BÃO ÐẦU MÙA

quanduong

Gió và mưa vật lộn trên mái nhà …
Những miếng ngói ghì vào nhau chống đở
Răng rắc tiếng cành cây gió bẻ
Nghe điếng hồn như lúc em xa tôi

Gió gồng mình quất mạnh xuống làn roi
Từng chiếc lá bám lưng nhau tơi tả
Cơn bão đầu mùa đang ghé ngang thành phố
Thả buổi chiều rơi trúng hồn .Rưng rưng
.
Ký ức trở trời nổi chứng lên cơn
run cầm cập như đang sốt rét
Bão ngoài trời nhúng không gian ướt nhẹp
Bão trong lòng như xe đứt phanh

kỷ niệm tuột xuống đời khản giọng . Thất thanh
Từ đáy họng gọi tên em vĩnh cửu
Nơi cư trú tờ tình yêu đóng dấu
Có ký tên hai đứa hẳn hòi

Em bây giờ trôi dạt về đâu
Tháng chín nơi này mưa dắt lá bay theo…

Quan Dương

kể từ…

npphan

kể từ lạc giữa hoài mong
giấc mơ phù ảo đã không trở về
đợi hoài, đợi mãi… cơn mê
bàn tay nắm giữ câu thề vô ngôn

kể từ lặng ngắt hoàng hôn
chút lòng cố quận dậy hồn men xưa
nghe chừng có tiếng đò đưa
dấu chân, bờ cỏ cũng chưa vội tàn

kể từ độ bóng mưa tan
có ta dưới bóng hoàng lan ngậm ngùi
chỉ là một thoáng đầy vơi
hình như có tiếng gọi mời vô ưu

NP phan

NHÀ TỪ ĐƯỜNG

nguyenxuanhoang

Tôi trở về Nhà Từ Đường sau 15 năm đi xa. Thật ra con số 15 năm là không đúng. Nó chỉ đúng tính theo ngày tôi bỏ nước ra đi, chứ không đúng tính từ ngày tôi trở lại Nhà. Hồi còn ở trong nước chẳng mấy khi tôi lên ngôi Nhà Chung này. Tôi thấy mình lúc nào cũng bị cái hiện tại lôi cuốn theo như một hạt bụi giữa cơn lốc. Học hành, thi cử, bạn bè, nghề nghiệp, chiến tranh, tình yêu…. Hết Đà Lạt rồi Sài Gòn. Giữa hai thành phố ấy còn có Huế, Cần Thơ, Mỹ Tho, Rạch Giá, U Minh, Cái Sắn…Trong cái mớ chằng chịt về con người và địa danh ấy, tôi thấy mình như một người bị quấn cuốn giữa những chiếc vòi của con bạch tuộc.

A, anh hỏi tôi chuyện chiến tranh hả? Chiến tranh? Ừ, thời của tôi ai mà chẳng bị chiến tranh chi phối. Tuổi tôi chỉ là tuổi bản lề, thời của ông anh tôi là một cuộc chiến, và thời kề cận tôi là tiếp tục một cuộc chiến sắp tàn. Tuổi trẻ tôi cũng thở cái không khí sặc sụa mùi tử khí. May sao, thế hệ kế đó vừa mặc bộ treillis vào người thì chiến tranh cũng vừa kịp kết thúc. Anh nói anh không biết chiến tranh hả? Năm nay anh bao nhiêu rồi? Mới hai mươi bảy à? Phải. Anh nói anh mới hai mươi bảy, có nghĩa là anh quá trẻ để biết cuộc chiến Việt Nam.

Anh nói lúc mẹ bế anh xuống tàu ở Bến Chương Dương trong một ngày Tháng Tư 1975, anh chưa đầy tháng tuổi phải không? Ừ. Tuổi ấy thì biết gì? Nhưng anh có biết là anh đã chào đời trong những giây phút của một cuộc chiến sắp tàn – chứ vẫn chưa tàn không? Anh có biết là mẹ anh bế anh chạy trong khi ven đô súng còn nổ và cả thành phố Sài Gòn chìm trong cơn hỗn loạn không? Còn bây giờ? Trên cái đất nước tưởng là yên ổn này, hải đảo của hòa bình, thiên đàng của hoan lạc, có thật là chúng ta đang đứng bên ngoài cuộc chiến không? Sau cái vụ 911, nước Mỹ có thật sự bình yên không? Còn tình hình Trung Đông hiện nay, vùng đất ngày nào cũng khét lẹt thuốc súng, ngày nào cũng có khủng bố và người chết. Và Iraq? Và bán đảo Triều Tiên? Và trước đó không lâu là Afghanistan. Liệu nước Mỹ có tấn công Iraq không? Liệu nước Mỹ có còn bị khủng bố chơi những đòn nặng như vụ Tháp đôi ở New York nữa hay không? Và liệu rồi đây con cái của anh có phải ra trận không?

Chiến tranh là ngu dốt. Nhưng liệu khi người ta muốn hòa bình thì có hòa bình được không?

Có lẽ, không một người Việt Nam nào không có kinh nghiệm về chiến tranh. Sài Gòn hay Hà Nội có chiến tranh theo cách riêng của nó. Những cuộc xuống đường. Những trái hỏa châu chiếu sáng khu ngoại ô hằng đêm. Lựu đạn cay trên đường phố. Mìn nổ ở một quán ăn. Bom phá sập một cao ốc. Và Hà Nội những ngày hoảng hốt vì bom Mỹ. Những lo sợ của người dân trước cuộc chiến leo thang. Đường mòn Hồ Chí Minh. Đường Trường Sơn “ào ào lá đổ”… Đâu cần phải nhích chân ra khỏi vòng đai thành phố người ta mới biết được thế nào là khói lửa và súng đạn.

Mới năm tuổi, tôi đã biết thế nào là chiến tranh. Những người lính Nhật đã trói Cha tôi bắt ông đi đâu. Má tôi bồng em tôi đi tìm chồng. Anh tôi đã vào rừng đi kháng chiến. Tôi đi suốt từ căn nhà này đến căn nhà khác gõ cửa tìm mẹ và xin ăn. Đôi khi người ta cho ăn [đôi khi người ta đuổi đi] … Mỗi ngày tôi đi xa vào các làng quê. Tôi có khóc nhiều không lúc đó? Chiến tranh chỉ có chết chóc và đói khổ. Người ta đói khổ đã nhiều, người ta không muốn gánh thêm một miệng ăn và nổi khổ nào nữa, dù rất nhỏ. Tôi đi mãi, từ nhà này sang nhà khác, từ làng này sang làng khác.

Trong một cuộc hành quân của lính Pháp, một người lính già Lê Dương nhặt được tôi ngoài ruộng mang về nuôi. Đó là thời gian tôi có những phút giây gần với súng đạn và cận kề chết chóc hơn, bởi vì cha nuôi tôi – mà tôi gọi là papa Chopin – là một sĩ quan phụ trách vũ khí và cả bataillon luôn luôn di động. Cho đến ngày ông chết trong một trận phục kích, tôi lại bơ vơ. May sao, một người thông ngôn giúp tôi tìm lại được gia đình. Một cuộc trùng phùng đầy nước mắt. Má tôi ôm tôi khóc rấm rức. “Má tưởng không bao giờ gặp lại con.” Mái tóc bà có những sợi bạc. Hai gò má hóp. Hai đứa em gái tôi ngồi hai bên cũng khóc. Sao hồi đó tôi không khóc, tôi nhớ như vậy! Đôi mắt má tôi luôn nheo lại, như lúc nào cũng cười, nhưng là một nụ cười buồn bã, và cái dáng đi của má sao mà tất bật, vất vả. Quê má tôi xa hơn quê cha tôi nhiều. Đó là khoảng cách của hai thành phố. Hai ngọn đèo. Hai dân tộc.

Tại sao hai dân tộc? Dì tôi – bà chị của má tôi – như những người Hoa trong vùng cắt tóc bôm-bê – nói tiếng Hoa và ở trong ngôi nhà gạch rộng thuộc loại dư ăn thừa để trong cái thị trấn heo hút nghèo nàn. Anh Bảy, con dì tôi, cao lớn khỏe mạnh, tóc quăn, có một chiếc răng vàng, làm chủ một tiệm chạp phô, nói tiếng Việt bằng cái giọng lơ lớ. Thỉnh thoảng, tôi nghe anh nói tiếng Hoa với má tôi, thứ tiếng mà bà không bao giờ nói với các con một lần nào.

Tôi trở về gặp mẹ, nhưng không gặp Cha. Cha tôi ở đâu? Bà nói suốt mấy năm nay, ông đã đi tìm tôi và giờ đây, ông đang ở trong một căn chòi dưới chân Hòn Lớn, một ngọn núi khá cao, cách xa nhà cả một ngày đường. Anh tôi thời đó như những thanh niên cùng lứa tuổi đã vào chiến khu chống Pháp. Và mãi đến khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống cha tôi mới trở về. Anh tôi đi Thủ Đức. Nhiều năm sau tôi rời Nha Trang vào Sài Gòn học tiếp… Chiến tranh có lúc như lắng xuống, nhưng có lúc ồ ạt… Chiến tranh là không khí của thành phố, chiến trận là không khí của thôn quê. Bạn tôi, nhiều đứa hôm trước còn ngồi với tôi nói nói cười cười, tháng sau, tuần sau, hôm sau đã không còn thấy mặt nữa, không bao giờ trở về nữa.

Trở về Việt Nam sau 15 năm, tôi quyết định trở lại nhà Từ Đường. Tại sao à? Bởi vì giờ đây, mộ Cha tôi, và mộ Anh tôi đã dời về đó. Hai ngôi mộ song đôi, nằm giữa một vườn cây xanh lá. Trong một buổi sáng tháng Tám nắng vừa lên, tôi ngồi bên mộ Cha và Anh, nghe tiếng chim hót trong bụi cây, tưởng như thấy lại khuôn mặt khắc khổ của Cha, cái vẻ lặng lẽ lầm lì suốt ngày không nói một lời của ông. Và khi ông phải nói, tôi nghe rõ cái âm thanh sấm sét mang theo hơi rượu nồng nặc từ miệng ông phả ra trong cơn bùng nổ của một hỏa diệm sơn. Tôi cũng thấy lại anh tôi, người đàn ông to lớn, khỏe mạnh, cười to, ăn mạnh, nói lớn, lúc nào cũng giam chật trong bộ quần áo trận. Một người đàn ông khỏe mạnh và quyết liệt, nhưng cũng tình cảm và lãng mạn biết là chừng nào. Anh yêu những người lính của anh như anh yêu gia đình mình. Và anh yêu những người nghèo khổ khốn cùng như anh yêu chính bản thân anh. Tôi chưa thấy ai có một trái tim phóng khoáng và quảng đại như anh. Ba đứa em của anh, không một đứa nào có được một chút lòng quảng đại và tính lãng mạn của anh.

Mộ Anh nằm cạnh mộ Cha, dưới bóng mát những tàng cây chôm chôm. Đứa con trai lớn của anh từ trại tù cải tạo về, được nhà nước báo cho biết khu nghĩa trang trên lưng một ngọn đồi gần đèo Rù Rì phải giải tỏa, đã mang hài cốt ba cháu về chôn cạnh mộ ông nội trong vườn Nhà Từ Đường. Còn hài cốt má, vốn được chôn cất cạnh bên đứa con trai, sau cùng theo ý nguyện của bà phải đưa về quê ngoại để nằm bên cạnh những người chị em của bà. Khi sống Cha và Má tôi là hai người khắc khẩu, và lúc ra đi, mỗi người trở lại với nơi chốn riêng tư của mình.

Sau 15 năm trở lại ngôi Nhà Từ Đường, thăm lại mộ Cha và mộ Anh, tôi mới nhìn ra cái ngôi nhà đầy ánh nắng, lúc nào cũng ấm tiếng cười kia nay sao mà lạnh lẽo!

Chiến tranh đâu còn nữa. Nhưng cái gì làm cho ngôi nhà kia âm u, khu vườn cây ăn trái kia trở nên buồn bã?

Ngôi Nhà Từ Đường ấy, mặc dù vẫn còn cái sân tráng xi măng nằm dưới dàn cây thanh long, và vườn sau nhà là những cây mãng cầu Xiêm, cam và bưởi, tôi nhìn thấy nó đang xuống cấp. Cái vẻ lạnh lùng và ảm đạm của ngôi nhà quạnh hiu không còn chút sức sống như thân thể của một người già máu đã rút dần ra khỏi thân xác, chờ ngày chia tay…

Ông chú bà thím tôi cũng đã ra đi. Những người con của chú thím cũng đã người ở Úc, người ở Pháp. Ngôi nhà bây giờ trao lại cho hai vợ chồng người cháu gái, người phụ nữ trẻ đứng trước mặt tôi phải nhắc mãi tôi mới nhớ ra ngày xưa chị chính là con bé tóc ngắn, mặt mũi trắng trẻo xinh đẹp đứng thập thò bên chại nước mưa hái cho tôi những chùm chôm chôm.

Chiến tranh Việt Nam đã qua rồi. [Qua thật chưa?] Cha tôi nếu còn sống, chắc thuốc lá và rượu cũng sẽ giết ông. Và anh tôi, một người cương trực, ghét sự ác, yêu cái thiện, người tranh đấu không hề mỏi mệt cho những bất công xã hội. Và một con người như thế vốn là một sinh vật hiếm hoi trong thế giới loài người.

Này anh bạn, anh có bao giờ nhìn thấy cảnh một chiếc xe nước to tưới cho cả một cánh đồng chưa? Chưa bao giờ thấy à? Nếu anh có dịp xem phim Chúng Tôi Muốn Sống anh sẽ thấy xe nước đó. Nó nằm trên thửa ruộng thuộc Nhà Từ Đường của dòng họ nhà tôi.

Từ thành phố Nha Trang, muốn lên Nhà Từ Đường của họ nhà tôi nếu đi xe đò, cũng phải mất cả tiếng đồng hồ. Xe bỏ anh ở một góc đường đầy ổ gà và bụi. Anh phải xuống xe đi bộ một quãng nữa. Băng qua những bờ ruộng và sau cùng là một con đường mòn nhỏ giữa những hàng rào những bụi cây. Tốt nhất là anh nên đi xe gắn máy hay xe đạp.

Hồi trước, người trông coi Nhà Từ Đường là chú thím tôi. Ông là một người đàn ông nho nhả, khuôn mặt trắng hồng, môi đỏ, dáng dấp nhẹ nhàng như một thầy đồ; còn bà thím tôi là một phụ nữ cao lớn, da ngâm đen, khuôn mặt có những nét thô cứng. Bà có vẻ khó tính, nhưng là một phụ nữ tốt bụng và quán xuyến. Tôi có cảm tưởng tất cả chuyện trong nhà ngoài ngõ đều do một bàn tay bà. Ngôi Nhà Từ Đường ba gian. Những cây cột to lên nước đen bóng. Mái ngói đỏ, cửa lớn rộng, chạm trỗ những hoa văn kỳ lạ. Có lần chú bảo tôi, lẽ ra cha mày phải là người trông coi Nhà Từ Đường, nhưng ổng đã không làm công việc đó. Chú không nói cha tôi bỏ làng ra đi từ hồi nào? Ông giang hồ bốn phương tám hướng, trong làng từ lâu không ai nghe tên ông. Ông quen má tôi và cưới bà trong trường hợp nào, và tại sao ông không đưa bà về quê, không ai trong nhà biết chuyện đó. Tôi tưởng tượng ra cảnh một người đàn ông giang hồ, một hôm lạc vào một thị trấn nhỏ, gặp cô thiếu nữ xinh đẹp con một nhà buôn người Hoa, anh chàng phải lòng nàng dừng chân ở lại. Nhà gái chắc là không ưng chàng rễ vì nó là người Ố Nàm, và đặc biệt nó không có vẻ gì là con nhà làm ăn buôn bán. Chắc má tôi phải yêu lắm sự ngang tàng của ông mới chịu lấy ông. Và bên ngoại tôi chắc cũng không cho của hồi môn. Chúng mày yêu nhau thì ráng mà sống với nhau như thế cho biết đá biết vàng. Như thế Cha tôi không đưa Má tôi về Nhà Từ Đường. Hai người quyết sống với nhau như thế – bất cần mọi thứ trên đời – coi có chết con giáp nào không. Không ai nói cha tôi là con một ông Kinh lược của triều đình. Cũng không ai nói với tôi rằng Má tôi con một chức sắc ngoại giao người Bắc kinh làm việc ở Luân Đôn vì đâu lưu lạc đến một vùng quê nghèo khổ nhất miền Trung Việt Nam làm ăn buôn bán?

Phải chăng đó chỉ là một câu chuyện hoang tưởng do một đầu óc không được khỏe mạnh của tôi bịa đặt ra.

Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi trở lại thăm nhà, thăm lại khu vườn nơi chôn cất Cha tôi và Anh tôi. Hai ngôi mộ nằm sát nhau, được xây cất rất sơ sài. Vôi hồ gạch đã vữa nát. Đất giữa mộ đã chìm xuống, lá cây rơi ngập úa nhão nhớp nhúa không ai dọn dẹp. Những dòng chữ trên mộ bia màu đỏ kia đã phai. Tôi đọc được ngày sanh ngày mất của Cha và Anh. Tôi tưởng tượng mỗi ngày Cha và Anh trò chuyện với nhau như hai người bạn. Có lẽ Anh sẽ là người được Cha tâm sự nhiều nhất. Anh là người biết rõ mối tình của Cha, biết rõ người phụ nữ xinh đẹp gốc Hoa kia vì sao chịu lấy một anh chàng Việt Nam giang hồ không một đồng xu dính túi, đi lang thang như một tên du thủ du thực, không ngày mai. Và tôi tưởng tượng một ngày nào đó khi tôi ra đi, liệu tôi có được một chỗ bên cạnh Cha và Anh tôi không? Thật ra tôi có được cái quyền ấy không? Khi người ta không làm được điều chi tốt đẹp trong cuộc sống, người ta không thể đòi cuộc sống một điều chi hết. Khi người ta không nợ nần nhau, người ta không phải trả.

Mười lăm năm sau khi ra khỏi Việt Nam, tôi đã trở về thăm lại ngôi nhà xưa, ngôi nhà mà lẽ ra Cha tôi phải ngồi đó thay mặt cho cả một dòng họ, nhưng ông đã bỏ đi giang hồ khi ông vừa mới lớn. Ông đã xuống tàu viễn dương đi khắp năm châu bốn bể như một thủy thủ, đã sống ở Pháp những năm của tuổi trẻ, đã có con với một người phụ nữ bản xứ, đã đi lính Pháp, đã bị Nhật bắt, đã vào rừng sống như một Lỗ Bình Sơn thời chiến, đã yêu một phụ nữ Trung Hoa, đã đẻ ra một bầy con, và sau cùng đã trở về ngôi nhà của tổ tiên khi hai tay ông đã buông xuôi….

Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bị xóa khỏi bản đồ của trái tim.

Tôi nhớ những trận mưa bão thổi mù trời, nước dội xuống ngập thành phố, những hàng cây trụ điện gẫy gục, và sóng biển thổi táp lên tận nhà hàng Frégate, nơi có cô bé đầm lai tên Odette chờ tôi mỗi khi tan lớp ra về.

Tôi nhớ bà Dì của bạn T.T.L. người thường xuyên cho tôi được đến nhà hàng của Dì “ăn cho bỏ những ngày cơ cực”. Tôi nhớ tôi là đứa học trò không có sách cầm tay, đi lang thang từ nhà ông chú này đến nhà bà cô khác. Ngồi ăn một mình dưới ngọn đèn điện tối ám hơn cả ngọn nến leo lắt nhất của ai đốt trên ngôi mộ nghĩa địa. Tôi là một đứa trẻ lớn lên không có tình yêu. Và tôi hiểu tại sao tôi yêu tất cả mọi người, kể cả những người không yêu tôi.

Mười lăm năm sau trở lại thăm thành phố, nơi đã nhìn tôi lớn lên như một thứ cỏ cây, tôi muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao tôi đã không đập phá nổi loạn thời gian đó? Tại sao tôi đã không nắm dao đâm thẳng vào những kẻ quyền thế hà hiếp kẻ khốn cùng? Tại sao tôi đã không cầm súng lia vào cái đám hãnh tiến khốn nạn vẫn thường vênh váo, dửng dưng trước nỗi đau của người khác? Tại sao tôi đã không cho nổ tan xác cái bọn phè phỡn trong khi những bà mẹ những bà chị những người em còng lưng trên những gánh hàng rong suốt ngày, suốt đêm, suốt đời vẫn không đủ tiền nuôi nổi một miệng ăn…Tại sao tôi đã không là một tên du đãng?

Mười lăm năm sau ngày ra đi khỏi nước, tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về … Trở về nhưng không biết về đâu. Nhà ông chú hay nhà bà cô. Và ngôi nhà nào sẽ mở cửa cho tôi bước chân vào?

Nguyễn-Xuân- Hoàng

lục bát hai câu

huynhminhle

những thằng đá cá lăn dưa
sáng còn dưới bến buổi trưa sảnh đường
*
thằng gù chiếm cứ lầu chuông
tình yêu thổ tả chúa buồn đóng đinh
*
sân chùa thục nữ giật mình
cành lan rơi trúng thình lình tóc mây
*
câu thơ xịt chó vô gai
bao người uổng tử gieo đầy tai ương

Huỳnh Minh Lệ

TÂM KINH … TÔI CHẾT TỪNG KHOẢNH KHẮC

tranthoainguyen

Tôi chết từng khoảnh khắc
Từng sát-na hồi sinh.
Tôi xác thân tứ đại
Tôi linh hồn điêu linh!

Ngôi-nhà-tôi bốc cháy
Lửa đốt tự bao giờ
Tôi ném ra cửa sổ
Từng chùm từng chùm thơ.

Ôi! Ngọn lửa thời gian
Thiêu đốt triệu triệu năm
Chỉ trăng sao bất diệt
Tất thảy đều tro than!

Lửa lừng hiên vạn pháp
Nước xuôi sông Vô Thường
Trái tim tôi ngừng đập
Chim về ngậm sợi hương…

Ngôi-nhà-tôi bốc cháy
Lửa thiêu đốt hình hài.
Máu xương kêu khóc lạy
Linh hồn chực đầu thai.

Tôi trở về cát bụi
Cùng gió thiên thu rong.
Chim bay về đỉnh núi
Không bóng lòng sông trong.

Tôi chết từng khoảnh khắc
Từng sát-na hồi sinh.
Ôi! “Không bất dị sắc”
Ba La Mật Tâm Kinh.

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Chiếc Nhẫn

nguyenthiminhngoc

Nói chung, Trấn có vẻ khi dễ mọi việc làm của tôi. Khi nghe tin tôi sắp đi Tây nguyên đóng phim, Trấn nói, bỏ đi. Bỏ đi thì không khó.

Nhưng ở lại Sài Gòn lúc này để làm gì? Lại nghe họ tộc trách móc tui bay giỡn mặt vừa thôi, thiệp cưới tung đi khắp nơi lại đi thu hồi. Lại nghe má ngồi thở dài chẳng thiết nói năng mỗi khi tôi chường mặt về nhà. Lại cảm giác hao đi cái tình yêu gì mà như một cách hủy hoại nhau giữa Trấn và tôi.

Thế là tôi đi, như tự thưởng mình một chút giải lao ngắn giữa bao bộn bề công việc cuối năm. Khi máy bay hạ cách, ngó sơn cúc xưa vàng ngát từng vạt tôi nhẹ bớt nỗi lo những ngày tới phải hòa nhập trên ba mươi con người chưa quen biết. Ngay cả đạo diễn phim, quay phim và chủ nhiệm phim cũng chỉ biết tối qua mấy tấm hình và vài câu trao đổi trên điện thoại. Đoàn làm phim cùng ở trong một khách sạn quân đội cách thị trấn hơn 10 cây số. Cần kiếm ngay một chiếc xe thồ hay một trạm điện thoại công cộng, có khi phải đi bộ đến vài cây. Suốt một tuần rảnh rang, gọi về cho Trấn đủ các giờ chẳng bao giờ gặp. Phố chợ nhỏ, kêu xe ôm đi vài vòng đã hết.

Trước khi tôi lên đây, một người bạn nói cứ đi gặp Ạ, kiếm X. sẽ được giới thiệu những chỗ đi chơi. Gọi điện thoại mấy lần, nghe hai bà vợ diễn tả hai ông chồng có vẻ như không còn thì giờ để thở, nên những ngày vô cùng thong thả ở đây, bạn đồng hành dến các thác, suối với tôi chỉ là những chú xe thồ. Chuyên đề trao đổi giữa chúng tôi thường là về những vụ án và cách phá án mới nhất vừa được đăng trên báo Công An thành phố, như là một cách tạo lòng tin cho nhau giữa hai người khác phái chưa quen nhau bao giờ, cùng đưa nhau đến những nơi vắng vẻ hoang vụ Anh nào cũng khẳng định: xe thồ chưa giết ai bao giờ mà chỉ bị giết để giựt xe thôi, mới có mấy vụ gần đây nè, ở Biển Hồ, ở khu sân bay cũ, ở Bàu Cạn, Đức Cơ.

Những con suối lũng hồ hoang sơ thì đẹp mê hồn, với tôi. Nhất là khi tôi được đến trong những khoảnh khắc chẳng có khách vãng lai nào chịu tới. Có những lúc mất dấu đường mòn, lách vào lau sậy mà đi, cỏ quều rát mặt… Đi đâu rồi tôi cũng dặn tạt về điểm quay trước khi mặt trời lặn. Mỗi lúc đó, chú T. quay phim thường bắt tôi khoác áo, choàng khăn đi lẩn thẩn giữa dã quỳ hay thảo nguyên, lau dại để quay cảnh toàn có bóng tối nhập nhoạng giữa chiều tà. Ông đạo diễn nói riêng với tôi, cuối năm, tiền quay ngoài Hà Nội chưa chịu chuyển vào, phim sắp cạn mà ông ấy cứ thích bày ra quay thêm nhiều cảnh đẹp, tôi chẳng biết dựng vào đâu đây vi cảnh đẹp không có người thì cũng vứt đi. Tóm lại, ông muốn tôi cứ xênh xang đi chơi, lố giờ mặt trời lặn một chút cũng không sao, để trốn ông quay phim duy mỹ.

Tôi sống ròng rã với những cảnh đẹp không người (trừ tôi và các anh xe ôm khác nhau) như vậy suốt mấy ngày. Có những cái thác an nhiên hoang tàn phóng nước tới độ chỉ thèm được đứng trên đầu thác, trượt theo… Có những ngày nắng từng vạt nhiều sắc độ trải trên đồi, đồi vút đụng mây, mây đôi khi rùng rùng kéo nhau đi nhanh tới chóng mặt và đôi khi trời, mây, núi dường như xanh biếc một màu như những gợn sóng trắng xanh hòa trong biển, đảo… Sống ở đây, hẳn người ta không thể hẹp hòi.

Đạo diễn báo đêm nay, từ 12 giờ mới có điện, Nhụ Hương sẽ quay cảnh đầu. Ngày hôm ấy tôi xin sang một tỉnh khác chơi, cách đó hơn 50 cây, hứa về trước 5 giờ. Lần này tôi đón xe. Ven đường ít nhà ở đến nao lòng. Tôi ngúc ngoắc giữa những bao lớn nồng nàn hương chanh cạnh những con người phụ nữ gùi trẻ con trước ngực, giương các đôi mắt nâu thăm thẳm ngó người… Đến bến xe, hỏi thăm, người ta cho biết ở đây ngoài thác, suối, cầu tre, làng người dân tộc,… còn có nhiều nhà thờ đẹp.Đến ngôi nhà thứ hai, hoàn toàn bằng gỗ, tôi tấp vào một đám Tây ba lô, hỏi tụi bay đi đâu cho đi với. Họ chỉ sang một người thông dịch kiêm hướng dẫn viên. Anh ta hỏi đi bộ trên mười cây số có nổi không? Tôi gật đầu, rồi chỉ vào mình nói: “Nhụ Hương!”. Anh ta bảo, gọi anh ta là Quốc. Phần giới thiệu coi như là xong.

Lâu lắm rồi tôi mới đi một chuyện như vậy. Tay không, tiền trong túi, đi ven đường, ven suối, mỏi thì nghỉ, khát thì uống, đói thì ăn, tai lại nghe những lời dẫn giáo. Chỉ khác hồi xưa, lời bây giờ không phải là tiếng nước mình, và những người đi cùng bước chưa phải bạn mình.

Quốc có vẻ thân thuộc với tất cả mọi người, từ nam phụ lão ấu. Anh bày thêm vài câu tiếng Anh cho bọn trẻ reo hò khi bọn người lạ đi quạ Một vài cô nữ sinh đi ngược chiều gật đầu chào thầy.. Quốc càu nhàu: “Tôi đã không nhận dạy nó nữa. Ỷ ba má làm lớn, bỏ học hai buổi, tôi đuổi ngay, mặc kệ ba nó tới xin”. “Anh dạy gì?”. “Anh văn!”. “Anh phát âm gần với người Mỹ”. “à, tôi có học ở đó ba năm. Hồi đó tôi đẹp trai hơn bây giờ nhiều. Nhiều cô mê tôi nhưng chẳng cha mẹ nào của các cô chịu gả. Họ lên đây, liếc sơ qua nhà tôi rồi chê không bằng nhà bếp của họ. Tôi bỏ cô người yêu đó ngaỵ Sau này tôi bị lỡ dở bao mối cũng vì một chữ nghèo đó”.

Trong lúc những người cùng cùng đi lo chụp hình cảnh sinh hoạt bên suối, tôi bổng kể về anh. Hồi đó tôi cũng có người yêu “lựu đạn” như anh. Anh ấy đào ngũ, đi lao công đào binh… Chết rồi. Ở đây. Má tôi nói cho tới giờ ngày tôi chưa lấy chồng có lẽ vì bóng ma người đó ám. Chuyện này tôi chưa kể cho Trấn.

Bọn ngoại quốc lao nhau phân bì, hai đứa bay nói chuyện gì vui quá, cho tụi tao nghe với. Quốc nói: “Chuyện tình, tao có một túi đầy ắp chuyện tình. Tụi bay nghe không, tao kể”. Những chuyện tình được kể bằng tiếng Anh sau đó của Quốc khiến tôi bị cuốn hút theo vì nó hấp dẫn và mới hơn những chuyện tôi đã được đọc. Tôi hỏi nhỏ Quốc, đọc ở sách nào vậy? Quốc vênh mặt, tự hào, toàn là những chuyện của chính anh.

Bây giờ tôi mới nhìn kỹ anh. Người cao, to, đen, lưng thẳng như cột nhà nám bồ hóng. Nước da đen tím làm nổi bật chiếc nhẫn vàng nơi ngón tay áp út. Cũng có thể tin được người này trước đây có một quá khứ đẹp trai. Lâu nay tôi vẫn tự hào về những mối tình dang dở của tôi. Nếu Quốc nói thật, có lẽ đây là một nhân vật không kém gì tôi về việc làm vỡ những mối tình, mà gốc xuất phát từ lòng tự trọng và ít nhiều vụng về, mà nói theo má tôi, thì bị ma nó ám.

Đến cầu treo Đà Linh, Quốc bổng ngồi phệt xuống giữa cầu, xúc động: “Hôm nay là ngày giỗ của cô ấy.. Đó là người con gái tôi yêu nhất và dường như tôi chỉ yêu cô ấy mà thôi”. Mấy người khách, nhất là anh chàng nhóc người Hà Lan tóc vàng sậm như thảo nguyên thung lũng A Sầu háo hức: “Kể đi, anh kể đi!”.

Quốc cố tháo chiếc nhẫn ra nhưng không được. “Đây là chiếc nhẫn cưới cô ta mua cho tôi. Chiều thứ bảy, cô nói với em về rước má lên gặp ba má anh. Tự dưng tôi can: đừng đi em! Cổ tròn con mắt: thì cuối tuần nào em cũng về để đầu tuần lên đi học, có sao đâu. Sáng thứ hai, đi đến gần cầu đó, tôi nghe dân chúng xôn xao. Đêm qua xe đò chạy đến đây, lính gác cầu xin tiền, tài xế không cho, nó bắn dọa chơi mà có một cô bị đạn xuyên cổ chết thật. Đó là vợ sắp cưới của tôi… ” Quốc hạ giọng: “Tôi đã tìm ra được thằng đó, bắn què chân. Từ đó, tôi sợ những chiếc cầu. Từ đó, mỗi lần tôi định cưới ai, tay bổng phồng to không kéo nổi chiếc nhẫn ra để đổi chiếc khác. Dường như cô ấy sợ những cô gái kia không đem lại hạnh phúc cho tôi”.

Đó là câu chuyện tình cuối cùng Quốc kể trong ngày.. Trưa đó, chúng tôi ghé chợ ăn vớ vẩn rồi đi ngược hướng Tây, nơi có cái nhà rông cao nhất và nơi có cây đa tương truyền là đã sống được ngàn năm. Quốc kéo tôi suýt ngã khi tôi định ngồi tựa vào những rễ đa to: “Rắn độc sống nhiều trong đó!”.

Quốc bổng ngó xuống hai tay tôi: “Nhẫn đâu? Cô không có chiếc nào sao?” Tôi xòe tay, khoe khoang: “Lúc nào cũng có một chuyện gì đó xảy ra trước khi có người định trao nhẫn cho tôi, nên từ lúc tôi sinh ra tới giờ, chưa được bao giờ tôi đeo nhẫn cả”.

Khi trở lại khu nhà mồ cuối cùng, Quốc kêu cho tôi một chiếc xe thồ. Rồi bổng rút chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay một cách dễ dàng, đưa cho tôi: “Cho cô nè, Nhụ Hương! Chiếc nhẫn bỗng nhiên tháo ra được, vậy là cô ấy đã nhẹ nhàng ra đi. Vậy là lời nguyền đã được giải. Cô cũng nên giữ đi, để giải lời nguyền của riêng cô… ”

Tôi vẫn không dám đeo vào tay và đặt nhẫn vào sợ dây gỗ đeo nơi cổ. Trời tối nhanh và lạnh khủng khiếp trên đường về mặc dù tôi đã trang bị đầy đủ áo khăn găng vớ. Lần này câu chuyện không xoay quanh những vụ cướp xe giết người nữa bởi dạ đã yên khi thấy người chở mình quen Quốc. Ông già lên tiếng trước:

– Sao cô quen ông Quốc “mát” đó?

Tôi giật mình:

– Ông ấy điên à?

Ông già lắc đầu:

– Không phải điên. “Mát” khác!

– Là không giống ai! Một thời đạp xích lô, đi xe thồ như tụi này, cực lắm. Sống với lũ trẻ mồ côi. Hiện giờ lại dạy Anh văn nhiều trình độ, nhiều lứa tuổi, thường kể chuyện xạo cho mọi người nghe, và cứ nhận mình là nhân vật chính trong các câu chuyện đó.

– Còn vợ con?

– Nghe nói vợ chết, nhưng chết cách sao chẳng ai hay.

Trời tối đen khi tôi chưa tới được nơi đóng phim. Ông già nói:

– Cô cảm phiền đi xe khác về. Tôi phải quay về lại vì đường xa, trời lạnh và tối, trễ nữa không đi được đâu!

ông quày quả đi sau khi giao tôi cho chiếc xe thồ khác. Đến nơi, đạo diễn giục tôi hóa trang ngay rồi vào bàn tập thử cảnh đạp chiếc mỏ hàn xì để làm đồ vàng bạc. Chị Nhơn hóa trang nói nhỏ có người tên Trấn vừa gọi lên kêu Nhụ Hương về gấp ngày mai để kịp gặp mặt mẹ anh ở Đà Lạt xuống gặp mẹ tôi dàn xếp lại ngày cưới. Mai cũng là ngày quay cảnh tôi trở lại hòn đá đen giữa vạt sơn cúc năm nào.

Tôi tập đạp chiết mỏ hàn xì. Cảnh này thì tôi đã hết mộng du, nghĩa là đã qua gai đoạn mà Y Linh cứ đứng bên ngoài cười kêu chị Hương ngơ ngơ như con bò đội nón. Tôi tháo chiếc nhẫn của Quốc bỏ vào lửa. Chiếc nhẫn đỏ rực không tan. Những bà mẹ chồng hụt của tôi cứ canh những lúc tôi không thể về để đến. Nhưng mà không sao, lời nguyền đã được giải. Gió luồn đám bạch đàn gần đó kêu rầm rì suốt đêm như sóng. Giữa hai cảnh quay, Y Linh đưa ngón tay lên trên, khen tôi số một, em nghi coi xong phim này sẽ có nhiều ông khùng cầu hôn chị.

Có thật không, mẹ Trấn sẽ đến sáng mai? Có thật không, Quốc? Có thật không, tôi đang mộng du ngồi đây bày trò cho lửa phừng to táp mắt? Có thật không những đồi lũng suối nguồn rực rỡ hoang dã mấy ngày nay? Đã được giải hẳn chưa lời nguyền?

Điều chắc chắn là chiếc nhẫn đang đỏ trên tay tôi là vàng thật. Và dã quỳ sơn cúc xưa của tôi vẫn còn hực hỡ vàng bát ngát mùa đông Tây nguyên. Cùng đất thì đỏ như máu. Nhiều người năm xưa chết quanh quất đâu đây chưa tan được. Cũng như tiếng gió vẫn rì rầm kêu hát suốt đêm tàn đông còn lại tôi sống ở đây.

Nguyễn thị Minh Ngọc

SÀI GÒN, TRỜI MƯA ANH ĐƯA EM VỀ

linhphuong

Con đường kỷ niệm
Nhạt nhòa lối đi
Mưa trời giăng kín
Anh đưa em về

Bầy chim dậy trễ
Trên hàng cây sao
Thì thầm rủ nhau
Bay vào cõi mộng

Sông dài biển rộng
Chẳng thể lìa tan
Nhật- nguyệt hai vầng
Khắc câu thề nguyện

Con đường kỷ niệm
Anh đưa em về
Giữa nghìn dâu bể
Giữa nghìn bão giông

Đời mấy bến sông
Anh qua chưa hết
Trái tim da diết
Mối tình ngu ngơ

Thuở ấy đâu ngờ
Em vừa chớm nhớ
Bóng anh ngoài ngõ
Đứng chờ trao thư

Sài Gòn mùa thu
Mưa bay nhạt nhòa
Tay anh dù nhỏ
Che người trăm năm

Vạt áo lụa thơm
Tay ngà-chân sáo
Mắt biếc bồ câu
Má hồng-da phấn

Để anh lận đận
Đau điếng một thời
Nụ hôn ngày đó
Vẫn còn môi tê

Anh đưa em về
Con đường kỷ niệm
Thì thầm gọi em
Thu vàng xa ngái

Thương em thơ dại
Chiều mưa nhạt nhòa
Tay anh dù nhỏ
Che người trăm năm

LINH PHƯƠNG

Chỉ là mộng ngộ

lesa

. Với H người tình khuất

Khi ta chết xin em đừng tưởng tiếc
Mặc nghìn thu rực cháy lửa vong tình
Em cứ khóc và mĩm cười ngộ nguyện
Ta một mình chạy soãi đến vô biên.

Trong cõi giác em gọi ta từng chập
Mắt đung đưa qua sóng lớp u huyền
Chân ngạo nghễ vẽ rồng lên cỏ mượt
Cuối chặng đời… Ta còn mấy oan khiên?!.

LÊ SA

nha trang – chuyện cũ

phamtinanninh

Xa quê nhà đã lâu. Mỗi lần đi đến một địa danh xa lạ nào đó, nhất là những dịp lái xe chạy dọc theo một bờ biển đẹp, lòng tôi lại nôn nao cái cảm giác như đang trên đường ngược về quê cũ – Nha Trang. Thành phố đã chôn giấu giùm tôi bao hang động tuổi thơ, dấu tích của những mối tình học trò một thời vụng dại, mà sau cơn sóng tháng tư năm nào bất ngờ ập xuống, ngỡ tất cả đã biến mất, có còn chăng cũng chỉ là chút sương khói mơ hồ trong lòng một người lưu lạc.

Ngày xưa, khi còn là cậu bé học trò, tôi từng nghĩ trên thế gian này có lẽ không nơi nào thơ mộng, hiền hòa và dễ thương bằng Nha Trang của tôi. Với tôi, nơi ấy còn là xứ thần tiên nữa. Bởi khi buồn, chỉ cần đạp xe dọc theo con đường Duy Tân lộng gió, nhìn biển trời mênh mông, nghe tiếng sóng rì rào, là cảm thấy lòng mình như vừa được vuốt ve, âu yếm. Ngôi trường Võ Tánh trên đường Bá Đa Lộc cũng nằm gần biển, nên cả một thời đi học, nhờ mỗi ngày được vỗ về bằng âm thanh rạt rào của biển và tình mến yêu của thầy, của bạn, mà tôi đã quên đi nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh, ngước mặt hăm hở nhìn bầu trời xanh bao la với bao khát khao, ước vọng.

Như những thằng học trò đến tuổi biết mơ mộng khác, tôi cũng có vài mối tình ngây ngô vụng dại. Chỉ nghe mấy thằng bạn đùa nghịch gán ghép mình với cô bạn nào trong lớp, là về nhà vội vã tập tành ghép vần làm những bài thơ với lời lẽ si tình như một gã từng trải yêu đương. Sau này, mỗi lần nghe bài hát Phượng Hồng, phổ từ thơ của ông Đỗ Trung Quân nào đó, tôi lại thấy lòng lâng lâng cảm xúc, ngỡ như đang trở về tuổi 14,15, với những “bài thơ cứ còn hoài trong vở, giữa giờ chơi mang đến lại mang về”. Tôi nghĩ, có lẽ cũng như tôi, nhiều chàng học trò ngày xưa vẫn còn đang cất giữ những bài thơ đầu đời ấy trong ký ức. Bây giờ tuổi già, đem ra đọc lại chắc chắn sẽ nở nụ cười ngượng nghịu với một chút bâng khuâng man mác trong lòng.

Người ta cũng ca ngợi Nha Trang như là thành phố của tình yêu. Bởi Nha Trang không chỉ có đất trời thơ mộng mà còn sản sinh và đón nhận nâng niu bao nhiêu cô con gái đẹp từ các xứ Huế, Bắc Kỳ, trôi dạt đến đây. Đất lành chim đậu. Và có một thời, các cô nữ sinh Nha Trang đã làm khốn khổ trái tim của biêt bao SVSQ Hải Quân, Không Quân, những chàng trai say mộng hải hồ, lướt gió tung mây. Tiếc là Nha Trang đã không cho tôi mối tình lãng mạn say đắm nào để có tròn cảm xúc khi nghe ca khúc Nha Trang Ngày Về của ông nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng vài mối tình học trò ngây ngô ngày ấy cũng đã để lại trong tôi bao kỷ niệm khó quên.

Năm 1963, tôi đang học năm cuối trung học thì bao nhiêu biến cố xảy ra, dồn dập: Những cuộc xuống đường, biểu tình, bãi khóa để chống chính phủ Ngô Đình Diệm. Trước cổng trường luôn có cảnh sát và lính gác. Nhiều học sinh bị bắt. Nghe nói có vài người nhảy núi. Một số giáo sư trẻ bị động viên, rời trường vào lính. Không khí ngột ngạt, căn thẳng.

Đúng vào thời điểm này, thành phố Nha Trang xuất hiện một người đàn bà điên. Trông bà trọng tuổi, lúc nào cũng ăn mặc sạch sẽ chỉnh tề với chiếc áo dài nhung đen. Trên cổ đeo nhiều vòng vàng. Có người bảo là vàng giả, nhưng có người lại bảo vàng thật, vì gia đình bà giàu có, con cái học hành tử tế. Gần như ngày nào người ta cũng thấy bà xuất hiện ngoài phố, chấp hai tay sau lưng đi bộ dọc theo con đường Phan Bội Châu – Độc Lập, vừa đi vừa nói những điều không ai hiểu được. Đặc biệt bà luôn ghé lại và ở khá lâu trong nhà sách Nguyễn Lê và Ty Thông Tin. Ở đây có treo tấm ảnh chân dung của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hai địa điểm này tôi thường có mặt. Lần nào cũng thấy bà đưa tay chỉ vào tấm ảnh mà chửi. Không ai biết là bà có ân oán gì với ông Diệm, vì khi chửi bà cũng không gọi tên và kể lể người trong tấm ảnh có tội tình gì. Có người biết chuyện, bảo là bà chẳng hề dính dáng gì tới chuyện chính trị hay cá nhân cụ Diệm, mà dường như bị ông chồng đào hoa phụ tình. Bà hận lắm. Thấy tấm ảnh cụ Diệm mà cứ tưởng là chồng bà. Oan và tội nghiệp cho cụ. Chắc chắn đến khi bị bọn phản tướng sát hại, cụ cũng không hề biết đã từng bị một người đàn bà chửi oan mình như thế..

Có lẽ đã chứng kiến nhiều lần, nên dần dà chẳng còn mấy ai quan tâm đến bà. Ngoại trừ tôi. Không biết mặt mũi của tôi có được cái hồng phúc giống cụ Ngô hay ông chồng đào hoa của bà ít nhiều gì không, nhưng cứ mỗi lần nhìn thấy tôi, ngay cả những khi đi chung, lẫn lộn trong đám bạn bè, bà vẫn tìm đến chỉ mặt tôi mà chửi. Sau này, vừa thấy bà là tôi vội vàng bỏ chạy, nhưng bà vẫn rượt theo và cố la lớn mấy lời nguyền rủa từ phía sau lưng. Biết bà điên và nghĩ trước đây cũng là một người giàu có tử tế, nên tôi cũng thấy thương hại, tội nghiệp cho bà. Nhưng mỗi lần bị chửi bới vô cớ trước đám đông, nhất là khi có đám con gái, tôi ngượng ngùng, lại thấy sợ và oán bà. Có thể nói bà là nỗi ám ảnh của tôi lúc ấy. Đôi khi trong giấc mơ, thấy bà rượt theo mình, mặt mày hung dữ như mấy bà phù thủy trong tranh phiếm họa. Thức dậy, tôi thở phào nhẹ nhõm nhưng cũng toát mồ hôi. Tôi đâm ra “hận” bà vì sau đó, tôi đành phải bỏ cái thú vào nhà sách Nguyễn Lê vờ mua sách, nhưng chỉ cốt để ngắm cô con gái mới lớn của bà chủ, có đôi mắt to với đôi mội mọng đỏ, đẹp như thiên thần và mấy cô bán sách khá xinh, cũng như không dám bước vào Ty Thông Tin đọc mấy tập Thế Giới Tự Do mà ông thầy sử địa gốc biện lý, giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, thường ra những câu hỏi từ các đề tài trong đó, và cũng để được nghe giọng nói Bắc Kỳ rất dễ thương của bà chị quản thủ thư viện, ca sĩ Hoàng Yến (lúc ấy đang mặc áo bầu).

Sau đó, chỉ thỉnh thoảng tôi mới thấy bà, nhưng dường như cơn điên trong bà ngày một tệ hơn. Trông bà già và ốm đi nhiều lắm. Có lần chứng kiến một đám con nít đi theo trêu chọc để bà múa may la hét lung tung, tôi động lòng dừng xe lại la rầy và khuyên bảo các em không được quấy rầy bà. Thấy tôi, bà vội vàng chạy tới. Không biết lúc ấy bà có còn nhớ tôi không, và có thay đổi thái độ vì tôi vừa mới giúp bà, nhưng tôi vẫn ám ảnh những lần bị bà xỉ vã trước đây, nên vội vã đạp xe đi. Bất giác tôi nhớ đến mẹ tôi. Mẹ mất khi tôi mới ba tuổi. Tôi chưa hề biết cảm giác của một đứa con có mẹ. Nếu có một người mẹ điên như bà, để tôi lo lắng, chăm nom, biết đâu tuổi thơ của tôi sẽ hạnh phúc hơn. Ngẫm nghĩ, tôi càng thấy tội nghiệp và thương bà, ân hận vì trước đây từng nghĩ bởi vì bà mà thành phố Nha Trang đã mất đi một chút yên lành, đẹp đẽ đối với riêng tôi.

vie1bb87t-nge1bbaf-nha-trang1

ngã ba Trần Quý Cáp (Ty Thông Tin)

Những năm đi học, tôi ở nhà ông chú, một tiệm buôn nằm ngay ngã ba Trần Quý Cáp – Quốc Lộ 1, gần Ty Thông Tin. Ông chú tôi làm nghề thầu khoán, nên những ngày cuối tuần nhà thường có khách. Để tránh bớt không khí ồn ào và bị sai vặt, tôi thường viện cớ đến nhà thằng bạn cùng lớp học bài, nhưng thực ra là chỉ để chơi đùa và đàn địch hát ca. Điều đặc biệt quyến rũ tôi hơn là cô em gái có răng khểnh rất dễ thương của nó, học sau bọn tôi hai lớp, bên trường Nữ Trung Học. Hai đứa -cô bé và tôi – thường đóng vai Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, bắt chước giọng, hát mấy bài song ca cho thằng bạn tôi, anh cô bé, tập dạo đàn theo.

Nhà ở khu Rộc Rau Muống, phía dưới một con hẻm lớn từ đường Trần Quý Cáp. Ngôi nhà bề thế nằm kín đáo dưới mấy tàng cây bàng phủ bóng. Mẹ nó mất sớm, nên ba nó thường vắng nhà. Nghe nói ông sống với bà tình nhân trẻ ở đâu đó, vì không muốn đưa bà về đây để phải phiền muộn cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông cưng con, thuê một chị giúp việc từ trên Thành về ở đây luôn. Chị rất siêng năng, vui vẻ làm hết mọi việc trong nhà. Ngôi nhà rộng rãi trở nên thừa thải nên ba nó cho thuê nguyên cả dãy nhà sau gồm khá nhiều phòng ốc. Nhà trước và khu nhà sau được ngăn ra bằng một hàng rào song sắt. Điều đặc biệt là cái giếng nước nằm ngay giữa hàng rào, để hai nhà có thể dùng chung.

Một hôm, thằng bạn nháy mắt cho tôi biết một tin vui: Gia đình vừa mới dọn tới gồm mấy anh em mà có đến ba cô con gái, cô nào cũng xinh. Ban đầu, tôi tỏ ra thờ ơ trước cái tin với cái vẻ hí hửng đó của thằng bạn thân, để chứng tỏ ta đang “ăn cây nào rào cây nấy”. Khi ấy tôi còn ngu ngơ chưa biết cô em gái của nó đang là cánh “hoa biển” của một anh chàng SVSQ Hải Quân bô trai nào đó. Cho đến một hôm bất ngờ đụng đầu trên dốc con hẻm, khi thấy hai người ôm nhau từ giã, tôi mới hụt hẫng, biết canh bạc này chưa kịp bắt đầu mà mình đã trắng tay. May mà lúc ấy tôi chưa kịp tỏ tình và cũng chưa biết si tình, nên chưa “chết ở trong lòng một ít”, chỉ thấy ngượng ngùng bâng khuâng một chút. Không được làm người tình, tôi bèn quay sang làm anh cô bé, để lâu lâu còn được nghe nũng nịu và nhất là được vỗ về chút tự ái của người thua cuộc.

Sau khi “con tim đã vui trở lại”, tôi bắt đầu (và ra mặt) nhòm ngó khu nhà phía sau. Cái giếng mà trước đây gần như thứ bảy và chủ nhật nào, sau khi tắm biển về, tôi và thằng bạn đều ra tắm lại, thích thú đùa nghịch, đổ cho nhau những gầu nước trên đầu, bây giờ ngại người ta nhìn thấy hai “bộ xương cách trí”, nên đành tắm vội trong phòng tắm. Nhưng cái giếng ấy lại trở nên vô cùng quan trọng đối với bọn tôi. Là chỗ có thể nhìn thấy “mục tiêu” rõ ràng nhất, khi các cô nàng ra xách nước, giặt áo quần trên thềm giếng. Cô em thằng bạn, sợ bọn tôi phá đám mối tình đầu, nên bây giờ trở thành bà mai, con chim xanh đắc lực của hai ông anh. Bọn tôi dần dà biết được tên, tuổi, trường lớp của ba cô nàng. Đặc biệt hơn là hoa nào đang có chủ và hoa nào đang trong tình trạng đợi chờ. Cô chị thường đi vắng vào ngày cuối tuần bởi tình yêu đang thời kỳ mặn nồng, ở nhà thường chỉ còn lại hai cô em. Hai thằng tôi bò qua thành giếng sang nhà hàng xóm. Thằng bạn thì mang theo cây guitar đàn cho cô chị hát, còn tôi thì vờ hỏi cô em chuyện học hành, dịch hộ những bài Pháp văn, giải nghĩa vài điển tích trong Cung Oán Ngâm Khúc, lâu lâu tặng một bài thơ tình con cóc. Dần dà tôi lọt mắt xanh cô em út Quỳnh Chi(*), học đệ ngũ bên trường Nữ, rất hiền lành dễ thương. Cũng chỉ là tình yêu học trò, ngây thơ trong sáng. Thỉnh thoảng để giúp vui, tôi đem chuyên bị bà điên rượt kể cho hai chị em nghe. Có khi tôi còn nhại tướng đi và giọng hét của bà. Hai cô nhìn nhau sợ sệt.

Cuối năm đệ nhất, khi chuẩn bị kỳ thi Tú Tài 2 thì tôi bất ngờ lâm bệnh. Một buổi sáng chủ nhật, thức dậy, thấy người hơi sốt, khó chịu. Tưởng chỉ cảm cúm, uống vài viên thuốc aspirin là khỏi. Không ngờ đến trưa cơn sốt lên cao, người nóng như lửa đốt, đến nỗi không thể cử động, nói năng gì được. Ông chú vội vàng chở tôi đến bác sĩ. Bác sĩ trực hôm ấy là bà Chung Thị Luông, có phòng mạch ở đường Công Quán, gần rạp ciné Minh Châu. Nghe nói bà chích cho hai mũi thuốc thì tôi tỉnh lại. Tôi nhớ lúc vừa mở mắt ra, đang còn mơ màng, tôi đã thấy bà bác sĩ đẹp quá chừng. Biết danh bà từ lâu nhưng đó là lần đầu tiên tôi mới trông thấy bà. Và dường như sắc đẹp của bà bác sĩ đã giúp cho những thằng bệnh nhân trẻ con mới lớn như tôi mau tỉnh táo hơn là thuốc. Sau đó bà đề nghị chú tôi nên đưa tôi đến bệnh viện tư của bác sĩ Thạch nằm trên đường Trần Quý Cáp để điều trị. Tôi đã nằm ở đây hơn một tháng và đành phải bỏ thi kỳ ấy.

Một hôm, Quỳnh Chi đến thăm khi tôi đang lên cơn sốt, nằm mê man. Không biết cô bé đến từ lúc nào. Tỉnh dậy tôi thấy cô đã ngồi bên cạnh. Sau khi phụ cô ý tá dìu tôi ngồi dậy, cho uống một ly nước cam vắt, cô bé nắm lấy tay tôi, nhìn thật lâu vào mắt tôi, rồi buồn bã nói nhỏ lời từ giã. Tôi mệt quá chưa kịp nói lời gì thì nàng đã bước ra cửa. Tôi cố gắng đưa bàn tay lên vẫy, nhưng không thấy nàng quay nhìn lại. Chỉ còn nghe tiếng chân bước vội xuống những bậc tam cấp.

Và đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Quỳnh Chi..

Sau khi lành bệnh, tôi đến thăm anh em thằng bạn dưới Rộc Rau Muống. Vừa mở cửa, cô em buồn bã cho biết là mấy chị em Quỳnh Chi đã dọn đi nơi khác, vì có bà mẹ điên, trên cổ mang đầy vòng vàng, không biết vì sao tìm được nơi mấy cô con gái ở, đến la hét, khóc than cả một buổi. Và đây cũng không phải là lần đầu các cô dọn nhà với lý do như thế!

Tôi giật mình, nhớ lại bà cụ điên thường rượt theo tôi ở nhà sách Nguyễn Lê và Ty Thông Tin. Bất ngờ và xúc động, nước mắt tôi trào ra. Tội nghiệp cho bà và cho cả mấy cô con gái xinh xắn, thùy mị và học hành chăm chỉ của bà, trong đó có cô con gái út Quỳnh Chi. Tôi cảm thấy ngượng ngùng như vừa phạm tội, vì đã mấy lần thản nhiên kể chuyện không mấy đẹp về bà trước chị em Quỳnh Chi. Và cũng có thể, vì mấy lần rượt đuổi theo tôi, mà bà đã khám phá ra căn nhà trọ của mấy cô con gái ở cuối con hẻm khá kín đáo này.

Sau đó, tôi vào Sài gòn học tiếp vài năm thì đi lính. Cuộc chiến ngày một khốc liệt, kéo tôi theo như cơn lốc xoáy. Thời gian trong lính, mỗi năm tôi chỉ về thăm Nha Trang một đôi lần bất chợt. Đầu tháng 4/75 Nha Trang đổi chủ sau cơn hồng thủy. Gia đình tan tác. Cha tôi và tôi vào tù. Chỉ một năm sau cha tôi chết, còn tôi thì bị lưu đày hơn tám năm từ nam ra bắc. Ngày trở về, Nha Trang nghèo nàn xơ xác và buồn thảm như còn phủ màu tang. Đi trên con đường Phan Bội Châu – Độc Lâp cũ , giờ đã đổi tên, bỗng dưng tôi nhớ tới người đàn bà điên ngày trước. Tôi tưởng tượng đang có rất nhiều người đàn bà điên khác, mất chồng, mất cha, mất con, mất nhà cửa sau cuộc đổi đời oan khiên bi thảm. Họ đã bị đuổi ra khỏi thành phố này hay gia đình không dám để họ chạy ra ngoài vì sợ phải rước thêm phiền lụy. Bất giác tôi rùng mình có cảm giác mọi thứ trở thành xa lạ. Thành phố này không còn là Nha Trang của tôi ngày trước nữa. Mấy tháng sau, tôi cùng vợ con xuống biển ra đi, lẵng lặng giã từ Nha Trang giữa một đêm mưa tầm tã . Dường như ông trời cũng đang sụt sùi trước cuôc chia ly.

Sau này, và cho mãi đến bây giờ, tôi không có cơ hội nào gặp lại bà cụ điên và mấy chị em Quỳnh Chi. Bà cụ thì chắc đã qua đời từ lâu rồi, còn mấy chị em Quỳnh Chi không biết trôi dạt về đâu, sau bao nhiêu thăng trầm dâu bể. Cầu mong cho tất cả đều may mắn vượt qua dông bão để có cuộc sống an bình. Riêng Quỳnh Chi, một cô gái xinh xắn, thùy mị, hiền lành, xứng đáng để có một gia đình hạnh phúc. Xin nguyện cầu bà cụ được an nghĩ nơi cõi thiên đường thênh thang nào đó, chẳng còn gì để phải bận lòng ở chốn trần thế đảo điên. Và xin tất cả, hãy cho tôi được nói một lời xin lỗi- dù rất muộn màng.

Hai anh em thằng bạn thân thiết của tôi cũng không còn ở trong ngôi nhà dưới Rộc Rau Muống. Thằng bạn vào lính sau tôi một năm và đã chết ở trận Pleime, chỉ sau bốn tháng rời khỏi quân trường Thủ Đức. Cô em gái xinh đẹp của nó, sau này không lấy chàng SVSQ Hải quân ngày xưa, mà làm vợ một đồng nghiệp. Giáng Sinh năm 70, nhân theo đơn vị tham dự một chuyến hành quân bất ngờ, giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường, tôi có dịp gặp hai vợ chồng. Cả hai đều dạy học tại Đà Lạt, đẹp đẽ hiền lành, sống rất hạnh phúc. Sau 75, vì anh chồng gốc sĩ quan biệt phái, nên cả hai đều không được “lưu dung”, phải về tá túc nhà cha mẹ chồng ở Sài gòn, buôn bán chợ trời kiếm sống. Năm 81, vợ chồng và hai đứa con mất tích trên đường vượt biển từ Rạch Giá. Tôi rất đau đớn khi biết tin này, lúc vừa mới ra tù. Nhiều lúc tôi trách ông trời, sao nỡ bất công với những con người quá hiền hậu dễ thương.

Nha Trang đã cho tôi nhiều niềm vui nhưng cũng đã để lại trong tôi bao nỗi buồn, những vết đau như vậy đó. Không biết Nha Trang bây giờ có còn đẹp và thơ mộng như ngày xưa? Vừa rồi tôi có đọc ở đâu đó, người ta xếp Nha Trang là một trong mười thành phố du lịch tồi tệ nhất thế giới. Tôi đau lòng lắm. Nhưng cho dù có đẹp đẽ, lộng lẫy hay “hoành tráng” đến đâu đi nữa, Nha Trang cũng chỉ còn trong tôi như cổ tích, một nơi chốn thần tiên cho tôi cùng đám bạn bè thơ dại, những thằng học trò của một thời quá đỗi dễ thương mà giờ đây phần đông đã chết trong chiến tranh, tù ngục, vài thằng sống sót thì cũng tản mác khắp muôn phương.

Phạm Tín An Ninh

Tương Tư

nguyensa

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia ?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay ?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh giữa đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi ?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghề thường
Cho nên đôi mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em.

Nguyên Sa