hình như ta đợi từ lâu lắm

npphan

hình như ta đợi từ lâu lắm
mất cả trăm năm, một kiếp người
và em đã đến trong ngày mộng
vầng trăng thương nhớ thoáng đầy vơi

thuyền sao có thể rời xa bến
sông vẫn ngàn năm trôi lửng lơ
núi vẫn ngàn năm cao vời vợi
còn không lay lắt nỗi mong chờ?

hiển nhiên bao tháng năm mòn mỏi
ta vẫn là ta thuở viễn hoài
và em là mộng mơ ngày ấy
đường trần chưa vương dấu chân ai

NP phan

CƯỠI NGỌN SẤM 28

richardbotkin

pic2 (800 x 800)

Chương 23

Buổi sáng Lễ Phục Sinh tại Đông Hà

Sáng sớm Chủ Nhật ngày lễ Phục Sinh tại Vùng I Chiến Thuật
Tư gia của gia đình Ripley
Blacksburg, Virginia

Moline Ripley có cách riêng khá dễ dàng để theo dõi dấu vết của chồng trong tâm tưởng. Giờ Việt Nam đi trước giờ Virginia 12 tiếng đồng hồ. Do đó cô suy luận một cách hợp lý là khi ngày của cô bớt bận rộn thì ngày của anh chỉ mới bắt đầu.

May thay, trong khi Moline không thể hiểu được trọn vẹn thế nào là một ngày tiêu biểu hay không tiêu biểu của anh dù bất kỳ anh đang ở đâu, đặc biệt trong những ngày vừa qua, thì John Ripley lại có thể cảm thấy an tâm và thoải mái khi biết rằng ít ra vợ và mấy đứa nhỏ vẫn bình yên và được thương yêu đầy đủ trong đời sống đang ở cách anh mười hai tiếng đồng hồ và một triệu dặm xa.

Trước khi John Ripley trở về Việt Nam trong chu kỳ nhiệm vụ thứ hai ngay sau cái chết của người anh là Mike, anh đã sắp xếp cho Moline và ba đứa nhỏ – vào mùa Phục Sinh 1972, Stephen khi ấy lên sáu, Mary thiếu một tháng là đầy ba tuổi, còn Thomas vừa tròn hai tuổi – đến ở trong một căn nhà thuê tại Blacksburg. Lý do chính là họ không kiếm được căn nhà nào tốt hơn trong vùng Radford.

Trường Đại Học Virginia Polytechnic tọa lạc tại đó và chỉ cách Radford không tới mười dặm. Blacksburg là một làng đại học nhỏ, xinh xắn và có vị trí thuận tiện nhất để Moline có đủ không gian riêng tư khi nào cô cần, nhưng vẫn khá gần để cả hai ông bà nội ngoại có thể ghé thăm, giúp đỡ và vui đùa với những đứa cháu của dòng họ Ripley.

Cô em sinh đôi Marcella của Moline cũng đã lập gia đình và có con, sống ở Nashville cách xa đấy vài giờ đồng hồ lái xe. Đối với cha mẹ của Moline thì mấy đứa cháu Stephen, Mary, và Thomas là niềm vui thường xuyên của hai ông bà. Bà ngoại Blaylock hàng ngày lái xe từ Radford tới Blacksburg để đón một trong ba đứa nhóc; mỗi ngày một đứa khác nhau, và giữ nó trong vài tiếng để đỡ đần công việc cho con gái bớt vất vả nhưng chính thật để có dịp nựng nịu và cưng chiều mấy đứa cháu.

Bud và Verna Ripley biết rành về nghệ thuật trông trẻ hơn nhờ đã có mấy đứa cháu lớn hơn quanh họ cho nên cũng cưng mấy đứa nhỏ của John và Moline không kém ông bà ngoại. Bất cứ lúc nào gặp mặt, mấy đứa nhóc nhà Ripley đều là trung tâm vũ trụ của ông bà nội Bud và Verna. Cuộc sống tươi trẻ của chúng đối với họ, ngoại trừ lúc cha chúng ra đi sau ngày Giáng Sinh tuyệt vời 1971, được tràn đầy tình thương và sự chăm nom, những buổi vui chơi ngoài trời và những câu chuyện cổ tích buổi tối; và còn có cuộc viếng thăm sắp tới của Chú Thỏ Phục Sinh nữa chứ.

Stephen, nay lên sáu, đã rành chuyện trứng Phục Sinh rồi nên biết rõ sẽ phải làm gì. Đối với Mary thì đấy là mùa Phục Sinh đầu tiên mà em thực sự được thấy bánh kẹo nhiều như vậy và biết là phải đi lùng kiếm kho tàng đặc biệt ấy như thế nào. Thomas sẽ chập chững theo sau và tìm ra những thứ mà mẹ, ông bà và các anh chị em giấu vào những chỗ để bé thế nào cũng tìm ra cho dù mấy nhóc lớn kia đã lượm sạch cả rồi.

Hai cậu con trai Ripley được mẹ nhắc nhở sẽ phải thật chững chạc, riêng Stephen còn bị răn đe nữa vì là đứa lớn nhất, được căn dặn phải biết đứng ngồi tử tế và không được đùa giỡn quá trớn. Còn Mary, dĩ nhiên sẽ hết sức dễ thương trong bộ áo đầm Phục Sinh, với vớ viền ren, và đôi giầy da đen bóng mà các cô bé đều mang để trông thật nổi bật và sẽ làm mủi lòng những người đàn ông của cô. Mùa Phục Sinh năm nay chỉ có ông nội và ông ngoại mà thôi. Moline sẽ thực hiện chu đáo việc chụp hình để sau này sẽ đưa cho John coi.
Với một nách ba con, Moline không có nhiều thì giờ rảnh rỗi. Chỉ những thoáng bất chợt trong ngày, thường sau lúc Stephen đã đến trường và hai nhóc kia ngủ trưa, vào đêm khuya hay sáng sớm khi cô cầu nguyện, Moline mới có thời gian nhớ đến chồng, nhớ tới mức xót cả lòng.

Trong ngày, ngay cả khi đang trông mấy đứa nhỏ, nàng vẫn thường mở radio nghe xem có tin tức gì từ Việt Nam không. Đồng thời với sự lo lắng của một bà mẹ lúc nào cũng nghe ngóng các dấu hiệu đau ốm bất thường của con, Moline mở máy thu thanh để cố nhận ngay ra từng chữ, từng câu của xướng ngôn viên có thể cho biết những điều cần biết về người chồng ở tận phương xa.

Moline và các con của cô, mặc dù vẫn thường đều đặn đi lễ nhà thờ ở Blacksburg, nhưng vào ngày lễ Phục Sinh, họ sẽ gặp ông bà nội Ripley tại nhà thờ St. Jude tại Radford. Chính tại ngôi thánh đường này, cô và John đã làm lễ thành hôn tám năm về trước, trước khi cô biết đến cái nơi có tên là Việt Nam.

Turley và đồng đội trong hầm chỉ huy

Sáng sớm ngày lễ Phục Sinh
Căn cứ Ái Tử

Nếu như ông đã không quá bận tâm đến việc bảo toàn sự sống còn của các lực lượng đồng minh còn lại ở Vùng I Chiến Thuật, nhất là những người còn kẹt lại phía bên kia bờ sông Cam Lộ – Cửa Việt của địch; cũng như nếu ông đã không quá phí sức theo dõi ba sư đoàn bộ binh Bắc Việt, vài trung đoàn độc lập và một số lượng không rõ gồm trọng pháo và xe tăng mà Đại úy O’Toole cứ ra rả bên tai là chúng đã được dàn ra và sẵn sàng tung ra những trận đánh lớn hơn, thì may ra Trung tá Turley mới cảm nhận được sự nghiêm trọng của khối lượng hỏa lực và trách nhiệm mới bỗng dưng được giao thêm trên đôi vai một sĩ quan trung bình như ông.

Ngay trong lúc mọi chuyện đang diễn ra và trong lòng bận rộn với các băn khoăn, Gerry Turley vẫn còn thời giờ suy xét về mức độ nghiêm trọng của các trách nhiệm mới. Thẩm quyền chấm mục tiêu cho máy bay B-52 là một trọng trách. Trọng trách thật lớn là đằng khác. Ông tự nhủ không biết có người nào với cấp bậc như ông, ngay cả trong những trường hợp bất thường như vầy, đã đảm đương trách nhiệm này hay chưa. Ngay trong thời điểm này, Trung tá Gerry Turley đang sắp sửa phải thi hành, phối hợp và sử dụng một sức mạnh hỏa lực quân sự khủng khiếp hơn bất kỳ người nào khác trên toàn thế giới.

Gerry Turley hiện nắm toàn bộ sức mạnh quân sự – kỹ nghệ nổi tiếng của Hoa Kỳ trong tay. Những chiếc máy bay B-52, cùng với tàu ngầm nguyên tử Polaris và hỏa tiễn liên lục địa Minute Man hợp lại tạo nên bộ ba trong mô hình “kiềng ba chân” hạt nhân của Hoa Kỳ và đều được xem là các vũ khí chiến lược của đất nước. Việc quyết định sử dụng B-52, dù không mang bom nguyên tử, luôn luôn phải được quyết định ở cấp chỉ huy cao nhất. Vậy mà Gerry Turley đột nhiên trở thành, do vị trí tự nhiên của mình, một công cụ chiến lược quân sự quốc gia của Hoa Kỳ.

Tuy đóng một vai trò trong chiến tranh Việt Nam khác với vai trò mà nó được dự định lúc ban đầu, khả năng phi hạt nhân của chiếc B-52 vẫn còn rất ghê gớm. Những cuộc không kích trong Chiến dịch Arclight, với những chuỗi bom dài bất tận từ trên trời rơi xuống một cách bất ngờ đã gây tổn thất nặng nề cho quân Bắc Việt, nhất là về mặt tinh thần nếu việc chấm tọa độ có mức độ thông tin chính xác.

Turley không mất nhiều thời giờ chọn mục tiêu nhắm tới, điều mà ông báo cáo với những tay ở Sài Gòn là các “điểm chấn động” cho hàng ngàn và hàng ngàn trái bom ông sắp thả xuống và rơi ở đâu khi những chiếc phóng pháo cơ khổng lồ đã có mặt đúng vị trí. Mặc kệ thái độ buồn phiền của viên sĩ quan tình báo, mục tiêu đầu tiên mà Turley chọn là Thung lũng Ba Lòng bên ngoài phía Tây và phía Nam của Căn cứ Hỏa lực Sarge và Núi Ba Hồ. Ông và Đại úy O’Toole tranh luận ngắn gọn. Tom O’Toole nghĩ rằng nên khôn khéo ghìm chặt quân Bắc Việt vào mặt trận chính của họ trước. Turley lại muốn hai phần ba trong số những cuộc không kích B-52 đầu tiên phải được sử dụng để loại bỏ gọng kìm đe dọa đã được đánh giá không đúng mức nhưng thực ra khá đáng kể từ phía Tây. Những cuộc không kích còn lại sẽ được dành cho việc bảo vệ mặt trận phía Bắc của họ. Đây là lần đầu tiên kể từ khi đến ở trong hầm chỉ huy Turley mới tin rằng họ có được một cơ hội nhỏ để thành công. Lúc này chính là lúc trả đũa đây.

Quân Bắc Việt không phải là không biết chuẩn bị để đối phó với tiềm năng này của đối phương. Dù cho đến thời điểm này, thời tiết vẫn còn thuận lợi cho phe Bắc Việt, nhưng một khi thời tiết tốt trở lại và sức mạnh không quân của Đồng minh có thể được huy động toàn lực, các lực lượng không quân Hoa Kỳ và Nam Việt Nam sẽ phải đối phó với hệ thống phòng thủ phòng không đáng gờm mà quân Bắc Việt đã mang theo đến những khu vực tiền phương xa nhất của chiến trường.

Nhịp độ hoạt động trong khu vực bị thu hẹp dần còn dưới quyền kiểm soát của các lực lượng bạn ở Vùng I Chiến Thuật không thấy có dấu hiệu nào bị chậm lại. Turley và nhóm của ông tiếp tục phán đoán thông tin theo một tốc độ cho thấy tình hình chiến thuật đang phát triển gay gắt hơn. Sau sự triệt thoái của một số ít lực lượng VNCH vẫn còn sót lại ở mạn Bắc của sông Cam Lộ – Cửa Việt, Turley thấy rõ rằng giá trị chiến lược của cây cầu ở Đông Hà đang gia tăng theo từng phút một.

Thật khó mà kiểm định tình hình cho chính xác. Dường như cứ mỗi lúc chiến trường lại thay đổi, dù chỉ một chút ít. Đến bốn giờ sáng ngày lễ Phục Sinh thì Turley nhận thấy việc thông tin liên lạc từ những đơn vị tiền phương còn sót lại của Sư đoàn 3 QLVNCH và những lữ đoàn TQLC trực thuộc đã trở nên khá hơn. Các cố vấn Mỹ đang có mặt với các đơn vị tiền phương của QLVNCH và TQLC đều bắt liên lạc được qua máy điện đàm. Cho tới sáng nay chuyện này và khả năng sắp sửa được điều động các phi vụ B-52 sẽ là những món quà ngon ngọt trong giỏ kẹo Phục Sinh làm ông cảm thấy thích thú.

Đến bốn giờ sáng thì Turley có thể đếm được 10 căn cứ hỏa lực lớn đã bị quân Bắc Việt tràn ngập và chiếm mất. Ông không thể biết chính xác bao nhiêu quân khí cụ mà các lực lượng VNCH khi tháo lui đã bỏ lại và chúng có được phá hủy hay chưa, hoặc nó lại được đem ra dùng lại để chống phe ta. Chỉ còn căn cứ Mai Lộc và trại Carroll vẫn còn đứng vững trước sức tấn công của quân Bắc Việt. Bên ngoài trại Carroll, với 22 khẩu trọng pháo bao gồm bốn khẩu 175 ly quý giá, Trung đoàn 56 đang hứng chịu một áp lực khủng khiếp nhưng có thể nói họ vẫn tiếp tục chịu đựng được – dù chỉ là một cách mong manh.

Lúc đó tại trung tâm Hành Quân Chiến Thuật, tin tức liên tục đến từ mọi nguồn tạo ra sự kích động lớn nhưng không làm mất tinh thần những người vốn gần như thường xuyên phải đối phó với khối lượng thông tin căng thẳng không ngừng đổ tới. Turley, lúc này vẫn chưa khỏi hẳn bệnh tiêu chảy và cơ thể gần như mất hết cả nước. Thỉnh thoảng anh phải chạy ra ngoài để tự giải tỏa. Bất cứ lúc nào chui ra khỏi hầm trú ẩn, anh lại thấy trên Quốc Lộ 1 những khối người Việt Nam chen chúc nhau xếp hàng dài, gồm súc vật lẫn người và số tài sản ít ỏi mang theo được cứ thế dường như bất tận xuôi về hướng Nam.

Đến sáu giờ rưỡi, trong khi theo dõi mạng lưới hải pháo, Trung úy Eisenstein ghi nhận được một báo cáo bất thường. Một lực lượng Đổ bộ Đặc biệt TQLC Hoa Kỳ gồm 3.000 binh lính TQLC nghe nói đã có mặt ngoài khơi tại một nơi nào đó trong vòng hai tiếng đồng hồ hải hành. Tin này làm cho nhóm người trong Trung tâm Hành quân Chiến Thuật vui hẳn lên nhưng Turley không tin rằng số lính ấy sẽ được đưa tới chiến trường.

Việc đưa quân tác chiến Hoa Kỳ trở lại chiến trường Việt Nam là một quyết định thuộc quyền Tổng thống và sẽ không bao giờ xẩy ra nếu không có sự suy xét hết sức cẩn thận. Theo Turley thì xác suất này rất thấp. Dù vậy, tin tức về một lực lượng Đổ bộ Đặc biệt đang hiện diện ở một nơi nào đó trong vùng khiến ông cảm thấy vững bụng hơn. Nhưng điều ấy cũng giống như mua một hợp đồng bảo hiểm mà sẽ không bao giờ sử dụng trừ phi bị rơi vào tình thế xấu nhất; và mọi việc vẫn chưa đến nỗi xấu như vậy.

Có một lúc trong sáng sớm ngày Phục Sinh, Dave Brookbank chuyển cho Turley cái tin dự đoán thời tiết sắp thay đổi theo chiều thuận lợi cho họ. Dave nghĩ rằng trước khi ngày tắt nắng, Không quân thuộc Bộ Chỉ huy Không quân Chiến thuật TAC sẽ sẵn sàng trở lại. Dù gì đi chăng nữa, trận chiến vẫn còn đang tiếp diễn.

Vào lúc đúng 8 giờ 54, có một cú gọi qua mạng lưới vô tuyến chiến thuật của cả Hoa Kỳ và Việt Nam từ những đơn vị còn đang rút lui của Trung đoàn 57. Xe tăng địch đã được phát hiện trên vùng đồi cao tại căn cứ Alpha 2. Đây là sự xác nhận thực tế đầu tiên về chiến xa địch sau những ngày có các tin đồn và rất nhiều phỏng đoán. Mười sáu phút sau đó, quan sát viên trên những chiến hạm Hải quân Hoa Kỳ gần bờ biển đã có thể quan sát được những chiếc xe tăng này ở các vùng trống trải phía bắc sông Cửa Việt. Những yêu cầu khẩn về việc cho bắn hải pháo để ngăn chận sự đe dọa của thiết giáp đã được thỏa mãn ngay lập tức.

Dường như vẫn chưa đủ cho ông lo lắng, vào lúc 9 giờ 15, Gerry Turley nhận được một cú gọi riêng từ viên Đại tá Cố vấn Hoa Kỳ đang tháp tùng tướng Giai lúc này ở mãi tận phía Nam thành phố Đà Nẵng. Sau vài câu đùa cợt ngắn ngủi, viên Đại tá thông báo cho Gerry Turley: “Cuộc điện thoại này chính là lệnh cho anh phải tiếp nhận chức vụ Cố vấn Trưởng, Sư đoàn 3 Tiền Phương QLVNCH. Tổng tư lệnh Ủy ban Cố vấn Nghiên cứu Chiến trường đã ra lệnh trực tiếp cho tôi phải gọi điện thoại thẳng đến anh. Đây là một trường hợp nhiệm vụ khẩn cấp. Anh có rõ mệnh lệnh của tôi không?”

“Thưa Đại tá, tôi rõ.”

Cũng giống như lần đầu tiên ba ngày trước đó viên Đại tá đã thắng cuộc thì lần này Turley cũng chẳng có cách nào khác hơn là phải nhận lệnh. Tuy nhiên ông còn một cách tính nữa. Nhằm tự bảo vệ trường hợp các sĩ quan quân đội sau này phủ nhận cái lệnh đã đưa ra, Turley xin viên Đại tá số an sinh xã hội của ông, viết nó xuống một mẩu giấy bỏ vào túi quần trước của mình.

Cái lệnh mới từ trên xuống chẳng làm thay đổi gì mấy. Dù bây giờ có trở nên chính thức hơn nhưng nhiệm vụ của Turley cũng chẳng khác gì hết. Thật ra, ông cũng tự cho mình một khoảnh khắc hồi tưởng; nửa phần đầu dành cho câu hỏi không cần câu trả lời là “Sao lại là con, thưa Chúa?”; nửa phần sau để nhớ lại cái cảm giác bất an mà ông đã cố gạt đi trên đường bay tới Phú Bài. Turley một lần nữa lại nhớ lúc còn bé, ông đã có cái “cảm giác đó” và nó giữ ông lại, không cho tới vũng nước trong mỏ đá. Rốt cuộc, ngoài ông ra, những đứa khác đều chết đuối hết. Và một lần nữa tại Triều Tiên, khi ông không lên chuyến bay nghỉ phép dưỡng sức, máy bay đã rớt xuống ngay sau khi vừa mới cất cánh làm tất cả mọi người trên đấy đều thiệt mạng. Cỗ xe lửa hiện thời ông đang lái có lẽ, nếu như điểm số trung bình “đánh bóng chày” của ông vẫn giữ nguyên, sẽ lao thẳng xuống vực, và lần này ông chẳng còn cách nào để tự cứu mình ra khỏi sự thất bại hoàn toàn và tuyệt đối nữa.

Sự trớ trêu vẫn chưa chịu tha Gerry Turley. Chủ Nhật Phục Sinh. Khi nhìn thấy tình hình tại Vùng I Chiến Thuật mỗi lúc một tồi tệ hơn, những kẻ có thẩm quyền cấp trên dường như muốn hành xử theo kiểu Pontius Pilate, tức rửa tay rũ bỏ trách nhiệm về một chuyện càng lúc càng rõ ra là sẽ chấm dứt hoàn toàn bất lợi cho họ.

Họ đã buộc ông phải lãnh một nhiệm vụ mà chẳng ai có thể hoặc muốn chấp nhận cả. Những rủi ro cá nhân cho Turley rất lớn; rộng hơn cả những hiểm nguy hiển nhiên về mạng sống. Ông biết vì mối liên quan giữa quốc sách Việt Nam Hóa Chiến tranh của Tổng thống Nixon và các cuộc tổng tấn công toàn diện của quân Bắc Việt thì một ngày nào đó, nếu như còn sống sót, ông sẽ phải đứng trước mặt thượng cấp, rất có thể chính là vị Tổng tư lệnh Binh đoàn TQLC, để trả lời về những hành động của mình. Nhưng đó là nếu ông còn sống sót, mà dù còn sống đi chăng nữa thì từ bây giờ tới đó cũng còn lâu lắm. Lúc này ông không có đủ thời giờ để suy nghĩ vẩn vơ mặc dù trong một khoảnh khắc ngắn ngủi ông thấy thông cảm và gần gũi với nhân vật Job trong Thánh kinh Cựu Ước; bị cô lập, bị ruồng bỏ, lẻ loi, chịu đựng những cơn đau bất tận, không bạn bè hay trợ giúp, và không một ai động viên tinh thần.

Mặc dù Gerry Turley cũng muốn nổi giận hay tỏ ý bực bội về những hoàn cảnh bất lợi của mình, nhưng các tình huống không may trong những ngày vừa qua, mũi dao nóng của quân Bắc Việt đang xắn vào miếng bơ QLVNCH không cho phép ông hành động như vậy. Sự hiện diện đáng ngại của chiến xa địch đã thay đổi cục diện của toàn bộ chiến tuyến rộng 24 cây số đang bị thu hẹp lại dần. Sau khi các xe tăng địch đã tàn phá hết phía bắc sông Cam Lộ – Cửa Việt, trong vùng chẳng còn mục tiêu nào đáng cho chúng tấn công nữa.

Turley thấy ngay là mũi nhọn tiến công của chiến xa và bộ binh Bắc Việt đang nhắm thẳng tới Đông Hà. Nếu chúng vượt qua được cây cầu thì toàn bộ tỉnh Quảng Trị sẽ bị bỏ ngỏ. Một khi họ tiến tới được mức đó thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đông Hà chính là mấu chốt. Địch quân phải bị chặn đứng ngay tại nơi này. Nếu không, chấn động về tâm lý là địch đã có khả năng dùng thiết giáp tấn công các lực lượng VNCH hầu hết không được trang bị vũ khí chống xe tăng sẽ bẻ gãy hoàn toàn tuyến phỏng thủ mỏng manh mà QLVNCH đang cố gắng bám giữ.

Với quá nhiều mối đe dọa như vậy, Turley không cần suy tính lâu. Ông quyết định ngay chỉ có cách duy nhất là cho phá nổ cây cầu tại Đông Hà.

Sáng sớm Phục Sinh tại Đông Hà

Thị trấn Đông Hà sẽ không có cơ hội nằm trong danh sách những địa điểm du lịch cần ghé thăm trong vùng cực Bắc Việt Nam Cộng Hòa nếu như người Mỹ chưa từng đến chiến đấu tại Đông Nam Á. Nằm trên Quốc lộ 1, đó là vùng đất cuối cùng, tập trung khá đông người, được nhắc tới như một thị trấn địa đầu trước khi băng qua khu phi-quân-sự, cách 21 cây số về hướng Bắc để rồi bước vào vùng đất Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Với vị trí nằm chắn ngang vừa sông Cửa Việt vừa Quốc lộ 1, đồng thời là trạm cuối về hướng Đông hoặc trạm đầu về hướng Tây, tùy góc độ quan sát từ phía nào đối với Quốc lộ 9 chạy vào trong đất Lào, Đông Hà là nơi tụ họp tự nhiên của các nông dân và ngư dân để trao đổi hàng hóa ở phía bắc tỉnh Quảng Trị. Những khu chợ hàng ngày với nhiều phẩm vật trong các vùng lân cận và của ngư dân đánh cá ngoài Biển Đông, 13 cây số phía hạ lưu, đã giúp cho cư dân trong vùng dư dả các nguồn thực phẩm có chất đạm từ Vịnh Bắc Bộ.

Kể từ khi có sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam và vì là nơi gần nhất với khu phi-quân-sự, Đông Hà được các lực lượng Mỹ đặc biệt chú ý trong việc bảo vệ lãnh thổ tại các địa điểm gần nhất với biên giới đối phương. Từ năm 1965 cho đến khi những binh lính TQLC Mỹ được đưa về nhà vào năm 1971, Đông Hà cũng là nơi trú đóng của các đơn vị thuộc Tổng Hành dinh Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ. Với sự ra đời của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, các cuộc hành quân tại tỉnh Quảng Trị đã giảm xuống một cách đáng kể cho đến trưa ngày 30 tháng Ba 1972. Như để chứng minh cho tính kiên cường của người dân Việt Nam, trước khi các cuộc pháo kích bắt đầu nổ ra thì cuộc sống không đến nỗi quá tồi tệ với một nền kinh tế thị trường tương đối sôi động phát triển một cách tự nhiên; cũng giống như những vùng phía Nam Đông Hà mà Gerry Turley đã thấy lúc ông và Jim Joy bay trên trực thăng từ Phú Bài đến chưa đầy một tuần trước đó.

Vì Đông Hà gần với Biển Đông nên luôn luôn có nhu cầu về hàng hải để di chuyển người và vật liệu xuôi ngược trên con sông vốn có dòng chảy khá mạnh và sâu nơi có cây cầu bắc ngang và rồi ngoặt sang hướng Đông để đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Cây cầu bắc qua sông Cửa Việt tại Đông Hà đã có từ lâu rồi. Thực ra, hiện có tới hai cây cầu, một cái có tên là “Cầu Tây Cũ” để chỉ cây cầu được bắc lên trước đó, cách cây cầu mới và rộng hơn chưa đầy 100 thước từ phía thượng nguồn. Cây cầu lớn hơn, nguyên thủy được xây dựng cho việc lưu thông đường bộ và xe cộ đã được tái thiết lại vào năm 1967 bởi một Tiểu đoàn Công binh Hải quân Hoa Kỳ (được thế giới biết đến với cái tên là “Toán Ong Biển”).

Cây cầu mới ấy tượng trưng cho sự thông minh trong việc thiết kế và sắc sảo về kỹ thuật của người Mỹ. Được xây dựng để tồn tại một cách vĩnh viễn, con “mãnh long” làm bằng bê tông, thép và gỗ -hầu hết là thép- đã thể hiện ra bản chất của nước Hoa Kỳ, đặc biệt là sức mạnh kỹ nghệ của hai thị trấn Pittsburg và Youngstown. Dài gần 200 thước, sức chịu đựng kỳ diệu của chiếc cầu được tạo thành từ sáu thanh thép hình chữ I chạy theo chiều dọc làm nhiệm vụ của một bộ khung khổng lồ, bên trên được đặt những phiến gỗ chắc nịch, dày dặn. Năm cái trụ cầu chống đỡ toàn bộ cấu trúc lớn này được làm bằng bê tông cốt sắt. Để chống lại sự phá hoại của những tên đặc công, trên cả hai bờ phía Bắc và phía Nam, Toán Ong Biển đã thiết lập những hàng rào bằng xích sắt và dây kẽm gai dày đặc dưới gầm cầu. Nếu muốn phá hủy cái con “quái vật” ghê gớm ấy, dù trong hoàn cảnh thuận lợi nhất, cũng không phải là điều dễ dàng. Còn muốn phá hủy cây cầu trước khi quân Bắc Việt có thể chiếm đoạt được nó là điều không thể thực hiện nổi.

Nếu tay chỉ huy của đoàn chiến xa Bắc Việt, hiện có lẽ đang tập trung gần Căn cứ Alpha 2, có thái độ dứt khoát hơn, hoặc nếu như hắn ta có nghiên cứu chút ít về các vị tướng lãnh như Patton, Rommel hoặc Guderian thì hắn đã có thể là một đối thủ nguy hiểm ngoại hạng, ngoài việc chỉ nắm trong tay một sức mạnh hỏa lực có thể tạo chấn động tâm lý cho đối phương. Turley hy vọng là hắn đã được giáo dục thành một tên Cộng sản tốt, thành thử sẽ không dám mạo hiểm, và nếu là một đứa con cưng của “Cách mạng” thì hắn lại càng sợ bị kiểm thảo và bị mất mặt, điều mà các đối thủ phía Nam của hắn không bị vướng phải. Đúng là nếu như người nắm quyền chỉ huy đoàn chiến xa Bắc Việt có được một nhúm óc thực tiễn và táo bạo, với sức chống cự của QLVNCH hiện thời rất yếu ớt, hắn có thể đã ra lệnh cho đám chiến xa và lính tùng thiết yểm trợ để lên đường rồi, và chúng sẽ tràn tới bờ bắc sông Cửa Việt trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ nữa. Hoặc giả hắn không phải là kẻ dứt khoát và thuộc loại người cẩn thận, mưu mẹo, thì các đơn vị của hắn cũng có thể vượt đoạn đường 11 cây số giữa Căn cứ Alpha 2 và Đông Hà trong vòng không quá hai tiếng đồng hồ hoặc ba tiếng là tối đa. Turley không còn mấy thời gian nữa.

Turley hiểu rõ tầm mức gây kinh hoàng và chấn động tâm lý của thiết giáp. Ông biết rằng chỉ cần một trong những chiếc xe tăng T-54 do Liên Xô cung cấp vượt qua được mạn Nam của con sông thì cái khối thép khổng lồ gần 40 tấn đầy đe dọa ấy sẽ tạo ra nỗi kinh hoàng hoảng loạn vô cùng cho dân chúng đang lánh nạn và các lực lượng QLVNCH chỉ được trang bị kém cỏi trong việc chống lại xe tăng.
Trên thực tế thì những khả năng để đối phó lại của Trung tá Turley cũng khá hạn chế. Khi nhận thức được giá trị chiến lược của cây cầu, một trong những ý nghĩ đầu tiên hiện ra trong đầu ông là suy nghĩ về các nỗ lực tái chiếm cho bằng được cây cầu tối quan trọng tại thị trấn Regamen khi các lực lượng Đồng minh tiến vào phía Tây nước Đức vào đầu năm 1945. Cấp bậc Trung tá như ông không có quyền quyết định phá hủy hay bảo vệ các cây cầu nằm ngang các con nước quan trọng. Nhưng lần này thì khác một chút so với lúc quân đội Hoa Kỳ đang tìm cách vượt qua cây cầu độc nhất còn sót lại để băng qua sông Rhine vào 27 năm về trước. Chẳng phải là Turley muốn quyền uy gì cả. Không còn thời gian nữa. Ông phải ra đứng ra nhận trách nhiệm và phải hành động ngay tức khắc.
Chỉ có một cách duy nhất để phá hủy cây cầu Đông Hà. Không thể dựa vào hỏa lực không quân được. Mặc dù trước đó Thiếu tá Brookbank đã lạc quan tuyên bố rằng thời tiết sẽ được cải thiện, nhưng Turley không đủ thời gian để gọi lực lượng Không quân thuộc Bộ Chỉ huy Không quân Chiến thuật để làm việc này. Quân Bắc Việt sẽ băng qua cầu trước khi những lớp mây cho phép máy bay hoạt động được. Ngay trong lúc này, dù có quyền định mục tiêu cho B-52 thả bom, Turley cũng không bao giờ nghĩ đến việc sử dụng chúng. Không kích Arclight chỉ có độ chính xác vừa phải mà thôi, nếu ông có thể tập trung được sức bom dội xuống đúng ngay trên cầu, thì may ra mới xong chuyện. Những cuộc dội bom Arclight chỉ có hiệu quả đối với những vùng không cần sự chính xác tuyệt đối. Hơn nữa không có gì bảo đảm chỉ riêng cây cầu sẽ bị trúng bom. Tiểu đoàn 3 của Thiếu tá Lê Bá Bình và Cố vấn John Ripley hiện còn đang giữ nhiệm vụ bảo vệ Đông Hà và hàng ngàn người dân chạy loạn vẫn còn trong khu vực. Turley sẽ hân hoan thả xuống bất cứ cái gì và mọi thứ gì mà ông có trong tay vào quân Bắc Việt đang tấn công, ngay cả có thể gọi không kích ngay trên đầu mình chứ không bao giờ nghĩ đến chuyện thả bom vào những người dân đang chạy trốn; không giống như bọn Bắc Việt vẫn tiếp tục cho pháo binh cố ý nhắm vào thường dân vô tội.

Cũng vậy, ngay cả hải pháo của những con tàu đậu ngoài khơi dù có gia tăng hỏa lực đi nữa cũng không đủ sức để hạ gục cây cầu. Mặc dù hải pháo tỏ ra hữu hiệu và đã tiêu diệt được một số quân địch đang tập trung và có thể chống được đoàn chiến xa đang tiến lại gần nhưng cỡ đạn bắn ra tương đối nhỏ cũng khó phá được cây cầu. Giá như Turley có thể ra lệnh các chiến hạm USS Iowa, New Jersey, Wisconsin, và Missouri đồng loạt nã pháo trực tiếp yểm trợ thì sự thể có lẽ đã khác đi rồi. Nhưng thực tế không phải như vậy. Mơ ước chả ích gì vào lúc này. Không. Turley biết rằng chỉ có mỗi một cách để hạ cây cầu là dùng phương pháp cổ điển. Ông sẽ phải cho người mò xuống dưới gầm cầu với một khối chất nổ, người đó phải biết mình đang làm gì và quyết tâm phải làm cho bằng được. Chỉ có mỗi cách đó thôi.

Cuộc chiến trên hai mặt trận một lúc mà Gerry Turley đang đối phó chưa bao giờ rõ ràng bằng lúc này, và nỗi cô độc của nhân vật Job trong Cựu Ước trong vai trò thủ lĩnh chưa bao giờ sâu sắc hơn khi ông thông báo cho hậu cứ biết ý định phá cây cầu Đông Hà. Trong nhiều ngày qua, ông đã ra hết quyết định này đến quyết định khác về việc xử dụng hỏa lực, việc di chuyển và bố trí các lực lượng; tất cả đều là các mệnh lệnh tối quan trọng. Tất cả đều là vấn đề sống chết. Vài ngày qua, một số tướng lãnh Mỹ và Việt, ngoại trừ Tướng Giai và tay Đại tá Mỹ, ra vào hầm chỉ huy 155 soành soạch. Không một lần nào những cấp chỉ huy ấy đưa ra mệnh lệnh ngược lại với ông, ngay cả đưa ra lời hướng dẫn chiến lược cũng không. Tuy vậy, chưa đầy một phút sau khi Turley nói với người nào đó bên kia điện đàm hay đường điện thoại tới Sài Gòn hoặc Đà Nẵng về quyết định của ông sẽ cho hạ cây cầu thì có lệnh ngược lại là không được.

“Chúng ta phải giữ nó để phản công lại phía Bắc. Không được phá hủy cây cầu. Đây là mệnh lệnh, Trung tá Turley”.

Turley biết rằng nếu quân Bắc Việt mang chiến xa băng được qua cầu, thì có thể sẽ chẳng bao giờ có phản công. Và nếu trong vòng vài tiếng đồng hồ tới đây, quân Bắc Việt mà mang được đủ lực lượng qua sông thì chẳng bao lâu trong một tương lai gần sẽ không còn một nước Việt Nam Cộng Hòa nữa. Tình thế nguy hiểm đến như thế. Ông biết và tin là như thế. Những người thuộc Ban Tham mưu ở Đà Nẵng hoặc Sài Gòn, dù họ ở đâu và bất kể họ là ai, vẫn chưa hình dung nổi tình hình mong manh như thế nào tại đây. Cuộc trao đổi điện đàm không thân tình chút nào. Turley, dù đang giận dữ, vẫn hiểu được những người dưới kia vẫn chưa tin nổi, gần như không thể hiểu nổi mức độ tan rã ngoài chiến trường ra sao. Thật khó cho ông tuân lệnh khi đang ở vào tình trạng cấp bách này. Kềm chế cơn giận, ông đặt ống nghe xuống và ngưng nói. Ông biết mình cần phải làm gì. Turley và đồng đội sẽ phải chặn đứng được quân Bắc Việt hay là chết. Cây cầu sẽ phải được phá hủy.

ĐÊM NẰM NHỚ CHUYỆN ĐỜI QUA

tranvannghia

Để nhớ thời bao cấp

Đêm ru ngủ vai đời xin cứ dựa
Gió tình tang xòe quạt chỗ em nằm
Bao khốn khó một đời đau đáu nhớ
Ngoảnh lại nhìn mới đó mấy mươi năm

Mấy mươi năm sóng thời gian cuồng nộ
Đẩy phận người lận đận chuyện áo cơm
Đem chữ nghĩa thánh hiền chôn đất cỏ
Tay thư sinh chai sạn vết tủi hờn

Em tiểu thư cũng quen đời chạy chợ
Vai nông dân sau những buổi dạy về
Câu lỡ vận tháng ngày đen trang vở
Màu mực nhòe nước mắt đắng trăng khuya

Nghe gió chướng trở trời chao chát lạnh
Ôm con thơ khêu ấm bếp lửa nhà
Sao cứ mãi hô hào suông kế hoạch
Lấy gì ăn mà đẻ bảy sinh ba

Đời thật lạ điện đêm không đêm có
Thời hỗn mang heo hút ánh đèn dầu
Lòng người cũng hao mòn theo ngọn bấc
Cái khổ nghèo đeo đẳng kiếp ngựa trâu

Thôi em ngủ tựa vai người mà ngủ
Cõi nhân gian còn lắm nỗi đọa đày
Mưa sẽ xuống hạt mầm xanh sẽ nhú
Và hoa vàng đường nắng trắng bướm bay

TRẦN VĂN NGHĨA

CỔ TÍCH về NHỮNG VỤ ĐẠO THƠ

trantuan
1.
Có một ông già đi bán phở.
Xót đau một khúc cổ thi hèn
Lấy, đem gọt giũa từng câu chữ
Để tỏ lòng mình với nước non.
.
Chuyện tưởng là mây gió giữa trời,
Là sương, là bọt nước biển khơi
Đâu hay thiên hạ từ bao cõi
Nguyền rủa, vạch bươi, há họng cười!
.
Ông chỉ lặng im tủi phận mình
Cúi đầu cam chấp nhận ô danh
Hỡi ôi! Ông chẳng vì danh lợi!
Thôi thế… nhục vinh đã rõ rành!
.
2.
Có gã nhà nông nọ rất… hiền
Tháng ngày lủi thủi chốn sơn thiêng
Lâu lâu… nhớ chữ nên cầm bút
Viết lách cho tròn nợ với duyên.
.
Thơ gã làm ra để tặng đời
Tặng và ghẹo mấy nhỏ cho vui
Không đem đăng báo, in thành sách
Gã chỉ cầu mong được tiếng cười.
.
Bỗng một ngày kia gã giật mình!
Nửa đêm, có nhỏ báo hung tin…
“Ka ơi! Có một tên nhà báo
Lấy trộm thơ tình Ka… sắp in!”.
.
Gã bật tung chăn, choáng váng đầu…
Dẫu chiều… gã chẳng có nhậu đâu!
Lấy thơ… thì lấy.
Còn in sách?
Làm thế chi bằng đem… giết nhau!

TRẦN TUẤN

CƯỠI NGỌN SẤM 27

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 21: Giờ phút huy hoàng nhất của họ

Thiếu úy Nguyễn Lương nóng lòng được nhập cuộc ngay. Anh mong muốn có dịp để chứng tỏ khả năng của mình. Anh nôn nóng để tự khẳng định tài năng trước 36 quân nhân TQLC thuộc Trung đội 1 Đại đội 4 mà giờ đây anh được chỉ huy; và đối với Đại đội trưởng và vị Tiểu đoàn trưởng gần như là huyền thoại qua các câu chuyện về ông ta. Phải tự khẳng định mình là nỗi lo lớn nhất của Lương để biết rằng mình có xứng danh là “TQLC” và là thành viên trong toán Sói Biển. Thiếu úy Nguyễn Lương, giống như vị Tiểu đoàn trưởng và viên cố vấn Hoa Kỳ, cũng ngạc nhiên về việc tại sao Tiểu đoàn 3 lại được sử dụng vào một vai trò có vẻ không xứng đáng với khả năng của đơn vị là nằm mãi phía dưới này, xa hẳn các căn cứ hỏa lực và các cuộc giao tranh quan trọng.

Sự tương phản giữa Thiếu úy Nguyễn Lương vừa mới tốt nghiệp ra trường lúc nào cũng hăm hở chu toàn nhiệm vụ cũng tương tự như các thiếu úy khác trong tất cả các tổ chức quân đội trên thế giới, và các thuộc hạ TQLC trong trung đội của anh – có người còn trẻ, có người đã lớn tuổi rồi – rất lớn, lớn hơn những gì mà đa số các sĩ quan Hoa Kỳ đã trải qua. Các sĩ quan trẻ Hoa Kỳ, mới tốt nghiệp từ Quantico hay Ft. Benning ra, thường có lợi vì được dựa vào các hạ sĩ quan trẻ và các binh sĩ vì những người đó đã ở trong cái xứ này khá lâu rồi. Cũng vì họ đã sống sót được cho tới khi các ông sĩ quan trẻ đến, cho nên họ có nhiều kinh nghiệm về đường rừng và mang trong lòng một niềm hận thù sâu sắc đối với kẻ thù gian manh, xảo quyệt và độc ác.

Văn hóa người Mỹ thiên về tính cao thượng, do đó theo tình cảm tự nhiên họ quý trọng ý niệm tự do và tất cả những thứ gì khác mang tính tinh khiết. Ngoại trừ một số thanh niên Mỹ thuộc thành phần gia đình đã vượt thoát tìm tự do từ sau bức màn sắt hay từ Cuba, rất ít người sinh ra trong nước có thể hiểu nổi chủ nghĩa Cộng sản nghĩa là gì.

Trong số binh lính tình nguyện thuộc trung đội của Nguyễn Lương, là một trung đội tiêu biểu cho các trung đội khác thuộc Tiểu đoàn 3 và phần còn lại của binh chủng TQLC, có những binh sĩ TQLC kỳ cựu lẫn với các chiến sĩ dày dạn trận mạc đã từng phục vụ trong các binh chủng Nhẩy Dù, Lực Lượng Đặc Biệt và có cả một số Biệt Động Quân nữa. Một tỉ lệ khá lớn sinh trưởng từ miền Bắc và đã di cư cùng với gia đình vào trong Nam năm 1945. Trong nhóm đó, tất cả mọi người đều có những kinh nghiệm riêng tư với bọn Cộng sản và có những lý do đặc biệt để phục vụ trong quân đội. Họ không nghĩ điều gì xa hơn là ao ước có dịp được trả các mối thù cá nhân hoặc của gia đình; một chuyện hoàn toàn ngoài sự hiểu biết của người Mỹ.

Nhóm hơn 700 chiến sĩ của Tiểu đoàn 3 TQLC đã sẵn sàng. Họ gồm cánh Alpha của Thiếu tá Bình, Đại úy Ripley, Nhã và hai trong số bốn đại đội bộ binh, cộng thêm Đại đội súng cối đóng tại căn cứ hỏa lực Nancy; và cánh Bravo, gồm hai Đại đội còn lại đóng tại căn cứ hỏa lực Barbara. Mọi cấp chỉ huy, từ cấp cao nhất xuống đến cấp thấp nhất và mới ra trường giống như Thiếu úy Lương, rõ ràng là họ đã sẵn sàng cho cuộc đụng độ sắp diễn ra, mà là đụng nặng. Từ vị trí gần sông Mỹ Chánh, vào buổi trưa ngày 30 tháng Ba, họ nhận được lệnh đảm nhận vai trò làm lực lượng trừ bị cho Sư đoàn 3 và phải di chuyển lập tức bằng mọi phương tiện nhanh nhất đến thành phố Đông Hà. Đêm hôm đó họ nhanh chóng chiếm lĩnh mục tiêu mới bằng đủ loại xe vận tải khác nhau.

Ngoại trừ trong những giai đoạn dưỡng quân hay tái phối trí tại Thủ Đức, ít ra là trong khoảng thời gian Ripley ở với toán Sói Biển, Tiểu đoàn 3 không bao giờ đứng ngoài lề các cuộc giao tranh trọng yếu. Được đảm trách là đơn vị trừ bị cho Sư đoàn 3 Bộ Binh không phải là chuyện đùa. Khi mặt trời ló dạng vào ngày 31 tháng Ba và cho thấy một sự tàn phá qui mô, có hệ thống đang diễn ra, ngay lập tức mọi người hiểu được rõ rệt là trận đánh lớn sắp nổ ra.

Đông Hà, nằm vào khoảng 12 dặm phía dưới khu phi-quân-sự, hiện đang chịu đựng cơn pháo kích gần như không ngừng của hỏa tiễn và pháo binh địch. Lực lượng bộ binh Bắc Việt vẫn còn xa vào khoảng ít nhất tám hay chín dặm ở phía Bắc cứ điểm Alpha 2 nhưng điều hiển nhiên là chúng đang tràn xuống phía này.

Chính cái tỉnh lỵ Đông Hà này thì hoàn toàn không có gì đáng kể. Điều đã làm cho thành phố này trở thành quan trọng đối với TQLC đang bảo vệ nó trước việc đang sửa soạn tấn công của quân Bắc Việt là vì nó nằm chắn ngang cây cầu chính bắc qua sông Cửa Việt trên Quốc lộ 1, là con đường được xây dựng dưới sự giám sát của người Pháp từ nhiều năm trước, chạy dọc suốt chiều dài của cả nước Việt Nam. (Một cây cầu thứ hai cũng được bắc ngang sông Cửa Việt có thể chịu đựng được chiến xa nằm vào khoảng 10 dặm về phía Tây Cam Lộ. Giữa hai chiếc cầu này thì cây cầu Đông Hà quan trọng hơn về mặt giao thông thương mãi và quân sự. Vào khoảng non một trăm thước trên thượng nguồn tính từ cầu Đông Hà có một chiếc cầu nữa cũ và nhỏ hơn nhiều mà người ta gọi là “Cầu Tây Cũ.” Cầu này có thể đi bộ được và chỉ đủ chiều rộng cho một chiếc xe jeep chạy qua nếu không có xe ngược chiều lại. Cách đó khoảng hơn một cây số về phía Tây là một cây cầu cũ của con đường sắt Hà Nội – Sài Gòn nay không còn sử dụng được nữa. (Chiếc cầu này có một nhịp đã bị sập xuống nước mà hiện giờ người ta coi như không thể qua lại được). Nếu quân Bắc Việt kiểm soát được cầu Đông Hà, bọn chúng sẽ có một cửa ngõ tuyệt đối mở xuống toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Với thời tiết xấu làm giới hạn khả năng của không quân Đồng minh, không chận được bước tiến của kẻ thù, quân Bắc Việt hy vọng sẽ đưa được đủ lực lượng xuống phía Nam trước khi trời quang mây tạnh. Nếu thực hiện được điều này, chúng sẽ giáng được một đòn độc hại nghiêm trọng xuống chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Lợi thế duy nhất hiện nay quân Đồng minh có được tại Đông Hà là tỉnh lỵ này nằm trong tầm hải pháo của một số khu trục hạm Hoa Kỳ đang tuần tiễu sát bờ biển càng lúc càng đông hơn.

Đông Hà cũng là đoạn chót từ hướng Đông của Quốc lộ 9 chạy qua phía Tây, vượt qua nhiều căn cứ hỏa lực trọng yếu, ngang qua Khe Sanh và cuối cùng chạy qua bên Lào. Trong chu kỳ nhiệm vụ trước với Lima 3/3, John Ripley đã từng lái xe công vụ rất nhiều lần trên con đường hiểm nghèo này. Từ Đông Hà, Tiểu đoàn Sói Biển đang ở vào một vị trí lý tưởng để tiếp viện cho Sư đoàn 3 bất cứ chỗ nào mà Tướng Giai yêu cầu.

Tiểu đoàn 3 chia thành hai cánh Alpha và Bravo giống như các tiểu đoàn TQLC anh em khác. Họ chiếm lĩnh các vị trí khác nhau trong tỉnh lỵ và nằm đợi lệnh. Khi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh dần tàn, các chiến sĩ TQLC của Bình vẫn không thể nào dỗ được giấc ngủ bởi tiếng pháo kích liên tục nhưng họ cố làm tất cả những thứ gì có thể làm được để giữ gìn sức khỏe và sửa soạn cho trận đánh chắc chắn sẽ xảy ra.

Trở lại với Turley và hoạt động tại TTHQCT

Hầm trú ẩn của Toán 155 tại Ái Tử (khoảng chừng năm dặm phía Nam Đông Hà), mà trước đó không lâu là Trung tâm Hành quân Chiến thuật của Sư đoàn 101 Nhẩy Dù Hoa Kỳ lừng danh, mãi cho tới khi chương trình Việt Nam hóa chiến tranh phát triển thì nó bị buộc phải đóng cửa và rút ra khỏi chiến trường, hiện bận rộn như một tổ ong vò vẽ. Bên ngoài hầm, từng khoảng lớn của căn cứ hỏa lực Ái Tử đang bốc lửa dưới cơn pháo kích liên hồi và chính xác đến chết người của quân Bắc Việt.

Trung tá Gerry Turley chịu trách nhiệm một số vấn đề khác nhau một trời một vực và mỗi chuyện đều đòi hỏi một sự tập trung, quan tâm rất lớn. Gerry vẫn cố hết sức mình làm tròn nhiệm vụ để giữ tất cả mọi vấn đề chiến thuật và tiếp vận còn trong tầm kiểm soát cho tới khi nào mọi nơi đều bị quân Bắc Việt tràn ngập và chính ông ta bị giết ngay tại chỗ hoặc bằng cách nào đó được bốc ra khỏi cái trách nhiệm đổ lên đầu ông một cách vô lý như vậy.

Nhiều tiếng đồng hồ trôi qua trong cuộc chiến đấu để đời, Gerry vẫn không có ý niệm nào rõ ràng về số phận của khoảng 30 người mà hiện giờ ông đang chỉ huy, cũng như không biết họ đang thực sự ở đâu nữa. Ông bắt đầu lập danh sách tất cả các cố vấn Hoa Kỳ hiện đang có mặt ở Vùng I Chiến Thuật. Chắc phải có cách nào đó để theo dõi trong tình huống họ bị đánh phủ đầu, bị bắt hay bị giết chết. Đối với những người ông đang quan tâm, niềm tin của ông vào những người không phải là TQLC trong thời khắc này đã bị giảm đi rất nhiều, qua trường hợp của chính vị sĩ quan mà ông vừa thay thế. May mắn thay, hầu hết những người khác sẽ trở nên hữu sự hơn trong những ngày kế tiếp và chứng tỏ họ cứng cỏi hơn nhiều trong lúc trận đánh đang diễn tiến.

Trong những TQLC tại TTHQCT, Gerry dựa nhiều nhất vào vào Đại úy J.D. Murray, một tay chuyên nghiệp thứ thiệt đã từng được tặng thưởng huân chương Navy Cross qua những chiến công trước kia. Cùng hiện diện trong hầm có một toán Chấm Tọa độ Hải pháo gồm hai người mà trưởng toán một tay trung úy cứng cỏi và sắc bén tên là Joel Eisenstein.

Trung úy Joel Eisenstein, sau này hóa ra là một nhân vật tối quan trọng trong sự diễn tiến của các sự kiện then chốt trong những ngày sắp tới, là một sĩ quan gan lì, hoạt bát và năng động mới chỉ 26 tuổi, quê ở Missouri. Với ba lục cá nguyệt học trình luật trong túi, Eisenstein đã chọn tình nguyện vào TQLC sau khi nhận được lệnh động viên. Là một người cuồng nhiệt trong niềm tin, anh có được cái tính chính xác lạnh lùng của một tay luật sư công tố thâm niên chỉ lên tiếng cho những điều đáng được bảo vệ. Anh hoàn toàn không ngại ngùng khi phải đụng độ với những người thâm niên hơn anh nhằm theo đuổi cho sự thành công của nhiệm vụ và săn sóc các TQLC mà anh hiện đang chịu trách nhiệm ngoài cứ điểm Alpha 2. Từng phút một, họ đang càng lúc càng có vẻ bị cô lập và sắp sửa bị bao vây bởi quân Bắc Việt đang trên đường tấn công. Anh và viên trung úy tại Alpha 2 chỉ huy toán đã bắt đầu sửa soạn cho một cuộc triệt thoái cái nhóm tí hon không trực thuộc bất kỳ đơn vị VNCH hay TQLC Hoa Kỳ nào cả.

Trận chiến mà Turley, Murray, Eisenstein và tất cả những người khác trong hầm trú ẩn TTHQCT đang phải đương đầu dường như không hề giảm bớt. Tình hình rất căng thẳng tại tất cả các vị trí của Quân lực VNCH và TQLC mà tụi Bắc Việt đã biết rất rõ. Nơi này có thể tệ hại hơn nơi khác nhưng không có vị trí nào trong tầm pháo kích của địch quân mà không bị thiệt hại cả.

Trong hầm trú ẩn của Toán 155
Ái Tử, tỉnh Quảng Trị
Đúng 4 giờ sáng ngày 1 tháng Tư 1972

Lúc này đã là xế trưa ngày thứ Sáu tại quê nhà và Gerry tự ép mình trong một phút phù du xa hoa để cố hình dung ra Bunny và mấy đứa trẻ giờ ra sao. Tuần này chúng được nghỉ học vì lễ Phục Sinh và tha hồ làm những gì chúng đang làm bây giờ. Giờ ở nhà đi trước 15 tiếng, tức lúc này là xế trưa thứ Sáu – ngày lãnh lương – và Bunny chắc hẳn đang nhập đoàn với vô số các bà vợ TQLC khác trong khu quân nhu trong trại Pendleton để mua sắm đồ dùng cho gia đình. Ngoài cái xe đẩy thông lệ chất đầy thức ăn, lần này chắc có thêm một vài món cho ngày lễ Phục Sinh nữa. Chris và Bob đã gần đến cái tuổi đủ lớn để không còn thích mấy quả trứng tô mầu nữa nhưng chắc chưa đâu. Sau đó thì nàng sẽ phải mua tất cả một loạt các thứ bắt buộc phải có màu vàng như kẹo đường dẻo Peeps màu vàng bọc đường, trứng Robin và kẹo dẻo trứng chim. Mọi người chắc sẽ xuống San Diego rước lễ trong ngày Chủ Nhật Phục Sinh cùng với gia đình và cố gắng có một buổi lễ thật vui mặc dù bố Gerry vẫn còn ở Việt Nam và Anne thì ở xa trong trường huấn luyện y tá.

Vì mới chỉ là trưa thứ Sáu ở Mỹ nên Gerry biết chắc là nếu MACV trong Sài Gòn chưa có vẻ gì là lo lắng lắm về những chuyện đang xảy ra tại Vùng I Chiến Thuật thì cái tờ báo San Diego Union mà Bunny hằng ngày đọc rất kỹ để xem có gì gợi ý trong các tin tức có thể cho nàng biết manh mối về chồng ra sao, sẽ không thể lộ được gì về trận đánh mà Gerry đang bị lôi vào ở ngay trong lòng.

Gerry thoáng cười thầm khi nghĩ đến lời tiên tri không dự tính trước mà ông đã viết trong lá thư cuối cùng gởi về nhà trước chuyến đi dự tính bốn ngày từ Sài Gòn lên miền Bắc. Ông bảo vợ: “Đừng có lo lắng gì nếu em không nghe tin tức của anh trong vài ngày nữa…” Nếu tình hình hiện tại không đảo ngược, ông có thể sẽ bị giết hay bị cầm tù trước khi vợ ông nhận được lá thư, hiện chắc phải vài ngày nữa mới tới tay.

Trở lại trong hầm trú ẩn

Gerry Turley không hề chợp mắt từ khi các cuộc tấn công bắt đầu, bây giờ đã trải qua gần 48 tiếng đồng hồ rồi. Ông khá ngạc nhiên lại cảm thấy mình khoẻ khoắn và minh mẫn trong cái tình thế bất thường này.

Vào khoảng bốn giờ sáng ngày thứ Bẩy 1 tháng Tư, bởi các lý do nào đó mà phe Đồng minh chẳng ai biết, tình hình tự dưng tạm lắng dịu, đủ thời gian để Gerry kiểm điểm lại tất cả những chuyện đã xảy ra từ lúc Cộng sản bắt đầu tấn công.

Không có thứ gì trong hầm có thể cho mọi người biết đã sang một ngày mới, ngoại trừ một vài cái đồng hồ trên tường và những chiếc đồng hồ đeo tay của mỗi người. Không có tin tức mới nào tốt đẹp hay vui vẻ cả. Thật khó mà lạc quan được, thế mà Trung tá Turley can đảm chấp nhận cái trách nhiệm chưa từng thấy đang đổ lên đầu mình. Ông là một quân nhân chuyên nghiệp và có quá nhiều thứ đang bị đe dọa. Bao nhiêu là cặp mắt đang hướng về ông cho nên Gerry không thể lộ ra điều gì mà phải chú tâm vào việc cứu vãn cái tình hình đang tồi tệ dần.

Bước vào ngày mới, ông phải kiểm điểm và xem xét lại tất cả những gì đã xảy ra từ lúc ông bị bó buộc bỏ mất món tráng miệng trong buổi ăn trưa ba ngày trước đó. Ông chỉ có đủ thời gian tính toán một cách lạnh lùng; không còn cái xa xỉ để tìm hứng, suy ngẫm, hay xem xét hời hợt các khả năng khác nhau. Mỗi quyết định đều là vấn đề sinh tử, giống như một bác sĩ giải phẫu đơn độc có quá nhiều bệnh nhân cần săn sóc. Gerry buộc phải chọn lựa và phân loại các sự phán đoán của mình.

Từ phía Bắc ngoài khu phi-quân-sự và phía Tây bên Lào, quân Bắc Việt tiếp tục tạo áp lực không nương tay trên tất cả các vị trí của các đơn vị Quân lực VNCH và TQLC. Cho tới lúc này thời tiết vẫn còn xấu cho nên không có cách nào gọi phi pháo để giảm áp lực cho các đơn vị phòng thủ. Pháo binh VNCH phản pháo vô hiệu quả và trong hầu hết trường hợp là bất khả dụng. Nguồn hỏa lực yểm trợ duy nhất là hải pháo từ các chiến hạm đậu ngoài cửa sông Cửa Việt bây giờ đã tăng lên bốn chiếc.

Gerry không hề biết là chỉ huy trưởng chiếc Buchanan đã bắt đầu gởi các báo cáo tình hình chiến sự về cho cấp trên là bộ phận CINCPAC đóng tại Trân Châu Cảng ở cách xa đó năm ngàn dặm. Những bản báo cáo này vẽ lên một bức tranh về tình hình càng lúc càng tuyệt vọng tại miền Bắc tạo ra một sự thất vọng, bối rối và sau đó là ngượng ngùng cho nhóm nhân viên MACV tại Sài Gòn. Cho tới thời điểm này và chỉ cách xa đó ba trăm dặm, các cấp chỉ huy MACV và Quân lực VNCH vẫn chưa chịu chấp nhận là sự nghiêm trọng của tình hình đang ập lên chính họ và các đơn vị VNCH đang tham gia trong trận chiến.

Thêm vào nữa là sự nhắc đến liên tục về một Trung tá TQLC Hoa Kỳ tên là Gerry Turley, có vẻ như đang chỉ huy toán 155 Cố vấn quân sự thuộc TTHQCT của Sư đoàn 3 BB VNCH, đã được chú ý đến. Vì lý do lịch sự đối với đơn vị bạn, CINCPAC (tuy không thể nào biết chuyện không có sự liên lạc nào giữa các đơn vị ở Vùng I và Sài Gòn hay không) bắt đầu chuyển các báo cáo của chiến hạm Buchanan qua cho tướng Abrams và nhân sự của ông tại MACV. Chỉ qua các báo cáo lạ lùng đó mà nhóm MACV lần đầu tiên mới biết đến một tay TQLC họ chưa từng nghe đến bao giờ hiện đang đảm nhận một cách khó hiểu cái trách nhiệm về một tình thế hiện đã vượt ra khỏi tầm tay, trong khi họ không hề có một khái niệm nào về những diễn biến cả. Những sĩ quan cao cấp của MACV và Quân lực VNCH tại Sài Gòn cuối cùng buộc phải công nhận, trái với định kiến cố chấp trong đầu của họ, là tình hình phía Bắc có lẽ nghiêm trọng hơn là một biến cố nhỏ hay đòn nhử chiến lược của địch quân. Hậu quả ngược trở lại của thực tế đó chẳng bao lâu sau sẽ đè nặng lên Gerry Turley.

Không ai có thể ngờ rằng họ đang chứng kiến các loạt pháo mở màn cho một chiến dịch tấn công lớn nhất của địch quân trong suốt cuộc chiến Việt Nam. Trận đánh này lớn hơn cả biến cố Tết Mậu Thân khi mà Walter Cronkite – được coi là con người đáng tin cậy nhất tại Hoa Kỳ – đã tuyên bố là quân đội Hoa Kỳ sẽ thất trận tại Khe Sanh.

Từ vị trí thích hợp và sôi động của Gerry trong chiến cuộc với đầy đủ các thông tin, ông thấy sự cố tình chậm trễ loan báo các tin tức xấu của Quân lực VNCH mà ông đánh giá là do sự mất mặt do bị đánh bất ngờ cùng với tình trạng lơ là trong thời gian kỳ nghỉ trước lễ Phục Sinh đã giúp cho kẻ thù hoàn tất được các mục tiêu chiến lược của chúng. (Về sau này mới biết là có nhiều sĩ quan chủ chốt Hoa Kỳ và Quân lực VNCH đã đi nghỉ phép cuối tuần trước khi các cuộc tấn công bắt đầu).

Trong những khoảnh khắc giữa những lúc quan sát các vấn đề đó, Gerry vẫn không thể nào hiểu nổi cái thực tế đã xảy ra cho ông. Không đầy 48 giờ đồng hồ trước đây, ông chỉ là một viên phụ tá cho Cố vấn trưởng TQLC đến đây để thăm chừng một chục cố vấn quân sự khác, giao thư từ cho họ và xem xét tình hình chiến sự ra sao. Giờ đây có vẻ như ông đang ở trung tâm điểm của một trận đánh báo hiệu tận thế tới nơi rồi, và mặc nhiên được toàn quyền ra tất cả các quyết định mà ông biết là chưa chính thức được quyền làm như vậy. Trông thì tưởng chừng như là một điều hoang tưởng, nhưng ông biết chỉ có các sĩ quan TQLC mới hiểu nổi, điều làm ông lo ngại nhất không phải là cái chết của bản thân mình. Sự lo lắng của ông cùng với các trách nhiệm càng lúc càng nhiều, là liệu sau này các hành động và tinh thần chỉ huy của ông sẽ được phán xét như thế nào đối với những người còn lại – đặc biệt là nếu ông bị tử thương và còn bị thua trận. Điều mà Gerry Turley không bao giờ muốn là bôi nhọ danh dự của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ. Người ta thường nói chiến thắng có hàng ngàn người cha nhưng thất bại chỉ là một đứa con vô thừa nhận. May mắn hay không cũng vậy nhưng tình hình diễn tiến như thế thì Gerry cũng không có thời giờ nhiều để mà suy tư về những vấn đề đó. Thắng hay bại, Gerry vẫn sẽ là cái nhân vật trong đấu trường như trong một trích dẫn nổi tiếng của Teddy Roosevelt. Ông sẽ tập trung vào những chuyện có thể thay đổi được và bỏ những phần còn lại cho các bình luận gia, các vấn đề khác để sau này sẽ tính. Nếu ông sống sót nổi. Hiện tại ông có một trận đánh đang phải đương đầu.

Tình trạng tạm lắng chẳng bao lâu nữa thì chấm dứt. Khắp các ranh giới phía Bắc và phía Tây thuộc Vùng I Chiến Thuật đang co cụm lại, các căn cứ hỏa lực Đồng minh tiếp tục bị tan tác dần, chỗ này nhanh hơn chỗ kia. Chẳng có nơi nào trên tấm bản đồ cho thấy quân ta đang thắng trận cả. Các đơn vị bạn có khá lắm thì thua chậm hơn một chút.

Tình hình đã xấu lắm rồi đối với quân Đồng minh nhưng rồi lại trở nên tồi tệ hơn nữa. Hiệp hai sắp mở màn. Toàn bộ lực lượng của bốn sư đoàn quân Bắc Việt cùng với hàng trăm khẩu trọng pháo đã di chuyển vào vị trí chiến đấu gần nhất. Mặc dù các sự đánh phá từ đầu đã quá ác liệt, nhưng các trận chiến khởi đầu này mới chỉ là trò mở màn của một đội banh thiếu niên chơi trước khi đội thứ thiệt ra sân.

Tuốt trên cứ điểm Alpha 2 tình hình đang tiến triển rất nghiêm trọng. Khác với các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ được chỉ định rõ rệt làm cố vấn cho các trung đoàn hay tiểu đoàn cho các đơn vị TQLC và trực thuộc quân số của họ, sống chết, chiến đấu cùng với họ, cái toán năm người Chấm Tọa độ Hải pháo tại Alpha 2 chỉ hoạt động riêng lẻ một mình. Không có đơn vị TQLC nào tại Alpha 2 và lực lượng VNCH tại đó tỏ ra không nhiệt tình để quyết chiến bảo vệ căn cứ lắm.

Trung úy Joel Eisenstein không hề quên tình trạng mong manh của Alpha 2. Các TQLC Hoa Kỳ tại đó là người của anh. Sĩ quan trưởng nhóm là Trung úy David Bruggeman. Anh này vẫn báo cho Eisenstein về tình hình ra sao và tối ngày 31 tháng Ba cả hai đã nói chuyện với nhau qua tần số truyền tin bảo mật về khả năng cần phải rút khẩn cấp nhóm quân nhân đó.

Vào sáng sớm ngày thứ Bẩy, Eisenstein đã tới gặp viên Đại tá Quân đội, lúc đó đang ở tại phía sau hầm trú ẩn cùng với Tướng Giai. Viên Đại tá nói với ông là nên có kế hoạch nhưng không được phát động nó nếu không có sự chấp nhận của ông. Eisenstein bắt tay ngay vào hành động.

Vấn đề mấu chốt cho việc rút lui đặc biệt này là sự phối hợp giữa trực thăng và hải pháo. Các nguy cơ thì rất cao. Điển hình cho phương cách chiến đấu của người Mỹ là họ điều động rất nhiều người và phương tiện quý giá khác chỉ để cứu một lực lượng nhỏ hơn. Joel Eisnstein sẽ là sĩ quan trưởng toán cứu viện và chỉ huy công tác cả trên không khi họ tới nơi và ở dưới đất khi họ đáp xuống. Mặc dù tình thế dự kiến sẽ xấu vô cùng cả trên đường bay vào căn cứ lẫn tình hình trận địa tại Alpha 2, các phi công trực thăng Hoa Kỳ không đợi phải bị thúc giục, họ nhận lời công tác ngay. Họ bàn tán với nhau làm sao để thực hiện tốt nhất việc cứu viện. Đến sáng sớm ngày 1 tháng Tư thì kế hoạch căn bản đã hình thành, Eisenstein chỉ cần lệnh cho phép là đi thôi.

Tình hình trong hầm trú ẩn của Toán 155 vào sáng sớm ngày thứ Bẩy căng thẳng một cách đặc biệt. Mặc dù trên thực tế Gerry đã điều hành mọi chuyện từ lúc được bổ nhiệm bởi cố vấn trưởng của Tướng Giai, ông Đại tá quân đội vẫn giữ quyền chỉ huy trên danh nghĩa – dù ông không bao giờ hỏi hay cãi lại bất kỳ lệnh nào của Gerry – đối với các nhân sự khi họ có mặt tại đó, nhất là các nhân viên VNCH. Vấn đề khó khăn nhất dưới quan điểm của người Mỹ, được tạo ra bởi sự cố gắng hòa hợp giữa các sĩ quan Hoa Kỳ và VNCH lại với nhau là cái cung cách của người Á châu không dám quyết định điều gì nếu không được sự chấp thuận rõ ràng của chỉ huy trưởng. Lúc này thì Tướng Giai đang vắng mặt khá lâu khi đi thăm các đơn vị đang đụng độ, do đó các quyết định then chốt thường bị chậm trễ vì họ sợ đi ngược lại ý muốn của ông và từ đó sẽ bị mất mặt. Gerry Turley biết được điều này và nó làm ông hết sức thất vọng. Với tương quan chỉ huy kỳ cục và không xác định rõ rệt như vậy, mặc dù sau khi đã điều hành mọi chuyện, phối hợp các nhân sự và các phương tiện khá tốt rồi trong suốt hai ngày vừa qua, Gerry vẫn cảm thấy mình chỉ là một người giúp việc, một người thừa hành; tức là một thứ “băng keo cứu cấp” dán tạm trong khi chờ đợi được thay thế bằng một cuộc giải phẫu lớn hơn. Nếu đây chỉ là một cơn ác mộng thì ông chỉ muốn mau chóng thức dậy cho xong.

Cú điện thoại đầu tiên yêu cầu rút lui lập tức đến từ Dave Bruggeman vào lúc 8:40 sáng. Eisenstein tức khắc đi gặp ngay ông Đại tá quân đội để trình bày. Ông này lại nói với anh là cứ lên kế hoạch công tác nhưng chỉ được thực hiện với sự chấp thuận của ông. Phối hợp được hỏa pháo và trực thăng yểm trợ đã làm Eisenstein mất nhiều thời gian hơn dự tính. Đến khi anh đã tập hợp được nhóm phi công dũng cảm và xác định được tọa độ cần thiết cho hải pháo thì Tướng Giai và ông Đại tá quân đội của Toán 155 đã trở ra mặt trận rồi. Vì đã được chỉ thị, được ra lệnh thì đúng hơn, là phải có sự chấp thuận của Đại tá của Toán 155 nhưng ông này khi đó vắng mặt, cho nên quyết định cho thi hành sứ mạng lớn ấy mặc nhiên rơi xuống dầu Gerry Turley, cho dù không có tính cách pháp lý thật sự.

Có một vài đặc tính độc nhất không thể diễn tả được trong toàn bộ tiến trình cho phép tối hậu công tác cứu trợ khẩn cấp đã làm thay đổi thái độ và tâm tính của Gerry Turley. Khi nhận được cú điện thoại của Eisenstein xin phê chuẩn công tác vì ông Đại tá quân đội vắng mặt, thời gian như ngừng lại một lần nữa. Giống như lần hai ngày trước đây khi ông nhận lệnh điều hành Trung tâm Hành quân chiến thuật, trong vòng một vài giây đồng hồ, với một sự rõ ràng minh bạch kỳ diệu, ông điểm lại trong đầu tất cả mọi khía cạnh của các vấn đề có trong tay. Không còn nghi ngờ gì nữa, chuyện cứu viện là một điều đúng, một vấn đề danh dự cần phải làm. Nếu thành công thì các TQLC và phi hành đoàn trực thăng sẽ thoát nạn. Nếu lực lượng cứu viện bị tiêu diệt hay các TQLC của Eisenstein bị bắt hay bị giết thì đó sẽ là “chuyện điên rồ của Gerry Turley.”

Trong khoảnh khắc vài giây đồng hồ đó, Gerry Turley đã thay đổi hẳn. Không phải về mặt thể xác. Một điều gì đó khi quyết định cho phép thực hiện công tác đã biến đổi Trung tá Gerry Turley từ vị trí một kẻ thừa hành trở thành một người chỉ huy. Sự lột xác từ một giảng viên tạm thiếu tự chủ trước các học sinh nay trở thành ông hiệu trưởng đầy lòng tự tin, trong một thoáng chốc đó, đã hoàn thành xong. Một cái gì đó mà ông không hiểu nổi đã đổi khác. Gerry Turley đã đánh động được vào cái tiềm năng an bình và mạnh mẽ của mình, một cảm giác thư giãn một cách kỳ lạ với nhiệm vụ mới mà cho tới đúng cái giây phút đó vẫn dường như lẩn tránh ông. Đây là một chuyện rất hay. Ông sẽ phải cần tới cái mặt mạnh đó, lòng tự tin, sự quyết đoán về mục đích trong những ngày giờ tới đây. Và đối với Trung tá Gerry Turley, cái ngày đó mới chỉ bắt đầu…

__________________________________________________________

* Trung úy Joel Eisenstein và David Bruggeman, cùng với các thành viên có tên trong danh sách toán Chấm Tọa độ Hải pháo không nằm trong chương trình cố vấn như Gerry Turley, John Ripley, George Philip và những người khác. Họ không là cố vấn quân sự. Tuy vậy, họ thuộc thành phần của ANGLICO (Đại đội Liên lạc Phi pháo và Hải pháo Air & Naval Gunfire Liasion Company) còn ở lại khá lâu giống như các cố vấn sau khi các lực lượng bộ binh chiến đấu đã rút đi. Vai trò các nhân viên ANGLICO hết sức quan trọng, giống như các cố vấn, trong việc hỗ trợ hỏa lực cho miền Nam Việt Nam. Khác với các cố vấn Hoa Kỳ đi theo cấp tiểu đoàn và trung đoàn nhằm trợ giúp nhiều vấn đề khác nhau, các toán ANGLICO không trực thuộc các đơn vị TQLC Việt Nam và họ được sử dụng thuần túy trong việc phối hợp yểm trợ hỏa lực mà thôi. Cũng nên chú thích rằng ANGLICO có một hệ thống quân giai riêng rẽ với các cố vấn TQLC Hoa Kỳ.

CHIỀU TRÊN HOÀNG HOA LỘ

nguyenminhphucblao

Hoa đã vàng lắm rồi, em áo vàng chi nữa
Để trong chiều em cứ lẫn vào hoa
Ngày xưa đã một lần như vậy
Ta lạc em rồi năm tháng xa !

Một thoáng đời thôi chừng chớp mắt
Ngoảnh nhìn đã mấy chục năm trôi
Em đi biết mấy mùa hoa rụng
Mỗi đứa giờ riêng một khoảng trời

Chiều nay giữa mùa hoa Điệp nở
Ta về qua đó một ngày mưa
Em không hẹn cũng về qua chốn cũ
Áo vàng như thể … áo ngày xưa

Áo thì mới mà ngày xưa thì cũ
Thời gian trôi có trở lại bao giờ
Em nhặt cánh hoa tìm kỷ niệm
Ta nhặt bên trời một cánh thơ.

Nguyễn Minh Phúc ( Blao)

LẬP THU

tranthienthi

không có chiếc lá vàng nào xào xạc
không có con nai vàng nào ngơ ngác
mà trời vẫn lập thu

lá cây hạnh ngân di thực vẫn xanh
chỉ có em cảm lạnh từ ngày hôm qua
còn nằm ho thổn thức

không có cuộc chia tay nào đủ lý do làm dáng
chủ nhật liu điu chẳng màng ra phố
ngồi đây buồn lất lây

mùa thu còn ít ỏi trong ký ức lưu dân
cứ rộ lên như là bệnh cúm
cổ họng ngứa dần dần

trời mù chẳng chờ trăng mờ với trăng lu
chẳng biết còn sống nổi đến ngày đưa nhau về Huế
mà xem cây ngô đồng

chẳng có chiếc lá vàng nào lót cho em nằm
thôi thì chờ anh trải chiếu
thiên hạ bất cộng tri thu

những con nai vàng đổ dồn xuống phố
mùa lá rụng cô phụ chờ thay áo
rạo rực cùng bà tưng

rót rượu hoàng hoa mà đổ xuống rừng
vàng mắt dõi tìm nhất diệp lạc
thôi thì
em đi đâu thì đi

trần thiên thị

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI : KÝ ỨC SẮC MÀU ( Truyện dài)

ledachoanghuu

“Nghe ta chạy nhảy lưng tưng chứ?”
Phải. Ta đang rất vui, ta vui nhộn tung tăng nhí nhảnh. Ta đang tấu bản nhạc tuổi thơ của gã họa sĩ mà. Tuổi thơ không mang nặng, không che dấu hay lưu giữ buồn đau. Đau thể xác hoặc đau vết thương ngoài da, tuổi thơ khóc nhòa rồi mau tan biến, mau lành lặn.
Những nốt nhạc ta cứ nhảy nhót, nhảy nhót như những đôi chân chim sáo nhảy nhót không ngừng, nhảy nhót trên cánh đồng kết thúc bằng đường chân trời. Nơi đó, nơi chân trời đó có một đoạn ưng ửng màu vàng vàng, đôi khi nó dợn sóng, những làn hơi dợn sóng, ánh nắng còn gắt tạo ra những làn ảo ảnh. Trên đoạn màu vàng là màu xanh xanh pha lẫn vàng vàng không ra xanh lá mà là màu lợt xám xanh, vậy là có chút xíu màu đen trộn trong hai màu nhạt này. Dần lên trên nữa là xanh lợt cho tới xanh của bầu trời xa thẳm. Cánh đồng màu vàng vừa, màu của gốc rạ xen lẫn một ít màu bàng bạc đất khô. Những con bò là những chấm vàng đậm hơn và một ít chấm đen của những con hung. Ở đây người ta gọi những con bò đen tuyền như vậy, chẳng biết có phải những con bò này thường rất hung hăng hay đọc trại từ nhung huyền. Những chấm nhỏ hơn di động liên tục không thứ tự cũng có màu đen là những nốt nhạc chân sáo. Những cậu bé để đầu trần, thậm chí cả mình cũng trần trùi trụi dám so đọ với nắng trời, rong chơi với đầy ắp các trò, mặc cho những con bò tìm cỏ, cứ lùa ra tới chừng chạng vạng là tự động quay trở về, bò của đứa nào thì lùa về chuồng nhà mình, chăn bò nhưng chẳng cần chăn. Gã họa sĩ là một nốt nhạc trong đó, chỉ có điều nhà gã không có bò, gã đi lượm cứt bò về làm phân bón.
Gã được cha mình đặt thêm cái tên con nít là Sô. Ban đầu ông định đặt Pi nhưng nghe tưởng Bi thì thường quá. Nếu hiểu Pi thì lại lầm với số Pi trong toán học mà gã có giỏi đâu. Hay Bi người ta nghĩ bi thảm của số phận ông lúc này cũng không xong. Sô là âm cuối của Picasso, tên ông họa sĩ lừng danh Pablo Picasso (họa sĩ Tây Ban Nha). Như vậy ông rất là am tường. Ở đây lúc bây giờ ngoài một số ít ông cán bộ ra thì tất cả còn lại đều là bần cố nông. Không cần biết ai có học cao hiều rộng, có làm nghề gì khác, ở đâu tới, thành thị hay ruộng đồng, tất cả chỉ một nghề, trồng cây lương thực hoặc trồng cây nông nghiệp. Thầy cô giáo cũng được bổ nhiệm tới từ nơi khác, có những căn nhà tập thể biệt lập ở gần trường cho các thầy cô. Sô ra đời trước đây một chút và tiếp nối tuổi thơ ở nơi này trong khoảng thời gian như vậy. Có người gọi bé Sô, có người gọi thằng Sô, nhóc Sô, phần nhiều thì kêu cu Sô như bao thằng cu khác.
Màu của cánh đồng, màu của chân trời… cu Sô đều quy về màu với tất cả. Và rất nhiều màu của thời những nốt nhạc rộn ràng đi theo nó, in hằng trong tâm trí nó mãi về sau, không bao giờ xóa nhòa được dù có cố xua đuổi. Hình hài hay mùi vị không là gì với nó, thấy rõ ràng, cảm nhận rõ ràng ngay trước mặt mà, hay chỉ cần đùa giỡn nguệch ngoạc, hí hoáy vài đường nét thì thành hình, rất dễ dàng. Nó không có màu để pha, để trộn, để điểm tô cho hình hài, không có điều xa xỉ này cho nó. Điều xa xỉ không cần cho cuộc sống lúc bấy giờ đã bị đóng trong cái rương trống rỗng khóa chặt cất dưới gầm giường mỗi căn nhà, hoặc quăng ra bụi chuối sau hè, vài ba lớp mạng nhện giăng, mấy lớp mốc meo, lá úa mục bao phủ thì cái rương coi như không còn tồn tại. Ngay cả trái bánh da, niềm đam mê bất tận của đám con nít ngoài cánh đồng cũng trở thành xa xỉ, không thể hùn đủ tiền để mua nổi. Trái banh da lúc trước mua được còn sót lại đá bung chỉ phải lấy cước vá chằn vá đụp, ruột bị bể thì sáng kiến kiếm cái bao tử heo nhét vào tưng tưng được vài bữa, bể nữa tiếp tục nhét rơm vào thay thế cho tới khi da tơi tả, mục nát rời ra từng miếng mới thôi. Rồi chỉ còn quấn rơm, quấn giẻ rách thành cục tròn mà đá. Cho nên vị trí của màu chỉ còn một nơi cho nó mà thôi, ghi vô ký ức. Nó cứ thấy màu là đặt vào, gần gũi là đặt vào trước, không thứ tự lớp lang, không điều nào quan trọng hơn điều nào cả.

Màu của những cục cút bò là gần gũi nhứt với nó.
Màu của cứt bò, cu Sô ngồi ngay cạnh bãi cứt bò vẽ những vòng tròn, vòng tròn xoáy dần vào trong. Vẽ trong tích tắc, rồi nó đưa tay chỉ qua chỉ lại giữa bãi cứt và hình vừa vẽ. Nó muốn đặt tất cả những màu thật, những sắc độ màu tạo khối nếu nhìn thoáng sẽ không nhận rõ vào trong hình. Điệu bộ này thì nó làm rất lâu.
“Ê! Vô chơi mậy.”
Nhiều tiếng gọi của bạn bè rủ rê, nó chằng mảy may, chẳng cần trả lời trả vốn. Cho tới lúc bị trêu ghẹo:
“A! thằng này bị khùng rồi, lên cơn rồi.”
Nó cũng chẳng thèm đếm xỉa tới. Có khi nó bẻ cứt khô ra để thấy có khác chi với bãi cứt còn sền sệt mà nó lấy cây ngoáy ra không. Màu có khác nhưng vẫn là những thứ đó, những bột, những cọng cỏ còn nguyên bò không nhai rã, những hột bông cỏ nhỏ li ti thì chắc chắn khó mà nát được đã ngả màu xám đen so với màu xanh lá sậm thiệt sậm, xanh lá có pha đen thiệt nhiều. Những bông cỏ, những cọng cỏ còn nguyên đó cu Sô chợt nhớ tới lúc canh khuya thức dậy đi tè cạnh chuồng bò, con bò rột roạt nhai lại thức ăn ợ lên, giống như ban ngày nuốt trọng cho đầy vào để dự trữ cho đêm tối bị đói và đủ thời gian để thưởng thức. Nó liên tưởng tới những bữa ăn của mình cũng vậy, mong chờ tới bữa ào ào nuốt vào, sợ bị chiếm hết nhưng chẳng bao giờ đủ, bao giờ cũng thiếu hụt cho tất cả, cho dù một phần tâm trí muốn dằn lại, muốn bữa ăn được chia sẽ đều cho cả gia đình. Những lúc đói meo nó ước được như bò, được ợ lại để nhai. Song, nó trợn mắt nghĩ tới cái mùi kinh khủng của mình, nghĩ tới thôi đã thấy muốn ói liền bỏ qua cái ý nghĩ này và cười haha…
“Hổng ra đây chơi mậy, ngồi cười một mình, thằng này lên cơn hoài, thằng này khùng thiệt rồi.” Nó nghe như vậy cũng nhiều không chỉ từ đám bạn lóc nhóc leng keng, người lớn cũng có chỉ là nhẹ nhàng hơn, “Bớt tưng tửng đi con, tỉnh lại đi con”… nên tiếp tục giả lơ. Rồi nó lại nghĩ tiếp, sao không ăn hoa cỏ thôi, ăn chi hỗn tạp quá, có phải ợ lên mùi thơm phức hông. Và tự trả lời, hoa là để ngắm nhìn, cái đẹp là để ngắm nhìn chớ không phải để tàn phá.

Cu Sô là đứa kỳ cục, những hàng động luôn kỳ quặc. Ai lại đi chơi với cụt cứt và cứ nói cục cứt, cục cứt hoài chứ. Nhưng cũng chẳng sao, ban đầu có vài dị ứng, kỳ kỳ nhưng nghe kỹ thì nó nói có duyên nên thành bình thường nếu không muốn nói là vui vui, dân dã dễ thương. Cũng giống như người ở quê kêu thằng cu, cu cu thiệt dễ thương chứ chẳng có tục tằn gì cả. Và dù biết không thể như cục cứt bò nhưng nó luôn muốn bẻ không khí, bẻ những điều người ta gọi là hư ảo, hư vô cũng như bẻ trong đầu mình ra coi có trong gì đó, có gì khác không mà sao nhiều người cứ kêu nó là quái dị. Đôi khi nó thấy mình bình thường như mọi người, cũng ào ào nhào nhào vào đám bạn con nít vui chơi đó mà. Đôi khi lim dim tưởng tượng bẻ đôi đầu mình ra thì thấy khác có khang khác, những kiểu nghĩ của nó nói với bạn bè chẳng đứa nào hiểu, nhiều đứa nghe cứ lơ mơ như nó là người đâu từ trên trời rơi xuống. Nhưng thôi, nó mặc kệ, cứ hồn nhiên với hồn nhiên dù rất nhiều màu đọng lại cùng thắc mắc, có màu được giải đáp từ người lớn, có màu thì không, nó cứ để in trong tâm trí, nghĩ rằng sẽ có một ngày nó tìm ra lời giải đáp.

Ta cũng vậy, ta luôn kèm theo giai điệu là lời lẽ hồn nhiên!

Cu Sô không thích màu cứt trâu mặc dù rất khoái những con trâu. Những con trâu bự tổ bố, cặp sừng dềnh dàng lại hiền khô, ít khi nổi chứng rượng đực giành con cái, giành làm thủ lãnh đầu đàn như những con bò. Sự tranh giành thường dẫn tới những trận đối đầu húc nhau lụp cụp đến chan chát, được kêu theo hình tượng bén lộn. Cu Sô phì cười cho ý nghĩ, hình tượng thượng cẳng chân hạ cẳng tay của con người là oánh lộn bởi không có cặp sừng. Trừ những con bò có cặp sừng trùi trụi, gọi là cặp sừng cui thì cặp sừng của những con bò muốn hùng cứ này cong vút, tự mài sừng vào những ụ đất cứng, những ụ mối già lâu năm cứng gần như đá làm sừng ánh màu lên như những viên thạch anh màu trà trong suốt, bén ngót tựa lưỡi gươm cong. Những cặp sừng bén ngót đụng nhau chan chát là bén lộn đúng rồi. Nhưng trâu thì tới tận cùng chịu dựng dễ điên tiết hơn bò, và nó điên thì cũng thiệt là khó trị. Bãi cứt trâu cũng bự tổ bố, lại nhềnh nhệt khi vừa thải ra với mùi khá ngai ngái, rất lâu mới đặc quánh hay khô lại. Cứt trâu nóng hổi nhềnh nhệt đôi khi lại rất hữu ích, rất cần để trét vô cối xay lúa đan bằng tre, trét vào bồ lúa, thúng mủng trám kẽ hở và cho bền, đặc biệt là trét vào gàu tát nước, khô cứng và chặc đến nước không rỉ ra được. Trâu ít khi ở cánh đồng màu vàng, ở tận tít mù, dưới cánh đồng bưng xa như đường chân trời.

Màu của cứt bò góp một phần làm thay đổi màu cánh đồng. Đất cày xới lên, nước sập sình, cánh đồng có màu sình. Từng cây lúa non lớn dần lớn dần, nhờ một phần phân bò lúa lên xanh mơn mởn, mơm mởm che lấp màu sình. Cành lúa xanh mềm mại, gió tạo những con sóng chập chùng, chập chùng tới tận chân trời quá tuyệt mỹ. Lúa đòng đòng xong lú lên từng bông mang mày trắng, mày trắng rơi vãi bay bay mang theo thoang thoảng mùi thơm nhè nhẹ huơng lúa. Rồi lúa nặng trĩu oằn bông chín vàng, vàng ươm bát ngát.
Cứt bò khô nó lượm đầy hai cái mủng đan bằng cật tre (lớp vỏ cây tre) để trong cặp gióng gánh về. Cặp gióng làm bằng sợi dây thép gai đã tháo những gai nhọn. Dây thép gai làm hàng rào bao quanh cái đồn của quân lực chế độ cũ trấn giữ trên ngọn đồi cây cối nhỏ. Đồn chỉ còn những lô cốt xám xịt, lỗ chỗ đạn và sức mẻ, nhiều chỗ bể vụn trơ với gió mưa, nắng trời. Hàng rào thép gai nhiều lớp, người ta chỉ dám lấy ở ngoài, dưới chân đồi về xài, bên trong còn gài mìn rất nhiều, rất lâu sau mới được mấy chú bộ đội đi gỡ hết. Gióng còn làm từ cây mây rất dẻo chặt ở trong rừng. Cây mây bọc bên ngoài một lớp vỏ với những mụn gai dày đặc bao quanh. Đòn gánh làm từ cây tre đặc ruột to cỡ bắp tay người lớn chẻ làm đôi, được chuốt láng và cắt gọt khớp ở hai đầu để giữ gióng rất đẹp mắt. Đòn gánh vừa cứng vừa dẻo. Những gánh nặng trên vai nghe kẽo cà kẽo kịt, nhịp nhịp theo nhịp bước. Màu của gióng gánh, thúng mủng là màu của mồ hôi. Những giọt mồ hôi nhỏ xuống như những giọt sương nhưng mặn chát. Những giọt mồ hôi đi lấy củi trong rừng, gánh lúa từ ngoài đồng, gánh bắp gánh đậu gánh khoai củ… từ nương rẫy về, gánh rau gánh cá, gánh muối mắm ra chợ… Màu của gióng gánh thường là màu mồ hôi của phái nữ. Đôi khi nó thấy lạ mắt và vui vui, khi màu mồ hôi này không có góng gánh, chỉ có thúng mủng được đội trên đầu. Còn lạ hơn nữa, màu trở thành rưng rưng là trong cái mủng của gánh là đứa bé nhỏ hơn nó, đứa bé không bị bỏ rơi một mình ở nhà, ở trong thúng mủng thoải mái đùa giỡn, lí lắc vui cười trong cái thế giới riêng tưởng chừng như nhỏ bé mà thiệt sự quá bao la tình gia đình. Có đôi gánh màu mồ hôi nhưng làm cho dịu mát, đôi gánh không gióng, không thúng mủng mà thay bằng móc hoặc dây và thùng, đôi gánh nước. Cái thùng nước không thể thiếu sợi dây hay cái móc kết nối với đòn gánh, như một đôi bạn tri kỷ luôn bên nhau. Tuổi thơ tụi nó có giận hờn, có chọc ghẹo, có chửi rủa, thậm chí oánh nhau nhưng rồi mau lẹ dàn hòa và luôn bên nhau như tri kỷ mặc dù từ này không tồn tại trong tâm hồn trẻ thơ.

thu khúc một

dutule

trăng khuyết, như đời tôi
cũng thôi, một kiếp người
em về, khuya có vui
đầy hồn tôi mưa bụi
tôi về, khuya thiếu… tôi
nhớ người, môi tháng tám

gió ngất, như lòng tôi
chiều thu, im tiếng rồi
những ngón tay mồ côi
đường ngôi không tiếng gọi
em còn trong cõi tôi
thoảng mùi hương tháng chín
nắng xót, như biển khơi
đường xa hút bóng người
nỗi buồn nào có đôi ?
sao đời tôi khép vội
tóc buồn xuống hai vai
em nghìn năm mây khói

tôi đã khóc đêm qua
như đứa trẻ nhớ nhà
em ở đâu đêm qua ?
quê-nhà-tôi, mất dấu
tôi ở đây đêm qua
mênh mông hồn nghĩa địa

trăng khuyết, như tình tôi
còn nhau không cuối đời
em, một trời gió nổi
tôi, một trời gió nổi
tôi, một trời mưa thôi
mắt người đêm tháng chạp
đắp buồn ván quan tôi
áo người trưa tháng tám
gói hồn tôi không vui

kịp về không hỡi bé ?
vầng trăng ta khuyết rồi.

du tử lê
, 8-1984

NHẬM DOANH DOANH

linhphuong

Tháng này mưa rót thay rượu cạn
Ta thèm em gọi Tướng công ơi!
Buồn bỗng dưng đầy men cay đắng
Biệt bóng mỹ nhơn khuất góc trời

Thơ ta đi hết mùa phiêu bạt
Váy em bay tám nẻo đường thành
Bốn mươi mốt năm Trường An mất
Ta cứ tìm hoài mộng ngày xanh

Em mãi mê vui cùng nhan sắc
Quên mẹ lâu rồi Lệnh Hồ Xung
Buông kiếm ta thành tên thua cuộc
Ẩn dật biển khơi- gió muôn trùng

Mỹ nhơn- mỹ nhơn- ta tấu khúc
Bước ngao du” tiếu ngạo giang hồ “
Xưa nay thiên hạ bao người khóc
Nghe tiếng tiêu sầu- nước mắt rơi

Tri kỷ hồng nhan. Ai tri kỷ ?
Hồng nhan ư. Ai kẻ hồng nhan?
Câu thề chôn dưới chân mộ chí
Mới sém bạc đầu thả tay buông

Ha ha!Ta vốn thằng kiêu ngạo
Lên xe mơ cưỡi ngựa vi hành
Vết thương đời vẫn còn rịn máu
Em về băng bó! Nhé, Doanh Doanh?

LINH PHƯƠNG