Tặng Người Áo Trắng

trandzalu

Anh chưa nhìn sao em đà cúi mặt
Để buổi chiều bẽn lẽn ở sau lưng?
Bước chân chim hình như cũng ngại ngùng
Anh sửng sốt thả rơi tình, ân hận…

Và anh biết em vẫn còn đi học
Áo trắng dài bay trong nắng vàng rưng
Phố thênh thang mộng mị tuổi mười lăm
Hồn trầm quế đan thêm mùa xuân ngọc.

Anh chưa nhìn sao em đà hấp tấp
Ướt mi chi cho xa lắc trăng rằm?
Đến mây trời cũng ngừng cuộc lang thang
Để bịn rịn theo ai về cuối ngõ…

Anh vẫn biết anh chỉ là du tử
Lẽo đẽo nhau chi rồi cũng bằng thừa
Có lẽ về nơi gác hẹp, song thưa
Ngồi gõ mộng chờ mong mùa xuân khác.

Anh chưa nhìn sao em đà cúi mặt
Hay là anh giống hệt một gã khờ?
Em – tháng giêng ngon cũng vừa bay mất
Và cuối hồn anh còn chút dư hương…

Trần Dzạ Lữ

những vì sao của một thời tuổi thơ

phamtinanninh

Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B và trước tôi một lớp, còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, hai anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.

Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này.

co-thanh-nho-300x199

Vào những mùa thi, căn nhà trọ khá oi bức và đèn điện không đủ sáng, bọn tôi thường rủ nhau đạp xe xuống bờ biển, nơi có các trụ đèn tỏa sáng, vừa học bài vừa nhìn biển trời mênh mông mà xây mộng tương lai. Có lần Minh bảo“ sau này nhất định tao sẽ chọn binh nghiệp để đọ sức cùng nắng mưa và tha hồ xông pha trận mạc”. Tôi cười đùa: “Mày nói hay như đang hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển!” (lúc ấy gánh hát Thanh Minh Thanh Nga đang diễn vở tuồng này tại rạp Minh Châu – Nha Trang).

Là bạn, nhưng dường như tất cả mọi thứ trên đời ông trời đã dành cho Minh nhiều hơn tôi: đẹp trai hơn, to con hơn, võ nghệ, đàn hát và nhất là học hành cũng giỏi hơn. Chơi đàn và đọc sách là hai món tiêu khiển của Minh. Anh đọc rất nhiều sách, từ truyện Tam Quốc Chí đến Đệ Nhi Thế Chiến, từ các sách nghiên cứu Khoa Học đến Thiên Văn Học. Trí nhớ của Minh rất tốt, anh nhớ từng chi tiết và làm bọn tôi mê mẩn mỗi lần ngồi nghe anh kể lại. Ngoài ra Minh rất tư cách, tính tình bộc trực, thẳng thắn. Một lần có tay “anh chị” ở đầu hẻm hiểu lầm, tưởng tôi làm ngã cái xe gắn máy của y, lớn tiêng ăn hiếp, Minh bênh vực tôi, ôn tồn nói điều phải trái, nhưng gã kia hung hăn ra tay trước, Minh không đánh lại, chỉ đỡ vài đòn mà hắn đã té nhào không đứng lên được. Minh đưa tay kéo hắn lên và phủi bụi đất bám trên mặt hắn. Thấy Minh võ nghệ cao cường, có khí phách và lòng hào hiệp, hắn ta phục, bắt tay xin làm bạn, đãi bọn tôi một chầu phở Hợp Lợi. Sau lần ấy, tôi mới biết bạn tôi “văn võ song toàn”.

Cứ đến mùa Hè, tôi đạp xe lên quê Minh ở chơi một vài tuần. Nhà Minh ở gần con sông chảy uốn khúc qua một vài khu xóm làng và ruộng đồng tĩnh mịch. Ban đêm, tôi theo Minh và đám bạn bè, ra cắm lều, đàn hát, câu cá và ngủ lại bên bờ sông. Khung cảnh êm đềm thơ mộng. Đêm mùa Hè, trời trong vắt, bọn tôi thường đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm trong các dải ngân hà, xem nơi nào có cái cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Minh biết tên khá nhiều các ngôi sao, và lúc ấy Minh đã dạy bọn tôi biết cách nhìn sao trời để định hướng và dự đoán cả thời tiết nữa. Minh còn giải thích về các thiên hà, tinh tú trong vũ trụ mênh mông, có những vì sao mang cái tên kèm theo một huyền thoại, rồi kể cho bọn tôi nghe truyện Les Étoiles của nhà văn Alphonse Daudet mà thầy Cung Giũ Nguyên có nói qua trong giờ Văn Học Sử Pháp. Có những vì sao sáng lấp lánh, bọn tôi đua nhau giành lấy. Ai “xí” được ngôi sao nào lóe lên trước nhất sẽ được đặt tên mình và tên một cô bạn học trò đã từng khuấy động trái tim. Trong bọn, Minh là người tìm được cho mình nhiều ngôi sao nhất. Nhưng có một điều lạ, là ngôi sao nào anh giành được và đặt tên mình, đều lóe sáng lên, nhấp nháy vài lần rồi bỗng dưng vụt tắt, biến mất trên bầu trời, giữa hằng hà tinh tú khác. Nằm chờ mãi không thấy hiện lên, Minh bèn phân thích hiện tượng này, nhưng rồi cả anh và bọn tôi đều xuýt xoa nuối tiếc.

Ngày ấy, chúng tôi đều con nhà nghèo lo đi học, chưa có người yêu và cũng không dám mơ tưởng tới chuyện yêu đương, nhưng dường như trong trái tim khờ khạo của đứa nào cũng phảng phất bóng hình một cô bạn học trò cùng lớp hoặc chung trường. Trong những lần tâm tình, hay lúc đặt tên cho những vì sao, Minh cũng thường nhắc tên một cô học trò cùng quê, học sau Minh hai lớp. Cô bé có làn da trắng, đôi môi mọng đỏ, hiền hậu dễ thương, mà bọn tôi đã gặp một đôi lần.

Xong tú tài, đang học ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn thì Minh tình nguyện vào Khóa 20 Võ Bị. Con đường võ nghiệp mà Minh đã từng nhiều lần tâm tình với đám bạn bè là anh sẽ chọn, mặc dù với khả năng, anh còn có thể tiến xa trên đường học vấn. Bạn bè có người khuyên Minh vào Trường Hải Quân ở ngay Nha Trang để được gần nhà và sau này trong các chuyến hải hành tha hồ ngắm sao trời mà đặt tên cho người tình trong mộng. Nhưng Minh nhất quyết chọn Trường Võ Bị. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, một người có khả năng, phong độ và tư cách như Minh, lại được đào tạo bởi một quân trường danh tiếng, chắc chắn sẽ trở thành một sĩ quan, một cấp chỉ huy đảm lược và mẫu mực sau này.

Đúng vào một ngày Giáng Sinh, đám bạn bè chúng tôi tiễn Minh lên Đà Lạt. Cùng nhập học Khóa 20VB với Minh còn có một số các anh cựu học sinh xuất sắc khác của trường Võ Tánh: Phạm Cang, Hoàng Văn An, Hồ Đắc Tùng, Cao Đình Phú, Quách Giám, Võ Anh Tuấn, Nguyễn Công Lắm vv. Chia tay Minh, bọn tôi cũng mỗi thằng mỗi ngã. Sau đó hơn tám tháng, tôi và hai thằng bạn khác vào quân trường Thủ Đức.

Những ngày đầu năm 1965, khi chúng tôi đang thực tập hành quân cuối khóa tại bãi tập bên bờ sông Đồng Nai, thì nghe các sĩ quan cán bộ và anh em SVSQ bàn tán về trận chiến Bình Giã rất khốc liệt. Tiểu Đoàn 30, 33 BĐQ và nhất là Tiểu Đoàn 4 TQLC bị tổn thất rất nặng nề. Cả tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng và gần 20 sĩ quan khác đã hy sinh. Chúng tôi bàng hoàng khi biết được trong số các sĩ quan tử trận có ba thiếu úy tân khoa vừa mới tốt nhiệp Khóa 19VB Đà Lạt, 1 BĐQ (Nguyễn Thái Quan) và 2 TQLC (Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng). Họ đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu đời, chỉ sau hơn hai tuần trình diện đơn vị. Đặc biệt trong số này có vị thủ khoa Võ Thành Kháng. Người sĩ quan tân khoa ưu tú đã bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời trong ngày lễ ra trường, và mang theo rất nhiều hào quang cho con đường binh nghiệp. Bọn tôi không ai quen biết anh Võ Thành Kháng cũng như các anh cùng khóa 19 VB vừa tử trận, nhưng tất cả đều ngậm ngùi tiếc thương những sĩ quan rất trẻ, chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn, nhưng vừa được đào tạo văn võ song toàn mà đã hy sinh khi chưa kịp thi thố tài năng, chưa có cơ hội để “đem hết sở tồn làm sở dụng”, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành những cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Khi ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Phan Ái Minh, người bạn thân tài hoa của tôi đang theo học Khóa 20 Đà Lạt, và tất nhiên cũng thoáng một chút âu lo cho số phận của chính mình. Cuộc chiến đang có dấu hiệu bắt đầu khốc liệt.

Một sự kiện trùng hợp đặc biệt khác làm tôi không thể nào quên. Người kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận Bình Giã và danh tánh các sĩ quan hy sinh trong trận chiến khốc liệt này là anh Dương Văn Chánh, người bạn cùng trung đội SVSQ Thủ Đức với tôi. Nhờ có người thân quen ở TQLC nên anh biết rõ từng chi tiết một. Chánh đang học ở đại học luật khoa thì nhận lệnh động viên. Tướng tá phong trần, nước da sạm đen, giọng nói khàn khàn, đôi mắt sáng, tính tình hiền lành và trầm ngâm, ít nói. Ra trường, anh là một trong số rất ít (hình như chỉ có bốn người) được chọn về binh chủng Nhảy Dù. Sau ngày mãn khóa, khi chúng tôi đã ra đơn vị và tham dự nhiều cuộc hành quân, thì Dương Văn Chánh vẫn còn đang học nhảy dù. Vậy mà đến giữa tháng 6/65, tôi bất ngờ được tin Chánh vừa hy sinh trong trận Đồng Xoài. Có lẽ đó cũng là trận đánh đầu đời của Chánh. Và cũng khi ấy, chúng tôi mới biết Chánh được bổ sung về Tiểu Đoàn 7 thuộc Chiến Đoàn 2 ND mà vị Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trương Quang Ân, là anh rể của Chánh. (Ba năm sau ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn của tôi).

Là một sĩ quan trừ bị, khi bước chân vào quân trường, Chánh không phải là người chọn binh nghiệp, nhưng với một người có nhiều khả năng và cá tính như Chánh, nhất định phải là một người lính can trường, được hầu hết bạn bè cùng khóa kỳ vọng trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này, nhưng anh đã hy sinh quá sớm. Cái chết của Chánh làm tôi lại nhớ đến bầu trời tuổi thơ ngày xưa của bọn tôi ở quê Minh, bên kia Cổ Thành Diên Khánh và mơ hồ như nhìn thấy một vì sao nữa vừa mới lóe lên rồi vụt tắt!

Khi đang hành quân ở Phú Yên, tôi nhận được thư Minh báo tin anh chuẩn bị làm lễ ra trường. Minh bảo sẽ cố gắng để được đi Nhày Dù hay TQLC, còn nếu ra Bộ Binh thì sẽ chọn về Sư Đoàn 23 để được gần tôi cùng một số bạn bè khác cho vui.

Tôi vào quân trường Thủ Đức sau hơn nửa năm nhưng lại ra đơn vị trước Minh. Vì thời gian học ở Võ Bị lúc ấy gấp ba lần ở Thủ Đức. Hơn nữa, đặc biệt so với các khóa trước, Khóa 20 VB, sau khi tốt nghiệp,còn phải theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ Dục Mỹ thêm 42 ngày.

Khoảng đầu tháng 2 năm 1966, hình như ngay sau Tết nguyên đán, tôi rất vui mừng được tin Minh bổ sung về cùng Trung Đoàn với tôi. Minh về Tiểu Đoàn 4, còn tôi đang ở Tiểu Đoàn 3. Lúc ấy, đơn vị tôi đang hành quân ở Di Linh (Lâm Đồng) còn tiểu đoàn của Minh thì hành quân ở Lạc An (Khánh Hòa). Hai đứa hẹn gặp nhau sau cuộc hành quân, uống một chầu mừng cho cuộc trùng phùng. Nhưng rồi cuộc hẹn đã không thành và tôi không bao giờ có cơ hội để được gặp lại Minh, người bạn đa tài mà tôi hằng mến mộ cả một thời đi học.

Cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh vừa kết thúc, tiểu đoàn tôi không trở lại Nha Trang như dự trù mà lại nhận lệnh di chuyển đến Phan Thiết, tăng phái cho TK Bình Thuận, phối họp với một đơn vị Thiết Kỵ của Hoa Kỳ, hành quân giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong. Một mât khu rộng lớn và địa thế hiểm trở bị Cộng quân chiếm cứ khá lâu. Tại tuyến xuất phát, tôi được anh sĩ quan truyền tin Tiểu Đoàn, cùng quê với Minh, cho biết Phan Ái Minh đã hy sinh tại Lạc An trước đó hai ngày, khi đang điều động trung đội tiến chiếm mục tiêu. Tôi bàng hoàng, xót xa khi vừa mất một người bạn mà mình hằng mến phục, quân đội cũng vừa mất đi một sĩ quan ưu tú, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi . Tôi mang hình ảnh của Minh theo suốt cuộc hành quân cam go hôm ấy. Cuộc hành quân kết thúc toàn thắng. Tôi nghĩ, có thể hình ảnh của Minh đã tạo thêm sức mạnh cho tôi để đơn vị tôi có được chiến thắng vẻ vang này.

Mấy đêm liền sau đó, tôi nằm trằn trọc nghĩ tới Minh, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Nhớ những đêm cùng Minh và đám bạn bè nằm bên bờ con sông quê dưới bầu trời lung linh những vì sao, mầu nhiệm. Bỗng tôi giật mình khi nghĩ tới một điều kỳ lạ: các vì sao mà Minh đã chọn để đặt tên mình, tất cả chỉ vừa lóe sáng lên rồi vụt tắt. Và nhớ tới người con gái nào đó, được Minh trầm trồ tha thiết đặt tên, không biết nếu nghe được câu chuyện thơ mộng này lòng cô có nhiều xúc động? Tôi (và chắc có cả Minh nữa) thầm cầu mong cho cô được tròn hạnh phúc sau này.

Khóa 20VB được bổ sung về đơn vị tôi còn có các anh Vũ Phúc Sinh, Hoàng Văn An, Cao Đình Phú, Bùi Hữu Kiệt, Dương Đình Chính, Hồ Đắc Tùng, sau này đều là những cấp chỉ huy giỏi. Anh Vũ Phúc Sinh, người cùng về TĐ 4 với Minh, đã được đặc cách lên trung úy chỉ 9 tháng sau ngày ra đơn vị, Anh Hoàng Văn An là sĩ quan đẹp trai nhất Trung Đoàn, tính tình vui vẻ, cương trực, được mọi người từ quan tới lính yêu thương. Rất tiếc là các anh đã thuyên chuyển, rời khỏi đơn vị khá sớm, sau khi nắm đại đội và đánh thắng vài trận, để lại bao luyến thương và tiếc nuối cho tất cả mọi người. Dương Đình Chính đã tử trận (mất tích) tại chiến trường Kontum đầu năm 1973, khi vừa lên nắm Tiểu Đoàn 1. Bùi Hữu Kiệt thuyên chuyển về TK Ninh Thuận, nắm một tiểu đoàn ĐPQ và hy sinh tại Bình Định cuối năm 1972 khi dắt tiểu đoàn tăng cường cho mặt trận này. Người cuối cùng còn ở lại đơn vị là anh Hồ Đắc Tùng, sau này là một tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều chiến công trong chiến thắng Kontum mùa Hè 1972.

Khóa 20 VB đã có rất nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc ở các quân, binh chủng, làm rạng danh quân lực. Một số đã thăng tiến rất nhanh, giữ các chức vụ trung đoàn trưởng BB, liên đoàn phó BĐQ. Sau này khi biết được một số trong những tên tuổi của Khóa 20 VB từng nổi danh trên các chiến trường: các anh Hoàng Mão, Lại Thế Thiết, Huỳnh Bá An, Vương Mộng Long, Phạm Cang, Quách Vĩnh Trường, Nguyễn Thái Bửu, Trương Phúc, Đoàn Minh Phương, Trương Dưỡng, Nguyễn Văn Măng, Phạm Văn Tiền…tôi luôn nghĩ đến Phan Ái Minh, người bạn đa tài của tôi, và nhớ tới những vì sao sớm vụt tắt trên bầu trời tuổi thơ của chúng tôi thuở trước.

Phạm Tín An Ninh

VÀI NÉT VỀ QUYỀN LỰC CỦA TỔNG THỐNG MỸ

ductriqueanh

Mặc dù được xem là một trong những gương mặt lãnh đạo uy quyền nhất thế giới, quyền lực của tổng thống Mỹ không phải là vô hạn định. Đó là nhờ Hoa Kỳ có một thể chế chính trị phân quyền gồm ba ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp hỗ trợ cho nhau theo mô thức “kiểm soát và cân bằng” (check and balance), và tổng thống chính là người đứng đầu của ngành hành pháp.
Theo hiến pháp Mỹ, tổng thống là nhân vật đứng đầu cơ quan hành pháp, cũng là nguyên thủ quốc gia đồng thời là tổng tư lệnh quân đội. Vai trò của ngành hành pháp là thi hành pháp luật. Do đó, trách nhiệm của tổng thống là lãnh đạo quốc gia đi theo đúng những điều luật đã ghi trong hiến pháp và các luật liên bang. Ngành hành pháp dưới quyền lãnh đạo của tổng thống có khoảng bốn triệu nhân viên, trong đó có cả quân đội. Trong một hệ thống chính trị phân quyền, hai cơ quan lập pháp và tư pháp giữ quyền kiểm soát và cân bằng quyền hạn của tổng thống. Ví dụ như trong quyền bổ nhiệm nhân sự, tổng thống được quyền bổ nhiệm các chức vụ trong nội các, đại sứ, chánh án trong tối cao pháp viện, và một số vị trí trong chính quyền liên bang. Tuy nhiên, các chức vụ này đều phải được Thượng Viện chấp thuận.
Tuy tổng thống không nằm trong ngành lập pháp, nhưng ông vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh một số điều luật, đặc biệt là lúc đảng chính trị của tổng thống chiếm đa số tại lưỡng viện Quốc Hội. Một trong những quyền hạn về mặt lập pháp của tổng thống là quyền phủ quyết. Tất cả các dự luật sau khi được thông qua tại Thượng Viện phải cần được tổng thống ký thì mới chính thức trở thành đạo luật. Nếu tổng thống phủ quyết, thì dự luật bị trả về cho Thượng Viện. Quốc Hội muốn vượt qua quyền phủ quyết của tổng thống cho một dự luật, cần phải có sự biểu quyết với hai phần ba số phiếu áp đảo và điều này sẽ trở nên rất khó khăn và tạo thêm sự căng thẳng giữa hai cơ quan ngành pháp và lập pháp.
Về mặt quân sự, tuy Quốc Hội có quyền tuyên chiến, nhưng việc lãnh đạo quân đội sẽ hoàn toàn thuộc về tổng thống. Trong vị trí là Tổng Tư Lệnh quân đội, tổng thống có quyền hạn tối cao chỉ huy quân đội và đưa ra những chiến lược quân sự cần thiết. Ngược lại, Quốc Hội có khả năng giới hạn quyền này của tổng thống qua việc kiểm soát ngân sách quân sự. Bên cạnh đó, tổng thống cũng là người hướng dẫn đường lối ngoại giao cho quốc gia. Do đó, tổng thống thường phải chịu trách nhiệm cho chính sách đối ngoại trong nhiệm kỳ của mình.
Nơi ở và làm việc của tổng thống là Tòa Bạch Ốc. Có lẽ ai cũng đã biết chiếc phi cơ dành riêng cho tổng thống được gọi là Air Force One, ngoài ra, tổng thống còn có thể sử dụng máy bay trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến được đặt tên là Marine One. Tương tự như vậy đối với Navy One, Army One, hay Coast Guard One khi tổng thống sử dụng những phương tiện này. Lương tổng thống tính đến năm 2014 là 400,000 Mỹ kim. Tổng thống đầu tiên George Washington được trả lương 25,000 Mỹ kim tương đương với khoảng 566,000 Mỹ kim hiện giờ. Ngoài mức lương chính ra, tổng thống còn được thêm 50,000 Mỹ kim tiêu xài, 100,000 Mỹ kim cho việc di chuyển và 19,000 Mỹ kim dành vào các việc giải trí. Tổng thống vẫn phải đóng thuế hàng năm như bất kỳ công dân nào khác tại Hoa Kỳ.
Để bảo vệ an ninh cho tổng thống, một đội mật vụ (secret service) có trọng trách phải theo sát và bao chung quanh tổng thống mỗi khi tổng thống xuất hiện trước quần chúng. Trước năm 1997, tất cả những vị tổng thống tiền nhiệm và gia đình đều được bảo vệ an ninh cho đến khi tổng thống qua đời. Luật đã được sửa đổi năm 1997 và những tổng thống sau này chỉ được bảo vệ trong vòng mười năm sau khi mãn nhiệm. Tổng thống Bill Clinton là người cuối cùng được hưởng quy định bảo vệ suốt đời. Tuy nhiên, vấn đề khủng bố trong những năm gần đây khiến Quốc Hội đang xem xét lại việc bảo vệ an ninh suốt đời cho các vị tổng thống tiền nhiệm vì hầu hết các cựu tổng thống sau khi rời Bạch Cung vẫn tiếp tục hoạt động khá mạnh mẽ trong các lãnh vực khác như ngoại giao, nhân quyền, xã hội, v.v.
Điều kiện căn bản để có thể ứng cử tổng thống là phải đủ 35 tuổi, là công dân sinh ra tại Hoa Kỳ và phải cư ngụ tại Hoa Kỳ ít nhất 14 năm. Nhiệm kỳ của tổng thống là bốn năm và tổng thống chỉ được nắm quyền trong hai nhiệm kỳ liên tục dựa theo Tu Chính Án 22 có hiệu lực từ năm 1951. Trước đó, việc giữ hai nhiệm kỳ chỉ là một tiền lệ do tổng thống George Washington đặt ra và được hầu hết các tổng thống sau đó theo chân nhưng không phải là luật chính thức. Tổng thống Franklin D. Roosevelt là người duy nhất thắng cử tổng cộng bốn lần. Ông lãnh đạo Hoa Kỳ từ năm 1933, vượt qua giai đoạn Đại Khủng Hoảng và Đệ Nhị Thế Chiến, cho đến khi ông qua đời vào tháng Tư năm 1945, vài tháng sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ tư.
Khác với những quốc gia có hệ thống bầu tổng thống trực tiếp, tổng thống Hoa Kỳ được bầu một cách gián tiếp. Mặc dù mọi công dân đều bỏ phiếu bầu tổng thống, nhưng tổng thống tại Hoa Kỳ thắng cử là dựa trên số phiếu của cử tri đoàn (electoral college) thay vì tổng số phiếu bầu của cử tri. Số lượng cử tri đoàn tùy vào số lượng dân biểu và thượng nghị sĩ liên bang của một tiểu bang. Ví dụ, tiểu bang California có 55 phiếu cử tri đoàn vì có 53 dân biểu liên bang (U.S Congress Member) và hai thượng nghị sĩ liên bang (U.S Senator). Những tiểu bang bé nhỏ như South Dakota chỉ có 3 phiếu cử tri đoàn vì chỉ có một dân biểu liên bang và hai thượng nghị sĩ liên bang. Số lượng dân biểu liên bang của một tiểu bang tùy theo dân số của tiểu bang đó. Như vậy, tiểu bang nào càng đông dân thì càng có thế mạnh về mặt số phiếu bầu trong cử tri đoàn.
Trong cuộc tranh cử tổng thống, kết quả được tính theo từng tiểu bang; ứng cử viên nào có số phiếu cử tri cao hơn sẽ thắng được số phiếu cử tri đoàn của tiểu bang đó, và người với số phiếu cử tri đoàn cao hơn sẽ trở thành tổng thống. Trong năm 2000, tuy phó tổng thống Al Gore có số phiếu phổ thông cao hơn (popular vote), có nghĩa là nhiều người dân bầu cho ông hơn, nhưng ông vẫn thua tổng thống George W. Bush vì bị thua phiếu của cử tri đoàn. Chính vì điều này mà trong một cuộc vận động tranh cử tổng thống, các ứng cử viên dồn nhiều nỗ lực vận động phiếu tại các tiểu bang đông dân như California, Texas, New York, Florida, v.v. để có thể thắng được nhiều phiếu cử tri đoàn hơn. Trong trường hợp các ứng cử viên tổng thống có phiếu cử tri đoàn bằng nhau, Hạ Viện sẽ bầu chọn tổng thống và Thượng viện sẽ chọn ra phó tổng thống. Tổng thống Barack Obama là tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, cũng là vị tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.
Với hệ thống dân chủ tại Hoa Kỳ, tổng thống có thể bị cách chức khi phạm các tội liên quan đến phản quốc, tham nhũng, hay những tội nghiêm trọng khác. Trong trường hợp này, Hạ Viện sẽ có quyền buộc tội tổng thống và Thượng Viện sẽ xét xử tổng thống. Trong lịch sử Hoa Kỳ, có hai tổng thống bị Hạ Viện luận tội là Andrew Johnson và Bill Clinton, nhưng cả hai đều vượt qua được. Riêng đối với tổng thống Richard Nixon về vụ Watergate, ông đã từ chức trước khi bị Hạ Viện luận tội. Đây chính là nét son của xã hội dân chủ – ngay chính tổng thống vẫn bị xét xử theo pháp luật khi phạm những sai lầm nghiêm trọng.
Với chức vụ cao nhất trong chính quyền Hoa Kỳ, tổng thống được xem là người có quyền lực nhất, nhưng hệ thống phân quyền tại Hoa Kỳ đã chia đều quyền lực của ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm tạo được sự hài hòa và cân bằng quyền lực, giúp Hoa Kỳ đứng vững cho đến ngày nay.

Tạ Đức Trí

TÙ NGỤC KHÔNG SONG

nguyenvi

Có những ngục tù không song sắt
Đi đứng buồn vui mặc xác người
Thây kệ nuốt hay rơi nước mắt
Ngoài kia ngày tháng vẫn trôi xuôi.

Có những đêm dài như ngừng lại
Lòng chông chênh đôi mắt mở trừng
Chực vùng dậy tìm trầm ngậm ngải
Nơi lời ru không chốn nương thân.

Có những lầu son ôm gác tía
Hòa âm nhuần nhuyễn khúc bi ca
Trói mình bằng dây da lễ nghĩa
Bất tách phân ý niệm chánh tà.

Xênh xang cùng ngựa xe cờ quạt
Tất tật xung quanh thảy nhạt nhòa
Nơi đó ngục tù không đói khát
Nằm ngồi trên phú quý vinh hoa.

NGUYÊN VI

NHÌN TÔI MỘT LẦN ĐI

lethanhtruong

con đường dài đôi chỗ có bóng cây
lổ đổ nắng và những ngã ba
ngã tư
ngã nhiều hướng
những ngày mưa mình đi
nước giọt trên đầu
thơm mùi lá ướt
mình đi rẽ dọc rẽ ngang mình quay lại
con đường dài có bóng cây
và vỉa hè nham nhở chật
hay vắng vẻ
ngọn đèn soi bóng mình trên nếp gạch xếp hàng
xô lệch
lẫn vào bóng lá vàng vọt phân chia
bóng gió đu đưa mình trên mặt đất

mình đi lướt qua người
những bóng người che mặt
những đôi mắt không chớp một giây nhìn thẳng
cánh tay mình đưa lên giữa chừng
xin đường hay kêu gọi
không ai
không ai
không ai nữa
đi qua mình
như những đám mây trong khúc phim time-lapse
đẩy ngày đêm náo loạn về không
thị trường mình rạn nứt

sau mí mắt nhắm lại mình nghe
giọt nước mưa môi mặn mình đọng lại
một biển lời xâm chiếm
nhìn tôi
nhìn tôi một lần đi…

LÊ THANH TRƯỜNG

Ngày Mới Ngày Lại Mới

tranvanle

Tưởng ngày mới thì thấy gì cũng mới
Thất vọng ghê! Toàn cũ rích cũ rê!
Người đàn bà đi bán dạo vĩa hè
Chạy muốn chết vì Công An rượt đuổi!
Xác ba đứa nhỏ chết trôi theo dòng suối
Từ hôm qua, không thấy nữa mặt,…giời!
Ngó lên cây Thánh Giá thấy Đức Chúa Blời
Máu còn chảy, hình như còn đang chảy?
Lát nữa đây mặt… trời nóng cháy
Hết cả núi rừng, không biết California sẽ buồn ra sao?

Người homeless còn ngủ thiếp bên rào
Ông nhà Sư ôm bình bát đứng bên hiên chợ
Xe Police chạy quanh quanh thành phố
Tất cả mọi người cùng giống: cái nhìn lơ!
Ngày sẽ qua thôi, hết sáng rồi trưa
Rồi nắng xế, rồi chiều tà, tê tái?
Hai cẳng giò của vài ba cô gái
Vẫn là cái nhìn… tiêu chí quang vinh!

Tưởng tới Việt Nam trong cảnh thái bình
Ông Thủ Tướng hô Ma De sảng khoái
Đường đi bộ ông cho xe rà rà thoải mái
Mười ngày sau Xin Lỗi với cái lẳng hoa đặt trước cái mi cờ rô!

Tất cả người Việt Nam hô:
Bác Hồ Vĩ Đại!
Những con gà mái ngó lên mặt trời ứa lệ, chúng không biết gáy thì từ nay tập gáy
Như Bà Nguyễn Thị Kim Ngân
Nhìn gần, đau thắt ruột!
Bà vung cái xô đồ ăn cho cá, cá không kịp nuốt
Ông Obama kéo bà bước đi ăn chả giò
Cuộc thi Hoa Hậu Việt Nam năm 2016 bế mạc tại Trường Đua Ngựa Phú Thọ.
Thành Phố Hồ Chí Minh Rực Rỡ đèn đỏ đèn xanh…

Trần Vấn Lệ

đường xưa

npphan

chừng như bóng nắng đã gầy
đường xưa đã vắng gót giày hào hoa
chút hư hao lẫn nhạt nhòa
còn vương vấn một lời ca võ vàng

thôi em, ngày tháng miên man
đường xưa giờ bóng thu tan mất rồi
mắt buồn một thuở lên ngôi
bước chân hào sảng đã thôi mời chào

em ơi, này khúc tiêu dao
đường xưa rồi sẽ bước vào lãng du
bàn tay xòe ngón thiên thu
ta xin em một lời ru ngàn đời

NP phan

thì là yêu

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

ví dụ như chiếc lá
em đẹp như tiếng rơi
rớt vào ta tâm tưởng
nhớ mãi một tiếng cười

mai nhỡ ngày xa nhau
anh nói thầm như thế
tình ta dường như thế
đẹp như một tiếng rơi

lúc anh nói yêu em
là khi im lặng nhất
là lúc buồn như sông
trôi qua từng sự thật

ví dụ như sương bay
ngày đồi cao có gió
môi em mầu nơ đỏ
áo đẹp trắng như mây

em đẹp chả làm gì
chỉ cho anh ngớ ngẩn
yêu em anh làm thơ
cho đến ngày khánh tận.

Ngô Yên Thái

Trăng Thu

diemchaunguyen

Càng gần đến ngày lễ Trung Thu, lòng Dung càng đầy hy vọng sẽ có dịp gặp lại con cháu ngoại của mình.
Năm nào cũng thế, cứ đến gần Trung Thu là vợ chồng Thanh đưa con Kimmy về Garland TX chơi, để thăm hai ba má hai bên, và nói cho cùng, theo lời của Thanh thì:
– Con thích ăn bánh trung thu của tiệm cháo vịt vùng ba mẹ ở nhất, vì đi nhiều nơi, con thấy mấy tiệm bánh chỗ khác làm dở lắm… không ngon như ở nơi nầy.
Con Thanh nó thích ăn bánh Trung Thu cho đến độ đã thử lên Internet, mở trang web có dạy làm loại bánh nầy để tự làm, nghe nói mất nhiều thì giờ, thử đi thử lại vài bận… nhưng sau đó thì đành lắc đầu, ỉu xìu nét mặt gọi phôn đến mẹ cho biết là thất bại…
– Con làm xong thấy dở quá, dục cho chó ăn nó cũng chê!
– Con tập làm bánh bía, mẹ nghĩ là dễ hơn…
– Bánh bía chỉ có nhân đậu xanh thì thà con mua đậu xanh ăn cho rồi…
– Con đi làm lại mắc trông cháu, thì giờ đâu mà làm!
– Cuối tuần con mới làm mẹ à…
Rồi than thở:
– Mất thì giờ kinh khủng, lại còn phải dọn dẹp bếp núc… mệt quá!
– Chỗ con ở có tiệm Việt Nam không?
– Có chợ Tàu, nhưng hiện nay tụi con sợ thức ăn làm ở Tàu lắm mẹ ơi… nhất là mấy cái bánh Trung thu, họ phải ướp đủ thứ hoá chất độc hại để giữ cho lấu mốc, lâu hư… ăn vào kinh hãi lắm, bịnh như chơi!
– Phải đó… mẹ thấy trên Web cũng có bán, chụp hình quảng cáo thấy cũng OK… nhưng ngon hay không thì mình không biết…
– Con hay thử mấy món bánh Việt và Mỹ… con thấy thích hương vị của bánh trung thu nhất, vì nó có mặn ngọt… lạp xưởng, rồi hột trái cây thập cẩm, thêm bào ngư vi cá lại càng ngon, có điều mắc quá…
Dung hứa hẹn:
– Hôm nào con về đây, mẹ sẽ mua cho con vài hộp bánh bào ngư vi cá, ăn cho đã…
Thanh khoái chí:
– Cám ơn mẹ… nhưng mẹ nhớ mua đúng cái tiệm mà con thích đó nhé… đừng mua tiệm khác là con biết liền.
– Mẹ biết rồi… mà sao cũng lạ, tiệm đó làm bánh trung thu ngon, lại quảng cáo món khác…
– Món gì mẹ?
– Thì món cháo vịt Thanh Đa chứ gì nữa…
– À há… con thấy khách tới mua bánh trung thu cũng nhiều.. có khi còn nhiều hơn ăn cháo vịt đó mẹ..
– Đúng vậy…
Chợt Thanh ngập ngừng:
– Mẹ nầy…
– Gì con…
– Lần nầy về, con có đưa theo một đứa bạn của con Kimmy nghe mẹ…
– Vậy à, nó ra sao?
– Thì cũng phá phách… nhưng nó thích chơi với con Kimmy, và chỉ có con là nó nghe lời, nên ba má nó gởi con kèm nó giùm… Đúng ra thì ba má nó ở xa, giao nó cho bà mẹ họ nuôi. Bà ở gần nhà con, mà bà ngoại nó già rồi, hay đau yếu… nó sợ con mẹ à, còn bà ngoại nó cưng quá quen rồi, không dạy cháu được… thằng bé xinh xắn lắm…
– Ừ, thì có vợ chồng con với 2 đứa nhóc cũng được, không sao hết…
Thanh nói thêm:
– Con kèm thằng John nầy đã ba năm rồi… Nhiều khi nó ăn ở luôn nhà con… Mấy năm trước không đưa về vì bà ngoại nó còn ở nhà, nay bà yếu phải vô dưỡng lão nằm điều trị vài tháng… mà ba má nó không về, nên gởi cho con giữ luôn… Bữa nào gặp mẹ sẽ biết… con nói trước cho mẹ hay…
– Ok, Ok… thêm chén thêm đũa thôi… với lại bố mẹ cũng nhớ tụi con lắm rồi, nhất là con Kimmy… Con vẫn nói tiếng Việt với nó chứ?
Thanh ngập ngừng:
– Ưmmm… nó đi học trên trường toàn bạn Mỹ… Thôi, hôm nào gặp mẹ sẽ biết…
Dung cúp phôn, hỏi thì hỏi… chứ nàng biết cháu mình chắc chỉ nói toàn tiếng Mỹ! Ba mẹ nó cứ xổ tiếng Mỹ với nhau, thì làm sao con cái nói tiếng Việt cho được!
Thôi thì mặc cho dòng đời đưa đẩy… nàng muốn cho con cháu giữ được lề lối Việt Nam, nhưng ở xa như thế nầy đành bó tay!
Mới nói chuyện với con qua phôn hôm nào, mà ngày mai là gia đình nó tới rồi. Dung thấy thời gian ở đây qua đi thật nhanh. Thấm thoát mà nay Dung đã đến tuổi bốn mươi lăm rồi! Bà ngoại mà 45 tuổi còn trẻ chán!
Con Thanh lấy chồng khi chưa xong đại học. Hai đứa nó cùng trường cùng lớp phải lòng nhau, khi ra trường thì con nhỏ đã vác cái bụng chình ình sắp sanh. Bắt buộc vợ chồng Dung phải cho chúng làm đám cưới… không thì thiên hạ cười cho thúi cái đầu!
Mà cũng lạ, sau lần đó thì lại không thấy Thanh đẻ đái gì nữa! Dung đã hỏi Thanh, thì nó trả lời giờ chỉ muốn một đứa con thôi!
– Tội nghiệp cho con Kimmy!
– Sao tội mẹ?
– Vì nó lớn lên không có anh chị em để chơi… khi mình già mất đi rồi, nó cô độc một mình…
– Cũng như con đó hả mẹ!
Câu nói của Thanh làm cho Dung cứng họng!
Hồi đó Dung cũng vì sinh kế, không muốn sanh thêm con bận bịu, dùng thuốc ngừa thai liên miên… cho đến khi nghĩ lại giật mình, thì không thể mang bầu được nữa! Cho dù hai vợ chồng làm mọi cách, nhưng Dung cứ trơ ra đó!
Cuối cùng hai người đành nói với nhau: “Có lẽ Trời cho mình chỉ có một đứa con”!
Vì thế cho nên không bao giờ Dung hối thúc hay bắt bẻ con gái mình về vấn đề sanh thêm một đứa cháu nữa! Nhưng may cho Dung là Thanh cũng là đứa biết thương mẹ.
Nhiều lần Thanh đã than với mẹ:
– Con không có chị em… buồn quá mẹ ơi…
Vơ vào câu đó, Dung mới nói:
– Con thấy không… không có chị em thì buồn lắm… mẹ thì không thể sinh sản thêm được cho con vui… Còn con, đẻ thêm vài đứa nữa rồi nghỉ… chăm tụi nó một lần, sau đó tụi nó lớn là con đỡ cực… hơn là lâu lâu sanh một đứa, thì lúc nào cũng phải vướng bận con nhỏ!
Lúc đó thì con Kimmy cũng hơn bốn tuổi… Bây giờ con cháu đã bảy tuổi, cũng chẳng thấy mẹ nó nhúc nhích gì! Chán thật!
Dung đi ngủ sớm để mai dậy ngóng con. Nàng đã nấu sẵn một nồi xôi gấc, và làm cả một trăm cuốn chả giò cua ngon đáo để… Còn bánh Trung thu, Dung sẽ đưa con tới tiệm cháo vịt cho Thanh lựa đã đời… chắc là nó vui lắm…
o o o
“Trời hồng hồng sáng trong trong, ngàn phượng rung ngoài song…”
Dung vui vẻ hát thầm trong lòng. Ở đây không có phượng đỏ, mà lại có phượng tím. Con đường phượng tím lúc nào cũng trải một lớp hoa tím đầy trong lòng đường, do những cánh hoa rơi thi nhau phủ xác thắm lên đó, trông đẹp như một bức tranh vẽ.
Con đường đó ở công viên cạnh nhà Dung. Nơi mà cộng đồng Việt Nam đã mượn chỗ để tổ chức tết trung thu sắp tới cho năm nay.
Khu công viên có căn phòng lớn để làm chỗ họp mặt cho các bô lão người Mỹ khi có dịp, và sân khấu lộ thiên cùng những hàng cây phượng tím rào quanh đẹp đáo để.
Dung quay vào bếp. Mấy đứa nhỏ cùng ông ngoại chúng nó đã chở nhau đi đâu mất, khi Dung đang đứng nấu nồi bún mọc trong bếp cho bữa trưa.
Nhìn chúng nó úp úp mở mở, lén lút như đang giấu nàng một cái gì, khiến cho Dung nghĩ ngợi… Có lẽ cha con chúng nó đang đi mua cho “bà ngoại” món quà gì đó, mà không muốn cho bà ngoại biết. Dù sao cũng gần đến ngày kỷ niệm đám cưới 30 năm rồi.
Hôm mới đến, hai đứa nhóc đứng trước mặt Dung, khoanh tay cẩn thận, cúi đầu sát rạt, miệng đứa nào cũng nói:
– Chào bà ngoại.
Thằng John cũng nói tiếng Việt câu chào y như con Kimmy. Chắc là Thanh đã dạy cho nó nói câu đó. Ngoài ra thì không còn câu nào khác.
Điều nầy cũng dễ hiểu vì chắc mẹ Kimmy đã dặn trước… chúng sợ mở miệng nói tiếng Mỹ, thì bà ngoại sẽ không hài lòng! Hai đứa cứ châu đầu vào nhau mà thì thầm nhỏ giọng. Dung không thể nghe được chúng đang nói chuyện gì, và chắc chắn bằng ngôn ngữ Mỹ chứ còn gì nữa!
Dung làm lơ, cứ lo nấu nướng, dọn dẹp… tạm quên sự quan tâm về “tiếng Việt Mến Yêu” của mình.
Ngày mai là ngày Hội Trung Thu rồi. Trẻ em sẽ tụ về mừng lễ, rước đèn và nghe nói có phát bánh free…
– Chắc là mấy cái bánh con heo nhưn đậu xanh chứ gì!
Chồng Dung hỏi, Dung gật:
– Chứ làm sao họ đủ tiền mua bánh trung thu cho tụi nó được anh! Nhưng có phần thi văn nghệ, nghe nói con nít sẽ biểu diễn hát hò vui lắm…
– Ừ… hy vọng là em sẽ vui…
– Vui chứ… tiếc rằng thằng cháu mình có nói được tiếng Việt đâu! Nhưng đi coi con người ta biểu diễn cho đỡ ấm ức trong lòng! Với lại nó thấy còn học theo…
– Em đừng có than thở như vậy… Đi ra ngoài chơi là anh thấy vui rồi, nhất là có mấy đứa trong nhà cùng đi… Vui quá là vui…
– Hồi sáng em thấy anh xách một cái túi lớn, mua cái gì mà nhiều vậy?
– Bánh Trung thu.
– Cái gì, cha con anh đi qua tiệm cháo Vịt rồi à? Sao không kêu em đi với?
– Em mắc nấu nướng gì đó không nhớ sao… Anh rủ đi chơi em đâu có đi..
– Tại em cũng muốn qua mua bánh trung thu ngon cho con Thanh. Nó thích ăn bánh bên tiệm đó. Em sẽ mua nhiều cho nó mang về…
– Thì anh đã mua cho nó rồi… công nhận bánh họ làm ngon hơn mấy chỗ khác, lại lớn nữa!
– Vậy tối mai, gia đình mình thưởng trăng, ngồi ăn bánh trung thu, uống nước trà xanh… rồi kể chuyện Hằng Nga Hậu Nghệ cho hai nhóc con nghe… Ờ… mà nó có hiểu tiếng Việt đâu mà kể!
– Không hiểu thì em khuya tay múa chân một hồi, rồi nó cũng hiểu… nó có máu nhà mình mà!
– Còn thằng kia? Nó có phải Á Đông đâu, vậy anh có nhiệm vụ làm cho thằng kia hiểu ý nghĩa của câu chuyện đêm Trung Thu Việt Nam nhé…
Rồi Dung nhỏ giọng:
– Em thấy nó ăn đồ Việt còn ngon lành hơn con Kimmy nhiều… Nó xử sự giống y như là con nhà Việt Nam vậy…
– Sao em lại nghĩ vậy?
– Nó ăn được mắm tôm với lại mắm nêm đó… trong khi chaú mình thì lại chê thối! Bữa hổm em còn thấy mấy mẹ con nó ngồi ăn sầu riêng với nhau mới ghê chứ! Thằng John còn chu cái mỏ ra nói: good, good… trong khi con Kimmy ăn có chút xíu rồi biến, còn nó với con Thanh thì lủm hết cả trái!
– Thằng Mỹ con nầy có tâm hồn ăn uống giống con gái em…
– Thì thầy nào trò nấy mà… Nó ở nhà con Thanh chắc cũng phải giống thày nó chứ! Mà nầy… anh nhớ phải có nhiệm vụ giải nghĩa cho thằng John biết về tết trung thu của trẻ em Việt nhé… Làm sao mà nó chịu ảnh hưởng Việt Nam là hay lắm.
– OK… nhưng để làm chi??? Nó đâu phải Việt Nam mà cần giữ gìn gốc gác tông ty… với lại mỗi lần em cho anh uống trà xanh, là anh hay bị tào tháo rượt chạy dài dài…
– Thì em sẽ làm trà hoa lài…
– Rồi, thằng John để anh lo…
Dung nghĩ ông chồng mình cái gì cũng nói Ok, nhưng khi cơn buồn ngủ đến, thì ổng “xù” cũng nhanh như chớp! Nhưng không sao, đã có ba má chúng giúp Dung lo vụ nầy. Dung mỉm cười khi nghĩ đến hai vợ chồng nàng từng đối thoại…
– Thằng John thì cần quái gì phải học tiếng Việt…
– Nó đang ở trong nhà con Thanh… biết đâu sau nầy nó… lấy con Kimmy thì sao!
– Đúng là em lo xa con hơn cà nông bắn! Anh thấy con Kimmy nó ăn hiếp thằng John quá trời… nó là lấy thằng John… thì tội cho thằng nhỏ!
– Ủa, anh phải về phe mình chứ! để anh coi…
Buổi chiều nhẹ nhàng nắng vàng hoe, mấy mẹ con, bà cháu rộn ràng thay đồ đi dự Tết Trung Thu.
Vì công viên gần nhà nên họ rủ nhau đi bộ cho giản gân cốt. Dung và chồng thong thả cất bước theo sau hai nhóc đang bước đi phía trước, đầu châu vào nhau thầm thì… vợ chồng Thanh thì đã qua công viên từ sớm, nghe nói là giúp Ban tổ chức làm cái gì đó…
Dung nhíu mày nhìn chồng:
– Anh, hình như em nghe hai nhóc nầy đang hát thì phải?
– Vậy sao? Tụi nó hát cũng OK mà… nhiều khi nó nói chuyện chứ hát hỏng gì!
– Em nghe như có tiếng ư ư…
– Ối, để ý tới tụi nó làm gì… có người đẹp trai đang đi bên cạnh… em lại không biết, toàn để ý chuyện gì đâu!
– Gớm… đẹp trai mà cái bụng chang bang, uống bia cho nhiều vào!
– Tướng “đại gia” vầy mà chê sao trời!
– Già mà còn xí xọn!
Hai đứa nhỏ nghe ông bà ngoại đối đáp, không biết có hiểu gì không mà quay lại cười…
Hai đứa hôm nay được mẹ diện cho thật nổi…
Kimmy áo dài hồng, quần trắng, mang guốc mộc, đầu đội nón lá nho nhỏ ra dáng một cô bé nhu mì. Thằng John thì quần tây màu xanh dương đậm, áo dài Việt, đội cái khăn đóng cùng màu với quần, trông dễ thương vô cùng, nhất là nó có mái tóc vàng quăn quăn, khuôn mặt đẹp trai thật là ngộ nghĩnh. Thằng bé có vẻ thích chí khi mặc quốc phục Việt Nam.
Tới nơi, sân khấu lộ thiên hôm nay có khá nhiều gia đình tham dự. Họ gồm có ông bà, cha mẹ, con cái cháu chắt… đưa nhau đến, một dịp để cho trẻ con nhớ về cội nguồn…
Mỗi đứa trẻ trước khi qua cổng để vào chỗ ngồi, đều được phát cho một túi quà, gồm có bánh trung thu, đúng như chồng Dung đã đoán là bánh hình con heo nhân đậu xanh, và một chiếc đèn xếp cùng đèn cầy để đi rước đèn khi ánh mặt trời tắt.
Có đứa cầm những lồng đèn hình ngôi sao, con cá, trống cơm… đây là dùng để dự thi lồng đèn đẹp nhất.
Dĩ nhiên những món nầy do chính tay ông bố hay người anh trong gia đình làm giùm, để đứa bé cầm đi thi…
Ngoài thi làm lồng đèn còn có thi hát, thi quốc phục trẻ em… Chắc tiết mục sẽ vui nhộn, hấp dẫn.
Thanh đã dành cho gia đình cô một chỗ gần sân khấu, hàng ghế thứ ba nhìn lên sân khấu cũng khá rõ, và không nổi bật quá… Tính của bố mẹ thì Thanh đã rõ… Mẹ Thanh không thích trịnh trọng thái quá sẽ bị người ta chú ý.
Thanh nghĩ hôm nay chắc bố mẹ sẽ vui và hãnh diện ghê lắm, vì Thanh cho hai đưá nhỏ, con gái và bạn của con dự tiết mục hát song ca.
Bản nhạc “Con Thương Ba Con Thương Má” ý nghĩa nầy, Thanh đã lựa chọn, thu vào đĩa, mở ra hàng trăm lần cho hai đứa nghe để học hát… Chưa kể là những lời hứa hẹn của bà mẹ trẻ, nếu hai đứa làm hay, sẽ được thưởng, dẫn đi chơi Disneyland.
Con Kimmy bắt thằng John phải học cho thuộc. Nó biết thằng bạn nó hay nghe lời, nên thằng nhỏ còn thuộc bài còn hơn cả Kimmy.
Ngoài ra, Thanh còn ghi tên cho hai đứa dự thi quốc phục nữa.
Dung cảm động bất ngờ khi thấy cháu của mình trên sân khấu, tay con bé cầm cái quạt, tay kia thì quàng vào cánh tay của John… Hai đứa vừa đi quanh sân khấu vừa nhìn nhau cười… Thiên hạ vỗ tay vang trời khi thấy thằng bé Mỹ ngộ nghĩnh với bộ đồ thuầy túy Việt Nam…
Nhìn con bé Kimmy nhún chân chào thật điệu, Dung thì thào vào tai chồng:
– Không ngờ con Thanh nó cũng biết làm những cái màn nầy…
– Chứ em tưởng chỉ có mình “bà ngoại” là hay sao!
Hai đứa cháu lọt vào vòng chung kết. Phần thi tài năng, hai đứa trình diễn bài hát Thương ba Má thật là trót lọt, không sai chữ nào… nhất là khi thằng John gân cổ: “Con thương ba là con thương má”… thì thiên hạ khoái chí vỗ tay rần rần…
Kết quả, ban giá khảo chấm thằng John nhất, con Kimmy nhì… chỉ vì thằng bé có khuôn mặt Mỹ mà hát hay, trúng giọng, lại trả lời rành rọt nói theo kiểu miền Nam: “Sáu câu vọng cổ”!
– Cha mẹ con là Mỹ, nhưng con yêu Việt Nam…
Khi thân nhân các bé được mời lên sân khấu, Thanh đại diện cho bé John, còn ông bà ngoại đại diện cho bé Kimmy.
Dung lung túng ngượng ngập muốn từ chối, nhưng nhìn ánh mắt con Kimmy rạng ngời đang đợi ông bà ngoại, nàng ráng liều mà đi lên. Họ cùng đứng trên sân khấu bên cạnh nhau…
Anh MC hỏi:
– Tôi hỏi hơi có tò mò… Xin anh chị cho biết tại sao anh chị nhìn giống y Việt Nam, mà cháu lại giống Mỹ? Có phải con ruột hay con nuôi ạ?
Thanh cười, lắc đầu:
– Cháu không phải con chúng tôi…
– Hả! Xin chị nói rõ hơn…
– Con gái tôi là Kimmy, còn cháu John là bạn cùng lớp với Kimmy. Tôi dạy thêm cho cháu John ở nhà, nên đã chỉ cho cháu nói và hát tiếng Việt…
Dung nhìn qua Thanh với ánh mắt có vẻ không tin, con bé cười, tiếp:
– Dạ phải, John biết tiếng Việt nhưng không rành cho lắm, cũng giống như con gái của tôi… chúng nó được cho đi học lớp Việt Ngữ đã ba năm nay rồi… và có thể nghe hiểu tiếng Việt, cũng như nói chuyện chút chút…
– Hay quá… theo trong tờ đơn thì chị ở tiểu bang khác đến đây, làm sao mà chị biết có chương trình nầy để cho hai cháu tham dự?
Anh MC quay qua vợ chồng Thanh, nhưng Thanh lại ra dấu cho Dung trả lời. Dung ngượng ngùng:
– Dạ hàng năm các cháu về thăm tôi, là bà ngoại của cháu Kimmy, nên chúng tôi nói cho cháu biết chương trình nầy.
– Tốt quá… xin cám ơn những câu trả lời và chúc mừng gia đình các anh chị…
Dung đi xuống, trong lòng hồi hộp như trống đánh, nhưng kèm theo nỗi mừng vui vì hai đứa cháu trúng cuộc thi quốc phục…
Thằng John được quàng một cái khăn thêu chữ Quốc Phục hạng nhất, tay ôm cái cúp vàng, dưới chân vô số phần thưởng… Cu cậu thích quá, nó giơ cái cúp lên cao, miệng hét:
– Vui quá, vui quá…
Nhờ hai đứa cháu trúng giải, vợ chồng Dung thấy vui vẻ trong lòng… Không ngờ chúng nó học tiếng Việt mà con Thanh giấu nàng. Chắc nó thấy chưa hài lòng nên chưa nói ra điều nầy cho mẹ biết, hay muốn làm mẹ ngạc nhiên.
Dung ngồi chờ lũ trẻ đi rước đèn khi ánh nắng vừa lặn đi, bóng tối bao trùm vạn vật. Vợ chồng Thanh và ông ngoại đã hợp cùng ban tổ chức đi theo giữ gìn trật tự, an ninh cho lũ trẻ…
Có đứa đốt cháy cả lồng đèn đang khóc ré lên vì tiếc! Có đứa đánh nhau vì đã lấy bánh của bạn bỏ tọt vào miệng, trong lúc bánh của nó vẫn ôm khư khư trong tay…! Mặc, đoàn rước rồng rắn vẫn lung linh màu sắc dưới ánh trăng.
Khi về đến nhà, thì đồng hồ chỉ gần mười giờ đêm! Thằng John bây giờ khăn đóng đã tuột đâu mất! Cái áo dài xanh dính một mảng nước ngọt trước ngực, quần thì lấm lem vì đi rước đèn đạp cả vào nước đọng ven đường.
Con Kimmy thì khá hơn. Con nhỏ nầy điệu hơn má nó nhiều. Áo quần vẫn nề nếp thẳng thớm… có điều bao quà của thằng John mà nó cầm giùm, thì để đâu cũng không biết, chỉ có quà của nó thôi, hỏi cũng chẳng nhớ!
Ngồi vào xa lông nghỉ mệt, lúc nầy, con Thanh mới tằng hắng:
– Hai đứa biểu diễn tiếng Việt cho ông bà ngoại nghe đi…
– Dạ…
Thằng John và Kimmy tới trước mặt Dung, khoanh tay, nói tiếng Việt rành rọt một cách… cố gắng:
– Thưa ông bà ngoại, chúng con thương ông bà lắm…
– Trời ơi, sao mấy hôm nay các cháu không nói tiếng Việt cho ông bà nghe?
Thằng John lắc đầu:
– Dạ không được… chỉ nói biểu diễn thôi…
Dung cười:
– Cha mầy, thằng Mỹ con dễ thương quá… còn Kimmy, thằng John nói rồi, tới phiên con nói cái gì đây?
– Dạ… con nói bà ngoại đẹp lắm…
– Trời đất… thiệt hay xạo đây???
– Dạ thiệt, mẹ con dạy vậy…
Ông ngoại xen vô:
– Mẹ dạy hả… vậy con thấy bà ngoại có đẹp không?
– Dạ… bà ngoại đẹp hơn ngoại thằng John…
Nghe con nói, Thanh ôm bụng cười to lên, chồng Thanh buột miệng:
– Con bé nầy, bà ngoại thằng John to như thùng phi mà đẹp gì… bà ngoại nầy mới đẹp nè…
– Dạ đúng, ngoại con to nhưng hiền lắm… nuôi con từ nhỏ tới giờ.. con thương ngoại nhiều, dù ngoại to như con voi con cũng thấy đẹp, thấy thương…
Tiếng thằng John làm cho Dung cảm động ngang xương… Nó là người Mỹ, tình cảm thì cũng như Việt Nam thôi… Nó lại nói tiếngViệt dù chưa trôi chảy…
Dung ôm hai đứa bé vào lòng:
– Các cháu giỏi lắm… bà thương lắm… Bà mong hai đứa sẽ về thăm ông bà hoài hoài nghe… và nhớ nói tiếng Việt cho giỏi nghe…
– Dạ bà…
Lần đầu tiên, Dung đi ngủ trong sự thương cảm còn tràn đầy tim… Một đứa trẻ không liên hệ máu mủ mà sao thương thế không biết!!! Thật đúng là “Tình thương không biên giới”

DIỄM CHÂU

TIỂU KHÚC

tonnuthudung

Nhịp đời trôi rất chậm
Ngày hoang mang thở dài
Giọt nắng chiều rơi muộn
Đêm thầm thì tàn phai

Những vì sao chớp mắt
Rèm mi khuya khép rồi
Con dế buồn che mặt
Tiếng muôn trùng xa xôi

Mùa hạ huyền trăng khuyết
Rơi xuống giòng sông đêm
(Nhịp đời trôi mỏi mệt
Qua từng ngày chông chênh…)

Đừng thả lời tiễn biệt
Khi cạn lòng… ly nghiêng

Tôn Nữ Thu Dung