NHỜ GIÓ QUÊ NHÀ KHÓC TIỄN ĐƯA

linhphuong

Mai xa . Ừ ! Đành thôi em nhé !
Khúc ly tan bạc trắng mái đầu
Nghĩa gì đâu trái tim rướm máu
Đời hắt hiu như buổi chợ tàn

Bao nhiêu năm rượu sầu chưa cạn
Thiếu tay người cầm rót dùm ta
Uống trăm ly nhìn quanh thiên hạ
Mới biết mềm môi lúc thất tình

Mai xa . Nhớ nhé ! Đừng bịn rịn
Dẫu có đau lòng thắt ruột gan
Chiều sẽ phai rồi khi tắt nắng
Buồn cũng theo mưa thổi tạt về

Mai xa . Ừ ! Thì thôi cứ kể
Kẻ đầu sông – kẻ cuối sông – chờ
Ngày sau khép mắt nằm dưới mộ
Nhờ gió quê nhà khóc tiễn đưa

LINH PHƯƠNG

PHỐ

authiphucan

đưa nhau về phố cũ
đèn bên đường hắt hiu
bóng bên đường nghiêng đổ
tựa nhau vào cô liêu

trăng một miền soi thấu
rụt rè sương bên hiên
chút tình ta nghiến ngấu
trên môi người rất quen

dắt tình qua phố lạ
dường như đêm nín thinh
lúc lòng ta buồn quá
người thiên cổ vòng quanh

lợp tranh che cổ mộ
dựa bờ vai thiên thu
khói hương về hiển lộ
ta biết tình hoang vu

dẫm lên hè phố ấy
từng vuông gạch mỉm cười
bước qua ngày tháng ấy
người đâu hỡi ơi người

ÂU THỊ PHỤC AN

người em xóm học

kiettan

Hỡi người em xóm học
để sương thấm bờ đêm
đường anh đi
tràn ngập lệ buồn em
(Cung Trầm Tưởng)

Diane quấn quít. Tôi càng lúc càng khóc lớn. Mọi người trong quán quay lại ngó nhìn, ái ngại. Quán có tên đặc biệt là “Mì Dơ” nằm ở ga Lyon trong Paris đèn cũ. Ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn khóc, nói chi cũng muộn màng… Diane đứng dậy rời khỏi ghế dài đang ngồi chung với Lộc chạy sang ngồi cạnh nắm vai tôi lắc lắc:
– Anh làm sao vậy?
Tôi tiếp tục khóc ngất. Diane rơm rớm nước mắt, đưa tôi cái khăn giấy ở bàn ăn, tôi lắc đầu. Diane đưa khăn chậm nước mắt cho tôi.
– Anh làm sao vậy
Diane tiếp tục hỏi. Tôi nghẹn ngào đáp lời nàng giữa hai tiếng nấc:
– Tôi cô đơn… Tôi không hạnh phúc… Tôi cô đơn… Tôi muốn chết…
Diane ôm đầu tôi đặt lên vai nàng, tay vuốt tóc tôi:
– Anh nín đi, không thì tôi cũng khóc theo bây giờ.
Lộc xen vào:
– Thôi cứ để thây kệ cho nó khóc một hồi cho đã nư. Nó thèm khóc lâu lắm rồi mới khóc được như vậy.
Quả nhiên tôi tiếp tục tỉ tê và lải nhải một chập rồi cơn buồn khóc từ từ dịu xuống. Thỉnh thoảng tôi còn hít hít hơi lên tủi thân như đứa nhỏ sau trận đòn. Ông chủ quán người Tàu mang ra chai Mai Quế Lộ rót vào cái tách nhỏ đưa cho tôi, xuề xòa thông cảm:
-Tuổi chẻ nhiều lúc lổi cơn như dậy ló. Thôi mời cậu uống ly dượu lày dồi xẽ quên hết. Khóc lược là sướng lắm, ngộ piết mà!…
Tôi ực ly rượu cay xè mà hậu vị còn dịu ngọt trên lưỡi. Tôi uống cạn thêm ly nữa nhưng cô đơn vẫn còn đầy ắp trong tim. Tôi sợ mình lại sắp chảy nước mắt lai láng.

Có hai điều tôi sợ nhất trên đời là bệnh tật và cô đơn. Mỗi lần đến một thành phố lạ nào việc đầu tiên của tôi là đi tìm đàn bà – bất cứ người đàn bà nào cũng được. Không phải để giải quyết sinh lý. Tôi cần có sự hiện diện, mà sự hiện diện đó phải là của một người đàn bà. Không có nàng, tôi thấy đời sống trống rỗng, mênh mông, hoang vu dễ sợ. Tưởng có thể ngã ra chết được. Tôi ghiền đàn bà như ghiền ma túy. Tôi sẽ chết vì ma túy, không có gì ngạc nhiên. Trái ngược lại với bọn con trai vì yêu đương mà xao lãng đèn sách, khi có con gái bên cạnh tôi học càng được. Tôi vừa đánh đàn vừa học bài, thỉnh thoảng hôn lên má nàng một cái, vậy mà học tiến bộ ngó thấy. Không có nàng, tôi lăng xăng tìm kiếm, không học hành gì được hết. Tìm không ra, tôi tưởng phát khùng tới nơi.

Tôi đến Paris với tâm trạng khùng khùng đó vào đầu tháng Sáu, trời sắp đi vào mùa hè. Năm du học đầu tiên ở Canada, tôi sống như thầy tu, trong nhà trọ dành cho sinh viên đực rựa ở ngoại ô, tôi cũng có đi chơi với mấy cô nhưng chẳng đến đâu. Các cô tới tuổi ân ái thì chê tôi quá “lỏi”, với các cô nhỏ hơn thì tôi đụng nhằm cùng một vấn đề, nhưng đặt ngược lại. Tôi với không tới trời, chân không đạp đất, lửng lơ trong tù ngục dục tình. Tôi thèm nhớ thân thể Tuyết, người tình quán nước ở quê nhà. Tôi tương tư Ánh, người yêu học trò ở tỉnh lẻ. Mùa đông Québec thật khắc nghiệt, tôi lạnh cóng hai bàn chân, băng giá trong lòng, thèm yêu như thèm nắng nhiệt đới. Tôi viết đơn xin thôi học. Tôi bất cần tương lai, tôi chỉ cần đàn bà, và cần ngay bây giờ.

Lão giám đốc chương trình du học đánh máy cho tôi một lá thơ dài để an ủi. Các vị lãnh đạo tinh thần xúm lại nâng đỡ tinh thần tôi. Bạn bè dắt tôi đi chơi bời. Nhưng không có gì thay thế được sự hiện diện của người đàn bà trong đời tôi. Tôi lại nhớ ma túy. Nỗi nhớ nằm trong mạch máu và cứ tuần hoàn trở lại tim. Tôi ghiền. Ghiền quá nặng. Sau khi tôi xuất ngoại, anh tôi cũng được học bổng qua Paris học triết ở Sorbonne. Mùa hè, tôi được Công ty điện lực Pháp chấp thuận hồ sơ tu nghiệp có trợ cấp. Tôi được dịp sang thăm ông anh thân mến. Khi đặt chân vào Viện Institut Franco-Vietnamien ở số 269 đường Saint Jacques, tôi xúng xính trong cái áo mưa xám dài chấm gót. Lộc ngó tôi cười ngất, hắn bảo tôi giống “ông cha”. Khi tôi xổ tiếng Tây, Lộc lại cười ngạo vì cái ắc-xăng Québecois cổ lỗ sĩ của tôi. Còn tôi, ngược lại tôi thấy hắn mập ra và mặt thì phèn phẹt như Chệt. Tuy nhiên Lộc đã làm tròn bổn phận của một người anh thương em và một hướng dẫn viên tận tụy với thiên chức. Lộc dắt tôi đi coi tháp Eiffel (chụp hình), đến Notre Dame (chụp hình), rồi ghé thăm các em ở Châtelet (không có chụp hình). Vốn chưa quen cái màn bán người từng khúc, trả tiền tới đâu cho coi tới đó nên tôi chẳng thấy một chút gì hào hứng. Đã vậy em còn bắt tôi nằm ngửa, vì em sợ hư mái tóc mới đi tiệm gội chải và xịt keo.

Tuần lễ sau, nhân dịp hết năm học, Viện có tổ chức bùm. Tây có, Mít có, đầm có, rần rần. Hồi đó Mít nhảy đẹp hết xẩy, nổi tiếng ở Xóm Học (Quartier Latin). Đặc biệt có một cô đầm vóc người nhỏ nhắn thon gọn, mặt mũi xinh xắn, nhảy với Mít ăn khớp như đã có tập dượt với nhau từ trước. Cô ta nhảy với một anh đoạt giải “bi-bốp”, nhảy với một anh khác đoạt giải “cha-cha”. Cô ta quay hai vòng, đứng lại thật gọn gàng rồi quay một vòng ngược lại, chiếc váy màu xanh lục thẫm xòe ra thấy mê luôn. Dù đoạt giải nhưng không thấy cô ta nhoẻn miệng cười, chỉ nhếch mép lên một chút tượng trưng. Tài nghệ của tôi xoàng xỉnh nên đêm đó phần lớn tôi chỉ ngồi coi. Anh tôi thì tánh tình xuề xòa nên cuộc vui nào cũng nhảy xổ vào tham dự và ôm cô đầm nọ nhảy ra rít. Quá nửa đêm, tôi bị chứng bệnh cô đơn trở về hành hạ nên làm một loạt hết mấy chai bia rồi leo lên gác chui vào phòng đắp mền say ngủ.

Buổi sáng tôi thức dậy nghe có tiếng chim bồ câu đập cánh ngoài sân và nắng lọt vào giường ngủ. Rồi từ nhạc viện bên kia sân vọng sang tiếng dương cầm thánh thót, trong veo. Tôi nằm nướng tận hưởng hạnh phúc tình cờ đó. Mọi bận có anh tôi ngủ chung giường. Đêm qua Lộc đã đi hoang đâu mất. Đến trưa cũng không thấy về. Tôi thua buồn lấy giấy viết một trang dày đặc nói về cô đơn, đút vào túi áo. Buổi chiều tôi đang ngồi ở tiệm cà phê thì Lộc từ đâu mở cửa bước vào. Lộc trả tiền, lôi tôi ra khỏi quán để rồi lại đẩy tôi vào một cái quán khác bên kia đường Saint Jacques. Nàng đã ngồi sẵn đó, vẫn chiếc váy xếp màu lục đậm và chiếc sơ-mi màu tím nhạt.
– Đây Diane, đây là Kiệt, em tôi từ Canada qua chơi hè này.
Lộc giới thiệu, tôi bắt tay nàng, bàn tay nàng nhỏ nhắn, vừa vặn lọt trong lòng bàn tay tôi. Cũng nụ cười tượng trưng. Tóc nàng màu nâu ửng vàng óng ánh, một lọn tóc la đà trên trán, hai bên xòe ra úp lên má, trên tóc một băng vải chận giữ cũng màu tím nhạt. Mi nàng kẻ mực đen, cuối mày đường vẽ xếch lên thách thức. Nàng không thoa son, môi hồng thắm tự nhiên. Đường nét trên mặt nàng thanh tú, gẫy gọn. Một nốt ruồi đen chấm dưới mắt trái như một nốt nhạc buồn. Tôi nhìn nàng, linh cảm đời mình đang thay đổi. Tôi thẫn thờ ngồi xuống như thỏi sắt ngã xuống nam châm. Nàng gợi chuyện:
– Sao hồi hôm anh không mời tôi nhảy? Thấy anh cứ ngồi lì trên bực cửa sổ.
– Tôi có thói quen khi nhảy giở một lượt hai cẳng sợ té nên không dám mời ai.
Nàng che miệng cười, đuôi mắt cong vút:
– Tôi thấy anh nhảy “cha-cha” với cô gì mập mập coi cũng được lắm chớ.
– Vậy hả? Coi được sao mà Diane vẫn đoạt giải như thường, còn tôi đeo cửa sổ làm khán giả.
Lộc đỡ lời:
– Ôi thằng này nhà quê lắm em ơi! Nó nói tiếng Tây em hiểu được là khá lắm rồi. Mày uống cái gì không? Uống đi rồi tao dẫn xuống ga Lyon ăn mì dơ. Chắc ở Québec mày thèm mì xào kiểu Chệt?

Thấy tôi buồn, Lộc rót rượu cho tôi uống liên tiếp. Mọi người coi chuyện tôi khóc thét vừa qua như một tai nạn dọc đường. Có Diane ngồi bên cạnh, tôi thấy bớt trống trải và trong lòng cũng được ấm áp. Diane trở nên thân mật hơn, cười nói tự nhiên, không che miệng, tôi để ý nàng có cái răng gãy ở cuối đường môi bên phải. Diane gợi tôi hình ảnh Fantine trong Les Misérables. Tôi không khóc nữa, nhưng cũng dần dần say khướt. Lộc và Diane kè tôi lên taxi chở về khách sạn gần Port Royal. Bước lên cầu thang, tôi bắt đầu nôn mửa, tên chủ càu nhàu, Lộc dúi cho hắn tờ 10 quan, hắn nín. Lên cầu thang, tôi lại nôn mửa. Lại càu nhàu, lại 10 quan, lại hết càu nhàu và có lời cảm ơn.

Lộc về phòng mình. Diane ở lại chăm sóc tôi. Nàng dìu tôi tới chậu rửa mặt để tôi nôn mửa cho hết cơn. Miệng tôi chua đắng. Nàng hứng nước vào cái ly mủ cho tôi súc miệng. Nàng cởi áo cho tôi, đặt nằm lên giường, lấy khăn ướt đắp lên trán, hơi thở ấm của nàng tỏa ra trên mặt, thoang thoảng có mùi phấn thơm dịu ngọt. Chợt vói tay ôm nàng ghì xuống ngực mình cứng ngắc. Tôi lại lẩm bẩm:
– Tôi cô đơn… Tôi không hạnh phúc… Đừng bỏ tôi một mình… Tôi sợ cô đơn! Sợ lắm!…
Diane nằm im nhưng cũng thì thầm:
– Không được đâu anh.
Nước mắt tôi lại trào ra trên má. Như đứa nhỏ bị hắt hủi. Diane nói:
– Tôi đi với Lộc, đâu thể ở lại với anh được. Thôi đừng khóc nữa, tội lắm mà, anh!
Diane gỡ tay tôi đứng dậy, bước ra khỏi buồng, tắt đèn và khép nhẹ cửa lại. Nàng đã về với anh tôi. Nằm lẻ loi trong bóng tối, tôi cần đàn bà biết chừng nào! Tôi không nhận định tình cảm mình rõ rệt. Chỉ thấy cô đơn và thèm muốn. Cơn say chợt ùa tới lôi cuốn tôi, chìm sâu vào cơn mê đen hút, lãng quên, vực thẳm.

Tôi giật mình thức giấc, bàng hoàng, chấp chới. Bên ngoài cửa sổ trời còn tối đen mù mịt. Đầu nhức nhối. Vì rượu đêm qua, có lẽ. Nhiều lúc đang đi ngoài phố bỗng bị cô đơn chụp lấy, đầu tôi tưởng nứt rạn, tim đập dồn dập, trước mắt lan dần những vòng đen, tôi muốn ngã quị xỉu luôn tại chỗ. Cô đơn như một ung thư đục khoét cơ thể đau nhức. Cô đơn là một cảm giác trừu tượng, nhưng sự đau nhức rất là cụ thể. Tôi muốn có một cây đinh thật dài và thật lớn đóng phủng qua màng tang để thủ tiêu nó, thủ tiêu tôi. Một ngày nào đó chắc tôi phải chấp nhận chung sống với cô đơn, bằng không nó sẽ giết tôi chết mất. Tôi rửa mặt, súc miệng qua loa và uống thật nhiều nước ở vòi cho đả cơn khát. Với lấy chiếc áo mà Diane đã cẩn thận máng trên lưng ghế mặc trở lại vào người. Tìm được trong hộc tủ ở bàn một cây viết và mẩu giấy con, tôi viết nguệch ngoạc mấy chữ: “Tôi đi đây. Tôi sẽ leo lên tháp Eiffel để nhìn Paris cho rõ hơn”. Tôi bước ra khỏi phòng đút mẫu giấy vào buồng của Diane và Lộc. Xung quanh vắng lặng. Tôi xỏ giày vào chân, xuống cầu thang rồi đẩy cửa bước ra đường.

Không khí ban sáng lùa vào phổi mát mẻ. Xe cộ bắt đầu chuyển động trên đường phố như những con vật đen đúa, lầm lì, bí mật, xì xầm. Paris đang thức giấc. Nhưng Paris có khi nào ngủ bao giờ? Tôi không có một hướng đi nào rõ rệt. Không hẳn tôi muốn đi tới tháp Eiffel (để làm gì?). Dù có muốn, tôi cũng không biết đường nào để tới. Tôi di chuyển trong Paris bằng xe điện ngầm. Trồi lên mặt đất tôi lạc hướng. Tôi đổi lề đường mấy lần (để làm gì?). Tôi quẹo, rồi tôi lại quẹo nữa.

Mụt ung thư chợt cựa quậy. Tôi sợ hãi thảng thốt, sắp ngã xỉu. Tôi muốn chạy về khách sạn, đập cửa buồng và nắm lấy tay Diane năn nỉ (để làm gì?). Trong thành phố này mọi người chết hết rồi sao? Thân thể tôi rạn nứt. Bên lề đường, một hiệu cà phê thắp đèn sáng, vừa mở cửa. Tôi là người khách đầu tiên. Gã barman nhìn tôi lo ngại:
– Ông làm sao vậy? Sao xanh mướt?
Tôi khoát tay tỏ ý không sao. Rồi tôi gọi một ly nước suối lớn, ngồi uống lặng lẽ ở quầy. Rời quán, tôi lang thang vào một vườn cây (tên gì? ở đâu?). Tôi ngồi co ro trên băng gỗ chờ sáng.

Hình như tôi chập chờn được một giấc khá lâu. Nghe tiếng chim sẻ kêu ríu rít, tôi tỉnh ra, mở mắt. Mặt trời xuyên qua cành lá lấp lánh. Không khí ấm dần. Tôi vươn vai ngáp dài và rời khỏi vườn cây. Lại đi quanh co rồi lại lọt vào một con phố nhộn nhịp, đại lộ Saint Germain-des-Prés. Mọi người xuôi ngược rần rần, tất tả. Nhưng tôi có cảm giác đang lặng trôi lờ đờ trên một dòng nước câm nín, lạnh lẽo, và những bộ mặt lao xao quanh tôi là những bộ mặt chết trôi, khép kín, vô cảm giác. Và tôi cũng đang chết trôi. Paris là thành phố thơ mộng? Tôi chỉ thấy những khối nhà đen đúa, xám xịt, dính đầy cứt chim. Paris là thành phố vui nhộn? Tôi không thấy vui gì hết. Tôi chỉ thấy cô đơn, lạnh lẽo và tôi sắp rã mục. Tôi vịn vào một góc tường có gân đá lớn cho khỏi khụyu ngã. Muốn chết. Thèm chết. Không thể nào sống sót nổi.

Tôi trôi dật dờ trong thành phố Paris cho tới lúc sẫm tối. Sau cùng, quá mỏi mệt và hết còn biết đi đâu, tôi trở lại quán ở đường Saint Jacques. Mở cửa bước vào, tôi lại bắt gặp Diane ngồi đó với đôi mắt lớn kẻ xếch và chiếc áo màu tím nhạt như buổi hôm đầu. Diane reo lớn:
– Kiệt! Kiệt! Anh Kiệt kìa!
Lộc vùng đứng dậy chạy ra ôm lấy tôi. Diane cũng chạy theo. Lộc ríu rít:
– Mày đi đâu vậy? Làm tao lo muốn chết. Tao đã định đi cớ bót.
Diane níu lấy cánh tay tôi vuốt ve:
– Tụi này sợ anh leo lên tháp Eiffel nhảy xuống bất tử. Trước đó ở quán anh đã khóc ngất.
Diane rơm rớm nước mắt. Tôi xúc động mạnh. Thiệt tôi điên quá đi mất! Tôi được dìu ngồi xuống băng dài bọc nệm dựa tường. Lộc và Diane mỗi người kẹp một bên như sợ tôi vùng đứng dậy bỏ chạy bất thần. Tôi xin lỗi cả hai vì cơn bốc đồng của mình. Diane hỏi tôi có giận gì không, tôi nói tôi chỉ buồn bã quá thôi chứ tôi không giận gì ai hết. Diane ấn cằm tôi hướng về mặt nàng, nhìn thẳng vào mắt tôi một chặp rồi hỏi:
– Anh còn cô đơn không?
– Còn!
Tôi đáp gọn lỏn, không do dự. Diane cúi xuống nhìn mặt bàn. Tôi thấy tóc nàng đẹp mướt, muốn hôn lên đó. Tôi không mảy may nghĩ Lộc là một tình địch. Diane đứng dậy đến bên máy hát bỏ xu vào ấn nút. Người ca sĩ buông tiếng ca khàn đục “I found my dream… on Blueberry hills”. Nàng rất thích Louis Amstrong, mặt nàng lộ vẻ say sưa mê mẩn khi người ca sĩ da đen này cất tiếng. Người ca sĩ hát tiếp bản khác: “Hello! Darling… It’s Louis darling!…”, Diane cao hứng búng nhịp, tôi bị lôi cuốn cũng búng tay theo lóc chóc. Mọi người lại như quên hết phiền muộn. Lộc đứng dậy bước đến bàn chơi đánh banh điện. Tôi choàng tay qua vai Diane kéo xiết, lòng thấy ấm áp, mụt ung thư dịu đau. Chúng tôi lại kéo nhau đi ăn mì dơ. Ông Chệt nhận ra khách quen, cười toe toét thân mật:
– Xao pữa lay cậu hết puồng chưa?

Ăn xong chia tay. Lộc đi với Diane, tôi về Viện một mình, lại bắt đầu sợ hãi. Tôi mở mắt trao tráo nhìn bóng tối, thấy bóng cô đơn lù lù ngồi đợi. Tôi trằn trọc, lăn trở, dày vò, ngán ngẩm. Trong đêm đen mịt mù, từ phòng bên cạnh vẳng sang giọng ca buồn buồn thê thiết của Gilbert Bécaud… “Et maintenant… que vais-je faire?… Tu m’as laissé la terre entière, mais la terre sans toi, c’est petit!… Et maintenant… que vais-je faire?… Vers quel néant… glissera ma vie?…” Tôi ước có một cây đinh thật dài…

Buổi tối hôm sau, tôi ra quán ngồi ăn một mình. Nuốt cái xăng-uých không trôi. Tôi thả bộ xuống Saint Michel, lờ đờ không chủ hướng. Bỗng tôi thấy bên kia đường một dáng quen đi sát bên một vách tường đen lớn phản chiếu ánh sáng lờ mờ.

Tôi hét lên một tiếng thất thanh “Diane!”, rồi mừng rỡ chạy băng qua đường bất chấp xe cộ. Người con gái khựng lại, đúng là Diane. Nàng mặc váy xám và áo len đen tay dài khỏi khủy một chút. Diane cũng mừng rỡ thốt kêu “Anh Kiệt!” Hai đứa nắm tay nhau, tôi vô cùng sung sướng. Tôi hỏi:
-Lộc đâu? Sao bỏ em đi có một mình vậy?
– Ban nãy có mấy người bạn Lộc tới kéo đi chơi, em không thích nên để Lộc đi riêng với bạn bè. Còn anh sao? Hôm nay đỡ chưa? Đi đâu lang thang vậy?
– Thì cũng lang thang vậy thôi. Cùng lắm là nhảy xuống sông Seine… cho mát. Tình cờ gặp em đây, hay là chúng ta vào quán uống cà phê nghe nhạc chơi?
ngẫm nghĩ hồi lâu, tôi sợ nàng từ chối. Nàng nói:
– Nếu anh thích nghe nhạc thì để em dẫn anh tới chỗ này, nghe nhạc jazz dễ thương lắm.
Tôi theo nàng đi quanh co trong Xóm Học, qua mấy con đường nhỏ tăm tối có clochards nằm ngủ lăn bên lề. Chúng tôi đẩy cửa bước vào một tiệm nhỏ ở đường Huchettes, bước theo những bậc thang đá gồ ghề dẫn xuống hầm. Hầm thắp đèn lù mù ấm cúng, có băng ghế đặt dựa sát theo vách đá. Rải rác trong hầm vài cặp tình nhân và đôi ba người khách lẻ loi. Tiếng nhạc blues tha thiết tỏa ra từ một máy hát đặt ở nơi nào không ngó thấy. Chúng tôi chọn một góc tối và gọi hai ly whisky. Tôi đốt chung cho hai đứa một điếu thuốc. Diane tựa đầu vào vai, tôi hôn lên mái tóc thèm muốn tự buổi đầu. Một hơi ma túy nồng nàn trong phổi sa mạc khô nứt. Diane hỏi:
– Anh sợ cô đơn lắm phải không?
– Sợ đến chết được. Nó là kẻ tử thù của anh. Anh lúc nào cũng cần có người đàn bà hiện diện trong đời sống, lúc nào cũng thèm khát yêu đương. Còn em, em có yêu Lộc không?
Diane cầm tay tôi đưa lên môi hít một hơi thuốc rồi nói chậm rãi:
– Yêu đương đâu phải dễ vậy anh. Em đang trải qua một cơn khủng hoảng. Cũng như anh, em rất khiếp sợ cô đơn. Thành thử hôm anh khóc ở quán em rất xúc động. Em hiểu lắm. Em đã có lần suýt tự tử vì cô đơn. Lúc thay áo cho anh ở khách sạn em có nhặt mảnh giấy ở trong túi anh. Em đọc nhiều lần càng thấy thấm thía điều anh viết, và càng thêm sợ anh leo lên Tour Eiffel nhảy xuống tự vận. Em có viết một trang đáp lại nhưng chưa đưa anh đọc.
– Có lẽ em chỉ có cảm tình với anh, một chút cảm tình gần với sự thương hại.
– Sao anh nói kỳ vậy? Em rất ghét sự thương hại. Em không chấp nhận sự thương hại của ai hết. Còn anh thì sao? Anh có… anh có… yêu em không?

Tim tôi chùn một nhịp. Tôi chưa biết phải trả lời sao thì Diane đã bá lấy cổ kéo mặt tôi xuống gần đặt môi nàng lên môi tôi ghì siết. Lưỡi nàng tìm kiếm sục sạo rất sâu trong miệng tôi, hương vị ngọt lẫn mùi thơm thuốc lá, lưỡi tôi cũng hưởng ứng quấn quít lưỡi nàng. Lần đầu tiên trong đời tôi thưởng thức nụ hôn tuyệt vời theo lối Pháp, từ một cô gái Pháp. Nụ french kiss dài bất tận… Nhạc blues vẫn dặt dìu tha thiết trong căn hầm ảo khói. Tôi sung sướng quá thể! Chúng tôi ôm nhau, tiếp tục hôn nhau da diết, không cần nói, không nói thêm gì ngoài những lời tình tự ngắn nhỏ thì thầm. Tôi luồn tay dưới áo len nàng, áo len có những thớ nhám, da thịt Diane mịn màng, sinh động, hô hấp, ấm áp, nồng nàn đốt cháy nỗi cô đơn đang khát máu tôi. Bàn tay tôi dò dẫm tìm ngực nàng. Trên trần gian này không ai có thể hạnh phúc hơn tôi lúc đó.

Chúng tôi trở về khách sạn gần nửa đêm. Tôi lấy một phòng cùng tầng với Lộc. Tối nay tôi không về ngủ Viện. Chìa khóa của Lộc không có trên giá treo, chắc Lộc đã về phòng rồi. Tôi và Diane rón rén lên lầu. Tới cửa phòng mình, tôi ôm Diane vào lòng, hôn lên tai nàng và nói nhỏ:
-Thôi em về với Lộc đi, và hãy ngủ cho ngon.
Diane xô tôi ra, nhìn tôi rưng rưng nước mắt:
– Bộ anh không hiểu gì hết sao? Anh đành bụng nào biểu em về ngủ với Lộc?
Sợ nàng òa khóc lớn, tôi mở cửa kéo nàng vào phòng mình. Hai đứa để nguyên quần áo ôm nhau lăn trên giường. Ánh đèn điện ngoài đường dọi vào cửa sổ hiu hắt. Tôi lần mò cởi quần áo Diane. Tôi đê mê bắt gặp lại người đàn bà nguồn sống muôn thuở đã vắng mặt trong đời tôi quá lâu. Tôi không dành một phút nào nhìn ngắm thân thể nàng. Hai đứa say sưa trong cuộc tình hừng hực. Rồi mệt ngủ.

Khi tỉnh giấc thấy Diane nằm trần truồng trong tay, tôi biết nàng đã lọt vào đời tôi kể từ đêm nay. Tôi vuốt ve vai nàng, lưng nàng và hôn nhẹ lên má nàng. Nàng cũng trở giấc. Tôi dành thời giờ nhiều hơn để thưởng thức thân thể nàng. Nàng ôm tôi âu yếm. Cơn dục tình lại kéo về đắm đuối, cuồng nhiệt, mê tơi. Sau cơn ân ái, Diane chợt khóc, vai run run, không biết vì buồn khổ hay hạnh phúc. Tôi không vặn hỏi, không muốn biết. Và tôi thiếp ngủ trở lại, không còn sợ hãi.

Lộc đón nhận sự thay đổi của Diane một cách can đảm và hào hiệp. Còn tôi thật vô tâm. Tôi nghĩ, như để tự bào chữa, dù sao con đường trở lại của Diane đã bế tắc. Ba đứa tôi vẫn gặp nhau, đi uống cà phê và đánh banh điện. Và nghe Louis Amstrong hát, dĩ nhiên. Đó là thú vui của Diane. Nàng có thể nhịn ăn để hưởng thú vui giản dị đó. Khi gò một đường banh, miệng nàng lệch méo qua một bên đầy vẻ chăm chú. Tôi tức cười, cũng thấy rộn rã vui lây. Paris biểu lộ dưới đường nét nên thơ cố hữu, với những khối nhà đen xám, mái lợp bằng đá bảng, cửa sổ rộng lớn mở ra bao lơn viền sắt đen uốn bẻ vân vi, và chim bồ câu vỗ cánh xập xòe trong nắng bay lên đậu. Người ngoài phố cũng trở nên thân mật với tôi hơn. Bằng thân trăn mềm, bằng ngực no nê, bằng tình ái điên rồ, Diane đã giải thoát tôi khỏi cô đơn đĩa đói và đem tôi về đoàn tụ với loài người. Nàng hòa giải tôi với đời sống. Tôi thay xiêm đổi áo, đính hôn với mùa hè, với nắng nóng, với mặt trời, với cỏ cây, với chim chóc.

Tôi đưa Diane về nhà một người bạn gái gần nhà thờ Pantin để nàng lấy quần áo gửi tạm nơi đó. Tôi đứng chờ nàng trong vườn cây. Ngó những người chơi chọi banh sắt nhi nhô cười giỡn lao xao, tôi bỗng thấy yêu đời vô kể, một cảm giác mà tôi tưởng chừng đã mất biệt luôn trong đời mình. Chặp sau Diane từ trong nắng đi tới. Con đường nắng lỗ chỗ, nàng cầm trong tay một cái va-li nhỏ. Nàng nói đây là tất cả gia tài của em. Tôi xúc động thương mến và rạt rào hạnh phúc. Tôi thấy đời sống sao mà dễ ợt, như một cái bánh ngọt. Tôi dẫn nàng đi trên hè phố với cái va-li nhỏ tòn ten trên tay như một cô dâu. Nàng ghé tiệm giày mua đôi hài nhẹ, loại ballerines, nàng nói hồi nhỏ nàng cũng có học vũ cổ điển, nhưng nhảy không hay vì mông hơi lớn, quay không gọn. Tôi vỗ đít nàng nói mông như vầy mới là tuyệt, rồi hai đứa phá lên cười. Nàng dừng lại trước tủ kiếng của hiệu bánh ngọt rất lâu, ngắm nghía thèm thuồng. Tôi định bước vào mua nhưng nàng hoảng hốt nắm tay tôi kéo đi. Nàng sợ dày thêm ở mông, có lẽ.

Bạn bè tập sự cùng khóa thấy tôi trở nên vui tính liến thoắng. Trong đám, tôi trẻ nhất. Cuối tuần có tổ chức cho các tập viên đi thăm dân cho biết sự tình ở nước Pháp. Một bận ghé thăm ngôi nhà thờ nổi tiếng ở Reims, tôi thắp một ngọn nến, quì gối làm dấu thánh giá. Cô hướng dẫn viên tò mò hỏi:
– Ông là người Công Giáo?
– Không, tôi là người Việt Nam.
Cô ta chỉnh lại câu hỏi cho chính xác hơn:
– Tôi muốn hỏi ông tôn thờ gì?
– Tôi tôn thờ đàn bà!

Ai nấy cười ngặt nghẽo. Cô ta cũng lắc đầu cười theo. Trên đường chúng tôi ghé Reims được đãi một chầu sâm-banh bản xứ, cả bọn tập sự chếnh choáng. Tôi và một anh Ba Tây, một Chí Lợi, một Mễ Tây Cơ rút ra đằng sau xe car hòa ca nhạc Nam Mỹ ầm ĩ. Vui như Tết.

Nhưng tôi thích đi chơi cuối tuần với Diane ở các khu rừng miệt ngoại ô Paris hơn. Trong rừng Chantilly, chúng tôi tìm một khoảng cỏ khuất vắng trải khăn nằm nói chuyện trời trăng mây nước. Diane sợ nhầu áo, tôi cởi áo cho nàng mặc. Diane tháo bỏ xú-chen, buộc hai vạt áo lại ở rún, không cài nút trên, để phơi đôi vú xinh xắn, tròn trĩnh, đầu vú ửng hồng. Tôi áp môi dìu nàng nằm xuống. Dục tình bừng bừng trên đầu lưỡi mềm ấm. Tôi muốn làm tình nhưng Diane đẩy tôi ra: “Không được đâu anh! Lỡ có người qua lại…” Tôi nhức nhối, nhăn nhó. Nàng mỉm cười lém lỉnh bảo trời có nắng, tôi chụp cho nàng vài tấm hình. Nàng chỗi dậy, nằm sấp, rồi nằm ngửa, tôi thu hình nàng với đôi vú tròn nõn nà, mời mọc. Không cầm lòng được, tôi vứt máy nhoài tới đè lên người nàng. tôi hôn mạnh, để lại vết bầm xanh nhỏ trên ngực, phía bên trái tim. Nàng mỉm cười ngó tôi âu yếm:
– Vết bầm này dấu vết riêng của anh đó. Suốt mùa hè sẽ không phai.
Câu nói của nàng lôi tôi về thực tế. Suốt mùa hè, phải. Nhưng hết mùa hè tôi với nàng sẽ ra sao? Tôi sẽ trở về Québec, bỏ Diane ở lại Paris. Chấm dứt! Hết? Tôi rùng mình. Để đuổi xua ý nghĩ đó, tôi ngỏ ý với Diane:
-Hết hè anh sẽ ở lại luôn với em, không về Canada nữa đâu.
Diane xô tôi ra nhỏm dậy, cài lại áo:
– Anh đừng nói đùa. Còn tương lai anh? Anh phải học xong đã rồi mới tính chuyện khác được. Anh ở lại đây rồi sẽ ra sao? Định làm gì để sống?
Tôi thoáng giận, tiu nghĩu. Có lẽ thấy tội nghiệp, nàng lại ôm tôi nằm xuống, hôn lên trán bảo anh đừng buồn, em nói vậy là vì anh đó. Hai đứa nằm nghiêng, tay chân quấn quýt, lưỡi tìm lưỡi ấm. Nàng hỏi:
– Anh yêu em nhiều không?
-Yêu nhiều lắm.
– Anh thề yêu em suốt đời đi.
Thấy câu nói có vẻ cải lương nên tôi ngần ngừ. Nàng thúc giục, tôi đáp:
-Anh nói vậy sợ nói láo.
– Nói láo cũng được, miễn là anh thành thật lúc nói.
Tôi ngượng miệng quá nên cứ nín thinh. Nàng rơm rớm nước mắt:
-Anh không nói thì em ở lại trong rừng này luôn, anh về một mình đi.
Rồi Diane phụng phịu quay mặt bên kia. Tôi đành vuốt tóc nàng và xuống vọng cổ:
– Anh thề yêu em suốt đời, chịu chưa?
Nàng quay lại cười khoái trá như con nít được quà. Thấy thương hết sức. Tôi lặp lại câu đó và cảm thấy mình thành thực. Tôi lại hôn nàng. Tôi đê mê nhìn ngắm thiên đường của mình rất lâu. Nàng rên khẽ.

Trời đã xế chiều. Chúng tôi ra đường đón xe quá giang về Paris. Vừa đặt chân vào buồng, tôi giựt áo nàng đứt tung nút. Tôi làm tình điên khùng, như thể hiếp dâm. Như buổi ban đầu. Như chưa quen biết sự trần truồng của người yêu. Nàng rên rỉ suốt cuộc tình. Hai đứa ngã ra chết giấc…

Thật vậy, tôi chưa hề biết thân thể Diane. Lần nào tôi cũng tò mò nghịch phá. Như hai con chó non tới mùa, rượt ngửi, giỡn hớt, chờn vờn. Rồi bốc đồng đắm đuối. Một buổi sáng muộn, chúng tôi thay quần áo định đi xuống phố ăn chút gì rồi chui vào xi-nê. Tôi chưa mang giày vội vì còn chờ Diane trang điểm xong. Nàng thay bộ tailleur xanh da trời vừa lấy từ tiệm giặt ủi về. Tóc nàng quấn băng xanh nhạt hợp màu với đôi bông tai tròn màu xanh biêng biếc. Nàng ngồi bên cửa sổ kẻ mắt, hát khe khẽ: “Je ne sais comment… comment briser tous ces barreaux?…” Hình ảnh ngây thơ mà trĩu nặng nữ tính, quyến rũ lạ lùng. Có lẽ linh tính điều gì, nàng chợt quay lại nhìn tôi, đôi mắt vừa kẻ xong sâu thẳm. Mặt nàng thoa nhẹ một lớp phấn mỏng liền lạc màu da, môi chưa tô son, đôi mắt thẳm sâu càng thêm hun hút gọi tình – hai vết chim bay trên nền mây trắng nhẹ hẫng. Tôi tiến đến gần nàng, hôn lên đôi mắt đó, rồi bàn tay từ gáy, từ cổ lần mò tìm xuống. Nàng linh cảm sự thèm muốn của tôi nên thì thầm: “Để em thay bộ đồ mới ra, kẻo anh làm nhầu hết…” Tôi vói tay khép màn cửa sổ. Hôm đó chúng tôi nằm mùi mẫn với nhau cả ngày, không bước ra ngoài một bước. Đến khuya hai đứa đều đói meo. Vừa than đói vừa cười rúc rích.

Chúng tôi từ Xóm Học dời gần về métro Pasteur. Lộc theo “xem” hai trẻ yêu nhau một cách rất hiền triết. Mùa hè đã tới thực sự, tháng Bảy Paris trời nóng chảy nhựa đường. Chúng tôi dắt nhau đi mua áo, Lộc một cái áo vàng chạy chỉ đen, tôi một cái áo có gân, màu đỏ, cổ lớn, còn Diane không mua gì hết. Tôi mua sôn được một cái áo khỉ mười quan và một cặp kính đen xếch năm quan, mang vào trông như dư đảng mafia. Diane để mặc kệ hai anh em đùa nghịch với nhau. Buổi chiều lại đi ăn mì dơ. Xong ra uống cà phê ở ga Lyon. Đang tán gẫu chợt Diane ngó ra ngoài cửa tiệm biến sắc. Nàng đứng dậy đi ra phía đó. Ở cửa, một anh da vàng và một cô da trắng mang bụng chửa. Diane nói chuyện với họ khá lâu. Tôi nghe loáng thoáng gã da vàng la lớn khi hai người sắp bỏ đi: “Tao sẽ giết nó!… Tao thề sẽ giết nó!” Diane trở lại bàn, mặt mũi càng nhợt nhạt. Tôi suốt ruột hỏi:
– Có việc gì vậy?
Nàng cúi mặt im lìm. Tôi hỏi tiếp:
– Em vừa nói chuyện với ai đó?
Im lặng. Chập sau nàng trả lời:
– Đó là bạn của Đức.
Lộc tò mò:
– Đức! Đức nào? Có phải Đức?…
Diane ôm hai tay lên trán gật đầu. Lộc nhìn tôi ái ngại, định nói gì đó, nhưng Diane đã lên tiếng trước:
– Đức là người đã chung sống với em. (Tôi choáng váng). Anh đã biết rồi, nhưng để em nói cho Kiệt rõ. Hồi em ở Corse lên Paris kiếm việc làm, em gặp Đức và Đức đã tận tình giúp đỡ em. Em sống với Đức hơn năm. Anh hiền lành bao nhiêu thì Đức hung hăng bấy nhiêu. Đức đã đánh em gãy răng, như anh thấy đó…
Nàng ôm mặt khóc. Tôi vừa tội nghiệp Diane, vừa ghen tức. Nàng nhìn tôi mắt còn ngấn lệ long lanh:
-Đức hiện giờ đang ở tù vì liên can tới một chuyện làm ăn lem nhem sao đó.
Tôi không buông tha:
– Em đụng Mít lựu đạn rồi chưa chán Mít sao?
Nàng thành thật:
– Anh làm sao hiểu được. Đã lỡ dính người Việt các anh rồi là không bỏ được nữa. Lẩn quẩn lại tìm một người Việt khác.
Tôi suýt buông ra một câu nói độc ác, nhưng giữ lại kịp. Tôi thương nàng nhưng lửa ghen phựt cháy ngùn ngụt trong lòng quá đỗi. Lộc nói mấy câu hòa giải, nhưng không thấy ai nghe nên thua buồn nín thinh. Chúng tôi lấy taxi ra về. Diane ngồi giữa. Lộc đưa Diane lên buồng. Tôi còn hậm hực chui vào một cái bar ở gần métro Pasteur uống whisky không chịu lên theo. Một lát Lộc trở lại ngồi uống rượu với tôi. Thấy mặt tôi vẫn hầm hầm, Lộc nói:
– Mày làm khổ tao rồi còn định làm khổ Diane nữa phải không?
– Tôi làm khổ anh?
Lộc chỉ mỉm cười, không vui. Tôi chợt thấy mình lố bịch. Nếu sự thành thực có thể khiến cho mình được người khác tha thứ! Tôi xấu hổ:
– Thiệt em quá vô tâm. Em như hồi nhỏ nắm râu con dế quay mòng mòng còn bắt nó vẫn phải gáy. Chắc anh phiền giận lắm. Em đã phản bội anh. Diane đã phản bội anh…
– Không! Diane không phản bội tao!
Lộc ngắt lời, không hề nói tới tôi. Lộc tiếp:
– Diane đã nói với tao là “chính anh đã tự ý xô em vào tay đứa em ruột của anh”. Sáng hôm sau mày viết mấy chữ bỏ đi, tao và Diane gây lộn. Diane đã la lên: “Kiệt biết đam mê! Kiệt biết yêu! Anh không biết đam mê! Anh không biết yêu!” Rồi Diane đã đóng ập cửa vào mặt tao.
Lộc nâng ly uống một hơi cạn:
– Phải tao không biết đam mê, nhưng chắc tao cũng biết yêu chớ. Có điều lúc đó tao thấy mày có thể tự tử, có thể quỵ chết tới nơi nên tao có biểu Diane theo săn sóc mày. Mày cần tình yêu, mày cần đàn bà. Mày! Thằng ngốc tử! Bây giờ mày định làm gì Diane đây? (Lộc thộp ngực áo tôi kéo tới).
Ít khi nào tôi thấy Lộc nổi giận. Nhưng đêm nay Lộc đã nổi giận xô ghế bỏ ra về. Tôi ngồi lại một mình với cơn bối rối. Tột cùng bối rối. Tôi ân hận. Lộc không sao, nhưng tôi chợt thấy thương Diane hết sức. Tôi trả tiền và xin đóa hoa hồng đỏ thẫm cắm trên chậu bông trên quầy đem theo. Tôi lên phòng mở cửa thấy Diane nằm nghiêng, vai trần lộ trên chăn thiếp ngủ, son phấn đã bôi nhạt nhưng mắt vẫn còn kẻ mực đen chưa rửa. Tôi quì bên cạnh giường nhìn nàng thật lâu. Tôi hôn lên vai nàng rồi đặt cành hoa hồng lên cánh tay trần của người yêu. Diane thốt giật cánh tay hất đóa hồng rơi xuống đất. Tôi giận dữ đứng dậy bước ra cửa. Khi đó Diane mở mắt thốt kêu: “Anh Kiệt!”. Nàng choàng dậy tung chăn, nàng trần truồng. Tôi mở cửa bước ra ngoài còn nghe tiếng nàng kêu thất thanh “Kiệt! Kiệt!” Tôi đóng ập cửa lại chạy vội vã xuống đường, không còn muốn nghe ai réo gọi. Tôi chạy trốn…

Tôi vụt nhớ đêm mướt xanh ngồi trên băng gỗ chờ sáng. Thoắt sợ hãi kinh hoàng. Tôi bỏ chạy cuống cuồng. Hồi lâu mệt lả, nằm lăn trên một băng đá vệ đường thở dốc. Ngọn đèn đường ngất cao trên đầu tỏa ánh sáng lù mù, phả từng đợt vàng mờ ảo chung quanh. Tôi cố gắng định thần. Trí óc tôi lú lẩn. Tôi yêu. Tôi sợ. Tôi mê. Tôi ghen. Tôi, tôi, tôi… Chiếc xe taxi chở thân lịm ngắt về Port Royal. Tôi ngã vật trên giường, đôi giày còn dính cẳng. Trần nhà trên cao chập chờn như cơn sóng nhồi, hạ thấp, lên cao, rồi hạ thật thấp, dìm tôi vào vực thẳm đen ngòm, không còn thấy gì nữa hết, không còn biết gì nữa hết. Tôi đã chết. Diane! Diane! Cứu anh với!…

Dậy!dậy!dậy đi! Mùa hè đưa tay nắng gõ lên cửa sổ. Tôi mở mắt rồi nhắm lại. Mặt trời phà hơi ấm vào phòng giục gọi. Dậy đi! Tôi châm điếu gitane nằm nướng trên giường nhả khói. Tôi rửa mặt rồi uể oải xuống ngồi ở hiệu cà phê bên kia đường, chỗ Lộc, Diane và tôi thường ra chơi banh điện nghe nhạc. Tôi bỏ xu vào máy bấm nút: “I found my dream!… on Blueberry hills…” Tôi nhớ Diane quá thể “When I found you… my dream comes true…” Ngoài đường từ xa đi lại một cô gái mặc áo sơ mi màu tím nhạt. Đúng là Diane! Nàng đi ngược về phía tôi hướng mắt. Tôi ngồi bất động. Nàng không nhìn thấy tôi. Nàng đi qua rồi tiếp tục đi thẳng về phía Viện. Có lẽ nàng lại đến cầu cứu Lộc. Tôi đứng dậy rời quán. Ra đến cửa, tôi dụ dự quay lại ngồi chỗ cũ, gọi thêm cốc cà phê, vặn lại đĩa hát cũ “… the moon so still… on Blueberry hills…” Chập sau, quả nhiên Lộc và Diane lọt vào tầm mắt tôi. Lộc mặc áo màu vàng chỉ đen, Diane mang đôi giày màu beige. Hai người múa máy tay chân như đang phân bua, không rõ điều gì. Có lẽ lại bàn tán về việc tôi mất tích. Tôi vẫn ngồi bất động. Sao không ai xô cửa bước vào kiếm tôi?

Cả hai đi khuất hồi lâu, tôi rời quán thả bộ lang thang xuống vườn Luxembourg. Đầu vườn là tượng tạc bầy ngựa dũng mãnh đóng rêu xanh từ hồ nước nhảy chồm ra theo vòi nước phun. Tượng thật đẹp. Bụi nước rơi trên mặt tôi mát mẻ. Đứng ngó một hồi lâu tưởng chừng con ngựa bờm đứng sắp nhảy vọt tới đạp lên mình. Tiếp tục đi dọc theo rặng cây, hết bãi cỏ dài, đến ngồi bên hồ nước giữa vườn. Trên bãi cỏ bầy chim câu, lũ se sẻ, và hai con quạ đen đang tranh nhau mấy mẩu bánh mì. Có con bồ câu nằm ngửa chổng cẳng phơi nắng thật thảnh thơi, hạnh phúc. Tôi tự nghĩ mình quá ngu. Cuối tháng bảy, dân Paris tản cư mất hết, bỏ thành phố lại cho du khách. Mấy thằng bạn tập sự chung với tôi cũng đã trở về nước hết hồi giữa tháng bảy, khi chấm dứt khóa. Tôi lượm hòn sỏi nhỏ ném xuống hồ.

Cả ngày hôm đó tôi bị giằng co giữa ý muốn đi luôn và trở về với Diane. Tôi lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm. Tôi khám phá Paris có rất nhiều tượng đồng và tượng đá mà vì bận rộn đâu đâu tôi không để ý. Tôi thật vô lý. Diane đâu biết tôi đến Paris mùa hè này để nàng lọt vào đời tôi mà chờ đợi? Mà chờ đợi hoài thì lấy thời giờ đâu để sống? Nhưng tôi vẫn nổi giận vì đã không được chờ đợi. Tôi quay ra giận tôi. Như con rắn tự mổ nhằm đuôi mình, tôi nhiễm độc. Tối hôm đó, tôi lại rã rời đôi chân mình ở Port Royal. Và để Diane ngủ một mình ở khách sạn thêm một đêm nữa.

Chiều hôm sau, nhớ Diane hết chịu nổi, tôi lò dò trở về với nàng. Tôi len lén leo lên lầu (tại sao phải len lén?) Nắm khóa cửa vặn nhẹ, cửa không khóa. Bước vào. Diane đang ngồi ở bàn gặm mẩu bánh mì với phô-mát. Nàng mừng rỡ vứt hết bánh mì lẫn phô-mátxuống sàn nhà, chạy ra ôm chầm lấy tôi, mếu máo không nói được lời nào. Tôi ngồi xuống ghế, đặt nàng ngồi trên đùi, vỗ vỗ lưng nàng như dỗ con nít. Diane quệt nước mắt ngó tôi rồi lại mếu máo khóc tiếp, trông vừa tội nghiệp vừa tức cười. Khi cơn khóc đã dịu, nàng hỏi:
– Sao khi không anh bỏ đi mất biệt vậy? Ngày hôm qua em và Lộc đi kiếm anh, em lội bộ lủng hết đôi giày rồi kia kìa.
Nàng lấy ngón tay chỉ đôi giày beige lăn lóc trên sàn, một chiếc thủng lỗ tròn ở mặt dưới. Nàng lại mếu máo:
– Cả ngày hôm nay em không dám đi đâu, sợ anh về bất tử không có em anh lại bỏ đi nữa. Nhịn ăn hai ngày đói quá em mới gặm đỡ bánh mì. Sao anh bỏ đi vậy, bộ giận em hả?
Tôi ngần ngừ:
– Tại em vứt bông hồng anh mang về tặng em.
Nàng trố mắt ngạc nhiên:
– Trời ơi! Nhánh bông hồng còn gai không mà anh đem đặt lên cánh tay trần của người ta! Em bị gai chích đau nên mới giựt mình rút tay lại, bông hồng mới rớt xuống đất đó chớ em đâu có vứt. Bông vẫn còn kia kìa.
Trên bàn, một ly nước trong lớn, bên trên nổi lêu bêu một bông hồng đỏ thẫm đã nở rộng.
Tôi hôn lên má nàng:
– Cho anh xin lỗi.
Tôi luồn tay dưới áo nàng mân mê. Nàng ngoáy đầu lại ngó vào mắt tôi, có vẻ ngờ vực:
– Anh đừng bỏ đi nữa nghen. Em sợ…
Hai đứa hôn nhau làm lành. Xí xóa hết. Như không có chuyện xảy ra. Diane tin thiệt là tôi yêu nàng suốt đời, có lẽ.

Năm đó mùa hè nóng hừng hực. Nhựa đường chảy, bước đi dính nhẹo dưới chân. Paris như lò lửa kín mít không ngớt có củi khô châm vào. Chúng tôi bàn nhau đi biển chơi, miệt Côte d’Azur chẳng hạn. Nhưng đào đâu ra tiền? Một hôm tôi vác máy ảnh lò dò xuống Công Ty Điện Lực, tình cờ gặp lão Giám Đốc ở hành lang. Ông vui vẻ bắt tay tôi hỏi:
– Ủa, anh chưa về Canada sao? Mang máy ảnh đi đâu đây?
Tôi ấp úng:
– Dạ… tôi định xem có ai ở đây muốn mua tôi bán lại, giá rẻ đặc biệt.
Ông ta cười:
– Anh cần tiền phải không?
Tôi ngay tình gật đầu. Ông ta ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo tôi theo ông xuống lầu dưới. Đến phòng kế toán, ông bảo nhân viên làm thủ tục cho tôi lãnh thêm một tháng trợ cấp… gia hạn tập sự. Phát liền tiền mặt. Cash! Tôi bối rối nhưng cũng mừng rơn, đút tiền vào túi, siết tay ông giã từ vừa cám ơn rối rít. Ông vỗ vai tôi thân mật:
– Úi chà tuổi trẻ! Tôi thèm được như anh. Allez! Thôi đi chơi cho vui nghe!
Ra đến cửa tôi còn quay lại vẫy tay chào lia lịa và cười cầu tài một phát. Ông ta lắc đầu cười như để đáp lại cái bồng bột của tôi. Tôi và Diane đi tìm Lộc để thảo kế hoạch. Diane đề nghị cả ba kéo xuống Menton chơi một tuần, tôi tán thành, Lộc từ chối không chịu đi theo. Diane níu tay Lộc năn nỉ, nhằng nhằng. Hắn xiêu lòng, quyết định chung cuối cùng: xuống Nice chơi mười ngày. Đi cả ba. Tôi và Diane xuống trước ba hôm. Lộc xuống sau. Lấy vé khứ hồi trước cho chắc trở lại được Paris. Còn chút tiền dư bỏ vào vạt áo mưa khâu lại mặc vào người cho chắc ăn. Mất là đói cả đám.

Đứng trên xe lửa chạy xuyên nước Pháp từ Bắc xuống tới Địa trung hải, lần đầu tiên tôi khám phá quang cảnh thiên nhiên phong phú của đất nước này. Nào rừng, nào sông, nào núi đồi xanh mượt, nào ruộng lúa mì, đồng cỏ bát ngát, từng đàn bò nhơi gặm thảnh thơi, hoa dại vàng trắng xanh đỏ vươn cao chi chít trên nền cỏ xanh mát mắt màu lục non kéo dài. Tôi thấy yêu đời vô cùng. Tôi thấy yêu Diane hết sức. Hai đứa ôm nhau ngủ ngồi sật sừ. Sáng mở mắt ra đã tới Nice. Bước ra khỏi nhà ga, chúng tôi gặp một bà đề nghị cho mướn một căn phòng nhỏ cách đó không xa, trong Le Vieux Nice. Tôi bảo sẽ có thêm một người nữa. Bà nói sẽ cho mượn ghế bố nhỏ kê vào, chỉ trả thêm chút ít tượng trưng. Chúng tôi đồng ý theo bà về nhà trọ. Căn phòng trên gác, nhỏ nhắn, sáng lờ mờ, có cửa sổ lớn ngó ra mặt đường, tương đối tươm tất sạch sẽ. Sát tường kê một chiếc giường nệm nhỏ, ngủ hai người chớ nên lăn trở nhiều – tôi nghĩ bụng càng tốt. Diane ưng ý, tôi gật đầu, kể như xong.

Chúng tôi ngả lưng lên giường ngủ thiếp một giấc cho giãn gân cốt. Buổi trưa thay quần áo đi bộ xuống bãi. Trời xanh ngắt, nước trong vắt, có chỗ màu xanh thẫm như rong, có chỗ màu ngọc bích tươi thắm rất ngoạn mục. Tiếc là bãi chỉ toàn là đá vụn, đi đau chân, nằm đau lưng. Nhưng tôi bằng lòng lắm. Tôi kéo Diane nhảy ùm xuống nước. Từ ngày rời quê hương, lần đầu tiên tôi được tắm biển. Trời nóng nước ấm làm nhớ Vũng Tàu, những lần Lộc và tôi đèo vespa đi biển, ăn ở bãi, ngủ ở bãi, và chưa biết đàn bà. Trời có gió lớn, Baie des Anges, Bãi Thiên Thần, sóng nhồi rất thích. Tôi bị hai đợt sóng lớn vồ vập liên tiếp nhận chìm, không kịp thở, đất trời đảo lộn, uống mấy ngụm nước mặn chát ngất ngư. Nhân viên tiếp cứu ôm phao nổi nhào xuống định vớt gấp, nhưng may mắn tôi đã trồi lên được. Lên bờ nằm sải tay, thở phì phò. Diane hỏi tôi có sao không? Tôi lắc đầu. Nàng đốt cho tôi điếu thuốc và xoa dầu chống nắng lên khắp thân thể tôi. Tôi cũng xoa lại người nàng và lợi dụng bóp nắn chọc phá Diane. Nàng la tôi đừng nghịch. Nàng nằm sấp bên tôi, cúi xuống hôn:
– Em cám ơn anh. Từ ba năm nay em không được nghỉ hè. Anh không biết em sung sướng đến ngần nào!
Chúng tôi ăn hai bánh pan bania (một loại bánh mì tròn kẹp cá thu, trứng xắt lát, mắm, cà, ô-liu), uống nước máy ở vòi ngắn trên bãi, thấy hạnh phúc. Xế chiều, Diane bảo đi tắm nước ngọt công cộng trước khi về nhà trọ. Tôi nói cứ để nguyên như vậy cho da thịt thơm mùi biển. Chúng tôi nắm tay nhau đi dạo lòng vòng trong Le Vieux Nice. Phố cũ, nhà cửa không thẳng hàng, tường vách sơn nhiều màu sặc sỡ, ám khói, phảng phất vẻ nên thơ vui sống thuở xa xưa hiền hòa, thơ mộng, le bon vieux temps… Nhiều sạp hàng bán mì sợi xanh vàng đỏ, treo thịt khô, giò mặn, xúc xích ngổn ngang trông ngon lành khoái mắt muốn ăn. Sẫm tối đã mỏi chân, hai đứa dung dăng dung dẻ quay về nhà trọ.

Về đến buồng Diane lại ôm tôi hôn và cám ơn ngày nghỉ hè. Tôi ghì nàng trong tay, cơn dục tình lại dấy lên trong mạch máu. Căn gác tối lù mù, chúng tôi để nguyên cửa sổ mở. Da thịt Diane ăn nắng hâm hấp nóng và thơm mùi biển, như rong, mặn mòi. Muối đọng trên mắt, trên môi, trên tai, trên cổ, trên đầu vú, trên bụng, trên tóc, trên gò tình. Diane thì thầm những cảm giác thơm mặn tương tự trên da thịt tôi. Mặt trời và nước biển tăng độ nồng say cho cường dục. Chúng tôi làm tình trong bóng hoàng hôn chập choạng. Diane rên khẽ, rồi lớn dần, như nấc khóc, móng tay cào bấu thịt da tôi rướm máu. Chân tay hai đứa quấn quýt chằng chịt rối ben tưởng không thể nào tháo rời được nữa. Rên rỉ, năn nỉ, xô ra, quấn vào, cuồng nhiệt, mê tơi, cực điểm, chết ngất…

Con thú cái no tình ngủ say trên cánh tay thú đực. Tôi cũng lơ mơ đất trời hồi lâu. Cố gắng thở đều cho tim nhịp chậm lại. Bên ngoài khung cửa bây giờ đã tối đen chợt vọng lại tiếng tây ban cầm tha thiết, dìu dặt “lá lá lá lá… la là là” điệu Jeux Interdits trong ấm tuyệt vời. Ai đánh đàn? Có tâm sự gì mà ngón đàn sao quá thiết tha buồn bã. Tôi xúc động, mình nổi da gà ran ran. Một nỗi lo âu không rõ mặt lấn chiếm trong hồn, tôi cúi xuống hôn mái tóc Diane như muốn ẩn nấp. Phải chăng mùa hè đang đi vào giai đoạn cuối? Bên khung cửa sổ khuất, lời tây ban cầm tự tình lặp đi lặp lại khúc Jeux Interdits hoài hoài, như không muốn dứt.

Ba ngày sau, Lộc xuống, mặc áo vàng chỉ đen. Tôi áo đỏ, Diane áo tím nhạt ra đón ở nhà ga. Lộc xem cũng hài lòng vì lần đầu tiên biết Nice. Chúng tôi băng qua đường, chui vào hiệu cà phê đối diện nhà ga. Suốt thời gian ở biển ba đứa thường la cà ở hiệu cà phê này vào buổi trưa. Ở đây đặc biệt có đặt juke-box trang bị màn ảnh màu và nhiều đĩa nhạc trẻ trung nên bọn choai choai thường tụ tập uống nước đấu láo ồn ào, nhộn nhịp. Một bài hát được nhiều người chiếu cố là “Faut rigoler”, khi ca Henri Salvador cười bò lăn cù dưới đất. Để thích ứng với ngân quỹ eo hẹp, chúng tôi biểu quyết chấp thuận một thực đơn khắc khổ: ngày đầu, mỗi đứa trưa một pan bania, chiều một pan bania. Ngày kế, trưa một pan bania, chiều một con gà rô-ti quay sẵn cho ba đứa. Rồi trở lại như ngày đầu, cứ thế tuần tự. Ngày nào có gà rô-ti, Lộc và tôi gặm kỹ tới nước chó chực xương ngó thấy cũng phải phát khóc. Diane thường ăn độn bánh mì, nhường hai cái đùi cho hai ông Tây vàng. Ghế bố xếp loại nhà binh bà chủ cho mượn được kê ra trong phòng bây giờ đã trở nên chật chội, chỉ dành để ngủ.

Tắm biển liên tiếp ba ngày đã đời, ngày thứ tư Lộc đề nghị đi Monaco chơi, tôi ô-kê. Diane không đi theo vì đã biết du cảnh nơi đây rồi. Chúng tôi giao tiền cho Diane mua gà quay chiều về ăn. Giã từ nàng, chúng tôi lấy xe lửa lên đường. Xe chạy qua những triền núi cao ngó xuống vách đá thẳng đứng cheo leo, những bụi cây xanh chìa bông đỏ rực rỡ trên nền nước thẫm biếc thật đẹp. Chúng tôi ghé dọc đường tắm biển, chụp hình, rồi lại lên đường viếng cảnh chụp hình (thú vui của Lộc). Cà rịch cà tang tới chạng vạng mới về đến nhà trọ. Một điều ngạc nhiên: Diane mặc cái robe mới sọc to bản sặc sỡ lên tới hơn đỉnh vú một chút, vai trần có một băng vải vắt ngang cho áo khỏi tuột. Trông nàng như sơn nữ miền thượng. Đôi vai trần rám nắng ngời bóng chạy xuôi xuống hai cánh tay trần tròn lẵn coi cũng hấp dẫn muốn sờ. Diane nói ngày mai là lễ rước cộ hoa nên nàng tự động may lấy cho mình một cái áo để mặc chơi ngày lễ. Về mặt lý thuyết nghe cũng lọt lỗ tai. Nhưng trên bình diện thực tế thì ôi thôi, nàng đã dùng tiền gà quay mà mua một khúc vải bán sôn và kim chỉ, rồi ngồi nhà cả ngày tự may lấy áo, say sưa bỏ cả ăn uống. Thế là con gà rô-ti đã chắp cánh bay mất: ô-voa! bái-bai! Phần đói bụng, phần tiếc con gà mấy khi mới có, tôi la Diane. Nàng phụng phịu rơm rớm nước mắt. Nàng nói nàng mặc áo mới cho tôi vui mà tôi nỡ nào la nàng. Tôi vẫn tiếp tục cự nự. Lộc can thiệp kéo tôi ra đầu phố mua ổ bánh mì không, xịt chút xì dầu hai đứa gặm.

Buổi tối, để làm lành, tôi gạ gẫm làm tình với nàng. Nàng chấp nhận thiện chí của tôi nhưng dặn nhỏ đừng gây tiếng động kẻo Lộc nghe được sinh lòng đau khổ. Nhưng rồi chính nàng đã thở hổn hển và rên rỉ bên tai nghe rõ mồn một, không biết có lọt ra bên ngoài. Trong đêm Lộc trở mình trên ghế bố sột soạt. Tôi thật quá vô tâm.

Ngày hôm sau chúng tôi tham dự đoàn người rước cộ hoa tưng bừng huyên náo. Các cô gái mỹ miều mặc áo trắng đẹp đẽ như áo cưới, đứng trên xe phủ đầy hoa, các cô cười tình và ném hoa xuống quần chúng, nhắm vào bọn con trai. Tôi chụp được một bông cẩm chướng. Lộc một bông hồng, đưa cho Diane. Confetti được tung ném tưng bừng, tóc Diane dính đầy. Trông nàng hớn hở hạnh phúc mà cảm động. Tối đến chúng tôi kéo nhau ra công viên lễ hội, có dàn nhạc công cộng, dân chúng bu quanh rần rần. Chúng tôi nhảy nhót tới tàn cuộc khuya lắc khuya lơ mới ra về, chân cẳng rã rời, còn nghe sau lưng mình sóng vỗ trên bãi đá vụn xào xạc…

Kể từ hôm đó, Diane không rời chiếc áo sọc nàng đã may lấy. Buổi tối nàng giặt áo trong chậu rửa mặt rồi treo lên phơi. Sáng khô lại mặc vào, trông nàng hí hửng, tíu tít. Thấy mông nàng cứ dêu dêu phía sau, tôi đặt cho nàng cái tên Việt mỹ miều là “Ngọc Ễnh”. Nàng phát âm theo kiểu Tây là “Nock Ễng” và lấy làm hãnh diện về cái tên do người tình đặt cho lắm. Những ngày ở Nice, đêm nào tiếng đàn tây ban cầm tự tình vẳng ra từ khung cửa khuất bên kia đường cũng lọt vào phòng chúng tôi nhắc nhở mùa hè đã muộn. Ngày cuối ở Nice, chúng tôi tắm biển đến xế chiều mới rời bãi. Trên đường về, Diane chợt nhớ chiếc khăn lông nàng bỏ quên. Tôi chạy trở lại kiếm, biệt tăm dấu vết. Có lẽ gió đã cuốn bay ra biển, xa thật xa, trôi mất. Không còn bao giờ tìm thấy nữa, chiếc khăn choàng đã bỏ quên trên bãi muộn Thiên Thần. Những con ruồi say nắng chiều nay rụng cánh nằm chết trên bàn tay ấm áp của mùa hè đang giã biệt. Trong đêm tối, tiếng tây ban cầm mất hút trong tiếng rập rình của toa xe lửa đen ngòm mang chúng tôi trở về Paris.

Tôi và Diane dọn trở lại Xóm Học, đường Soufflot, gần Panthéon. Tiền túi đã cạn. Diane đưa tôi cái áo da hoẳng của nàng bảo cầm thế xài đỡ. Tôi về Viện tìm Lộc. Hắn gạ bán được áo cho một cô sinh viên từ Sài Gòn mới qua, thích áo da hoẳng. Chúng tôi lại dắt nhau đi ăn mì dơ. Sau đó Diane tìm được một chân giữ két cho một tiệm cà-phê ở ngoại ô Paris. Mỗi buổi chiều tối, tôi ra đón nàng ở métro Saint Michel, gặp nhau ôm cứng, mừng ghê. Hai đứa dắt nhau đi dọc theo bờ sông Seine, mỗi đứa cầm trong tay một cái xăng-uýt, thơ mộng ra phết. Chúng tôi ngồi ở băng đá bờ sông ngó qua bên kia nhà thờ Notre Dame. Gió trên sông Seine thổi hiu hiu, đêm xuống mát lạnh. Tôi rùng mình: tháng chín, đã cuối mùa hè. Chắc tôi sẽ chết trong mùa đông ở Québec, như cành cây khô héo. Tuyết dầy lên một thước, không cần ai chôn tôi, thân thể đông cứng, mắt mở trừng trừng. Tôi choàng vai Diane xoa nắn. Tôi dạy nàng bài hát “Tiễn em” thơ Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy phổ nhạc.

“Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế, trời mùa đông Paris, suốt đời làm chia ly…” Diane cố gắng phát âm tiếng Việt. Hát đi hát lại, nàng dần dần thuộc lòng. Tuy nhiên, có đoạn không được như ý: “Xao zơi zớt zùng… vai em uốc mầm, em ơi kót đi em! Kót đi em! Kót đi em…” Nghe đứt ruột, tiếng ca của mầm non Ngọc Ễnh! Tôi hôn nàng khuyến khích. Ngồi trên ghế đá mân mê nhau thú vị kỳ lạ hơn ở trong buồng. Nàng xúi tôi nên viết văn vì nghe Lộc nói tôi ưa viết lách, làm thơ. Tôi lấy viết bic vẽ lên năm đầu ngón tay mình năm chữ D.I.A.N.E. Nàng cũng vẽ lên năm đầu ngón tay nàng bốn chữ K.I.E.T. và một trái tim. Chúng tôi áp tay vào nhau cười rút rít. Chúng tôi nói chuyện rất lẩm cẩm, không hề nói về ngày chia tay sắp tới, hay hứa hẹn tương lai gì hết.

Cuối tuần nàng được ứng trước chút đỉnh tiền. Tôi dự định sẽ đi ăn một miếng sườn heo chiên đã thèm quá lâu. Nàng dắt tôi đi coi phim “Mystère de L’Araignée Verte”, một cây nhền nhện xanh dờn. Trong phim có nhiều bài ca hay hết chỗ chê. Nhứt là bài “Comme au premier jour” do Jacqueline Boyer hát. Vãn hát, còn chút tiền lẻ nàng mua cho hai đứa hai cây cà-rem sô-cô-la hạt dẻ, xong chui vào hiệu cà phê nghe Louis Amstrong ca giọng khàn, đánh banh điện một chút sạch trơn. Lúc đó tôi mới biết hết tiền. Ô-voa cái sườn heo, cũng như đã bái-bai con gà rô-ti ở biển. Tôi đói bụng quá nên cằn nhằn. Nàng nói tôi sao tối ngày chỉ nghĩ tới chuyện ăn. Tôi tức quá đứng lại hét lên giữa phố Saint Michel: “Phải! tôi ham ăn đó! Rồi ai làm gì tôi?” Người đi đường quay lại ngó. Nàng kéo tay tôi đi, tôi dùng dằng, xô nàng chúi nhủi. Nàng tựa vào tường khóc thút thít. Nàng nói:
– Em có chút tiền dắt anh đi chơi mà anh cũng không bằng lòng…
Tôi nắm tay Diane lôi đi, nàng trì lại. Tôi dọa đánh đòn, nàng mới chịu quẹt nước mắt theo tôi. Về tới khách sạn, tôi vẫn còn hầm hầm. Đèn trong hành lang vụt tắt tối đen. Diane đấm ngực tôi thùm thụp, thét khóc rồi ngã quị ở cầu thang. Tôi đỡ nàng dậy, hai đứa ngồi ở bực cầu thang, nàng vẫn sướt mướt, xung quanh tối thui. Tôi ôm đầu nàng hôn lên tóc, lòng hối hận vô cùng. Tôi lầm thầm xin lỗi, nàng vẫn còn thút thít. Tôi dìu nàng lên cầu thang. Nàng để nguyên quần áo chui lên giường. Tôi kéo chăn đắp cho nàng rồi ra cửa sổ ngồi hút thuốc. Đường phố bên dưới đã thưa người, thỉnh thoảng đôi cặp tình nhân qua lại. Họ có phải sắp xa nhau ngàn trùng như tôi và Diane? Nàng sẽ ra sao? Nàng sẽ chết vì quá yêu? Hay nàng sẽ trở lại với Đức, hoặc Lộc? Hay nàng sẽ rời bỏ Paris? Nàng sẽ làm gì để sống? Hay tôi sẽ rước nàng sang Canada khi học xong? Chỉ là những có thể và có thể. Nàng thở đều, có lẽ đã ngủ say. Sợ đánh thức nàng, tôi để nguyên quần áo nằm xuống sàn nhà cạnh chân giường.

Nửa khuya, tôi chợt cảm thấy nghẹt thở. Tỉnh ra thấy Diane đang nằm trên ngực tôi, lưng trần, da ấm mướt mịn. Tôi vuốt ve gáy nàng, nàng rù rù như con mèo hạnh phúc. Tôi kéo mặt nàng lên gần mặt tôi, nàng hôn tôi, đầu lưỡi đút sâu trong miệng sục sạo như đêm đầu ở hầm nghe nhạc blues. Tôi lần tay xuống mông nàng tròn trĩnh êm mượt như nhung. Tôi ấn mạnh cho hai phần nóng sốt được gần gũi. Tôi tự giải thoát bên dưới. Mềm ấm nhung ướt. Diane đã dính với tôi làm một, nàng rên khẽ “em yêu anh… chết em… thôi anh…” tôi ghì siết hai ngực dưới của nàng, nàng cử động trên thân thể người tình, mê sảng, nói nói…

Tôi đánh điện cho thằng bạn ở Canada; “Nếu còn muốn thấy mặt tao, gửi ngay 150 đô la”. Tôi nhận được tiền ba ngày sau, đủ để mua vé tàu thủy từ Le Havre trở về Québec trong tuần tới và sẽ nhập học trễ một tuần, cuối tháng Chín. Thấy tôi thích áo len đen có lông xoắn nàng mặc đêm hôn nhau lần đầu ở Xóm Học, Diane mặc áo đó luôn trong tuần lễ cuối. Nàng nói như vậy anh sẽ nhớ hơi em khi mặc áo ở Québec mùa đông tới. Tôi đè nàng xuống tụt quần lót để giữ làm ky niệm, nàng dẫy nẫy không chịu, nói “dơ” lắm. Nàng bù vào đó bằng cái Jupon tơ óng màu trắng ngà, bên dưới có kết ren. Tôi ngỏ ý xin nàng một lọn tóc nâu. Diane chỉnh là tóc nàng màu auburn chớ không phải màu nâu, cũng không phải màu vàng. Tuy nhiên nàng cũng chịu ngồi yên cho tôi lấy kéo cắt một lọn tóc. Nàng lấy sợi chỉ buộc lại, bỏ vào hộp kẹo mùi anis màu xanh bạc, kẹo đã ăn hết.

Ngẫm nghĩ một hồi, bỗng nhiên nàng tháo váy, cởi quần lót ra, tôi tưởng nàng đã đổi ý muốn tôi giữ mùi hương thầm kín của nàng. Nhưng không, nàng cầm kéo quay mặt vào tường lúi húi. Nàng cắt tặng tôi một cụm cỏ ở gò tình, cũng màu auburn nhưng nhạt hơn và xoắn tít như lông cừu. Nàng bảo tôi nhổ cho nàng sợi tóc, nàng buộc cụm cỏ, bỏ vào hộp thiếc đậy nắp lại. Tôi cảm động thấy thương nàng hết sức. Tôi cúi mặt hôn lên gò tình của nàng, còn nghe dư hương của mùa hè đã hết . Sao tôi không là con ruồi say nắng rụng cánh nằm chết ở bãi Thiên Thần? Chết đi! Mày chết đi!

Còn bốn ngày nữa tôi giã từ Paris, nàng xin nghỉ việc để ở nhà chơi với tôi. Ngày thôi việc nàng bảo tôi đừng đi đón vì nàng sẽ về muộn, hoặc sớm hơn không biết chừng, nhưng dặn tôi phải ở khách sạn chờ nàng suốt buổi chiều. Tôi ngoan ngoãn nghe theo, nằm trong buồng đọc báo lăng nhăng chờ đợi. Khoảng năm giờ cửa phòng sịt mở, Diane đã về! Nhưng không phải Diane tôi thấy thường ngày. Nàng rực rỡ, mê man. Tóc nàng chải phùng ra hai bên và phía sau thật xinh xắn. Mắt nàng sâu thẳm đa tình, môi nàng tô son màu cam nhạt như cong cớn mời hôn. Nàng rất đàn bà. Cả người nàng toát ra chất đàn bà. Thấy tôi dựa lưng trên giường ngó chết trân, nàng đến ngồi cạnh tôi hôn lên trán, người nàng thơm phức, nói hôm nay em đi tiệm chải tóc làm đẹp cho anh… yêu đó. Tôi chỉ muốn vật nàng xuống hôn lên đôi môi mời mọc đó và gặm nhấm mình mẩy thơm tho của nàng cho đã thèm, nhưng sợ làm hư mất dung nhan, nhoẹt nhòe son nhạt. Nàng bảo tôi tắm cho nàng, vì trong buồng chẳng có bồn tắm lẫn vòi nước phun. Tôi âu yếm cởi quần áo cho nàng, chưa bao giờ tôi nghiêm chỉnh như vậy. Tôi có cảm tưởng nếu làm mạnh tay nàng sẽ tan vỡ như pha lê, nhan sắc biến mất như mây khói, và tôi sẽ ăn năn một đời. Tôi yêu, tôi quý, tôi thương… không! phải nói là tôi cưng. Tôi cưng nàng. Tôi muốn chìu chuộng nàng đủ mọi thứ, nàng muốn gì tôi cũng cho hết, ngay cả hơi thở, ngay cả mạng sống của mình.

Tôi đưa tay cho nàng vịn bước lên đứng trên bidet, chậu rửa dành riêng cho đàn bà, biểu tượng sự tế nhị của nền văn minh rất Pháp. Một tay nàng che ngực, một tay nàng che gò tình, cử chỉ muôn đời của Vệ Nữ từ thuở hồng hoang nàng bước xuống trần, để cho bụi hồng vướng gót son, và đàn ông vì nàng mà mê mệt, họa sĩ vì nàng mà vẽ tranh, thi sĩ vì nàng mà làm thơ, văn sĩ vì nàng mà viết chuyện tình không bao giờ kết thúc nổi. Tôi hứng nước trong ly mủ ở chậu rửa mặt xối lên người nàng. Nàng rùng mình ngửa mặt ra sau, động tác gợi tình tuyệt vời của con thú cái. Tôi kỳ cọ cho nàng, nàng xuôi tay đón nhận sự mò mẫm vuốt ve mơn trớn. Hương nắng còn đọng trên da lụa, tay khua tưởng đánh thức mặt trời, dục lên sóng biển và điệu tây ban cầm sẽ phả ra từ khung cửa sổ khuất kín của nàng. Dấu cỏ mất còn đó. Dấu bầm trên vú trái còn đó. Lời thề yêu em suốt đời còn đó. Tôi nựng nịu gò tình. Hôn lên ẩm ướt. Yêu. Yêu. Diane rùng mình. Sợ nàng lạnh, tôi lấy khăn choàng lên ủ cho nàng. Anh cưng em, có thể vì em mà chết được, biết không Diane?

Tôi đặt nàng nằm sấp trên giường, không muốn làm hư mái tóc mới chải. Tôi lau khô nàng. Mặt nàng nghiêng về phía tôi, hai tay soài tới trước, một bên vú bị cấn vun ra, làn da dưới nách nhũn mềm quyến rũ. Vai trái nàng còn hằn vết dây vải áo ở biển, vệt trắng mờ không ăn nắng. Tôi hôn lên gáy nàng, môi lần xuống thung lũng giữa hai vai mềm nhô lên, thung lũng đổ thành lòng suối giữa hai bờ lưng nhỏ, lòng suối trũng sâu thành hồ khuyết dưới đồi mông. Lưỡi thả lênh đênh trên dòng suối đa tình…

Hơi thở nồng nàn chụp phả nắng ấm hơ sưởi đồi xuân, trên đỉnh đồi còn in dấu tam giác trắng tinh khuất nắng. Hai dốc đồi hun hút đổ xuống một khe thung lũng thẳm sâu, chân nàng khép hờ, cỏ óng vàng bắt đầu xuất hiện lơ thơ e dè dưới đáy lũng. Áp má dưới chân đồi, mắt thôi miên bởi bông hoa thầm kín. Lần trở lên đồi, môi hôn di chuyển ngược cuộc hành trình dọc theo lòng suối trở lại lòng vai, nơi vùng lông măng mịn màng tiếp nối tóc mai sợi nhỏ từ gáy thả xuống. Tôi nằm phủ lên người Diane, gối tì giữa hai đùi tươi chắc, hai tay luồn dưới nách vòng lên kìm giữ đôi vai thon nhỏ, môi áp lên gáy nàng, động tác tự nhiên của con thú đực cắn giữa da cổ thú cái khi làm tình. Nàng ưỡn đồi lên, bông hoa dưới lũng kín đón nhận trận mưa tình. “Thôi anh… chết em… đừng… đừng…” lời xô đẩy trở thành tiếng réo gọi mời mọc cuốn hút không thể kham hãm dừng lại gọi về. “Nữa… nữa đi… chết em…” đắm đuối mê ngất. Đất trời lãng đãng. Sao vỡ trong lòng ngân hà. Lũng yêu khơi dòng suối trắng, nơi đời sống bắt đầu…

Diane nằm tựa má lên ngực tôi, ngón tay mơn trớn đầu vú dịu dàng tinh nghịch. Tôi châm điếu thuốc mơ màng nhìn ra cửa sổ sau làn khói xanh uốn éo. Chỉ còn một tuần nữa là hết mùa hè, trời tối nhanh hơn mọi bận. Dân Paris đã dần dần hồi cư về thành phố của mình, tiếng động cơ xì xầm nhiều hơn mọi chiều. Tôi bỏ đi đành sao? Không lúc nào tôi và nàng nói về cuộc chia tay sắp tới. Không có gì để nói? Hay vì khiếp sợ? Chúng tôi không phải là cặp tình nhân đầu tiên bị chia cách, cũng không phải là cặp tình nhân cuối cùng. Nhưng vẫn khiếp sợ. Diane ru se sẽ điệu Tiễn Em “Hôn nhau phút này, chia tay tức thì, em ơi! khóc đi em… khóc đi em… khóc đi em…” Biết bao giờ còn được ngồi bên sông Seine dạy cho nàng hát? Có lẽ nàng đang nghe tim tôi đập mạnh.

Bỗng Diane ngồi dậy bật ngọn đèn vàng ở đầu nằm, bước xuống giường đến mở tủ lôi ra chiếc váy lót bằng lụa trắng mỏng có kết ren mặc vào che phần dưới, ngực nàng vẫn để trần. Đoạn nàng lấy đôi ballerines mua hôm ở Pantin xỏ vào chân buộc lại. Nàng nhón chân ướm thử, sửa lại cho vừa rồi bắt đầu đi mấy bước. Hai tay nàng vòng cao trên đỉnh đầu, những ngón tay cong uốn, nàng xoay vòng vòng trên đầu ngón chân. Nàng hát nho nhỏ: “Comme au premier jour, toujours toujours, le printemps refleurit, quand tu souris, et me donnes la joie…” Nàng xoay chiều này rồi xoay ngược trở lại, váy lụa mỏng xòe ra, mong manh sương khói, mắt nàng say sưa tha thiết đa tình “… Comme au premier jour, toujours toujours, nous irons tous les deux, heureux heureux …” thỉnh thoảng nàng dừng lại, nghiêng vòng tay sang phải rồi nghiêng sang trái, chân giở cao trong không khí, nhẹ nhàng để xuống, lụa trắng phơi phới, tưởng chừng một cơn gió lớn bất chợt thổi tới sẽ cuốn nàng bổng lên không trung bay mất. Anh sắp mất em rồi đó Diane ơi! Em có biết?

Nhưng chậm thế nào rồi cũng phải chia tay… Câu thơ ai đó đã viết. Tôi còn nợ khách sạn một tuần chưa trả. Tuy vậy tôi vẫn hỏi Diane có cần gì không? Nàng nói không, chỉ cần hai vé métro, một để ra về sau khi tiễn tôi ở sân ga, một để di chuyển sau đó (đi đâu?). Sau này, lúc nhập học ở Québec, thư Lộc cho biết khi bán được máy ảnh, Lộc trở lại tìm Diane ở đường Soufflot. Nàng đã rời khách sạn ngay bữa tôi giã từ Paris, còn gửi một va-li nhỏ hẹn trở lại lấy và thanh toán, nhưng đã ba hôm rồi không thấy bóng dáng. Lộc trả tiền khách sạn, nhận va-li về mở ra thấy một ít sách báo cũ, một ít quần áo chưa kịp giặt của tôi và Diane, và bức chân dung nàng vẽ tôi bằng bút chì hồi ở biển. Dấu Diane biệt mù.

Tôi lấy xe lửa từ ga Saint Lazare ra hải cảng Le Havre rồi từ đó lên tàu thủy vượt Đại Tây Dương về Québec, xứ tuyết. Tôi rời Paris vào xế trưa, mùa hè đã hết dù trời còn nóng hổi và nắng tươi tốt. Chúng tôi lấy taxi ra nhà ga. Lộc một bên, Diane một bên, tôi ngồi giữa như một tội nhân người ta đang áp tải đi lưu đầy. Lòng rã rời mệt mỏi. Xe băng qua sông Seine rồi chạy quanh co trong thành phố, vượt qua những bức tường nắng chói chang, những cửa sổ dài mở rộng, những bao lơn sắt đen vân vi, và chim bồ câu vỗ cánh xập xòe. Nghĩ thầm đây là lần cuối qua con phố này. Đây là lần cuối nhìn thấy Paris. Đành vậy sao? Xe ngừng, rồi vọt chạy, rồi lại ngừng, rồi lại vọt chạy. Từ xa, chóp màu xanh rêu của mái Opera đã thấy xuất hiện, tới gần, vượt qua rồi xa khuất. Xuống xe ở nhà ga, Lộc xách va-li lớn, tôi đeo túi da nhỏ đi theo mọi người, cái xác không hồn buông trôi dật dờ theo dòng người lũ ra từ bốn phía. Tôi khựng lại, rồi bị kéo đi, như đứa nhỏ trong ngày tựu trường.

“Ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn khóc, nói chi cũng muộn màng…” Ga Saint Lazare cũng đèn vàng, nhưng tôi không khóc, Diane cũng không khóc. Tìm chỗ ngồi và chất hành lý xong, tôi trở xuống ga đứng cạnh Diane. Sực nhớ tôi bảo Lộc đưa cho nàng hai vé métro. Lộc không còn một cắc. Tôi đứng lớ ngớ bên nàng không nói gì, cũng không nắm tay, không hôn hít, không ôm ấp, cũng không dám ngó nhau, chỉ sợ… (sợ gì?). Tôi muốn bỏ chạy, chạy về Xóm Học. Và tất cả sẽ lại bắt đầu: khiêu vũ, yêu đương, đi biển, làm tình… rồi trở lại nhà ga, rồi tôi lại bỏ chạy… Trong người choáng váng uể oải. Chợt xe lửa hú còi. Tôi ôm Diane rồi buông lẹ ra, người nàng lạnh ngắt. Không dám bịn rịn. Đôi mắt nàng kẻ mực tàu đen mở to, nhìn trân trân khoảng trống, ráo hoảnh, không có nước mắt.

Tôi leo lên xe lửa, ra bên cửa sổ thò đầu ra. Tôi để ý bữa nay Diane mặc váy lục thẫm và áo tím nhạt như thuở ban đầu. Trên sân ga, Diane vội bước tới đưa tay cho tôi nắm. Một người đàn bà chợt đi ngang, Diane hụt tay lùi lại. Xe chuyển bánh, Diane bước theo, tôi nhoài người ra vói, không đụng tay Diane, nàng thoắt dừng lại, mặt tái nhợt, môi xám ngoẹt, rồi nàng lùi dần… lùi dần… Hình ảnh Diane với quần áo màu sắc ngày đầu nhỏ lại trên sân ga dài tít mù rồi chợt biến mất lúc xe lửa uốn mình qua một khúc quanh. Tôi hoảng hốt. Mất nàng thật rồi sao?

Tới Le Havre, tôi một mình xách va-li, đeo túi nhỏ leo cầu thang dẫn lên tàu. Tôi đứng trên boong tàu ngó dáo dác xuống đám người tiễn đưa láo nháo dưới bờ, tưởng chừng sẽ bắt gặp màu áo tím nhạt và đôi mắt kẻ đen xếch lên ở đuôi. Tôi gọi thì thầm Diane! Diane… Nhiều bàn tay vẫy dưới kia. Tàu xúp-lê một. Tôi chết điếng. Phóng nhìn xa hơn, tôi cũng không rõ Paris nằm ở hướng nào. Trước mặt? Hay bên phải? Bên trái? Tháp Eiffel không đủ cao cho tôi ngó thấy. Tàu xúp-lê hai. Tôi hoảng hốt đứng nhỏm dậy định quăng va-li, liệng túi da xuống biển và ù chạy xuống đất liền. Diane! Anh muốn ở lại với em! Thủy thủ đang rút cầu dẫn hành khách lên tàu. Hết! Xúp-lê ba, tàu từ từ rời bến. Hết thật rồi! Tôi ngồi bệt xuống va-li, ôm mặt khóc ngất, khóc ồ ạt. Tôi thấy mình hèn. Hai tay nắm thanh sắt tròn gục mặt trên lan can. Hồi lâu, bỗng có ai vỗ vai. Tôi ngó lên. Người sĩ quan hàng hải thấy tôi nước mắt ràn rụa, vội vàng xin lỗi và quay gót. Ruột tôi quặn thắt, đớn đau như bị vọp bẻ. Xin giã từ em! Xin giã từ xứ Pháp!

Tối hôm đó tôi nằm lì trong ca bin, nhớ Diane quá sức. Tôi nằm úp mặt thở trên cánh tay mình, hơi thở dội lại làm nhớ những lần tôi hô hấp trên người nàng, trên ngực, trên mông, trên gò tình… Nhớ chết được! Áo len đen nàng cho, tôi mặc dính trên người còn đầy hơi hướng, tưởng chừng nàng đang gối đầu dưới nách.

Tôi cố hình dung nàng đang làm gì giờ này ở Xóm Học. Nàng đang ngồi ở hiệu cà phê nghe nhạc, hay đang nằm khóc lặng lẽ một mình trong khách sạn? Nhớ nốt ruồi dưới mắt em như một nốt nhạc buồn. Đầu óc đặc cứng, tôi không nghĩ được gì khác hơn nữa. Tàu bắt đầu đi ra biển.

Phải mất sáu ngày sáu đêm liền mới vượt hết Đại Tây Dương. Tàu chạy vòng lên mạn Bắc Cực. Có hôm nhìn thấy những khối băng tảng khổng lồ trôi lờ đờ phía xa, có hôm gặp đàn cá voi phun nước giữa biển. Mọi người reo hò thích thú. Tôi như người đã chết, chẳng còn tha thiết gì nữa. Đêm nào tôi cũng la cà ở bar hoặc phòng khiêu vũ dành cho hành khách chơi khuya. Một đêm, hai đêm, rồi ba đêm, đêm nào tôi cũng say khướt. “Ồ say thương nhớ vô cùng, rượu hay lệ ướt khăn hồng chị cho…” Đêm thứ ba ngồi ở phòng khiêu vũ, tôi lại say khướt. Nhảy điệu gì tôi cũng nhớ Diane, nhảy slow tôi lại càng nhớ Diane ác hơn nữa. Tôi chết mất. Tôi mở cửa rời phòng khiêu vũ bước ra ngoài boong tàu, người loạng choạng. Trời sáng trăng, đằng xa tít ẩn hiện khối trắng đồ sộ của băng tảng. Tôi ra sau đuôi tàu ngó xuống biển sủi ùn ụt ở chân vịt, bọt nước trắng xóa kéo thành vệt dài khuất chìm ngoài xa tối. Tôi hết muốn sống. Tôi sẽ nhảy xuống đại dương.

Tôi gọi thầm tên Diane rồi choàng một chân qua lan can tàu. Một tiếng nước vỡ! Mặn cứng. Tôi chỉ nghe một tiếng nước vỡ chát chúa bên tai, rồi mặt biển khép kín lại, hòn sỏi chìm xuống đại dương, không ai biết, không còn ai nhắc nhở, không còn ai nói tới… Chợt một cơn gió băng giá từ Bắc Cực ào xuống. Tôi lạnh cóng rùng mình, cơn say loãng đi trong buốt giá. Tôi khựng lại. Diane! Anh còn muốn gặp em! Tôi rụt chân về. Trời lạnh buốt. Tôi chạy trở lại chui vào phòng khiêu vũ. Ngồi vào chỗ cũ, run cầm cập, tôi ực ly rượu còn sót lại trên bàn cho bớt lạnh. Dàn nhạc chơi những bản nhạc quen. Tôi ngỡ thấy Diane đang nhón người trên các đầu ngón chân khiêu vũ giữa sàn nhảy, nàng xoay vòng, váy lụa trắng xòe ra như giấc mơ chưa tan loãng. Nụ cười với chiếc răng gẫy tội nghiệp như Fantine. Ngực trần trắng muốt, cánh tay uốn éo trên đầu, những ngón tay mềm mại ẻo lả. Comme au premier jour, toujours toujours, je revois le matin où le destin t’a mise sur mon chemin… Ôi biết bao giờ! Mai kia mốt nọ một mình tôi đương cự với mùa đông tuyết phủ kín trời. Nụ cười Diane lùi khuất xa dần trong bóng tối. Và trong bóng tối con quái vật cô đơn đã lù lù ngồi đó đợi tôi tự bao giờ, như một kẻ thù thân mật. Người con gái ngồi bên cạnh bước ra sàn nhảy. Tôi ôm mặt khóc.

KIỆT TẤN

tháng mười một

hienmay

tháng mười một
sót cơn mưa
ghé qua rủ gió đầu mùa về thăm
trọn thao thức… mắt đăm đăm
nghe trăm ngọn tạt chỗ nằm
nhắc tên

những ngày hai đứa còn bên
dư hương quanh quẩn đó
quên sao đành
trong miền nhớ
vẫn còn dành
mênh mông cõi rất lòng lành từng trao

hạt phơn phớt… mà quất đau
vào tim để tận ngàn sau thương hoài
đêm nay… mây nhẹ gót hài
đi… không cho biết
vì ai
hủy mình

rơi trên gò má… lung linh
giọt trời… nhỏ xuống
giọt tình
thoát thai… .

HIỀN MÂY

️ TA YẾU HÈN NHỎ CÓ GIẬN GÌ KHÔNG

trantuan

Mưa rất nhẹ
và đèn khuya ánh nhạt
Giữa đêm hoang ta bất chợt giật mình
Ai như nhỏ về ngang qua cơn mộng
Cho đất trời ta cuộn nỗi gió giông.

Từ độ ấy…
tạ tình xa biền biệt
Đã nghìn đêm ta mắt mỏi đợi chờ
Thương dáng nhỏ gầy hao mùa sương tuyết
Vạn nỗi niềm ta gửi trọn vào thơ

Nhỏ nhỏ ơi,
ta nhớ mùa yêu ấy
Giờ trường tan hai đứa bước chung đường
Cơn lửa hạ đốt tiêu mùa phượng vĩ
Để bây giờ trăm hận rối ngàn thương.

Đêm rất lạnh
nhỏ về qua trường cũ
Gót ngoan xưa sao bối rối ngập ngừng
Niềm yêu thương chợt trào dâng mắt đỏ
Ta yếu hèn
nhỏ có giận gì không?

Đêm rất lạnh
và đời đi rất chậm
Bước lưu vong cho đến tận cuộc đời
Hoàng hoa ấy làm sao tìm gặp lại?
Xin khóc cười với nhỏ một lần riêng!

Trần Tuấn

Những Vì Sao Thứ Nhất

maithao

Năm mười bảy tuổi, tôi đã sống rất nhiều với những vì sao. Tôi đã gọi chúng là những vì sao của Diệu. Tại sao và tại sao bây giờ tôi nhắc lại những vì sao cũ, tôi sẽ nói ở dưới. Dạo ấy, chúng tôi ở phố Hiến. Căn nhà lá của cụ lý Bằn – người chủ trọ – khoảng vườn nhỏ cạnh bờ ao biến thành một đài thiên văn nhỏ, đêm nào chúng tôi cũng ra ngồi ở đó, tâm hồn thơ dại mở những lối đi lên những đỉnh trời. Tập thơ đầu tiên của tôi với bài đề tựa của Diệu – không bao giờ được in ra – lấy tên là Phương Sao. Những vần thơ thứ nhất viết vào những giờ phút thao thức dưới ngọn đèn nhỏ, trong đêm tỉnh lẻ không cùng, trang giấy trắng muốt là một khoảng không gian rộng bằng thế giới của những vì sao. Thường thường tận khuya chúng tôi mới từ ngoài vườn trở vào nhà. Đêm lạnh buốt. Liếp mỏng. Hoa lá ngoài vườn thơm một hương thơm quái đản. Những ngọn cỏ tối chân bờ ao thân mật gần gũi như những linh hồn người. Không khí liêu trai xuất ra từ những gốc rêu đất ẩm lạnh. Những vì sao tưởng như còn đi xuống nói chuyện vũ trụ và đời hành tinh lạnh lùng với những khoảng tuyết băng ngời ngời trên cao.
Tuổi mê sao, coi trăng là bạn và đường đi là con sông Ngân Hà lấp lánh, ánh sáng mơ màng choán ngập tâm tưởng tôi, trên những trang sách tôi, vào tận giấc ngủ. Trường chúng tôi ở Hà Nội dọn về sau mấy trận oanh tạc kho đạn Nhật Bản ở Gia Lâm, bấy giờ là vào khoảng cuối năm 1944. Nên trời đã thẫm màu của một thời chiến đã bén lửa có bóng những chiếc pháo đài bay hai thân từ duyên hải tiến vào không phận thành phố phòng thủ. Trái bom dữ dội làm phát hỏa cả một góc cổng thành Cửa Bắc. Hai hôm sau chúng tôi đóng cửa trường ra bến Phà Đen.
Tôi gặp Diệu lần đầu tiên trên chuyến tàu đêm dời Hà Nội lúc hai giờ sáng. Nếu Diệu còn sống, tôi cũng vẫn nhớ được trọn đời chuyến tàu đêm ấy. Nước chảy bồng bềnh. Bóng tối dăng dăng. Tiếng còi dời bến nức nở. Diệu chết, chuyến tàu, tiếng còi, bóng tối sống lại trong tôi thành những hình ảnh vĩnh cửu của tuổi mười bảy. Đêm nay tưởng nhớ lại những vì sao cũ tôi đi lại trong tưởng tượng một chuyến tàu trong đêm Hồng Hà. Tôi đã mất Diệu, xa Hồng Hà và những vì sao cũ.
Vậy là buổi chiều ấy, một chuyến tàu đã dời Hà Nội. Còi hú dài đập vào những bãi vắng không nhìn thấy. Tiếng nức nở là những âm thanh vĩnh biệt. Nhịp đẩy đưa bồng bềnh của nước chảy dưới gầm cầu. Nước chảy xuôi, bánh lái chân vịt quay trở lại. Tôi đón nhận ấn tượng thứ nhất về thời gian trong chuyến đi lần đầu. Tôi nhớ lại từng chi tiết. Tàu đi đã lâu. Những ánh nến được đồng loạt đốt lên. Chúng tôi là bốn trăm người không ngủ. Tiếng nói chuyện thì thầm từ đầu đến cuối mũi tàu. Đêm mùa đông vải bạt phủ kín tứ phía. Từ buồng máy hơi than lửa bốc lên ngột ngạt. Tôi không ngủ được cũng không xem được cuốn tiểu thuyết mang theo và cũng không góp chuyện được với lũ bạn hữu. Sau cùng tôi đứng dậy lách khỏi đám thân thể nằm ngổn ngang vén bạt đi ra, lần về phía mũi tàu.
Tôi trông thấy Diệu lần thứ nhất. Anh ngồi quay lưng lại trên đống dây sắt. Lúc đó tôi chưa biết Diệu là ai nhưng một cảm giác thân thuộc đã vụt đến. Sự gần gũi của hai người cùng có một cái gì giống nhau trong một giờ phút đặc biệt vì nếu không có Diệu ngồi đó tôi cũng sẽ đến ngồi trên đống dây xích sắt và cũng quay lưng trở lại. Tôi đứng lại, không động, tay vịn vào thành sắt vây quanh đai tàu. Về sau, có một lần tôi cũng trông thấy một người ngồi như thế, trong một sân ga nhỏ đêm mưa phùn, chờ một chuyến tàu chưa đến, như một cái bóng một pho tượng đắm chìm trong im lặng. Tôi yêu những con người với những bóng hình thành tượng như vậy. Sự suy nghĩ triền miền lúc đó như đẩy ra khỏi hiện tại có giới hạn đến một thế giới nào chỉ có mình với mình không một liên lạc một vướng bận với chung quanh. Rodin lúc nặn tượng người suy tưởng chắc cũng có những phút tách rời như thế để sáng tạo trong những hình nét điêu khắc thần kỳ một con người đối diện với thế giới nội tâm của mình. Phút ấy tôi chắc Diệu cũng chưa lắng được hẳn vào suy tưởng. Bờ vai bờ lưng kia còn như bị đè nặng dưới một tâm sự: Hà Nội. Tôi cứ đứng yên lặng mà nhìn Diệu, thấy rằng một tiếng động nhỏ lúc đó cũng không thể tha thứ. Bóng Diệu in lên mặt sông đêm khuya thoáng gợn những bọt nước trắng như những sợi chỉ đứt. Tôi nghĩ đến một cái gì tương phản. Bên trong, bốn trăm gã học trò tản cư chụm đầu trên những trang tiểu thuyết, thì thầm nói chuyện hoặc đã ngủ say sưa mê mệt. Và bên ngoài, một người ngồi nhìn đêm, nhìn thời gian, ngồi trong một thế giới. Tôi thấy Diệu lạ lắm. Lúc đó tôi không còn nghĩ Diệu là một gã học trò nữa. Tôi vừa ngạc nhiên vừa kính trọng. Sau cùng, tôi tiến lại gần. Bước chân tôi vướng vào một cái gì, làm thành tiếng động và Diệu quay lại. Anh nhìn tôi thản nhiên, nhưng hai con mắt sáng lên như hai vì sao nhỏ. Tôi lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh, trên đống dây xích sắt đã lạnh buốt. Còn tàu vẫn chuyển đi. Một lát sau tôi đoán vào lúc tàu về qua vùng Bát Tràng, Gốm gì đó thì tôi đã được biết ít nhiều về Diệu. Tên anh, quê ở Sơn Tây và mới xin nhập học được nửa tháng thì trường phải thuyên chuyển. Thảo nào cùng trường mà chúng tôi chưa quen nhau. Tôi hỏi Diệu:
“Ngồi ngoài này lạnh lắm. Anh không buồn ngủ sao”.
“Không, Diệu cười. Ngày nhỏ đi thuyền trên sông Đáy tôi vẫn thức suốt đêm cho đến lúc ghé bến. Tôi thích nhìn sao”.
Yên lặng một lúc, Diệu nói tiếp:
“Không gì đẹp bằng những vì sao”.
Câu chuyện giữa chúng tôi thỉnh thoảng lại bị cắt đứt bằng những im lặng dài. Chúng tôi cùng nhìn xuống khoảng tối của sông dưới mũi tàu. Một lát, nhìn lên, tôi bắt đầu thấy những vì sao là đẹp. Nhìn sang Diệu, tinh tú đựng trong mắt anh và tôi không biết anh đang nghĩ đến điều gì. Người anh gầy, nhỏ. Anh mặc một chiếc áo dài đen rộng lùng thùng. Thôi nhìn sao, Diệu lại kể chuyện Sơn Tây cho tôi nghe. Thành đá cổ cũ hoang vắng, hào sâu cỏ lấp kín, buổi trưa tỉnh lẻ nắng mệt mỏi ngủ giữa những bóng bàng cao vút, tiếng bánh xe ngựa lăn vòng quanh cửa Tiền cửa Hậu và buổi chiều gió sông Hồng thổi vào thành phố với những chuyến xe hàng nặng nề từ mạn Trung Hà vào đỗ trong bến. Tôi hơi buồn cười về lối thuật chuyện của Diệu lúc đó. Sau này tôi mới khám phá thấy những tiếng xe cửa Tiền cửa Hậu ấy, những rãnh hào cỏ hoang ấy là những trang tiểu thuyết đẹp nhất tôi đã đọc được ở Diệu.
Đêm theo trường về phố Hiến sao cũng sáng và cũng nhiều lạ lùng. Sông Ngân Hà vắt qua chạm vào lòng sông cắt thành một ngã tư hào quang. Con tàu đi lâu vẫn không hết ngã tư ánh sáng. Một lúc nào đó Diệu chỉ tay bảo tôi:
“Chỗ kia sao xúm xít dễ đến hàng triệu”.
Quả thật chưa bao giờ tôi lại có cảm tưởng sao nhiều đến như thế. Về sau, đêm nào tôi cũng gặp những vì sao nhưng tôi chỉ gần chúng nhất, thấy chúng đẹp nhất riêng trong đêm đi tàu và gặp Diệu. Nền trời đen thẫm ở trên, con sông ở dưới sâu hút, tàu chuyển mình giữa hai màn sao, một của trời và một của nước. Chúng tôi ngồi ở giữa. Sương xuống càng nhiều, đêm càng lạnh, sao càng sáng rực rỡ. Vẻ đẹp của tinh tú đêm ấy nằm trong tâm tưởng người. Nhìn lên, vẽ những con đường tưởng tượng đến một hành tinh xa lạ hoặc là dạo những bước chân tưởng tượng giữa hai bờ sông Ngân, cảm xúc tôi đêm đó không phải thuộc về một ý niệm khoa học. Vũ trụ chỉ là một cảnh tượng đẹp lãng mạn, tôi không phân tích nổi với những vì sao bí mật quyến rũ. Con tàu vẫn đi. Tôi đã thức với Diệu như thế, nói chuyện thì ít ngắm sao thì nhiều, cho đến khi tầu cập bến Hưng Yên. Ánh sáng của lửa bến khác hẳn, đục, buồn và tầm thường. Rồi con đường lên thành phố hiện ra tăm tối qua những bãi ngô. Đất bồi ven sông rộng mênh mông. Đoàn học trò kéo dài. Diệu lùi xuống cuối đoàn đi bên cạnh tôi và câu chuyện về những vì sao vẫn chưa dứt. Tôi gợi chuyện. Diệu lại kể cho tôi nghe những đêm ở Sơn Tây, anh đứng ngắm sao hiện lên trên cổng thành. Anh nhớ có một vì sao lớn đêm nào cũng mọc rất muộn ở góc thành cửa Hậu, anh đã chờ đón như chờ một người bạn, ở một chỗ nhất định. Mấy năm sau anh không nhìn thấy vì sao ở chỗ cũ và khoảng trời thiếu vắng một điểm sáng như một sự thương nhớ đen. Tôi nghe chuyện càng thấy Diệu kỳ lạ.
Trời sáng mờ mờ khi chúng tôi đặt chân vào phố Hiến. Nền trời hồng hồng không còn một vì sao nhưng mà những vì sao đêm qua đã làm chúng tôi thân nhau. Tình bằng hữu giữa tôi và Diệu sau này vẫn có cái ánh sáng lạnh và hình ảnh thương nhớ của những vì sao đêm thứ nhất.
Nỗi buồn của Diệu thường trực. Trong suốt mười bốn tháng – thời gian lưu trú ở phố Hiến – không bao giờ tôi thấy Diệu vui. Trường học mới rất thích hợp với Diệu. Đó là một tu viện ba tầng màu xám đứng sừng sững giữa một bãi cỏ rộng sau chợ cách xa thị xã bằng một con đường đất đỏ lúc nào cũng lầy lội. Phía sau trường, thật xa, một con đê chạy dài, bóng những cây nhãn cao đều nhau kéo đi với những khoảng cách đều đặn. Tôi không quên được những đêm sao ở phố Hiến, cũng không quên được những bờ đê phố Hiến. Cỏ xanh mướt, lúc nào cũng tươi nõn, từ mặt đê thoai thoải đổ xuống chân đê, chỗ nằm lý tưởng cho chúng tôi những buổi trưa đến đó chia nhau mỗi người một gốc nhãn, nằm nhìn bầu trời biếc giữa những khoảng lá trống động nắng. Thật là những cánh lá thon mình thuyền của Huy Cận. Chúng đi vào tâm hồn Diệu u ẩn hoang vu mà tôi đã muốn so sánh với một tháp Chàm của Chế Lan Viên khi tâm hồn tôi mới chỉ có được cái thơ dại bỡ ngỡ của một vần thơ Nguyễn Nhược Pháp. Trong lãng mạn của tuổi thơ đã có tượng trưng của hồn. Tác dụng từ con người từ nếp sống của Diệu gửi tới chúng tôi, sắc thái sâu đậm nhất là bao giờ ở Diệu cũng như mở ra một cửa ngõ của suy tưởng chúng tôi theo đó đi vào những thế giới ảo tưởng vừa đẹp và vừa buồn. Đẹp vì nhiều ánh sáng. Buồn vì ít tiếng động. Ánh sáng của những vì sao, trong sự im lặng của đêm của vũ trụ. Nhiều khi nằm ở chân đê – chọn những góc khuất vắng, tôi đã mất hẳn ý niệm về thời gian, đến lúc rũ áo ngồi đây, buổi chiều đã xuống từ bao giờ mà không hay biết. Nắng xế thoi thóp trên mái tu viện. Những bờ ruộng kéo dài và trời sâu hơn. Một buổi chiều, Diệu đã chỉ cho tôi một dải nắng sắp tàn trên mặt cỏ. Và nói:
“Một đời được nhìn nắng đẹp vài lần thế này cũng đủ”.
Tôi không hiểu chữ “cũng đủ” của Diệu. Có lẽ bởi một linh tính nào đã báo trước cho Diệu, anh nằm xuống sớm, để những dải nắng chiều trở nên quý báu vì vĩnh viễn con người anh không nhìn thấy nữa, không lâu gì. Bấy giờ tôi mới thấy Diệu có lý và hiểu thấu đáo ý nghĩa hai chữ cũng đủ của anh. Hàng nghìn hàng vạn con người sống lâu gấp ba bốn lần cuộc đời ngắn ngủi của Diệu, chưa từng bao giờ ý thức và xúc cảm được về cái đẹp của một dải nắng, một vì sao. Họ chỉ biết là có nắng đấy có sao đấy, nhưng không biết thế nào là đẹp, và bởi vậy trời đất thiên nhiên chỉ là những đối tượng thờ ơ của một cái nhìn khách quan, vô nghĩa và ở ngoài. Điều càng làm cho tôi quý mến Diệu lúc sống, và sau cái chết của Diệu, thương xót anh mãi mãi, là bản chất buồn, nhưng sức sống của Diệu thật mãnh liệt. Chỉ như một cái bóng đi vào và ra khỏi rất thoáng rất mau giữa cuộc đời như là một cái bóng đựng một lượng sống chan hòa phát triển. Ở chỗ: Diệu chẳng những đã thao thức tìm kiếm một lối đi vào sâu trong sự vật, anh còn gửi cho sự vật lòng yêu mến chân thành. Thái độ này gắn Diệu vào với sự vật làm một. Những vì sao với anh là một. Dải nắng chiều bờ cỏ xanh với anh là một. Lúc anh là một thân cây. Lúc anh là một vì sao.
Sống với Diệu một thời gian, tôi đã viết những vần thơ thứ nhất. Tự nhiên, dễ dàng như gã học trò làm bài giữa trời đất. Cái gì thúc đẩy tôi? Có phải là trong lớp học thiên nhiên tôi ngồi chung ghế với Diệu? Tập thơ Phương Sao không bao giờ được in ra – tôi coi như là một phúng viếng gửi cho người bạn đã khuất – tôi đã đánh rơi xuống dòng sông Mã trước bến đò Lèn một buổi chiều có phi cơ oanh tạc vụt đến. Những dòng thơ mơ hồ không nhớ được nữa, nhưng mà những xúc cảm ghi nhận trong đó tôi nhớ chính là sự tiếp xúc đầu tiên của tôi với giấy mực với thiên nhiên qua con người Diệu. Ví như những âm thanh tôi nghe được qua hồn Diệu là tiếng vang núi. Bây giờ thì những xúc cảm tôi đã có thể tiếp nhận thẳng ở sự vật nhưng Diệu vẫn cứ còn nguyên vẹn là một sự thiếu vắng những lúc tôi chợt đứng sững một mình giữa một cảnh tượng đẹp làm mình ngây ngất. Diệu mang hình ảnh một ý niệm tổng hợp. Nếu mà người đàn bà thứ nhất vẫn gửi lại cảm xúc qua những người đàn bà khác tôi gặp nhiều về sau, thì Diệu cũng là cái đẹp đầu tiên ấn tượng tôi vẫn luôn luôn gặp lại trong những cái đẹp tôi đón nhận được bây giờ và mai sau. Trên nền trời của riêng tôi, những vì sao vẫn thay phiên nhau mọc lên trong ánh sáng tinh tú muôn vạn. Nhưng Diệu thì vẫn là vì sao thứ nhất.
Diệu chết năm 19 tuổi. Không phải ở Sơn Tây, cũng không phải ở phố Hiến mà trong cái ngõ hẻm số 5 cuối đường Khâm Thiên ngoài Hà Nội. Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Chúng tôi bỏ trường, người về Hà Nội người về quê. Bẵng đi khá lâu tôi không gặp Diệu. Đến lúc lên Hà Nội mới biết tin Diệu đã mất. Tôi hỏi thăm và tìm đến chỗ Diệu ở. Lúc bây giờ vào buổi trưa. Qua một phố lớn, ngõ hẹp mất hút giữa hai bờ tường xám. Tôi đã đứng lại rất lâu giữa lòng ngõ, nhìn lên khoảng trời cao. Một khoảng trời thành phố bé nhỏ lạ lùng. Tôi nghĩ đến những ngày cuối cùng của Diệu, ở ngõ hẻm, với một vài vì sao hiếm hoi họa hoằn mới hiện ra giữa hai chiều tường. Tôi gõ vào một tấm cửa đóng kín. Một bà cụ già ra mở cửa. Bà ngó tôi chăm chú. Sau khi tôi tự giới thiệu, bà gật đầu nói:
“Phải, cháu nó mất đã hai tháng. Bị bệnh đau phổi đấy ông ạ! Theo lời cháu dặn tôi chôn cất cháu ở một nghĩa địa ngoại ô. Cháu có gửi tôi một lá thư dặn giao lại cho ông”.
Tôi nghĩ thầm: Một vì sao đã tắt ở đây. Tôi theo bà cụ vào nhà. Căn buồng tối mờ mờ. Tường mái long lở cũ kỹ. Mấy chiếc bàn ghế đứng im lặng trên nền đất tối và lạnh. Tôi đứng rất lâu, cả người tê đi trong sự đợi chờ tiếp nhận lại một cái gì. Một cái gì của Diệu, một hình ảnh, một màu sắc quen thuộc. Cảm giác đau đớn rức buốt nổi lên trong tôi. Căn phòng không để lại một dấu tích nhỏ bé nào có thể chứng minh với tôi Diệu đã về sống và đã chết ở đây. Có thể nào được không? Nếu để tìm đến cái chết Diệu có thể về đây để chết, nhưng chỗ này anh không thể sống được, ở đây chẳng khác gì một tu viện bưng bít như một hầm kín. Căn nhà lạnh thiếu ánh sáng, bóng tối đọng lại trong mắt. Tôi nhớ cùng một lúc đến những đêm sao lấp lánh muôn triệu những bờ đê cỏ mướt những phiến da trời xanh trên đỉnh cây cái thế giới tâm hồn của Diệu ở ngoài kia, bên ngoài thành phố bên ngoài ngoại ô, bên trên mặt đường bên trên mái nhà, chỗ những khoảng rộng mà tầm mắt không bị thu hút, cái nhìn không bị giới hạn, ở đó con người thấy mình nhỏ như một hạt cát và cũng lớn như vũ trụ, bởi sống và ý thức được đầy đủ thế nào là cái đẹp của khoảng cao rộng, bên trong và bên ngoài mình.
Bà cụ mở một ngăn tủ trao cho tôi lá thư. Trang giấy ngắn cũng không có gì quan trọng. Diệu chỉ vắn tắt viết cho tôi, anh biết anh sắp mất và hy vọng tôi sẽ ra thăm chỗ anh nằm ở ngoài trời, một mình. Tôi gập thư lại. Hỏi chuyện bà lão già về những phút cuối cùng của Diệu, bà cho biết Diệu thao thức ít ngủ. Và trong tuần lễ sau cùng, luôn luôn đòi ra nằm gần cửa sổ. Diệu muốn thu vào trong đôi mắt hấp hối những vì sao một đời? Nhưng ngõ thì hẹp tường thì cao anh chỉ thể đoán thấy mà không nhìn thấy. Tôi nghĩ vậy. Nếu được lựa chọn, chắc Diệu đã muốn được nhắm mắt ở một mũi tàu trong chuyến đi đêm trên sông, hoặc trên một bờ đê cao, giữa những khoảng rộng. Trong một đêm rất nhiều sao sáng.

Nhiều năm qua đi. Phố Hiến cổ cũ, Sơn Tây đẹp buồn, những bờ đê cỏ mướt, không có bước chân tôi trở lại thăm viếng, vì xa cách và thiếu cơ hội. Tôi cũng đi nữa những chuyến tàu đêm trên Hồng Hà. Nhưng trước khi dời Hà Nội vào Nam, tôi có đến thăm mộ Diệu. Chia tay với người chết vậy mà cũng rưng rưng đau đớn như với người còn sống. Bà cụ già đã làm theo ý muốn cuối cùng của đứa cháu ngoại mất sớm. Mộ Diệu đặt trên một thửa ruộng cao. Trước mộ là đất trải đi mênh mông, và trời xanh không vướng khuất. Chiều đến thăm mộ bạn, tôi đã ngồi xuống bên cạnh nấm đất. Cỏ úa màu nắng chiều. Tôi quay lưng với Diệu trở lại thành phố. Cuộc sống của người ở đây ngắn ngủi vụt đi như một hành tinh lạc đường. Nhưng đẹp và trọn vẹn. Bây giờ Diệu, có thể hoàn toàn theo dõi những vì sao của anh. Nếu cõi chết là hình ảnh của đêm thì những vì sao đã thuộc của riêng anh. Tôi trở lại thành phố trên những con đường đã chạng vạng bóng tối. Đầu óc tôi váng vất một nhịp đẩy đưa bồng bềnh. Thời gian. Bánh xe lăn. Đôi cánh trắng muốt. Ý nghĩa trường tồn của một cái gì không vĩnh cửu. Và người bạn, như một vì sao, còn sáng mãi trong tôi.

Tôi sẽ không bao giờ nói trở lại những vì sao của Diệu – có những cái đẹp, đẹp đến nỗi người ta chỉ muốn giữ một mình và không muốn nhắc nhở tới – nếu tôi không tình cờ đọc một đoạn văn của một người bạn trong cuốn sách anh vừa tặng tôi chiều nay. Đoạn văn nói rằng thái độ trở về với dĩ vãng là một triệu chứng tâm hồn yếu đuối. Nhưng mà dĩ vãng nào? Đoạn văn không làm tôi để ý nếu người viết không đả động tới những vì sao: “Những vì sao đã tắt đêm qua như những sự gục ngã tối tăm. Con người phải đi trên đường đi của mặt trời”. Tôi lấy bút chì gạch dưới câu văn. Tự nhiên tôi nhớ đến Diệu, đến những vì sao cũ. Tôi mặc áo ra khỏi nhà. Qua những dãy phố chật hẹp, chồng xếp lên nhau ở trung tâm thành phố, tôi đi dần ra mạn bờ sông. Phố thưa dần. Mái nhà bờ tường cái nọ cách xa cái kia hơn. Những hàng cây những bóng điện thấp xuống. Rồi thì là sự hiển hiện cao vút đột ngột của vòm trời. Vẫn là một vòm trời thành phố nhưng một cảm giác rộng rãi đã trải ra trước mắt tôi nhìn lên. Tôi dừng bước trước bờ sông. Tôi ngồi trên một chiếc ghế đá. Đã lâu lắm, qua rất nhiều năm nhiều tháng ngày, những vì sao mới lại trở về qua ấn tượng thứ nhất. Chúng đang đi xuống tôi. Nhấp nháy, linh động như những tiếng nhắc nhở thầm. Tôi sống lại với Diệu. Tuổi mười bảy tập Phương Sao với những vần thơ không bao giờ được in ra. Giá trị của những sự kiện đã tàn hủy những ý nghĩa còn tồn tại. Cái đẹp khởi từ nguồn gốc cũ vẫn như một dòng ánh sáng thiết yếu cho đời người hôm nay. Tôi sống hôm nay, cũng không tách biệt được với những cái gì đã chết những người đã chết, với lịch sử với tâm hồn người đời đời. Nhát dao chặt đứt mình mẩy quá khứ thì thi thể của hiện tại cũng rách nát đau đớn. Ba phần thời gian chỉ là một. Tôi nghĩ miên man như vậy. Chung quanh tôi là thành phố, dòng nước chảy, những hàng cây, những mái nhà, vòm trời cao, đáy nước sao. Chúng tổng hợp lại thành một thực thể tổng hợp. Tôi không thấy một khởi điểm riêng lẻ nào. Những vần thơ tôi sẽ viết và sẽ được in ra sẽ còn cái hơi thở của tập thơ buổi đầu. Làm cái việc ôn lại đời mình qua những điều chắt gạn ở cuộc sống một người đã khuất, tôi muốn tự đặt cho mình một thái độ. Con người phải đi trên đường mặt trời hướng vào tương lai. Nhưng quá khứ đã làm tôi lớn lên. Tôi tưởng rằng nếu tôi có hàng ngàn năm để làm cái việc thu lượm những cái đẹp, những vì sao từ quá khứ gửi tới thì cái việc thu lượm đó sẽ không bao giờ hết. Và tôi đi đến một kết luận: Cái đẹp nào cũng chứa đựng một hình ảnh của quá khứ.

Cho tới lúc tôi dời bỏ chiếc ghế đá theo đường cũ trở về nhà thì đêm đã khuya. Gió mát rượi thổi qua thành phố ngủ yên. Trời đất bây giờ như đã hòa mình hẳn vào với những lòng đường. Bóng lá bóng nước. Những vì sao ở cùng với những hàng cây, những bờ tường, những biển số trong một khung cảnh gần gũi thân mật. Tôi đi giữa sự gần gũi thân mật này. Tôi tự bằng lòng tôi. Tôi thấy tôi bớt lẻ loi. Chợt nghĩ đến một cuốn phim xem đã lâu. Chuyện thuật lại những ngày trở về buồn rầu của một người quân nhân sau trận đánh nhau lớn, những đợt trọng pháo sấm sét dữ dội đã làm y mất trí nhớ. Y không nhận được gì nữa. Y không biết mình là ai, ở đâu. Người vợ chưa cưới ngày xưa chỉ là một trong muôn nghìn người đàn bà xa lạ. Gian phòng cũ, chỗ ngồi cạnh lò sưởi buổi chiều, chỗ ngồi buổi sáng ở ngoài vườn, những hàng cây những bờ thềm, tất cả những những hình ảnh quen thuộc ấy đều không giúp y nhận lại được nhà cửa quê hương, những người yêu dấu, mặc dù ở đó y đã sống những ngày thần tiên và thơ mộng. Y như giống người đến từ một hành tinh khác. Y đã mất quá khứ, như một thân cây mất rễ. Những ngày tháng về trước đã nhạt nhòa dấu tích, ấn tượng xa xưa chỉ là một vực đen sâu không cùng. Y sống cũng như chết. Y chết giữa cuộc sống. Tôi không muốn làm người quân nhân trở về sau cơn mê hoảng ấy, mất quá khứ, khiến cho hiện tại chỉ còn là một nghĩa địa một sa mạc và đời sống là một cực hình. Tôi muốn nhớ lại, luôn luôn được nhớ lại. Tôi nghĩ đến một thành phố hủy phá. Nhà đổ cây sập. Gạch đá ngổn ngang. Tôi trông thấy cái cảnh tượng hoang tàn đó những bầy thợ thuyền đang xây dựng lại nhà ở và đường đi. Tôi cũng trông thấy những đoàn người lang thang lần mò từ đống gạch này sang đống gạch khác trong một thái độ lầm lì đầy ý nghĩa, tìm kiếm lại những dấu tích cũ. Một tấm ảnh. Một chiếc khăn quàng. Một chiếc giày cũ. Họ muốn nhớ lại. Họ không muốn mất quá khứ. Vì họ còn muốn sống. Vì họ biết rằng những bông hoa rực rỡ nhất của sự sống không thể nở được, không bao giờ nở được, trên khoảng đất héo hon và giá buốt là sự lạnh lùng thản nhiên và sự lãng quên nhau.

MAI THẢO

TÀN PHAI

nguyentancu

Một ngày đã úa rồi em
Trên đôi môi ấy đã mềm đắng cay
Đã sương rơi khuất chân mày
Đời long lanh sớm đã tàn ngoài hiên
Đã quen rồi quá muộn phiền
Em đừng chì chiết cơn điên đã đầy
Em đừng đe dọa môi say
Đừng mài dao bén mặt dày giai nhân
Tôi quen lắm những ân cần
Mới vừa ngọt nhạt đã dần dần tan
Mới vừa thủ thỉ nhẹ nhàng
Đã nhằng sấm động lang bang mưa nguồn
Tôi quen rồi những nỗi buồn
Ngoài kia nắng vẫn vàng khuya vô thường
Rất nhiều tôi vẫn còn thương
Mùi hương xuân sắc chiếu giường chiều nay.

NGUYỄN TẤN CỨ

MÙA VỌNG

lephuhai

Đêm phương nam trời ào mưa rồi tạnh
Lỡ hẹn rồi thôi để lại mùa sau
Áo em bay trên phố xá sắc màu
Như trông ngóng dịu dàng và cởi mở

Trời mưa xuống chợt vỡ òa nổi nhớ
Những ngày mùa quê quán thuở xa xưa
Dáng mẹ gầy cần mẫn đội cơn mưa
Như con vạc cái cò kia tận tụy

Cảm ơn trời những cơn mưa ngỏ ý
Mảnh đất cằn mai lúa sẽ lên xanh
Nuôi bao người vui phận nhỏ mong manh
Có ai đếm đã qua bao mùa Vọng

Chúa giáng thế ủi an người đang sống
Mẹ chẳng còn đây nữa để mà vui
Tiếng ru xưa như có chút ngậm ngùi
Lời con nhỏ cuộn vào trong nỗi nhớ

Cơn mưa nghịch để lòng ai trăn trở
Con phố dài gió trỗi điệu lê thê
Noel nay có ai ngóng ai về
Thiếu vắng người bếp lửa nào có ấm

Tình xa rồi biết bao nhiêu mùa Vọng
Ai âm thầm gác nhỏ tối Noel
Phố bỗng dài ngơ ngác một lối quen
Thoáng kỷ niệm mịt mờ theo ký ức

Mưa nghịch mùa trong chăn con mắt thức
Giáo đường đâu chuông nguyện tiếng thở dài
Ừ mà thôi, ngày cũng đã nhạt phai
Hãy nhắm mắt khép lại mùa xưa cũ

Ta cuộn mình làm con sâu trong tổ
Tự ru ta trong giấc mộng thiên đường
Những phận nghèo chia sẻ chút yêu thương
Đêm phương nam nằm nghe lời mùa Vọng.

Lê Phú Hải

Gài thế.

nguyentri

Tiếp theo và hết của Nam mô một bồ dao găm

Chuyện chủ động gài thế và bị gài thế nó phức tạp lắm. Không dễ ai lừa được ai trên trần thế nầy. Kẻ nào có tiền và biết xài tiền đừng mơ có ai lừa được họ. Trí tôi quen với một tay trùm trong thế giới bi-a. Anh ta giả nai khỏi chê một tí ti ông cụ nào. Ai cá độ với hắn cầm bằng phải bán vợ đợ con chứ không ít. Một hôm có một tay thua quá, thua rồi mới ngộ ra mình bị dụ nai. Điên tiết anh ta đập gãy cây cơ đâm bạn tôi một phát lủng bụng. Kẻ đi nhà thương người ở tù. Nhìn chung gài và bị gài và bị đều như nhau. Thằng thắng đâu có ngon và thằng thua thì tất nhiên thúi hoắc rồi.
Năm 1986. Vâng. Vào năm nầy có sự kiện World-cup tổ chức tại Mêhicô. Đây là một mùa bóng mà Trí nhớ mãi. Ngoại trừ hai thiên tài lừng lẫy là Maradona và Platini người yêu thích bóng đá hẳn không quên những Dico, Phancao, Soccrates…. Hẳn không ai quên được vua đá phạt Dico của Braxin và Platini của Pháp sút bóng bay lên trời… Nghe đâu Côlumbia được quyền tổ chức nhưng vì một lý do nào đó lỡ cuộc và Mê hi cô được chọn. Columbia tự an ủi rằng họ đã có Macket và Trăm năm cô đơn rồi nên không có Quơn cúp cũng không sao. Trí tôi được đọc tác phẩm này vào năm 86 ấy. Cũng trong năm nầy có một sự kiện khác tuy nhỏ hơn Macket và quơn-cup nhưng cũng khá đình đám. Đó là tác phẩm văn học có tên “Fidel-Castro và tôn giáo” do đức Hồng y người Braxin tên Frei-betto cho ra đời.
Sợ dĩ Trí tôi lan man chỗ nầy là vì trong tác phẩm “Pi-đen-cat-tơ-rô và tôn giáo” (phiên âm của báo QĐND) Fiddel đã trả lời vị hồng y một câu mà Trí tôi nhớ mãi. Ông nói:
– Người Cộng sản nên học tập những nữ tu, những thầy dòng, cha xứ của Công giáo đức HY SINH và lòng BÁC ÁI. Họ cho đi mà không nhận lại cho mình một điều gì.
Câu nói quá hay. Quá chính xác. Trí tôi Phật giáo nửa mùa nên rất quý người và tôn chỉ của Thiên chúa giáo. Ngày xưa khi còn ở Kon-tum gia đình tôi ở trại gia binh trong khu Võ lâm. Trong khu rừng nầy có một bệnh viện của người Tây đức. Tôi bị bệnh và được điều trị ở đây. Nhìn những nữ tu mặc áo choàng đầu trùm khăn cổ đeo chuỗi hạt có tượng đức Giê su bị đóng đinh câu rút tôi cực ngạc nhiên. Không hiểu vì sao những người Tây mũi cao da trắng nầy lại chọn núi rừng để sống và làm từ thiện. Chỉ có đức hy sinh và lòng bác ái cao vòi vọi mới bỏ cả quê hương xứ sở để một đất nước nghèo, lạc hậu và loạn lạc để làm việc. Ai có thể làm được điều này ngoại trừ người của Thiên chúa giáo?
Lúc còn trẻ tôi có si tình một nàng công giáo. Tôi lẻo đẽo theo sau nàng mà ca cẩm rằng : “ em ngày ấy ngây thơ, hay mặc áo hoa huyền, đi dự lễ Misa, trong buổi sáng tinh sương, trong buổi lễ misa, anh nào biết kinh cầu, anh chỉ biết theo em, khi làm dấu A-men” vì nhan sắc nên tôi quyết làu thông kinh điễn để lấy lòng cha má nàng. Nên chi tôi sành điệu lắm. Về sau ý chừng cha má nàng sợ tôi ngâm câu : “ Con quỳ lạy chúa ba ngôi. Cho con được vợ con thôi nhà thờ” nên họ nhận lời cầu hôn của một anh con nhà gia thế cùng đạo. Sau đó tôi lại si tình một nàng trong Tin Lành nên khá tinh thông Kinh Thánh từ Cựu đến Tân ước. Nên chi từ Phật giáo, Thiên chúa giáo đến Tin lành tôi có biết chút chút. Và cá nhân tôi đặc biệt quý trọng tinh thần Thiên Chúa giáo.
Để mặc được chiếc áo choàng đen đức trên bục giảng lời chúa là cực kỳ gian khó. Khó và khổ nữa. Những sư huynh trong trường dòng năm bảy năm tu tập mà còn phải về đời. Các vị nầy trình độ của họ cao vòi vọi. Họ nói tiếng anh tiếng pháp như nước chảy mây trôi. Quan trọng nhất đức hy sinh và lòng bác ái của họ thì khỏi chê. Ngay ông bạn tôi. Ông trưởng ấp mà tôi đã kể cho các bạn nghe ở trên là một thí dụ điễn hình.
Thật mà nói làm ông trưởng ấp có chi đâu khó. Nhận và phát lệnh ngu và khùng như Trí cũng làm tốt. Nhưng làm ông trùm một họ đạo thì không đùa chơi. Gia đình chỉ cần con không nghe cha mẹ, vợ chồng không kính nhau như khách thì chớ có hòng. Bạn tôi có một gia đình mà ai cũng mong ước. Ông chính quyền cũng rất khôn ngoan khi đề cử anh chức danh ấp trưởng. Thật là tốt đạo đẹp đời. Tôi và anh thân lắm. Anh giúp tôi nhiều nhiều chuyện cơm áo. Quý ông nhà giàu trong xã làm từ thiện anh luôn cho gia đình tôi một phiếu hàng. Có năm tôi nhận những năm lần hàng từ thiện do năm ông nhà giàu nhờ anh phát chẩn. Anh dẫn tôi đi lên chùa xin ở ké, giới thiệu cho tôi làm tài cho Tám Ẩn. Thật là quá xá bác ái phải không?
Hôm đó tôi đang ở nhà thì một người bạn là mục sư của Tin lành tên Bằng đến nhà. Bằng quan tâm tôi lắm. Anh biết tôi có thời gian là tín hữu tin lành nên mời tôi tham gia lại đạo vì e rằng tôi đang bị quỷ satan rủ đi chơi. Bằng hỏi tôi:
– Anh nghe gì chưa?
– Anh ngồi chơi… uống ly nước… có gì không anh?
– Anh không nghe tin ông Hớn bị bắt rồi à?
Tôi giật mình:
– Ông Hớn nào? Sao bị bắt.
Bạn tôi – Hớn – bị công an huyện bắt tại khách sạn X với hành vi mua dâm trẻ vị thành niên.
Thật choáng váng.
Bằng về thì vợ và con Hớn đến. Mọi chuyện là chính xác. Việc nầy mà té bẹ ra thì còn chi danh dự dự danh. Làm sao gỡ bây giờ anh Minh ơi? Anh có kế chi giúp tôi với? Việc nầy do gia đình con quỷ ranh kia mà ra cả. Từ khi nhận được đền bù giải toả đến bây giờ ông ấy đổ đốn ra… mà không… ông ấy hư lâu rồi anh ạ. Tôi đã phải nhẫn nhịn mà cho qua vì con cái dâu rể cháu chít. Gìa hai thứ tóc mà nay bị như vầy sao sống nổi anh ơi? Con quỷ con nầy cà phê ôm bia ôm chuyên nghiệp. Ông tôi già mà hám trẻ… làm sao bây giờ hả anh.
Vì sao vợ con Hớn đến tôi mà không ai khác? Chẳng là tôi có thằng con bốn năm cai nghiện một năm tù. Tôi bị huyện mời lên vì hành vi của con trai cũng dăm bảy bận. Họ tin rằng tôi có thể làm chi đó để họ qua bước đoạn trường. Nhưng tôi biết làm chi? Thằng con tôi bây giờ thì rất nghiêm túc làm ăn nhờ cai nghiện bằng phương pháp uống Mêthađôn chứ lúc mới tù về nó đủ thứ hư hao. Nó nói:
– Để con xem bọn gài thế cỡ nào. Phải bắt tụi nó câm họng lại. Để nó kiện là chết với tội danh mua dâm vị thành niên. Ít cũng chục năm tù chưa kể bồi thường.
Tôi nói:
– Ừ… mày coi giúp ổng một chiêu coi.
Thằng con ra tay. Nó kéo theo hai thằng xâm mình rằn rện đến gặp cái gia đình có con bán cà phê ôm đưa bạn tôi vào tròng. Chả biết nó làm chi mà bọn gài thế không dám kiện. Nói vậy chứ bản thân tôi trên đời nầy không sợ cái chi ngoại trừ thế lực trong bóng tối. Anh đang đi, nó cho một cây vô đầu, một ca acid vô mặt hoặc đang đêm nhà bị một chai bom xăng biết kêu ai? Đúng không? Bạn tôi được thả sau một tuần tạm giam. Chả biết là có hao tốn chi không. Tôi e là có vì mua dâm xứ ta cũng có tội. Hớn về và – tất nhiên – ai mà cho anh làm cán bộ nữa. Vợ con coi như một người xa lạ thì người trong họ đạo coi anh ra chi? Và anh đến tôi để chén tạc thù.
Tôi không trách ông bạn tôi ly lai nào hết. Vì sao? Vì đời là thế sự đời là thế. Một số người trong chúng ta luôn bị đồng bạc làm cho thoái hoá. Nghèo khó kiếm miếng ăn chảy máu con mắt thì đồng bạc xài ra chi li từng khoản một. Khi có dư dăm ba đồng bạc thì hất mặt lên trời ra vẻ ta đây tài ta đây giỏi. Đồng bạc từ trên trời rơi xuống như đồng bạc của giải toả đền bù thì càng khác nữa. Bạn tôi thoái hoá cúng không chi lạ.
Tổng thống như ông Biêu Cờ-lanh-tông còn bị cô Lêquănsờky làm cho thân bại danh liệt. danh thủ Maradona nhiều tiền quá bị ma tuý ám cho thiếu điều mất mạng. Tưởng Platini ngon cơm lắm ngờ đâu cũng bị tiền làm cho mất hết uy danh. Trí tôi đây chạy ăn toát mồ hôi nên quý từng xu một, nếu có nhiều tiền đã chắc chi thoát khỏi bẫy đời? Nhan sắc và ăn chơi ai không thích chỉ thử một anh xem chơi. Những tay một thời lẫy lừng nầy đem so với thẳng con hư hỏng đang làm lại đời như con tôi ai hơn ai? Ít ra thằng con tôi cũng cứu được một người và một gia đình thoát khỏi cửa tử bởi bị gài thế. Đừng tưởng đồ bỏ là không xài được. Đúng không?
Vậy nên nghèo cho chắc. Đừng mơ chi trúng số.
Nhắc đến trúng số tôi mới nhớ đến một người bạn là giảng viên đại học có vợ là quản thủ một thứ viện…

Thảm hoạ của trúng số
Tám Ẩn – người thuê tôi chở ông ta đi chơi – từng trúng đặc biệt. Ẩn một tờ, vợ một tờ và bồ Ẩn năm tờ. Cần rạch ròi chỗ nầy một chút. Rằng Ẩn và bà vợ bẩy mươi tuổi chia hai căn nhà mạnh ai nấy sống. Tôi là người xây tô cái bức tường chia hai nầy. Phần của mình Ẩn làm một cà phê đèn mờ do cô bồ làm chủ. Hôm đó vé số ế ghé qua. Vợ Ẩn mua một tờ còn bao nhiêu cô bồ Ẩn ôm hết. Cô cho Ẩn một tờ và chiều đó vô nguyên xơ ri năm con và mỗi tờ trị giá một trăm hai mươi lăm triệu.
Thằng hủ tíu gõ, thằng nầy thuê cái mặt tiền của vợ Tám Ẩn làm chổ sinh nhai nói với tôi:
– Lý ra con có một tờ nhưng bồ Tám Ẩn dành hết, hứa rằng nếu trúng sẽ cho con một chiếc quây an pha.
– Rồi có cho không?
– Dạ có… thiệt là tức quá… chỉ vì tiếc năm ngàn bạc bằng không con có trăm triệu rồi chú Minh Tàn ơi.
Nghe Ẩn trúng độc đắc tôi như mở hội. Chả là khi rong ruổi trên đường tìm… gái. Ẩn có hứa tao mà vô cái lơn lớn sẽ giúp mày qua thì hoạn nạn. Nay cả đôi uyên ương nầy vô lớn quá. Bỏ cái cô già nhân ngãi ra thì Ẩn cũng lớn vậy. Tôi khoe với bà xã rằng thể nào ông Ẩn cũng giúp mình tí chút em ơi. Vợ tôi nói:
– Tám Ẩn với cái kiểu sống chê già ham trẻ có mới nới cũ thì ông đừng có mà tin. Ông già rồi, lăn lộn cũng lắm mà đi tin kẻ vì gái gú mà bỏ vợ.
Tôi trình bày nếu không nhờ tôi thì Ẩn bị ăn ít cũng năm trận đòn trên đường thiên lý. Nói vậy chứ chuyện tranh nhau một cô trẻ trẻ trong cà phê ôm là có. Có lần một thằng trẻ đòi thoi Tám. May mà đi đâu tôi cũng thủ trong người một lưỡi dao cạo mặt của thợ hớt tóc. Loại dao mà khi cùn thợ cạo thường mài xoẹt xoẹt trên một sợi dây da. Đến quán nào tôi cũng lấy một gương soi con con rồi móc dao ra giả đò xén ria mép. Mấy giang vặt thấy tôi tay hươ dao đến giải quyết sự cố là chúng e lắm. Tôi êm xuôi cho Ẩn ít cũng năm vụ. Vậy nên tôi hy vọng ông chiếu cố mình âu cũng sự thường. Lúc ấy tôi ở nhà trọ, tài sản chỉ là chiếc xe đạp mua lại, tôi ước có một chiếc quây tàu ba triệu bạc.
Ba ngày sau trúng số Ẩn lại ngay nơi tôi trọ. Móc trong túi ra và – mô phật – Ẩn đặt vào tay tôi ba chục ngàn. Ẩn kêu vợ tôi múc một ly chè đậu đen, chả là vợ tôi bán chè trước nhà trọ. Vừa ăn Ẩn vùa than vơi tôi là số Ẩn xui. Cô bồ cho trúng tờ vé số lụi. Nghĩa là chỉ được an ủi, thôi thì mày cấm mấy chục xài đỡ. Xong xuôi Ẩn đứng lên và nói mày trả tiền tao ly chè nhé. Tôi nhìn theo bạn già và lắc đầu, trong khi đó vợ tôi cười mà rằng:
– Tôi nói ông thấy linh không? Khi chưa có thì một tấc đến thiên cung. Cạn đìa mới biết lóc trê phải không Minh Tàn?
Khi vui hay cay đắng vợ tôi cũng gọi tôi là Minh Tàn.
Sỡ dĩ tôi lê thê một chút chỗ này là muốn nhấn mạnh rằng người trúng số bị rất nhiều áp lực. Tôi chả hạn. Với Tám Ẩn đâu có bà con chi mà mong ông ta hổ trợ? Ông ta còn có bà con, anh em và vô khối những hầm bà lằng khác mà có cả tỷ cũng không giải quyết hết nói chi trăm triệu bạc. Chả phải có câu nghèo khó thì chẳng ai nhìn đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên đó sao? Tám Ẩn chỉ là chuyện nhỏ. Suy cho cùng ông ta chỉ là một nông dân, trí lự nhỏ bé như Trí tôi thì sống vì bản năng âu cũng thường. Giới trí thức mới thực là đáng để quan tâm khi họ cũng không thoát cái vòng kim cô của hỉ nộ ái ố.
Hồi ở Sài gòn tôi quen thân vơi vợ chồng Kim Lệ. Chồng tên Kim vợ tên Lệ. Anh Kim là giảng viên của một trường đại học chị Lệ là quản thủ một thư viện. Họ có hai con một trai và một gái. Giáo chức vào thời đó chỉ có cái danh chứ đoi lắm. Anh Kim đến trương bằng chiếc 78 cà là mèng, chị Lệ thì cóc cách xe đạp. Hai đứa con đi học cũng xe đạp luôn. Nhà của anh chị không quá hai mươi mét vuông. Có cái gác hai đứa con chia nhau bằng một tấm ván ép làm nơi học tập. Nghèo nhưng hạnh phúc lắm. Chị Lệ làm thêm bằng cách mua giấy của bao xi măng về nhà cắt ra rồi dùng hồ dán lại thành những bao bì dựng hàng hoá cho các tiệm tạp phẩm. Sau bữa cơm chiều nhìn chồng và con vui vẻ phụ mẹ dán bao bì kể chuyện trường lớp thì còn đẹp nào hơn. Về sau tôi bị nợ nần và xã hội đen vây bủa nên bỏ Sài thành đi trốn. Nhưng tai hoạ không ngừng vây bủa. Con cái đứa chết đứa lâm vô sa đoạ nên tôi khổ vô cùng. Những tưởng là không bao giờ gặp lại vợ chồng Kim Lệ nữa
Chủ nhật ấy tôi và Bằng – anh bạn mục sư – đi thăm con ở trại cai nghiện Xuân Phú. Nói đau khổ nhưng chắc tôi không qua ông mục sư Bằng. Vợ chồng ông có hai con trai bị ma tuý hết cả hai. Một thằng vào toilet chích choác sao đó bị chết ngay trên bồn cầu. Còn một thằng thì bị bắt khi đang choác. Hai thằng tôi cùng đi thăm, tôi thì chả nói chi chứ Bằng thì mệt lắm. Anh là mục sự chủ trì một hội thánh. Chủ nhật ấy phải nhờ một Mục sư khác đến truyền đạt lời Chúa thay anh. Tám giờ sáng hai tôi đã có mặt ở một quán cà phê trước cổng trại. Đang nhâm nhi tách cà phê thì một phụ nữ đến trước mặt tôi. Bà có một mái tóc bạch kim tuyệt đẹp. Gương mặt thì tôi luận không ra bao nhiêu tuổi. Và đôi mắt thật u buồn. Bà nhìn tôi, gọi:
– Anh Minh. Minh Tàn.
Tôi nhìn bà, nhíu mày. Nhưng không nhận ra. Lâu lắm:
– Xin lỗi chị…
– Lệ nè. Kim Lệ nè. Không nhận ra sao?
Trời ơi! Tôi kêu lên. Sao mà lại có thể là Kim Lệ được hả trời? Làm sao mà một gương mặt trẻ trung lại già như ri và một mái tóc đen huyền lại như cước thế này thì tề thiên còn bó tay nói gì tôi. Tôi mời chị ngồi rồi mọi chuyện vỡ ra sau khi ba chúng tôi thăm xong những đứa con sa đoạ.
Chị kể rằng ra cớ sự con trai bị ma tuý ám và con gái đang ở phục hồi nhân phẩm là từ hai tờ độc đắc mà ra. Lúc ấy vé số hai nghìn một tờ và đặc biệt là năm mươi triệu:
– Chồng tôi – anh Minh biết rồi đó – một giảng viên hết mực đàng hoàng. Trúng hai tờ vé số chúng tôi mừng lắm. Đầu tiên anh ấy thay cái xe để đi dạy cho lịch sự. Sửa lại cái nhà. Mua cho hai đứa nhỏ chiếc đờ rim của trung quốc. Lúc ấy chiếc xe cả hai chục triệu.
Và…Có tiền nên anh Kim có đàng hoàng hơn, lịch sự và bay bướm hơn một chút. Cái dòng có tiền từ trên trời rơi xuống nó lạ lắm. Kẻ xổi thì khác xa với người giàu có gộc có nòi. Kiểu đôi khi vung tay quá trán của Kim làm một đồng nghiệp nữ trong trường kết mô đen. Trẻ và đẹp và trí tuệ hơn vợ nhà đã làm Kim nhạt lòng. Cuối cùng không thoát khỏi bẫy tình Kim cặp kè với cô kia và gia đình đổ vỡ khi cô giáo kia lớn bụng. Kim đòi ly hôn mặc kệ hai đứa con không đồng ý. Cha con chồng vợ kình cãi nhau dữ dội. Không chịu nổi nên Lệ phải thuận ly hôn. Chán nãn thằng con lớn bỏ ngang đại học sa vô rượu chè rồi ma tuý. Con gái thì… vào phục hồi nhân phẩm.
– Nếu không vì hai tờ vé số. Anh Kim không sắm xe mới xe đẹp đến trường. Không vì đồng bạc từ trên trời rơi xuống. Chúng tôi vẫn kiếm thêm bằng dán bao bì thì không ra bị kịch như hôm nay anh Minh ơi…
Chị nhìn tôi và sa nước mắt. Tôi chả biết nói chi trong hoàn cảnh nầy vì so ra tôi có chi hơn chị để khuyên một đôi lời. Ông mục sư thì khác. Ông kể chuyện Thánh Gióp trong Cựu ước và kết rằng Chúa đang thử thách chúng ta anh Minh chị Lệ ạ. Anh khuyên nên khẩn thiết cầu nguyện với Đức Chúa Trời để xin ngài ân điển. Rằng thì là mọi việc được an bài bởi đấng tối cao. Nhưng nếu chúng ta siêng năng cầu nguyện và tôn vinh Chúa thì sẽ được cứu rỗi. Tôi nhìn vào đôi mắt người đàn bà khổ luỵ. Chừng như đôi mắt chị có một câu hỏi.
Hỏi rằng: Nếu tất cả bị chi phối bởi quyền lực của tối cao nào đó thì con người ở đâu? Con người có ý nghĩa gì trong đời sống nầy?
Tôi định hỏi anh mục sư nhưng sợ sự phân tích của anh quá nên thôi.
Bạn có muốn nghe chuyện anh mục sư nầy không?

mua thánh bán thần
Tôi phải trốn chạy khỏi sài gòn vì bị bọn đen đòi trảm. Cái hoạ đầu tiên đến là chứng áp xe gan. Rượu quá nên ra vậy chứ chả có chi phải thắc mắc. Bầy con tôi phải nghỉ học bán vé số nuôi bệnh cho cha là chuyện nhỏ, bà xã phải bán luôn căn nhà ở Thanh Sơn. Không đủ nên phải ngữa tay vay đồng bạc lãi suất cao của xã hội đen. Sau bệnh làm bao nhiêu cũng không đủ cho phòng trọ và lãi mẹ lãi con. Đùng một cái con gái út bị xe đạp tống một phát gãy tay. Tôi đi phụ hồ bị một cây gỗ đóng coppa rơi bể đầu. Cuối cùng là bọn đen dằn mặt tôi một trận ngay chợ Văn Thánh về tội lâu trả nợ… Cùng đường rồi ta làm chi? Nửa đêm tôi di lý vợ và con ra bến xe miền Đông về quê cũ ở miền Trung xa thẳm làm lại cuộc đời.
Thật là chua xót cho kẻ hai mươi hai năm bỏ quê ra đi nay về với hai bàn tay trắng. Đừng nói đến tha nhân. Ngay cả người thân cũng coi anh là đồ bỏ. Khi là đồ bỏ thì phải chấp nhận sự bỉ khinh. Ở được tám tháng, tôi thì chả nói làm chi vì nhục đã từng chứ con tôi thì tội nghiệp lắm. Để giải thoát cho chúng sự cô độc tôi phải quay lại miền Đông. Cuộc đời tôi – nói thực, ai cười cũng đành chịu – từng trốn nợ bỏ xứ ra đi nhưng chưa khi nào cay đắng bằng tám tháng trở lại quê nhà của năm ấy. Tôi thấm lắm câu thơ quê hương là chùm khế ngọt. Không có quê thì làm chi biết được vị ngọt ấy? Thực vậy.
Tôi thuê phòng trọ ở trấn X. Lại vé số. Trời ơi cái vé số nó cùng cực lắm. Tôi chưa thấy nghề chi mà cam chịu và đớn hèn như nghề nầy. Năn nĩ ráo bọt mép lắm khi khách được mời phán: “đi chỗ khác cho con nhờ tí coi ba, ba dai nhách vậy?” Ai đó nói bán vé số thu nhập cao thì đúng là dốt nát. Ngày bán được trăm tờ là rài rạc cả đôi chân. Không vốn liếng thì vậy chứ biết làm chi bây giờ? Ở phòng trọ X được mười ngày thì tôi lại phải trốn tiếp vì tình cờ con tôi gặp một thằng quen ở khu phố cũ trên Sài gòn. Hai ngày sau một trong số những thằng đen tôi thiếu nợ lãng vảng ngay khu vực. Đang phụ hồ tôi phải di lý cả gia đình lần nữa xuống một nhà căn chòi hoang khác kề bên nghĩa địa. Căn chòi này của một thợ hồ nơi tôi làm việc. Anh ta lấn đất nghĩa địa nên cần người ở. Biết tôi lâm thế cùng nên cho ở vơi giá hai trăm nghìa một tháng, rẻ hơn phòng trọ một trăm. Tử tế vậy chứ sao nữa bây giờ? Ở đây tôi sống với nghiệp mót mủ cao su.
Nói cho đúng là ăn cắp mủ chứ mót cái gì. Công nhân trút xong ngữa chén đẻ hôm sau lấy tiếp anh canh me đêm vô trút mà mót là mót làm sao? Nghiệp nầy được cái không mặc cảm chi ráo bởi cả trăm người ăn cắp. Đêm trong lô ngươi đi như trẩy hội vui ơi là vui. Bốn giờ chiuef cha con tôi tập trung tại một căn nhà sát bên lô. Chủ nhà tên Thanh là một tín hữu của Tin lành giáo. Thanh và vợ con cũng là thành viên của ăn cắp mủ loại thiện chiến.
Dòng họ của Thanh ai cũng phật giáo, riêng anh cãi theo Tin lành. Chả hiểu làm sao Thanh rất cảm tình với tôi. Anh cho cha con tôi dấu mủ trong nhà. Mủ ăn cắp đẻ trong rừng cao su rát dễ bị mất bởi bảo vệ và dân cúng cánh. Anh em ăn cắp của nhau thường lắm. Một hôm kia Thanh mơi tôi ăn bánh xèo. Trước khi ăn anh cáu nguyện, rồi vợ rồi con. Ai cũng cầu nguyện. Vừa ăn anh vừa giải thích cho tôi vì sao anh bỏ phật theo chúa. Rằng thì là nặm ấy anh bị bệnh rất nặng nằm ở bênh viện huyện, sạch bách tiền mà không thuyên giảm thì được một mục sư cuat Tin lành đi làm từ thiện. Ông khuyên anh nên cấu xin đức chúa trời, là cha của chúng ta trên trời, ông sẽ ban ân điển cho con của người. Nhận quà từ thiện xong Thanh cúng cấu nguyện cho phải phép, ngờ đâu hết bệnh. Có thể là tình cờ, bệnh uống thuốc lâu phải thấm cúng không chi lạ. Nhưng có nhưng chuyenj rất linh hiển mà không tin không được. Anh như là… như là… cả chụ thì dụ cho tôi nghe. Cuối cùng anh khuyên tôi nên cấu xin vơi chúa toàn năng xin ngái cho qua cơn thống khổ:
– Anh biết không – Thanh nói – ông Lu the người sáng lập đạo Tin lành vốn là một…
Nghe anh đọc sai tên của giáo chủ Tin lành tôi bèn nổi máu ngoại ngữ mà rằng:
– Ôn ấy tên là Luther và đọc là Líu thơ…
Chả là tôi theo tôn giáo này vào năm 1973, sau khi người mộng công giáo của tôi theo chồng. Động lực đi nhà thờ tắt ngóm tôi bèn theo một tay đàn anh tên Tưởng theo tin lành:
– Mày theo tin lành với tao – Tưởng nói – đợt này ben hội thánh cho mỗi tín hữu một bộ đò Jean hộp. Đi không tao ghi tên. Tuần sau là có…
Vậy là bị bộ đồ Jean hộp quyến rũ tôi gật đầu ngay. Vào rồi, hộp hiệc đâu không thấy nhưng có cái khác cũng quyến rũ không kém, đó là sinh hoạt thanh niên nam nữ vui vô cùng. Nữ tín hữu cô nào cũng đẹp không thua người mộng công giáo của tôi. Tôi si tình một nàng, cô là con gái của ông hội trưởng. Vì nàng tôi cố làu thông Kinh Thánh từ cựu đến tân ước. Tôi lậm vào kinh điễn của Tin lành như một kẻ sinh ra đã là một tín hữu rồi vậy. Cũng chả hiểu tại sao các vị tiến sĩ của thần học như vợ chồng Mục sư Jean và bà Linda lại cảm tình đặc biệt với tôi. Tin hữu tin lành giáo cũng được phép đứng trên bục của hội thánh để giảng và vinh danh lời chúa. Tôi cũng vậy. Chả hiểu được cái ơn chi mà trên bục tôi nói hay như diễn giả. Về sau tôi được mục sư tiến sĩ Jean cho đi học một khoá ngắn ngày về cách nói chuyện trước công chúng. Nếu không có một sự cố xẩy ra chắc chắn tôi đi học Thần học và không chừng ngày nay tôi là mục sư của tin lành chứ chẳng phải chơi.
Hôm đó tôi đến nhà nàng, tức nhà ông hội trưởng của hội thánh. Nàng dẫn vô phòng khách. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên bàn thờ có một bộ lư hương bằng đồng và một bộ ngũ sự. Tôi hỏi thì nàng trả lời:
– Ba em hồi trước là hội phó hội phật giáo tỉnh nên có bộ đồ thờ nầy.
Thì ra ông hội trưởng từng là một phật giáo. Tôi đem chuyện kể với Tưởng. Tưởng rằng:
– Đù má… thằng cha nầy chơi không đẹp. Bị một vố bên phật giáo mà chưa tỉnh ngộ, nay của tín hữu cũng chơi luôn.
– Là sao?
– Là mấy thằng theo như mình được hội thánh trên thị xã tài trợ nhiều lắm. Bao nhiêu cha nội Hộ ăn sạch. Mấy chục bộ đồ Jean chả cũng nuốt mẹ nó rồi… hồi là hội phó phật giáo tỉnh cũng ăn quá nên bị đuổi…
Thú thật trong tôi Chúa và Phật luôn hiện hữu, nhưng quý vị đại diện – xin thưa – cho em xin. Quý vị cũng là người như thằng khùng tôi mà thôi. Nghe tôi nói về lời chúa dạy Thanh mừng lắm bèn mời sinh hoạt hội thánh cho vui. Tôi yên lặng không trả lời. Vì sao? Bà mẹ nó. Chúa dạy chớ lấy của người làm của mình mà đi ăn cắp mủ thì đi hội thánh làm chi cho nhọc?
Vậy rồi một hôm đẹp trời kia Thanh dẫn đến nhà tôi một mục sư. Anh tên Bằng. Người mà tôi đã nói.Nhà Bằng là một hội thánh với sức chứa chừng năm mươi tín hữu. Anh là con rể của ông mục sư có hội thánh lớn nhất thị trấn X. Tôi theo và sinh hoạt tại hội thánh của Bằng.Là một mục sư nên Bằng có quan hệ rất rộng. Bạn thân của anh là một chủ nhân của một trung tâm ngoại ngữ tin học tư nhân rất lớn ở thị trấn. Trung tâm nầy dậy anh pháp hoa hàn cả nhật ngữ. Ai muốn học chi có nấy. Nghe tôi khoe khoang – tính tôi vốn hay khoe – từng dạy anh văn anh bèn giới thiệu tôi tham gia giảng dạy. sau khi kiểm tra trình độ tôi được giao một lớp ba mươi học viên. May quá tôi dạy Streamlines1. Tức là vỡ lòng. Bằng đem tới tận nhà tặng tôi một bộ áo quần và một đôi giày da xịn. Tôi trả lại anh cà ra vát vì không quen. Nói chung vì cái sự dạy dỗ này tôi đi sinh hoạt hội thánh cũng đúng thôi. Nhưng được một tháng thì tôi bỏ dạy.Nguyên nhân là quý cô cậu con nhà gia thế dốt ngoại ngữ đi học cho vui, cho vừa lòng bố mẹ chứ có học gì đâu. Đến trung tâm váo lớp được mười phút thì xin ra ngoài cùng nhau tự tình trên ghế đá. Còn lại vài cô cậu thực sự học cho biết thì tẻ buồn. Học anh ngữ mà anh chị không trò chuyện tức thực tập với nhau bằng tiếng Anh thì làm sao nói? Vậy thì dạy làm chi cho mang tiếng? Tôi nghỉ dạy và quên luôn chuyện chủ nhật đi… hội thánh. Vậy là Bằng sau vài lần đến nhà… khi biết tôi đã hoàn toàn bị Satan lôi đi theo nên anh xin lại bộ áo quần và đôi giày. Hành động của Bằng làm tôi hơi buồn nhưng cũng đúng thôi. Vì lúc ấy không như bây giờ mà một trăm nghìn bạn có thể mua được một bộ áo quần nghiêm chỉnh. Mười mấy năm rồi còn gì. Hôm ấy tôi và một tay bạn là nhà văn ghé thị trấn làm cái chìa khoá xe bị mất. Tay sửa khoá làm chìa là dân trấn X chính hiệu con nai. Hắn ta từng là chủ nhân một căn nhà bốn tấm trong thị trấn. Sau phá sản vì vợ cầm cái hụi. Vợ bị tù vì thuê xã hội đen truy sát kẻ giật hụi. Tay sửa khoá rất rành Bằng:- Thằng đó hả – sửa khóa làm chìa nói – hỏi tao nè. Nó đâu dưới miệt U minh lên xứ này. Đói chết mẹ nên theo Tin Lành. Con gái ông mục sư ba mấy mà không chồng nên nó nhảy vô xin một chưn. Mà mày biết sao con nhỏ ế không Minh Tàn? Nói mày nghe nó bị xi cà que… vậy là nó lên luôn từ đó.Tay nhà văn khùng khục cười. Nói:
– Mua thánh bán thần thì bị trả giá là phải.
Tất nhiên tay nhà văn biết Bằng có hai đứa con sa đoạ.

Nhà văn và thợ sửa khoá.
Thợ tên Hùng, thường gọi Hùng Phá. Phá lắm, phá trời sợ. Nhà Hùng trong hẻm. Hẻm bề thế ông cha chứ không đùa chơi. Trong cái hẻm rộng bốn mét nầy nhà Hùng cao nhất bởi những bốn từng lầu. Lịch sừ đời tay nầy kể một cuốn tiểu thuyết dày 500 trang là không thể hết. Đảm bảo ly kỳ hấp dẫn không thua bố già của Mario Puzo. Hùng nói với tôi:
– Hồi mới giải phóng cả trấn nầy ai cũng sợ tôi. Tại sao anh biết không? – Hùng thua tôi chục tuổi nên gọi tôi bằng anh – tại tôi con nhà giàu. Bảy tám, bảy chín ai đói đâu không biết chứ nhà tôi bét lắm cũng cơm trắng hột vịt chiên. Biết sao giàu không? Bốn bà chị lấy bốn ông chồng Mỹ, định cư ở Mỹ hồi năm 73. Thời nào cũng vậy thằng có tiền nói là trời nói. Cái trấn nầy tám mươi lăm phần trăm là nguỵ tặc, nên tặc chơi với nhau. Năm đó tôi mới mười mấy tuổi biết khỉ khô gì nguỵ hay cách mạng… Anh mới về đây nên không biết chứ cái trấn nầy thằng nhà lầu nào cũng có đô la mẽo hết và không thằng nào chưa từng ở dưới trướng tôi. Biết sao không? Người thân tụi nó ở Mỹ là sau nầy. Từ vượt biên, mua con lai cho đến hát ô hô… tui ăn đô la trước tụi nó cả chục năm, giúp tụi nó biết là bao nhiêu…
Thoạt tiên tôi rất ngạc nhiên khi nghe kể. Ngon lành vậy mà sao phải ké vỉa hè để sửa khoá làm chìa? Thì ra là rất chi ngậm ngùi cho Hùng Phá. Là con trai duy nhất nên mấy bà chị ở Mỹ gửi tiền về cho em út nuôi cha mẹ già. Nhiều tiền quá nên sinh hư. Hùng ăn chơi xã láng cuộc tình. Xỉn lên đập phá rồi đền là chuyện nhỏ. Uýnh lộn rồi đền bồi cơm thuốc cũng nhỏ luôn. Có tiền thì tiên còn mua được nói chi ba thứ khác. Phá vậy mà không bị hốt đi cái tạo cũng hay đó chớ. Thì đã nói có tiền mà. Lớn thì không dám nói chứ quan chức nho nhỏ trong trấn này Hùng nói lắm kẻ nghe. Hùng nói với tôi vậy.
Chơi riết cũng chán Hùng lấy vợ. Tất nhiên rồi. Vợ của Hùng đẹp ác liệt luôn. Liền trong hai năm nàng hạ sinh hai hoàng nam đẹp như thiên thần. May mà hai đứa chứ nữa thì chắc Hùng tan như xác pháo. Nhờ đô la mỹ nên hai đứa con được đến trường ngon lành, giáo dục tốt nhứt thị trấn. Kẹt cái hai đứa nó giống cha cái khoản phá. Mơi lớp năm chúng đồng lòng bỏ học ở nhà phụ mẹ việc bán buôn. Chả là Hùng làm căn bốn tấm xong liền bổ hàng về cho vợ đứng chủ trì một cửa hiệu tạp phẩm ngon lành đệ nhứt hẻm nhựa rộng bốn mét. Đời cứ thế mà lên. Nào đô la nào tạp phẩm tiền vô như nước lũ thế kia thì con cái không học cũng chả chết thằng tây lai nào. Đúng không?
Không phải vậy đâu. Đùng một cái Hùng bị thần kinh toạ.
Hùng kể rằng cái vụ toạ nầy là hiểm ác nhứt trần ai. Nó như kim chích từ thắt lưng xuống tận chân. Nằm yên một chỗ còn chịu không nổi nói chi bước. Bao nhiêu cái bệnh viện ở sài gòn từ nhà nước đén tư nhân, tây cho đến bắc y, nam dược ai chỉ chi cũng làm. Đắt bao nhiêu cũng không ngại. Tiền ra như nước lũ mà than ôi bệnh không thuyên. Thế có chết không?
Và…- đù má – Hùng văng tục – chuyện giường chiếu tôi hoàn toàn thua cuộc nên con vợ nó có… bồ. Anh biết không – Hùng buồn rầu – đàn bà khi đã nhạt lòng là xong. Và cái thằng người bị thần kinh toạ là tôi đây sống còn không thiết nói chi đàn bà. Thằng bồ con vợ tui nó đào mỏ cực kỳ. Vợ tôi trước có khui hụi nhỏ nhỏ cho vui. Sau chơi lớn luôn mới là sạt nghiệp. Phần thì trai ăn, phần tay em hốt hụi rồi dông. Hai thằng con tôi xài tiền gấp tám lần tôi còn trẻ. Mấy bà chị từ Mỹ về thăm nhìn cảnh họ hiểu liền… Con vợ tôi ngu dại thuê xã hội đen chém tay em giật hụi, chém luôn thằng đào mỏ bạc tình. Thằng được thuê chém bị bắt khai ra người thuê…
– Giờ mày bớt đau chưa? – tôi hỏi.
– Cũng đi được để sửa khoá. Tuần nào cũng lấy thuốc, ngày nào cũng châm cứu.
– Bà xã ra sao rồi?
– Tù chớ sao.
– Còn hai thằng con đâu?
– Chơi riết quen. Lâu lâu còn ghé tui chôm tiền. Mà tui thì anh biết tháng nào cũng lo đóng lãi ngân hàng.
– Làm chi mà phải vay?
– Cất nhà xong. Vài tỷ bạc cho cái nhà chứ anh tưởng ít sao. Sau đó phải cầm sổ đỏ cho ngân hàng để lấy vốn làm ăn. Đang ngon lành thì ngã bịnh. Vậy là tiêu.
– Nợ bao nhiêu dữ vậy?
– Năm trăm triệu.
– Mẹ cha ơi… dữ vậy sao?
– Là vầy… tôi nhời bạn trong ngân hàng vay giúp. Ba cái thủ tục nầy đâu phải giỡn. Không tay trong tay ngoài làm sao vay, không chúng chi dễ gì ổn. Tôi vay ba trăm, thằng bạn vay giúp vay thêm cho nó hai trăm. Tôi phải gật vì không giúp nó nó không giúp mình. Thủ tục chung chi hết năm chục triệu một mình tôi lãnh. Cuối cúng thằng bạn bị tù vì thụt két… anh thấy có chết bà nội tôi không?
Tôi nhìn Hùng mà ngậm ngùi. Suy ra tôi c tuy bán vé sổ mà chả khổ hơn hắn bao nhiêu. Ngày nào Hùng cũng mua cho tôi nguyên xê ry 10 tờ. Mõi tờ lúc ấy 2000 đồng và đạc biệt 50 triệu:
– Nếu vô – Hùng nói – tui cho ông một tờ, ba tờ trả nợ ngoài, còn sáu trả bớt ngân hàng.
– Mày còn nợ đâu nữa?
– Búa xua a lua mua khắp thị trấn này. Tôi làm chìa sửa khoá ngày kiếm hai trăm ngoài mà không đủ để trả lãi. Chưa nói đến máy bà chị lâu lâu gửi về cho tí đỉnh vấm không đâu ra đâu. Tôi mà lấy lại sổ đỏ là bán tức khắc kiếm căn khác sinh sống.
– Sao không nhờ mấy bà chị bên Mỹ giúp cho?
– Mấy bả biết tôi thăm nuôi con vợ nên cạch tài trợ… anh nghĩ coi mình là thằng đàn ông ăn chơi đàng điếm ngoài đường. Vợ con cả lốc vấn bướm bay bay bướm. Mình nằm một đống vợ chăm lo. Nó có lên giường với người khác âu cũng thường tình. Nhu cầu sống thì anh vất đi đâu? Khi biết bị lừa nó còn dám thuê người chặt thằng kia. Mình bỏ sao được phải không?
Tôi kính phục Hùng ở cái nét rất đàn ông nầy.
Nhưng Hùng cực ghét tay nhà văn bạn tôi.
Chả là ông nhà văn, nhà thơ kiêm hoạ sĩ nầy – thật ra – tôi cũng không ưa. Nhưng vốn ba phải nên tôi vờ cho qua. Chả là tôi là mối vé số của ông ta. Này ông cũng mua cho tôi ngày được dăm tờ. Vậy nên nghe ông khoe tài năng một chút cũng chả sao? Mà lạ nghe, những nhà văn thơ nhạc hoạ khác chả biết sao chứ ông nầy thì khoe dữ lắm. Mỗi khi nói về văn thơ ông cứ hất hất cái mặt lên trời ra vẻ ta đây thấy ghét lắm. Ông hơn tôi hai mươi tuổi, tức là hơn Hùng ba mươi tuổi. Tôi gọi ông bằng bác nhưng Hùng gọi bằng ông. Ông già đó ông già kia nghe khinh mạn lắm. Ông nhà văn thơ nhạc họa tặng tôi một cuốn tiểu thuyết một tập truyện ngắn lại ký hoạ cho tôi bức chân dung. Tôi đem sách cho Hùng dọc. Hùng đọc dữ lắm. Thời gian rỗi trong nghề sửa khoá nhiều hơn thời gian thi công. Rảnh Hùng đọc báo đọc sách.
Hôm đó đọc xong cuốn tiểu thuyết Hùng nói với nhà văn thơ nhạc hoạ:
– Nè ông già… cuốn sách của ông…

Nhà văn và thợ sửa khoá.
Tặng sách cho tôi nhưng anh nhà thơ văn nhạc hoạ nói:
– Tao biết chú mày bận, không có thời gian để đọc, nhưng tặng là bởi tao quý chú mày. Nếu có thời gian rãnh đọc cho vui. Có gì góp ý nhé.
Các loại nhà nói đúng. Tôi lết bộ từ sáng đến mười giờ đêm, có khi hơn. Đặt cái lưng xuống nền xi măng không ai kêu dậy là dám đi một mạch về âm phủ không thèm về, tỉnh dậy là vừa gặm bàn mì vừa lê thân tàn bán vé số thời gian đâu mà sách với báo? Có vậy nên tôi giao cho Hùng Phá đọc rồi kể lại tôi nghe. Có lần đọc xong tập thơ nó nói:
– Đù má… thằng già bạn của anh gian manh quá. Cái tập thơ của nó tôi đọc thấy có hình bóng của Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ và cả Anh Thơ trong nầy nè.
Tôi cũng chả hiểu làm sao mà một thằng bước ra đời năm mười hai tuổi như Hùng lại biết nhiều đến vậy. Tôi hỏi nó:
– Là sao?
– Cha nội nầy sửa thơ của quý cụ đời xưa rồi ký tên mình ông ơi.
– Thiệt vậy không? Sao mày biết?
– Cha tôi hồi còn sống nghiền ba cái thứ nầy ghê lắm. Tui cũng nghiền luôn. Cha nội nầy không qua được tui đâu. Bữa nào anh dẫn ông ta đến đây tui cho một trận.
– Kệ người ta – tôi nói – ổng ta là mối vé số của tao. Mày xử quê ông ta nghỉ chơi vơi tao là mất mối Hùng ơi.
– Trong tất cả các loại ăn cắp – Hùng nói – ăn cắp thơ văn của người ta rồi ký tên mình là bẩn nhứt ông biết không?
Tôi đâu có rảnh để đưa ngài các loại nhà đến gặp Hùng mà bù khú. Sở dĩ có sự gặp gỡ của cả hai là do thị trấn nầy duy nhất Hùng làm nghề sửa khoá. Nó làm ăn được là nhờ thế độc quyền. Nhiều thằng lơ mơ ra hành nghề bữa trước bữa sau là con trai Hùng cho ăn cù loi ngay tức khắc. Thơ văn nhạc hoạ đến làm chìa và ra sự vụ. Tôi có mặt và nghe đấu khẩu. Hùng nói:
– Nè ông già… cuốn sách của ông…
Thấy trong tay Hùng cuốn tiểu thuyết của mình, mắt các loại nhà sáng lên:
– Ồ… làm sao anh có cuốn nầy? Anh đọc chưa? Thấy thế nào? Tôi đã viết cuốn nầy trong hai năm đó.
– Tôi đọc rồi – Hùng nói – văn của ông, nói chung cũng tàm tạm. Có điều nội dung ông viết nhiều cái vô lý quá. Vô lý đến độ hoá thành ba láp luôn.
Trong lúc các loại nhà trố mắt vì bị đạp vỗ mặt, Hùng nói về một đoạn trong cuốn sách đại loại có một cô giao liên qua suối để làm công tác chi đó, nước suối hơi cao nên cô cởi quần để lội vì sợ ướt. Cởi quần thì chả sao nhưng:
– Ông tả cô ta không có quần chíp – bà mẹ nó – bộ ông đứng đó hay sao mà biết? Ông xạo nó vừa thôi, hư cấu sạch sẽ một chút. Bộ tả cô giao liên mặc nguyên áo quần qua suối không được hay sao hả ông già? Đã vậy còn có một thằng thiểu số canh me cô gái qua rồi đè ra hiếp… trời ơi là trời… nè nếu dư tiền ông cho Minh Tàn đây làm vốn mua cái xe đạp đi bán vé số chứ in ba cuốn sách như vầy là bôi bác nền văn học lắm ông biết không?
Nghe đến dây Trí tôi lĩnh đi gấp vì sợ văng miểng. Đã vậy còn nghe vọng:
– Ông đi chỗ khác mà làm chìa. Tui không làm cho ông.
Đã nói thằng Hùng Phá nầy viết về nó cả năm trăm trang là không thể hết. Ngang đầu cứng cổ khỏi chê. Cả hai ngày sau tôi không dám gặp ông nhà văn, sợ ông trách tôi sao giao sách của ông cho một thằng quái như Hùng. Nhưng mà việc nầy đâu phải lỗi ở tôi. Đúng không? Vậy rồi nhà văn chủ động gặp tôi, trước mua vé số sau tâm sự. Cũng cấn nói thêm một chút chỗ nầy. Tôi vốn ba phải lắm, ai nói chi cũng ừ, cũng gật. Lại biết chịu khó lắng nghe. Có thể ví cái sự chịu ngồi nghe mà ông nhà văn khoái chăng? Ông nói:
– Người đọc góp ý là tốt. Có điều thằng làm chìa nầy không biết thế nào là cái khốn khó trong chiến tranh. Tao từng đi qua hai cuộc kháng chiến nên rành.
Ông rành nhưng tôi thì sợ vụ kháng nầy lắm. Mỗi khi nhập ông nói về thực dân và đế quốc đến là mệt. Ông ta có thể nói cả ngày không hết chuỵên. Nào là gặp Văn Cao ở đâu. Nguyễn Tuân ăn thịt chó như thế nào… ông ngủ vơi hoạ sĩ… mấy đêm. Nói chung ông là bạn, là học trò của hầu hết các văn nghệ sĩ trong nước thời kháng chiến. Tôi mệt ông lắm. Nhưng cũng có chiêu trò để thoát ra. Nhà văn vừa trả tiền vé số là tôi vờ… dạ dạ… em qua liền anh hai. Chả là ông nhà văn hơi nặng tai.
Chuyện dưới đây mới là tè le hột me giữa Hùng và ông nhà thơ văn nhạc hoạ. Hôm đó nhà văn đích thân đến tôi. Tôi bệnh nên nằm nhà. Hùng thì đi hốt thuốc nam chữa thần kinh toạ ở một thầy thuốc do tôi gíới thiệu. May quá, uống thuốc nầy bệnh của Hùng giảm thấy rõ nên anh ta cám ơn tôi lắm lắm. Hùng ghé tôi làm vài xị ba xi đế sương sương. Đang tì tì xị thứ hai thì nhà văn đến, dẫn theo một người bạn cũng già xấp xỉ ông. Tôi nói nhỏ với Hùng:
– Tao lạy mày nghe Hùng.
– Em biết mà. Có gì ở ngoài đường chứ đây là chỗ ở của anh. Ồn ào chủ phòng trọ nó đuổi anh thì sao.
Nhà thơ văn nhạc hoạ giới thiệu:
– Đây là anh Văn Xình. Nhà thơ nổi tiếng của… hiện là hội viên của hội… còn đây là Minh Tàn bán vé số. Chú Hùng là…
Nhà thơ Văn Xình ốm như con cò và lùn một khúc. Đầu sói sọi tóc thì dài phủ vai. Tôi nhìn ông tự nghĩ nếu ông ta cạo trọc thì hay quá. Được cái ông nầy nói như cồng kêu. Rõ ràng từng từ một. Văn Xình làm một hơi hai ly xây chừng. Rượu vào nên lời ra. Ông ta đọc thơ. Tôi vốn không thông minh mấy. Thơ muốn hiểu phải nằm mà chiêm nghiệm. Hùng khác tôi, cứ Văn Xình xong một bài thờ là nó vỗ tay gật gù ra cái vẻ hay quá, thơ hay quá đọc tiếp đi anh. Được thể Văn Xình tha hồ đọc. Nhà văn của tôi rất điệu đàng, ông mang tới một túi thịt chó luộc với mắm tôm riềng củ sả đủ bộ, thêm một chai Vokka, chả biết thiệt giả nhưng cứ rượu chai là sang cả rồi:
– Bài thơ nầy – Văn Xình nói – nghe tôi đọc xong ông Trần Đăng Khoa bảo sao hai chú em biết không?
– Sao chú? – Hùng Phá hỏi.
– Hãy gọi anh bằng anh. Vì anh là nhà thơ, mà nhà thơ thì không có tuổi.
– Dạ… thì anh. Trần Đăng Khoa nói sao anh?
– Nó nói – dám kêu một nhà thơ lớn bằng nó thì ghê thật – rằng nghe đọc bài thơ nầy Khoa nhận ra mầm mống của Nobel đang hiện hữu trong thơ anh.
– Á đù… – Hùng kêu lên.
Tôi kín đáo bấm nhẹ vào tay Hùng, sợ nó khùng bất tử lên thì hư bột hư đường hết. Nhà thơ tiếp tục:
– Hội trưởng hội nhà văn Việt nam mời anh vào hội nhưng anh không thèm
– Á đù…
Nghe tiếng á đù Hùng thốt ra lần thứ hai tôi hơi hãi. Thằng nầy mà xử quê nhà thơ thì mệt quá. Nhưng không. Hùng lịch sự và nhỏ nhẹ đến bất ngờ. Nó nhìn Văn Xình nheo nhoe mắt rồi nói:
– Anh tuy nhỏ con mà thần thái như vầy chắc giường chiếu ngon lành chứ hả?
Nhà Thơ cũng nheo mắt:
– Nói ra chắc em không tin chứ sự thật là một đêm anh từ quan đi động hoa vàng trung bình là bốn bận
– Á đù ù ù ù…. mà… – lần nầy chính tôi thốt lên,
Sau đó không nhịn được tôi khả khả khả cả một tràng dài. Trời ạ, buồn cười chết đi được. Một thằng người như con cò tóc tai sói sọi mà bố láo chưa kìa? Có rượu nên tôi không tự chủ được. Cố nén nhưng nén thì tiếng cười lại phát ra thanh âm khùng khục đến nỗi Hùng phát một phát vô đùi tôi:
– Yên coi Minh Tàn. Ông đúng là chả biết gì. Chuyện nầy có chi mà phải cười. Thần kinh toạ như tôi mà một đêm còn chừng đó bận nè.
Tôi thò tay bốc cái củ sả nhai cho qua cơn cười. Hùng tiếp tục:
– Thưa anh… nghe mấy bài thơ anh đọc em ngưỡng mộ lắm. Ngoài trừ thơ, giường chiếu anh còn chơi lĩnh vực nào nữa không ạ?
Tôi ngừng nhai cảnh giác nhìn Hùng. Thằng này mà nhỏ giọng lịch sự và có vụ thưa gửi là mới à. Có khi nào ưng lên nó phang cho đối phương cú đấm không ta? Dám có lắm. Nghĩ vậy nên tôi nhích lại gần nó một chút để có gì mà can ra. Nhà thơ nghe hỏi liền lôi từ trong túi dết để bên mình ra một lốc những tờ tạp chí và báo. Ông giơ lên một cái mề đay:
– Đây là cái huy chương của hội văn học thuật thuật X tặng anh vì sự nghiệp thi ca.
Chúng tôi chuyền tay nhau cái mề đay. Chà! Ra văn học nghệ thuật cũng có mề đay cơ đấy. Ai biết đâu? Hùng cón ướm thử lên ngực trái của mình ra cái vẻ kính cẩn nghiêng mình. Nhà thơ đeo lên ngực. Đúng là linh diệu. Mặt nhà thơ nghiêm trọng hẳn ra và không khí buổi thịt chó luộc cũng long trọng hẳn lên. Nhà thơ đưa cho Hùng một cuốn tạp chí chỉ vào một trang:
– Đây là truyện ngắn của anh.
Hùng nhìn rồi hỏi:
– Sao lại là Tần Hoái?
– À.. đó là bút danh của văn xuôi. Còn thơ là Văn Xình.
– Bút danh của anh đúng là sốc. Đàn em thật sự ngưỡng mộ ông anh. Em xin mới ông anh một ly và nếu được em xin phép…
Nhà thơ làm phát hết ly xây chừng nói:
– Xin gì em cứ nói.
– Cho phép em được đọc cái truyện ngắn nầy cho cả bàn cùng nghe.
Mẹ cha ơi. Nghe thơ đã mệt óc lắm rồi nay văn xuôi nữa có mà chết cha ông nội luôn quá. Nhưng tôi biết làm sao bây giờ? Ông văn thơ nhạc hoạ lại gật gù lấy ra một cây bút chì và một xấp giấy a4 ngồi săm soi vẽ nhà thơ. Tôi nhai thịt chó còn Hùng thì hắng giọng đọc truyện ngắn. Sư cha cái cuộc đời, đây là lần đầu tiên có một buổi nhậu đọc truyện đêm khuya. May quá. Hùng có một giọng đọc không đến nổi nào. Cũng du dương bổng trầm lên xuống không thua chi mấy tay trên đài phát thanh. Truyện viết về một đám trẻ con đi tát cá trong một cái hố bom. Đại khái có bom rơi đạn nổ người chết vân vân. Tát được mớ cá trong đó con con cá lóc bự. Bầy trẻ nướng cá xong đem đến nơi thờ những liệt sĩ để cúng. Cúng xong chúng nhào vô ăn. Hết chuyện thì văn thơ nhạc hoạ cũng hoàn tất bức ký hoạ. Tôi nhìn Văn Xình trong bức ảnh. Nhìn đi nhìn lại cả chục bận chỉ ra cái đầu không có tóc. Hùng trầm trồ:
– Giống quá ông già. Ông vẽ giống thiệt.
Nhà thơ cũng công nhận giống ông y khuông. Sao tôi lại không nhận ra vậy ta? Đúng là không có tầm nhìn nghệ thuật. Vé số mà thuật thiệt gì ở đây? Nhà thơ hỏi tôi:
– Em thấy truyện anh thế nào?
– Hay. Phải nói là quá hay.
– Còn em? – nhà thơ hỏi Hùng. Có gì cứ phê thẳng. Anh thích sự thẳng thắn.
– Nếu anh cho phép em xin nói.
– Anh cho phép – nhà thơ phán – anh không bao giờ tự ái.
– Văn của anh, nói chung có chất thơ – nhà thơ gật gù – lưu loát lắm – lại gật gù – cả hai nghìn chữ mà em đọc không vấp là biết văn anh có thần – lại gật gật – có điều – nói thật anh đừng buồn – truyện này dối trá quá. Không thực. Có vẻ nịnh hót nữa.
Tôi giật mình. Nhà thơ cũng giật đánh thót còn văn thơ nhạc hoạ thì trố mắt:
– Chi tiết cho bầy trẻ đem con cá lóc nướng trui đi cũng liệt sĩ là quá mức dối trá và nịnh hót. Chi tiết ấy làm giảm giá trị của truyện. Theo em thì cúng những người hy sinh vì đất nước cũng có ngày có giờ. Còn nhớ thì trong tâm anh ạ… xin lỗi anh… là thằng đọc sách, em có sao nói vậy người ơi. Vào thời điểm đó thằng con nít nào nhớ đến liệt sĩ anh đem đầu tôi chặt đi. Tôi nói vậy đó, anh có buồn cũng mặc kệ.
– Anh có buồn chi đâu. Đã nói là anh thích sự thẳng thắn mà. Đâu phải cứ truyện đăng báo là hay đâu em.
Toi phát giác ra thằng Hùng nầy rất khéo chửi. Tháy mặt nhà thơi hơi sượng nên tôi đánh trống lãng:
– Xin lỗi anh theo đạo nào?
– Anh hả? Anh là Phật giáo. Gia đình anh truyền thống Phật giáo
– Thưa anh – tôi lịch sự không kém Hùng – cho em hỏi thế nào là Đại thùa và Thế nào là Tiểu thừa ạ? Thế nào là tịnh xá và thế nào là tịnh độ ạ?
Văn Xình rằng thì là rà thì lằng một thôi một hồi những ê và a. Tôi nghe mà không hiểu chi sất. Hùng cũng vậy. Nó chặt ngang:
– Ông Mình Tàn nè. Ông hỏi kiểu đó thiền sư còn không trả lời nổi nói gì nhà thơ.
Nó quay sang văn thơ nhạc hoạ hỏi:
– Còn ông thì sao hả ông già?
– Tôi thì là hội viên hội nhà văn việt am nhưng bị tước danh hiệu hồi năm…
– Á đù… sao bị tước?
– Tôi là thành viên của Nhân văn giai phẩm kỳ đó…
– Mẹ cha ơi – Hùng kêu lên thảng thốt – Thiệt vậy sao ông già. Bút danh của ông là chi?
– Tôi là Cuồng Thu.
Tôi và Hùng thi nhau nhíu mày vắt óc. Tôi tuy vé số, nhưng trước khi lâm thế cùng cũng một thời sách báo. Mấy ông trong nhân văn giai phẩm tôi rành. Cuồng Thu là ai mà tôi không nhớ ra vậy kìa? Thôi kệ đi.
– Bác theo đạo gì? – Tôi hỏi.
– Tao không chúa phật chi hết. Tao qua hai cuộc kháng chiến có dược như ngày hôm nay là nhờ vào Đảng và Bác Hồ. Tao chỉ biết ơn Bác và Đảng còn không đạo chi hết.
Đúng lúc nầy bà xã và mấy dứa con đi vé số dạo về. Văn thơ nhạc hoạ mua chục tờ rồi phát cho ba thàng tôi người hai tờ. Hùng lấy một xê ry. Vợ tôi vui vẻ (bán dược ai chả vui):
– Ông Năm nè. Ông thầy An ở chùa mình…
Hùng hỏi:
– Ông Thích Giác An đó hả chị? Ổng sao rồi?
– Nghe nói bị trục xuất khỏi giáo hội.
– Sao vậy?
– Nghe đồn ổng đi chơi ở phố đèn đỏ trong khu công nghiệp bị công an bắt.
Hùng cươi khè khè:
– Đúng là Thích Giác An.
Chỉ mình tôi biết đó là Duy.

NGUYỄN TRÍ

Chào Tháng Chạp

tranvanle

Vài ngày sắp tới, tháng Mười Hai
Ngày Chúa Giáng Sinh, có một ngày
Nhân loại đứng lên làm Cách Mạng
Ngàn năm mây trắng cứ còn bay!

Con hạc vàng bay chỉ một lần
Không hề về lại lượn phù vân
Quê Hương tôi đẹp như Người Đẹp
Mãi mãi từ nay là Cố Nhân?

Tôi nghĩ tới em như Tổ Quốc
Chim thì có tổ mà tôi thì…
Và em thì cũng như tôi vậy
Kiếm chỗ gối đầu…Đi nữa đi! (*)

Sắp tới Giáng Sinh, tôi lẩn thẩn
Làm thơ tôi tạc tượng hình em
Hỡi ơi ngó lại: tay toàn cát
Em, giọt lệ hình một Trái Tim!

Trái tim? Không phải! Trái mù u
Lăn mãi về đâu một chỗ nào?
Bốn biển, năm châu, trời đất rộng
Thời gian, hay nhỉ…một Thiên Thu!

Tiễn một người đi vào nhà thiêu
Đứng dưới hiên trưa nắng ngả chiều
Sống để ước mơ về với Chúa
Hèn chi đôi mắt Chúa đăm chiêu!

Người đứng cúi đầu, người ngước mặt
Lệ nào vừa rớt, lệ nào rơi?
Sống là đưa tiễn và đưa tiễn
Mai, tiễn đưa ta thiếu một người!

Vài hôm nữa tới tháng Mười Hai
Tháng cuối năm, thôi, nhé đã dài
Dài cổ ngó về, đâu Cố Quận?
Liệu rồi bước nữa tới Thiên Thai?

Trần Vấn Lệ

(*) Kinh Thánh:
Con cáo có hang, con chim có tổ, con người không có chỗ gối đầu.