ngoảnh lại

npphan

chợt ngoảnh lại, thời gian
đã nhuốm màu dâu bể
cho lòng ta như thể
quay quắt trời bão giông

trái tim nhạt máu hồng
những vòng đời hệ luỵ
trên con đường vạn lý
dẫn về một mùa ngâu

chợt ngoảnh lại, trên đầu
cả hai vầng nhật nguyệt
cả thu đông biền biệt
còn đắm mộng hoàng hoa

NP phan

BIỂN ĐÊM

vungocgiao

em ngồi cùng giọt nắng
hoàng hôn úa bên thềm
tiếng đàn ngoài hiên vắng
đã chìm vào lãng quên …

vẫn nghe hoài tiếng sóng
vỗ miệt mài tên em
hết đời ta có lẽ
chỉ còn là biển đêm …

vũ ngọc giao

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ai sẽ nói thay em?

trantrungdao

14590300_634418333386300_7467636231391982905_n
Ba mẹ con: Quỳnh, Nấm và Gấu

“Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” (who will speak if you do not) là câu nói mà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Blogger Mẹ Nấm, dùng để kết luận cho buổi phỏng vấn của phái viên CNN Andrew Stevens ngày 18 tháng 6, 2010 tại Sài Gòn. Chương trình Viet Nam Internet Crackdown được chiếu ở Mỹ và phát đi nhiều quốc gia trên thế giới.

Câu nói là một danh ngôn khá phổ biến từ lâu trong xã hội Tây Phương. Người viết đọc đâu đó rằng chính triết gia Đức gốc Ba Lan Friedrich Nietzscheđã nói mặc dù trong danh sách những câu danh ngôn của ông lại không có câu này. Câu “Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” còn là tựa của bài hát của nhạc sĩ Marty Haugen sáng tác năm 1993 và thường được hát trong các lễ nhà thờ đạo Tin Lành.

Thật ra, ai là tác giả câu danh ngôn đó có lẽ không cần thiết để bàn mà quan trọng ở chỗ Như Quỳnh đã dùng đúng lúc để nói lên một thực tếđau lòng đã và đang đè nặng lên xã hội Việt Nam suốt mấy mươi năm, đó là sự im lặng của đa số người Việt trước các bất công mà chính họ đang chịu đựng.

Trong buổi phỏng vấn của CNN, Như Quỳnh thừa nhận với phái viên Andrew Stevensem rất sợ. Sợ khủng bố, sợ đe dọa, sợ theo dõi, sợ hành hung, sợ đánh đập, sợ tù đày và sợ bị giết chết. Những nỗi sợ đó ám ảnh ngày đêmngay cả những người dân vô tội đừng nói chi là người lúc nào cũng bị rình rập, đe dọa như Như Quỳnh.

Năm đó, cháu Nguyễn Bảo Nguyên mới vừa lên bốn tuổi. Cánh chim nhỏ trong khu vườn đời của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bắt đầu tập hót. Mùa xuân đang về trong căn nhà nhỏ dù bên ngoài trời vẫn còn mưa lớn.

Chắc chắn không phải một lần mà có thể hàng trăm lần Như Quỳnh nhìn con và tự hỏi, phải chăng mình nên dừng lại để sống với con, với gia đình, ít ra cũng không hổ thẹn vì đã ít nhiều đóng góp được phần mình, chuyến tàu lịch sử sẽ tiếp tục và sẽ có người khác bước lên để tiếp tục hành trình, đất nước của chín chục triệu người dân chứ đâu của riêng mẹ con mình.

Đồng thời, chắc đã có một hay hai lần Như Quỳnh tắt máy vi tính dắt con ra biển Nha Trang, nhìn con đùa vui theo từng đợt sóng và hy vọng ngày mai sẽ không lo ai rình rập ngoài cửa nhà. Một cuộc sống bình thường sẽ trở lại với mẹ con Như Quỳnh.

Nhưng không, tiếng gọi của đất nước trong tâm hồn Như Quỳnh lớn hơn tiếng hót của chim. Lý tưởng góp phần xây dựng một quê hương tốt đẹp hơn cho thế hệ của Nguyễn Bảo Nguyên thúc giục hơn tiếng cười giòn giã của con. Lý tưởng tuổi trẻ dấn thân vì một Việt Nam tốt đẹp đã là một phần không thể tách khỏi cuộc đời Như Quỳnh.

Như Quỳnh có một đời sống đầy ý nghĩa. Nếu đặt qua một bên niềm tin tôn giáo hay sự giải thích dựa vào niềm tin tôn giáo, một người sống không lý tưởng, cuộc sống sẽ vô vị biết bao. Chẳng qua chỉ là sự lập lại một cách nhàm chán những công việc, những ngày, những tháng, những năm, những tiếng cười và nước mắt, những hơn thua và tranh chấp, cho đến cuối cùng một hơi thở hắt ra. Nhưng với một người sống có mục đích như em, những khoảnh khắc dù chỉ một vài giây phút cũng đáng sống. Emkhông chỉ sống cho hôm nay mà cho ngày mai và nhiều ngày mai sẽ tới. Như Quỳnh tiếp tục lên đường dù biết có thể phải trả một giá vô cùng đắt mà một bà mẹ nào cũng run rẫy khi nghĩ đến, đó là xa con một thời gian dài.

Đêm nay ở một nhà tù nào đó trên quê hương nỗi nhớ con đang cắt từng phần da thịt của Như Quỳnh và đêm nay trong căn nhà nhỏ ở Nha Trang, hai con chim non Bảo Nguyên và Nhật Minh không hót nữa, hai cháu đang khóc vì nhớ mẹ.

Tội ác của chế độ CS không phải vì bắt một người dân mà độc ác hơn là chia cắt tình thiêng liêng của mẹ con, cha con, vợ chồng, anh em, chị em như họ đã làm từ 1954 tại miền Bắc và suốt 41 năm trong phạm vi cả nước. Những người chết trong Cải Cách Ruộng Đất, trong Thảm Sát Mậu Thân có thể đã nằm yên trong lòng đất nhưng nước mắt của gia đình, thân nhân họ chảy dài theo lịch sử.

Lý do nhà cầm quyền CS bắt Như Quỳnh cũng không quá khó để hiểu.

Trong lúc CSVN không dám thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Formosa của dân chúng các tỉnh miền Trung trong đó đa số là đồng bào Thiên Chúa Giáo, họ tìm mọi cách cô lập, ngăn chặn không cho các cuộc biểu tình mang màu sắc tôn giáo phát triển thành một phong trào quần chúng rộng lớn với sự tham gia của các thế hệ và các thành phần dân tộc.

Đặc điểm chung của các phong trào xã hội là tự phát, thiếu tổ chức và thiếu kiên trì với mục đích. Hiểu được điều đó, các lãnh đạo CSVN tập trung đắp đập ngăn bờ, chờ cho phong trào từ từ lắng dịu và tìm cách vuốt ve thỏa hiệp.

Con số ba chục ngàn đồng bào biểu tình chống Formosalà con sốlớn. Phải nói là rất lớn. Cuộc biểu tình của đồng bào Vinh lớn hơn nhiều so với cuộc biểu tình của nhân dân Rumani tại thành phố Timișoara chống chính quyền Nicolae Ceaușescu cũng dưới màu sắc tôn giáo khi nhà cầm quyền CS này trục xuất Linh mục gốc Hungary László Tőkés ra khỏi Rumani. Điều khác nhau là cuộc biểu tình tại thành phố Timișoara đã nhanh chóng trở thành phong trào toàn dân lật đổ chế độ độc tài CS Ceaușescu.

Bài học cách mạng dân chủ Rumani, Ba Lan, Philippines, Haiticho thấy một khi lời kêu gọi của các lãnh đạo tôn giáođược mọi thành phần quần chúng lắng nghe và hưởng ứng, ngày cáo chung của chế độ độc tài có thểđược đếm trên đầu ngón tay.

Tiếng nói của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là một trong những tiếng nói trẻ có thái độ dứt khoát chống Formosa, do đó, bắt Như Quỳnhkhông chỉ giới hạn một tiếng nói mà giới hạn khả năng của một chiếc cầu liên kết giữa phong trào chống Formosa tại Vinh, Nghệ An và Hà Tĩnh với các mạng lưới khác đang hoạt động trong nhiều lãnh vực từ nhiều năm nay.

So với khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh than “Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” vào sáu năm trước, cục diện đã nhiều thay đổi. Đại đa số người dân, ở mức độ khác nhau, đều thấy những bất công phi lý đang diễn ra hàng ngày trên đất nước, đều thấy rõ sự sai lầm của chế độ, đều có trong lòng chung một khát vọng tự do.

Những ngày tháng tới là thời gian đầy thách thức và có tính quyết định không phải chỉ đối với ngư dân Hà Tĩnh, Nghệ An, không phải chỉ của riêng một tôn giáo nào mà của cả dân tộc. Lịch sử nhân loại và đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống CS châu Âu cho thấy, dù sức chuyển động âm ỉ nhiều năm, ngày sang trang đều diễn ra nhanh chóng.

Việc bắt giam Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và hành hung các nhà hoạt động dân chủ trong mấy ngày qua chỉ là những hành động vá víu, tuyệt vọng của nhà cầm quyền CS, không làm thay đổi tiến trình dân chủ Việt Nam mà chỉ đun nóng thêm lòng công phẫn. Tiếng nói của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tạm thời bị chặn nhưng hàng triệu đồng bào sẽ nói thay em.

Trần Trung Đạo

PLEIKU EM MẮT BIẾC BANA

linhphuong

Trở lại tây nguyên chiều bâng khuâng
Cùng em say uống ché rượu cần
Để thấy váy hoa xoè thổ cẩm
Và nụ cười con gái dễ thương

Lưng lửng trời mây- lưng lửng mây
Phố cao sương ướt lạnh vai gầy
Đưa em về buôn làng xa lắc
Tay không nỡ rời- nắm lấy tay

Ước gì anh chim phí của rừng
Tối bay về đậu nóc nhà rông
Chờ đêm đốt lửa nhìn em múa
Vũ khúc mê hồn trong điệu xoang

Rồi anh như chàng trai của núi
Ngực phơi trần nắng sẫm màu da
Lẽo đẽo theo em đi trẩy hội
Cứ nhớ hoài mắt biếc Ba-na

Trở lại tây nguyên chiều bâng khuâng
Nghe âm vang rộn tiếng chiêng cồng
Nghe mơ hồ chim Chơ-rao gọi
Pleiku anh về đón mùa sang

LINH PHƯƠNG

GIÃ TỪ ÂN PHÚC

nguyenducbatngan

mai tôi đi nghe khung trời mùa hạ
nắng hanh vàng về chết giữa thinh không
tôi vào mây làm hẹn hò thật lạ
đời em trôi như nhịp nước xuôi dòng

mai tôi giã từ nghe trời mùa hạ
gửi hẹn thề cho cánh gió trên cao
tình chết ngày xưa bây giờ mấy ngã
vườn chung thân xin mở lối tôi vào

mai xa xôi rồi phải không mùa hạ
còn sợi tóc nào trong nắng hoang sơ
trả lại cho cây xanh màu đọt lá
tình chết trong tôi không biết bao giờ

còn màu nắng nào vàng phai trong mắt
còn ân tình nào để lại cho em
có trong tôi một tình cờ vuột mất
dáng em xưa về thoáng hiện êm đềm

tôi còn những gì với đời tội lỗi
nắng bỗng rưng rưng gục xuống nguyện cầu
mai ra đi rồi biết gì sám hối
hồn cũng mỏi mòn nhỉ giọt đêm thâu

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

CƯỠI NGỌN SẤM 30

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 25

Chính ngọ tại Đông Hà

Cho đến sáng sớm ngày Chủ Nhật lễ Phục Sinh thì cuộc tổng tấn công “Nguyễn Huệ” kéo dài gần bốn ngày đã lan rộng và lôi cuốn cả hai bên lâm trận: quân Bắc Việt trên đà thuận lợi trong khi phe VNCH bị thất thế hơn. Sự kiện Trung đoàn 57 rút lui và trở thành một cuộc thoát chạy tán loạn, đồng thời với sự hỗn loạn và sương mù bao trùm vùng địa hình đặc biệt đó của Vùng I Chiến Thuật đã để lại những hậu quả xấu càng lúc càng nhiều. Khi mất trật tự thì mất lòng tin, mà khi đã mất tự tin rồi thì các tin đồn, nhất là tin đồn thật xấu sẽ thay vào khoảng trống thiếu thông tin.

Không ai rõ là tin tức về việc quân Bắc Việt và đoàn chiến xa hộ tống đã vượt qua cầu và đang làm chủ tình hình một phần của Đông Hà có phải do binh sĩ và truyền tin của Trung đoàn 57 bị đánh tan rã loan truyền ra nhằm bào chữa cho sự tháo chạy hèn nhát của họ hay không. Ngoài ra bọn Bắc Việt lâu nay vẫn chứng tỏ sự quỷ quyệt trên nhiều mặt và có thể chính bọn chúng đã xâm nhập vào mạng lưới vô tuyến phe ta bằng cách sử dụng các thiết bị được bỏ lại để loan truyền tin thất thiệt nhằm có lợi cho chúng. Cường độ các loạt pháo kích gần đây cho thấy là cũng không khó tin lắm nếu cho rằng quân Bắc Việt đã thực sự đến Đông Hà rồi. Tuy nhiên điều đó không đúng sự thật hoặc ít nhất là chưa đúng.

Cả Bình và Ripley đều hiểu sự tác hại ngấm ngầm của các loại tin đồn đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến phe ta và dân còn bị kẹt lại, ngay cả ảnh hưởng dến các binh sĩ TQLC nữa. Chắc chắn trong lòng họ cũng hoang mang như các đơn vị QLVNCH đang tháo chạy một cách nhục nhã, tuy chưa hề có một chiến sĩ Sói Biển nào rời bỏ vị trí chiến đấu. Sự khác biệt ở đây là tinh thần kỷ luật tột bực, tính chuyên nghiệp và tài lãnh đạo chỉ huy. Hành động táo bạo, quyết liệt và lời nói rất cần để xoay chuyển tình thế, nhằm cổ động tinh thần các lực lượng VNCH, gieo niềm hi vọng và mục đích vào trong lòng họ và cho họ biết là cuộc chiến chưa chấm dứt.

Người Mỹ và người phương Tây nói chung có thể sẽ hiểu được tính cách và bản chất của những lời động viên, tuy có màu mè nhưng hết sức cần thiết cho tình hình mà Lê Bá Bình sắp sửa tuyên bố sau đây. Những ai am tường về lịch sử chắc hẳn sẽ nhớ lại kiểu diễn văn ngắn gọn của Winston Churchill “Đây là giờ phút ưu việt nhất của họ,” hay của John Paul Jones “Tôi chưa bắt đầu chiến đấu…”

Để dập tắt cơn bão, Bình ngỏ lời trước với John Ripley, nói là anh muốn người cố vấn này hãy loan báo cùng một thông điệp với anh cho cả “thế giới” được nghe. Mục đích của Bình là muốn cho phe Cộng sản lẫn phe ta đều nghe được nếu bắt trúng tần số truyền tin. Nếu địch nghe thì chúng sẽ hiểu là đã có một “cảnh sát trưởng” mới trong thị trấn rồi. Sẽ không còn dị nghị hay lập lờ gì nữa. Không rút lui, không nhường đất mà không buộc phải trả giá thật đắt. Từ thuở còn là một cậu bé ở Tân Định, Bình đã hết sức ngưỡng mộ Gary Cooper và đã xem các phim có anh đóng, mà hầu hết là xem nhiều lần. Ngày hôm nay chính là thời điểm “Chính Ngọ” của bản thân và anh sẽ cố thủ vị trí của mình với cơ may còn tồi tệ hơn của Cooper rất nhiều.

Trong bối cảnh lịch sử lâu dài của Việt Nam, những câu nói của Bình có thể được đem ra để so sánh với bất cứ lời tuyên cáo nào của các anh hùng hào kiệt nổi tiếng hơn trong lịch sử mà nam nữ học sinh Việt Nam đều biết. Và nếu như các Sói Biển có thể trụ lại được tại đây và bằng cách nào đó giúp xoay chuyển được tình thế thì phần đóng góp của họ trong lịch sử hai ngàn năm liên tục chống ngoại xâm và áp bức sẽ được ghi nhận.

Hiện tại thì Bình không có thời gian để nghĩ về vai trò của mình trong lịch sử vào buổi sáng ngày lễ Phục Sinh đó. Anh chỉ muốn tập trung vào việc tuân hành mệnh lệnh và ngăn chận Cộng sản; tức trấn giữ Đông Hà bằng mọi giá. Bình thấu hiểu mệnh lệnh như vậy sẽ có hậu quả như thế nào. Nhưng anh đã quyết chí và sẽ dốc lòng thi hành nhiệm vụ.

Liệu hành động của Bình và 700 binh sĩ Sói Biển anh chỉ huy để chống lại 20.000 quân xâm lược có thể sánh được với Hai Bà Trưng hai ngàn năm về trước hay của vua Lê Lợi vào thế kỷ 15 hay không thì còn phải chờ đó để xem xét lại. Chuyện này tùy thuộc vào điểm họ sẽ chiến đấu dũng mãnh như thế nào và nhất là có được ai ghi chép lại trận giao tranh sắp xảy ra mãnh liệt tại Đông Hà hay không?

Các binh sĩ Sói Biển mang cảm giác lẫn lộn, vừa đau đớn vừa động lòng trắc ẩn khi chứng kiến, từ các chiến hào mới đào sát bên cạnh cây cầu và dòng sông, nhóm binh sĩ mới vài tiếng đồng hồ trước đây còn là lính của Trung đoàn 57 nay đang tháo chạy toàn bộ lẫn lộn với các nạn nhân chiến cuộc đầy bất hạnh. Không có ai trong các binh sĩ của Bình mà không khinh bỉ bọn đào binh VNCH này. Họ đã chấp hành kỷ luật ở lại Đông Hà theo lệnh, nhưng đối với một số TQLC thì họ cần phải giữ vững tinh thần kỷ luật hơn để không phải quay súng bắn vào những kẻ cho đến giờ phút mới đây còn là đồng đội không tương xứng với mình trong việc chung vai gánh vác. Hành động phí phạm số đạn dược quý giá này chỉ làm hạn chế thêm khả năng chống cự lại bọn Bắc Việt đang tấn công vì công tác tiếp tế hiện gặp nhiều trở ngại. Đáng lẽ ra các binh sĩ Trung đoàn 57 đã có thể cáng đáng phần nào trách nhiệm phòng thủ cái khu vực này của tỉnh Quảng Trị mà then chốt là cây cầu Đông Hà thì nay nhiệm vụ này rơi xuống bốn Đại đội TQLC, tăng cường thêm một Tiểu đoàn Thiết Giáp chưa được thử lửa bao giờ.

Bình và Ripley leo lên một chiếc M-48 thuộc Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp, bất chấp nguy hiểm di chuyển về Đông Hà khi nghe tin đồn thất thiệt là quân Bắc Việt đã vượt qua sông. Bình ra lệnh cho chiến xa tạm ngừng lại và cả hai nhảy ra khỏi xe tăng để truyền tin. Bản tin được gởi đi qua hai hệ thống. Vẫn bằng một phong thái bình tĩnh cố hữu, Bình quay sang phía viên cố vấn mà anh rất tin tưởng, nói:

Đại úy Ripley, nếu anh đồng ý, tôi sẽ gởi một thông điệp qua mạng lưới chỉ huy của tôi và xin anh cũng làm như vậy qua hệ thống cố vấn của anh để không thể có một sự hiểu lầm nào hết.

Bản hiệu lệnh như sau:

Có tin đồn là Đông Hà đã thất thủ. TQLC vẫn còn ở Đông Hà. Lệnh của tôi là tử thủ Đông Hà. Chúng tôi sẽ chiến đấu tại Đông Hà và chúng tôi sẽ chết ở Đông Hà. Chúng tôi không bỏ nó. Khi nào còn một chiến sĩ TQLC, Đông Hà vẫn thuộc về chúng ta.

DAVID CHỐNG LẠI GOLIATH – PHONG CÁCH CỦA TQLC VIỆT NAM

Hạ sĩ Lượm là trưởng toán hỏa tiễn chống chiến xa cho toán A của Trung Đội Vũ Khí Nặng thuộc Đại Đội 1. Trước khi nắm quyền chỉ huy Tiểu đoàn 3 và trước khi làm Tiểu đoàn phó, Bình đã từng là Đại đội trưởng Đại đội 1. Bình biết Lượm rất rõ. Anh biết Lượm là một chiến sĩ TQLC giỏi, một người chỉ huy có bản lĩnh, nhanh nhẹn, cương quyết và dũng cảm. Phụ trách toán hỏa tiễn chống chiến xa không có ý nghĩa gì nhiều mà chỉ là thêm một trách nhiệm cho lính tác chiến. Hiện không có nhiều hỏa tiễn lắm, trong trường hợp này là súng phóng hỏa tiễn M-72 LAAW. Theo những điều mà người khác báo cáo lại cho Bình và Ripley thì trong thời điểm này của cuộc chiến chỉ có khoảng 10 khẩu trong toàn bộ Tiểu đoàn.

SÚNG PHÓNG HỎA TIỄN M-72

Được coi như là một loại vũ khí “đời mới” trang bị cho lính bộ binh nhằm thay thế cho khẩu Bazooka đáng nể nhưng không hiệu quả lắm trong thế chiến thứ II tuy có một vài lần nổi tiếng hữu hiệu trong chiến tranh Triều Tiên, súng phóng hỏa tiễn M-72 (Light Anti-Armor Weapon LAAW) – thường được gọi là “khẩu LAAW,” cũng không được ưa chuộng lắm để được binh lính tặng cho biệt danh. Được mang ra sử dụng vào giữa thập niên 1960 cho các đơn vị Hoa Kỳ và NATO, loại vũ khí mới này có một vài đặc tính phù hợp với thời đại 60: gọn nhẹ, xài xong một lần bỏ đi và có một đầu đạn đủ sức xuyên phá nhiều lớp sắt thép. Đối với các lực lượng NATO, đó là vũ khí của khối Liên Minh Bắc Đại Tây Dương đối chọi lại với khẩu phóng lựu B-40 (Rocket Propelled Grenade RPG) của khối Hiệp Ước Varsovie. Khẩu M-72 có thể được mang theo, giống như mọi thứ mà quân đội Hoa Kỳ vác theo – và họ có vẻ mang theo quá nhiều thứ trang thiết bị – vào chiến trường để sử dụng chống các loại thiết xa và vị trí phòng thủ kiên cố. Tại Việt Nam là một nơi hầu hết không phải là xứ dành cho chiến xa, khẩu LAAW được quan niệm để sử dụng chống lại các hầm hố ngụy trang khéo léo có khắp mọi nơi của bọn Bắc Việt và Việt Cộng quỷ quyệt.

Được mệnh danh là một loại vũ khí có thể “xuyên phá 12 inch thép nguyên chất,” các huấn luyện viên khắp xứ liên tục huênh hoang điều này làm như họ biết rõ “thép nguyên chất” là cái gì vậy. Có lẽ họ liên tưởng đến sữa tươi và lạnh. Cũng chẳng sao. Nếu sử dụng đúng cách, đầu đạn LAAW có thể, trên lý thuyết, xuyên thủng tất cả các loại chiến xa của khối Hiệp Ước Varsovie và thực hiện mỹ mãn công việc thiêu sống đám lính bên trong.

Cái trở ngại lớn nhất là tầm hoạt động của súng. Giống như cái Bazooka, tầm hiệu quả tối đa theo quảng cáo là trong khu vực từ 200 đến 250 mét. Bất cứ tay súng nào mà chịu nằm yên cho tới khi một chiếc chiến xa 40 – 60 tấn đến gần phải là một gã có hai “hòn dái” khổng lồ hoạt động tối đa nhằm đủ sức sản xuất ra lượng testoterone phụ trội cần thiết, hay đơn giản hơn phải là một thanh niên chỉ muốn đi tìm cái chết. Một người ôm một cái LAAW ở khoảng cách 250 mét tức là nằm trong tầm bắn của tất cả mọi thứ gắn trên chiến xa; khẩu cà-nông và tất cả các khẩu súng liên thanh kèm theo. Bộ nhắm dùng cho súng LAAW gồm từng nấc 25 mét ngụ ý cho xạ thủ là nếu biết khéo léo sử dụng sức gió cộng với “lời cầu nguyện” thì may ra có khả năng bắn trúng một mục tiêu đang đe dọa mình. Các ý tưởng và sự so sánh trong câu chuyện “David chống lại Goliath” quả là không ngoa chút nào.
Ngay cả sau khi đã bắn một quả LAAW trong lúc thực tập và

thấy rõ ràng sức phá hoại được gây ra cũng chưa chắc đã tạo đủ niềm tin rằng cái khẩu mình đang mang theo sẽ làm được trò trống gì. Với cái vỏ làm bằng một loại nhựa và sợi thủy tinh, khẩu M-72 cũng vô dụng nếu phải cận chiến và sẽ vỡ vụn ngay nếu muốn dùng nó như là một cái gậy bóng chày nhằm đập vào đầu địch. Cái trọng lượng nhẹ – nặng vào khoảng hơn năm cân Anh một chút kể cả đầu đạn bên trong – tạo ra cái cảm giác không tương ứng với sức công phá theo như trong tài liệu. Nếu được sử dụng như một vũ khí phá hầm hố và công sự phòng thủ khi không có các loại vũ khí hỏa lực trực tiếp nào khác thì xài khẩu LAAW cũng tạm được. Tuy nhiên để hoàn thành thành tích đáng kể diệt nổi một chiếc chiến xa đòi hỏi rất nhiều thứ; trong đó tất cả các quân bài phải được chia tuyệt đẹp và các tinh tú tử vi phải được nằm đúng ngay cung đã định!

Hạ sĩ Lượm và một TQLC trong toán hỏa tiễn đã áp sát đầu Nam của cầu Đông Hà trong tư thế vừa lom khom vừa bò tới. Trong lúc bò, vẫn còn một số người tỵ nạn đang chạy băng qua cầu mặc dầu số lượng nay đã giảm đi rất nhiều. Bọn Bắc Việt đã đến phía bờ Bắc của sông Cam Lộ-Cửa Việt cùng cây cầu thành thử lượng giao thông đã giảm hẳn. Không còn lính tráng nữa, hay ít nhất là không còn lính đào ngũ của cái Trung đoàn 57 đáng xấu hổ chạy lẫn trong đám người thất thểu nữa.

Hầu để tự bảo vệ, mà có lẽ do tâm lý nhiều hơn là những gì khác, Hạ sĩ Lượm và anh bạn đồng đội trẻ đẩy ra phía trước hai chiếc thùng đạn chứa đầy cát trong lúc đang trườn tới vị trí tác xạ tại phía Nam của cây cầu nhằm có một tầm bắn trực xạ qua đầu cầu phía Bắc nếu địch tràn qua. Dân chúng vẫn còn tiếp tục vượt qua cầu mặc dù số lượng có giảm đi nhiều trước khi bọn Bắc Việt xuất hiện. Hai chiến sĩ TQLC chậm rãi bò vào vị trí tác xạ khoảng 200 mét trước một chiếc T-54 lẻ loi màu lục của Bắc Việt đang chuẩn bị tiến lên cầu từ bờ Bắc của dòng sông.

Trong lúc hai người đang làm chuyện này thì giao tranh bùng nổ khắp nơi. Bình đã đưa Đại đội 1 vào vị trí sát cạnh dòng sông phía Đông của cây cầu với trách nhiệm phòng thủ cho cả cây cầu. Đại đội 4 thì được giao trách nhiệm chiến thuật bảo vệ phía Tây cây cầu. Cánh chỉ huy Alpha có Ripley, các nhân viên truyền tin gồm cả Nhã và toán cận vệ của Bình cùng với thành phần bộ chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp VNCH thì lui xuống khoảng 50 mét từ chỗ giao tranh nhằm kiểm soát và quan sát dễ hơn. Từ vị trí thuận lợi đó, Bình, Ripley, Smock và ông xếp Việt Nam có thể theo dõi trọn vẹn từ trên xuống dưới được cả hai bờ của dòng sông.

Ripley quan sát Hạ sĩ Lượm mà anh mới gặp với tất cả sự say mê. Lượm và tay TQLC cố ý chậm rãi vào vị trí trong khi vừa đẩy vừa kéo hai cái thùng đạn với hai khẩu LAAW chưa mở khóa an toàn. Không cần phải thông minh lắm cũng hiểu được chuyện gì sắp xảy ra. Nếu Lượm và người kia mỗi người nặng 100 cân khi ướt sũng thì chắc Ripley phải nặng như ông già Nô-en. Không biết là Bình có thấy hay không nhưng Ripley cũng gọi với qua: “Thiếu tá!” và đưa ngón tay chỉ chỏ. Bình nào có sót điều gì. Anh rất rành kinh Cựu Ước tuy là Phật tử nên câu trả lời của anh cho viên cố vấn bằng Anh ngữ thật chuẩn không làm Ripley ngạc nhiên. “Ripp-lee. David chống Goliath!” Bình mỉm cười, thật sự là mỉm cười thậm chí đến độ gần như bật cười khi tuyên bố như vậy. Ripley chưa hề thấy Thiếu tá Bình cười bao giờ kể từ lúc họ đến Đông Hà vào khuya ngày 30.

Lê Bá Bình đã dành trọn cuộc đời binh nghiệp của mình với cương vị sĩ quan TQLC của Tiểu đoàn 3; một quãng đời dài gần bằng hai lần rưỡi thời gian tham chiến của Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ II, và dài hơn bốn lần thời gian phát sóng của chương trình “Batman” trên băng tần chính đài truyền hình Mỹ. Như vậy ngoại trừ non một năm được thụ huấn tại trường căn bản quân sự ở Quantico với tư cách sĩ quan của Tiểu đoàn 3, Bình đã phục vụ và chiến đấu trong hàng ngũ Sói Biển trong suốt thời gian còn lại.

Để hình dung sự việc theo quan điểm của người Mỹ, Bình đã gia nhập Tiểu đoàn 3 cùng lúc với chương trình Beverly Hillbillies xuất hiện trong sinh hoạt hằng ngày của người Mỹ. Cho đến buổi sáng lễ Phục Sinh 1972 thì chương trình Jed, Grannie, Ellie Mae, và Jethro đã được chiếu đi chiếu lại một năm rồi. Mà Bình vẫn còn chiến đấu như thường lệ.

Đến nay, Bình đã tám lần bị thương nếu dựa vào tiêu chuẩn để được tặng thưởng Chiến Thương Bội Tinh mà anh bạn John Ripley đã áp dụng khi còn làm Đại đội trưởng Lima Company từ hồi 1967: “bị ngã gục,” tức phải bị trúng đạn và vết thương phải là hậu quả trực tiếp lúc giao tranh với địch quân. Nếu áp dụng tiêu chuẩn thấp hơn, mà trên thực tế không ít binh sĩ Mỹ đã sử dụng để đòi thưởng Chiến Thương Bội Tinh thì các vết thương của Bình quá nhiều không thể nào đếm xiết.

Các huy chương cá nhân của Bình bao gồm hầu hết tất cả các loại dành cho lòng dũng cảm và tài chỉ huy xuất chúng hiện có của cái đất nước còn non trẻ, trong đó có nhiều chiếc được tặng thưởng nhiều lần. Giờ đây thì Ripley đã quá quen thuộc với các loại huy chương của các chiến sĩ QLVNCH, chẳng hạn khi họ xuống Sài Gòn tham dự những buổi lễ như đám cưới của Bình, cho nên anh đã có khả năng – giống như anh vẫn thường quan sát các binh sĩ Hoa Kỳ – nhìn một người mặc quân phục, dựa vào số huy chương đeo trên ngực để “đọc” và hiểu rõ cuộc đời binh nghiệp và chiến đấu của người đó như thế nào. Ngoài ra Bình cũng đã từng được tặng thưởng bốn Ngôi Sao Đồng của Hoa Kỳ trong những lần hành quân hỗn hợp với quân đội Hoa Kỳ trước kia. Điều này hiển nhiên đã chứng tỏ cho mọi người thấy, chỉ riêng trên khía cạnh hạn hẹp này, là ít có người sánh nổi với Bình trong cái “nghề nghiệp” chiến đấu của anh.

Các huy chương mà Bình được thưởng, giống như đối với các chiến sĩ thực sự khác, cũng không đo lường được hết lòng dũng cảm, sự tận tụy cho quê hương hay chiều sâu của lòng hi sinh của anh. Điều quan trọng hơn cả là uy tín của Bình trong cái tập hợp nhỏ các sĩ quan TQLC Việt Nam đang chung sức gánh vác quá nhiều cái gánh nặng bảo vệ quê hương điêu linh. Trong nhóm các nhân vật quyết tâm và tin cậy này thì Bình được coi là “người nhà” và được tất cả công nhận là một trong những người xuất sắc nhất. Khả năng chỉ huy của anh xuất chúng. Các ý kiến của anh đáng tin cậy và được đánh giá cao. Anh là người đã tạo ra sự khác biệt cho binh chủng TQLC nói riêng và cho đất nước VNCH nói chung.

Đối với người Mỹ, cái khái niệm đi chiến đấu gian khổ trong suốt 10 năm trời có vẻ như là một thiên thu. Nhưng trong suốt chiều dài lịch sử hai ngàn năm của Việt Nam được điểm tô bằng quá nhiều cuộc đấu tranh và xung đột, xâm lược và chinh phục, thì hơn ba ngàn ngày chiến đấu của Bình và xương máu mà bản thân anh đã đổ ra cũng không có gì là ghê gớm lắm; và cũng khó tạo thành một cái đốm nhỏ trên bất kỳ sơ đồ nào nếu có ai đó thử vẽ lại lượng thời gian dài như vậy trong cái tổng thể của sự vật.

Phục vụ trong Tiểu đoàn 3, Bình đã liên tiếp nắm các chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó và bây giờ là Tiểu đoàn trưởng. Nếu nói ai có đủ tư cách để đại diện cho tổ chức thì Bình chính là biểu tượng của Tiểu đoàn 3 vậy. Khi xét về bản chất và các đặc thù về truyền thống của quân đội VNCH, đặc biệt là binh chủng TQLC trong đó đơn vị trưởng có thẩm quyền uốn nắn thuộc cấp phù hợp theo cá tính của mình thì không có gì ngạc nhiên là các Sói Biển đã phản ánh phong cách chiến đấu lì lợm của vị chỉ huy mà họ thờ kính.

Khi một người chỉ huy có khả năng truyền đạt được tinh thần chiến đấu với những nguyên tắc mà anh cho là có giá trị nhất thì Tiểu đoàn 3 đúng là đã đáp ứng được các nguyên tắc đó. Trong một quân đội mà tinh thần “sùng bái lãnh đạo” là một điều bình thường thì thật may mắn cho đất nước Việt Nam Cộng Hòa là ảnh hưởng của Bình đã tác động được nhiều như vậy trên uy thế của quân đội tại Đông Hà.

Mặc dù ở vị trí không đầy 100 mét từ cây cầu Đông Hà và không thể nói là an toàn được nhưng Ripley vẫn cảm thấy anh đang đứng ngoài những sự kiện sắp xảy ra. Hiếm khi nào trong kinh nghiệm của bản thân, từng là Đại đội trưởng tác chiến và bây giờ là cố vấn, anh lại có cảm giác mình chỉ là một khán giả trong trận đánh này. Tuy vậy ngay trong thời điểm này, anh, Bình, Smock, Nhã và tất cả những người khác, toàn bộ cánh Alpha lại đứng bên ngoài theo dõi Hạ sĩ Lượm và bạn đồng đội, giống như trong một trận đấu thể thao kỳ lạ, đang lao vào đường đi của chiếc T-54 dẫn đầu sắp sửa bò qua cầu. Các binh sĩ TQLC và hai người cố vấn gần như là bị mê hoặc bởi sự điềm tĩnh của Lượm, gần như là thản nhiên khi anh sửa soạn cho hai, chỉ có hai phát đạn LAAW.

Điều khó hiểu hơn nữa là cách đối phó của tay chỉ huy chiến xa trên chiếc T-54 dẫn đầu đối với cái mối hăm dọa tuy là nhỏ nhoi này. Dù không cần thiết lắm nhưng Ripley vẫn sử dụng ống nhòm để nhìn chiếc xe tăng. Chiến xa Bắc Việt được sơn bằng một màu lục nhạt xấu xí, ghê tởm và màu mè. Bọn Cộng sản rõ ràng là không có một chút phong thái nào về mỹ thuật cả. Đại úy Ripley có thể trông thấy cái đầu và phần ngực của tên chỉ huy chiến xa lộ ra trên nóc pháo tháp của chiếc T-54. Anh để ý thấy cái mũ da theo kiểu phi hành gia Liên Xô lỗi thời của tay lính thiết giáp địch. Trong một thoáng kỳ lạ anh liên tưởng đến huấn luyện viên Knute Rocke (cũng đội một cái nón như vậy) và đội football Notre Dame thời xa xưa. Sự tương đồng duy nhất cho ý tưởng đó là anh và Smock có lẽ sắp sửa phải hô lên “Làm một trái cho Gipper đi!”

Nhìn qua ống nhòm, chắc chắn là John Ripley thấy được ánh mắt dửng dưng, thậm chí pha một chút ghê tởm trên mặt tên chỉ huy chiến xa. Tại sao hắn không chỉ đơn giản bóp cò một loạt ngắn từ khẩu súng liên thanh trên nóc pháo tháp thanh toán cho xong cái toán hỏa tiễn này rồi vượt qua cầu ủi nát cái đám TQLC vô phương chống lại chiến xa là một điều bí mật đối với tất cả mọi người, đặc biệt là Ripley.

Phát LAAW đầu tiên của Hạ sĩ Lượm bắn trật mục tiêu xa lắc; bay cầu vồng trên cao và phát nổ vô hại đàng sau chiếc T-54, lại còn không may là rớt xuống đất mà cũng chẳng có tên Cộng sản nào chung quanh. Không mảy may suy suyển, Lượm sửa soạn phát thứ hai. Chiếc xe tăng đậu yên một chỗ, do đó Lượm điều chỉnh dễ hơn cho phát đạn cuối cùng. Ripley, Bình và tất cả các TQLC khác đang theo dõi sự kiện đều không ngờ là chiếc chiến xa địch vẫn không nhúc nhích. Họ đều chờ đợi cho loạt liên thanh tất yếu sẽ chấm dứt tất cả mọi chuyện. Điều đó đã không xảy ra.

Phát thứ hai của Lượm đã được chỉnh lại thật đúng. Quả đạn trúng chiếc T-54 ngay tại chỗ tiếp giáp của pháo tháp với thân xe. Không hề có tiếng nổ dữ dội như trong phim ảnh mà chỉ có làn khói bốc lên từ nóc pháo tháp của tên chỉ huy và có lẽ cả từ chỗ bị trúng đạn nữa. Từ vị trí quan sát Ripley không thể biết đám lính trong xe có bị giết hoặc bị thương tích gì không. Tên chỉ huy chiến xa có vẻ bị bàng hoàng nhưng hắn không hề hấn gì, mà lại còn tỏ ra bực mình hơn là gặp phải chuyện gì đó.

Những gì mà hắn làm tiếp đã cho Ripley và mọi người hiểu là y không phải là người đủ bản lĩnh để dẫn dắt đoàn thiết xa tiên phong của Bắc Việt vượt qua cầu Đông Hà. Hắn lùi chiếc xe tăng ra khỏi mặt cầu một vài thước rồi đậu lại trong cái ống cống cạn. Một lúc sau thì có vẻ như là phát LAAW đã làm hỏng chiếc chiến xa khiến nó không thể xoay trọn vẹn pháo tháp được nữa. Và thế là xong, ít nhất là ngay lúc này. Thời gian như đứng lại một lần nữa. Nhưng cũng đủ để cả Ripley và Smock, cùng với Nhã vác lủng lẳng cái máy truyền tin rượt theo phía sau, phóng như điên cuồng về phía Nam của cây cầu Đông Hà.

Quyết định phá nổ cầu Đông Hà của Turley gần như là biện pháp kinh điển theo sách giáo khoa. Trên phương diện chỉ huy, nếu bất chấp những vấn đề sẽ xảy ra cho anh – chẳng hạn như bị mọi người suốt dọc các cấp theo hệ thống quân giai ở Đà Nẵng và Sài Gòn xa lánh trong một tương lai gần nào đó nếu anh còn sống sót sau cuộc chiến; hoặc là họ sẽ hoan hỉ đưa anh tới giá treo cổ nếu anh thất bại – thì việc ra lệnh phá hủy cầu là phần việc dễ nhất. Cái khó là trong thực tế sẽ phá hủy cây cầu như thế nào lại là một chuyện hoàn toàn khác hẳn. Lúc đó vào khoảng giữa hay xế trưa ngày Chủ Nhật lễ Phục Sinh. Gerry Turley gọi qua máy truyền tin cho Ripley với lệnh “bằng cách nào đó phá hủy cây cầu.” Khi ra lệnh cho Ripley giật sập cầu, Gerry biết chắc là anh đã ký cho Ripley cái bản án tử hình. Với tư cách chỉ huy tổng quát, Turley phải đối đầu với những xác xuất tồi tệ; giống như nếu lá bài ngửa thì quân Bắc Việt thắng, mà sấp thì phe ta cũng thua. Không ai ở Las Vegas có thể sáng suốt mà đặt cược theo quyết định của Turley để thắng nổi, cho dù lớn hay nhỏ. Turley cũng biết điều đó, vì vậy anh lập tức thực hiện một kế hoạch dự phòng trong trường hợp Ripley thất bại.

Sự cố gắng của John Ripley cho nổ tung cầu Đông Hà là “kế hoạch A” của Gerry Turley. Là một sĩ quan quân đội dày dạn kinh

nghiệm và chuyên nghiệp, anh biết là cần có kế hoạch dự phòng. Trong lúc thời tiết chưa thay đổi thì Không quân yểm trợ chiến thuật coi như không có, hải pháo và không kích B-52 cũng vậy. Ý tưởng tốt nhất của Turley cho “kế hoạch B” là gọi Đại úy John Thiesen, TQLC Hoa Kỳ đang cùng anh trong hầm trú ẩn và mới qua Việt Nam được hai tuần lễ tròn. “John, tôi muốn anh đi tìm một chiếc sáu bánh và một tài xế (chiếc xe quân sự sáu bánh thông dụng là chiếc vận tải dùng để chuyên chở lực lượng Hoa Kỳ và VNCH và có thể chở được khoảng một chục binh lính cùng hai tấn rưỡi hành hóa – và vì khả năng chở hàng đó mà chiếc này cũng thường được gọi là chiếc “xe hai tấn rưỡi.”). Sau đó tìm chất lên xe càng nhiều chất nổ càng tốt, sửa soạn lái đến cầu Đông Hà và cho nó nổ khi cần thiết.”

Giống như mọi sĩ quan TQLC gương mẫu khác, Đại úy Thiesen đáp: “Tuân lệnh, thưa Trung tá.” Sau đó anh đi thực hiện mệnh lệnh mới.
Nếu cho là xác xuất đối với lệnh của Turley không sáng sủa mấy thì cơ may Ripley thực sự thành công lại càng tối tăm hơn nhiều. Đơn giản là không có cách nào, hoàn toàn không có cách gì để John Walter Ripley có thể đích thân phá hủy cây cầu Đông Hà kịp thời để ngăn chận bước tiến tất yếu của đoàn thiết giáp Bắc Việt được.

Độc Hành Ca

luuxongpha

Ngươi thích hành ngang ta hành dọc
Hành dọc nên thơ vướng độc hành
Cứ ngỡ đôi chân thành vạn lý
Đâu ngờ nhịp chỏi rối âm thanh
Đường dài lê bước mòn trang giấy
Gõ bút cuồng ca giấc mộng lành

Về đồng tát đìa bàu ao vũng
Mò chút nhà quê bán chợ trời
Một thuở xanh đi từ mặt đất
Nay về vuốt mặt đất phai phôi
Em cấy giấc mơ lên đồng cạn
Đất bạc màu buông rẽ mạ trôi

Ngơ ngác phù sa rời cố xứ
Dòng sông mắc nghẹn chảy hai nơi
Giặt mảnh hồn bầm vùng nước đọng
Ngầu đục lòng không rửa sạch lời
Chim chóc thẫn thờ khâu tổ vỡ
Gởi đàn con tạm chỗ sương rơi

Lửa vô tâm đốt son vàng cũ
Nhem nhuốc hoàng hôn váng nụ cười
Điên loạn thời trang đồi cạo trọc
Ngu ngơ thời thượng đảo mù khơi
Rừng thương sôi sục chân lâm tặc
Cổ thụ vong thân lụy đến chồi

Sườn non ma xóa nguồn xanh vọng
Mặt nước quỉ lau sạch tiếng cười
Thơ thẩn an nhiên chờ rêu phủ
Ngày rơi tung tóe hạt ngậm ngùi
Đâu dám ước trời bù nắng xé
Chỉ lo đất lở mãi quên bồi

Thôi thôi chớ vớt ngày xưa ấy
Mực rã lề xiêu vui tả tơi
Run run em vá bài thơ hoạn
Giấu mẩu chua cay dưới ngọt bùi
Ta cụng ly tình cùng đêm trắng
Mòn mỏi tìm chi vạt nắng rời

Bè bạn vẫy tay chào tưởng tượng
Bao người nơi cuối đất chơi vơi
Bao nhiêu giấc mộng tan đầu sóng
Bao chiếc sao băng lịm giữa trời
Độc hành thui thủi vào hoang vắng
Nhịp lẻ chênh vênh khuất nhịp đời

Rót chén hư vô mời nguyệt tận
Hiu hắt chờ non nước đã già
Lá mơ rụng trắng trơ cành mộng
Lòng chợt đìu hiu bóng ác tà…

Không lẽ ném hồn vào đáy vực
Mà bồng mà ẵm giả phồn hoa
Đưa chân vẽ một vòng hư ảo
Bóng ngã dài theo vạn lý xa
Ta muốn đạp bằng ao nước đọng
Gõ mặt trời ca khúc tráng ca!

Lưu Xông Pha

ĐỪNG GỌI TA LÀ THI SĨ…

hochibuu

Ta bảo em đừng gọi ta là thi sĩ
Gần năm mươi năm- chữ nghĩa chẳng ra chi
Đời bão táp ta giữ lòng mình chung thủy
Qua phong ba cũng chẳng còn được điều gì ?

Ta giống như mũi tên bắn vào vòng xoáy
Tên đi ngay- nhưng vào vòng xoáy. Rã rời,
Không ai bắt buộc nhưng tự mình chịu trói
Vào một cuộc tình để hồn mãi chơi vơi..

Thi sĩ – nhà tiên tri giữa sống và chết
Giữa thành công và phá sản của kiếp người
Giữa thiện lương và trong vô vàn tội ác
Cũng là một vì tinh tú ngự trên ngôi

Xấu hổ thay –những kẻ tự gọi mình là thi sĩ
Một danh xưng mà chẳng có giấy cấp bằng
Hãy để cho xã hội nhìn và phong ấn
Là một bãi bùn hay là một hoa đăng…

hochibuu

Nam mô một bồ dao găm

nguyentri

Ngày xưa cách đây chừng khoảng 25 năm. Thằng khùng tôi có thân với hai anh em nhà Đạt Duy. Đạt là anh có vợ trước nhưng không ở riêng vì không vốn liếng ra riêng cho chết à? Cả hai vợ chồng và thằng em tên Duy cùng nương nhờ dưới bóng bà mẹ làm nghề bói toán. Phải công nhận càng nghèo người ta càng tin vô bá láp. Cỡ Trí tôi mà đôi khi còn xoè tay nhờ con mụ ba trợn coi cho một quẻ nói chi dân ngu khu đen.
Đùng một cái thằng Duy quy y của phật. Chả là gần nơi tôi tạm ngụ có một cái chùa, tuy nhỏ nhưng linh lắm, bá tánh vẫn thường đến ngôi tự nầy để xin ơn trên phù hộ cho… trúng số. Ở chùa được ba tháng Duy về thăm mẹ già với cái đầu trọc và mặc một bộ áo nâu. Anh em gặp lại mừng thôi thì hết lớn. Trí tôi mới hỏi bạn rằng:
– Mày có bị khùng không mà xuống tóc đi tu? Bộ có ông Phật nào độ mày hả?
Duy lắc cái đầu trọc lóc:
– Ở nhà khổ quá tao vô chùa cho phẻ. Nói vậy chớ vô chùa có đồng ra đồng vô hơn ở nhà.
Tôi kinh ngạc;
– Làm đếch gì mà ở trỏng có tiền.
Thông cảm cho. Trí tôi vốn bụi đời nên ăn nói có hơi báng bổ.
Duy kể rằng trong chùa bá tánh công quả nhiều lắm, lâu lâu Duy chôm trong thùng công đức nên có chút đỉnh. Sau đó Duy đưa tiền cho anh là Đạt đi mua bia lên cơn về uống. Hồi đó có bia Vitamen là quý hoá lắm. Tôi hỏi:
– Làm sao chôm?
Duy trả lời:
– Tao vót một thanh tre mõng thiệt mõng rồi bôi mủ mít lên đầu thanh tre, thọc vô kẻ hở rồi lôi lên. Nhưng phải chôm lúc hai giờ sáng chứ ban ngày sư ông biết là chết mồ tổ liền.
Có bia lên cơn nên Duy khai tiếp:
– Trong chùa có ni Tâm là ngon cơm nhứt.
– Ngon làm sao?
– Cứ lễ lớn là sư trụ trì làm một cây lộc. Trên đó gắn cả ngàn cái phong bì đựng câu sấm. Ai hái lộc xong là nhờ ni Tâm giải . Giải là cho tiền. Hiểu không?
Nghe qua thằng khùng tôi buồn cười tợn. Nhưng tợn nhất là Duy nhờ tôi dẫn đi khu bả đậu. Khu bả đậu là khu để đàn ông mua còn đàn bà bán tình. Chỉ có thứ đồi truỵ mới đến khu nầy. Tôi nói:
– Tu hành kiểu mày chắc xuống địa ngục a tỳ sớm quá Duy ơi.
Duy nói:
– Kệ mẹ tao. Mày không biết ông trụ trì của chùa tao ở đâu. Ổng còn quá cha ông nội tao nữa.
– Sao?
– Ổng ba đứa con hai bà vợ luôn đó mày.
– Trời đất ơi…
Có vitamen bia lên cơn nên Duy cười khùng khục:
– Mày nghĩ coi. Thầy chùa không có vợ thì làm sao có phật con? Mà thôi. Có đi khu bả đậu không?
Trí tôi phải dẫn ông con đi chớ biết sao giờ? Lâu lâu bạn bè nhờ không giúp đâu có được. Với lại bia bọt uống rồi. Xôi chùa ăn là ngọng miệng. Đúng không?
Tất nhiên là Duy phải thay nâu sồng bằng một bộ xi vin. Ai lại mặc đồ tu vào khu bả đậu? Hai mươi lăm năm trước, tức là sau thống nhất mười lăm năm, chả hiểu làm sao tàn dư của chế độ cũ – báo chí gọi vậy – vẫn không chịu già. Họ vẫn trẻ như tuổi đời họ khai: “Em mới mười tám hai mươi hà…” e là chế độ cũ đã bào chế thành công thuốc trường sinh bất lão rồi quá. Và. Chắc ai cũng biết, vào lúc mà chúng ta đang sống đây, một cô gái chạy hoả hoạn từ một karaôkê che mồm bằng áo chip đã bị chửi cho tắt bếp nói gì đến mua bán tình. Nhất là hai mươi lăm năm về trước thì chết chứ chẳng chơi.
Trong phim “ tôi vào đời” diễn viên Y Phụng đóng vai bán hoa và bán ở bờ sông Sài gòn. Truy quét đến là chạy như ngựa tế. Xã hội ta. Đất nước ta luôn tôn vinh phụ nữ. Chỉ có bọn tư bản phương tây mới đồi truỵ còn ta thì không. Mua bán tình là phạm tội. Kẻ mua người bán nhỡ bị hốt cốt thì vong mạng. Nên chi muốn mua phải tinh thông ngõ ngách chợ tình. Sỡ dĩ Duy nhờ tôi mà không nhờ ai khác là vì tôi – trí khùng – vốn là thằng ăn nhờ ở đậu ở bến tắm ngựa đến tinh như quỷ sứ. Nhưng quỷ cỡ nào rồi cũng bị phản đòn. Vụ phản nầy do Duy mà ra.
Duy cho tôi một suất mua tình – tất nhiên rồi – đời ai chả cho không ai cái gì cả đúng không? Nhưng tôi thề tôi không mua. Nói láo cho bà bắn chết không kịp ngáp. Có hai lý do. Một là tôi sợ. Sợ cái gì xin nói sau. Hai là lúc ấy Trí tôi vợ con rồi. Nhà đói lắm. Thèm cơm nhiều hơn thèm đường phèn. Trí nhét túi đồng bạc của mình để mua gạo cho vợ con. Thiệt là vậy. Xin thề lần nữa. Biết rằng có thề nghìn lần cũng chả ai tin. Vì suy cho cùng đàn ông ai thấy lạ và nõn nường lại không ham?
Một thằng dẫn mối đưa Duy vào một khu hoang hoá và đen hơn bóng tối. Nơi sinh sống của muỗi mòng và bẩn thỉu. Tôi ngồi ngoài quán cóc uống ly trà đá chờ bạn. Mụ nội cha ơi. Đùng một phát – trong bóng tối của khu hành sự đèn pin của truy quét tệ nạn loang loáng trong tiếng chửi thề hậm hực. Đứng lại. Đứng lại… tôi đứng lên nhìn từng cặp nam nữ bị điệu ra. Thằng Duy – trời ạ – một tay bị cột chung với một nữ lưu. Chuyến nầy có mà chết cả nút. Tại Duy mà ra. Nó đòi tôi đi xa xa chứ gần nhà sợ thiên hạ biết. Tôi phải dùng xe đạp thồ đưa ông con ra tận nơi nầy. Vậy mà vẫn bị dính chấu, biết làm sao đây trời hỡi?
Ngộ biến phải tùng quyền. Mọi cách phải giải cứu thằng nầy ra khỏi chốn a tỳ, bằng không chuyến nầy nó chết. Tôi lân la đến bên một anh có súng, móc trong túi ra điếu thuốc mời anh. Dăm câu ba chuyện một hồi tôi trổ giọng hối lộ như thời kỳ đi rừng mua bảo vệ. May quá anh chịu ăn. Ở đời cái gì ăn được ta cứ ăn phải không? Anh đòi tôi chung bằng bốn lần Trí tôi có trong túi. Và vậy là thằng khùng tôi hoàn toàn thua cuộc. Móc hết ra trí năn nĩ:
– Em còn có nhiêu đây. Anh tha cho thằng bạn em một lần.
– Nó làm gì mà cạo trọc? Chống chế độ hả?
– Dạ đâu có. Nó mới sốt dậy nên trọc đầu.
– Sốt mà còn gái gú.
Anh nhìn mớ tiền trên tay Trí rồi nói:
– Nhiêu đây thì thua đi đại k.
– Em năn nĩ anh giúp cho một lần. Em cũng biết sống biết chơi. Thề là không quên ơn anh.
Anh ngẩm nghĩ một hồi rồi gọi:
– Ê… Dũng… lại nói nghe nè…
Người tên Dũng bước tới. Anh ta ngó tôi một hồi rồi reo lên:
– Trời đất… Minh Tàn… mày làm cái đếch gì ở đây?
Đúng là trời cao bất phụ hảo nhân tâm. Để kể cho quý bạn nghe về tay Dũng này. Nhân đây nói luôn chuyện sợ. Chính tay Dũng nầy khiến Trí tôi sợ chuyện mua tình. Trước đây Dũng là bảo vệ rừng. Suốt kiếp trong rừng nên lâu lâu về phố gã ngu lắm. Lèo quèo sao đó để bị nổ ống khói nên hắn gặp tôi nhờ cứu độ. Tình thiệt mà nói tôi vốn rất bố láo. Có ba giọt rượu cũng hay pháo rằng ba cái giang mai mồng gà hoa khế hột xoài với tao là chuyện nhỏ. Nổ rằng:
– Tụi mày biết không? Giang mai hay sùi mào gà ngó vậy nhưng không nguy bằng hột xoài. Không biết cách trị cho dứt điểm thì vi khuẩn sẽ nằm yên trong dương vật chờ ngày bột phát. Lúc nầy thuật ngữ y học gọi là KIS. Đến khi ta già trên bảo dưới không nghe thì vi khuẩn sẽ sống lại làm bộ phận sinh dục cứng như đá và đau đớn kinh khủng. Lúc ấy phải cắt bỏ và lúc nầy thuật ngữ gọi là KOS. Thằng nào lỡ bị cái nầy thì gặp tao.
Dũng bị ngay bon và gặp tôi. Tôi bảo nó sử dụng trụ sinh từ Pini đến Lincocin đều không thuyên giảm. Thì ra ông con bị lây cấp tá trở lên chứ không là cấp uý. Vậy là phải sử dụng Plageltin mới dứt điểm. Đây là loại trụ sinh thế hệ thứ ba, một hộp bốn viên đắt bằng ba tháng lương của Dũng. Nhìn Dũng đau khổ vì hoa liễu tôi sợ lắm. Dũng thề rằng có dịp sẽ trả ơn tôi. Nên đây cũng là dịp. May cho tôi là không móc tí tiền còm để chung chi cho giải cứu. Duy thì sao các bạn biết không? Trái đất tròn và hẹp té. Bảy năm trước đây tôi gặp lại Duy.
Tôi vốn là một tín đồ phật giáo bán chính thống. Cần phải nói cho rõ vụ chính và bán nầy để khỏi gây hiểu lầm cho quý chư liệt vị. Để hiểu biết về Phật giáo cho cặn kẽ thì Trí tôi không có cửa. Ít học thì đừng có mơ mà hiểu được nền triết lý cao thâm của tôn giáo này. Những có không không có. Có đó mà không đó hoặc hãy buông bỏ anh sẽ ngộ ra đời không là gì cả, hoặc là tỉnh động động tỉnh khó hiểu chết bà. Đọc trong một cuốn sách nào đó kể rằng: Có hai sãi áo nâu đang quét dọn sân chùa. Một cơn gió đi qua làm lay một cánh hoa trong chậu. Một sãi nói: – Hoa động. Sãi kia cãi: – Hoa không động, gió động. Inh củ tỏi một hồi sư ông đi đến khỏ đầu hai sãi mà rằng: – Hoa không động. Gió không động tâm hai ngươi động. Nghe xong hai sãi liền đốn ngộ. Là sao? Hiểu thằng khùng tôi chết liền.
Là tín đồ bán chính thống sức hiểu về phật giáo của tôi là niệm phật. Nghe rằng niệm phật một lần là phúc đẳng hà sa. Trí tôi cũng thuộc được vài thời kinh nữa đó. Những Chú Đại Bi. Liên Hoa. Bát Nhã tôi nằm lòng. Đêm đêm thắp hương lên bàn thờ phật và gia tiên Trí tôi thường tụng lắm. Tụng xong là cầu xin ơn trên phù hộ cho cả nhà bình an may mắn. Mấy đứa con đi làm công ty đừng bị chủ quản nó đì là con cảm tạ vân vân… vậy gọi bán chính thống là quá xá đúng. Và cái không hiểu, cái bán chính thống thường đưa con người ta tin vào hảo huyền. Tức là tin vào cái tượng đất thó chứ không tin vào chính mình. Thậm chí tin đến cuồng. Tục gọi cuồng tín.
Tám năm trước Trí tôi ngoại trừ bần cùng còn bị tai hoạ bủa vây. Con trai lớn lâm vô sa đoạ và bị bắt đi cai nghiện cưỡng bức. Tâm tư người cha có đứa con lâm cảnh tội tù xa xót lắm tha nhân hỡi. Được vài tháng đến đứa con gái bị giết. Chao ôi là đau đớn. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Trí tôi ôm niềm đau nằm trên võng tì tì nốc rượu cho quên sầu nhân thế. Nói thiệt nghe. Về rượu dám nói một câu chỉ Kiều Phong trong Thiên long bát bộ và Lệnh Hồ Xung trong Tiếu ngạo giang hồ mới dám ngồi chung bàn với thằng khùng tôi. Đứa con gái chết vào tháng tám trời mưa trời mưa không dứt. Xe đưa áo quan ra huyệt phải có năm thằng thanh niên vai u thịt bắp luân phiên cật lực tát nước mới đưa được áo quan về đất mẹ. Tôi ngồi giữa nghĩa địa nốc bao nhiêu rượu cũng không say. Chợt nghĩ đến những bà mẹ của hai miền nam bắc trong chiến tranh có người mất cả chục đứa con. Mình thằng đàn ông buồn đã có rượu chia lửa còn họ thì sao?
Đêm nào Trí tôi cũng bên bàn thờ tụng cầu siêu cho con gái. Hết siêu đến an cho thằng con trong trại. Cuồng đến độ tin rằng tụng càng nhiều thì con gái sẽ sớm đầu thai, con trai sẽ mau chóng bị con ma tên tuý từ bỏ. Con gái chả biết có siêu không chứ thằng con thì chịu. Bằng chứng là sau hai mươi bốn tháng cai nghiện về được bốn tháng mười hai ngày nó bị hốt đi lần thứ hai. Trí tôi lòng lòng những Đại Bi, Bát Nhã, Liên Hoa là vì vậy. Cả văn tế thập loại chúng sinh cũng làu luôn mới là hay ác.
Có ông bạn người công giáo trùm một họ đạo lại là tổ trưởng an ninh nhân dân kề bên nhà vẫn tạc thù với Trí khuyên rằng:
– Anh phật giáo thì nên lên chùa nhờ trụ trì đích thân cầu siêu cho cháu mau siêu thoát.
Nhìn cái nhà của Trí như cái chuồng heo anh cám cảnh:
– Tôi quen thân với sư trụ trì. Ổng có cái nhà bỏ không. Mai anh đi với tôi lên nói với ổng một tiếng xin ở nhờ, luôn tiện coi ngó dùm ổng luôn.
Còn gì quý hoá hơn. Hôm sau tôi lê thân tàn đi theo cán bộ. Anh dẫn tôi vô chùa. Vô hẳn phòng riêng của sư trụ trì và trình bày vấn đề. Nghe xong sư nói:
– Chuyện cầu siêu của thí chủ thì để thầy nói với các sư đến tụng nhân 49 ngày của cháu. Còn cái nhà thì không được…
Trầm ngâm một hồi sư tiếp:
– Thí chủ đừng nghĩ thầy ích kỹ mà tội lắm. Chẳng là cái nhà nầy một người bà con của thầy nhờ mua hộ. Nhưng có đơn tố lên trên thầy dùng tiền công quả để mua nhà riêng… mô phật… vậy nên xã đang quản lý. Căn nhà nầy không được cho ai ở trong khi chờ giải quyết.
Nghe xong anh bạn cán bộ gật gù rồi cáo biệt thầy ra về. Tôi nấn ná:
– Anh về trước nhé, tôi về sau.
– Tôi nhìn sư thầy một hồi. Thực mà nói. Khi nhìn một sư ông áo vàng chả biết chư liệt vị ra sao chứ tôi ít để ý lắm. Cứ như cái áo nó ám đến mụ mị con mắt mình vậy. Nhất là quý sư thường như nhau. Mặt thịt hay xương chi đầu trọc tếu bằng nhau khiến cho ai cũng như ai. Vị trụ trì nầy tôi ngờ ngợ. Chừng như tôi đã gặp đâu đó trên đời. Nhìn một chặp tôi thốt lên:
– Trời ơi… Duy. Nhớ tao không?
– Cái mặt tôi – nói thiệt – bạn bè cách xa nhau nhưng bốn chục năm gặp là họ nhận ra tôi liền. Bơi tôi có gương mặt rất là du côn. Vậy mà sư ông không nhận ra mới lạ chứ. Sư nói:
– Mô phật… thì chủ nhầm tôi với ai rồi.
Tôi suýt cái chửi thề:
– Cái sẹo trên màng tang của mày tao quên sao được. Mày nhớ vụ bị bắt ở xóm bả đậu không?
Thầy nhìn tôi rồi hấp háy mắt:
– Ủa… Minh Tàn hả… lâu quá mình nhận không ra…
Trên đường về, thoạt tiên tôi có trách. Nhưng ngẫm một hồi và tự đặt mình vào hoàn cảnh của Duy nếu là tôi liệu dám nhận lại bạn cũ không? Rất biết sống biết chơi từ đó tôi cạch luôn cái chùa – nơi mà – thàng bả đậu đang trụ trì. Việc gì tha nhân không muốn ta chớ có nên làm. Có ngày ăn mã tấu vong mạng. Hồi mới bước chân ra đời kiếm sống tôi bị nắng gió miền trung thiêu cho đen như cột nhà cháy. Một hôm có thằng bạn gọi: Ê Minh Hắc. Cái giọng của nó vừa kỳ thị vừa bỉ khinh làm tôi nóng mủi. Tôi không ư hử. Nói gọi tiếp lần nữa. Tôi nói hắc một tiếng nữa là tao đập đó. Nó nói:
– Mày đen tao nói hắc chứ có nói bạch đâu mà tự ái.
Vậy là một cú đấm vô mặt nó liền. Ừ. Cái gì xấu hoặc không hay không phải của tha nhân chớ dại mà lôi ra làm trò. Tôi không chùa nhưng bà xã thì thường xuyên, thậm chí ngày sinh nhựt của thầy trụ trì cô vẫn lên bếp chùa làm công quả, gọi là xin chút ít phúc đức cho con cháu về sau. Cũng đúng thôi. Ngày công phụ hồ bét dem cũng hai trăm nghìn nay phụ không công cũng có cái ân điễn trị giá chừng đó chứ. Đúng không? Tôi bán chính thống phật giáo thì nghĩ vậy. Có hôm chùa về vợ tôi khoe:
– Ông Năm nè…. Hôm nay sinh nhựt thấy ông biết riêng cái khoản tiền nếp nấu xôi hết bao nhiêu không?
– Nhiêu?
– Bảy triệu.
– Mấy? Trăm hay triệu?
– Triệu.
– Bà nội cha ơi…
Tôi suýt thốt lên với vợ là bà biết tay trụ trì là ai không? Làm sao bà xã tôi biết được Duy đang là chưởng môn nhân cái chùa nầy? Thì ngay tôi còn không nhận ra nói gì cô ấy. Ngày xưa mười bốn ký nay tạ tư là hiểu rồi. May mà tôi kìm được.
Nhưng đời không bao giờ đơn giản. Có những cái ta không muốn nhưng sự đời cứ mặc nhiên đưa lại buộc phải nghe phải thấy phải biết. Ông bạn an ninh nhân dân trùm một họ đạo bò lên được cái trưởng ấp giới thiệu tôi với một lão gia kính cận tám độ. Ông này là nhân vật còn sót lại từ thời di cư ‘54. Bẩy mươi ba tuổi tên Tám Ẩn. Ông có một chiếc rim tàu mua được từ tiền trúng số đề. Già, mắt kém nên không dám chạy. Cần một người có tuổi, chạy xe cẩn thận để đưa ông đi chơi. Ngày năm chục ngàn xăng ông ta chịu. Lúc ấy công thợ hồ là năm chục. Chạy xe chở đi chơi cơm chủ bao thì hết sức là vô mánh. Tám Ẩn tuy già nhưng sành sỏi chiêu thức Trâu già khoái gặm cỏ non. Tôi có bổn phận dọc theo lộ mà rề rề. Nơi tốp lại là những quán cà phê mái lá. Ở đó rất nhiều nữ tú đang chơi tiến lên hoặc tứ sắc. Có khách là một cô chạy ra hỏi uống gì anh. Đem thức uống ra cô hỏi tiếp mát xa không anh? Các cô không gọi Ẩn mà gọi Ẩu. Bữa nay Tám Ẩu đến kìa. Hỏi sao gọi vậy các cô nói:
– Thì đụng đâu bốc hốt đó nên gọi Ẩu.
Kể ra vậy cũng vui.
– Hôm đó chạy đâu chừng năm mươi cây số Tám Ẩu ra hiệu cho tôi ngừng lại một quán lá. Quán nầy mới nên chả em nào biết Ẩu là ai. Một cô ngồi chung võng với tôi thăn thỉ thư giản đi cưng, từ sáng giờ ế quá không có đồng nào hết cưng ơi. Tôi nói chú chỉ là thằng tài chạy thuê cho ông già đó thôi cháu ơi. Nghe vậy cô dợm chân đứng lên thì tôi vội ôm cô ta lại và vùi mặt vào tóc cô. Cô ta tưởng tôi muốn mát xa nhưng làm bộ.
Từ trong cánh cửa một hộ pháp bước ra.
Tôi phải vùi mặt để tránh vì đó là Duy.
– Thực ra đời sống nầy chả có gì đáng phải buồn hết. Suy cho cùng bản năng sống của chúng ta là gì? Ông Bùi Hữu Nghĩa đã diễn tả tứ khoái của loài người qua bốn câu: Cơm phiếu mẫu, chiếu bồ đoàn, ngữa nghiêng loan phụng, nhẹ nhàng nương long. Ăn, ngủ, làm tình, đi ngoài là bốn cái không thể thiếu của loài người. Nén lại một cái dứt khoát nó nổ cái ầm. Cái buồn nhất đây là nam mô một bồ dao găm. Anh lợi dụng niềm tin bá tánh để mưu lợi riêng cho mình là nguy hại lắm. Giá trả không ít đâu.
Tôi ở Thanh Sơn Định Quán Đồng nai từ khi chưa thành lập xã. Khi tôi bỏ xứ này ra đi chưa có cái chùa nào hết. Vừa qua đọc trên báo nghe có một trụ trì của chùa chi đó mơi xây dựng bị bắt về tội quan hệ với một vị thành niên. Tôi hỏi. Một vài học trò của tôi nói ông sư này bị gài thầy ơi. Nhỏ nầy mới mười bốn nhưng cà phê ôm bia ôm hơn năm rồi. Chuyện bị gài thế để kiếm tiền của một số kẻ táng tận lương tâm là có. Nhưng anh là ai, là gì mà để bị gài? Thầy tu cả trăm ông đang khất thực trên đường chả ông nào không có cái ai phôn tàu đẻ xem phim… đồi truỵ? Đừng nói quý vị ngây thơ. Ông sư ở Thanh sơn khi bị bắt mới thòi ra ông bị giáo hội trục xuất vì rất nhiều bá láp từ khuya rồi. Vậy, nhưng anh vẫn qua mặt được chính quyền sở tại để trụ trì mà ngây thơ sao?
Làm sao nói bị gài? Tôi không tin. Chuyện của Duy đến đây tôi dừng, kể nhiều e mệt trí bạn đọc. Ngày mai tôi sẽ kể cho quý chư liệt vị chuyện bị gài đến thân bại danh liệt, vợ con không ngó của bạn tôi. Tay tổ trưởng an ninh nhân dân, tay trưởng ấp, trùm một họ đạo…
Tát nhiên là nếu các bạn còn muốn đọc.

NGUYỄN TRÍ

MẮT MIỆT BIỂN

nguyenvi

Đăm chiêu đôi mắt miền Trung
Dõi về phía biển mịt mùng trời mây
Hải âu chẳng buồn lượn bay
Nước mù tăm cá bờ đầy thuyền phơi
Tiếng thở dài nao lòng người
Mây đen vần vũ trùng khơi sóng gào
Tự lừa hẹn đến mùa sau
Mắt miệt biển cứ nhuộm màu đăm chiêu.

NGUYÊN VI