TIỄN MÙA

phuonguy

Tạm biệt tiếng đông lạnh giá
thổi qua trầm hương đêm rằm
gió lùa mùa hây hẩy vội
cuốn theo sương khói xa xăm

Nghe lời dậy thì trên sóng
vờn nô bóng nước trôi xa
tóc bay cuối trời gió hát
em về khinh vũ như hoa

núi đồi khoe vồng ngực mẩy
tràn trên ánh mắt xuân thì
hoà mình theo dòng phố chảy
vút mùa chim én thiên di

nhặt trên cành mai một đoá
nắng tươi lóng lánh mãn khai
cánh gió thì thầm trổ nụ
nâng tiếng xuân về trên tay

PHƯƠNG UY

CHỐN EM…

hienmay

ngó lên… trời tít tắp cao
bâng khuâng tự hỏi nơi nào chốn em
nhỡ khi hồn phách lạc đêm
cậy sen thơm thảo dịu êm dẫn đường
**
nhìn sang vạt cỏ… ngùi thương
rồi mai ra đất cũng dường này thôi
nhanh nhanh cười khóc ỉ ôi
mau vui buồn kẻo chia phôi sắp kề
**
trông chờ mây trắng… sơn khê
cảm lòng xin ghé ngang quê… chuyển lời
dẫu rằng giông tố trùng khơi
trái tim son vẫn giữ đời vì nhau
**
sông trôi nằng nặng dòng đau
bởi hai bờ trĩu nỗi sầu nhân gian
sống không vẹn để dở dang
bóng tìm bóng khắp trường giang mịt mùng
**
ngóng về nơi ấy
mông lung… .

HIỀN MÂY

LỢI THẾ CỦA ÂM NHẠC

nguyendinhbon

Nhân chuyên nhạc bolero, xin đăng lại một tiểu luận tôi viết từ hơn 10 năm trước (tôi giữ nguyên văn), là góc nhìn cá nhân tôi (thời điểm đó) về việc vì sao dòng nhạc ca khúc Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống!

Sau 1975, gần như mọi loại hình văn nghệ của miền Nam đều bị cấm, bị xem như “nọc độc văn hóa của Mỹ Ngụy”, trong đó văn chương và âm nhạc được xem như loại ‘đầu sỏ”! Thế nhưng trong khi văn học, với các loại sách báo gần như “biến mất”, chỉ còn lại lèo tèo trong các hiệu sách cũ, trên các lề đường đầy bụi hoặc được giấu giếm một cách hiếm hoi trong các tủ sách gia đình thì âm nhạc,mà điển hình là các ca khúc (được người cộng sản gọi một cách khinh bỉ là nhạc vàng (vọt)) vẫn có một đời sống bán công khai và liên tục, theo tôi đó là do âm nhạc đã biết phát huy lợi thế do tính chất đặc thù của mình.
Ai sống ở Việt Nam sau 1975 đều nhận thấy các ca khúc cũ chỉ “im hơi” một vài năm đầu do tâm lý sợ hãi rồi sau đó vẫn tiếp tục được nghe, được hát trong các gia đình miền Nam và sau đó nó “lấn sân” ra miền Bắc (phần lớn là các ca khúc “bình dân” – boléro) và lấn át hẳn các “ca khúc cách mạng”. Và sau hơn 30 năm, khi thế hệ nhạc sĩ viết ca khúc cũ đã thôi sáng tác hoặc mất đi, các thế hệ nhạc sĩ trẻ lớn lên đã sáng tác theo chiều hướng khác, một điều lạ lùng là người ta vẫn cứ nghe, cứ hát, không chỉ tại Việt Nam mà còn tại các nước mà người Việt đến định cư, những ca khúc cũ một thời, tưởng chừng nó vẫn không cũ đi dù rằng so với thế giới, nó đã hoàn toàn lạc hậu!
Vì sao có hiện tượng này? Nhiều người cho rằng có lẽ các nhạc sĩ viết ca khúc hiện nay chưa đủ tài năng để viết ra những bài ca vượt khỏi “cái bóng” của các nhạc sĩ cũ như Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng… hay “bình dân” như Trần Thiện Thanh, Trúc Phương, Lam Phương… và cả xa xưa như Văn Cao, Đặng Thế Phong… cùng với đó là sự bế tắc trong “dòng nhạc đỏ”, khi những “Tiếng đàn talư, Bác cùng chúng cháu hành quân”… đã trở thành xa lạ. Thế nhưng chủ đề bài viết này không phải bàn về chuyện “vì sao vẫn hát nhạc vàng” mà lại nói về chuyện khác, chuyện “vì sao hát được nhạc vàng”.
Lý do thực ra cũng khá là đơn giản. Thứ nhất không như thú đọc sách, phải kén chọn người đọc theo từng loại sách, đề tài, các ca khúc âm nhạc có vẻ “dễ dãi’ hơn. Một ông “cử nhân văn chương” cũng có thể mê “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” như một bà bán xôi chè trong khi nếu ông ta “hứng bất tử’có đem tặng “bà chị” này một cuốn sách của Phạm Công Thiện thì chắc bà chị chỉ có một cách xé sách ra làm giấy gói xôi! Ví dụ trên cho thấy âm nhạc đã mang tính “quần chúng” hơn hẳn văn chương và chính vì vậy nó vẫn còn “đất sống”. Thứ hai: Đất sống ở đây là do tính đặc thù của âm nhạc ca khúc như dễ nghe, dễ nhớ, dễ… hát. Và đặc biệt hơn dễ… sản xuất, nhân bản!
Cùng bị cấm cùng với sách, nhưng các băng đĩa nhạc ngày ấy, dù bị tịch thu vẫn còn tồn tại trong các gia đình, và chuyện “sang một cuộn băng” để tặng nhau là một chuyện khá dễ dàng, trong khi đó để “nhân bản” một cuốn sách là quá nhiêu khê. Trước những năm 1990, các tiệm photocopy rất ít và được quản lý chặt chẽ, đem một cuốn sách in tại miền Nam ra tiệm để “photo” là đối diện với án tù vì tội “tuyên truyền văn hóa phẩm Mỹ ngụy” độc hại trong khi chỉ cần có một cái catsette đặt trong phòng ngủ là bạn có thể thoải mái săng băng.
Một lý do khác nữa là khi cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ mạnh lên, đông đúc thì nhu cầu thưởng thức âm nhạc đã giúp các “trung tâm âm nhạc” phát triển nhanh chóng. Với lợi thế của một đất nước tiên tiến, các nhạc phẩm cũ nhanh chóng được biểu diễn, thu âm với các phương tiện hiện đại bật nhất, chỉ có tinh thần, cách hát là vẫn cũ và từ Mỹ, các băng đĩa ấy tìm đủ mọi cách trở về Việt Nam, và tại đây nó nhanh chóng được nhân bản (lậu) và cũng phát hành (lậu) ra cộng đồng!
Và nếu để ý chúng ta cũng thấy rằng so với sách báo thì âm nhạc có vẻ được chính quyền “dễ dãi” hơn. Giả sử bạn có ôm đàn nghêu ngao ‘ngày xưa ai lá ngọc cành vàng” mà một “ông công an” văn hóa đi ngang, nghe được thì cũng… chả sao, và sau này thì hầu như chuyện “nghe và hát nhạc vàng’ tại gia đình là điều không bị cấm, dù bạn có rống lên “anh không chết đâu anh”, ‘anh Quốc ơi” hay “hát cho người nằm xuống” cũng chả có ma nào để ý, bởi có thể họ cũng chả biết mấy “thằng cha” trong các bài ca não nùng ai oán kia là ai!
Ngày nay, khi mà không khí đã “dễ thở” hơn, chuyện lật lại vấn đề “in lại và công nhận” các sách, báo miền Nam chắc chắn gặp rất nhiều nhiêu khê và cả không tưởng trong một thể chế toàn trị đầy kiêu ngạo nhưng nhiều mặc cảm, thế nhưng các ca khúc viết trước thời điểm 30.4.75 thì gần như “ngoài cuộc” vì nó vẫn cứ sống từ đó đến giờ. Chỉ có hơn 50 bài của Phạm Duy được hát công khai trên TV, trên sân khấu nhưng tất cả các ca khúc của ông vẫn được hát công khai trong các cuộc vui bạn bè, trong các quán karaoke và cả đôi khi trong các phòng trà. Tình trạng này cũng tương tự như những ca khúc bị cấm của Trịnh Công Sơn bởi người ta vẫn cứ hát, trong khi ấy các “ca khúc cách mạng”, các bài hát ngợi ca lãnh tụ của các nhạc sỹ được ca tụng như thiên tài thì chả có ma nào ngó tới, ngoài các dịp lễ lạt.
Câu chuyện có ông “nhạc sỹ lớn” phân bì với Phạm Duy (khi thấy ông này được công ty Phương Nam ưu ái) ồn ào một thời hay chuyện “live show” của Phạm Duy, của Chế Linh và cả Vinh Sử (người miền Nam không mặn mà lắm với ông này) cháy vé tại Hà Nội mới đây chính là chuyện “nhãn tiền” về một sức sống mạnh mẽ của văn nghệ miền Nam cho giới lãnh đạo văn nghệ hiện tại, và đó phải chăng là lý do rõ ràng nhất để họ quyết tâm phủ nhận văn học miền Nam?

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

VÔ DANH

truongdinhphuong

tìm người trên phố
chỉ thấy bụi đau
nắng ruồng rã nhớ
hoàng hôn vụn màu

“tìm người trên cỏ
chỉ thấy tàn phai
dấu tay mùa cũ
cằn chai nếp buồn

gió tự ngàn năm
vẫn tên là gió
lời yêu vừa ngỏ
đã thành vô danh

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Bến đò xưa

npphan

1.
Tôi rất thích hai câu thơ này trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều:
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Đọc hai câu này, lúc còn học trung học, tôi cứ nghĩ phải có một cái cầu tên là cầu Thệ thủy (viết hoa) và một cái quán tên là quán Thu phong (cũng viết hoa). Cầu và quán đã được nhân cách hóa: ngồi và đứng.
Thực ra thì chẳng có cầu nào là cầu thệ thủy, chẳng có quán nào là quán thu phong cả. Tôi thấy thấp thoáng trong hai câu thơ kia là hình ảnh một bến đò hiu hắt dưới bóng nắng chiều rời rã, dòng nước cứ xuôi chảy miên man, không bao giờ dứt.
Hình ảnh một bến đò xưa cứ ám ảnh mãi trong tôi:
“… Có một thoáng mù sương
Lẩn trong chiều cổ độ”…
(“Có ta và em” – NP phan)
“Cổ độ” là hình ảnh bến đò xưa và dòng sông thời thơ ấu của tôi.
Đã nhiều lần tôi nhủ lòng là phải về thăm lại bến đò xưa. Nhưng cuộc sống cứ cuốn lấy tôi. Cứ mãi lần lữa, dây dưa.

2.
Tôi có dịp trở lại thăm nhà ngoại sau hơn bốn mươi năm.
Cậu Ba là người em cùng mẹ khác cha với mẹ tôi. Cậu mất đột ngột do đột quỵ lúc chỉ hơn bảy mươi lăm tuổi. Vợ chồng tôi phải về để tang cậu. Có lẽ đã hơn bốn mươi năm tôi mới trở lại thăm nhà ngoại. Ngoại đã mất từ lâu, năm nào tôi cũng không nhớ. Mẹ tôi cũng đã xa anh em chúng tôi hơn một năm khi ngoài tám mươi.
Căn nhà của ngoại ngày xưa bây giờ đã thay đổi quá nhiều, tôi không thể nhận ra. Con đường đất trước nhà ngoại đang được đổ bê tông. Hai gian nhà tranh đã được thay bằng hai căn nhà ngói liền nhau với các tiện nghi của cuộc sống hiện đại ở vùng nông thôn. Những thửa ruộng xung quanh nhà, bây giở đã là khu vườn rộng, có mấy cây xoài to lớn. Tôi hỏi mợ tôi:
– Con nhớ hồi xưa có hai cây mít ở hai đầu nhà và trước nhà là một cái mương nước, phải không mợ?
– Đúng rồi, trí nhớ con tốt đó. Hai cây mít đã chết từ sau khi ngoại con mất. Cái mương nước trước nhà cũng bị lấp sau khi xã làm lại hệ thống thủy lợi.
– À, bến đò Cầu Voi bây giờ còn không hả mợ?
– Không còn bến đò nữa. Mà sao con lại hỏi bến đò Cầu Voi?
Tôi chỉ cười, không nói gì.
Xong việc thì trời đã tối. Vợ chồng tôi phải vội trở về thành phố.

3.
Đó là vào khoảng gần cuối năm 1964.
Năm ấy tôi đang học lớp Tư (tức là lớp Hai bây giờ) trường làng. Mới vào học độ chừng hai tháng thi tôi phải nghỉ học vì chiến tranh nổ ra trên khắp cả tứ thôn Đại Điền. Quê tôi đồng khởi, phá ấp chiến lược, thành lập “chính quyền cách mạng”. Cha mẹ tôi và mọi người vẫn gọi năm ấy là năm “ly sơn”. Trường tiểu học nơi tôi học đóng cửa. Các thầy giáo cũng đã rời trường.
Vì tuổi còn quá nhỏ, tôi chẳng nhớ gì nhiều. Chỉ nhớ rằng, tôi không phải đi học mà rong chơi thỏa thích, nào bắt dế, bắn chim, thả diều và rất nhiều trò chơi vui vô kể. Tối đến, thỉnh thoảng được coi các đoàn văn công diễn ở trụ sở thôn (Trụ sở sau này bị đánh sập một lần và sau đó bị đốt cháy một lần nữa nên vẫn thường gọi là “Trụ sở sập” hay “Trụ sở cháy”). Các tiết mục múa hát, cả diễn kịch có anh lính giải phóng đánh nhau với anh lính cộng hòa. Tôi nhớ có người đã nhảy lên sân khấu đòi đánh anh lính cộng hòa trong khi vở kịch đang diễn. Tất cả khán giả là người dân quê tôi.
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.
Những chuyện này tôi sẽ kể thêm sau khi có dịp.
Tôi cứ suốt ngày rong chơi trong gần một năm học.
Khi bắt đầu vào năm học tiếp theo, trường học vẫn chưa được mở lại.
Không thể để con phải nghỉ học, cha tôi đã bàn với bác Hai tôi, bằng cách nào đó phải cho lũ trẻ đi học trở lại. Lũ trẻ ở đây là tôi và chị Sáu (con của bác Hai), lớn hơn tôi một tuổi.
Tôi có người chú họ ở Phú Ân Nam, bên kia sông Cái. Dạo ấy, vùng này còn tương đối an ninh (như cách nói của người lớn). Nhà chú tôi ở gần cầu Ông Bộ, ngay bên đường quốc lộ 1, trên đường về thị xã. Chú tôi làm nghề thợ mộc, có nhà cửa, cơ ngơi làm ăn khá rộng rãi, đàng hoàng. Bên kia cầu Ông Bộ là thôn Võ Cạnh thuộc xã Vĩnh Trung, quận Vĩnh Xương.
Thôn Võ Cạnh nổi tiếng vì nó gắn liền với câu ca dao về các đặc sản của “Xứ trầm hương”:
Yến sào Hòn Nội
Vịt lội Ninh Hòa
Tôm hùm Bình Ba
Nai khô Diên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy Triều
Đời anh cay đắng đã nhiều
Về đây ngọt sớm ngon chiều với anh
Trong sáu đặc sản trên đây, có hai món bây giờ có lẽ đã “tuyệt tích giang hồ” là nai khô Diên Khánh và cá tràu Võ Cạnh.
Võ Cạnh còn nổi tiếng với tấm bia Võ Cạnh. Bia Võ Cạnh được Viện Viễn Đông bác cổ phát hiện tại làng Võ Cạnh và đưa về Hà Nội năm 1910. Đây là tấm bia cổ duy nhất còn lại của vương quốc Champa xưa, khắc bằng chữ Sanskrit, là tấm bia cổ nhất vùng Đông Nam Á, có giá trị lịch sử lớn.
Đó là những gì về Võ Cạnh tôi biết về sau này.
Cha mẹ tôi đã gửi tôi và chị Sáu ở trọ nhà chú Năm và học ở Trường Tiểu học Võ Cạnh, nằm phía bên kia cầu Ông Bộ, cách nhà chú chỉ khoảng vài trăm mét.
Trường Tiểu học Võ Cạnh nằm bên cạnh đình Võ Cạnh, một ngôi đình cổ, uy nghi.
Đó là một ngôi trường nhỏ, nằm sát bên đường quốc lộ, một dãy nhà hình chữ L, có khoảng năm sáu phòng gì đó, tường xây, lợp ngói. Tôi và chị tôi vào học lớp Ba (cũng là lớp Ba hiện nay) mặc dù chưa học xong lớp Tư. Tôi nhớ lớp học có khoảng bốn chục học sinh mà bây giờ tôi chẳng nhớ ra ai cả, trừ một bạn có học chung với tôi ở bậc trung học mấy năm sau đó.
Ở trọ nhà chú Năm, tôi và chị tôi chỉ lo ăn học, chẳng phải làm việc gì vì còn quá nhỏ. Nhà chú cũng có mấy đứa con cùng trang lứa với chúng tôi nên vui chơi thỏa thích, nhất là vào chập tối, lúc ăn cơm xong (vì ban ngày phải đi học cả ngày).
Những đêm sáng trăng, chúng tôi chơi đủ trò chơi từ u mọi, cút bắt, bịt mắt bắt dê… Có một dạo, tôi bị “quáng gà”, chắc là do ăn uống thiều chất, với lại tôi cũng rất kén ăn. Ban đêm tôi chẳng nhìn thấy gì, không chơi được trò chơi gì, tức muốn phát khóc. Sau một thời gian ngắn, chừng hơn tháng gì đó, thì cũng tự khỏi, không biết làm sao.
Nhiều đêm, nhớ nhà, nhớ cha mẹ và các em, tôi cứ nằm khóc rưng rức mà chẳng có ai dỗ dành.

4.
sông Cái ngăn giữa hai thôn Phú Ân Nam (thuộc xã Diên An) và Phú Ân Bắc (thuộc xã Diên Phú). Lúc ấy, từ bên này sang bên kia hoặc ngược lại, phương tiện duy nhất là đi đò. Từ Phú Ân Nam, gần nhà chú tôi, có một con đường nhỏ chạy giữa cánh đồng lúa của làng, dẫn đến một bến sông. Bên kia sông là bến đò Cầu Voi. Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì nó nằm gần bên một chiếc “cầu tre lắt lẻo” tên là Cầu Voi (Không hiểu sao lại gọi là Cầu Voi), bắc ngang một nhánh sông nhỏ. Ở đó, thường có một chiếc nhỏ đò chờ đưa khách qua sông.
Thường thì cứ vào cuối buồi chiều cuối tuần (có khi hai tuần), tôi và chị tôi xin phép chú thím, dắt díu nhau về thăm nhà. Hai đứa bé, một lên tám, một lên chín tuổi lôi thôi lếch thếch đi bộ quãng đường dài sáu cây số. Chị đi trước, em lẽo đẽo theo sau, nhiều lúc đi theo không kịp chị, cứ vừa đi vừa khóc, cố chạy theo cho kịp chị để còn lên đò qua sông.
Chị Ngôi là người chèo đò đưa chúng tôi qua lại trên dòng sông Cái. Bây giờ tôi cũng không hình dung ra được khuôn mặt chị, chỉ nhớ là chị còn trẻ, hơn chúng tôi độ gần mười tuổi, hay đội chiếc nón lá. Hôm nào chị bận việc gì đó không chèo đò thì có cha chị (tôi đoán vậy) chèo thay. Mấy mươi năm rồi, không biết bây giờ chị thế nào, gia đình, chồng con ra sao, sinh sống nơi đâu?
Tôi nhớ có hôm hai chị em về đến cánh đồng gần nhà thì súng bỗng nổ vang, đạn bay “chíu chíu” trên đầu, đạn cối nổ ngay trước mặt, chớp lửa nhoáng nhoàng. Phía bên này và phía bên kia từ trong các khu vườn nhà dân thi nhau nã đạn về phía nhau. Chị em tôi nháo nhào chạy dưới hai làn đạn, chạy cả xuống ruộng bùn, vừa chạy vừa la khóc. May mà cũng về được đến nhà không sao cả.
Trong thời gian tôi học lớp Ba tại Trường Tiểu học Võ Cạnh, chiến tranh vẫn diễn ra ở tứ thôn Đại Điền và ở nhiều nơi khác.
Sau gần một năm thì “chính quyền cách mạng” ở tứ thôn Đại Điền giải tán. Phía “quốc gia” tấn công ác liệt để giành lại vùng tứ thôn Đại Điền. Phong trào “ly sơn” tan rã, cán bộ, du kích rút hết lên núi.
Hết năm học, tình hình tạm yên. Cha tôi đưa chúng tôi về quê. Chúng tôi giã từ chú thím và các em, giã từ thầy cô và các bạn học trường Võ Cạnh trong tiếc nuối bùi ngùi.
Tôi về lại Trường Tiểu học Đại Điền Đông, học lên lớp Nhì.
Đó là vào khoảng tháng 9 năm 1966, năm Bính Ngọ.
Năm sau và những năm sau nữa, khói lửa chiến tranh lại tiếp tục bùng lên dữ dội.
5.
Trời đã về chiều nhưng nắng vẫn còn gay gắt.
Từ nhà ngoại, tôi chạy xe dọc theo xóm thôn bên bờ bắc sông Cái. Nhà cửa khang trang, ruộng đồng tươi tốt. Đi mãi một lúc thì đến Cầu Voi. Chiếc cầu tre năm nào được thay bằng chiếc cầu bê tông kiên cố.
Bến đò Cầu Voi năm nào đâu rồi?
Tối hỏi một chị bán hàng gần cầu:
– Xin lỗi chị, chị có biết bến đò Cầu Voi chỗ nào không?
– Em không biết bến đò nào cả, chỉ biết Cầu Voi này thôi. À, có khi anh hỏi bà bác kia kìa, bác ấy lớn tuổi chắc là biết.
Tôi tiến tới người phụ nữ lớn tuổi, chắc cũng xấp xỉ tám mươi, trông còn khá khỏe mạnh, lễ phép hỏi:
– Thím cho cháu hỏi, thím có biết bến đò Cầu Voi hồi xưa bây giờ ở đâu không ạ?
Thím nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi lại:
– Cháu người vùng này hay ở đâu? Muốn tìm nhà bà con ở đây à?
– Dạ, quê cháu bên Đại Điền. Hồi nhỏ, cháu trọ học bên Phú Ân Nam, hàng tuần hay đi về thăm nhà, qua bến đò Cầu Voi này. Cũng đã lâu lắm rồi, chắc cũng gần năm mươi năm. Cháu chỉ muốn thăm lại bến đò ngày xưa thôi ạ.
Thím cười giòn giã:
– Bến đò Cầu Voi đã bỏ lâu rồi cháu ạ. Nó nằm ở chỗ kia kìa.
Theo tay bà thím chỉ, tôi thấy hai ba ngôi nhà cây cối um tùm, không có lối nào dẫn xuống bến sông.
Nhìn sang bên kia sông, tôi cũng không thấy dấu vết gì ngoài hàng tre xanh mướt.
Bến đò xưa, từ lâu đã không còn nữa.
Tôi cám ơn chị bán hàng và người thím, rồi thẫn thờ nhìn ra dòng sông.
Chiều đã xuống. Nắng tắt dần.
Trong lòng tôi là một khoảng trống mênh mang.

Tháng 10/2016
NP phan

Tùy Bút

tranvanle

Ba giờ sáng. Mây tan. Trăng tản.
Vài chòm mây rải rác gió bay
Tôi khuấy một ly cà phê, tôi nấu một ấm trà. Chờ sáng.
Thành phố đêm im lặng đến ghê người!

Trăng hạ huyền theo mây trăng trôi
Tôi nhớ những nơi tôi từng phiêu lãng
Một thời xưa nhiều đêm tôi chờ sáng
Tôi ngủ ban ngày nếu chẳng bận hành quân…

Một thời xưa dài chỉ chín năm
Nay tôi không còn trẻ như hồi hăm mấy tuổi
Nếu là ngựa thì tôi ngừng giong ruỗi
Bởi là người tôi cứ thả hồn bay…

Tôi có hồn mà không giữ được trong tay
Như trời kia có mây mà mây tan, kệ nó…
Và trăng ơi, hỡi vầng trăng kỳ ngộ
Chỉ một đêm Rằm tròn trịa dễ thương!

Tôi sống tới hôm nay không phải tại chán chường
Nhưng tôi buồn, tôi buồn, buồn lắm
Tôi từng ăn cay, tôi từng nuốt đắng
Không một mình tôi, đông đảo bạn bè tôi!

Những năm lán tranh, gió lạnh, qua rồi…
Ai cấm mình có nhiều đêm không ngủ?
Tôi tự hỏi tại sao đời no đủ
Duyên cớ gì mình cứ ngó mây bay?

Điếu thuốc trên môi. Ly cà phê trên tay
Tôi gạt tàn thuốc và uống cà phê một hớp
Tôi nhớ quá thời hàng hàng lớp lớp
Tôi nhớ những rừng sâu, nhớ những lũng ngàn…

Nhớ những sườn đồi hoa quỳ nở vàng
Tôi cũng nhớ cái ngày tôi quỳ ở vũ đình trường Thủ Đức
Tôi nhớ các em ngoan hiền trong lớp học
…và tôi thức nhiều đêm chờ sáng!

Trần Vấn Lệ

THƯƠNG AI CƯỜI KHÔNG NÓI

huyenchieu

Năm nay lũ lụt miền Trung kinh hoàng hơn bao giờ, trong khi lượng mưa cũng chưa phải là cao nhất trong lịch sử. Hình ảnh hàng vạn nhà dân ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, nước ngập đến nóc tràn ngập trên báo chí. Hàng triệu người dân nghèo ngày thường đã rất khốn khó bây giờ lại bị đẩy vào tình trạng không nhà cửa, không chăn màn, không tài sản, không heo gà, bò, chó, không củi, không gạo để nấu cơm và không nước sạch để uống.
Người bịnh không thể đến bệnh viện. Người chết không thể đem chôn!
Nhiều bài báo tố cáo nguyên nhân của lũ và gọi đó là nhân tai.
Nhà báo Đức Hoàng ở VnExpress viết:
“Và cứ mỗi trận lũ lớn, người ta lại chỉ tay về phía những cánh rừng. Từ lâu, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất của lũ lụt, đặc biệt ở miền Trung đã được chỉ ra là diện tích rừng phòng hộ; rừng đầu nguồn bị thu hẹp. Thảm thực vật bị suy kiệt làm tăng tốc độ dòng chảy mặt nước.”
Ngoài lý do rừng đầu nguồn bị chặt phá gây ra lũ lụt một nguyên nhân khác còn đau lòng hơn là các nhà máy Thủy Điện thản nhiên xả lũ nhấn chìm làng mạc phía hạ nguồn chỉ trong vài tiếng đồng hồ, làm người dân không kịp thoát thân.
Lạ thay, hầu như nạn nhân không hề phản ứng trước cách cư xử ngang ngược, coi thường sinh mạng người dân của các nhà máy thủy điện. Hình như họ đã quen cam chịu mọi nỗi khốn khổ từ hàng trăm năm rồi.
Trong những tấm hình chụp người dân vùng lũ ngồi trên mái nhà, trong ô cửa sổ rầm thượng, trong khi nước lũ vẫn dâng mải miết, có người đã mỉm cười khi nhìn thấy máy ảnh của phóng viên.
Thật muốn khóc khi nhìn nụ cười của người được trao cho 10 ký gạo cứu trợ. Khi ăn hết số gạo này, ngày mai của họ sẽ ra sao?
22 người đã chết trong cơn lũ này và còn nhiều người mất tích và chắc chắn năm tới lũ lại về…
Xem trên TV, hình ảnh người dân Sài Gòn, sau một ngày làm việc vất vả đang hì hục đẩy chiếc xe chết máy trên đường phố ngập nước nhưng họ không cáu kỉnh oán hận chửi rủa. Khi thấy máy quay, họ mỉm cười và phân bua: “Chung quanh đây, ai cũng thế thôi, tất cả xe cộ đều chết máy”. Nước mưa không ngõ thoát vì thành phố phát triển vô tổ chức, kênh rạch bị lấn chiếm, các hồ nước bị lấp đất san nền, và chỉ cần một cơn mưa rào, đường phố biến thành sông.
Có người mẹ ở Bình Dương ngồi gục đầu lặng im bên miệng cống, nơi đứa con trai 8 tuổi của bà bị trôi tuột vào đó và 2 ngày rồi không tìm được xác.
Rừng đầu nguồn bị tàn phá với tốc độ khủng khiếp, những sông hồ biển cả bị đầu độc bởi hàng ngàn ống xả thải từ các nhà máy không qua xử lý, đồng bằng miền Nam đang biến dần thành một vùng đất chết khi nước sông Cửu Long bị chặn dòng cho thủy điện của Lào, Thái Lan, Trung Quốc .
Người dân Việt vẫn chỉ biết mỉm cười cam chịu những gì đã , đang và sẽ đến với họ.
.
Nhưng có một người đã quá ngạc nhiên không hiểu nổi và từ đáy lòng, anh ta cảm thấy xót thương cho những nụ cười Việt Nam.
Anh tên Réhahn, một thanh niên Pháp sinh năm 1979.
Anh Réhahn sang Việt Nam vừa đi du lịch vừa làm người chụp ảnh.

Từng đi qua 35 quốc gia trước khi đến Việt Nam nhưng có lẽ Réhahn nhìn thấy ở Việt Nam có quá nhiều điều kỳ lạ và hình như điều kỳ lạ nhất là sức cam chịu của người dân. Trong trí tưởng tượng của một thanh niên châu Âu, cuộc chiến vừa qua với số người chết nhiều hơn thế chiến thứ hai, với số lượng bom đạn khủng khiếp của các siêu cường trút xuống, với một nền kinh tế bị kìm hãm bởi định hướng xã hội chủ nghĩa, hẳn ở đây anh sẽ gặp một dân tộc đang ôm nhau ngồi khóc.
Nhưng anh đã không nhìn thấy những điều như anh nghĩ.
Một hôm anh bước lên một chiếc thuyền trên dòng sông Hoài ở phố cổ Hội An và anh làm quen với một bà lão chèo đò.
Bà lão gầy yếu như bao bà lão khác ở Việt Nam. Bà không có lương hưu, không có trợ cấp cho người già, không có bảo hiểm y tế.
Có thể bà có vài đứa con trai thuộc bên này hay bên kia đã chết trong trận chiến vừa qua. Có thể nhà của bà đã từng bị cháy và bà đã từng gánh con đi chạy loạn?
Nhưng bà vẫn mỉm cười khi khua mái chèo đưa khách sang sông.
Réhahn đã chụp được nụ cười của bà lão Bùi Thị Xong trên sông Hoài và tác giả đặt tên tấm ảnh là “Nụ Cười Giấu Kín” (The Hidden Smile).
Nụ Cười Giấu Kín được Réhahn chọn làm bìa cho tập sách ảnh “Việt Nam – Những Mảnh Ghép Tương Phản” (Vietnam, Mosaic of Contrast) gồm 145 trong số hàng ngàn bức ảnh mà anh chụp được ở Việt Nam.
Tấm ảnh bìa ấy được báo chí MỸ bầu chọn là “Bà Cụ Đẹp Nhất Thế Giới”.
Réhahn nói: “Nụ cười ẩn giấu này là một nụ cười không tuổi.
Bà Xong tuy đã già nhưng bà ấy luôn can đảm, mạnh mẽ, dễ thương…”
Rồi anh nói thêm: “Người Việt Nam là những người lạc quan và tích cực nhất mà tôi từng gặp trong đời.” (*)
Khi tập sách ảnh của Réhahn với ảnh bìa có nụ cười của bà lão Việt Nam già nua móm mém, chèo đò trên sông Hoài nổi tiếng khắp thế giới, nhiều tờ báo ở Việt Nam hoan hỉ loan tin rằng hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam đã được cả thế giới biết đến, nụ cười của bà Xong nói lên rằng đất nước Việt Nam đang rất đáng sống!
Tôi thì lại cảm thấy rất buồn khi cảm nhận được nỗi xót xa, thương cảm của một người ngoại quốc khi anh ta ngắm nhìn nụ cười của một bà lão người Việt ở tuổi phải được nghỉ ngơi, được chăm sóc, đang ngày ngày phải làm việc kiếm sống.
Ở đất nước tôi, các bà mẹ già luôn phải “mạnh mẽ, can đảm, lạc quan” trong nghèo đói, trong chiến tranh và cả khi đất nước hòa bình.
Có phải vì vậy mà Réhahn đã dùng chữ “Tương Phản” trong tựa đề tập sách ảnh của anh?

Huyền Chiêu

20-10-2016

(*) Những câu nói của Réhahn được trích từ một bài viết về Réhahn trên báo Dân Trí.

MƯA TRÊN BẮC CẦN THƠ

doanthachbien

Nép mình vào góc bắc
Tránh cơn mưa vỡ oà
Mưa trắng bờ. Sông rộng
Như lòng người chia xa.

Vuốt mặt dính đầy gió
Phủi cho chút lạnh bay
Sông không dâng đầy mắt
Sao ướt mèm đôi tay?

Mưa như em tàn bạo
Quất trí nhớ một người
Sông Hậu ngầu mắt đỏ
Ngóng bờ xanh xa xôi.

Mưa nhoè chiều chủ nhật
Qua sông. Thứ hai rồi
Ở vòm trời sáng đó
Mưa cũng vừa quên tôi.

ĐOÀN THẠCH BIỀN

ĐIỆU BUỒN MƯỜI NĂM

vungocgiao

ta có những ngày bỏ học
lang thang khắp phố , khắp phường
mỏi chân – đành ngồi quán cóc
nhấm nháp café không đường

cũng có đôi lúc bất thường
mặt mày bỗng dưng vênh váo
khật khừ triết học – văn chuơng
nhố nhăng ngôn từ khinh , ngạo

lại có nhiều khi khờ khạo
lơ ngơ trước một cổng trường
nhìn ai tung tăng chân sáo
đêm về , mơ một làn hương

mười năm xa bạn , xa trường
loay hoay bữa rau , bữa cháo
mười năm lăn lóc gió sương
ngó lại trắng tay , trắng áo

ta nhớ những lần ngỗ ngáo
ôm đàn ngồi vỗ lung tung
hát hò ử ư lếu láo
nhìn ta ai cũng nói : “ .. khùng ! “

mươi năm bỏ phố lên rừng
ta hóa thành thằng man dại
chiều nay trước một cổng trường
cỏ cây nhìn ta cũng ngại

chiều nay ta về tìm lại
tháng năm áo trắng yêu thương
nụ tình ngày xưa quên hái
ai đem vứt bỏ bên đường

mười năm vọng một điệu buồn
giã từ những thơ ngây cũ
giáo đường rụng một hồi chuông
âm ba thẫn thờ trong gió ..

vũ ngọc giao

LỊCH SỬ NGÀY HALLOWEEN

wrg-1541007-1

Cứ vào ngày 31/10 hàng năm, hàng nghìn trẻ em Bắc Mỹ và Anh quốc đổ ra đường trong các bộ lễ phục hóa trang, chơi trò lừa nhau, đục khoét bí ngô, đớp táo và gõ cửa các nhà để xin bánh kẹo. Vậy, phong tục độc đáo này bắt nguồn từ đâu?

Từ “Halloween” bắt nguồn từ nhà thờ Thiên chúa giáo, là dấu vết còn lại của lễ hội All Hallow Eve (lễ thánh). Ngày 1/11 là ngày lễ của người Thiên chúa bày tỏ lòng thành trước thánh thần. Nhưng vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, ở xứ Celtic (Ireland) mùa màng kết thúc vào ngày 31/10 và ngày hội Halloween được gọi là ngày lễ Samhain (gieo trồng). Ngày này cũng chính thức bắt đầu một năm mới của người Celtic.

Người Celtic tổ chức kỷ niệm năm mới với lễ hội Samhain. Vào thời gian này vị thần của mùa xuân và mùa hè không còn ngự trị và nhường chỗ cho thần Chết. Lễ hội bắt đầu vào ngày 1/11, khi linh hồn của người chết quay trở lại nhà người thân để xin thức ăn và nước uống. Trong suốt đêm lễ thánh Hallow’s Eve, diễn ra vào đầu mùa đông – thời điểm kết thúc một năm, các xác chết đi lại tự do.

Người xưa kể lại, vào ngày lễ Samhain linh hồn của người chết trong năm trước sẽ tìm đến một thể xác khác để bắt đầu cuộc sống mới trong năm tiếp theo. Tuy nhiên, người sống không muốn linh hồn người chết nhập vào mình, vì thế vào ngày 31/10 dân làng dập tắt lửa trong nhà để làm cho nhà cửa lạnh lẽo và tẻ ngắt. Sau đó họ hoá trang thành ma cà rồng và lặng lẽ đi vòng quanh nhà hàng xóm vẻ hăm doạ để xua đuổi những hồn ma tìm thể xác.

Theo giải thích khác thì người ta cho rằng vào đêm Samhain, người Celtic dập tắt lửa không phải để xua đuổi những linh hồn mà để sau đó họ cùng nhau đi lấy lửa tại nguồn sáng gọi là Druidic, liên tục cháy ở Usinach thuộc miền trung Ireland.
Sau này, người La Mã đã biến những tục lệ trên của người Celtic thành tục lệ của mình. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, họ bỏ tục lệ hiến người sống và thay vào đó là hiến hình nộm. Theo thời gian, do người ta không còn tin vào linh hồn nữa, nên tục lệ hoá trang thành ma quỷ hay phù thuỷ chỉ còn là hình thức.
Cùng với phong trào di cư để tránh nạn thiếu khoai tây của người Ireland sang Mỹ những năm 1840, lễ hội Halloween được du nhập vào Mỹ cùng trò như lật ngược nhà vệ sinh và tháo cổng ra vào.
Tuy nhiên, ngày hội “lừa phỉnh” được cho là bắt nguồn từ một phong tục gọi là tục “cầu hồn” của người Châu Âu ở thế kỷ thứ 9. Ngày 2/11 hàng năm, người Thiên chúa giáo đi từ làng này sang làng khác xin “bánh cầu hồn”. Đây là những chiếc bánh hình vuông làm từ bánh mỳ và nho Hy Lạp. Người đi xin nhận được càng nhiều bánh thì họ càng cầu được cho nhiều linh hồn người thân của gia chủ siêu thoát.
Ở Anh trước đây, đêm Halloween từng được gọi là Nutcrack Night hay Snap Apple Night tức là một đêm dành cho gia đình ngồi bên đống lửa hồng để nghe kể chuyện, ăn trái cây. Những người nghèo đi ăn xin (a-souling) thường được cho một thứ bánh gọi là bánh linh-hồn (soulcakes) với điều kiện họ phải cầu nguyện cho người chết.
Ngày nay, nhiều nhà thờ tổ chức tiệc Halloween hoặc tổ chức khắc đèn lồng cho trẻ em. Mọi người cùng nhau đấu tranh vì một thế giới không còn tội lỗi.

Trò Trick or treat
: Trong suốt lễ hội Samhain, vị thần Druids cho rằng người chết sẽ tìm đến lừa, gây hoang mang, lo sợ và phá hoại con người. Những hồn ma đi lại ăn xin và đến nhà nào, gia chủ phải cung cấp thức ăn cho chúng. Chính vì thế, trong tuần lễ Halloween, trẻ em phương Tây rất hứng thú với trò “gõ cửa xin ăn” này. Chúng mặc trang phục hóa trang và đeo mặt nạ rồi đi từ nhà này qua nhà khác, gõ cửa để gặp chủ nhà và nói câu “trick-or-treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi”. Để tránh bị phiền toái, chủ nhà đãi chúng kẹo, bánh trái, và cả cho tiền nữa.

hinh-nen-halloween-mat-trang-cuc-ngo-nghinh-287x300

Trò “Đớp táo”: Khi người Celtic bị người La Mã đánh chiếm, nhiều phong tục của người La Mã theo đó cũng du nhập vào đất Celtic, trong đó có lễ hội thờ nữ thần mùa màng Ponoma. Vị thần này thường “ẩn náu” trong giỏ hoa quả. Quả táo là một thứ hoa quả linh thiêng dùng để thờ cúng thần linh, do đó nhiều trò chơi có liên quan đến loại quả này xuất hiện trong lễ hội Samhain.

Lễ hội đèn lồng (đèn bí ngô Jack-O’-Lantern): Lễ hội đèn lồng bắt nguồn từ tập quán của người Ireland. Theo truyền thuyết kể lại, Jack là người nổi tiếng vì nghiện rượu và tư chất thông minh. Anh đã lừa con quỷ Satan trèo lên ngọn cây, sau đó khắc hình một chữ thập lên gốc cây và trói con quỷ trên đó. Jack thoả thuận với con quỷ nếu nó không trêu chọc anh nữa thì anh sẽ thả nó xuống. Do phạm nhiều tội lỗi cho nên khi chết, ông không được lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Do vậy, ông phải đi lang thang nhiều nơi tìm kiếm một chỗ trú chân. Hơi ấm duy nhất sưởi ấm cho ông trong giá lạnh là ngọn nến leo lét trong củ khoai tây thối.
Trẻ em ở Ireland thường chơi trò đục khoét củ khoai tây và bí đao trong lễ hội Halloween. Nhưng khi di cư sang Mỹ, người ta phát hiện quả bí ngô sáng hơn bí đao nên sau này đèn lồng ở Mỹ được trang trí bằng quả bí ngô có cục than hồng bên trong.

hinh-nen-halloween-vui-ve-cung-bi-ngo-267x300

Do truyền thống Halloween được coi là bắt nguồn từ những người ngoại đạo, nên ngày này nhiều người theo đạo Thiên chúa giáo không tổ chức lễ kỷ niệm. Một số người ở các giáo phái khác tổ chức kỷ niệm nhưng coi đây là lễ hội mùa màng, lễ hội xá tội hay đêm thánh Halleluja và họ tổ chức lễ tại nhà thờ của giáo phái mình. Lễ hội mang đến cho trẻ em nhiều trò chơi lý thú.
Tối hôm trước của ngày lễ Halloween, tức là 30/10, được gọi là “đêm ma-quỉ”, thường các thanh thiếu niên hay phá phách, gây thiệt hại đến tài sản, thậm chí tính mạng của người dân. Bởi thế lực lượng cảnh sát phải tăng cường giữ trật tự trong đêm này, còn các bậc phụ huynh cũng coi chừng con em mình.

Biện pháp an toàn cho trẻ em và người lớn trong đêm Halloween. Đã có rất nhiều tai nạn xảy ra trong Tết Halloween. Chính vì thế, trẻ em đi chơi trò Trick or treat nên:
– Đeo băng phản chiếu ánh sáng lên quần áo để báo hiệu cho xe cộ khỏi đâm vào.
– Mặc đồ hóa trang ngắn gọn và khó bén lửa để tránh vấp ngã và khỏi bị cháy. Để tránh bị lạnh khi đi “lang thang gõ cửa các nhà” nên mặc quần áo thật ấm ở bên trong đồ hóa trang.
– Vẽ mặt thay vì đeo mặt nạ để tránh bị che mất tầm quan sát trên đường. Nếu đeo mặt-nạ trong khi đi thì nên đẩy mặt nạ lên trán để dễ nhìn.
– Chỉ đi vào nhà người ta bằng cửa trước và tránh dùng cửa hậu hay cửa bên để tránh các bất trắc.
– Mang theo tiền và giấy tờ có ghi địa chỉ, số điện thoại, và tên cha mẹ để phòng khi trẻ lạc thì có người giúp đưa về.
– Không nên ăn bất cứ thứ gì người ta cho mà phải đợi đến khi về nhà để cha mẹ xem xét kỹ trước khi ăn. Nếu có muốn ăn kẹo bánh người ta cho trong lúc đi đường, chỉ ăn những kẹo bánh còn nguyên trong gói để tránh ngộ độc.
– Phụ huynh phải biết rõ lộ trình các con định đi chơi trò Trick or treat để theo dõi khi cần.

Halloween là lễ hội thường niên diễn ra vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, nhưng đó là lễ hội để tưởng niệm cái gì? Tại sao người ta phải hoá trang và ăn mặc ghớm ghiếc đến thế? Phải chăng đó là nghi lễ thờ quỷ dữ hay đó là tàn tích của những lễ nghi tà giáo từ thời xa xưa?
Bản thân từ “Halloween” có xuất xứ từ Thiên Chúa Giáo, đó là từ kết hợp của hai từ Hallows Eve (ngày lễ thánh hóa hay còn gọi là ngày lễ các thánh) diễn ra vào ngày đầu tiên của tháng 11, tháng cầu cho các linh hồn đã qua đời. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng ngay từ thế kỷ 5 trước công nguyên người Celtic ở Ai-len đã kỷ niệm ngày này vào ngày 31 tháng 10, tức là ngày cuối cùng của mùa hè như là một nghi lễ mừng năm mới.

Chuyện kể lại rằng, vào ngày đó những người đã chết sẽ quay về nhân gian tìm một cơ thể và nhập vào để được đầu thai vào năm sau. Đó là cách duy nhất để các linh hồn đó có thể được tái sinh. Người Celtic tin rằng ngày đó chính là ngày âm dương giao hòa, kẻ chết và người sống có thể tiếp xúc với nhau. Dĩ nhiên người sống không bao giờ muốn cơ thể của mình bị các linh hồn “cướp” mất, vì thế vào tối 30 tháng 10 tất cả các làng mạc đều dập tắt lửa và mặc những trang phục cực kỳ ghê tởm và diễu hành ầm ĩ khắp xóm để xua đuổi các linh hồn đến tìm kiếm thân xác để nhập vào.

Có một tài liệu khác cho rằng sở dĩ người Celtic dập tắt lửa nhà mình là để đến hôm sau tất cả cư dân cùng thắp sáng nhà mình bằng cùng một ngọn lửa được lấy từ trung tâm vùng Ai-len. Và cơ thể những người bị các linh hồn nhập vào sẽ bị trói vào cọc và đốt để cảnh cáo và cũng là để xua đuổi các linh hồn muốn tái sinh. Nhưng càng về sau này người ta càng tin rằng đó chỉ là những truyền thuyết mà thôi.

Ngày lễ Halloween sau đó đã du nhập sang rất nhiều nước khác nhau, nhưng mỗi nước đều biến tấu nó đi để ngày lễ Halloween là của mình. Đầu tiên phải kể đến người Roman, ngay từ những thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, người Ý xa xưa đã dùng ngày cuối tháng 10 này để tưởng nhớ nữ thần Pomona, nữ thần trái cây của họ. Biểu tượng của nữ thần Pomona là trái táo, điều này giải thích cho trò đớp những trái táo trong ngày Halloween hiện nay.

Người Châu Âu thì cho rằng những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween không phải có xuất xứ từ người Celtic mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âu. Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2 tháng 11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc giống như những kẻ ăn mày rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng họ càng xin được nhiều mẩu bánh thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.

Theo một câu chuyện dân gian thì có một anh chàng tên Jack sau khi chết đã từ chối lên Thiên đàng vì mặc cảm tội lỗi, nhưng anh ta cũng không muốn xuống địa ngục, vì vậy Đức Chúa đã tạo ra một nơi tối tăm lạnh lẽo để anh ta ở đó mà ăn năn hối cải. Nhưng để đi đến được nơi đó anh ta cần phải đi theo ánh sánh dẫn đường của đám than hồn được để trong một trái củ cải rỗng ruột. Sau này những người Ai-len di cư sang Mỹ đã thay những trái củ cải thành những trái bí ngô.

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840 theo chân những người Ai-len di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trang, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác Halloween đã trở thành một ngày lễ chung cho tất cả mọi người, nhất là đối với giới trẻ.

Nguồn Internet