DÃ QUỲ PLEIKU

nguyenminhphuc

Dã quỳ vàng thẵm Pleiku
Lời ru đắm đuối mùa thu, tôi về…
Nghe chiều vàng rực đê mê
Say em và ngụm cà phê nồng nàn
…Nầy em nầy dã quỳ vàng
Tôi lơ ngơ đứng giữa ngàn thông xanh
Nầy chiều nầy khói mong manh
Sương rơi phố núi không đành chân đi…
Theo em hương ngát dã quỳ
Bâng khuâng vương mối tình si nặng nề
Giàng ơi…tôi lỡ câu thề
Nên tơ vương ngập nẻo về sương giăng…
Ơ nầy… em gái Sê Đăng
Có hay tôi hái vầng trăng lưng đồi
Gửi thầm một vạt mây trôi
Em nghe khẽ tiếng lòng tôi thầm thì…
…Nầy hoa vàng thắm dã quỳ
Thương tình tôi đậu nhu mì vai ngoan
Pleiku chiều khuất mây ngàn
Có người thả đóa …
hoa vàng
tương tư…

Nguyễn Minh Phúc
(Tháng mười dã quỳ
Pleiku)

California , Cây Palm Và Trời Nắng

tranvanle

Đài báo hôm nay mưa. Trời không mưa một giọt! Sáng dậy, chim vẫn hót. Gió nhẹ hiu hiu buồn…

Hoa hồng, một giọt sương. Mưa hoa là nước mắt, sao mặt trời không tắt, sao trời xanh, xanh ngắt?

Nhìn thảm cỏ xơ xác, nhìn cây hồng trái đầy. Chim hót và đã bay. Nắng cuối trời vừa ửng.

Thương quá cây palm đứng mong mưa bao nhiêu ngày…California đây, cây palm và trời nắng…

Năm ngoái, mưa thỉnh thoảng, năm nay mưa không về. Xe bus vàng chạy đi, hồn nhiên bầy con nít…

Cuối năm và sắp Tết, lễ Giáng Sinh sắp rồi. Tiếng chuông ngân ngậm ngùi. Tiếng chuông ngân ngậm ngùi…

*
Đài báo tin cho có…giống như hoa trước ngõ nở vàng áo lụa bay…Hỡi tôi nhớ thương ai / mà thơ này chan chứa / mà buồn này bình minh? Hỡi em có giật mình: sao thơ buồn quá thế, lẽ nào mưa đến trễ, mình trễ chuyến hồi hương?

Trần Vấn Lệ

Sticker

luuthy

Người nào tới Mỹ là cũng đều có một nhận xét như nhau là thứ nhất trời đất quỷ thần ơi, cái xứ gì mà toàn xe với xe, xe chạy đầy đường và chạy từ sáng đến tối, 24/24 và 24/7 7 ngày mỗi tuần, ngày nào cũng như ngày đó. Và thứ hai là thầy chạy với cái xứ Mỹ này, gia đình nào cũng có ít nhất một chiếc xe, cha một chiếc, mẹ một chiếc, và mỗi đứa con thì mỗi đứa một chiếc.
Dân Mỹ không những thích chạy xe mà còn thích dán sticker sau xe. Sticker là tấm giấy có keo mặt sau, và mặt trước in đủ thứ hình ảnh chữ viết để “trình bày quan điểm” của chủ chiếc xe.
Có người chủ xe quí xe đến mức chơi luôn hàng chữ “Don’t touch my car” kèm cái hình cái búa với cái đầu lâu máu me nhỏ giọt. Lại cũng có người thương con, cẩn thận dán cái sticker “Baby on board”, “Baby in Car”. Dân mê cá thì “Fishaholic”, tay ghiền sushi “I love Sushi”, tay muốn khoe con thì không gì bằng với cái sticker “Proud Parent of Medical Student”, hay “My Child is an Honor Student at…”. Ông hàng xóm mê chó nhưng lại ghét đứa con bà hàng xóm, chơi ngay cái sticker “My Dog is Smarter than Your Honor Student”.
Cứ mỗi 4 năm là mấy chiếc xe có sticker lại dán thêm cái sticker bầu cử. Chủ xe khoái Obama thì dán hình Obama, thích Romney thì Romney, Reagan, Clinton, Bush, Al Gore. Cái xứ tự do mà, nên anh muốn dán muốn ủng hộ và ngay cả muốn bôi xấu bôi bẩn chửi tục chửi thề cái ứng cử viên tổng thống kia cũng tự do tha hồ phát biểu.
Những mùa trước là như vậy, nhưng tới cái mùa này thì thị trường sticker phá sản. Dân Houston không còn mê dán sticker bầu cử? Dù có chạy xe đàng đông, lên phương bắc, về nam rẻ qua tây, hay vòng vòng mấy cái loop 610, 8, 6, du khách cũng sẽ không thấy một chiếc xe nào có dán sticker ông Trump với bà Hillary. Không sticker ủng hộ, không sticker chống đối hay nhạo báng.
Thấy lạ tui mới hỏi nhà thơ quen ở Cali, bên đó có như vậy không.
Nhà thơ trả lời mấy lúc này bận làm thơ, ít ra đường, mà dù có ra đường chạy xe, mắt chỉ đăm đăm mấy cái đèn xanh đèn đỏ, nhìn chi mấy cái sticker.
Nhà thơ bảo có khi nào dân cao bồi Texas giờ biết sợ. Tui hỏi sợ gì, nhà thơ trả lời:
– Sợ nếu dán sticker ủng hộ Trump, dân Mễ lậu nó sẽ đập bể kính xe, phụ nữ con nhà lành sẽ nhét môi son vô ổ khoá cửa, dân Hồi giáo cực đoan gài ngay cái bom nổ chậm dưới gầm xe là tiêu tùng. Ai biểu gây thù chuốc oán chi cho nhiều rồi giờ gánh hậu quả.
Nhà thơ nói nghe cũng có lý, nhưng mà có cái gì đó không ổn, tui mới hỏi lại:
– Đúng là dán sticker Trump sẽ “gây nên hậu quả nghiêm trọng” cho chiếc xe, nhưng tại sao dân ủng hộ Hillary cũng không dán sticker ủng hộ Hillary là sao?
Nhà thơ mới nhìn tui lắc đầu nói:
-You đúng là đồ điên đồ dumb. Bộ mấy tháng trời nay you không đọc báo nghe tin tức coi mấy cái status trên facebook sao? Dân Việt Nam còn biết, người ở tận dưới down under là nước Australia còn hay, mà you là người ở tận đây, cứ như là người ngoài hành tinh.
Tui hỏi tại sao, nhà thơ mới trả lời như thế này:
– Ai mà không biết Trump là thứ côn đồ, không những côn đồ mà còn nham hiểm nữa. Dán cái sticker ủng hộ Hillary, rồi đi shopping, đi chợ, đi vô phòng khám bác sĩ, đi làm… đậu chiếc xe ngoài parking, thì ai biết đâu được, lỡ như… lỡ như… Trump đi ngang qua đó, thấy cái sticker ủng hộ Hillary, chả lấy đinh chả đâm lủng bốn cái bánh xe, …thì có nước mà chịu chết.

LƯU THY NGUYỄN

BÓNG ĐỎ

nguyenducbatngan

ta nhỏ hẹp trên con đường nhỏ hẹp
em lao đao theo sông núi lao đao
như ganh tị giữa hai bờ môi đẹp
như thù hằn đang trở giấc xôn xao

em hư hỏng ta hung tàn man dại
ta ngu si em mê muội muôn đời
cùng đứng thẳng vọng nhìn nhau băng hoại
như lụy phiền tưới xương máu rơi rơi

thơ dẫn dắt chúng ta vào huyền thoại
thân giao thân, hồn đắm đuối vỗ về
dù tâm giới là triều thiên biên ngoại
em chẳng còn ta chẳng mất, nhiêu khê

trong âu yếm đã ngày mai xa lắc
đường em đi quạnh quẽ bước ta đi
nụ hôn sớm đã ít nhiều loạn tặc
như bụi đời đang lấm áo từ ly

này xa xôi em bình yên với cỏ
như đêm khuya ta tẩm mộng hoang đường
em yêu dấu em nghìn xưa bóng đỏ
đẩy lên trời, xanh vệt máu anh chương

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

GỌI MÙA

hoangvancham

Úa phai gọi mùa
Từng chiếc lá bay nghiêng
Thu về qua ngõ vắng
Ngỡ giấc mơ quanh đời chao liệng
Em vùi sâu mùa nhớ
Tít tắp một mùa thu.

Nốt trầm giao hưởng tay cầm tay.
Lối quen tôi về mùa thu giăng
Cỏ mềm ướt ngọt
Sương khói miền xa xăm
Chút màu phai trên tóc vẻ nét thời gian.
Bụi đời nhàu vai áo mỏng
Lỗi hẹn với trăm năm

Một bước ngược xuôi dặn lòng lui tới
Hỏi han một tiếng như tình gọi thuở ban sơ.
Ngắt một cánh hoa
Nụ hôn vội vàng gọi mùa hôn phối
Áo lụa thênh thang mở cánh cửa tàn phai
Tóc gió ngậm ngùi một khúc lý mười thương

Ta chải chuốt một bên nhau như chìu lòng giữ mối
Hẹn hò bên sông nước buông xóa đôi bờ.
Ta gọi mùa …gọi mùa đứng lại
Chỉ cần một chút ngày xưa
Gọi thầm kí ức
Phía hoàng hôn em không ngỡ ngàng dấu tích
Có chăng một ngày về chải chuốt một mùa yêu.

HOÀNG VĂN CHẨM

Chỉ xin được làm Người

tuankhanh

Trong nhiều ngày liền, những lá thư mà tôi nhận được, đến từ nhiều nguồn và nhiều người nhưng tất thảy đều có chung một chủ đề, là kêu gọi ngăn chận việc hình thành một nhà máy cán thép ở Cà Ná, Ninh Thuận. Tôi không biết ai trong số họ – những con người xa lạ ấy, nhưng rõ là họ đang cố tìm mọi cách để đánh động đồng bào mình về một thảm họa chung sẽ đến.

Một bức thư khác, kêu gọi ký tên phản đối thông qua trang Change.org. Trong đó, nhóm viết thư ngỏ có tên là Green Trees Vietnam hỏi một cách thống thiết rằng “bạn chưa thấy hoảng sợ hay sao?”.

Tôi đọc bức thư này trong một buổi sáng Chủ nhật, trời âm u và đầy mây mù nặng nề. Khung trời Việt Nam thật khắc khoải. Những người thốt lên lời đau đớn ấy, không khác gì những sứ giả của khải huyền miệt mài cảnh báo dấu hiệu chuỗi tận thế Ragnarok đang đến, nhưng tiếng nói của họ yếu ớt và chìm vào thời đại hỗn mang. Nhất là khi tôi đi ngang sân của Nhà Văn hóa Thanh Niên ở Sài Gòn, tiếng micro của người dẫn cuộc vui được đáp lại bằng những tràng hô rất to hoan hỉ. Quả thật, hiện thực của một dân tộc như đang chết sặc, lịm dần trong lịch trình giáo dục thờ ơ, hoan lạc xếp đặt.

Thư ngỏ cùng kêu gọi ký tên chống lại Dự án Khu liên hợp cán thép Hoa Sen chỉ cần có 1500 người tham gia. Thế nhưng các chữ ký đến chậm từng ngày, nó khác biệt làm sao, so với các cuộc vui mông muội mà hàng ngàn người nô nức ghi danh. Khác biệt với một sản phẩm thời thượng đắt tiền ra mắt mà trong tích tắc quá tải đến mức phải khóa sổ.

Tôi ký tên vào thư ngỏ này, với tư cách của một công dân còn tỉnh táo, nhưng lại quá tỉnh táo để tự vấn rằng lá thư này sẽ đến đâu, và ai sẽ đọc nó, hoặc ai sẽ thức tỉnh được phần người trong mình để nhận ra đất nước này đang chuồi dần vào lộ trình tận diệt Ragnarok bởi bọn trọc phú và quan lại điên cuồng trong dục vọng cưỡng đoạt quê hương?

Chưa bao giờ đất nước đang ở chương hồi bi kịch như lúc này. Người dân kêu gào cho sự sống và tồn vong của đất nước, còn những kẻ có quyền thì mê mị đám đông bằng những ngôn từ của rắn, rồi lặng lẽ hành động với âm mưu đã định. Một cuộc thăm dò trên báo Lao Động cho biết có đến 93% bạn đọc đã nói không với Cà Ná, nhưng cũng ngay lúc ấy, nhưng ông Trương Thanh Hoài – Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, đại diện cho Bộ Công Thương vẫn nói như đinh đóng cột “Hoa Sen không làm, Thép Cà Ná vẫn vào quy hoạch”. Điều đó cho thấy dã tâm không chỉ có Tôn Hoa Sen của ông Lê Phước Vũ, mà dã tâm là của cả một hệ thống. Nhân dân tuyệt vọng quẫy đạp phản đối, yếu ớt như những con cá trong làn nước độc nhưng số phận thì đã định rồi. Bản đồ đánh dấu sự lắng nghe và đối thoại của chính quyền với nhân dân, đã được điểm bằng dùi cui, roi điện, lựu đạn cay… ngày càng nhiều ở Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh… Và mai đây, nếu như có mặt của nhà máy thép ở Ninh Thuận, bản đồ này có lẽ sẽ còn phong phú hơn nữa.

Vùng biển Cà Ná, Ninh Thuận chỉ cách Sài Gòn khoảng 300 cây số. Một vụ nhiễm độc từ chất thải, sẽ sớm cô lập toàn bộ vùng lương thực quan yếu của toàn miền Nam và hủy diệt sức sống của một vùng kinh tế – xã hội chỉ trong 2 tuần lễ. Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia đau bệnh như hôm nay. Từ Trung Quốc, các dự án và phương thức hoạt động được tuồn dần vào Việt Nam. Bauxite Tây Nguyên hay Formosa, rồi hóa chất, thực phẩm độc… hôm nay thì cú đánh hiểm hóc vào Cà Ná từ dự án hãnh tiến về luyện thép. Không thể không hình dung đến một thuyết âm mưu quan trọng về một quốc gia suy yếu dần để Trung Quốc dễ bề kiểm soát. Nhưng dĩ nhiên, muốn làm được việc đó, phải có sự tham gia của bọn trọc phú hám lợi, bọn quan lại phản bội tổ quốc và bọn thỏa hiệp.

Phản ứng với báo chí về vụ dự án thép, ông Lê Phước Vũ từng nói rằng “mày đăng tao lên báo, tao chấp mày luôn”. Cách nói của ông Vũ, nhắc người ta nhớ đến giọng điệu trịch thượng của ông Võ Tuấn Nhân – Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường khi đòi rút thẻ nhà báo đưa tin, và gọi bằng “thằng”. Có cái gì đó thật đồng bộ giữa thế lực nhà nước và giới trọc phú khi kề cận nhau. Giai cấp của một hệ thống nằm trên pháp luật – vốn không bao giờ phải chịu trách nhiệm về sự ngu dốt, sai lầm và tội ác của mình nhưng luôn mạnh miệng để chà đạp phía nhân dân.

Ông Vũ có lý do gọi phần xã hội còn lại là “mày”, vì bởi ông tin đã dựa lưng vào khối tiền khổng lồ béo bở của dự án, như chân lý chói rực qua tim. Hơn nữa, ông lại là anh em cột chèo với thứ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh, và luôn được ủng hộ bởi Trường ban thường trực phía Nam của ban Tuyên giáo Trung ương Đào Văn Lừng. Trong giới làm ăn, ông Vũ cũng được nhìn thấy là người “chọn phe đúng” để vận động là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Với danh thế lừng lững như vậy, rõ là ông Vũ còn gì để ngại ngùng gọi phần còn lại của Việt Nam là “mày”?

Tôi chưa bao giờ nghĩ những lời phản biện tâm huyết và những lá thư ngỏ, cùng kêu gọi ký tên phản đối nhà máy cán thép Cà Ná có thể đến được bàn làm việc của ông Lê Phước Vũ. Vì ít nhất, đọc những điều rất Việt Nam, của những trái tim Việt Nam, của nguyên khí Việt Nam, thì một phần người nào đó đã được đánh động trong ông, thay vì luôn quảng bá hảo kim quang của danh xưng một phật tử.

Tôi từng thấy hình ảnh ông Vũ mặc áo kasaya quỳ lạy nơi cửa Phật. Có không ít quan chức liên quan đến ông cũng quỳ lạy thành kính như vậy. Ông Vũ và các quan chức đó cầu nguyện gì khi mắt nhắm nghiền và tay chấp hương? Liệu có là lời cầu nguyện cho dân tộc và đất nước này, hay chỉ là nối chấp mê vào dục vọng cuồng điên của quyền lợi riêng mình, bỏ mặc nhân gian oán thán? Tôi đã nhìn rất lâu vào những bức ảnh như vậy, tần ngần với biết bao suy nghĩ không lời giải thuộc về con người.

Trong muôn ngàn sự tích hay về cuộc đời, có chuyện về một nhà tu hành bị bá tánh khinh thường, ngồi khóc ở ven rừng. Quỷ xuất hiện và thỏa thuận sẽ làm nhà tu hành khiến ai ai cũng phải kính sợ. Nhưng bù lại, khi có quyền lợi – thì thầy tu và quỷ sẽ ăn chia đủ với nhau như bạn đời. Quỷ vô hình nâng thầy tu lên vai khiến dân chúng nhìn thấy thầy tu như bay lên, nên từ đó cúng dường, vâng phục. Liên minh người-quỷ đó tồn tại cho đến một ngày bất chợt Quỷ suy yếu quyền lực, không đỡ nổi khiến thầy tu té xuống và chết.

Điều gì đã nâng ông Lê Phước Vũ bay cao, để ông nhìn vào cõi nhân gian và cười cợt, gọi mọi người bằng “mày”? Và ông Vũ nghĩ loại quyền lực vô hình nào, có thể phụng sự cho ông đến cuối cuộc đời? Nhưng dù là ai, liên minh giả Phật-giả Quỷ ấy không thể tồn tại mãi trên đời thực này, không thể nghiễm nhiên mãi dẫm lên sự khổ đau của đồng loại, trong tương lai đi tới.

Tôi không biết mình có quen ai trong số 1500 người, ký tên vào thư ngỏ chống nhà máy thép Tôn Hoa Sen sẽ hủy hoại đất mẹ Việt Nam. Tôi nghĩ về rất nhiều lời tâm tình, phản đối, chia sẻ kêu gọi mà tôi đã đọc được. Tôi cũng không biết họ là Phật tử hay là người Công giáo, có tín ngưỡng hay không. Nhưng tôi biết chắc họ đang chọn hành động cho một ý nghĩa duy nhất, là sống và làm người với lẽ phải.

Là Quỷ hay Phật ngày mai, thì vẫn còn chưa biết được. Nhưng tôi sẽ không mơ màng chọn lựa hình ảnh. Tôi chỉ cố làm người hôm nay. Làm người, để còn đứng trong và đứng cùng đồng loại ở những giây phút nguy nan này, lắng nghe nỗi đau và khát vọng của dân tộc và quê hương mình. Làm người, để phân biệt và chỉ rõ ai là kẻ giả Phật và giả Quỷ đang giày xéo, mua bán đất nước này bằng cường quyền và mỵ ngữ.

Làm người, xin hãy mơ được là người thôi, thầy tu hay ngạ quỷ khi nhận ra, cũng đã là niềm hạnh phúc của dân tộc.

NGUYỄN TUẤN KHANH

Một Thoáng Pleiku

phamtinanninh

Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ, trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút đã về chốn cũ” ấy, giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao,Phan Thiết, và đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt, Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng.” Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa.” Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn, và vi phạm quân phong quân kỷ như ai!

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội,” trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới. Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân, để “may mà có em đời còn dễ thương!”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột (BMT) vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13/3/75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh. Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề… mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét,” chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng:

Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui…

cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:

Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó…

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời. Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê… những tiểu đoàn trưởng nổi danh, những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku. Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi- chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.

Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuộc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng Ba. Cùng với những đổng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó”:

Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền…

Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng
phố cũng xưa và tim thì đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…

Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!

Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.

Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó, nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.

Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Đành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku.

Phạm Tín An Ninh

Không Đề

luuxongpha

Bâng khuâng cởi cúc áo chiều
Sương mơn nụ nhớ hồn khều gai quên
Nổi chìm chuyện của lênh đênh
Tình xa lạc phận chờ duyên ích gì
Bình minh vỗ cánh bay đi
Cõng tia nắng ốm tìm về cỏ xanh
Dựng bia tạc mộng không thành
Hát ru đá sỏi vây quanh chỗ nằm
Nghiêng lòng yêu suốt trăm năm
Rót thương vào giếng tình câm cuối trời
Bốn mùa mài một nét môi
Hoàng hôn đất lỡ vùi nơi gối sầu

Lưu Xông Pha

Giọt đắng

phuonguy

gọi hồn cho ly cà phê buổi tối
mưa ngút trầm hương xanh mộ ảo
gọi hồn lau lách bờ tre
gió về xanh lên tuổi
em nhập mộng trầm hương không nuối
tôi triền rêu níu trăng về
ngày bão lũ ôm nỗi buồn lộng lẫy
gầm từng cơn mớ phủ chân đê
đất nuốt giận từng trận đau thắt ngực
có vỡ oà như mưa?
em có đến rồi như hư như thực
như vầng trăng xanh tái mớ mây mù
gọi cho đắng từng đêm xa ngai ngái
đêm trầm nhang đêm cóng lạnh hư vô
thanh âm đá buốt ngực trầm nhức nhối
tiếng ai reo giữa nước bạc mơ hồ

PHƯƠNG UY

NGÀY VĂN HỌC KHAI CHIẾN VỚI VĂN

tranhoaithu

Mặt trận xảy ra tại Saigon vào mùa hè năm 1966. Văn Học đứng đầu là nhà văn Duyên Anh (DA), đặt bản doanh là mục Chân Trời Văn Học. Tạp chí Văn với chủ soái là Mõ Làng Văn, đặt tổng hành dinh chỉ huy “Quét Sân Đình”.

Bản doanh của Mõ Làng Văn: Quét Sân Đình

Bản địa của Duyên Anh: Chân Trời Văn Học

Khi Duyên Anh làm sập tiệm “Quét Sân Đình” của Văn

“Mõ Làng Văn” là một bút danh xuất hiện trên tạp chí Văn trước năm 1975 từng gây sóng gió trên văn đàn, từ năm 1964 đến giữa năm 1966 (Văn số 8 đến Văn số 57) qua mục lấy tên là “Quét Sân Đình”. Đây là một bút hiệu “tập thể”. Người viết mượn tên, đội lốt. Và chỉ có một người biết. Dĩ nhiên là Thư k‎ý tòa soạn Trần Phong Giao.

Một ví dụ điển hình là ngay cả chuyện các nhà văn nổi tiếng bấy giờ tom góp các bài viết cũ rồi xuất bản thành tập bằng cách đánh số I, II, III như Võ Phiến với Tạp bút I, II…, Nguyễn văn Trung với Ca tụng thân xác I, II hay Thế Uyên với Thái Độ I, II… cũng bị Mõ Làng Văn xem là rác rưới để quét. Mõ ta cho rằng các vị ấy noi gương bắt chước theo hai ông J.P. Sartre, André Gide khi hai tác giả ngoại quốc này tom góp những bài viết của họ để xuất bản và đánh số I, II, III !. (Văn số 51 ngày 1-2-1966).

Trong số các nhà văn bị làm rác bởi Mõ Làng Văn, có Duyên Anh (DA). Ông bị chổi của thằng Mõ quét sau khi bài viết “Một tác phong văn nghệ” của ông khen ngợi dịch giả Vân Mồng xuất hiện trên Văn Học số 56 ngày 15-3-1966. (Toàn bài “Một tác phong văn nghệ” được chúng tôi đánh máy và đăng ở phần phụ lục)
Ông DA ấm ức lắm. Ông muốn biết ai là tác giả bài viết này. Ông không thể trả đũa một bút hiệu mà ông gọi là “bút hiệu tập thể”. Ông là vua chửi, nhưng nếu chửi mà chẳng có đối tượng thì chửi làm gì. Bởi vậy ông công khai xin hai người mà ông nghi là Nguyễn Minh Hoàng và Trần Phong Giao (TPG) trên một bài báo xuất hiện ở Văn Học số 57 ngày 1-5-1966:

“Xin hai anh một điều có chê nhau, đừng ký Mõ Làng Văn nữa.”
(Toàn bài chúng tôi đánh máy đăng lại ở phần phụ đính)

Điều này chứng tỏ về cái chiêu quét của Văn là độc địa như “Ao Thả Vịt” với Kha Trấn Ác trên báo Sống của Chu Tử. Muốn quét ai hoặc muốn “làm rác” ai thì cứ lấy thằng Mõ Làng Văn để mà đội lốt. Ai chửi lại thì có thằng Mõ nhận thế giùm. Khỏe ru. Khỏi mất lòng ai. Mà cũng chẳng ai biết mình là tác giả. Bởi nó là bút hiệu tập thể. Chả trách Duyên Anh phải “Xin hai anh một điều có chê nhau, đừng ký Mõ Làng Văn nữa.”
Nhưng lời xin (mang theo dọa dẫm) của nhà văn Duyên Anh không được Văn thỏa mãn. Ngay sau bài viết “Một tác phong văn nghệ” của ông đăng trên Văn Học được phổ biến thì trên Văn số 55, trên mục Quét Sân Đình đăng bài trả đũa nhan đề “Nhân một bài báo của nhà văn Duyên Anh” tác giả vẫn k‎ý tên là Mõ Làng Tân Nhuế.
Lập tức, Duyên Anh phản công. Trên Văn Học số 58, ông viết bài “Trả lời ông Nguyễn Minh Hoàng” mà ông nói là tác giả bài viết vì ông nghe chủ nhiệm tạp chí Văn Học tiết lộ:

“Tôi có thói quen, hễ cần viết hay nói một chuyện đứng đắn thuộc phạm vi văn nghệ với một người nào mà nhắc đích danh người đó, không bao giờ tôi dùng những bút hiệu khác ngoài bút hiệu Duyên Anh. Tôi cũng có thói quen, không thích nói chuyện với một người “nổi tiếng” như ông Nguyễn Minh Hoàng mà lại phải nói với bút hiệu “tập thể” của ông Mõ Làng Tân Nhuế. Sở dĩ, tôi biết người bảo tôi sai lầm trong bài báo của tôi đăng trong Văn Học số 56, là ông Nguyễn Minh Hoàng vì anh chủ nhiệm Văn Học tiết lộ rằng chính ông Trần Phong Giao nói nhỏ với anh mới đây tại quán Chùa.”
(Văn học số 58 ngày 15-5-66 – Toàn bài được đăng lại ở phần Phụ lục)

Để hỗ trợ cho bài phản công trên, ông cho đăng thêm một bản tin ngắn nhan đề “Phỏng vấn Dương Kiền” ngay dưới bài viết. Xin lưu ý‎ Dương Kiền nguyên là chủ bút của tạp chí Văn Học (1962-1963):

“Tạp chí Văn số 56, ở mục “Quét Sân Đình”, ông Mõ Làng Tân Nhuế viết bài “Nhân một bài báo của nhà văn Duyên Anh”, đã khéo léo “kều” Dương Kiền vào cuộc và mỉa mai bằng một giọng rất cay cú: “khi dịch văn, dịch cuốn l’Etranger của Albert Camus (Ngày Nay xuất bản, Saigon, 1965) thì ta thấy ông (Dương Kiền) thất bại hoàn toàn. Không cần đi sâu vào chi tiết, cứ nguyên cái việc ông Dương Kiền đem biến thiên truyện kể (récit) của Camus, bằng cách chặt câu xuống hàng lung tung, cũng đủ để cho, giá như Albert Camus có đội được mồ mà sống lại và giá như ông ta đọc được bản Việt dịch, cũng không tài nào nhận ra tác phẩm của ông nữa rồi!”
Kẻ ghi mục này có hỏi Dương Kiền:
– Cậu có trách tôi không? Họ không “đánh” tôi mà lại “cắn” cậu đau quá!
Dương Kiền không thèm trả lời nhưng Bùi Ngọc Dung nói:
– Ghen ăn đấy mà. Cùng dịch một cuốn, chậm chân mãi không vô đâm ra cay cú! Lại còn xúi ông Khai Trí đem bản dịch của Dương Kiền đốt đi để xuất bản bản dịch của mình.
Bèn trố mắt:
– Ai đó?
Đáp gọn:
– Đầy tớ của ông Khai Trí, chứ ai!
(Văn Học số 58 ngày 15-5-1966)

Sau khi bài phản công của Duyên Anh được phổ biến trên Văn học số 58, thì trên Văn cùng một số tức 58, lập tức có bài trả lời của ông Trần Phong Giao. Ông phủ nhận việc Duyên Anh bảo Trần Phong Giao gặp Phan Kim Thịnh ở quán Cái Chùa:

“Trước hết, đã hàng tháng nay tôi không ra quán Cái Chùa. Cũng đã một thời gian lâu rồi tôi không được gặp ông Phan Kim Thịnh. Phần khác, giá có gặp ông Thịnh, tôi cũng không có đủ thân tình để “nói nhỏ với ông về một điều mà tôi (cũng như ông Thịnh) bắt buộc phải giữ kín như một “bí mật thuộc về nghề nghiệp””.
Thứ đến là ông nói rõ thêm chuyện ông Bùi Ngọc Dung cáo buộc TPG là “ghen ăn” mà ông cho là DA “bịa đặt”:

“Khi cho tôi mượn Văn-Học số 58 (lúc tôi viết bài này chiều 10-5, báo Văn Học chưa có bán ngoài sạp) một anh bạn có cho biết là mới đây trong một bữa cơm thân mật tại nhà anh Phan-Kim-Thịnh anh Bùi Ngọc Dung đã phàn nàn (trước mặt anh em) là anh không hề nói những điều mà ông Duyên-Anh đã viết trong bài “Phỏng vấn Dương Kiền” … Tôi không có lý do gì để không tin lời anh bạn nọ. Vì vậy, tôi đành coi bài của ông Duyên-Anh như một sự bịa đặt.”
(Xin dọc ở phần phụ đính đăng toàn bài của Trần Phong Giao)

Tháng 5 dĩ nhiên là tháng nóng ở Saigon, nhưng chắc là không nóng sốt bằng cuộc chiến tranh tay đôi này.

Đến nỗi, nhà thơ trào lộng Tú Kếu đã làm bài thơ như sau:

TÚ KẾU
(Mục “chém treo ngành”)

ĐÙA HAI THẰNG MÕ

(Duyên Anh trong bài “ tác phong văn nghệ” ở Văn Học “kê” các dịch giả xứ ta. Thằng Mõ báo Văn ức sừng bèn “quét” lại trong mục “quét sân đình” kỳ trước…)

Một thằng mõ văn, thằng mõ báo (*)
Hai thằng cùng mõ, cùng nói láo,
Dài hơi, cả tiếng tưởng hay ho
Cãi nhau om sòm, điếc ráy lão!

Đôi co văn tàu, với văn ta
Lải nhải cứ như bọn đàn bà!
Văn dịch anh em mang mổ xẻ
Vạch vòi y hệt lúc chơi hоа!

Thằng Văn bới móc thằng Văn-Học
Hàng xóm mất ngủ vì bọn nhóc!
Bọn nhóc thừa giấy đem vẽ voi
Vẽ luôn giun dế, và nhái cóc!

“Tác phong văn nghệ”, khéo bày trò
Giống mõ nhà bay vốn miệng to
Danh giá bao nhiêu mà lớn họng?
Một mình một chiếu hẳn chưa no?

Cốc… cốc… ơ… ơ… giữ nghiệp nhà
Thôi đừng lí lắc kiểu bùn ma!
Nhắn hai thằng mõ: không siêng học
Làng tống ra ngoài chết bỏ cha!

“Vän nghệ văn ngỗng” nước non này
Ra quái gì đâu hở chúng bay!
Chọc cứt ngửi hoài sao chẳng chán
Riêng ông lợm giọng bấy lâu nay!

Mặc cha đứa dịch, đứa sáng tác
Đứa vồ, đứa thuổng, đứa ăn cắp!
Làng ông nó bẩn đã lâu rồi
Cần gì lũ mõ phải lắp bắp!
______
(*) Mõ Báo: bút hiệu của Duyên Anh ký trên Tin Báo trước đây.
_____

(Văn số 57)

Kết quả là Văn đại bại. Kể từ số 58, mục thường xuyên “Quét Sân Đình” bị dẹp bỏ sau hai năm tung hoành một mình một cõi. Bút hiệu Mõ Làng Văn không còn thấy xuất hiện, mãi đến một năm rưỡi sau, mới thấy tái hiện trên số 80, nhưng thay vì “Quét Sân Đình” nay sửa lại là “Chuyện Giải Buồn”. Người bị lên bàn mổ để giải buồn lần này là Vân Mồng (bút hiệu của Bùi Giáng) với bản dịch “Khung cửa hẹp” của tác giả André Gide mà trước đó, Duyên Anh ca ngợi hết mình trong bài “Một tác phong văn nghệ”.

Một âm mưu thâm độc ???

Bài viết của Duyên Anh đã là một cú “knock-out” vào Văn khiến TPG phải tá hỏa! Bằng chứng là TPG khẩn cấp viết bài trần tình. Khẩn cấp đến độ “lúc tôi viết bài này chiều 10-5, báo Văn Học chưa có bán ngoài sạp” (Văn số 58). Sau đó, là gỡ cái bảng “Quét Sân Đình” kia xuống, để từ đấy cái đình làng kia phải đóng cửa vĩnh viễn!

Chuyện này được chính Mõ Làng Văn thú nhận trên Văn số 80, sau một năm rưỡi kể từ khi cái bảng “Quét Sân Đình ” bị gỡ xuống:

… Đã từ lâu Mõ tôi vắng mặt trên Văn. Bà con cô bác có nhiều người lo lắng, thăm hỏi. Nhờ Trời, Mõ tôi vẫn mạnh: vẫn cơm hai bữa, cà phê hai cữ, thuốc lào thuốc lá hút lai rai. Sự vắng mặt của Mõ tôi, nói có tòa soạn Văn làm chứng, hoàn toàn ngoài ý muốn.
Số là, đã lâu rồi, trong một phiên họp thượng đỉnh, trước toàn ban biên tập và các cộng tác viên của Văn, thư ký tòa soạn có lên tiếng kêu rên là các bài do Mõ tôi viết đã gây cho hắn ta quá nhiều sự hiểu lầm oan ức, và do đó, quá nhiều phiền phức lôi thôi (…) Nghe hắn nói xong, anh em biểu quyết và truyền lệnh Mõ tôi phải treo chổi.

(Văn số 80 ngày 15-4-1967)

Bạn thấy cái bài viết của Duyên Anh là thâm độc ghê gớm chưa? Chỉ việc phao tin ông Khai Trí xúi, và bảo Trần Phong Giao tỉ tê với Phan Kim Thịnh tại Quán Chùa về tác giả bài viết là Nguyễn Minh Hoàng là xong ngay. Nó tạo nên sự ly gián trong nội bộ của Văn hay của nhóm Mõ Làng Văn. Nó cũng gây phiền phức lôi thôi trong việc làm ăn với ông Khai Trí…
Lẽ ra, với thẩm quyền của một chủ nhiệm kiêm chủ bút, ông Phan Kim Thịnh phải ngưng không cho đăng hay có đôi lời đính chánh để tránh ngộ nhận nhưng ông ta vẫn để cho bài có DA xuất hiện. Nếu quả thật như vậy, thì đó là sự “đồng lõa ngầm” còn gì danh dự của một chủ nhiệm, chủ bút và tạp chí của mình?
Nhưng mà, đâu cần danh dự, miễn là mục đích đạt là được. Bài học lịch sử cuộc chiến miền nam rành rành ra đó.

Vậy Mõ Làng Văn là ai?

Trên Văn số 80, ở mục mới là “Chuyện Giải Sầu”, Mõ Làng Văn cho biết thư ký Tòa Soạn Văn kêu rên các bài do Mõ Làng Văn viết đã gây cho ông “nhiều sự hiểu lầm oan ức”, “phiền phức lôi thôi”. Vậy thì, ngoài Trần Phong Giao ra, còn có ai đội lốt Mõ Làng Văn khiến TPG lại kêu rên như vậy?

Trước 1975, chúng ta không biết. Bởi lẽ ông TPG giấu, bảo là “bắt buộc phải giữ kín” vì nó là “bí mật của nghề nghiệp”. (chữ đậm là lời của TPG)

Nhưng sau 1975, chúng ta mới vỡ lẽ, do việc tự khai của chính người trong cuộc. Đó là dịch giả Trần Thiện Đạo.

Lời tự khai này được tìm thấy trong phần tiểu sử của TTĐ ở trên Mạng.
Ví dụ trong bài “Nói chuyện với dịch giả Trần Thiện Đạo” của Thụy Khuê, tác giả có viết vài dòng về tiểu sử TTĐ như sau:

Trần Thiện Ðạo (còn có bút hiệu khác là Trần Mai Lan, Mõ Làng Văn – tên chung với nhiều nhà văn khác) là một trong những cây bút chính của Tạp chí Văn.

Đây là một chuyện lạ trong văn học. Bởi vì “ job” chửi, bươi, quét có gì thích thú đâu để phải hãnh diện mà khoe chứ ?

Rõ ràng, ở lĩnh vực nào của văn học, ông TTĐ cũng là số một, không ai có thể theo hay sánh kịp.
Từ việc giấu tông tích mượn lốt đội mũ Mõ Làng Văn đến việc nghĩa tử không là nghĩa tận!
Tuy nhiên, trong cuộc nói chuyện với một thân hữu đặc phái viên TQBT tại SG vào cuối tháng 9-2016 vừa qua, thì dịch giả Nguyễn Minh Hoàng – người bị DA tố đích danh là tác giả bài viết – khẳng định ông Trần Thiện Đạo không phải là thành viên. của Mõ Làng Văn ( 1)


● Khi Mõ Làng Văn tái xuất giang hồ trả thù lại Duyên Anh

Mãi đến một năm rưỡi sau từ ngày “Quét Đình Làng” treo chổi, Mõ Làng Văn vẫn còn ấm ức với kẻ đã đánh mình nên thằng Mõ thẳng tay phê bình Vân Mồng vì Duyên Anh ca tụng hết lời Vân Mồng. Lần này “Quét Đình Làng” được thay bằng “Chuyện Giải Buồn”. Bài phê bình Vân Mồng (một bút hiệu của Bùi Giáng) được đăng trên Văn số 80 :

Hai chữ “nhứt là” đã giúp tôi biết ngay tác giả bài viết ký tên Mõ Làng Văn này không thể là Trần Phong Giao (TPG) được. Bởi lẽ TPG là người Bắc. Mà người Bắc chỉ nói “nhất là” chứ không “nhứt là” . Nói có sách mách có chứng. Đây là một đoạn dịch của Trần Phong Giao từ vở kịch Les justes của Albert Camus, ông dùng “nhất là” để dịch:

KALIAYEV, vẻ nhớn nhác – Tôi không thể đoán trước… Mấy đứa nhỏ, nhất là mấy đứa nhỏ…

(TPG: Những người trung thực dịch từ Les justes, abert camus, kịch, Giao Điểm 1965 )

Nay ông Trần Thiện Đạo tự khai ông còn sử dụng bút hiệu Mõ Làng Văn. Mà ông TTĐ là dân Nam Kỳ rặt! Vậy thì ai trồng khoai đất này?

Chỉ tội cho ông Trần Phong Giao. Ai đó làm nhưng ông nhận tội. Ai đó đánh nhưng ông đưa lưng ra để đỡ giùm. Hết Duyên Anh dùng Văn Học bắt ông phải khẩn cấp viết bài trần tình , rồi đến Nguyên Sa dùng báo Sống của Chu Tử ký tên Hư Trúc (2) đánh liên tiếp cả tháng , hay hai bà Nhã Ca, Túy Hồng mượn báo Khởi Hành (3) làm dữ với ông thề sẽ không bao giờ viết cho Văn, bắt ông phải viết hết trần tình này đến trần tình khác.
Và có lẽ cũng tội cho ông Nguyễn Minh Hoàng nữa. Không biết ông NMH có lấy bút hiệu chung này không, sao lại được ông Duyên Anh chiếu cố, chứ tôi chưa hề đọc một bài nào của NMH chê bai, hay phê bình ai . Ngay cả tiểu sử của ông NMH cũng không thấy, thật khó mà biết gốc gác của ông. Từ đó tôi nghĩ ông NMH thích sống thầm lặng, không muốn mắc vào những chuyện đánh đấm hay phê bình chỉ trích nhau. (4)

Chiến tranh nóng ở ngoài vòng đai. Chiến tranh lạnh ở Saigon Giữa cuộc nội chiến ác liệt như vậy mà ông Trần Phong Giao vẫn gồng mình để lèo lái tạp chí Văn khiến nó trở thành một tạp chí văn học có tầm vóc lớn của miền Nam… Thương ông, phục ông là ở chỗ đó.

Có phải vậy không ?

TRẦN HOÀI THƯ
____
(1) Sau khi báo “lên khuôn”, giờ chót chúng tôi nhận được bài nói chuyện với dịch giả Nguyễn Minh Hoàng của Ngọc Bút vào ngày 26-9-2016 tại SG, theo đó, Mõ Làng Văn chỉ có hai người là Trần Phong Giao và Nguyễn Minh Hoàng, không có Trần Thiện Đạo. Và dịch giả NMH khẳng định ông không viết bài mà nhà văn DA nghi là tác giả. Mời đọc bài “Chuyện Muôn Năm Cũ” của Ngọc Bút trong phần Sống và Viết. (xin đọc TQBT số 72 tháng 10-2016)
(2) Trần Phong Giao: “Bông hồng hay bông cứt lợn” Văn số 92 ngày 15-10-67
(3) Xin đọc TQBT số 61 chủ đề hiện tượng nhà văn nữ.
(4) xin xem chú thích (1)

(nguồn: tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 72 tháng 10-2016)