ANH…

hienmay

đêm sa xuống đáy tàn tro
trơ đôi hốc mắt buồn xo mệt nhoài
trăng mờ thắt thẻo thở dài
xót vườn hoang khổ lụy nài gió nương

đàn xa xăm vọng khúc thương
lơi buông nhịp xuống dòng tương lững lờ
giữa không gian lặng như tờ
dế ro ro bật gáy thơ tỏ tình

em men theo tiếng gọi mình
dáng ai (lặng hóa đá)… hình như anh
là anh… phải – rất hiền lành
(tự em phác họa mà thành)… lâu nay (!)

anh chìm quạnh quẽ… đâu hay
trên đầu… mây trắng bông bay nhẹ nhàng
quanh đây… hương đất dịu dàng
và hoa cỏ ngát thơm vàng nắng mai

trần gian… một bước cũng dài
nhặt ra anh nhé dấu gai nhọn sầu
trả môi ngọt vị ban đầu
nhận vào… em – rượu ủ lâu từ trời

hạt gì trong mắt anh rơi?
ôi mưa bụi… chúng nghịch chơi đấy mà
tim anh đang nói… nhỏ à
yêu em (giọng rất thiết tha)… mất rồi.

HIỀN MÂY

Cao su rụng lá

nguyentri

Bông đùa như một diễn viên đang tấu hài mua vui cho bà con cô bác. Năm Kép trả lời câu hỏi vì sao lớn nhứt nhà mà lại năm chứ không là hai như bao gia đình khác ở xứ nầy:
– Biết sao không? Tại trước tao còn có ba bà chị. Bà hai bà ba bà tư rời khỏi trần gian ô trọc nầy khi vừa mới ra đời. Vậy nên tao thứ năm. Còn Kép là bà nội tao đặt chứ ông bà già không có tí quyền gì trong chuyện đặt tên con cái trong nhà. Bà nội tao là một Lý Phi Nương thứ thiệt, má tao kể vậy…
– Lý Phi Nương là ai?
– Là bà má chồng ác nghiệt trong tuồng cải lương Lâm Sanh Xuân Nương…
Từ cái thuở xa xưa nào đó bà nội goá chồng của Kép hứa hẹn sẽ xuôi gia với một bà bạn cũng goá chồng khi cha Kép còn cởi truồng tắm mưa. Lớn lên ông cha phải lòng một nhan sắc tầm chim sa cá lặn là bà Loan – người Kép gọi bằng má:
– Tụi mày thấy tao năm mươi rồi mà còn đẹp trai không? – Kép hỏi bạn nhậu.
– Quá đẹp luôn. Mày mà ăn học đến nơi đến chốn không chừng bây giờ là dziễn dziên.
– Tao đẹp dzầy em tao đẹp cỡ đó thì má tao nhứt sóc nên ông già tao mê là quá xá đúng. Kẹt cái bà nội Lý Phi Nương không ưa bà già tao. Đó là lý do tại sao tao ra đời ở trong rừng.
Những tưởng đẻ xong là má chồng sẽ đổi thái độ với một đứa con dâu không cưới hỏi. Ngờ đâu ra đời được một ngày là thiên thần về trời không rõ nguyên nhân. Ba năm liền ba đứa. Bà má chồng mê tín thuộc loại trời thần đất lỡ cho rằng con trai đã lấy nhầm một loại chúa của hồ ly nên đẻ ra con ranh con lộn. Nhưng không sao, ông bà có câu chồng ghét thì ra mụ gia ghét thì vào. Chồng thương vợ quá nên rất dịu dàng nói với mẹ rằng:
– Bà mà khó quá là tui ra ở riêng à.
Khì khì khì – Năm Kép tiếp tục – ông già tao là bất hiếu loại chúa. Ông bà nội tao cho đi học bây biết ổng học ở đâu không? Ở ngoài sông cái chớ đâu. Ông nội tao ra sông thì ổng dông tuốt vô rừng. Về sau ông nội tao bắt theo xe bò vô rừng kéo be luôn. Để ở nhà thiên hạ đến mắng vốn ngày cũng mười tám giác. Biết tính con trai nói là làm nên bà già không thèm mè nheo mà im như người câm. Trong nhà con dâu hỏi mà mẹ chồng không ư hử thì có mà chết cho rồi. Vậy nên bà Loan xin chồng theo vào rừng cho vui. Chồng hiểu nên ô kê cái rụp liền.
Nói về sự ra đời của mình Năm Kép rành như anh ta đích thân cắt rún cho mình vậy. Đang kéo một lóng cây cả một kíp rưởi thì bà Loan đau bụng. Rất bình tĩnh vì vụ đỡ đẻ bởi ông cha rành không thua bất kỳ ai làm nghiệp nầy. Chả là bà nội của Năm Kép là bà mụ chính danh, trang lứa Năm Kép ai cũng được bà móc miếng vỗ mông. Ba bà chị vắn số cha Kép phụ mẹ nên rất rành:
– Nói thiệt với tụi bây tao sanh non nên như dzầy chớ đủ ngày đủ tháng không chừng giờ tao là ông nầy bà nọ.
– Mày sanh thiếu tháng hả?
– Không. Thiếu ngày… thiếu mười ngày.
Cả bọn đang khề khà chén rượu lăn ra cười vì cái hài hước của Kép. Đã nói Kép rất có duyên chọc cười thiên hạ bởi cái giọng tưng tửng và bộ mặt tỉnh khô.
– Sư cha mày. Sao biết thiếu mười ngày? Mẹ… thiên hạ sanh thiếu hai ba tháng là thường thôi ông con?
Ông cha cắt rốn cho Kép bằng lạt giang. Quấn lại bằng cái áo trận đẩm và hôi rình mùi mồ hôi của dân cật lực với rừng. Lóng be được tháo xuống và sản phụ nằm ôm con trên cái sạp bằng cây rừng ung dung về nhà. Bà má chồng thấy dâu đẻ cháu trai mừng đến sa nước mắt. Bà thắp một bó nhang to đùng cầu xin với đất trời thiện địa, có bao nhiêu ông thánh bà thần trên đời bà dập đầu xin đừng có ăn cắp cháu của bà đi nữa. Lời cầu xin ứng nghiệm. Kép mạnh khù, nhanh như con sóc rừng và vô cùng hiếu động. Sau đó bà má đẻ tiếp:
– Biết sao tao tên Kép mà thằng em tao tên Nhứt không?
– Sao?
– Là bà nội tao mê lắm cái cải lương tuồng. Tao chưa thấy ai thuộc cải lương và nước mắt ròng ròng khi nghe tuồng chứ đừng nói coi. Bả chửi bà Tào Thị với bà Lý Phi Nương thiếu điều tắt bếp. Vậy mà bả cũng không thua. Tên anh em tao bả đặt hết. Đã kép thì phải nhứt. Kế là con Đào cuối cùng là thằng Nhì. Kép Nhứt Đào Nhì tụi mày thấy vần không? May mà ông già tao chết sớm bằng không anh em tao cả trung đội chứ không ít.
– Sư mày… cha chết mà may. Ông già mày sao chết?
– Ông già tao là bộ đội địa phương. Xứ mình năm đó cộng hoà phối hợp với lính mỹ đi càn dữ lắm. Bên càn bên tập kích ông già tao bị một phát ép tay( m16) vậy là lên bàn thờ ngồi.
Sau thống nhất đất nước. Nhà Kép cũng liệt sĩ như ai, kẹt cái lúc đó cán bộ đương chức đương thời còn hẻo. Cả bà mẹ anh hùng còn hát câu trong đời nay thanh bình mẹ chìm dưới cơn mưa nói chi ai. Cái năm bo bo độn mì, ai ngủ thức dậy cũng bị hai cục ghèn nặng cả ký ngồi gỡ thiếu điều sứt hết lông mi riêng anh em nhà kép no như cưỡng. Chả là Kép là sư thúc tổ kiếm lộc từ rừng. Thiên hạ khai thác lâm sản bị hốt cả người lẫn dụng cụ riêng anh em Kép thì không, chả phải nhờ cái uy liệt sĩ chi ráo. Kép là tổ sư trèo cây hái trái. Đảm bảo nguyên cả vùng miền đông nam bộ không ai sành rừng cho bằng Kép. Nhìn cái lá Kép biết ngay cây gì. Đã nói dân ra đời trong rừng chứ đâu phải giỡn chơi. Thiên hạ muốn có trái cây rừng đem bán thì hì hụi hạ cây. Kép nhoáng một cái là đã lên đến ngọn. Nào chôm chôm rừng, bù lộp, vú heo, xay, gùi, vò viên… ngày nào con em gái tên Đào cũng có thức đem bán ở chợ. Trái cây rừng một thời gian dài nuôi hai đứa Đào và Nhì ăn học. Riêng Kép và Nhứt thì chưa tốt nghiệp lớp bốn là nghỉ luôn. Không có cái bỏ vô miệng ở đó mà học với hành.
Nhưng rừng miền đông bị tàn phá cấp kỳ. Các nơi đổ xô vào ra tay tàn phá kiếm nương rẫy cho qua thì đói rách. Kế là ông nhà nước đưa dân đi lập kinh tế mới. Cuối cùng là cả vạn hecta rừng ra đi nhường chỗ cho những nông trường cao su. Vùng rừng Kép nương nhờ nhanh chóng biến khỏi trần ai. Nhưng không sao. Không còn rừng nguyên sinh thì ta có rừng con người sinh. Kép bò vô rừng cao su cổ thụ từ thời Pháp còn xâm lược xứ ta kiếm ăn. Cao su ở những vùng nầy có cây lớn hơn một vòng ôm người lớn. Cành khô trên loại này rất nhiều. Dân lấy củi khô chủ yếu bằng câu liêm. Kép thì không. Anh ta trèo lên cây rồi dùng rựa chơi luôn cho nó nhanh. Cao su là tài sản quốc gia, vàng trắng chứ không đùa. Ai vào phá phách là tù như chơi, nhất là ăn trộm mủ. Kép không trộm, không phá. Vả lại cành khô là kẻ thù của dân cạo mủ, đang cạo hoặc trút mủ mà một cành nổi ưng nhè cái đầu rơi xuống là mệt lắm. Có đội mủ bảo hộ thì cái đầu cũng vênh vang. Nên chi dân kiếm củi được vào. Nhưng trèo lên dùng rựa thì chỉ một Kép. Chả là thằng Nhứt qua thì khốn khó xin vô làm bảo vệ nông trường cao su. Con liệt sĩ thì bảo vệ là hết sức có lý. Thiên hạ một quan là cả họ nhờ. Đằng nầy Kép nhờ thằng em bảo vệ có cành củi khô cũng chả gì là không có lý.
Thuở mà dầu hoả chỉ sử dụng cho đèn hột vịt, mới tám giờ nhà nào cũng phủi chân lên giường chuyện trò trong bóng tối thì củi đuốc lên ngôi. Dân thất nghiệp ở phố mua củi về nhà chẻ ra và bó lại bằng dây thun đi bán khắp hang cùng ngõ hẹp thì ba cái lò bún lò phở ở xứ ruộng chịu lắm cái anh củi cao su. Dân ruộng năm làm một vụ nên nông nhàn cũng vào lô kiếm thêm. Cành trên cây cao su đâu có mà khô hoài. Thiếu đói khiến con người ta sử dụng thủ đoạn sao cho mình có cái ăn thì thôi. Một trong những chiêu trò là chặt rể cao su. Bộ rể mất, một cây gió ào qua là cao su ngã cái oành, kéo thêm vài cây khác ngã theo lúc ấy ta tha hồ mót. Chiêu nầy rất mau bị phá sản. Bảo vệ đánh ra mùi phá hoại dương súng lên và a lê hấp biến ngay. Rừng cao su là tài sản quốc gia. Đã cấm mà còn dám vào thì què chân ráng chịu.
Chỉ duy một Kép là được vào với tư cách trèo lên lấy cành như làm vệ sinh cho cây vậy. Thậm chí bảo vệ lô còn đến tận nhà rằng Kép ơi ở lô 2 có mấy cây cành khô dữ lắm mày vô tỉa dùm cái. Vậy nên ngày nào Kép cũng có một xe đạp củi đầy ặp, đừng nói kiếm cơm, Kép kiếm cả vàng để cưới vợ nhờ vô vụ nầy luôn đó.
Nhưng quan trọng là – thiên hạ tự hỏi – Ở đâu mà ngày nào nó cũng có cành khô vậy kìa? Lại cành to nữa mới là kỳ quái. Hỏi. Kép nói tụi bây vô mà hỏi cây cao su chứ sao hỏi tao, còn chuyện tao được vào mà tụi mày không là bởi tao không chặt rể phá hoại. Và nhờ thằng Nhứt là bảo vệ nên tao ưu tiên. Với lại tao có cái bằng liệt sĩ thì tụi bây tị nạnh chi cho mệt người. Khà khà khà…
Cứ thế Kép bám vô rừng hết nguyên sinh đến người sinh mà qua hết các thì. Nhờ cành cao su mà bầy con Kép học hành đến đầu đến đũa chứ không chơi. Nói cho công bằng là nhờ bà xã Kép phần hơn. Kép lấy trúng một em , đẹp thì chớ còn tháo vát bậc nhất. Nghĩa là tháo xong rồi vác đi chứ không để đó như thiên hạ. Tiền củi đưa về bà xã nhân lên bằng cách ra chợ ngồi. Thời mà kẻ nào buôn bán, cả buôn thúng bán bưng đều bị liệt hàng tư sản mại bản. Cà chớn là quý ông du kích tịch thu tất. Lúc nầy cái liệt sĩ mới phát huy chức năng. Bà má liệt sĩ tên Loan mắng vô mặt quý anh du kích con con rằng;
– Bà nội cha tụi bây. Cha bây không nhờ tao là cộng hoà nó cho lên bàn thờ ngồi rồi chớ bây nghĩa gì mà láu cá. Biết thằng Thâm chủ tịch huyện nầy không? Trước là lính của cha thằng Kép đó.
Vậy là bà xã kép tha hồ bán với buôn
Thời xăng dầu không còn quý như máu và thiên hạ bớt coi xe như con. Điện đóm tuy tràn khắp chợ thì quê nhưng mấy cái lò phở lò bún vẫn xài củi. Thời mủ cao su có giá dân đi mót một đêm kiếm vài ba trăm ngàn Kép vẫn cứ củi mà tới. Kép không đụng vô mủ vì đó là ăn cắp chứ mót con khỉ chi?
Công nhân cao su đang lên cao thiệt cao bởi giá cao su ngút ngút tận trời xanh, cả dân mót còn nghe ngọt như mật ong rừng. Giá mủ ba mươi nghìn một ký. Mót khơi khơi một đêm chục ký là thường. Dân cạo chính thống sắm chiếc tay ga dễ hơn cán bộ thời bao cấp mua chiếc xe đạp Phụng hoàng. Ngon lành vậy bổng nhiên giá tuột dốc thảm hại. Thảm chưa từng có bởi nghe đâu bên đối tác không thèm thu nữa mới là chết ông bà cố nội luôn. Bên trên bắt đầu thanh lý hằng loạt hằng loạt để xây dựng nhà máy với công ty.
Ai chết kệ ai Kép vẫn tồn tại với cành khô cao su.
***
Bây giờ cả dân cạo cũng muốn rửa tay gác thùng gác dao nói chi dân mót. Có cho họ cũng không thèm bởi chả còn ai dính dấp vô mua bán mủ lậu nữa. Bên chén rượu Kép trả lời câu hỏi vì sao cành cao su khô luôn có cho Kép lấy:
– Nói thiệt với tụi bây. Tao giờ cũng có tuổi rồi dấu làm cái khỉ khô chi nữa, nói ra bây cũng không thể bắt chước mà làm được, có được chăng nữa cũng hết cơ hội rồi. Cao su xứ mình đang bị triệt để cho nước ngoài thuê mướn làm công ty. Sỡ dĩ cánh cao su bị khô là do tao.
– Mày trèo lên gọt võ thân cây hả?
– Ừ… cứ cành nào tương đối lớn tao cạo quanh cho sạch cả lớp lụa thì cành đó phải chết thôi. Nhờ vậy nên tao có củi bán hoài.
– Tụi bảo vệ không biết à?
– Mày còn đoán trúng phóc nói chi bảo vệ lô. Nhưng tao là thằng biết sống biết chơi, biết cả mánh khoé kiếm ăn của bọn nó và giúp tụi nó kiếm ăn ngon nên nương nhau mà tiến tới. Hiểu không?
– Không. Hiểu chết tức khắc. Mày giúp cho tụi nó cái đếch gì?
– Khì khì khì… tụi mày biết lúc cao su có giá dân mót một đêm bị bảo vệ lô bắt cả tấn mủ chứ đâu có ít. Họ chỉ giao nộp cho nông trường một nửa thôi. Còn một nửa quăng cho mấy thằng buôn mủ lậu để kiếm chác để nâng cao đời sống. Nương vô cái lương ba cọc ba đồng lấy đâu đi hát karaôkê ôm. Tao nói tụi mày nghe kịp không?
– Kịp, nhưng giúp cái gì mà tụi nó để yên cho mày cạo vỏ cành cao su?
– Tao dẫn bọn mua mủ lậu vô cân mủ bị bắt. Chỉ đường cho tụi nó tránh bảo vệ nông trường.
– Là sao?
– Là bảo vệ lô bán mủ. Bảo vệ nông trường canh me bắt chớ sao. Khì khì khì… sau đó tao lại kêu lái khác vô mua lại mủ mà bảo vệ nông trường bắt. Bảo nào tao cũng chơi vệ nào tao cũng biết. Anh em có qua có lại. Môi tao mà hở ra là răng tụi nó lạnh liền. Để yên cho tao cạo vỏ cành cây cũng đâu có chết chóc chi ai. Tao nói tụi mày hiểu không?
Đến nước nầy mà không hiểu thì cái đầu toàn bả đậu chắc luôn.
Nguyễn Trí

Chạm mùa trăng tan

nguyenminhphuc

Tôi ngồi gom lá
Giữa chiều thu trôi
Có con bướm lạ
Nằm chết sau đồi

Tìm trang kinh cuối
Hái nụ tình rơi
Em về thả khói
Hờ hững ngang trời

Nghe chiều đại mộng
Hát lời chia xa
Ai còn đứng ngóng
Cuộc tình đã qua

Thôi còn tiếng thở
Vọng tới nghìn sau
Chiều buông cơn gió
Lạnh buốt ngang đầu

Lời kinh đã cạn
Chuông nguyện cũng tàn
Nghe chừng năm tháng
Chạm mùa trăng tan…

Nguyễn Minh Phúc

Đọc bài thơ “Giấc Mơ Nhỏ Của Tôi” (thơ Trần Trung Đạo)

tranhoaithu

Tôi xa ngôi trường ấy đã lâu. Lâu đến bốn mươi năm. Hôm nay, được đọc một bài thơ của Trần Trung Đạo, tôi mới hiểu là nỗi yêu mến quê hương vẫn còn bàng bạc khắp những người con Việt xa hương. Từ nơi nầy, trong cõi sang giàu, thịnh vượng, trong một xã hội mà trí thức được ưu đãi, Trần Trung Đạo lại mơ ước:

Tôi mơ ước mai nầy khi thức dậy
Bỗng thấy mình đang đứng giữa quê hương
Con chim nhỏ hót mừng tôi trở lại
Quảng đường quen rực sáng nắng sân trường

Đó, nỗi mơ ước đôn hậu, tình người. Chỉ có tiếng chim hót, nắng sân trường và con đường quen. Niềm lạc quan sáng ngời qua những linh hồn chữ nghĩa. Bởi vì ai lại không cho phép nhà thơ trãi cỏi thật thà vào từng kỷ niệm. Rực sáng, hót, hai động từ của niềm vui, làm đậm thêm những gì trong cuộc. Hót mừng tôi trở lại. Rực sáng nắng sân trường. Chao ơi, ngất ngây làm sao, và lịm mê làm sao cho một lần trở lại.

Thế hệ Trần Trung Đạo, thuộc lớp tuổi 30 đến 40. Khi chiến tranh khốc liệt có lẽ nhà thơ đang ở dưới mái trường. Nhà thơ cũng đã sống dưới bóng đêm của cuộc chiến, của quê hương, không ít thì nhiều. Tuy nhiên nhà thơ đã không bi quan, than thở, oán trách, đổ thừa, giận dỗi. Nhà thơ đã tìm hướng tới, với yêu thương nhân hậu là khí giới hàn gắn lại đổ vỡ.

Đẹp vô cùng khi con tim của nhà thơ phải xào xạc:

Chào cô gái học trò đang tới lớp
Cho tôi làm viên sỏi dưới chân em
Để xào xạc hồn tôi khi mới lớn
Chút men tình năm tháng ấy chưa quên

Sự bao dung độ lượng của thi ca đã hòa nhập vào viên sỏi trên lối đi. Tâm hồn Trần Trung Đạo đã xào xạc, nhè nhẹ bâng khuâng cùng kỷ niệm ban đầu, khác với Nghiêu Minh:”Em chân suối tung tăng tiếng hót, hồn tôi cũng sỏi vụn hao mòn” (Tháng Tư Dương Đào, Dấu Xưa, nhà xb Sông Thu). Sự khác biệt về cảm nghĩ của hai thế hệ là đấy. Một thế hệ thua cuộc và một thế hệ nhìn vào tương lai. Một thế hệ quay lại phía sau và một thế hệ ngẩng cao đầu về trước mặt. Một thế hệ mà sự mơ ước là kết quả của những phân lìa, tang tác:

Ngôi trường ấy có bao nhiêu ô cửa
Để tôi về đếm những đám mây
Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ
Những cánh chim từ xa vắng lạc bầy.

(Ô Cửa, Trần Hoài Thư)

Cũng là chú chim nho nhỏ của một thời, nhưng rõ ràng tôi và Đạo có hai mơ ước khác nhau. Thế hệ tôi giờ đây đa số đã bước qua số tuổi năm mươi, một thời trực tiếp tham dự vào cuộc chiến, và cũng đã trực tiếp gánh chịu những hậu quả của phân ly, thù hận, đổ vở và cả một sự phá sản của tâm linh.

Riêng thế hệ của nhà thơ Trần Trung Đạo thì khác. Trẻ. Anh rất trẻ. Lửa vẫn cháy ngùn ngụt. Lửa nhân ái:

Chào chị gánh hàng rong qua trước ngõ
Cho tôi làm một chút gió heo mây
Để thổi nhẹ lên vai gầy cực khổ
Đời cần lao nước mắt đã đong đầy.

Anh xin được làm một chút gió heo mây. Gió sẽ lau phần nào cần lao nước mắt. Nhà thơ đã nhìn rõ trách nhiệm của mình. Anh là nhà trí thức trẻ. Và cái trí thức ấy, không phải là những hô hào không tưởng, những mộng ấp núi sông, những đạp thành xẻ lủy, mà trái lại, chính là nỗi yêu thương. Nhà thơ đã nhìn thấy một sân trường mất đi con chim cũ, và bây giờ là tấm vai gầy của chị gánh hàng rong. Thi ca ở đây là thi ca phục vụ con người, là thoa dịu giọt lệ u uất, câm nín tủi nhục của con người, là hương lúa trổ mầm yêu thương, là bụi cỏ quê hương không bao giờ mất trong tim người xa xứ:

Chào bác nông phu ra đồng tát nước
Cho tôi làm bụi cỏ mọc ven đê
Để mỗi sáng thở mùi hương lúa chín
Lỡ mai xa tôi nhớ lối quay về.

Phải, bụi cỏ nào của đời ta. Nó quá tầm thường giữa muôn hoa ngàn tía, giữa trời xanh mây trắng thu đông nảo nùng. Nó quả mộc mạc, khiêm nhường, nhưng nó đã từng là một nơi ẩn dấu, và tích lũy quê hương. Nó sẽ nhắc nhở và cũng còn là dấu tích để người xa hương trở lại cội nguồn. Nhà thơ quá tha thiết với núi sông, từ bất cứ vật gì cũng được nhà thơ đặt vào một niềm trìu mến. Cả máu và lệ. Cả nhịp thở. Cả ước mơ.

Chào anh công nhân dệt từng tấm vải
Cho tôi làm con thoi nhỏ trên tay
Để tôi nối hai bờ sông Bến Hải
Nối lòng người vời vợi cách xa nhau

Và:

Chào chú bé mục đông nghêu ngao hát
Cho tôi làm tiếng sáo thổi vi vu
Để được sống thời hồn nhiên đã mất
Của đời tôi trong tuổi ấu thơ buồn

Viên sỏi, gió heo mây, con thoi nhỏ, tiếng sáo…Những ước mơ không phải cho riêng cá nhân nhà thơ, vơi đi nỗi khổ lụy trong kiếp đời xa hương mà chúng ta hằng đọc hầu hết các bài thơ xa xứ, mà trái lại những thứ ấy, nhà thơ đã dùng nó để xoa dịu nỗi đau khổ của đồng bào anh, của dân tộc anh. Từ đoạn đầu, anh mơ trở về đứng trên sân trường, nghe lại tiếng chim nhỏ hót, rồi tiếp đến là những nỗi ước ao chập chùng. Về sự hồn nhiên của tuổi học trò. Về một đời cần lao d­ thở. Về cánh đồng hương lúa chín. Về sự cảm thông thay vì nỗi cách ly của con người, về tuổi thơ. Và cuối cùng nhà thơ choàng tỉnh dậy, nhìn sự thật, dứt khoát, gọi lớn như đoạn cuối cùng của bài Giấc Mơ Nhỏ Của Tôi:

Ôi quê hương, bao giờ tôi trở lại
Đi giữa ngày không sợ bóng đêm đen
Trong giấc ngủ không xích xiềng réo gọi
Câu thơ tình chỉ viết để yêu em

Viết về một bài thơ tiêu biểu của Trần Trung Đạo quả thật khó. Bởi vì mỗi bài thơ của anh đều có những cảm xúc, tiêu biểu riêng. Từ những câu hỏi về nỗi buồn chiến thắng rưng rức tâm tư người đọc: Anh bước đi giữa trời đất Bắc. Hà Nội mưa phùn lạnh kẻ xương. Chiếc nạng gỗ khua từng tiếng nấc. Gõ nhịp thương đau xuống mặt đường” đến cuộc chiến tiếp tục sau 1975: Em đừng hỏi quê hương ta có đẹp, khi hận thù còn nhuộm đỏ giang san. Ai mới đạp trái mìn chưa nỗ kịp. Bao nhiêu năm cuộc chiến vẫn chưa tàn” hay những thao thức của một đứa con xa hương, mà dường như cả con tim nhà thơ, luôn luôn mang theo. Đó là món nợ phải trả:

Tôi vẫn nợ em một lời xin lỗi
Nợ quê hương một chỗ đất chôn nhau
Nợ cha mẹ những nhọc nhằn khuya sớm
Tôi nợ tôi mộng ước thuở ban đầu.

(Tôi Vẫn Nợ Em Một Lời Xin Lỗi)

Tôi không dám bình thơ. Tôi chỉ xin phép được viết những rung cảm chủ quan của tôi mà tôi yêu và chia xẻ cùng mọi người. Tôi được biết nhà thơ đã xuất bản (1000 tập), và được nghe một vài người bạn nói về hiện tượng Trần Trung Đạo. Chỉ trong vài ngày rao tin trên mạng lưới Internet, đã có 300 cuốn được bán. Và tập thơ thứ hai sắp xuất bản, Thao Thức, tôi được biết số lượng định in lên sẽ đến 2 ngàn tập. Trên Web, anh em trí thức trẻ đã ngưỡng mộ anh, và đã dành cho anh một chỗ đứng bên cạnh những tác giả: Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính, Nguyễn Tất Nhiên. Quí vị nào cần kiểm chứng xin lên Internet va vào Web, homepages mục thơ văn Việt Nam. Điều nầy là một bằng chứng về thơ quê hương, chuyên chở tình nhân ái, thương yêu sẽ tồn tại mãi mãi. Và chúng ta có thể tin tưởng mãnh liệt là hàng ngũ trí thức trẻ cùng thế hệ với nhà thơ, vẫn còn lửa, nhiệt huyết và con tim của họ vẫn còn nồng nàn một nơi mà nhà thơ đã ca ngợi, khắc khoải, thiết tha:Quê hương.

Trần Hoài Thư

BÂNG KHUÂNG MÙA RỤNG

phamngoclu

Gói bằng màu đỏ lá phong
Gởi về tôi một sắc lòng còn tươi
Vô tình gói cả Mùa Rơi
Mang mang phong vị phương trời tri âm

Bồi hồi khói quyện đan tâm
Có ai vừa thả hương trầm vào thơ
Mà thao thức nhúm tàn tro
Mà nghe mực nghẹn bút khô thở dài

Mơ màng đang chạm tay ai
Bâng khuâng Mùa Rụng nhặt vài lá phong
Gói giùm tôi một nỗi lòng
Thả vào mây trắng bềnh bồng chiều thu…

Phạm Ngọc Lư

DẤU PHAI

tranvannghia

Cơn mưa chiều hối hả
Góc đời lạnh hai vai
Mênh mông lòng phố xá
Dòng sông xưa u hoài

Gió về đâu ngăn ngắt
Đợi vàng lá mùa phai
Đọng đầy trên đuôi mắt
Bao giọt ngắn giọt dài

Xa mù chân ngựa chạy
Đồi hong vạt nắng buồn
Có bóng thời mười bảy
Thả tình xanh cỏ non

Níu tay mơ tìm lại
Con đường tím hoa mua
Nghiêng màu mây thuở ấy
Chở về thắm áo xưa

Ngoài hiên ngồi độc ẩm
Nhặt từng tiếng guốc xa
Đêm giật mình ngơ ngẩn
Chờ ai gõ cửa nhà

TRẦN VĂN NGHĨA

LY

phuonguy

Như là màu nước ao hồ trong những đêm thanh
giấc ngủ đến và cuộn tròn
con tuần lộc non trong mù mù tuyết trắng
cô gái với đôi cánh bằng xương ở trên lưng
cuốn theo trốt lốc

Mùa hè đã đi qua trên những đôi mắt trong veo chứa hình hài hoa xa cúc
mùa hè đi qua những hoa hồng trong thung lũng
nơi những đồi cỏ xanh tươi chỉ còn trong trí nhớ cũ kỹ
hạt mưa trong veo lạnh giá trước hiên nhà
nơi gió giật khan một ngày áp thấp dần qua

Giấc ngủ đến trong tiếng phong linh rơi bên hiên đá trắng
nơi cái chết của con ve sầu nhập xác gọi mùa
giấc ngủ bảo lưu cho những cơn mơ xa xưa
chập chùng ẩn hiện

như là sự hiến mình tàn dư của điếu thuốc được đốt lên đêm vắng
giấc ngủ vằn vèo tản mác rồi ám trên bàn tay
màu buồn lộng lẫy như ngày mưa em đi không lời từ giã
tôi cuộn tròn mình giữa những mây bay…

HOÀNG PHƯƠNG UY

GIẤC MƠ

nguyenleuyen

Ba bức thư điện tử cách nhau ba ngày, cùng một nội dung là những lời thăm hỏi vu vơ không khiến ông phải bận tâm. Nhưng đến thư thứ tư cách thư trước khoảng một tuần thì nội dung giống chiếc đuôi con thằn lằn ngoay ngoáy trên vách tường rình mồi. Cái đuôi ấy lúc cong lên lúc lắc qua lắc lại, vừa xa mà cũng vừa như tóm được con mồi trong chiếc lưỡi dài: “Chào ông, ông có nghĩ rằng thời gian sẽ đẩy con người tới chốn âm u để quên đi tất cả. Trí nhớ sẽ không còn nhạy bén như hồi trẻ. Đi đứng khó khăn. Một vài thứ bệnh xuất hiện… Hẳn nhiên người ta sẽ phải loay hoay với những thứ đó, bận rộn suốt ngày với nó để không còn thời gian mà nhớ…?”.

Ông phì cười. Có lẽ cô nàng nào đó đã nhầm ông với một người nào khác. Rõ ràng cái địa chỉ này ông chưa hề quen, chưa một lần tiếp xúc qua bàn phím, nói chi đến chuyện nhớ quên? Nhưng mười ngày sau, trong inbox lại xuất hiện cái địa chỉ xa lạ kia. Cố nén bực bội nhưng cũng vừa tò mò, ông mở ra: “In life, there are moments when you miss someone so much that you feel like you could only fulfill your dreams by holding that person tight in your arms. Ngộ chưa? Nhớ đến ai, tương tư ai đến nỗi phải ôm chặt người ta trong giấc mơ? Một mối tình tan vỡ chăng? Hay là hoài nhớ lại những ngày xuân xanh? Ông muốn gõ vài chữ trả lời rằng, xin lỗi cô (bà) đã nhầm địa chỉ, nhưng ông không đụng vào ô reply, nghĩ bụng một cô bé theo kiểu nhân vật trong các feuilletons trước kia thì cứ để mặc cho cô chìm đắm trong những giấc mơ đẹp, không mất gì! Ông bỏ qua, mở các thư khác và trả lời, và không còn nhớ gì đến những giấc mơ của cô hay bà nào đó. Những giấc mơ bay mờ dần, tan dần trước màn hình kín đặc những con chữ màu đen.

Ông lại chúi mũi vào công việc. Bàn phím lại lóc cóc vang lên những âm thanh quen thuộc. Viết được nửa trang thứ ba có chuông điện thoại reo. Lại ngưng công việc, lại phải nhấc ống nghe áp lên lỗ tai:

-Tôi là Bằng, xin nghe.

-Thưa ông tôi muốn nói chuyện với ông một chút, có phiền lắm không ạ?

-Vâng, chị cứ nói, tôi nghe.

-Tôi là Mai, Ngọc Mai, ông còn nhớ không ạ?

-Mai thì rất nhiều, nhưng Ngọc Mai thì cũng có vài người thân sơ. Chị có thể nói rõ hơn chút được không? – Ông lúng túng với trí nhớ bắt đầu lãng đãng của mình.

Đầu dây bên kia ngập ngừng một lát rồi nhỏ nhẹ vang lên. Chất giọng mềm mượt tựa thảm cỏ tỉa tót cẩn thận trước sân vườn nhà ông.

-Đáng lẽ ra không nên làm ông bận rộn vì một việc không đâu, nhưng hôm qua, trong bữa họp mặt đồng hương, có người nhắc đến tên thầy làm em nhớ những ngày còn ở trường Lê Ngọc Hân.

Ông giật mình. Trong số các nữ giáo sư cùng trường thời xưa, hình như chỉ có Thanh Mai và Lê Thị Mai một dạy pháp văn, một dạy triết. Ngoài ra không còn Mai nào khác. Ông cố lục tung mọi ngõ ngách trong đầu. Một loạt các đồng nghiệp cũ hiện ra, nhưng cái tên Ngọc Mai thì chịu. Chẳng lẽ ông bắt đầu bước vào vũng còm cõi đến vậy sao. Hay cô ta dạy ở trường tư thục nào đó cùng thành phố. Mà tư thục thì có đến năm sáu trường, ông có quen ai đâu.

Ông nói với giọng không mấy tin tưởng:

-Tôi dạy ở Lê Ngọc Hân chỉ có hai năm, sau đó chuyển đi trường khác. Không rõ cô có dạy cùng thời gian với tôi ở đó không?

-Không thầy ơi. Em là học trò thầy lớp 11B3, phòng học ở cuối dãy hành lang lầu 1, xế hành lang có cây bằng lăng vượt cao hơn balcon. Giờ ra chơi tụi em hay vói tay níu hái những búp hoa tím, có lần bị thầy bắt gặp và nhắc nhở một câu nhớ đời: “Hoa thì đẹp đấy. Nhưng các em thì còn đẹp hơn gấp ngàn lần. Từ balcon tới mặt đất có đến 4 mét. Phía dưới không êm ái như tấm nệm trong phòng ngủ có máy điều hoà đâu”. Thầy chỉ nói có vậy rồi bỏ đi không thèm ngoái nhìn lại coi coi lũ học trò có thôi đi trò nghịch ngợm nguy hiểm kia không hay vẫn tiếp tục vói tay ra tận những cành xa. Hôm qua chị bạn nhắc lại, chị Lan làm thơ hay nhất lớp đấy, chắc thầy nhớ?

-Vâng, tôi nhớ cô Lan, tôi nhớ những năm Lan và các bạn say mê làm tờ đặc san cuối năm cho trường.

-Dạ, giờ chị Lan không thành nhà thơ mà là một doanh nhân tầm cỡ trong cộng đồng ở nơi đất khách quê người này.

-Tôi cầu mong tất cả mọi người đều thành đạt. Niềm hạnh phúc riêng tư của mỗi người là nắm giữ được những mơ ước có thật trong tay.

-Thầy có khoẻ không và hiện đang làm gì?

-Cảm ơn, có lúc khoẻ lúc không bởi tuổi già cứ rập rình ngoài khung cửa, giống như khạp nước bị nứt. Bữa nay nước rỉ ra một chút, mai một chút cho tới khi cạn đáy coi như chấm dứt mọi món nợ trần gian.

-Thầy luôn có lối ví von gây sự chú ý. Tụi em nhớ thầy chính vì điểm này. Thầy luôn có sự khác biệt đối với những thầy khác, khó nói, khó tả chính xác. Xin lỗi thầy, giờ em có hẹn, em sẽ gặp lại thầy. Chúc thầy…

Ông gác máy, ngã người ra thành ghế, nhắm mắt làm một cuộc thanh lọc và tái hiện lần hồi, bắt đầu từ buổi sáng cầm sự vụ lệnh đến trình diện với bà hiệu trưởng. Giờ phút đầu tiên cầm viên phấn và đám nữ sinh xì xào bên dưới… Một khối trắng bềnh bồng trôi trong phòng học, không phải là những con thiên nga giang đôi cánh trên trời cao mà là những chùm bông gòn kết dính, rối nùi bay lả tả trong không gian hẹp đến khó chịu. Sự khó chịu kia có lần ông buộc miệng với bà hiệu trưởng: “Tôi không thể nào hiểu nổi ai đó ở bộ Giáo dục lại đưa ra ý tưởng lập một trường trung học toàn nữ. Sự mất thăng bằng về giới tính trong nhà trường dễ dẫn đến những hậu quả tai hại về học tập, sinh hoạt về vấn đề tâm sinh lý…”. Câu tổng kết kinh nghiệm mới mẻ kia được phát đi từ miệng anh thầy giáo non choẹt mặt mũi, non choẹt tuổi nghề, được đón nhận bằng những ánh mắt trái ngược nhau và đều có ngầm ý cho rằng ông đang nói trên vị trí của anh đồ gàn của nhiều thế kỷ trước còn sót lại. Nhưng với ông, lúc đó hoàn toàn chính xác đến từng ly mét. Một thầy giáo mới ra trường, tuổi tác so với học trò chỉ cách nhau năm ba tuổi, có thể gọi là cùng thế hệ đã dẫn tới nhiều hệ luỵ rất trẻ con.

Chất trẻ con đầu tiên ông đụng mặt là những câu tấn công tình cảm vu vơ trên bảng, đánh lừa người khác bằng cách viết tay trái. Thỉnh thoảng lại nhìn thấy một cánh hoa dại bứt vội đâu đó trên đường tới trường đặt trên bàn kèm theo mảnh giấy “gửi đến thầy với trái tim tan nát”, một tờ giấy pelure màu hồng sực nức nước hoa và những vệt nước nhoè trên mặt giấy mà ông đoán chắc là những giọt nước từ chiếc vòi ngoài sân cỏ. Nhưng khủng khiếp hơn cả là khi ông giảng về phong trào thơ mới ở Việt Nam. Hàng chục cánh tay giơ lên, nhao nhao tranh luận, đặt những câu hỏi phản biện như đùa như thật:

-Thưa thầy, tại sao yêu là chết trong lòng một ít? Vô lý, không yêu nhau thì thôi chớ chết chi cho uổng? Sao ông Phan Khôi tự dưng đặt tên bài thơ là tình già, tình già khác tình trẻ chỗ nào, thầy? Lại còn liếc nhau con mắt còn có đuôi, bộ như đuôi chim đuôi gà hay kiểu tóc đuôi ngựa tụi con gái thời nay? Ông Nguyễn Bính so sánh khập khiễng: Nắng mưa là bệnh của trời/tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Dạ, cứ cho là bệnh đi, nhưng so sánh với mưa nắng thì nhà thơ dở ẹt… Dạ, thưa… có bao giờ thầy tương tư, thầy chê…ết… chưa ạ? Tiếng cười ồ đồng loạt nổi lên. Tôi lúng túng thật sự. Lúc đó tôi không còn là ông thầy nghiêm trang nữa, mà quay lại đúng vị trí anh thanh niên vừa tròn 23 tuổi mụ, đang bị bao vây bởi một bầy thiên nga lông trắng, nhao nhao bên dưới. Rất khó khăn tôi mới lập lại được trật tự. Và, cũng chừng ấy khó khăn, tôi bình tĩnh giải thích, cắt nghĩa rành rẽ về cấu trúc ngôn ngữ thơ ca, về tứ trong một bài thơ… đến khi chấm dứt giờ học, thay vì những tiếng cười ồ trước đây là những tiếng vỗ tay bôm bốp, kèm theo: “Ôi, thật tuyệt vời, thầy đáng yêu quá… Chúng em yêu thầy…”.

Chuông đổ, tôi thu gom tài liệu trên bàn, vụt ra cửa như một chiến binh bị địch truy đuổi phía sau. Những tiếng la í ới, tiếng đập bàn như thể những phát đạn bắn với theo.

Bầy thiên nga lông trắng ngày xưa với giấc mơ lỏng lẻo từ trời cao rớt xuống, cách một đại dương mênh mông, nếu dừng lại ở đấy thôi cũng đủ làm ông nhồn nhột, huống chi ba ngày sau cuộc nói chuyện bất ngờ trên điện thoại, lại có một bức thư khác ở một địa chỉ e-mail khác, viết rằng: Thầy có biết thầy là người vô tình không? Con Mai yêu thầy đến phát cuồng. Nó yêu thầy ngay từ ngày đầu thầy nhận lớp. Đã chồng con đề huề, nhưng mỗi khi nhắc trường xưa bạn cũ nó lại khóc ròng nói nhớ thầy. Nếu hồi đó mà thầy biết sự tình, giờ này chắc tròn trịa. Thầy có tưởng tượng ra nó chưa? Con Mai đẹp nhất trường, kiêu kỳ nhất, đa cảm nhất… và yêu thầy nhất… Ông tắt cả hộp thư, shut down máy. Đầu óc váng vất, mệt muốn đứt hơi với mớ chữ vừa đọc.

Ông xô ghế, rót cốc nước lọc, uống từng hớp nhỏ. Thần kinh dịu xuống đôi chút. Lúc sau ông thừ người ngồi nhìn chiếc laptop mỏng dính im lìm trên bàn: lẻ loi, cô độc bởi ông không đụng đến nó; im lìm như người có lỗi bị xua đuổi. Trong đầu bổng dưng lóe lên một ý nghĩ không mấy bình thường: nếu như ông biết sự thể kia, nếu như ông chấp nhận mối tình của cô bé học trò, nếu như hai người lấy nhau… thì giờ này ra sao nhỉ?

Những chữ “nếu” kéo dài và dính cục lại, bồng bềnh như cánh những con chim thiên ngay lông trắng muốt trên trời cao vẫy những giấc mơ đẹp bay theo. Ông nhắm mắt lại và ngỡ như mình đang bay đuổi theo những cánh thiên nga trắng muốt kia.

NGUYỄN LỆ UYÊN

VỀ..

reu

tưởng rằng xanh mãi còn xanh
bụi thời gian nhấn tròng trành xô ta

về thôi
sương rụng ướt da
lòng chiều ướt chuyến xe qua nhọc nhằn..

về thôi,
bóng ngả tối sầm
cõi âm nao nức
cõi trần khuyết hao..

về thôi,
sương rụng ướt đầu
che tay nhé kẻo thấm sâu vào hồn..

về chưa?
để biết mình còn..
tìm nhau chớp bể mưa nguồn tìm nhau…

RÊU

VÀI NÉT VỀ BA BÀ NGOẠI CỦA HOA KỲ

ductriqueanh

Trong lịch sử Hoa Kỳ tính cho đến nay chỉ có vỏn vẻn ba “bà ngoại”, trong khi số “ông ngoại” thì rất nhiều. “Ông bà ngoại” ở đây chính là vai trò Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Chức vụ Ngoại Trưởng Hoa Kỳ do tổng thống bổ nhiệm và được Thượng Viện Hoa Kỳ chuẩn thuận, là một thành viên của Bộ Nội Các và Hội Đồng Nội An. Trong số 15 thành viên của Bộ Nội Các (gồm các Bộ Trưởng), thì ngoại trưởng được xếp cao nhất, và trong ngành hành pháp của Hoa Kỳ, thì vai trò ngoại trưởng đứng thứ ba chỉ sau tổng thống và phó tổng thống. Về thứ tự kế vị tổng thống trong trường hợp tổng thống qua đời, thoái vị, hoặc bị truất phế, vai trò ngoại trưởng đứng hàng thứ tư, sau phó tổng thống (cũng là chủ tịch Thượng Viện), chủ tịch Hạ Viện, và phó chủ tịch Thượng Viện.
Bên cạnh trách nhiệm đứng đầu Bộ Ngoại Giao và các công tác đối ngoại, ngoại trưởng đóng vai trò cố vấn tổng thống trong các vấn đề liên quan đến chính sách ngoại giao, bổ nhiệm các đại sứ, và quyết định bình thường hóa hay cắt đứt quan hệ ngoại giao với một quốc gia khác. Ngoại trưởng là nhân vật then chốt trong các cuộc thương lượng và ký kết các hiệp định quốc tế, có trách nhiệm tổng quát nhận định tình hình ngoại giao của nhiều vùng trên thế giới, để từ đó giúp tổng thống có đường lối ngoại giao thích hợp mang lại quyền lợi cho quốc gia theo từng thời điểm. Từ đó cho thấy, chính sách ngoại giao của tổng thống thường được thể hiện qua các cuộc tiếp xúc hay họp mặt giữa ngoại trưởng và các nguyên thủ của các quốc gia trên thế giới.
Ngoại trưởng đầu tiên của Hoa Kỳ vào năm 1789 là John Jay và John Kerry là vị ngoại trưởng thứ 68 của Hoa Kỳ, nhậm chức vào năm 2013.
Trong suốt hơn 200 năm lịch sử của vai trò này, chỉ có ba vị nữ lưu nhưng đã trở nên xuất sắc trong vai trò làm nổi bật chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trên chính trường thế giới. Ba vị đó là Madeleine Albright (1997-2001), Condoleezza Rice (2005-2009) và Hillary Clinton (2009-2013).

madeleinea2
Ngoại trưởng Madeleine Albright sinh năm 1937 được tổng thống Bill Clinton trong nhiệm kỳ thứ hai bổ nhiệm làm ngoại trưởng thứ 64, trở thành nữ ngoại trưởng đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà sinh ra tại Tiệp Khắc và đến Mỹ lúc còn niên thiếu. Bà có bằng tiến sĩ về bang giao quốc tế và hiện đang là giáo sư giảng dạy về ngành này tại đại học George Town. Vì không phải sinh ra tại Mỹ nên bà đã không được nằm trong danh sách những người kế vị tổng thống lúc còn giữ chức vụ ngoại trưởng theo đúng như truyền thống. Bà thông thạo năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Tiệp và Ba Lan. Trước khi trở thành ngoại trưởng, bà từng giữ vai trò đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc. Tại đây, bà trở nên nổi tiếng với tánh thẳng thắng khi mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ là ông Boutros-Ghali là đã không có biện pháp ngăn chặn cuộc thảm sát tại Rwanda.
Trong đường lối ngoại giao, bà đã giúp tổng thống Clinton tạo ảnh hưởng tại Bosnia và Herzegovina, Kosovo, Croatia cũng như tại vùng Trung Đông. Cả bà và tổng thống Clinton đã cương quyết cho biết là Hoa Kỳ chỉ ngưng ý định tấn công Sadame Hussein trong trường hợp Iraq để cho Liên Hiệp Quốc thanh tra vũ khí. Ngay cả những ngày cuối cùng giữ chức ngoại trưởng, bà vẫn cương quyết cho Liên Hiệp Quốc biết Mỹ sẽ tiếp tục áp lực Iraq về việc loại bỏ các loại vũ khí hạt nhân. Sau khi rời vai trò ngoại trưởng, bà Albright tiếp tục có mặt trong các lãnh vực liên quan đến ngoại giao và kinh tế. Bà hiện nằm trong ban lãnh đạo của Hội Đồng Đối Ngoại (Council on Foreign Relations), chủ tịch của National Democratic Institute for International Affairs cũng như chủ tịch của Truman Scholarship Foundation.
Nhìn chung, ngoại trưởng Madeleine Albright đã giúp cho tổng thống Bill Clinton thể hiện rõ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ vào thời bấy giờ là sẵn sàng dùng quân sự can thiệp vào cuộc chiến Kosovo để chấm dứt sự mâu thuẫn giữa chính quyền cộng hòa Yugoslavia và nhóm quân đội giải phóng Kosovo. Tuy nhiên, với cá tính mạnh mẽ và lời nói thẳng thắng, bà thường bị chỉ trích là có những lời phát biểu không mấy thích hợp trước công chúng.

220px-Condoleezza_Rice_cropped
Ngoại trưởng Condoleezza Rice sinh năm 1954 được tổng thống George W. Bush trong nhiệm kỳ thứ hai bổ nhiệm làm ngoại trưởng thứ 66, trở thành nữ ngoại trưởng gốc Phi Châu đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà có bằng tiến sĩ ngành bang giao quốc tế và là giáo sư giảng dạy chính trị tại đại học Stanford. Với tài học uyên bác và đầu óc nhạy bén về tình hình chính trị thế giới, bà rất được lòng tin của tổng thống. Cũng chính nhờ bà mà chính sách ngoại giao của tổng thống Bush được nổi bật trong sứ mệnh thổi làn gió dân chủ vào vùng Trung Đông. Trước khi trở thành ngoại trưởng, bà đã giữ chức vụ cố vấn an ninh quốc gia cho tổng thống Bush ở nhiệm kỳ đầu.
Về sự nghiệp chính trị, bà từng ghi danh đảng Dân Chủ mãi cho đến năm 1982, bà quyết định đổi sang đảng Cộng Hòa, một phần vì bất đồng với chính sách ngoại giao của tổng thống Jimmy Carter, một phần vì ảnh hưởng của thân phụ bà là người thuộc đảng Cộng Hòa. Bà từng làm phụ tá cho ngoại trưởng George Shultz thời tổng thống Ronald Reagan và sau đó đã đóng vai trò quan trọng là cố vấn đắc lực cho tổng thống George H. Bush về vấn đề Nga Sô, đặc biệt là trong việc ngoại giao với hai ông Mikhail Gorbachev và Boris Yeltsin.
Biến cố 911 đã khiến cho ngoại trưởng Rice và tổng thống Bush đi đến quyết định tấn công Iraq. Và cũng chính vì biến cố này mà chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong thời điểm của tổng thống George W. Bush qua vai trò của ngoại trưởng Rice được biết đến là mạnh mẽ chống khủng bố và cải thiện tình trạng dân chủ cho các quốc gia đang bị kềm cặp bởi chính thể độc tài, điển hình là Iraq, Iran, Cuba, Zimbabwe, Miến Điện và Belarus. Tuy nhiên, cuộc chiến Iraq kéo dài cộng thêm việc không tìm thấy bằng chứng của vũ khí hạt nhân tại Iraq đã khiến cho uy tín của ngoại trưởng Rice có phần bị giảm sút.

Hillary_Clinton_official_Secretary_of_State_portrait_crop
Ngoại trưởng Hillary Clinton sinh năm 1947 được tổng thống đương nhiệm Barrack Obama bổ nhiệm để trở thành ngoại trưởng thứ 67. Bà là đệ nhất phu nhân đầu tiên đắc cử thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, ứng cử trong đảng cho chức vụ tổng thống (đối đầu với thượng nghị sĩ Barrack Obama), cũng như giữ chức vụ ngoại trưởng. Ngoại trưởng Clinton là một luật sư tốt nghiệp tại đại học Yale. Bà chấp nhận sự bổ nhiệm của tổng thống Obama vì tin rằng vai trò ngoại trưởng sẽ mang lại cho bà những thử thách khó khăn nhưng cũng rất thú vị. Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu nhậm chức, bà đã có tham vọng thay đổi chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Bà chủ trương gia tăng sự có mặt ngoại giao và quân sự của Hoa Kỳ tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là tại vùng Trung Đông, và chú trọng đến việc phát triển kinh tế toàn cầu. Năm 2009, ngoại trưởng Clinton cải tổ Bộ Ngoại Giao với Quadrennial Diplomacy and Development Review là một nghiên cứu mỗi bốn năm nhằm xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại. Ngoài ra, chính sách ngoại giao của ngoại trưởng Clinton còn được biết đến qua việc giúp thế giới giảm đói nghèo, cải thiện môi trường sống và ủng hộ nữ quyền. Bà cũng cổ động cho việc tự do sử dụng mạng Internet và khá mạnh mẽ trong việc lên tiếng bảo vệ nhân quyền đối với các quốc gia vi phạm nhân quyền.
Cuộc tấn công vào ngày 11 tháng 9 năm 2012 nhắm vào tòa lãnh sự của Hoa Kỳ tại Benghazi, Libya, làm thiệt mạng đại sứ Christopher Steven và ba nhân viên Hoa Kỳ đã khiến ngoại trưởng Clinton phải chịu trách nhiệm trong cuộc điều trần trước quốc hội vào ngày 23 tháng Giêng. Bà bị chỉ trích là bộ ngoại giao đã lơ là không tăng cường an ninh cho lãnh sự quán. Tuy nhiên nhìn chung, ngoại trưởng Clinton thường được xem là người thích tham chính, có phần lạm quyền, nhưng lại rất được công chúng nể phục nhờ tính kiên cường và tinh thần trách nhiệm.
Ba nữ ngoại trưởng của Hoa Kỳ trong thời gian chưa đầy hai thập kỷ đã giúp ba vị tổng thống vượt qua biết bao sóng gió trên chính trường bang giao quốc tế. Các bà cũng là những vị ngoại trưởng xông xáo và bận rộn nhất từ trước đến nay. Tính đến năm 2014 khi ngoại trưởng John Kerry còn đang tại chức thì bà Hillary Clinton đứng đầu về số quốc gia bà đã thăm viếng trong vai trò ngoại trưởng với 112 nước, đứng thứ hai là ngoại trưởng Madeleine Albright với 96 nước, trong khi ngoại trưởng Condoleezza Rice đứng đầu về số lượng đường bay nhiều nhất với hơn 1 triệu dặm đường bay, đứng thứ hai là ngoại trưởng Clinton với gần 970,000 dặm. Điểm mà cả ba bà ngoại của Hoa Kỳ đều giống nhau chính là: sắc bén, cương quyết và sẵn sàng đối đầu với mọi thử thách

Tạ Đức Trí