phải đến đấy, xin chào!” Giữa người Trung Quốc với nhau chúng tôi hiểu rõ tâm lý của nhau. Nhưng người Tây phương lại hoàn toàn mù tịt. Đến lúc làm việc xong, khoảng giờ cơm tối, tôi bảo: “Thôi, tôi phải về đây!” Người giáo sư Anh nói: “Ê! vừa rồi chẳng phải anh vừa hẹn với anh kia sao? Anh phải tới nhà anh ta chứ!” Tôi bảo: “Làm gì có chuyện ấy?”. Ông giáo sư nói: “Anh ấy nhất định là đã làm cơm chờ anh đấy!” Người nước ngoài thật khó mà biết được cái kiểu “tâm khẩu bất đồng” này của người Trung Quốc. Tình trạng nói trên khiến người Trung Quốc ngay từ thủa lọt lòng đã rất khốn khổ. Bởi vì mỗi ngày đều phải tìm hiểu ý tứ người khác. Nếu là bạn bè đồng lứa thì còn đỡ, nhưng nếu phải tiếp cận với những kẻ quyền thế, quan trên, kẻ có tiền, anh sẽ phải từng giây từng phút khổ công tìm hiểu đến nơi đến chốn, xem họ nghĩ gì. Cái việc này là một sự lãng phí tinh thần kinh khủng. Cho nên có câu tục ngữ: “Tại Trung Quốc làm việc dễ, làm người khó”. Nghệ thuật “làm người” thuộc về cái “văn hóa thân mềm” (để dễ uốn cong, chui luồn, nghĩa bóng đến từ động vật thân mềm). Các vị ở nước ngoài lâu năm về lại Trung Quốc chắc biết cái sức nặng của câu này như thế nào. Làm việc thì dễ như 2 + 2 = 4, nhưng làm người khó bởi vì có khi 2 + 2 = 5 , hoặc cũng có khi = 1, hay = 853. Anh nói sự thật, nhưng người ta lại cho rằng anh công kích và muốn lật đổ chính quyền. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, nó làm cho chúng ta không thể nào thoát khỏi sự nói khoác, nói suông, nói dối, nói độc. Cái bản lĩnh ghê gớm của tôi là có thể ngủ trong hội nghị. Ngủ xong tỉnh dậy thì hội nghị cũng vừa kết thúc. Tại sao thế? Vì trong hội nghị mọi người đều nói những chuyện mà chính bản thân họ không hề tin, nghe hay không nghe đều như nhau. Không chỉ ở Đài Loan mới như vậy, ở lục địa còn nghiêm trọng hơn nhiều. Năm nay (1984) trong “Chương trình các tác gia quốc tế tại Đại học Iowa” có một nữ tác gia nổi danh của lục địa tên là Trầm Dung tham gia. Cô có một tác phẩm mang tên “Chân chân giả giả” (Thật thật giả giả) mà tôi muốn thành thật giới thiệu với quý vị. Hoàn cảnh bắt chúng ta nói láo, bắt chúng ta không thành thật, nhưng ít nhất chúng ta phải biết cái xấu là cái xấu. Nếu một khi cái xấu lại được chúng ta xem là điều vẻ vang, hoặc vô thưởng vô phạt, thì đó là lúc mà cái “văn hóa thân mềm” của chúng ta đang bắt đầu xuống cấp. Nói thí dụ việc ăn cắp, nếu được coi là chuyện vô thưởng vô phạt, hoặc chẳng phải chuyện quang vinh hay không quang vinh, thậm chí có thể xem là chuyện quang vinh nữa, thì đây là một nguy cơ, nguy cơ mà người Trung Quốc chúng ta đang phải đối đầu hiện nay. Vì người Trung Quốc vẫn liên tục dấu diếm những lỗi lầm của mình, vẫn nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói độc, thành thử tâm linh người Trung Quốc hoàn toàn bị phong tỏa, không mở rộng được. Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi. Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao? Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết. Tại sao chúng ta có thể thiếu lòng bao dung đến như vậy? Không có lòng bao dung, bụng dạ hẹp hòi đưa đến hai điều cực đoan và mất cân đối như sau: Một đằng tuyệt đối tự ty, một đằng tuyệt đối tự kiêu. Lúc tự ty thì thành ra tôi tớ, nghĩ mình không bằng đống phân chó. Lúc tự kiêu thì thành ra ông chủ, xem mọi người đều là cứt chó hết, chẳng đáng cho mình ngó ngàng đến. Riêng bản thân mình lại không hề biết tự tôn là gì. Sự phân biệt nhân cách kiểu đó biến người Trung Quốc thành một loại động vật kỳ dị. Tại Trung Quốc nếu muốn làm một kỳ công thì rất dễ, trong một chốc có thể xuất hiện những thành tích làm mọi người kinh dị. Nhưng người Trung Quốc lại không có khả năng để giữ cho cái kỳ công này bền vững. Một người có được một thành tựu nho nhỏ đã hoa mắt, ù tai, đứng không vững, vì lên cơn sốt. Viết được dăm ba bài văn là đã thành văn hào. Đóng được hai bộ phim đã là ngôi sao sáng của nền điện ảnh. Hai năm có được ít chức quyền nghiễm nhiên có thể cho mình là cứu tinh của nhân dân. Qua Mỹ học được hai năm đã trở thành một học giả chuyên gia. Mấy thứ đó đều là kiểu tự thổi phồng mình. Ở Đài Loan có xảy ra một tai nạn xe cộ như sau: Trong xe ca sinh viên Đại học Sư phạm vừa tốt nghiệp đi du lịch, cô hướng dẫn tán dương: “Người cầm lái vĩ đại của chúng ta là tay lái số một, vừa tài giỏi, vừa đẹp trai, vừa trẻ tuổi”. Nghe thấy thế, anh tài hứng chí liền bỏ tay lái ra quay về phía mọi người gương hai tay chào đáp lễ. Tiếp theo đó sự thể thế nào tôi không cần phải kể. Đây là một cách tự phô trương, chắc cho rằng kỹ thuật lái xe của mình cao đến độ không cần cầm tay lái cũng có thể lái được xe. Chẳng khác nào chuyện 1.000 năm trước trong một bộ phim: Hoàng đế La Mã một lần mời một người đến biểu diễn bay lượn. Để bay, người này chế ra một cặp cánh. Trước khi leo lên tháp anh giơ cặp cánh cho mọi người xem, tức thì toàn đấu trường tiếng reo hò hoan hô vang dội như sấm. Anh bỗng không kiềm chế nổi sự tinh tướng của mình, cảm thấy mình quá vĩ đại đến độ có thể không cần cánh cũng có thể bay được, vì vậy vứt cánh leo lên thang. Vợ anh níu anh bảo: “Không có cái đó làm sao anh bay được? Anh tưởng anh là gì?”. Anh ta bảo: “Em thì biết gì!”. Vợ anh ta đuổi theo lên, anh ta xéo lên tay người vợ rồi tiếp tục lên thang, đóng nắp tháp, với vẻ kiêu hùng anh nhẩy xuống. Chỉ nghe phụp một phát rồi không thấy gì nữa. Quần chúng nổi khùng hét: “Trả tiền để xem bay lượn chứ có phải để xem ngã chết đâu, bắt vợ nó bay đi!” Người vợ nhìn lên trời như nói với linh hồn của chồng một cách thê thảm: “Chỉ vì anh tinh tướng mới ra nông nỗi này, tự hại bản thân mình mà hại cả vợ con nữa!”. Cái gì đã làm cho người Trung Quốc tinh tướng một cách quá dễ dàng như thế? Bởi vì người Trung Quốc “bụng dạ nhỏ hẹp nên dễ đầy” (khí tiểu dị doanh), kiến thức thấp kém, lòng dạ hẹp hòi, chỉ cần có một tý gì đó đã tưởng trời đất dẫu to nhưng không chứa nổi mình nữa. Nếu chỉ có vài người như thế, chắc cũng không quan trọng gì, nhưng toàn dân tộc, đại đa số, hoặc một số lớn người Trung Quốc như vậy sẽ hình thành một nguy cơ cho dân tộc. Người Trung Quốc tựa hồ không có tự tôn nên đối với nhau rất khó có được một quan niệm bình đẳng. Nếu anh không phải là chủ nhân của tôi thì tôi là chủ nhân của anh. Tình hình này đưa đến một tâm trạng vừa bế tắc vừa không thể nhận sai lầm của mình. Mà sai lầm vẫn tiếp diễn hoài lại gây ra một não trạng sợ sệt. Hãy lấy một ví dụ: Tôi có một người bạn ở Đài loan mắc bệnh nặng phải đem vào nhà thương trung tâm, bác sĩ tiếp bao nhiêu ống thuốc mới cứu sống được. Hai ba hôm sau người nhà thấy tiền nhà thương này quá đắt muốn chuyển anh sang một bệnh viện bình dân, đến nói chuyện với bác sĩ điều trị. Ông này nghe thế nổi trận lôi đình la: “Cứu sống ông ấy chẳng phải là chuyện dễ, bây giờ lại muốn đổi bệnh viện à?”. Nói xong sai người rút hết các ống thuốc ra làm bệnh nhân suýt nữa toi mạng. Anh bạn lúc kể với tôi chuyện này trong lòng vẫn còn đầy bi hận. Tôi nói với anh: “Anh cho tôi biết tên tay bác sĩ ấy đi, tôi viết một bài vạch mặt nó ra”. Anh ta giật bắn mình, vội nói: “Ấy! Anh đừng bộp chộp, hiếu sự. Nếu biết thế này tôi đã chẳng kể cho anh nghe làm gì!”. Nghe thế tôi muốn điên lên. Tôi bảo: “Anh sợ cái gì? Nó giỏi lắm thì cũng chỉ là bác sĩ thôi. Nếu anh bị bệnh lại, anh không gọi nó đến thì thôi chứ chả nhẽ nó lại cứ đến trị bệnh cho anh để báo thù à? Nếu có chuyện gì thì tôi đối phó với nó chứ can dự gì anh. Bài viết là do tôi, tôi không sợ thì anh sợ gì?”. Bạn tôi bảo: “Anh là đồ bạt mạng!”. Tôi tưởng thế nào! Thay vì khen ngợi sự can đảm của tôi thì anh lại đi chê trách tôi. Tôi nghĩ đây không phải là vấn đề của riêng mình anh, anh lại là bạn rất thân của tôi, anh cũng là người rất tốt, anh nói thế chỉ vì anh muốn bảo vệ tôi, không muốn cho tôi đi chuốc họa vào thân. Đấy chính là cái não trạng sợ sệt, sợ sệt đủ mọi thứ trên đời mà tôi muốn nói. Nhớ lại lần đầu tôi đi Mỹ, ở New York có một vụ án, một người Hoa bị bắn thọ thương, hung thủ bị bắt, nhưng nạn nhân lại không dám nhận diện. Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!” Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế. Văn hóa Trung Quốc cực kỳ rực rỡ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc (770 – 221 trước Tây lịch), nhưng từ thời kỳ này về sau, văn hóa Trung Quốc đã bị các Nho gia khống chế. Đến đời Đông Hán (25 – 220 sau Tây lịch), chính phủ có quy định là tất cả những phần tử trí thức khi phát ngôn, biện luận, viết văn đều không thể vượt qua phạm vi những gì đã được dậy ở trường, việc này gọi là “sư thừa” (thừa hưởng của thầy học). Nếu vượt quá chuyện “sư thừa” này, không những học thuyết của mình không được công nhận mà còn là một việc phạm pháp. Cứ như vậy mà tiếp tục xuống các đời sau làm cho sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy của giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng hoàn toàn, chẳng khác nào lấy một cái túi nhựa bịt kín bộ não lại, không cho một cái gì lọt vào nữa. Thế nào là không còn khả năng suy xét nữa? Cứ đọc báo Trung Quốc là phát ngán. Suy xét là một cái gì không phải chỉ có một mặt, hai mặt, mà nhiều mặt. Tôn Quan Hán thường dùng một ví dụ: Có một quả cầu một nửa trắng một nửa đen. Người thấy phía trắng bảo nó trắng, người thấy mặt đen bảo nó đen. Cả hai người đều không sai, cái sai là không nhìn được đến mặt bên kia của nó. Để có thể nhìn được đến mặt bên kia của nó thì phải có trí tưởng tượng, khả năng suy xét. Cho nên lúc tư duy một vấn đề cần phải nghĩ đến nhiều mặt của nó. Có một chuyện hài hước ngắn của Mỹ kể chuyện một thầy giáo tổ chức thi, đưa cho sinh viên một máy đo khí áp và bảo dùng nó để đo chiều cao của một tòa nhà, đương nhiên ý muốn dùng khí áp để đo độ cao ở chỗ cao nhất và chỗ thấp nhất của tòa nhà. Nhưng có một sinh viên lại dùng nhiều phương pháp khác nhau song tuyệt nhiên không sử dụng “khí áp”. Thầy giáo tức mình bèn đánh trượt anh này. Anh ta kháng tố lên hội đồng giám khảo. Hội đồng giám khảo hỏi thì anh này nói: “Thầy giáo muốn tôi dùng máy đo khí áp đo chiều cao tòa nhà, nhưng không bảo sử dụng khí áp, đương nhiên tôi được phép dùng những cách đơn giản hơn”. Hội đồng hỏi: “Ngoài phương pháp đó còn có phương pháp nào nữa?” Anh này đáp: “Còn rất nhiều, ví dụ tôi có thể buộc dây vào máy thòng xuống rồi đo chiều dài của dây để biết chiều cao tòa nhà”. “Thế còn phương pháp nào khác không?”, “Vẫn còn nhiều, ví dụ tôi có thể tìm người quản lý nhà đưa máy cho anh ấy để anh ấy cho tôi biết chiều cao của tòa nhà”. Người sinh viên này rõ ràng không có gì là ngược đời. Ý nghĩ của anh ta biểu hiện một thứ trí tưởng tượng và tư duy thường làm cho những bộ óc bã đậu điên lên. Còn có một loại “Nghệ thuật mua dưa” như chuyện một người chủ bảo nhân viên: “Anh ra cửa, đi về phía Tây, đến một cái cầu thì có chỗ bán dưa hấu, mua cho tôi hai cân dưa hấu”. Anh người làm ra cửa, rẽ hướng Tây, đi mãi không thấy cầu, cũng chẳng thấy ai bán dưa hấu lại tay không quay về. Người chủ mắng anh là đồ lú lẫn, chẳng có đầu óc gì cả. Anh ta liền bảo: “Ở phía Đông mới có chỗ bán dưa”. Người chủ nói: “Thế tại sao không đi sang hướng Đông mà mua?” Anh ta đáp: “Ông có bảo tôi đi về hướng Đông đâu?” Người chủ lại chửi anh ta là đồ ngu. Kỳ thực người chủ biết anh ta là loại người chỉ biết phục tùng, không có năng lực suy nghĩ, hoàn toàn có thể tin cậy được. Giá như người này biết phía Tây không có bèn qua phía Đông mua, dưa vừa ngọt vừa rẻ, thể nào lúc về nhà người chủ cũng khen: “Anh rất thông minh, lanh lợi! Làm người phải như thế chứ! Tôi rất cần có được người như anh”. Nhưng trong thâm tâm người chủ sẽ nghĩ cái người làm này không thể tin cậy được, có thể tráo trở lúc nào không biết. Đối với những kẻ nô lệ kiểu này, chủ nhân không giết thì cũng đuổi đi. Cái văn hóa thai nghén ra những thứ người này làm sao có thể chủ trương được một tư duy độc lập. Vì vậy người Trung Quốc chúng ta do không được huấn luyện suy nghĩ độc lập nên rất sợ suy nghĩ độc lập, thiếu năng lực thưởng thức và đánh giá, không có cái gì là không ba phải, chẳng có cái gì là tiêu chuẩn cả. Trung Quốc ra nông nỗi này tất phải tìm ra nguyên nhân trong chính cái văn hóa của nó. Cái văn hóa này trong 4.000 năm – từ Khổng Khâu (Khổng Tử) trở đi – không còn có được một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Những kẻ biết chữ đều chỉ luẩn quẩn ở học thuyết Khổng Khâu đã giảng hoặc môn đồ ông giảng lại chứ không hề có ý kiến độc lập của riêng mình. Bởi vì cái văn hóa chúng ta không cho phép làm như vậy. Cho nên mọi người chỉ cầu sống ở cái vũng nước ao tù ấy thôi. Cái ao nước tù hãm này chính là cái hũ tương văn hóa Trung Quốc, cái hũ tương thối làm cho người Trung Quốc trở nên xấu xí. Cũng chính vì cái hũ tương sâu không lường được này nên đối với biết bao vấn đề người Trung Quốc đều không thể dùng tư duy của mình để tự giải quyết, mà phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác. Nhưng cái vũng nước ao tù này, cái hũ tương này dẫu có vứt mứt đào vào rồi cũng sẽ biến thành cứt khô. Vì những thứ ngoại lai một khi vào Trung Quốc đều nhanh chóng biến chất. Người ta có dân chủ, chúng ta cũng có dân chủ. Dân chủ của chúng ta là “mày là dân, tao là chủ”. Người ta có pháp chế, chúng ta cũng có pháp chế. Người ta có tự do, ta cũng có tự do. Người ta có gì, ta có nấy. Anh có chỗ dành riêng cho bộ hành sang đường, tôi cũng có, dĩ nhiên! Nhưng chỗ dành cho bộ hành của chúng tôi là chỗ để dụ dỗ họ đến cho xe cán chết. Để biến cải cái hình tượng xấu xí của người Trung Quốc, chúng ta chỉ có thể bắt đầu từ bây giờ, mỗi cá nhân đều phải nghĩ cách bồi dưỡng năng lực thưởng thức và đánh giá của bản thân mình. Chúng ta dù không biết diễn kịch, nhưng lại cần xem được kịch. Người biết ít thì xem ít, người biết thưởng thức nhiều xem nhiều. Người biết thưởng thức sẽ là một sự thành tựu không bao giờ có giới hạn. Nhớ thời kỳ vừa đến Đài Loan, tôi có một người bạn. Anh này sưu tập rất nhiều đĩa hát của Beethoven (Bít-tô-ven). Anh phải có đến bảy, tám bộ đĩa. Tôi nằn nì xin anh cho hoặc bán lại tôi một bộ. Anh từ chối ngay tại trận. Bởi vì mỗi một bộ đều do một nhạc trưởng và một dàn nhạc khác nhau trình tấu, không bộ nào giống bộ nào. Sau khi biết thế tôi rất lấy làm hổ thẹn, anh quả tình là một người biết thưởng thức. Lần tranh cử Tổng thống Mỹ trước, chúng ta được xem trên ti-vi Đài Loan cuộc tranh luận của các ứng cử viên. Không hề có việc lật tẩy các bí mật đời tư của đối phương, bởi vì dân chúng không ưa những người có trình độ tranh cử như vậy, và nếu làm thế, thể nào họ cũng mất phiếu. Nhưng cách làm của người Trung Quốc sẽ không như vậy. Không những chuyên môn đi bới móc đời tư của đối phương, họ lại còn bịa đặt thêm, dùng những ngôn từ rất ác độc. Không hiểu cái loại thổ nhưỡng gì đã nuôi dưỡng các loại cỏ như vậy, cái loại xã hội gì mà sinh ra những thứ người như thế? Nếu người dân không tự nuôi dưỡng được cho mình cái trình độ phán đoán đánh giá những lãnh đạo của mình thì chẳng có lý do gì để trách ai cả. Đi tôn thờ một kẻ không thể tôn thờ được thì còn trách ai một khi kẻ đó cưỡi lên đầu lên cổ mình? Cái việc tung tiền ra mua cử tri là một việc chẳng ra gì, thế mà khi xếp hàng đi bầu thấy người thò tiền ra mua lá phiếu mình cũng chìa tay ra hỏi: “Tiền đâu?” Cái loại người như vậy mà cũng đòi thực thi dân chủ hay sao? Dân chủ là một cái gì phải tự mình giành giật được, chẳng ai ban phát cho cả. Bây giờ thường có kẻ bảo: “Chính phủ lỏng lẻo quá!”. Đây là một suy nghĩ rất đáng sợ. Bởi vì tự do, quyền lợi là của chúng ta, không phải anh cho thì tôi mới được. Cho dù anh không cho thì tôi cũng vẫn có. Nếu chúng ta có khả năng thưởng thức thì nhất định cần tranh thủ lựa chọn, nghiêm chỉnh lựa chọn đối tượng, nếu không biết đánh giá thì giữa một người đẹp và người mặt rỗ cũng không thể nào phân biệt được, còn đi trách ai nữa? Nếu Bá Dương tôi vẽ giả một tranh Picasso, có người bảo: “Tranh tuyệt thật!” và trả cho tôi 50 vạn Mỹ kim thì người mua tranh giả đó phải trách ai trước? Ai là kẻ có mắt như mù, không biết phân biệt, thưởng thức? Trong những tình huống như thế, tranh giả sẽ tràn ngập thị trường vì chẳng còn ai phân biệt được thật giả nữa. Lúc đó những nhà danh họa chỉ có chết đói mà thôi. Nếu mua phải tranh giả thì đừng nên trách người khác, phải tự trách mình trước. Chẳng khác nào đi thuê một anh thợ may để chữa cửa cho mình, đến khi cửa bị ngược, lại đi mắng anh thợ may: “Ông mù à?” Thợ may có thể sẽ trả lời: “Không biết ai mù! Ai bảo anh đi thuê thợ may để chữa cửa?” Cái chuyện xưa này đáng để chúng ta suy ngẫm. Không biết thưởng thức thì chẳng khác nào người mù. Có quá nhiều người Trung Quốc mang khuôn mặt xấu xí. Chỉ có nhân tài Trung Quốc mới cải tạo được người Trung Quốc. Nếu người nước ngoài có nghĩa vụ giúp đỡ chúng ta thì sự giúp đỡ ấy không phải là giúp đỡ về kinh tế mà phải về văn hóa. Vì con tàu quốc gia Trung Quốc quá lớn, người quá nhiều, một khi chìm xuống có thể sẽ cuốn theo trong vòng xoáy nước của nó những kẻ khác. Tôi xin tất cả những người bạn Mỹ có mặt tại đây hôm nay, các bạn hãy tiếp nhận hai bàn tay chúng tôi đang giơ ra! Còn một điểm cuối cùng. Tôi có cảm tưởng là người Trung Quốc quá đông, mười ức những cái mồm đó mở to ra thì ngay cả rặng Hy-ma-la-ya cũng có thể bị nuốt chửng. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng khổ nạn của người Trung Quốc được mặt thật những nhân vật lãnh đạo nước nhà. Đó là con đường trước mặt chúng ta phải đi, mà cũng chẳng còn con đường nào khác nữa. Xin cảm tạ.

Một Bài Thơ Nhỏ

tranvanle

Tự dưng mà nước mắt
Chảy xuống hai bàn tay
Tự dưng mà đám mây
Cứ bay hoài bên cửa

Tự dưng con chim nhỏ
Bay đến hút nhụy hoa
Tự dưng trên mái nhà
Đôi bồ câu vỗ cánh

Tự dưng cơn gió lạnh
Ai đuổi mà bay ngang
Tự dưng nhớ màu vàng
Của hoa quỳ ngày cũ

Tự dưng ai đem giấu
Của tôi một bóng hình
Tự dưng mà mong manh
Bài thơ tình rất đẹp

Tự dưng ngó xuống dép
Một chiếc mất đâu rồi
Đôi bồ câu có đôi
dép một đôi còn một

Tự dưng tôi thảng thốt
Gọi mình nghe bơ vơ
Tự dưng vài giọt mưa
Ở đâu bay vào mắt…

Tự dưng đi tìm Phật
Gặp một người từ bi
…và tôi lại bỏ đi
Vào Ta Bà Thế Giới

Trần Vấn Lệ

NGƯỜI HẸN TRĂM NĂM

buidiep

người hẹn trăm năm phía đó
tằm tơ treo nửa khuôn đời
lênh đênh phận con chữ nhỏ
mặt trời cũng chỉ trò chơi

mặt người đang mùa nhật thực
lá non héo nửa miệng cười
ai bán một lời chân thật
thơ về mua mảnh tình rơi

nếu có bình yên đỉnh gió
phù vân lần lữa cuộc người
trên ngón xương gầy vò võ
trôi dài sợi bạc đời ơi

gót cùn loanh quanh ngõ hẹp
nghe mưa qua đó miền xa
ướt cánh thiên cầm mấy thuở
tha hương đâu cũng quê nhà

ta biết hôm nay còn gặp
mặt cười phố xá thân quen
ta tin lá không hờ hững
xanh suốt mùa thu muộn phiền

BÙI DIỆP

SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?

nguyennhathuy

1. Trong môn lịch sử cuối cấp cơ sở và PTTH, sách giáo khoa chỉ dành một ít cho sử thế giới, phần lớn còn lại dành cho sử Việt Nam . Trọng tâm là giành độc lập, kháng chiến chống Pháp, Mỹ – dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Đông Dương (nay là đảng CSVN).

Trong hơn bốn mươi năm qua, với những gì tôi đã đọc, đã chứng kiến kết hợp với những hiểu biết qua sách vở trước 1975, nay tổng hợp, lắng hồn lại và suy nghĩ khách quan, công minh dưới cách nhìn của một người học sử, tôi nhận ra vài điều.

Những người viết sách, dĩ nhiên là công cụ tuyên truyền của đảng nên luôn bôi đen hoặc tô hồng quá đáng thậm chí là tự “đặt điều”. Nói về tội ác của phong kiến, thực dân, đế quốc hay “Mỹ – Ngụy” thường cường điệu, nói về sự lãnh đạo của “đảng ta” và lãnh tụ luôn luôn là “tài tình, sáng suốt, nhạy bén”.

Chuyện “dựng khống” lên thì có từ hồi ông Trần Dân Tiên đến anh Lê Văn Tám và có lẽ còn rất, rất nhiều nhưng “chưa bị lộ”! Hẵn mọi người còn nhớ trước 1975, đài Tự Do ở Miền Nam phát một thời gian dài trong chương trình buổi tối giọng nói của chính anh Nguyễn Văn Bé: “Tôi là Nguyễn Văn Bé, hãy còn sống đây”. Anh Bé cũng chỉ là một nhân vật có thật, còn sống nhưng được tôn xưng là đã hy sinh cao cả!

Còn nhớ có lúc, sách giáo khoa lớp 11 nêu chuyện thực dân Pháp bóc lột công nhân đồn điền cao su ở Đồng Nai làm người đọc có cảm giác như họ sống trong địa ngục hay như trong các “trại cải tạo” dành cho sĩ quan và viên chức VNCH ngoài Bắc sau 1975. Sau này (hồi cuối thấp niên 80 thế kỷ trước), có dịp vào sâu trong các đồn điền cao su này tôi còn thấy những nhà ở chủ đồn điền Pháp xây cho công nhân ngày ấy. Chắc chắn hơn hẵn các nhà tình nghĩa bây giờ về độ bền vì không có chuyện bị ăn bớt vật tư ,Theo năm xây dựng được ghi trước nhà thì quả là còn rất chắc chắn.

Tôi cũng biết cuối những năm chống Pháp (1953-54), ở liên khu 5 gồm các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú, chính quyền kháng chiến phát động giảm tô tức, cải cách ruộng đất. Đã xãy ra các vụ đấu tố tiêu diệt địa chủ trong làng tôi dầu họ chỉ là trung nông lớp giữa và lớp trên nhưng giàu có trong làng. Làng tôi, huyện tôi nghèo lắm nên chẳng có ai là địa chủ nhưng nếu không làm thế thì làm sao gây căm thù?. Mặc khác, cán bộ thì muốn đủ và vượt chỉ tiêu nên đẩy lên, do đó, có một sồ người chết oan trong hai năm này nhưng chuyện này nhỏ so với ở miền Bắc những năm 1955-56 nên ít người biết đến!

Trở lại chuyện sách lịch sử, sau bài đầu, “đảng Cộng sản VN ra đời” là bài “Phong trào Cách Mạng 1930-31 và Xô Viết Nghệ Tĩnh”, sách viết hay lắm, đảng giỏi lắm trong việc đấu tranh chống khủng bố trắng. Qua bài học, nếu giáo viên có năng lực diễn đạt, rõ ràng học trò sẽ thấy hình ảnh đấu tranh oai hùng của nông dân và công nhân Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của đảng, chắc cũng sẽ có em còn biết căm thù thực dân phong kiến. Sự thật lịch sử có đến mức như vậy không? Câu trả lời không thuộc mục đích của bài viết này nhưng chắc chắn, tìm trong Văn khố Pháp, tìm trong sách lịch sử còn lại và tài liệu trên internet thì độc giả sẽ có câu trả lời.

2. Nguyên nhân cá chết hàng loạt ven biển miền Trung không bàn nữa, ông Nguyễn Phú Trọng quên cá chết mà chỉ đến thăm Formosa . Bốn vị tai to mặt bự Trọng, Phúc, Quang, Ngân không hề lên tiếng, toàn bộ 19 UV Bộ Chính Trị, 200 UVTW và hình như không có ai trong số 496 đại biểu quốc hội phát biểu câu gì liên quan đến việc này cũng tạm cho qua. Những tuyên bố ngu ngốc vì tiền, vì muốn yên thân của BT bộ Công nghệ – Môi trường tạm tha thứ (vì không làm được gì họ) nhưng rất nhiều người không tha thứ được.

Họ là ai?

Họ là Đặng Ngọc Sơn, phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, người tuyên bố nước biển không độc, hàm lượng các hóa chất trong mức độ an toàn, dân có thể tắm biển, ăn cá thoải mái. Lẽ nào một người làm tới chức đó lại dốt nát đến mức không nhận ra mối nguy khi nước biển nhiễm độc? Chỉ có thể là muốn nịnh bợ để tồn tại trên cương vị này hoặc leo lên cao hơn nhưng không nhận ra hoặc vì quyền lợi cá nhân nên nhận ra mà vẫn tuyên bố . Đó là tội ác, tội ác không riêng với dân Hà Tĩnh mà còn với dân tộc Việt Nam vì tiếp tay cho bọn bán nước và cướp nước.

Họ là Lê Quang Hòa, giám đốc Công Ty Môi trường Đô thị Kỳ Anh, người đã dùng trang trại của mình để che giấu và chôn lấp chất thải cho Formosa . Hòa có biết trang trại này nằm ở đầu nguồn sông Trí, con sông cung cấp cho sinh hoạt của dân Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hòa có biết những chất thải này là cực kỳ độc hại? 145,5 tấn đã được Hòa giúp chôn giấu theo dư luận của nhân dân từ tháng 8.2015 sẽ ảnh hưởng thế nào đến nguồn nước, đến sức khỏe nhân dân? Có tin Formosa đã lén lút đổ rác chứa thải tại khu rừng 327 của thị xã Kỳ Anh chừng 100 tấn mà Cty CPXD Quản lý môi trường đô thị Kỳ Anh (không rõ có phải Công Ty của Hòa) là tòng phạm?

Họ là những người điều hành đập nước thủy lợi Sông Trí (Hà Tĩnh), nơi nằm sát trang trại chôn lấp chất thải rắn của nhà máy Formosa , lại ồ ạt cho xả nước bất thường giữa mùa hè. Đây là hành vi được người dân cho là âm mưu xóa hết dấu vết chôn lấp chất thải chưa bị lộ của Công ty Môi trường Đô thị Kỳ Anh.
Nếu phải kể thêm, danh sách còn có thể dài hơn nhưng chỉ với ngần này cũng đủ để giết nhiều thế hệ dân Kỳ Anh, dân Hà Tĩnh, chỉ là bây giờ chưa phải thời điểm chất độc tác dụng đến cơ thể.

3. Hơn mười ngày trước, ngày 07.7.2016, đồng bào giáo dân Cồn Sẻ, Ba Đồn, Quảng Bình với khoảng gần 3000 người đã xuống đường biểu tình đòi Formosa trả nợ vì họ không thể ra khơi đánh cá, vì họ mất việc do Formosa gây ra. Vậy thì, dân Hà Tĩnh nói riêng và Nghệ Tĩnh nói chung, nơi có truyền thống cách mạng kiên cường bất khuất SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?, nơi gánh chịu hậu quả trực tiếp việc xả thải của Formosa, nơi mà quan chức nhà nước tiếp tay giết dần mòn bản thân, gia đình, bà con giòng tộc mình SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?

Thời 1930-31, nghe theo tiếng gọi của đảng, đồng bào đã đứng lên, đã trừng trị bọn cường hào ác bá, bọn tay sai thực dân ở nông thôn Hà Tĩnh, vậy SAO BÂY GIỜ KHÔNG ĐỨNG DẬY TRỪNG TRỊ ĐẶNG NGỌC SƠN, LÊ QUANG HÒA VÀ BÈ LŨ khi tội ác bọn này hơn hẵn bọn tay sai thời phong kiến?

Có thể, nhiều vị lão thành cách mạng không đồng tình với đảng và nhà nước, tuổi già sức yếu, sợ mất mọi chế độ nếu đấu tranh nhưng sao không nói cho con cháu biết rằng sự hy sinh của cha anh qua bao thế hệ cho độc lập dân tộc đã bị bọn cầm quyền hiện tại, bọn tư bản đỏ nhân danh đảng bán đứng?. Sao các mẹ VN anh hùng, các cựu chiến binh, các gia đình cách mạng, gia đình có công không cho con cháu biết bè lũ cầm quyền hiện nay chỉ là một thứ ma quỹ nói tiếng người để con cháu biết MÀ ĐỨNG DẬY LẬT ĐỔ CHÚNG?
Và hơn ai hết, những công dân Hà Tĩnh, đã tiếp thu kiến thức lịch sử ở lớp 9 và lớp 12, thấm nhuần truyền thống Cách mạng 1930-31 và Xô Viết Nghệ Tĩnh ĐỨNG DẬY ĐI CHỨ? SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?
Nguyễn Nhật Huy

ĐỂ NHỚ MỘT LÀN HƯƠNG

nguyenanbinh

Thèm nghe tiếng ve giữa mùa hạ đỏ
Rơi xuống tình cờ vạt áo người thương
Có một mùa thi thuở ấy xa trường
Em qua đó trơ hàng cây trút lá.

Thèm nghe tiếng mưa thơm mùi cỏ lạ
Bong bóng tay người tóc đã hư hao
Một phiến trời xưa tưới mát tình đầu
Cuốn hồn tôi qua bao mùa bão lũ.

Thèm nghe tiếng chim bên hiên trường cũ
Thơm áo học trò ngày mới yêu nhau
Leo hết dốc tình mới biết chiêm bao
Em đâu biết gốc bàng xưa đỏ lá.

Thèm nghe tiếng sóng vỗ quanh ghềnh đá
Sóng đưa nhau về ngày tháng bình yên
Nhớ mắt môi em áo lụa thật hiền
Vườn địa đàng một lần ai qua đó.

Thèm nghe tiếng gió báo mùa hoa nở
Vàng cả con đường lất phất mưa bay
Em thả tóc thơm xuống cuộc tình phai
Để ray rức nụ hôn đầu vừa hé.

Thèm nghe tiếng chân em về thật khẻ
Bên hiên tình tóc đẩm ướt mưa sương
Để tôi còn thương mãi một làn hương
Ánh mắt bồ câu một thời con gái.

NGUYỄN AN BÌNH

một ngọn nến cho trâm

108 1 TrungDuong 1_0_221x300_1

Trùng Dương, tên khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, di cư vào và lớn lên tại miền Nam từ 1954. Nguyên chủ nhiệm-chủ bút nhật báo Sóng Thần (Saigòn, 1971-75), bà là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài, biên khảo, phóng sự, minh hoạ, và một vở kịch ba màn, Các Con Tôi Đã Về (1978). Tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ từ 1975. Sau khi tốt nghiệp cử nhân và cao học ngành báo chí, công quyền và các vấn đề quốc tế, Đại học Tiểu Bang California, Sacramento, bà làm phóng viên cho tờ The Mountain Democrat, Placerville, Calif., từ 1991-93; sau đó về cộng tác với nhật báo The Record, Stockton, Calif., làm copy editor rồi trưởng thư viện tin tức (chief news librarian) từ 1993 tới khi về hưu năm 2006. Bà hiện cư ngụ tại tiểu bang Oregon.

Tặng Phương, Khánh và Tuấn

Khi tôi lái xe vào đến khuôn viên của bệnh viện và điện thoại báo cho thằng cháu con bà chị, Tuấn, hay để xuống đón, thì Tuấn cũng cho hay Trâm, chị họ của Tuấn và cùng tuổi 50, vừa tắt thở. “Cháu xuống đón cô ngay bây giờ,” Tuấn nói.

Tôi tắt máy xe, ngồi lặng đi một lúc, bần thần, tự trách mình sao không gắng thu xếp đến sớm hơn một chút để nắm lấy bàn tay Trâm và nhìn vào mắt nó lần cuối. Khi Tuấn vòng tay ôm lấy vai tôi thì nước mắt tôi tự nhiên ứa ra. Tôi thương đứa cháu gái ham học, mới sang tới đất Mỹ được có bẩy năm với bao dự tính học hành, cho nó và cho đứa con gái duy nhất còn trong tuổi vị thành niên. Thế nhưng gần hết thời gian ở Mỹ của Trâm là một phấn đấu không ngừng với bệnh ung thư vú đã tái phát hoành hành. Trâm bị ung thư từ hồi còn ở Saigon, đã giải phẫu cắt bỏ một bên vú, tưởng đã yên, được mấy năm, đang hăm hở đi học ở trường đại học cộng đồng, không dè bị lại.

Trâm là đứa con gái thứ năm của Anh Cả, người anh đầu đàn của một lũ 10 đứa em chúng tôi. Anh chị Cả chỉ có con gái, bẩy đứa cả thẩy. Cha mẹ tôi chẳng bao giờ quan tâm đến việc có cháu đích tôn, nên chẳng hề bận tâm tới việc anh chị Cả sinh mãi mà chỉ toàn con gái. Tôi nghĩ chị Cả tuy không nói ra nhưng thương cha mẹ tôi hơn cũng nhờ vậy. Riêng anh Cả khi còn sinh tiền cũng chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện kiếm con trai ở chỗ khác. Và anh rất thương yêu đám con gái của anh, thương đồng đều, công bằng. Mỗi khi anh nhậu nhẹt ở nhà, thế nào tụi con gái cũng có dịp ngồi nhậu với bố. Anh dậy các con nhiều điều, kể cả sửa xe gắn máy. Ngược lại, tụi nó thương và nghe lời bố răm rắp.

Bởi anh thương các con quá sức nên khi biến cố 30 tháng 4, 1975 xẩy ra, khi vài người trong chúng tôi xốn xang kiếm đường đi — chị Năm thì vì chồng là trung tá trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà và vì chị đã từng làm việc với Mỹ; anh Sáu vì đi lính Không quân; còn tôi thì vì là người cầm bút quen với không khí tự do dù tương đối của Miền Nam; cô em Tám thì vì tự biết không quen với đời sống lao tác và vì muốn các con có nhiều cơ hội học hành phát triển, vv. — thì anh Cả không nao núng với chuyện di tản, nghĩ mình chẳng có gì đề lo vì chả dính dáng tới chính quyền, quân đội hay Mỹ. Vả lại, anh vốn cũng nhút nhát, sợ là nếu sang được tới Mỹ, tiếng không có, nghề chuyên môn cũng không, lấy gì mà sống và nuôi vợ con, mà lúc ấy anh đã ngòai 40. Cũng như chúng tôi dạo ấy, anh hoàn toàn không biết gì về xã hội Mỹ, nơi mà ai cũng có cái gọi là “dịp may thứ hai” – second chance – để bắt đầu lại cuộc đời. Chúng tôi đâu biết rằng những người tị nạn sẽ được giúp đỡ ở những bước đầu, rồi sau đó tùy theo khả năng đi xin việc làm hoặc xin đi học lại.

Khi mấy đứa con gái lớn của anh, tuổi từ 21 trở xuống, lao xao về chuyện đi ở, anh quắc mắt nhìn chúng, nói: “Nhà này không ai đi đâu hết!” Và tụi nó đành ngồi nín khe. Rút cục cả gia đình kẹt lại. Chúng tôi, những đứa em của anh đi thoát vào mùa xuân 1975, gồm chị Năm, anh Sáu, tôi, và Tám, về sau này có thêm hai thằng Chín và Mười, đứa đi theo diện đoàn tụ, đứa diện Con Lai, và cô Út cũng cùng gia đình từ Pháp qua đoàn tụ, những lúc có dịp họp mặt, đều chép miệng tiếc cho gia đình anh Cả.

“Hồi ấy, phải chi anh ấy cho một đứa đi thôi, chỉ cần một đứa đi thôi, thì giờ này cả gia đình đã có mặt ở Mỹ, đã có dịp đi học, đi làm, thì đâu tới nỗi, kia chứ?” Chúng tôi thay phiên nói cùng một ý, năm này qua năm khác, mỗi khi ngày 30 tháng 4 tới. Trong khi hàng tháng gom góp gửi tiền giúp chị Cả.

“Hồi 75 đã vậy, mà trước khi anh Cả mất [vào năm 1982, bị tai biến mạch máu sống thêm đươc được vài tháng thì mất] anh Thu bạn của anh ấy tới rủ ra Bắc tìm đường đi, anh Cả nhát, không đi. Anh Thu đi thoát, sau đó bảo lãnh cho cả gia đình sang Mỹ,” chị Năm nói. Đáp lại câu hỏi sao chị biết thì chị kể anh Thu liên lạc được với chị, gọi điện thoại kể lại. Lũ còn lại chúng tôi biết chuyện, càng tức thêm vì thương chị dâu goá và các cháu. Chúng tôi thương chị Cả vì chị về làm dâu cha mẹ tôi từ khi chúng tôi còn bé tí ở Hải Phòng, được chị tắm gội, cơm nước cho (trong khi các chị lớn của tôi thay phiên nhau về nhà người khác lo cho gia đình người ta!) nên tụi nhỏ chúng tôi, từ Sáu trở xuống, coi chị Cả như chị ruột.

Rồi chúng tôi được tin Vân, con thứ hai của anh Cả, lấy chồng là gốc Tầu, có với nhau một đứa con gái, rồi anh này được người thân ở San Francisco bảo lãnh đi Mỹ. Anh ta đề nghị với vợ để anh ta lo đi trước, rồi sẽ bảo lãnh cho vợ con theo sau, với điều kiện Vân đồng ý ký giấy ly dị. Tôi không rõ lắm tại sao phải như vậy. Chỉ biết là một thời gian sau, có tin anh ta nhẩy cầu Golden Gate tự tử chết. Thêm một ngả đi bị bít. Từ đấy Vân buồn rầu, nghe nói đâm ra nghiện bia nghiện thuốc lá.

Song chưa hết. Con gái Vân, Thy, chẳng mấy chốc lên 18, rất xinh. Anh tôi, Sáu, về Saigòn lần đầu, cùng với thằng cháu con thứ tư của chị Năm, Tú, đã ly dị vợ từ nhiều năm, nên trở thành “available”. Tôi nghe kể lại là họ — mẹ con Vân, anh Sáu và Tú — tính toán với nhau sao đó. Theo đó, Tú giả vờ đính hôn với Thy, rồi sẽ xin cho Thy đi Mỹ đoàn tụ với “chồng”, mọi phí tổn anh Sáu nói sẽ lo. Một buổi tiệc đính hôn được dàn dựng có chụp hình, có hàng chữ “Mừng ngày thành hôn Tú & Thy” nhiều mầu sắc giăng trên tường, bên dưới là hai chú cháu đóng vài cô dâu, chú rể tương lai, với xung quanh là tiệc tùng và vài người bạn. Tú cũng về Mỹ chuẩn bị tinh thần cho người yêu và con gái, và họ đồng ý để Tú làm một việc có tính cách nhân đạo. Chị Năm biết chuyện, có tính lo xa, nên giẫy lên như ngồi phải ổ kiến lửa. Mà ngồi phải ổ kiến lửa cũng phải vì Thy sang đây sẽ ở đâu, sống ra sao, bảo hiểm sức khoẻ thế nào, bao nhiêu là vấn đề, chưa kể trong gia đình toàn những người thực thà, làm sao nói dối và nhớ được lời mình nói dối, để mà qua được mắt những nhân viên sở Di Trú đầy kinh nghiệm, lỡ lộ ra thì chết cả đám. Đã đành là chỉ cần lo cho một đứa đi lọt thôi… Bao nhiêu gia đình tị nạn đã chỉ có một người đi lọt mà sau đó cả gia đình cha mẹ anh chị em cũng kéo nhau qua được. Chỉ cần bé Thy qua, ổn định, rồi tới lúc có thể sẽ bảo lãnh mẹ là Vân, rồi Vân sẽ bảo lãnh mẹ và các em còn độc thân, và vân vân.

Chị Năm không phải lo lâu; vợ của anh Sáu cũng không phải xót tiền nhiều (mới chỉ phải chi ra đâu khoảng 1,500 đô để cái hãng lo hôn nhân với ngoại kiều xúc tiến chuyện giấy tờ); và Tú cũng không phải toan tính nhiều, vì Thy là người cuối cùng quyết định ở lại, vì người yêu nó muốn vậy. Khi tin Thy có thể đi Mỹ, cậu ta, nghe nói con nhà buôn bán có của, quýnh lên, xin bố mẹ đi hỏi cưới Thy và được ông bà bằng lòng. Chúng tôi ở ngoài này sau đó nhận được một mớ thiệp cưới đề tên của mỗi đứa và gia đình, nên cung cúc gom góp tiền gửi về mừng đứa cháu gọi chúng tôi là các ông chú các bà cô. Anh Sáu giận lắm, hình như không thèm góp tiền mừng, còn thề từ nay không thèm giúp đứa nào cái gì nữa.

Rồi năm 2005 chúng tôi bất ngờ được tin Trâm đang ở San Diego. Nó sang hồi nào và cách nào vậy? “Nào ai có biết,” chị Năm nói. “Thấy nó gọi, tưởng gọi từ Việt Nam. Nó bảo cháu là Trâm nè, cháu gọi cô từ San Diego, nó bảo chị vậy. Vợ chồng Trâm và đứa con gái được ông anh chồng bảo lãnh qua mới được một hai tuần. Nhưng nghe nói vợ chồng Trâm sẽ dọn đi San Jose vì bố mẹ chồng ở trên đó và có người em gái chồng có thì giờ có thể đưa đi lo chuyện giấy tờ, bảo hiểm sức khoẻ, học hành và kiếm việc.”

Chúng tôi cùng thở ra, gật gù, cuối cùng một đứa của cái gia đình mà chị Cả tôi tin là “bị trù yếm” ấy đã thoát được ra đến ngoài này. Chỉ cần năm năm nữa thôi, khi Trâm được nhận vô quốc tịch Mỹ, nó có thể nạp đơn xin bảo lãnh cho mẹ và các em còn độc thân sang Mỹ đòan tụ. Không nói ra, nhưng chúng tôi cùng mong đợi đến ngày đó. Nhất là Trâm, người duy nhất trong gia đình đã cuối cùng đặt chân tới vùng đất của cơ hội.

***

Trâm mất khi vừa được đúng 50 tuổi, tính tới ngày 7 tháng 4 năm nay, 2014, thì vừa được hai năm. Tuy vậy các chị và em ở Saigòn vẫn dấu bà mẹ già vì sợ bệnh tim của bà không kham nổi tin dữ.

Tôi đã tính viết một bài về Trâm vào những ngày tháng cuối cùng của Trâm khi cuộc phấn đấu với chứng ung thư của Trâm có dấu hiệu chiến bại, để ít ra nó được đọc về nó khi còn sống. Tôi còn nhớ ánh mắt long lanh của Trâm nhìn tôi: “Thật hả cô? Cô sẽ viết bài về cháu hả cô?” Với Trâm, đó là một vinh dự khi được bà cô viết về mình. Đã ngoài 40 lúc ấy, mà Trâm có giọng nói và cách diễn tả của một đứa trẻ với một khối óc tò mò vô hạn. Mỗi lần hai cô cháu gặp nhau là nó hỏi tôi hết điều này tới điều khác, như thể tôi là một cuốn tự điển bách khoa không bằng. Đặc biệt ở Trâm là một sự cung kính đối với các bậc trên nó hay lớn tuổi, phần lớn là do sự giáo dục khá kỹ của anh chị tôi, kế cả sau 1975.

“Nhưng cơ mà, cô, cháu… có gì đặc biệt đâu mà cô viết về cháu, hả cô?” Trâm băn khoăn, cái băn khoăn tự nhiên của một người lớn lên trong một gia đình nghèo, biết thân biết phận song vẫn đầy tự trọng.

“Cháu khiêm tốn nên không nhìn thấy, nhưng theo sự quan sát của cô thì cháu đặc biệt lắm,” tôi nói, rất chân thực. “Trước hết, cháu là đứa duy nhất trong đám bẩy chị em gái trong gia đình là người thích học hỏi, mặc dù phải giúp mẹ nấu cơm tấm bán mỗi sáng sớm, đã học xong ra làm cô giáo và sống tự lập. Cháu cũng là người duy nhất trong gia đình cháu sang được tới đây nhờ chồng cháu được người anh bảo lãnh, và cháu đã quyết chí đi học. Mặc dù bị ung thư lại, nhưng lúc nào cháu cũng lạc quan. Cứ nhìn vào đống scrapbooks của cháu thì biết, phải là người ham học lắm mới chịu khó như thế này…”

Thật vậy, Trâm có cả nửa tá cuốn tập mà nó dùng làm scrapbooks, mỗi cuốn là một đề mục: Sức khoẻ, gia chánh, giải trí, học viết tiếng Anh, vv. Trâm kể mỗi khi thấy ai vất đi những cuốn tạp chí cũ, nó đều xin về, lật xem và cắt những bài, hình nó thích, rồi dán vô các cuốn tập vở này. Tôi cũng là loại người một dạo ưa cắt dán như thế, nên thấy gần gũi với Trâm. Một lần lật một trong những cuốn scrapbooks của Trâm, tôi cảm động khi thấy có bài “New Orleans: Những mẩu chuyện sống còn” của tôi về chuyến viếng thăm New Orleans đầu tiên vào năm 2008, để có dịp quan sát sự hồi sinh của thành phố và người dân ở đây, đặc biệt cộng đồng người Việt, mà Trâm cắt ra từ tờ Việt Tribune của Trương Gia Vy, phu nhân của Nguyễn Xuân Hoàng, xuất bản ở San Jose, nơi Trâm và gia đình sinh sống từ ngày sang định cư tại Mỹ. Khi tôi xin Trâm để tôi chụp lại những hình ảnh đó, Trâm ngạc nhiên lắm, và vui vẻ bầy ra để tôi chụp hình.

Ngoài Phương, chồng Trâm, và bé Khánh, con gái Trâm, là những người đã thấy những phấn đấu của Trâm chống lại bệnh ung thư đang di căn đến các phần khác của cơ thể, còn có Tuấn, con thứ ba của chị Năm, sinh sống ở San Jose, cũng là người thường xuyên đi lại thăm nom và làm thông dịch cho Trâm. Tuấn kể với tôi Trâm đã ghi chép tất cả những gì trao đổi giữa các bác sĩ và Tuấn mà nó hiểu được hay được Tuấn dịch lại, cùng với các tên thuốc thay đổi liên miên vì bác sĩ phải chạy theo những phần của cơ thể mà vi trùng ung thư di căn tới để cho thuốc cho phù hợp, vào một cuốn sổ, thay vì phó mặc. Một lần, Tuấn kể, “Chị ấy đang ghi lại tên mấy món thuốc mới thì các bác sĩ vào để thăm bệnh. Anh Phương giục chị ấy cất cuốn tập đi, lúc khác hẵng ghi, rồi còn định cầm lấy cuốn tập từ tay chị. Chị ấy nổi quạu, giằng lại cuốn tập, nói để chị ghi xong đã. Cháu phải bảo anh Phương để chị ấy ghi xong, vì đó là cách duy nhất cho phép chị ấy có được cái cảm giác là có được cái ‘control’ trên cái cuộc sống đang vuột dần khỏi tầm tay.”

Tôi nhìn Tuấn, hơi ngạc nhiên trước lý luận đầy hiểu biết và khá sâu sắc ấy của Tuấn. Thực tình tôi không nghĩ được đến thế. Sau cái chết của Trâm, một lần hai cô cháu đi uống cà phê, Tuấn tâm sự là mấy năm chạy tới chạy lui đưa Trâm đi hết nhà thương ở Santa Clara, lại vô trung tâm y khoa ở Stanford, hết đưa đi radiation lại tới chemo, nhất là vì nhiệm vụ thông dịch tình nguyện cho người chị họ cùng tuổi, Tuấn cũng buộc phải tìm hiểu về ung thư và các vấn đề liên hệ. Do đấy, Tuấn có dịp suy ngẫm và tự thấy mình thay đổi nhiều trong tư duy. Cái thay đổi rõ rệt nhất và đã làm hài lòng chị Năm, mẹ Tuấn, đó là Tuấn bỗng trở nên tin và ngoan đạo hẳn ra, vì chủ nhật nào cũng tới đưa Trâm và Khánh đi nhà thờ khi Trâm chưa lái được xe, và sau này khi Trâm quá bệnh không còn lái xe được nữa. Sự cầm cự phấn đấu của Trâm khiến tôi cảm phục, tự hỏi nếu mình ở trường hợp của Trâm liệu mình có thể làm được như vậy, hay đành buông xuôi. Nhìn Trâm phấn đấu mà tôi cũng đã cảm thấy hụt hơi.

Một lần, có lẽ cũng đã thấm mệt vì thường xuyên phải chống trả với những đau đớn thể xác và khủng hoảng tinh thần, Trâm nhờ Tuấn hỏi bác sĩ xem có cách nào giúp Trâm ra đi. Tuấn đâm hoảng, gọi bác sĩ của Trâm. Phản ứng của bác sĩ, theo tôi, có phần thái quá khi họ sợ Trâm sẽ tự vẫn nên cấp tốc chuyển nó sang bên tâm thần. Lập tức ở đấy người ta đưa nó vô viện tâm thần và định cô lập nó. Nhưng Trâm phản ứng dữ dội, lớn tiếng nói mình không bị điên, và làm dữ khăng khăng đòi về nhà. Tất nhiên là bệnh viện phải nhượng bộ để Trâm về.

Tôi đã nghĩ tới việc rời Oregon xuống San Jose thuê một chỗ ở tạm để chạy tới chạy lui với Trâm vì ngày giờ của nó chắc không còn lâu. Nhưng tôi chưa kịp làm việc đó thì Trâm đã ra đi. Trâm ra đi khi còn bao nhiêu điều để học hỏi, còn bao nhiêu nơi trên đất Mỹ mênh mông này mà nó chỉ mới thấy trong hình và ao ước có ngày sẽ được đi thăm, và còn không lâu nữa Khánh sẽ tốt nghiệp trung học rồi vào đại học, niềm mong mỏi khôn nguôi của Trâm.

Và đã hai năm rồi, chị Cả vẫn ngóng tin con gái, chắc là âm thầm thắc mắc tại sao lâu nay nó không lên Skype chuyện trò với mẹ và các chị em như trước. Cũng có thể chị đã linh cảm là Trâm đã ra đi, nhưng có hỏi thì mấy chị em của Trâm cũng chỉ nói thoái thác, nên có lẽ chị nghĩ hỏi làm gì nữa. Con chị Năm không dám gọi điện thoại về hỏi thăm chị Cả nữa, vì sợ bị hỏi hay buột miệng nói về Trâm. Tôi hỏi chị Năm liệu dấu được bao lâu, chị Năm chỉ biết lắc đầu.

Dù gì, cháu hãy an nghỉ, nghe Trâm, cháu xứng đáng được nghỉ ngơi mặc dù cô biết cháu vẫn lo cho con. Cô sẽ bảo Khánh đọc bài này trước mộ phần cháu năm nay, ngày giỗ thứ hai của cháu, để cháu được mãn nguyện là cuối cùng cô đã giữ lời và viết về cháu, người cháu gái mà cô rất thương và cảm phục ở sự ham học hỏi, tính lạc quan, sức chịu đựng và phấn đấu không ngừng nghỉ. Và đặc biệt hơn cả là cuối cùng Khánh đã thực hiện được điều cháu mong mỏi, đó là tốt nghiệp trung học và đã được trường đại học UC Davis nhận vào học mùa thu tới, với cả học bổng.

TRÙNG DƯƠNG

Sỗ sàng đậu xuống vai người

tranthienthi
1.
sỗ sàng một tiếng tôi rơi
luân xuân đậu xuống vai người đòi yêu
này hai con mắt buồn hiu
nói gì đi
nắng sắp chiều rồi em
cái buồn cứ ngỡ rằng quen
bao nhiêu năm cứ nặng thêm vai người
sỗ sàng một tiếng tôi rơi
yêu nhau đi kẻo chiều vơi mất rồi

2.
đê đầu bái tạ mùa vui
người mang đi hết
còn tôi
và buồn
chiều nay nửa chén rượu suông
cụng ly vào trán mà trông ráng chiều
sỗ sàng tôi
sỗ sàng yêu
đê đầu bái tạ cô liêu một lần

trần thiên thị

Tình Thơ Mùa Phượng Vĩ

trantrungdao

Em trở lại quê hương mùa phượng vĩ
Đời kiêu sa trên mười ngón tay mềm
Anh cúi mặt đi giữa trời giông bão
Quê hương mình nghèo lắm phải không em

Thời ly loạn tưởng chẳng còn gặp nữa
Anh làm thơ hoài vọng dấu chân người
Em thuở ấy tóc thơm mùi hoa bưởi
Áo lụa vàng rung nhịp bước chân vui

Trời sinh anh ra làm tên đãng tử
Khóc say sưa những chuyện thế gian cười
Tình huyễn mộng nên tình thường dang dở
Đời vốn buồn nên tiếc một lần vui

Em trở lại quê hương mùa hạ đỏ
Sợ con ruồi con muỗi dính trên tay
Sợ vũng nước đen, sợ bờ kênh nhỏ
Sợ người quen như sợ kẻ ăn mày

Em đã gặp gì chăng trên vỉa phố
Đám dân nghèo khổ cực sớt chia nhau
Và như thế hai mươi năm “giải phóng”
Họ cúi đầu gánh chịu những thương đau

Như anh cúi đầu nhìn em trở lại
Thương cuộc tình một thuở đã xanh rêu
Ôi cô gái tóc thơ mùi hoa bưởi
Chết thật rồi trong mộng tuổi hoa niên.


Trần Trung Đạo

Giữa những hàng ghế trống

transa

Thuở nhỏ tôi lấy ý đâu đó trong một cuốn sách và tự đặt cho mình một trò chơi gọi là “phát huy lòng trắc ẩn”. Tôi chơi trò này với rất nhiều đứa con trai mới lớn. Nhất là những đứa tính tình nhút nhát, yếu đuối, có mặc cảm gì đó. Tôi có chiếc miệng rất đẹp có thể nở những nụ cười thật quyến rũ, cùng đôi mắt nhìn vừa tình tứ vừa làm lúng túng người đối diện. Cộng với khả năng nói láo rất có duyên, tôi làm bọn thanh niên cùng tuổi chết mệt vì tôi. Bây giờ đã là một người đàn bà ba mươi tuổi, thỉnh thoảng tôi vẫn còn chép lại những cái tên người từng có mặt trong trò đùa “phát huy lòng trắc ẩn” thành một cái list khá dài. Có những cái tên không gợi lên một điều gì cả trong lòng tôi. Nhưng cũng có vài cái tên làm tôi mơ màng nhớ, tự hỏi họ bây giờ đang ở đâu, đang sống thế nào. Một cách chủ quan, tôi thường nghĩ rằng người nào đã yêu tôi sẽ không bao giờ yêu vợ một cách toàn hảo. Tôi là một bóng mây. Không bao giờ bay khỏi trí nhớ họ. Thứ bóng mây làm tối đi tâm hồn họ mỗi khi một điều gì đó làm họ nhớ đến tôi. Có thể chỉ là một chiếc lá, một cơn mưa, một cơn bão nhỏ, một cành hoa trắng, hoặc chỉ là một viên sỏi, một hạt cát vướng trong kẽ tay… đó là xảo thuật của tôi, tôi chỉ cần tặng họ một sợi tóc mỏng cùng với một nét nhìn u uẩn, họ cũng sẽ nhớ tôi suốt đời.

Dạo đó tôi thích ban tặng kỷ niệm. Tôi nghĩ đời người không có một tình yêu đẹp (sẽ tan đi như bọt nước) thì vô cùng uổng phí. Người ta cần phải có một cái gì để nhớ. Tôi muốn làm giàu quá khứ của mỗi người con trai tôi quen biết, và đó là hành động thể hiện lòng trắc ẩn của tôi.

Tôi dẹp trò chơi ấy khi khám phá ra càng ngày tôi càng có nhiều kẻ thù. Những kẻ thù rất hiền lành. Họ trả thù tôi bằng ánh mắt nhiều hơn bằng lời nói. Một người bạn gái cũng đã từng nói như một lời tiên tri “Bà sẽ bị quả báo.” Rất bướng bỉnh, tôi trả lời người bạn rằng tôi chỉ ban cho, tôi chưa hề đòi nhận gì ở ai. Nếu tôi có lỗi gì với ai, có lẽ chỉ bởi vì khi họ cho, tôi không muốn nhận. N. đến với tôi với sự nghi ngờ. Chàng không bao giờ tin rằng tôi thành thật với chàng mặc dù đối với N. tôi vô cùng thành khẩn. Tôi yêu N., không có một tí gì gọi là trò chơi, là sự phát huy lòng trắc ẩn. Nhưng mà giữa tôi và N. luôn luôn có một khoảng cách dù vô hình vẫn rắn như đá, cao như núi: đó là quá khứ của tôi. N. kiêu ngạo tột đỉnh, tôi tự ái ngất trời, hai đứa không kẻ nào chịu làm kẻ bước tới để xô ngã cái khoảng cách đó.

alt

Tranh: Trịnh Cung

Chúng tôi là đôi tình nhân ngu xuẩn nhất trần đời.

“Anh không muốn là cái tên kế tiếp trong danh sách trò chơi của em.”

“Danh sách đó đã chấm dứt trước khi anh đến. Cái tên của anh đứng một mình. Có lẽ không có ai tiếp theo đâu.”

“Tại sao lại có lẽ?”.

“Có lẽ, bởi vì nó còn tùy thuộc vào anh. Em đâu phải là thượng đế để xác quyết… chân lý. Anh để ý từng chữ em dùng, như vậy bất cứ điều gì anh cũng có thể bắt bẻ em được.”

“Làm sao anh tin được vào một lời nói không có sự khẳng định của một người luôn luôn không tự tin ngay với chính những lời nói của chính mình.”

“Khi người ta không yêu thì người ta không tin.”

“Anh không tin em nhưng mà anh tin anh. Anh là anh-yêu-em (không có chữ có lẽ).”

“Làm sao người ta yêu một người mà người ta thiếu tin tưởng?”

“Vẫn có thứ tình yêu đó. Nếu không thì chẳng ai đau khổ vì tình.”

“Tình yêu thật sự không có đau khổ. Tình cảm gây ra đau khổ là một sản phẩm giả tạo của tình yêu.”

Vân vân…

Cả hai chúng tôi đều mệt mỏi sau hai năm hẹn hò với những mâu thuẫn. Nhưng chưa người nào có can đảm nói trước lời giã biệt. Có thể sẽ là N. chứ không phải là tôi. Tôi nghĩ N. yêu tôi, nhưng không nhiều đủ. Chỉ cần nhìn thấy tôi đứng bên cạnh một người đàn ông nào không phải là N, chàng cũng bắt đầu điên tiết lên và buộc cho tôi cái tội tôi chưa bao giờ phạm với chàng. Còn tôi có yêu N. hoàn toàn như tôi luôn luôn nghĩ không, có lúc tôi cũng còn phân vân tự hỏi lòng mình. Nếu có, thì tôi đã chấp nhận được sự đòi hỏi vô lý của chàng mà trốn vào trong núi, không hề tiếp xúc với một kẻ đồng loại nào, ngoài N.?

Nếu có, thì tôi đã không thỉnh thoảng cáu sườn lên mà chọc tức chàng như tôi đã từng làm bằng cách giả vờ như đang có một mối liên hệ tình cảm với một người khác (nhưng vẫn không quên cho chàng biết là không ai có thể thay thế được chàng trong quả tim tôi).

Tội nghiệp P.. hắn chỉ là nạn nhân của tôi và N… P. không bao giờ biết hắn chỉ bị tôi mượn để làm cho N. tức lên. Chỉ trong một buổi chiều. Một buổi chiều mà làm P. thay đổi đến mực tôi không thể nào ngờ tới. Trong mắt tôi, P. chỉ là người-con-trai-của-một-bệnh-nhân. Tôi là social worker của bệnh viện mẹ P. đến điều trị. Sau cơn stroke nặng, mẹ P. liệt hết nửa người. Bà về nhà sau thời gian nằm viện, nhưng thể chất lẫn tinh thần bà rất suy yếu nên tôi vẫn đến thăm nhà để an ủi và giúp đỡ khi cần thiết. Tôi vô tình đâu biết đã ảnh hưởng đến P. như thế nào trong những lần thăm viếng ấy. Trong khi tôi ngồi nói chuyện và chăm sóc mẹ hắn, P. thường ngồi sững sờ trong một chiếc ghế nhìn từng cử động, nghe từng lời nói của tôi, một cách cảm động và tri ân. Chính mẹ hắn nói cho tôi biết mối tình P. dành cho tôi. Đôi mắt đục lờ rưng rưng khi ôm bàn tay tôi vào hai bàn tay nhăn nheo run rẩy của bà:

“P. đã ba mươi sáu tuổi mà chưa từng thương yêu ai như thương yêu cô. Nó chỉ biết đi học, tốt nghiệp thì đi làm, từ sáng đến tối. Về nhà là săn sóc tôi hay cắm đầu vào cái máy điện toán. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó bối rối, thương nhớ một người. Bữa nào biết cô sẽ đến, nó mua hoa cắm vào lọ, nghỉ cả làm việc để đi ra đi vào trông ngóng. Cô đến trễ là nó đứng ngồi không yên, cứ đứng bên cửa sổ vén màn nhìn ra. Nghe tiếng xe ai chạy ngang nó cũng nhổm người dậy nói “Cổ đến rồi”. Nếu không phải là cô, nó vò đầu gục mặt xuống. Cô biết không…, P. nó thương cô quá làm tôi cũng tội nghiệp cho nó. Tôi chỉ có một đứa con…Nhà hiu quạnh quá…”. Tôi dở khóc dở cười. Tôi đang yêu N. đến mức có thể chết được. Tôi nghĩ tôi sẽ không thể yêu ai trong một thời gian rất dài nếu chúng tôi không còn nhau. P. vĩnh viễn cũng không là đối tượng kế tiếp của tôi.

P. không là tuýp người như tôi và N.. Nói chuyện với tôi, hắn chỉ say mê trình bày những kiến thức phổ thông làm sao quảng cáo tốt, nên hay không ăn bột ngọt (lâu lâu dừng lại nhìn tôi tha thiết). Hắn không biết gì về xã hội, về văn chương, nghệ thuật, và ngay cả tâm lý con người. Hắn vụng về, lắp bắp những câu nịnh đầm khuôn sáo, đại loại: “Hôm nay cô mặc áo đẹp quá”, “Cô giống như những cái hoa”, “Cô nói chuyện hay quá! Tôi không biết làm sao để nói chuyện cho hay như cô”.

Và P. xấu trai thậm tệ. Người P. loắt choắt, nhỏ bé. Khi hắn cười, đôi mắt — như một lằn chỉ đầy những vết nhăn xung quanh, sau hai mặt gương dày cộm. Khi không cười, đôi mắt lại lờ đờ như một người mất ngủ kinh niên. Miệng P., trái ngược với khuôn mặt, rộng hoác; đôi môi dày thâm màu và những chiếc răng quá tội, vàng ố, đầy những vết trám lỗ chỗ. Khi bất chợt nhìn vào những chiếc miệng như thế làm sao có cơ hội hôn ai.

Tôi chỉ tội cho bà mẹ của P.. Hình như bà nuôi niềm hy vọng theo đứa con trai. Dưới mắt hai mẹ con, tôi là một mẫu người đàn bà lý tưởng, khỏe mạnh, xinh đẹp, có học vấn, thông minh, nhất là có nhiều lòng tốt. Tôi không có nhiều lòng tốt như họ tưởng lầm, tôi đến với họ thuần túy vì công việc. Cũng có một chút thương hại đó. Nhưng nếu sự thương hại của tôi không được phát lương có lẽ nó cũng giảm thiểu lại rất nhiều.

Tôi đã làm một việc điên rồ: Chấp nhận lời mời đi ăn với P. và mẹ hắn một buổi chiều. Hôm đó giận N. lỡ hẹn, tôi gật đầu như một cái máy khi P. ấp úng ngỏ lời. Sự đồng ý của tôi làm P. ngạc nhiên. Hắn trố mắt nhìn tôi như không tin rằng tôi đã đồng ý thực.

“Cô…đừng thay đổi ý kiến nhé?”

“Tôi không đổi ý đâu. Cái gì làm anh nghĩ tôi sẽ đổi ý?”

“Tôi không biết nữa. Tôi sợ…sợ…cô ngại…”

“Anh đến đón tôi, phải không?”

“Vâng, tôi đón cô ở bệnh viện, trước cửa ra vào.”

“Thôi, đợi ở đó lạnh lắm. Tôi muốn về nhà thay đổi quần áo. Tôi cũng nên phải làm dáng một chút chứ hở…. Anh đón tôi tại nhà khoảng bảy giờ nha?”

“Tôi sẽ gọi cô trước khi tôi đến. Số điện thoại của cô là…”

Tôi điên rồ thêm một chút nữa khi hăng hái viết số điện thoại lên một mẩu giấy nhỏ, bằng bút chì kẻ mắt màu xanh.

Thật là lãng mạn, thật là đàn bà. Những thứ có thể làm chết một đàn ông! Tôi có muốn làm chết P. đâu. Tôi chỉ muốn N. sẽ điên lên vì tôi, khi chàng biết tôi đi chơi với P.. Tôi sắp đặt quá nhanh trong đầu. Chiều thứ Sáu nào N. cũng đến nhà ăn cơm tối với tôi, như tục lệ của dân Do Thái để dành hoàn toàn buổi chiều thứ Sáu cho bữa cơm gia đình. Chiều thứ Sáu chàng đến và nhìn tôi bước lên xe P.. Chàng sẽ chẳng để ý gì tới mẹ của P., chỉ thấy rằng P. không có một người đàn bà nào bên cạnh, P. không đeo nhẫn vàng ở ngón áp út. Vậy là đủ cho N. nóng bừng mặt mũi. Vậy là tôi có thể trả thù được đêm hôm trước tôi đợi N. mỏi mòn nhưng chàng không đến, cũng không một lời giải thích.

Bữa ăn tối ở một nhà hàng Tàu sang trọng. Bàn có trải khăn xanh, có chưng hoa tươi. Có những waiters mặc sơ mi trắng, thắt nơ đen và waitress mặc áo sườn xám xẻ sâu bên đùi. Có những bức thủy mạc mơ màng như mộng. Khá nhất là có sự yên lặng. Những nhà hàng Tàu khác thường ồn ào như một cái chợ thu nhỏ, tiếng Quảng Đông xì xồ chát chúa và tiếng chén bát va chạm rổn rảng mỗi khi bus boy túm lấy những đầu khăn nhựa, đem đi một lần tất cả chén dĩa ly tách và thức ăn thừa trong cùng một chiếc khăn. Nhưng tôi đã ăn rất ít. Món ăn Tứ Xuyên đậm đà, cay, nóng, mà tôi vẫn thích lại trở thành nặng nề, khó nuốt. P. lăng xăng gắp bỏ đồ ăn cho mẹ hắn và cho tôi. Mặt hắn tươi rói rạng rỡ chưa từng thấy. Mẹ hắn thì cứ nhìn tôi với nụ cười âu yếm như đối với một cô con dâu tương lai.

Cơn giận của tôi đã hạ xuống ngay lúc bước lên xe P. quay lại thấy N. đứng nơi cửa nhìn theo với nụ cười nửa miệng rất buồn. Tôi giận tôi chứ không còn giận chàng. Tôi hồ đồ quá, ngu ngốc quá. Tôi đã tạo thêm một dịp cho N. đay nghiến tôi, nghi ngờ tôi. Mà lẽ ra tôi phải cố gắng để lau tấm gương của lòng tôi cho càng lúc càng trong để N. nhìn thấy suốt tình tôi. Tôi đã bôi thêm cho bẩn tấm gương. Mặc dù tình tôi bao giờ vẫn vẹn nguyên như thế nhưng N. đâu có được đôi mắt thần để phân biệt đâu là vết dơ giả tạo. Chàng chỉ là một phàm nhân tầm thường vọng động như bao nhiêu kẻ khác, nhưng tôi đang ngồi bên cạnh P. mà nhớ gã phàm nhân kia quay quắt.

P. gọi thật nhiều thức ăn và cứ mỗi lần gắp thức ăn cho mẹ hắn và tôi xong, hắn ngấu nghiến nhai, nuốt, chan, húp xì xụp. Tôi nhìn mẩu thịt quay hắn đang đưa lên miệng, muốn rùng mình. P. ngồm ngoàm miếng thịt trong miệng ngó tôi cười. Tôi nhìn lơ xuống cánh tay lơ thơ những sợi lông thật đen thật dày của hắn, lại muốn rùng mình.

Bỗng nhiên tôi thấy ghét P. kinh khủng. Tôi muốn đứng dậy và bỏ đi ngay lập tức. Cái ý muốn đứng dậy bỏ đi quá mạnh khiến tôi cứ nhìn trừng trừng cánh cửa ra vào. Một người đàn bà mặc áo đen (may cắt rườm rà như dành cho dạ hội hóa trang) từ đâu đến đứng ngáng ngay cánh cửa một hồi lâu. Tôi quay lại nhìn thấy mẹ P. ngó tôi với cặp mắt lo âu. Tôi mỉm cười và cúi mặt xuống.

P. bám riết theo tôi từ đó. Hắn đến bệnh viện tôi làm việc mỗi ngày. Cứ hễ tan việc, bước ra là tôi đã nhìn thấy hắn đứng chờ sẵn bên cạnh chiếc cửa xoay. Cứ hai ba ngày, hắn lại đem đến cho tôi một bó hoa hồng. Hắn làm tôi ngượng! Lại có cái màn đưa hoa trước công chúng nữa, cứ y hệt như trong ciné và tiểu thuyết.

Riết rồi tôi không còn thấy ngượng mà thấy giận P. kinh hồn. Tôi thấy P. hề, P. lố bịch, P. dị hợm. Càng lúc hắn càng xấu đi trong mắt tôi. Khi mà việc đón tôi để tặng hoa kéo dài đến hai tuần lễ, tôi dứt khoát không nhận nữa. Tôi không còn được một chút xíu trắc ẩn nào dành cho P. và mẹ hắn.

Tôi đóng hồ sơ case của mẹ P.. Clients của tôi thì nhiều lắm. Ai cũng khổ sở đáng thương hết. Tình thương của tôi dành cho tha nhân càng ngày càng vơi cạn. Ngày nào tôi cũng nghe những tiếng khóc, tiếng thở than, tiếng rên rỉ, tiếng trách móc, tiếng nguyền rủa thống hận đời sống… mãi rồi những xúc động thương hại của tôi chai lì đi. Tôi nghe họ nói như cái máy. Tôi vỗ về, an ủi họ cũng như cái máy. Tôi làm việc như một cái máy. Đó là phương thức tồn sinh hữu hiệu nhất của tôi. Nếu không thì quả tim một thời nhạy cảm của tôi đã rạn, nứt, vỡ không biết bao nhiêu đường, mảnh với bao nhiêu là vấn đề khó nghĩ, thương tâm.

Trong thời gian này tinh thần tôi tuột dốc kinh khủng. Tôi và N. không liên lạc với nhau nữa. Sau chiều tối đi ăn với P., tôi gọi N. để nói chuyện nhưng bao giờ cũng nghe cái answering machine trả lời. Tôi đến nhà kiếm N. vài lần, chàng không có nhà. N. không trả lời messages của tôi. N. cố chấp nên tôi cũng lờ đi, không tiếp tục gọi chàng. Tôi nghĩ N. muốn trừng phạt tôi. Như thế thì vẫn còn dễ thở. Rồi tôi nghĩ N. không bao giờ yêu tôi, hoặc đã không còn yêu tôi. Ý nghĩ sau làm tôi chóng mặt, lảo đảo. Càng lúc tôi càng nhớ ra những lời nói, những hành động của chàng giúp tôi tự xác định được rằng N. không yêu tôi thật sự bao giờ.

“Tình Yêu” mà chàng nói dành cho tôi cũng tương tự như cái trò đùa thời tuổi nhỏ của tôi. Chỉ khác là chàng không “phát huy lòng trắc ẩn” như tôi đã “cho”. Trò chơi của N. là “phát huy sự chiếm hữu”, nghĩa là N. đòi nhận một cách tuyệt đối tất-cả-tôi.

Trong lúc tôi buồn chán, rã rời đến tột độ như thế mà P. vẫn tiếp tục quấy nhiễu một cách đáng ghét. Cứ vài ba buổi tối P. lại gọi điện thoại đến. Lần nào cũng vào mười giờ tối, hắn gọi chỉ để nói “chúc em ngủ ngon”. Trời ơi, cứ mỗi lần hắn gọi đến như thế là tôi giận tới tím mặt. Từ bao giờ tôi là “em” của hắn? Tôi đã dặn đi dặn lại “Đừng đến đón tôi nữa, đừng gọi điện thoại cho tôi nữa, đừng gọi tôi bằng em nữa. Ông làm tôi bực mình lắm.” Hắn vẫn làm như hắn chưa bao giờ nghe. Hắn vẫn tiếp tục gọi điện thoại. Tôi không biết hắn làm gì với những bó hoa vì tôi không bao giờ nhận. Và tôi cũng không bao giờ bắt phone vào buổi tối. Một cách kiên nhẫn kỳ dị, hắn vẫn có mặt ở hành lang bệnh viện dù tôi có nhìn hắn hay không. Và buổi tối, chuông điện thoại vẫn reo mãi vào lúc mười giờ dù có ai bắt hay không. Chỉ nhìn thấy P. tôi cũng đủ lợm giọng rồi. Giọng nói hắn lại càng làm tôi muốn nôn mửa. Tôi không ngăn được sự ác độc càng ngày càng ăn mòn trái tim tôi như một dung dịch acid. Tôi hết cả lịch sự, nói thẳng thừng vào mặt P…

“Dù trái đất này không còn một người đàn ông nào tôi cũng chẳng bao giờ đi chơi với ông thêm một lần nữa. Ông đừng uổng công theo đuổi tôi.”

“Em không đi chơi với tôi, nhưng ít ra cũng nhận dùm tôi một bó hoa, cũng để tôi chúc em ngủ yên giấc…”

“Hoa hồng của ông đầy gai. Và những lời chúc của ông làm tôi ngủ trong ác mộng.”

Đôi mắt lờ đờ của P. vẫn bám cứng trên mặt tôi như một con đỉa. Mặt hắn buồn thê thảm trong một vài phút ngắn rồi hai hàm răng vàng khè lại nhe cười.

“Ông cười cái gì?”

“Câu nói của em ác quá. Nếu tôi không cười thì tôi sẽ khóc. Nhưng tôi không thể khóc được.”

Lời nói hắn như nước chảy lá môn không làm tôi động lòng dù chỉ là một thoáng nhỏ thôi.

Cách đây một tuần hắn khoe với tôi rằng mới mua được một khẩu súng. Tôi chợt nhớ tới cuốn phim Fatal Attraction xem xong vẫn còn bực mãi đến giờ vì sự điên khùng vô lý phi nhân của cả “chàng” lẫn “nàng” trong phim.

“Mua súng để làm gì? Định muốn bắn tôi sao?”

“Không. Đời nào tôi muốn bắn em. Tôi yêu em hơn như thế. Tôi mua để giết tôi đó. Nhưng mà cứ mỗi lần đẩy họng súng vào miệng, ngón tay để lên cò, tôi lại nghĩ đến mẹ tôi. Bà đã bị tê liệt… tôi ước gì bà không tê liệt như vậy để tôi rảnh rang ra đi.”

Thói quen nghề nghiệp của tôi trỗi dậy:

“Ông phải đi gặp bác sĩ tâm thần ngay lập tức. Ông không nên nghĩ vớ vẩn như vậy.”

P. không còn là P. ngày tôi mới gặp. Dạo đó hắn rất chải chuốt, chưng diện, có lẽ để bù đắp lại sự khiếm khuyết của khuôn mặt và nhân dáng. Càng ngày P. càng thảm hại, tóc không cắt chải, y phục xốc xếch, bẩn thỉu. P. bắt đầu uống rượu và có lẽ uống quá nhiều. Da mặt hắn bủng đi, viền mắt sưng và đỏ kè. Hắn làm tôi vừa sợ vừa mắc cỡ mỗi khi hắn đến bệnh viện tôi làm việc. Tôi phải giải thích với người gác cửa. Tôi gọi cả cảnh sát để họ mang hắn vào nhà thương tâm trí. Nhưng không ai nhận hắn nhập viện, lý do hắn chỉ bị khủng hoảng tinh thần nhẹ, không có gì đáng nguy hiểm. Người ta chỉ cho nhập viện nếu hắn có thể làm hại đến kẻ khác và có tư tưởng tự sát. Cảnh sát lục nhà hắn nhưng không tìm ra một khẩu súng nào. Họ nghĩ hắn chỉ nói đùa với tôi.

Đời sống của tôi không còn yên ổn nữa. P. giết chết hết những buổi chiều, buổi tối mà sự cô độc bình thản là điều mong muốn còn lại của tôi. N. đã đi một tỉnh khác làm việc, chàng viết cho tôi một lá thư rất ngắn để báo tin.

Mấy ngày hôm nay tôi cáo bệnh ở nhà. Đầu óc tôi không tập trung để làm việc được nữa. Lá thư của N. tôi đọc cả trăm lần. Chàng cho tôi số điện thoại chỗ ở mới của chàng nhưng mỗi lần nhấc phone lên tôi lại bỏ ngay xuống. N. lại muốn tiếp tục đùa nữa sao? Và phone cho N. tôi sẽ tiếp tục là trò chơi của N.? Trò chơi mà nếu tôi tham dự, suốt đời tôi phải quỳ dưới chân chàng?

Bây giờ thì P. gọi tôi hầu như liên tục. Tôi không trả lời điện thoại, chỉ để máy answering. Lúc nào cũng là P. “Tại sao em không đi làm việc? Em bệnh thế nào? Cho tôi đến thăm em. Tôi van em.”. “Em có đi bác sĩ không? Em uống thuốc chưa?”. “Nhớ đi ngủ sớm”.

Trước cửa nhà tôi không biết bao nhiêu là hoa. Hoa phủ hết những bậc tam cấp. Tôi cứ để ở đó cho P. biết tôi không muốn nhận.

Tôi khóa cửa cẩn thận. Tôi sợ vơ vẩn. Ngay cả tiếng chân của người phát báo, đưa thư cũng làm tôi tự hỏi có phải là P.. N. vẫn chờ tôi điện thoại và tôi nghĩ mối tình chúng tôi sắp đến hồi kết thúc. Có khi tôi nhớ N. tê dại. Có lúc tôi thấy mọi chuyện giữa tôi và N. vô nghĩa đến khôi hài. Có khi tôi hoàn toàn trống rỗng. Có điều tôi bắt đầu sợ sự cô độc đến rợn người. Giam mình trong căn nhà từ sáng đến đêm với từng giấc ngủ ngắn đứt đoạn, tôi thấy mình như một con chuột lủi thủi trong chiếc hầm bỏ hoang, như một bóng ma trong nhà mồ. Như giữa tôi và đời sống con người không còn mảy may liên hệ.

Tôi khởi sự sợ. Sợ. Sợ. Sợ. Tôi không sợ trò chơi của N. và khuôn mặt dị hợm của P. bằng nỗi sợ vào chính tôi khi bắt gặp mình mân mê trên tay những viên thuốc ngủ.

Đến ngày nghỉ thứ tư thì tôi không còn chịu nổi. Ngày mai thế nào tôi cũng phải đi làm lại. Nhưng mà còn cả một buổi tối! Đêm hôm qua tôi nằm mơ thấy P. trong hình thù một con chim bằng đá xanh. Khuôn mặt vẫn là của hắn với hai con mắt nhỏ lờ đờ và chiếc miệng rộng hoác, nhưng lại xanh ngắt màu xanh của ngọc thạch pha lẫn màu lá cây. Mặt hắn trùm phủ một vẻ tuyệt vọng ghê rợn làm tôi kinh hoàng mỗi khi nhớ lại. Hắn bay vút về phía tôi với một tốc độ nhanh dữ dội. Và trong giấc mơ tôi đứng đó như trời trồng, vô vọng, không thể nào tránh né.

Tôi gọi N., chàng không có nhà.

Tôi lại gọi N.. Chàng vẫn chưa trở về. Ngọn đèn vàng góc phòng tỏa ánh sáng mỏng yếu, buồn rầu. Cái máy hát kêu “cạch” một tiếng ngắn và nằm im, trả tôi về với niềm hiu quạnh chơ vơ.

Tôi lại quay số điện thoại của N. sau mỗi năm ba phút, không còn tự chủ được bàn tay cho khỏi run.

Khi điện thoại đột nhiên reo, tôi nhào tới như kẻ đói khát lâu ngày vừa được mời ăn.

Giọng mẹ P. nức nở làm tôi khựng người.

P. vừa gặp tai nạn xe hơi trên xa lộ. Hắn đâm đầu vào một chiếc xe vận tải lớn đi ngược chiều. Hắn uống rượu quá say và lái xe quá tốc lực. Bác sĩ nói có lẽ hắn không thể sống được.

Mẹ P. nài nỉ tôi đưa bà đến gặp P. trước khi P. chết. Tôi nói như người mất hồn “Cháu sẽ đến ngay” và bỏ máy nghe xuống. Từ đây chiếc điện thoại này sẽ không còn reo mỗi mười giờ đêm!

Tôi kinh hoàng ngồi như cái tượng đá. Tôi biết mẹ. P. đang chờ. Nhưng hai chân tôi bỗng dưng giống như hai chân mẹ P., tê liệt không thể di động được.

Mắt tôi mở tôi nhìn vào khoảng không. Tôi thấy từ khoảng không đó đôi mắt ti hí buồn thảm của P. sau chiếc gương cận dày cộm. Tôi thấy cái miệng rộng của P. đang nhe răng cười. Tôi thấy cái dáng đi lủi thủi, chiếc lưng hơi khòm xuống của P., và nhớ lại có lần tôi thầm ví P. với hình ảnh của “Thằng gù nhà thờ Đức bà”.

Tôi thấy P. thiểu não chìa bó hồng về phía tôi. Gió thổi mái tóc bù rối của P. dựng đứng lên. Gió thổi những-cánh-hoa-của-P. rụng rơi lả tả. Gió thổi tiếng nói khàn yếu của P. “Ít ra cũng nhận dùm tôi bó hoa…”. Tất cả lọt thỏm, nhỏ tí, mờ dần… trong một nền trời càng lúc càng xám hẳn.

Đêm đột nhiên sâu hút. Mọi sự giống như một cuốn phim đang chiếu đột ngột đứt ngang. Đèn bật lên. Màn ảnh trắng trơ, trống hốc. Tất cả đều rơi hẫng trong một sự im lặng lạnh lẽo kỳ dị.

Và chỉ có một mình tôi. Giữa những hàng ghế trống.

TRÂN SA