Viết Những Dòng Này

tranvanle

Tất cả mọi người lên nóc nhà ngồi
Cái gì đang trôi thì cứ trôi
Con chó, con gà, con vịt…
Thằng bé trong lòng mới đó đâu rồi?

Ông Giám Đốc Thủy Điện Hồ Hô nói như Thánh Phán:
“Nhà máy chúng tôi xả lũ không có trách nhiệm thông báo cho Huyện”
Nhà máy thủy điện Hồ Hô làm đúng quy trình
Làm đúng những yêu cầu pháp luật quy định…

Đồng chí Trịnh Xuân Thanh quy mã
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền VNCH quy hàng
Dân Thăng Long không còn thấy con Kim Quy lang thang
Trên mặt hồ Gươm bàng bạc…vì nó đã quy Tiên!

Tất cả mọi người lên nóc nhà ngồi bình yên
Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc móc phôn nhắn tin cười thật đẹp
Đứa nhỏ kêu thất thanh: “Mạ ơi nước trôi của con đôi dép!”
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng dõng dạc: “Đánh tham nhũng là ta đánh vào ta!”.

Ta đánh vào ta thì chỉ có hòa!
Thôi thì dĩ hòa vi quý
Đồng chí Trịnh Xuân Thanh ơi cứ yên tâm ở Mỹ, ở Âu, ở Úc…
Đừng về nhen, Hà Tĩnh mềnh đang lụt!

“Viết những dòng này mà sao tôi khóc?
Muôn nẻo cuộc đời, người đó, ta đây!”

Thơ của Truy Phong làm hồi nào tự dưng hôm nay
Nhói trong lòng tôi. Đau đớn!

Trần Vấn Lệ

Made in USA

luuthy

images1759459_hilldonal
Tên Côn Đồ và Nữ Hoàng Nói Dối

Chỉ còn 3 tuần lễ nữa là nước Mỹ sẽ có một tổng thống mới. Có nhiều người mong ông Trump thua, có không ít người hy vọng ông Donald không thắng và có rất nhiều là nhiều người muốn ai thắng cũng được trừ ông Donald Trump ra.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 rốt cuộc là cuộc bầu cử của ông Donald Trump. Cả thế giới hướng về ông Trump, truyền thông báo chí ra rả về ông Trump, tên ông Trump xuất hiện khắp nơi, từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ cửa miệng của những nhà bình luận chính trị tiếng tăm tên tuổi tới cửa miệng của những tay nát rượu.
“Cái nước Mỹ gì mà kỳ khôi! Bộ hết người rồi sao mà lại đi chọn ông này, một tên côn đồ!” Có người cẩn thận nắn nót viết rõ ràng lên facebook. Người viết không cà rỡn, người viết là người rất rất ư là nghiêm túc, có học vị, và chưa từng chọc ghẹo ai bao giờ.
Nước Mỹ có gì đâu mà kỳ với lạ, tổng thống Mỹ có chi đâu mà ghê với gớm, trở thành tổng thống Mỹ có gì mà là khó khăn! Chỉ cần 20 năm tuổi trẻ cọng với 15 năm tuổi đời, 14 năm nằm dầm nằm dề trên đất Mỹ, và nơi chôn nhau cắt rún là cái đất hợp chủng quốc Huê Kỳ là đủ. Không đòi hỏi phải có bằng C Anh Văn, bằng B Vi Tính, và có ngoại hình đẹp. Không có điều kiện nào bắt buộc tổng thống Mỹ phải có lý lịch 5 đời bần cố nông, 4 đời cách mạng, 3 đời con ông cháu cha, người miền Bắc và có ní nuận. Không có điều nào bắt buộc tổng thống phải ít nhất 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày ngồi tụng kinh gõ mõ, thấy gái đẹp không nổi máu dê, không được chửi thề ĐM, không được nói láo, lúc nào cũng phải thành thật khai báo, có trí nhớ siêu phàm, làm gì nhớ nấy, nói gì là không quên, không có cái chuyện “I don’t remember” “I don’t recall”.
Thế cho nên… tám năm trước nếu như một người không có tí xíu xìu xiu nào hết về kinh nghiệm, không có thành tích ghê gớm nào hết để ghi trong lý lịch trích ngang trích dọc, là tổng thống Obama bây giờ, mà còn trở thành tổng thống Mỹ, thì tại sao một tên “côn đồ” như ông Trump hay một “liar queen” như bà Hillary, lại không thể trở thành tổng thống Mỹ.
Có tổng thống xứ nào như tổng thống cái xứ Mỹ không nào, chưa kịp kéo ghế ngồi làm việc, chưa kịp ký tên đóng dấu nhận nhiệm sở, mà đã được Uỷ ban danh giá Nobel Na Uy trao ngay cho cái giải Nobel Hoà Bình.
Cái nước Mỹ là như vậy! Người dân Mỹ là như vậy! Có như vậy nó mới là Mỹ, nó mới là Made in USA!
Cho nên sau 3 tuần lễ tới, nếu bạn nghe tin ai đó là tổng thống Mỹ thứ 45, xin bạn đừng ngạc nhiên, vui mừng hay nổi giận, mà hãy thông cảm cho dân Mỹ, hãy thương cho cái xứ Mỹ, hãy rộng lượng và cảm thông, bỏ chút thì giờ vô facebook của Donald Trump hay Hillary Clinton… like giùm cho một cái.

LƯU THY NGUYỄN

MẸ NẤM, MÙA THU

dungkqd

Đất nước
Những mùa thu vội vã
Cây lá đang xanh chợt héo úa, ngỡ ngàng…
Mây nhếch nhác bay đầy trời viễn xứ
Đụng thu tàn rụng lả tả, hoang mang…

Thu ngắc ngoải không cúc vàng, thạch thảo…
Chẳng heo may ngang qua ngọn ngô đồng
Phố ngập mặn, phiến gạch tàu meo mốc
Mẹ nấm mọc đầy ngay sau bữa mưa giông

Nấm mọc thẳng y như loài măng mọc
Mọc vô ngôn mà âm vọng hải hồ
Nấm mọc cánh bay đầy vườn cổ tích
Bay tự do và ca hát vô tư…

Chiêm bao thấy lũ cào cào châu chấu
Về đưa tang đêm bạo chúa băng hà
Thu lấp miết vẫn chưa đầy huyệt mộ
Đành âm thầm chuồn khỏi bãi tha ma.

Dũng Trung Kqd

Chỉ là bụi cát

nguyenminhphuc

Ngồi nghe đời hư ảo
Chìm hun hút sông dài
Có một người bạc áo
Về trong chiều nắng phai

Hình như chân đã ghé
Đôi lần vào thiên thu
Nghe nhịp buồn rơi khẽ
Vào bóng ngày hoang vu

Tôi thả lời kinh nguyện
Vào trần gian khói sương
Đời có gì lưu luyến
Khi đã chạm vô thường…

Hay chỉ là bụi cát
Trong cõi người sát na
Quờ tay khua tràng hạt
Đụng cả trời mưa xa

Ngày về sao mà vội
Tấm thân nầy phù hư
Nghe hồi chuông hấp hối
Theo mãi một kiếp người…

vu lan 2016
nguyễn minh phúc

Dưới chân núi

tradoa

Khi còn nhỏ, có nhiều thứ vây quanh khiến tôi sợ hãi nhưng không thể gọi tên. Những ngày đầu đi học, tôi sợ nhất con chó lông xù nhà hàng xóm. Lũ chó thật tinh khôn, chúng biết phân biệt người lớn và trẻ con, người lớn thì chúng tránh xa, còn lũ con nít chúng tha hồ ăn hiếp. Đầu tiên, con lông xù lờn vờn xung quanh tôi, miệng liên hồi gầm gừ. Nếu tôi lùi một bước, nó lại tiến một bước với cặp mắt luôn mở to nhìn tôi không chớp (mà hình như lũ chó không biết chớp mắt). Khi thấy tôi tỏ ra sợ hãi, nó liền nhảy phót lên ngoạm vào lai quần đùi mà kéo. Tôi khóc ré lên, lúc ấy thường sẽ có người lớn nào đó nghe thấy chạy ra và con lông xù liền chạy biến, để lại tôi với cái ống quần dính đầy đất và nước dãi chó. Những ngày sau, mỗi lần đi học, mẹ phải dẫn tôi đí qua khỏi khu vườn đó rồi mới để tôi đi một mình. Ôi lũ chó, mà nhất là chó lông xù, thật đáng ghét.
Nhưng chó lông xù chỉ đáng ghét chứ không đáng sợ như bóng đêm. Đêm ở miền sơn cước thật khủng khiếp, nó tràn ngập mênh mông. Khi bóng cây mít trước cửa trở nên nhập nhoà, là lúc tôi chẳng dám bước ra sân một mình. Có cái gì đó ngoài kia, đen ngòm và to lớn, nuốt chửng mọi thứ. Thỉnh thoảng tôi nghe tiếng sủa gâu gâu của con lông xù. Tiếng nó nghe xa xôi và mất hút như hòn sỏi rơi xuống hồ. Mẹ tôi hay nói nó đang sủa ma.

Lớn lên một chút, cứ mỗi lần thấy tôi, con lông xù liền vẫy đuôi mừng rỡ. Nó đã thay đổi cách hành xử với tôi, vì lúc này “tương quan lực lượng” đã khác trước.
Còn nhớ, có một buổi sáng khi thức dậy, tôi cảm thấy tự tin hẳn lên và quyết định băng qua khu vườn một mình. Như có một ngọn lửa đang dâng cao trong lòng, tôi mặc vội quần áo, quơ lấy cặp sách và phóng đi. Cũng như mọi khi, con lông xù đang nhe răng gầm gừ đứng đợi tôi. Phốc một cái, tôi lao tới và quăng chiếc cặp về phía nó. Con lông xù quá bất ngờ với cách xử sự của tôi, tru lên một tiếng khá to rồi quay đầu phóng tuốt vào nhà trốn biệt. Từ đó, tôi thấy mình lớn hẳn.

Nhưng cũng từ đó tôi lại bắt đầu biết sợ ma. Ma, đó là từ khiến tôi luôn sợ hãi và khó hiểu. Ma là những linh hồn lang bạt đâu đó ngoài kia – trong đêm đen tối tăm. Đối với tôi, bóng đêm và ma chỉ là một. Chúng hoà lẫn vào nhau, nương tựa vào nhau. Thức ăn của ma là hồn vía trẻ con. Đó là món ngon và tinh khiết. Khi hồn vía bị mất, đứa trẻ nằm bất động, cả người nóng sốt. Nếu không cúng đủ lễ, bọn ma sẽ không trả lại hồn cho đứa trẻ và nó sẽ trở nên ngớ ngẩn và dở hơi. Bọn trẻ con luôn được người lớn dặn dò không được đi đến những nơi hoang vắng vào giữa trưa hay lúc chạng vạng tối.
Dù sợ ma như vậy, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn luôn muốn được một lần… trông thấy ma. Có những khi phải đi qua nghĩa địa một mình (dĩ nhiên là giữa ban ngày), cảm giác về ma lại hiện lên chộn rộn. Tiếng gió lùa lên cỏ, len qua những nấm mộ tròn, nghe như lời đùa cợt của những linh hồn đang rong chơi. Tiếng bước chân tôi dội lại từ phía sau, tôi càng bước nhanh, cảm giác đó lại càng nổi lên rõ rệt, đến mức khi đã băng qua hết nghĩa địa tôi mới dám quay đầu nhìn lại: chỉ là những mộ bia cũ kỹ đứng yên lặng dưới nắng. Nghĩa địa nằm cạnh làng, trên một khu đất tương đối bằng phẳng. Đó là một nơi vừa lạ vừa quen: quen vì trong đó có mộ ông bà tôi và mộ của những người bà con hàng xóm, lạ vì họ là… ma.
Tôi thường hình dung ma chỉ loanh quanh dưới chân núi, còn trên đỉnh núi Chúa, đó là nơi ngự trị của thần núi. Tôi thường nghe người lớn kể về Thần với một sự tôn kính vô cùng. Đó là một người da đen trùi trũi, cao to sừng sững, một tay cầm cái búa lớn. Vào những buổi chiều mưa dông, Thần hay đứng trên đỉnh núi Chúa nhìn xuống làng. Ánh mắt của Thần rất dữ tợn, nhưng hình như chưa nghe Thần làm hại đến ai, ngoài những chuyện Thần luôn cứu người bị nạn. Chắc chắn Thần không phải là người làng. Thần tới từ phương trời nào không ai biết.
“Từ thời ông cố ông kỵ đã có Thần rồi. Để tỏ lòng tôn kính, người làng đã lập miếu thờ trên núi”- đó là lời kể của thầy Ba.

Thế đấy, thế giới mà tuổi thơ tôi cảm nhận được luôn có hai phần: một phần “dương” là gia đình tôi, thầy Ba, lão Tám thọt, bà Chín, mấy thằng bạn chăn bò,… và phần “âm” với bóng đêm, thần núi và ma.
*

Ma luôn gây cho tôi sự sợ hãi xen lẫn thích thú. Đó là một cảm giác hỗn tạp và lôi cuốn. Và người đem đến cảm giác ấy thường xuyên nhất là ông Tám thọt. Bọn trẻ con ngồi há hốc miệng yên lặng, trong lòng hồi hộp dõi theo từng cái nhấp môi của lão. Thường khi sắp đến những đoạn ly kỳ, ông lại ngừng kể để làm một việc gì đó như pha trà, vấn thuốc rê… Lão muốn kéo dài cái trạng thái sợ hãi của lũ trẻ càng lâu càng thích. Theo lời lão, mỗi gốc cây cục đá ở cái làng này đều có một sự tích nào đó và luôn liên quan đến một con ma. Lão nói là đã gặp hầu hết ma ở làng này. Như ở gốc cây lớn đầu làng, rễ phụ phủ xuống la liệt, lão nói đó là nơi ngày xưa có một người con gái chữa hoang đã thắt cổ tự tử. Vì cái chết oan khuất nên cô ấy hóa thành quỷ hoành hành khắp làng. Hồi ấy, cứ chạng vạng tối là chẳng có ai dám đi ngang đó. Bây giờ thỉnh thoảng vào những đêm trăng khuya khoắt, người ta vẫn thường trông thấy một cái xác màu trắng đung đưa dưới nhánh cây.
“Nếu khi sống mà bị oan khuất, thi khi chết luôn thành quỷ” – đó là một quy luật mà lão thọt kết lại.
“Mà chết do thắt cổ là linh nhất”
Thú thật, kể từ hôm ấy, khi đi ngang cái cây to đầu làng, tôi chẳng dám ngước mắt lên và bước như chạy.
“Ông xã Khiên có linh không?” – có một đứa buột miệng hỏi. Tôi biết thằng Tài thường phải đi học ngang qua cái nhà hoang đó nên nó đâm ra sợ.
“Ông ta là quỷ già, nên yếu lắm không làm gì được mi đâu mà sợ”.
Nói đến ông xã Khiên, tôi lại hình dung ra ngay căn nhà hoang trong khu vườn cây dại mọc đầy. Có một lần để chứng tỏ trước mặt mấy đứa kia, tôi đã vào đó một mình. Đó là một căn nhà tranh xiêu vẹo, xung quanh vách chỉ có vài cây cột tre đã bị mối ăn đứt gốc. Khi có một cơn gió nhẹ thoảng qua, nó lại rung lên như muốn ngã. Nhưng điều kỳ lạ là đã qua nhiều cơn bão nó vẫn còn nguyên ở đó kể từ ngày ông ấy uống thuốc chuột tự tử. Trong căn nhà chỉ có một cái giường tre cũ nát, đó là cái giường mà ông nằm ngủ. Khi ông chết, ông không nằm trên giường mà ở dưới đất. Ông chết vật vã vì đã uống hết cả nửa chai thuốc chuột. Khi người ta phát hiện ra thì xác ông đã trương phình lên và bay mùi khủng khiếp.
Tôi cứ nghĩ ông xã Khiên mà thành quỷ sao được, cái ông hiền khô suốt ngày cứ lụi cụi đi nhặt phân bò trên núi Chúa. Ừ mà sao có nhiều người muốn chết và chọn cách chết đau đớn như vậy. Nếu uống thuốc chuột chết mà thành quỷ thì làng Hèm có rất nhiều quỷ. Lão thọt cũng nói như thế. Lão gọi chung là “quỷ thuốc chuột”.
Nhưng có lần đột nhiên lão tuyên bố:
– Ma quỷ chẳng có gì đáng sợ cả.
Khi lũ trẻ tròn xoe mắt kinh ngạc, lão nói tiếp:
– Không tin hả? tối nay tao ra nghĩa địa ngủ cho mà xem. Tao từng chém chết mấy con ma ở đầu nghĩa địa, khi bọn chúng dám cản đường tao.
Lũ trẻ lao xao:
– Ma cũng bị chết hả?
– Chết chứ sao không. Chẳng có thứ gì không chết, thánh thần hay quỷ đều chết cả. Nếu không, chỗ nào mà chứa chúng.

Những câu chuyện của lão Tám thọt không bao giờ có kết thúc. Lão luôn chừa lại một phần nào đó cho những lần sau. Bởi vậy, ngôi nhà của lão luôn là nơi lui đến ưa thích của lũ con trai. Vâng, và chỉ của lũ con trai mà thôi. Không phải bọn con gái không thích nghe chuyện ma, nguyên do là từ lão. “Lão già mất nết” – thầy Ba thường nói về lão như thế.
Lão chỉ sống một mình. Nghe nói lão có một đứa con gái duy nhất đã lấy chồng ở xa, hình như xa lắm vì đã rất lâu không còn ai nhớ nữa. Lão lui cui với cái chân thọt một mình suốt ngày sấy thuốc, bốc thuốc. Theo thầy Ba, “Rất lạ, không biết lão học chữa bịnh khi nào mà hành nghề ngang nhiên ở làng”. Cũng theo lời thầy thì đời cha chú lão ta là dân ngụ cư từ đâu trôi dạt tới chẳng học hành hay nghề ngỗng gì cả. “Lão lang băm” – thầy Ba hay chửi như vậy.
Nhưng mặc, lão vẫn chữa bệnh đều đều. Nghe nói lão có phương thuốc cường dương thần diệu. Những ông lớn tuổi ở rất xa nghe tiếng tìm đến bốc thuốc rất đông. Cái làng này vì thế cũng hay có khách thập phương. “Trước đây làm gì có ai đến cái nơi khỉ ho cò gáy này” – lão Tám khẳng định tự hào như thế. Và cái câu hỏi đường quen thuộc của khách lạ khi đến làng Hèm là: “Nhà thầy Tám ở đâu?”. Những lần đầu, khi nghe hỏi thế, nhiều người làng đã cười nhạo khinh khỉnh. Nhưng sau khi cười, họ lại tỏ ra tức giận cho cái danh “thầy” của lão. Lâu dần rồi người ta cũng quen với cái danh xưng sang trọng ấy. Mà không quen sao được, vì tính ra lão vẫn có công với làng. Vào những ngày khách đông hay khi có khách ở lại để chữa trị dài ngày, là lúc những nhà hàng xóm được nhờ. Vì ít nhất cũng cho lão thuê sân để xe, hay nấu cơm cho khách. Lão tỏ ra rất hào phóng khi trả tiền rất hậu…
*

Làng Hèm như một miếng bánh khô queo nằm vắt theo chân núi. Dân trong làng sống nhờ mấy miếng ruộng một vụ trong thung lũng nhỏ. Ngoài ra, khi xưa còn có nhiều người sống bám vào núi Chúa. Có thời, núi có rất nhiều cây và củ quả. Nhưng bây giờ trông núi chẳng khác gì một quả đồi trọc với nhiều chỏm cây xanh nhỏ xen lẫn với đá trơ trọi. Nằm chếch về phía tây là ngôi miếu thờ Thần núi. Đã lâu, nơi đó vắng bóng hương khói của người làng.
Với đám con trai mới lớn như chúng tôi, những câu chuyện của lão thọt luôn hấp dẫn và cuốn hút dù thầy Ba vẫn luôn nhắc nhở đừng nên nghe lời lão ấy, cái thứ “già chẳng nên thân”. Nhưng mặc, tôi vẫn thích đến nhà lão. Ở cái xó xỉnh này chẳng có thứ gì giải trí cho lớp trẻ. Sự nghèo nàn đến cùng kiệt những trò vui, dù là những trò đơn giản nhất. Ở lão thọt, đám trai trẻ phát hiện ra nhiều điều lý thú. Từ những chuyện “đàn ông” đến những chuyện có vẻ nghiêm túc như là chuyện thánh thần, qua tay lão đều trở nên hấp dẫn và cà rỡn vô cùng.
Lão thọt luôn có những câu chuyện kỳ lạ để kể cho những người đến đây chữa bệnh. Và thường là những câu chuyện liên quan đến phương thuốc bí truyền của lão. Đó cũng là cách quảng cáo hữu hiệu của lão.
“Cái nhất dạ lục giao chẳng là gì đâu. Tôi phải đến thập giao đấy chứ mà vẫn còn thèm”. Rồi lão và khách cười hô hố.
“Đây là thứ bí truyền do cụ tổ nhà tôi truyền lại. Ông có thấy cái miếu thần trên núi Chúa không? Linh lắm! Thời ông cụ nhà tôi ban đêm nhìn lên đó còn thấy thần thánh đi lại như rươi, toả sáng cả núi. Có hôm mưa to gió lớn có con rồng xuất hiện bay vòng vòng quanh núi cả buổi ai cũng thấy”.
Thuốc cường dương, theo như lời giải thích của lão thọt, đó là thứ tinh tuý mà trời đất có được. Đất trời này được tạo nên từ sự giao hoà âm dương. Khi có một trong hai thứ bị tổn hại, cân bằng này sẽ bị mất và mọi thứ rối loạn cũng từ đó mà ra. Sở dĩ cụ tổ nhà lão có thuốc cường dương là vì, chiến tranh đã tàn phá và bao nhiêu người trai trẻ đã chết, âm khi nặng nề bao trùm lên khắp mọi nơi, dương khí đã bị tổn hại, thần thánh buộc phải trợ giúp con người để tái lập lại cân bằng này. Và cụ tổ nhà lão, chính là người đã được chọn để thần núi trao cho phương thuốc thần diệu ấy, nhằm tỏ rõ cái đức hiếu sinh của trời đất.
Lão thọt nói hay như hát, cái lưỡi của lão dẻo quẹo. Những câu chuyện của lão theo thời gian càng dài ra và lắt léo hơn rất nhiều. Theo lão, vị thần trên núi Chúa không chỉ cai quản một ngọn núi này không, ông ấy cai quản cả một vùng rộng lớn. Cái uy danh của ông vang động khắp nước vì thế triều đình đã sắc phong thần cho ngài. Những năm có dịch lớn, người chết như rạ, khi các quan thái y được triều đình cử đến đều bó tay thì cụ tổ nhà lão đã một mình lên núi dập đầu khấn vái ba ngày ba đêm để thần động lòng chỉ cho phương thuốc trị dịch. Và thần diệu thay, một người bệnh nằm quặt quẹo chờ chết, khi được cụ tổ cho thuốc “chỉ một thang thôi là khoẻ lại ngay lập tức, giống như trước đó chưa bị bịnh gì”.
Ừ mà lạ, cái gì lão thọt cũng đem cụ tổ ra khoe, mà cụ tổ nhà lão đâu thể ở cái làng này. “Làm như cụ tổ nhà lão là thánh không bằng” – thầy Ba nhiều lần bực dọc với cái khoác lác của lão thọt.
Theo lời thầy Ba, vào thời ông cụ kị thì lễ cúng miếu hằng năm rất lớn. Khách thập phương đến cầu phước rất đông. Lúc đó, làng Hèm như vào hội. Đó là cái thời núi Chúa rậm rạp, cây cối âm u. Còn miếu thần là dãy ba gian rộng lớn, lợp ngói âm dương. Có cả một ban tế tự của miếu chuyên tổ chức cúng tế hằng năm. Ở ngôi chính điện có hẳn một tờ sắc phong nghe nói là do vua nào đó ban cho đâu từ thời xa lắc.
Nhưng cái thời oanh liệt đó chắc xa xôi lắm thì phải. Bởi thầy Ba cũng chẳng biết gì nhiều, thời của thầy cũng chẳng thấy cái sự đông đúc nhộn nhịp ấy. Nhưng trong ký ức của thầy Ba có hẳn một hình ảnh như vậy từ khi thầy bắt đầu nhận biết được. Đó là lúc thầy còn nhỏ, hình như bốn năm tuổi gì đó, được ba thầy dẫn lên miếu vào dịp cúng xuân. Khi đó con đường lên núi Chúa ngoằn ngoèo cây to chắn lối âm u, nhiều đoạn phải được bế thầy mới qua được. Ngôi miếu ba gian khi ấy trông thâm trầm bí hiểm dưới tán những cây lớn toả bóng che kín ánh sáng mặt trời. Thầy Ba quả quyết khi ấy thầy còn trông thấy tờ sắc phong được treo trên bàn thờ của ngôi chính điện. Mùi hương khói, cộng với cái âm u của núi rừng làm thầy không thở nổi và cũng chẳng dám khóc. Cái đêm từ miếu về, thầy nói mình đã mơ thấy thần núi cao lớn da đen như than, tay cầm búa đứng trên đỉnh núi nhìn xuống làng. “Cái uy đức của thần núi đã bảo vệ cho làng”. Qua cả thời chiến tranh nhưng chưa bao giờ làng Hèm chịu một viên đạn nào, dù là đạn lạc.
“Ôi, uy đức gì, thần thánh gì. Ở cái nơi khỉ gió này ai thèm đến làm gì mà chiến tranh chiến triếc. Đạn bắn vào đây chỉ có phí tiền” – lão thọt trề môi giải thích cho tôi. Mà cái lão này luôn không ưa thầy Ba, lão luôn nói ngược lại những gì thầy Ba khẳng định.
“Tụi bây có biết tại sao làng mình có tên làng Hèm không?”
“Tại vì làng giống cái… của đàn bà, nhưng là của một mụ già sắp ngoẻo”
Lão dừng lại cười hô hố. Lũ chúng tôi cũng khoái chí cười theo.
“Tụi bây biết mụ Chín khùng không? Mụ ấy mà chết thi linh lắm đấy”
Tại sao là mụ Chín nhỉ? Cái bà già cười nói toang toác khi gặp đàn ông ấy thì làm sao mà linh thiêng được chứ.
“Thần núi này hồi trước linh lắm đấy, nhưng tại mụ Chín mà hết phép, nên hết linh”. Lão lại cười hô hố.
Tôi đoán chắc lão thọt sắp kể một câu chuyện nào đó, lại một thứ bịa đặt cà rỡn nữa nhưng vẫn thu hút lũ trai trẻ vểnh tai lên mà nghe.
Bà Chín không chồng mà ba con. Nghe nói hồi trẻ bà ta đẹp và hấp dẫn lũ đàn ông ở làng lắm.
“Hồi trẻ hai ngực của mụ ấy như vầy nè…”, lão đưa tay làm một vòng trước ngực rồi cười khoái trá.
Cái thời của bà Chín là thời trai gái còn e lệ khép nép khi gặp nhau. Thế mà bà ấy vơ hết ông này đến ông khác. Cái đám đàn ông có vai vế trong làng ban đêm lượn qua lượn lại trước nhà bà như mắc cửi. Các bà vợ thấy bà ấy như thấy bệnh dịch. Nghe nói đầu tiên bà cũng có chồng, được một đứa con rồi không hiểu sao người chồng này tự dưng lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử. Đến hai đứa con sau là của hai người từ nơi khác đến, được một thời gian rồi cũng bỏ đi.
Nghe nói lão thọt cũng có một thời dang díu nhân tình với bà Chín khắng khít lắm. Mà sao tránh được nhỉ. Họ là một đôi “Thần chê quỷ hờn” – như lời thầy Ba.
“Moá! cái bọn đạo đức giả, ngoài miệng thì chửi mắng mụ ta dâm dật, nhưng tao biết trong lòng bọn chúng thèm lắm, nhưng chẳng biết làm thế nào để chiếm được”.
“Cái lão hương Tôn ấy, có lần có người bắt gặp lão rình nhìn trộm mụ Chín tắm. Mà cái mụ lạ lắm, luôn cởi truồng tắm vào ban đêm, lại để đèn sáng cho người ta dòm chứ. Đúng là mụ dâm dật” – lão lại cười hô hố.
“Lão nhìn trộm thế mà khi cúng miếu hay hội làng lão ta lại mang mụ Chín ra mắng nhiếc thậm tệ. Lão ta như vậy, đẻ ra thằng con cũng chẳng khác gì – cái thằng thầy Ba dạy i tờ ấy mà cũng lên mặt trí thức đạo đức với tao, đúng là khổ”. Lão nói một hơi tức tối, mặt lão đỏ bừng bừng.
“Mà mụ Chín hồi trẻ đã lắm. Tụi bây không tưởng tượng được đâu. Mụ như con cọp cái đói khát, lao lên vật xuống mãnh liệt. Tao hồi trước mà không có thuốc làm sao mà chịu nỗi mụ”.
“Trời sinh ra mụ, cho mụ cái thân hình hấp dẫn nhưng lại lấy mất của mụ cái thần kinh để mụ ta ương ương dở dở mới kỳ làm sao. Tính ra trời cũng công bằng ấy chứ nhỉ”.

Lúc nào cũng thế, lão thọt luôn bắt đầu câu chuyện một cách đều đặn và từ từ. Lão nói như cuốn người nghe, vì thế chẳng khó hiểu khi khách chữa bịnh rất thích nghe lão kể chuyện.
“Cái người chồng thứ ba của mụ Chín là ai tụi mày biết không? Là thần núi Chúa đấy.”
Bọn tôi mở mắt tròn xoe nhìn lão ngơ ngác chờ đợi.
“Cái gã cao lớn, da đen như cột nhà cháy từ đâu đến làng và được mụ Chín chộp ngay. Mụ rất thích đàn ông to lớn mạnh khoẻ”.
“Tao nói rồi mà, mụ Chín hồi trẻ hấp dẫn lắm, đến thần thánh còn không chịu nổi nữa là lão hương Tôn”. Lão lại cười hô hố.
“Có lần mụ ta lên núi làm gì đấy, gặp trời mưa nên vào miếu thần núp. Mà cái mụ này có kiêng ai bao giờ, có ai đời ở nơi linh thiêng mà mụ cởi hết quần áo ướt ra vắt nước, rồi nằm ểnh ra đấy đợi trời tạnh. Mụ Chín mà cởi truồng thì… chẳng có thần thánh nào chịu nổi đâu”. Lão lại cười thích thú. Lão ta kể những chuyện như thế chẳng khi nào ngượng, đó là đặc điểm của lão. Bởi vậy mà đàn bà phụ nữ ở làng chẳng ai dám sang nhà lão.
“Sau cái hôm ấy, thần núi phải hoá thân thành người xuống làng để ở với mụ. Thần cũng hết phép từ đó.”
“Thế sao thần núi lại bỏ mụ Chín mà đi?”
“Chịu sao nổi mụ mà không bỏ đi”.
Theo lão giải thích thì cái miếu từ khi thần núi bỏ đi bắt đầu hoang phế và chằng còn ai lên đó làm gì.
“Thần không thiêng thì người cũng hết cúng hết tế”- Cuối cùng lão kết luận như thế.
Ừ mà thần cũng hết thiêng thật. Vì bọn chăn bò thường vào đó phóng uế bừa bãi, đôi khi chúng còn vẽ bậy viết bạ lên tường nhưng đâu thấy thần làm gì tụi nó. Mà thần còn thiêng sao được khi cái miếu thờ ngài chỉ còn là một cái chòi xây tạm bằng gạch không tô lồi lõm xấu xí. Ban thờ chỉ là một tấm đanh nhỏ chỉ đù để lư hương và đôi chân đèn. Cũng có khi thường vào ngày rằm hay tết nguyên đán, thầy Ba lên quét dọn miếu sạch sẽ và bày một mâm trái cây để cúng. Nhưng cũng chỉ được vài ngày rồi đâu lại vào đấy, bọn chăn bò lại phá phách như cũ. Miếu lại hoang tàn và dơ dáy trông thật tội nghiệp…

Khi tôi kể lại câu chuyện thần núi và mụ Chín, thầy Ba nói thầy đã nghe cả trăm lần rồi.
“Cái miệng của lão già mất nết ấy chẳng biết kiêng cử ai. Lão phịa ra đủ thứ, lão ghét ai là người đó khó sống với lão. Bà Chín làm mât lòng lão nên mới bị lão phịa chuyện nói xấu ấy mà”.

Thầy Ba chưa già hẳn, và vẫn còn đi dạy học. Trong nhà thầy có rất nhiều sách chữ nho. “Của ba thầy đó”. Thầy nói sách quý lắm, nhưng thầy không biết chữ nho, nên chỉ giữ làm của gia bảo. Thầy kể, hồi trước ở làng này bất kỳ nhà nào khi có chuyện hiếu hỷ đều đến nhờ ba thầy – tức cụ hương Tôn – để coi ngày giờ.
“Ông cụ coi gì cũng được, từ ngày giờ tốt đế khởi công làm nhà, đến ma chay, đám cưới, coi đất huyệt, hướng nhà…”
“Ông cụ là trưởng ban tế tự của miếu thần. Mọi nghi lễ cúng tế đều một tay ông cụ lo cả”.
“Hồi cái miếu bị đập, ông cụ ngăn không được nên sinh bịnh nặng. Từ đó cụ bỏ hẳn việc coi ngày giờ nữa”.
“Mà con biết ai đập miếu thần không? Lão thọt đấy. Hồi năm bảy lăm lão ghê gớm lắm. Lão nói lão có công đủ thứ, lão hăm doạ nhà thầy liên tục. Lão hăng hái lắm, một mình vác búa lên đập miếu thần. Khi đập đến gian chính điện, lão bị lọt mái ngói, rơi xuống đất mà bị thọt đến bây giờ. Chuyện này ít người biết. Nhưng từ đó lão cũng bớt hống hách đi.”
“Có phải bà Chín lấy thần núi không thầy?”
“Nhảm nhí. Cái lão thọt khốn nạn này…” . Tôi phát hoảng vì chưa thấy thầy chửi thế bao giờ. Sau đó, biết mình lỡ lời, thầy im lặng hồi lâu rồi bắt đầu kể tiếp chuyện về lão thọt.
“Cái thứ như lão trước sau rồi cũng bị thần đoạ thánh vật cho mà xem, như cái lần bị thần núi hất rơi xuống miếu cho thọt chân. Trời trả báo mà.
Mà thần thánh không vật thì cũng có nhiều thứ hành hạ lão cho hết đời. Có đứa con gái cũng bỏ đi mất xứ, đến bây giờ cũng chẳng biết ở đâu…”
“Chứ không phải cô ấy lấy chồng ở xa?”
“Làm gì có, nó bỏ nhà đi chứ chồng con gì. Mà chuyện của cô Thoa dài lắm. Vì cô ấy chỉ nhỏ hơn thầy vài tuổi và thường chơi chung với nhau nên thầy biết rõ mọi chuyện. Nhưng mà thôi vậy. Cô ấy sẽ không bao giờ về làng này nữa đâu. Làm con gái lão thọt, đúng là bạc mệnh. Những gì lão gây ra, không những lão phải chịu mà đến con gái lão phải khốn khổ theo. Đúng là lão già khốn nạn.”
“Còn chuyện lão với bà Chín là sao hả thầy?”
“Lão hại cả đời bà Chín. Bà ấy ương ương dở dở nên chẳng biết gì. Hồi trẻ lão hiếp bà Chín trên núi Chúa. Rồi sau đó vì gia đình bà Chín không đồng ý cho lấy lão nên lão mới đi tung tin nói xấu tùm lum, khiến bà Chín chẳng lấy nổi tấm chồng cho đàng hoàng”.
“Nghe nói đứa con đầu là con của lão?”
“Thầy cũng không biết chắc. Nhưng lão có bao giờ nhận con mình đâu. Anh ấy trước bảy lăm đi biệt động quân rồi chết đâu ở Quảng Trị không tìm thấy xác”.
Bà Chín có đến ba đứa con trai nhưng bây giờ cũng chỉ sống một mình. Bà sống âm thầm trong hẻm núi. Bọn chăn bò hay rình xem bà Chín nói nhảm một mình. Bọn nó hay nói bà ấy biết niệm thần chú. Mà bà dở hơi thật, cứ tự dưng lại nổi lên cười nói một mình.
Có lần tôi hỏi mẹ tôi: “bà Chín bị khùng hả mẹ?”
Mẹ tôi la cho một trận:”con cứ nghe lão thọt nói bậy bạ không. Trông vậy chứ bả tội lắm, chẳng toan tính tranh giành gì với ai”.
“Thế con của bà đâu mà bà sống có một mình?”
“Người đầu thì đã chết, hai người sau đi kinh tế mới đâu tuốt trong Đắc Lắc, cả mười năm rồi không có tin tức gì”.
“Thế sao cô Thoa lại bỏ đi hả mẹ?”
“Chắc thầy Ba nói phải không, ừ cô ấy chắc sẽ không bao giờ về làng nữa đâu.”
“Con cũng nghe thầy Ba nói vậy. Mà tại sao cô ấy lại không bao giờ về thăm lão thọt?”
“Thôi chuyện khổ lắm con đừng nghe làm chi. Tội nghiệp cô ấy”.

*

Tôi lớn dần lên dưới chân núi Chúa, nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ trông thấy ma, quỷ hay thần núi. Họ vẫn ở lẫn khuất đâu đó ngoài kia, trong nghĩa địa, trên cây to đầu làng hay phiêu bạt theo gió men theo từng tảng đá lớn trên triền núi. Họ nắm giữ hết những bí mật của làng Hèm. Những cơn mưa dông vẫn đến vào mùa hè, và tôi luôn đón đợi để được trông thấy thần núi hai mắt sáng quắt, tay cầm búa lớn đứng trên đỉnh núi nhìn xuống làng.
Rồi tôi rời làng lên phố…
Năm năm rồi mười năm, thời gian trôi vùn vụt nhanh như sự hối hả của người thành thị. Lâu rồi tôi không còn nhớ đến ma quỷ thần thánh gì nữa, bởi nếu có họ cũng không tìm được nơi cư ngụ trong cái thành phố chật chội này.
Hàng năm tôi lại về làng một lần vào dịp tết nguyên đán. Lão thọt đã chết. Khắp làng không còn một cái vườn hoang nào. Làng đã trở nên chật chội vì người đã đông hơn rất nhiều. Khi đi ngang vườn ông xã Khiên, tôi thấy có đến ba ngôi nhà chen chúc nhau trong cái vườn cũ. Cái nhà tranh xiêu vẹo đã đi theo ông rồi, nó chống lại nổi những cơn bão nhưng đành nhường chỗ cho người mới. Cái cây to đầu làng cũng không còn nữa.
Khi sang thăm thầy Ba, thầy hỏi tôi thấy làng có khác không. Tôi nói, cứ mỗi lần về lại thấy khang khác làm sao ấy, có vẻ như nó đã hết làm cho bọn trẻ con phải sợ hãi. Thầy nói:
“Ừ, còn sợ gì nữa chứ, cái miếu thần trên núi không còn nữa con ạ, dân đào vàng đã đào nó hổng móng và lăn xuống hố rồi”.

Tôi cứ nghĩ bâng quơ không biết những ma quỷ thần thánh mà tôi từng biết có còn nơi nào để trú ngụ nữa không. Thần núi chắc phải leo lên tận các núi cao hơn. Cô gái chữa hoang không biết đã đi về đâu…
Rồi thời gian lại phải làm cái công việc khắc nghiệt nhưng cần thiết của nó: đem đến cái chết.
Vài năm sau, lần lượt thầy Ba rồi mẹ tôi cũng mất. Hôm nghe tin mẹ mất tôi thất thần. Ở cái thành phố này chỉ có những tin như thế mới có thể làm con người ta phải dừng lại.
Tôi bương bả về làng Hèm chịu tang mẹ. Tôi lại ra nghĩa địa để thắp hương. Tôi ngồi lặng lẽ ở đó vào buổi chiều. Những mộ bia cũ mới đủ kiểu chen chúc nhau chiếm chỗ. Nghĩa địa vẫn là nơi yên lặng nhất. Ở đó, tôi còn nghe những cơn gió thổi nhè nhẹ qua từng phiến đá như lời của những linh hồn phiêu bạt…
Nhưng chúng không còn làm tôi sợ nữa. Hay có khi chẳng còn gì, vì tất cả chúng đã chết thật rồi, chết thêm một lần nữa – như lời lão thọt năm xưa?

TRÀ ĐÓA

Sài Gòn, đầu xuân Đinh Hợi 2007

VỀ MỘT GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG BẤT THƯỜNG 2016

14570397_861864280580114_5553790073493402222_n

Bob Dylan đoạt giải Nobel Văn học 2016
Nhạc sĩ huyền thoại người Mỹ Bob Dylan đã đoạt giải Nobel Văn học năm 2016. Ông là nghệ sĩ sáng tác nhạc đầu tiên được nhận giải thưởng cao quý này.
Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển nói ông Dylan được vinh danh “vì đã tạo ra những cách biểu đạt mới bằng thi ca bên trong truyền thống âm nhạc tuyệt vời của Mỹ”.
Viện Hàn lâm Thụy Điển là một tổ chức hàng năm vẫn đưa ra quyết định chọn người xứng đáng để trao giải Nobel Văn học.
Trong những năm qua, ông Dylan nhiều lần được nhắc đến như một người có thể đoạt giải Nobel nhưng ông không được coi là một ứng viên nặng ký.
Ca sĩ kiêm nhạc sĩ 75 tuổi này tên thật là Robert Allen Zimmerman. Ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc vào năm 1959 với các buổi biểu diễn tại những quán cà phê ở Minnesota.
Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Bob Dylan được phát hành vào những năm 1960, khi đó các bài hát như “Blowin in the Wind” đã trở thành ca khúc ruột cho các phong trào dân quyền và chống chiến tranh Việt Nam

Blowin’ in the Wind

How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
How many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, and how many times must the cannon balls fly
Before they’re forever banned?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind
The answer is blowin’ in the wind
Yes, and how many years can a mountain exist
Before it’s washed to the sea?
Yes, and how many years can some people exist
Before they’re allowed to be free?
Yes, and how many times can a man turn his head
And pretend that he just doesn’t see?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind
The answer is blowin’ in the wind
Yes, and…

Văn Chương

luuthy

Sau khi nhận được tin Bob Dylan được giải Nobel Văn Chương 2016, nhiều người ngỡ ngàng dụi mắt dụi tai không tin là thật. Không những trong giới viết lách mà còn cả trong giới bình dân học vụ.
Nói tới hai chữ Văn Chương là mọi người đều nghĩ tới văn với thơ, nghĩ tới nhà văn với nhà thơ, nghĩ tới những cuốn sách chữ nhiều hơn ô trống, những tập thơ với ô trống nhiều hơn ô chữ, nên nay nghe nói Bob Dylan được giải Nobel Văn Chương ai cũng giật cái mình không tin.
Văn Chương mà chỉ thuần tuý chữ với chữ là xưa rồi… Diễm. Văn Chương kiểu đó là thứ Văn Chương thời thế chiến thứ II. Nay thế giới đã tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên cõi trên, khoa học kỹ thuật giờ đã là then chốt trong cuộc sống, nên Văn Chương cũng phải theo trào lưu mà đi theo. Văn Chương bây giờ không hẳn chỉ gồm những tập truyện của nhà văn Twain, Fitzgerald, những bài thơ của nhà thơ Frost, mà còn là những bức tranh của hoạ sĩ Jackson Pollock, những bản nhạc của ca nhạc sĩ Chuck Berry, của điện thoại smart phone iPhone, Samsung, của máy tính bảng iPad, của nòng súng Winchester, Colt, M16, AK47, và ngay cả nghệ thuật diễn xuất của nghệ sĩ chuyên trị phim 3X là Linda Lovelace nay cũng đều được gọi là Văn Chương.
Văn chương bây giờ được định nghĩa gồm tất cả những gì không những được viết ra, mà còn được nghe nói, được thấy, được nhìn, được sờ, và được chế tạo ra, với bất cứ hình thức thể loại nào.
Với định nghĩa Văn Chương là như vậy, nên những tấm bản đồ cũng là Văn Chương, tranh hí hoạ cũng là Văn Chương, những bài diễn văn cũng là Văn Chương, hình chụp cũng là Văn Chương, phim ảnh cũng là Văn Chương, lời hay ý đẹp cũng là Văn Chương, status và comment trên Facebook cũng là Văn Chương, và đương nhiên chuyện tiếu lâm từ giờ trở đi, sẽ đi lên một tầm cao mới, chuyện tiếu lâm cũng là Văn Chương.
Bob Dylan không phải là lần đầu tiên được đề cử và thắng ngay giải Nobel Văn Chương 2016. Đã từ rất lâu, từ những năm mà hai chữ Văn Chương được định nghĩa lại, từ năm 1996 cho đến nay, năm nào Bob Dylan cũng được đề cử cho giải Nobel Văn Chương. Kiên nhẫn là mẹ của thành công, nên từ từ tà tà, 20 năm sau Bob Dylan cũng thắng được cái giải Nobel Văn Chương.
Hy vọng sang năm tới, năm 2017, Việt Nam ta sẽ có người thắng giải Nobel Văn Chương. Những tập thơ phá kỷ lục Ghi Nét của ta, những cái bánh chưng bánh dày to khủng, những cuốn chả giò dài hàng trăm thước, của Việt Nam không gọi là Văn Chương thì còn gọi là cái gì?

LƯU THY NGUYỄN

tối

phuonguy

quán tưởng trầm luân những u mê đã từng
lời nguyện đêm đã tan trên đôi môi
chiếc bóng nói với tôi về sự non dại lần sau cuối
nụ hoa không trổ mầm bằng sự không thật
đừng cúi đầu
giọt nước mắt xanh không còn tan trên tay
con hồ ly cuộn mình góc tối
khi các yêu tinh đã đi ngủ
thì phù thuỷ tuyết sẽ phục chế quả táo độc dược
ngày ám tàn trên điếu thuốc dở dang
mùa hè khóc bằng những tiếng ve cũ kỹ
trận lo lắng cho mùa mưa đã bắt đầu trên những đám mây
không còn người hát thánh ca để tiễn đưa những màu xanh bị bức tử
mùa mưa mới cũng không thể hồi sinh cho sắc lục diệp trên những tán khô đừng khóc
dẫu có đi qua những đêm mất ngủ không còn nhau
thì lời ủi an cũng chẳng thể làm xanh được ý nghĩ
mùi hương quá nồng đậm của sự thông cảm
cũng không làm khô được những dối lừa của thế kỉ hoại tử này
đừng tin vào bất cứ

trong sự lặng câm của những câu thơ
cơn mưa nói với tôi về mùa lũ cũ…

Phương Uy

QUA SÔNG NGHE BÀI HÁT CŨ

nguyenminhphucblao

Bài hát nói về một cuộc chia ly
Người hành khất hát chiều nay, chuyến phà
qua sông rộng
Em ra đi mùa thu
Mùa thu không trở lại

Tiếng ghita bập bùng khắc khoải
Chuyến phà đang ồn ào, thoáng chốc lặng im
Người lính già nhịp phách lim dim
Hình như ông đang nhớ về cuộc tình thời trai trẻ
Thiếu phụ đoan trang bỗng nhòa mắt lệ
Như chính mình đành đoạn buổi thu xưa
Đôi tình nhân quấn quýt say sưa
Bỗng linh cảm tình yêu với những điều trắc trở
Người hành khất gõ đàn nức nở
Em ra đi mùa thu
Mùa thu không còn nữa

Tiếng đàn trôi trên sông nước nhạt nhòa
Tôi ngước nhìn vời vợi bóng mây qua
Rồi cũng nhớ em một mùa thu xa lắc…

Hình như người hành khất hát
Không phải bởi áo cơm mà bởi tiếng lòng
Và tiếng lòng lan tỏa
một chiều sông !
Nguyễn Minh Phúc

Cuộc sống cô đơn buồn tủi của Donald Trump


David Brooks( New York Times).

14570354_1085194384929040_8391658753998922752_n

Mục đích của những cuộc tranh luận kiểu gặp gỡ hỏi đáp (town hall) là để cử tri thông thường cũng có thể đặt câu hỏi cho các ứng viên. Trong số các cuộc tranh luận kiểu này mà tôi từng theo dõi, ứng viên thường hướng về phía cử tri, chăm chú lắng nghe và giải đáp (dù chỉ một phần) cho người đặt câu hỏi.

Sở dĩ họ làm thế là bởi hành động ấy lịch sự, bởi hình ảnh trao đổi nghiêm túc với người khác là một hình ảnh đẹp và bởi theo bản năng, phần lớn chúng ta đều muốn kết nối với người mà mình đang trò chuyện.

Chưa phải một hình mẫu thân thiện nhưng Hillary Clinton cư xử khá ổn trong đêm Chủ nhật vừa qua. Donald Trump thì không. Ông ta coi người đặt câu hỏi như thể những cỗ máy tự động, không can hệ tới mình và buông những câu trả lời vào khoảng không, kể cả khi ông ta có cơ hội để bày tỏ sự đồng cảm với người phụ nữ Hồi giáo trẻ tuổi.

Điều đó làm nổi bật vẻ cô độc của Trump.

Chính trị là một nỗ lực để kết nối con người, nhưng có vẻ Trump không có khả năng đó. Cơ bản, ông ta không có bạn, bên cạnh cũng không có ai tâm phúc. Nhìn một cách lạc quan thì đội ngũ vận động tranh cử của ông ta gồm toàn những kẻ làm thuê lạnh lùng, còn nếu xét tới trường hợp tồi tệ nhất thì tất cả những gì Trump có là Roger Ailes (ông chủ của Fox News).

Đảng Cộng hòa coi Trump không khác nào vết nhơ mà mình không tẩy nổi.

Phần lớn quãng đời của mình, Trump sợ bẩn và tránh tiếp xúc với người khác. Tôi có thể tưởng tượng ra hình ảnh ông ta một mình lọ mọ giữa đêm khuya, hậm hực tweet những dòng bình luận.

Trump đã tự phá vỡ kỷ lục của chính mình khi tuần nào cũng khiến ai nấy đều phát hoảng, nhưng khi chiến dịch tranh cử của ông ta tụt hết dốc này đến dốc khác, tôi cảm thấy một sự đáng thương, một nỗi buồn sâu sắc.

Hãy tưởng tượng như thể một ngày qua đi mà bạn không thể chia sẻ một khoảnh khắc tử tế nhỏ nhoi nào với ai, người thân cũng như người lạ.

Hãy tưởng tượng như thể bạn phải sống trong một thế giới đầy thù hận suốt một tuần lễ, vây xung quanh là những kẻ thù tự tạo, những đối tượng để ghê sợ và nhạo báng.

Bạn cũng sẽ thay đổi, sẽ biến chất và có lẽ sẽ nổi đóa, tìm cách trả thù thế giới này một cách thật tàn nhẫn. Thế mà cuộc đời Trump lại chỉ rặt toàn những điều như vậy.

Trump liên tục cho thấy những dấu hiệu của hội chứng mất cảm nhận, mất khả năng hiểu hoặc bộc lộ cảm xúc của bản thân. Chính vì không hiểu, những người mắc chứng này không thể tìm được mối liên hệ hoặc gắn bó với người khác.

Để chứng minh sự tồn tại của mình, họ thèm khát sự chú ý không ngừng của người khác. Thiếu đi thước đo giá trị của bản thân, họ phụ thuộc vào bên ngoài, ngoại trừ những tiêu chuẩn không bền vững như sức khỏe, sắc đẹp, sự nổi tiếng và sự phục tùng của kẻ khác.

Dường như Trump không có được tất cả những vui thú thường thấy ở tình bạn và sự hợp tác. Phụ nữ là để yêu thương nhưng trong trạng thái rối loạn của mình, ông ta chỉ biết ghét bỏ và bôi xấu họ. Vẻ làm thân của Trump giả tạo kinh khủng và ông ta tấn công phụ nữ như thể họ chỉ là bị thịt.

Hầu hết chúng ta đều cảm thấy ấm lòng khi cuộc sống của mình song hành cùng những giá trị cơ bản. Nhưng Trump sống trong một hành tinh vô luân kiểu Howard Stern, nơi ông ta không thể tận hưởng sự ngọt ngào mà lòng vị tha và việc hỗ trợ cộng đồng mang lại.

Những kẻ bắt nạt chỉ có cảm giác bình yên khi họ trở nên tàn nhẫn. Huyết áp của họ tụt ngay khi đánh đập trẻ con giữa sân chơi.

Hãy tưởng tượng bạn là Trump. Bạn đang lừa bịp để chèo kéo qua cuộc tranh luận. Bạn đang ứng cử vào một vị trí mà bản thân không hề đủ tiêu chuẩn. Bạn đang đeo đuổi một tia hy vọng mong manh ngày càng mờ nhạt.

Bạn chỉ thấy yên lòng mỗi khi xúc phạm người khác, khi bạn đe dọa tống đối thủ của mình vào tù, khi bạn lù lù phía sau bà ấy một cách đầy hăm dọa như một tên mafia chuẩn bị ra tay, khi bạn gào lên rằng bà ấy “đầy thù hận trong tim” mà ai cũng thấy rõ là bạn chỉ đang nói lên tiếng lòng của mình.

Bản chất dễ xúc động của Trump cho thấy ông ta chỉ có thể bày ra vài trạng thái: tức giận và công kích. Theo một cách nào đó, màn tranh luận của ông ta trông như kiểu giống linh trưởng đang phô trương ưu thế – đấm ngực bình bịch và gầm gừ đầy đe dọa. Nhưng ít nhất linh trưởng còn có bầy, Trump thì chỉ có một mình. Ông ta có làm gì thì cũng không ai quan tâm.

Thật quá thảm.

Sau hôm tranh luận, một trong số những người có quan điểm chỉ trích Trump, Erick Erickson, đã đăng một bài xã luận cảm động có tựa “Nếu tôi chết trước khi bạn thức giấc…”. Erickson trở thành mục tiêu tấn công của người ủng hộ Trump.

Thực ra, Erickson và vợ ông đều mang bệnh. Họ có thể sẽ qua đời trước khi con cái kịp trưởng thành. Nhưng đúng như được nói trong bài xã luận, họ đang sống cuộc đời đầy yêu thương, tin tưởng và hết mình, tận tụy. Cả hai đều thực tâm đặt niềm tin vào sự tốt đẹp của tạo hóa.

Bạn có thể chia sẻ niềm tin ấy, có thể không, nhưng Erickson đang sống một cách gắn kết – về cảm xúc, về tinh thần, về đạo đức và đầy tính cộng đồng.

Ngược lại, đời Trump nhìn ngoài thì có vẻ thành công nhưng sâu thẳm thì khốn khổ vô cùng. Không ai trong chúng ta muốn sống trong cõi hoang vu điêu tàn cô độc ấy, dù xung quanh có được dát vàng.

Ngày 9/11, ngày mà Trump thua cuộc, sẽ chẳng còn sự cô độc, cũng không còn những tiếng gầm oán hận. Ai nấy đều sẽ bỏ đi.

Thi Anh