Bạch Cung Bát Nháo

 

Sáu tháng đầu chấp chánh của TT Trump quả là 6 tháng rối loạn chính trị chưa từng thấy trong lịch sử 300 năm văn hiến Cờ Hoa. Chưa nói tới màn đảng DC và TTDC bề hội đồng tổng thống, chỉ trong nội bộ phe TT Trump thôi cũng thấy chóng mặt. Nhóm phụ tá cao cấp nhất từ Bạch Cung đến các bộ, đi ra đi vào như mấy bà đi thử quần áo. Bộ áo nào mới mặc vào cũng thấy đẹp, được ca ngợi, nhưng hai phút sau đã đổi bộ mới, còn cảm thấy thích hơn nữa.

Trong bài “Bầu Hay Không Bầu Cho Trump?” viết một tuần trước ngày bầu cử, 30/10/2016, kẻ này đã nêu rõ điểm yếu lớn của ông Trump như sau:

“… Điều hành một công ty kinh doanh do một mình mình sở hữu, phục vụ cho quyền lợi của mình, khác xa quản trị cả nước của tất cả thiên hạ, với hàng hà sa số quyền lợi khác biệt. Ông Trump sẽ không có khả năng cân nhắc, đáp ứng hay dung hòa những quyền lợi trái ngược này của các khối quần chúng. Ông Trump không hiểu gì về dân chủ, chưa hề được bầu vào một chức vụ nào, mà chỉ làm tổng giám đốc những công ty do ông sở hữu, với quyền sinh sát tuyệt đối, không quen với hình thức lãnh đạo dân chủ tập thể, chung quanh toàn là đám con cái và người làm mà ông toàn quyền sa thải bất cứ lúc nào vì bất cứ lý do nào;…”

Có thể nói TT Trump lần đầu tiên lái xe hơi, chưa chi đã nhấn ga, phóng bạt mạng, đâm hết gốc cây này đến cột đèn nọ. Nhưng không phải chỉ bây giờ mới vậy, mà ngay từ những ngày đầu tranh cử, ông cũng đã đâm đụng te tua như vậy rồi.

Cái điều quái lạ nhất về ông thần này là cái kiểu đâm đụng này, bất cứ người nào khác đều sẽ tiêu đời, không chết cũng… bại tướng cụt chân, nhưng ông Trump thì lại chẳng sao. Lui khui chui ra khỏi xe, lái tiếp, đụng tiếp, cứ vậy từ hơn cả năm nay. Những người thù ghét ông Trump, cả chục lần khui rượu ăn mừng đều hố, chỉ tổ tốn tiền rượu. Bằng chứng lớn nhất? Hãy nhìn vào kết quả bầu cử ngày 8/11/2016 đi.

Những vị này, trong thâm tâm thù ghét ông Trump tận xương tủy, mỗi lần thấy tin xấu về ông này là mừng như thể dò sổ xố thấy mình trúng được năm số đầu, nhẩy tưng tưng, cho đến khi coi lại số chót trật bét, tiu ngiủ, buồn năm phút lại. Chờ kỳ sổ xố tới để hy vọng tiếp.

Nhìn vào 6 tháng qua, những nhận định gần một năm trước của kẻ này đúng còn hơn Sấm Trạng Trình. Kẻ này cũng phải “thành thật khai báo”, chẳng phải nhờ thi đậu trạng nguyên gì đâu, mà trái lại, những điểm yếu của ông Trump chẳng có gì là bí mật hết ráo. Tất cả các chuyên gia, bình loạn gia, tiên tri gia, đoán mò gia đều đã thấy rõ từ lâu rồi. Bất kể thích hay ghét ông Trump.

Trong tất cả các chính khách của cả hai đảng, từ xưa đến nay, phải nói là chưa ai trong suốt như thủy tinh, bị nhìn thấu rõ mồn một như ông Trump. Mỹ gọi là “WYSIWYG”, tức là “What You See Is What You Get”. Nôm na ra là… quý vị nhìn thấy cái gì thì đúng là nó đấy! Không có cái gì giả tạo, hỏa mù, miệng lưỡi, mặt nạ,…

Nếu quý vị quên rồi, thì kẻ này xin nhắc lại: đó là lý do chính khiến dân Mỹ bỏ phiếu cho ông Trump thay vì cho bà Hillary. Họ có thể liều mạng bỏ phiếu cho ông thần Trump, chứ không thể nào giao phó mạng cùi cho bà Hillary được. Ông Trump có thể thiếu kinh nghiệm, làm việc cực luộm thuộm, sẽ vấp ngã tứ tung, nhưng ít ra, cử tri tin ông được, biết rõ ông muốn làm gì, đi về hướng nào, cho dù chẳng ai biết ông sẽ làm kiểu gì cụ thể và thành công tới đâu. Còn hơn là bầu cho một bà Hillary sáng nói vầy, tối nói khác, gặp đại gia Wall Street thì lo tạ ơn sau khi bỏ túi bạc triệu, gặp cử tri nghèo thì sỉ vả đảng cướp tài phiệt.

Không ai chối cãi 6 tháng qua là 6 tháng mưa to gió lớn. Nhưng nhìn kỹ lại, có phải là loại giông bão lớn có thể đánh chìm con tàu Trump không? Ta coi lại thử.

Ngay từ những ngày đầu tranh cử, TTDC đã thổi phồng cả trăm chuyện, ai cũng đều biết, khỏi cần nhắc lại. Chỉ biết theo như phán quyết của TTDC, dường như cơn bão nào cũng sẽ chôn vùi tên tuổi, nếu không muốn nói đến thân xác bất cứ ứng viên nào khác. Riêng với ông Trump, bất kể tất cả những cơn bão cuối cùng, giọt nước làm tràn ly trên, ông vẫn đắc cử tổng thống. Rồi sau khi đắc cử, lại hàng loạt “cơn bão cuối cùng tiêu diệt đời Trump” khác xếp hàng tiến tới.

Bỏ qua những chuyện biểu tình đốt phá, “Not My President”,… là những hành động chống phá từ phiá đối lập, đang cố tìm phao để khỏi chết chìm, khỏi cần bàn, ta xem lại những cái mà TTDC gọi là đại họa do chính ông Trump tạo ra.

Nào là tweet nhảm nhí toàn chuyện lắt nhắt, cãi nhau tay đôi với các nhà báo, bị ám ảnh bởi máu me phụ nữ, đe dọa tính mạng nhà báo, thiếu tư cách,… Nhưng tất cả đều như bọt biển, xùi lên rồi tan ngay.

TTDC và phe DC ý thức được cái cây cổ thụ Trump này khó đánh ngã thật, mấy cơn bão trong bình trà này chẳng làm tróc một mảnh da nào. Phải khuấy động những cơn bão lớn mới hy vọng.

Quay qua quậy cơn gió… Nga La Tư.

Cấu kết với Putin. Nga giúp kiểu này cách nọ. Nay phụ tá này gặp đại sứ Nga, mai cố vấn kia nói chuyện với luật sư Nga, mốt chính tổng thống xì tin bí mật an ninh quốc gia cho ngoại trưởng Nga. Hàng ngàn tin lớn nhỏ được đám quan chức Obama nằm vùng xì ra, bất kể quyền lợi đất nước. Chẳng ai thắc mắc lo kiểm chứng, cứ có là tung ra ngay. Không ai phủ nhận được thì quá tốt, hy vọng sẽ chấm dứt chế độ Trump. Lỡ có tin nào bị vạch trần là tin vịt thì có sao đâu, xin lỗi một tiếng là xong, đi lùng tin vịt khác. Cứ điều chi vài ngày lại một fake news rồi xin lỗi. CNN xin lỗi vài ba lần. ABC xin lỗi. CBS xin lỗi. MSNBC xin lỗi. New York Times xin lỗi. Hết nhà báo này đến ký giả nọ xin lỗi. Hết dân biểu này đến nghị sĩ nọ xin lỗi.

Hấp tấp lo chửi ngay khi vừa ba chớp ba nháng thấy có chuyện có thể chửi, đó là mô thức hành động mới của TTDC.

Như cột báo này đã viết, tung tin phịa, hay chuyện bé xé ra to, để có dịp sỉ vả Trump cho đỡ ấm ức, rồi xin lỗi, đó là cái mánh mới của phe chống Trump. Có sao đâu, dù gì thì những tin xấu đã được thiên hạ đọc rồi, in vào đầu họ rồi. Ba cái xin lỗi, chẳng ai đọc, có đọc cũng chẳng để ý.

Ít ra thì mấy ông bà Mỹ còn xin lỗi, chứ mấy ông bà tỵ nạn, có loan tin phiạ bị lộ thì cũng xù, chứ chưa thấy vị nào xin lỗi hết. Cái bệnh không biết “cám ơn” hay “xin lỗi” mà thiên hạ chửi VC, hình như cũng đã lan qua Mỹ rồi.

Chuyện con ma Nga thì nói mãi phát nhàm, có bấy nhiêu bàn đi tán lại giống như nhai cục kẹo cao su đã hết vị ngọt từ ba hôm trước rồi. Lâu lâu có tin mới thì mừng rêm. Tin ông Mueller thành lập bồi thẩm đoàn được tung ra như ngày mai ông Trump sẽ vác chiếu hầu tòa, tuần tới sẽ bị nhốt tại Guantanamo vậy. Làm kẻ này nhớ lại một bài du ca trước 75: “Hy vọng đã vươn lên…”!

Cái may mắn lớn cho “phe ta” là chính ông thần Trump là người có cái bệnh khá độc đáo, chuyên tạo ra chuyện để phe đối lập có dịp đánh mình chơi. Mỹ gọi là bệnh … ma-sô-xít! Chuyện ma Nga vừa lắng dịu được vài tiếng đồng hồ thì TT Trump đã cảm thấy buồn chán quá, bèn chế ra chuyện cho TTDC đánh chơi: đánh bài ba lá với đám phụ tá: nay ông này biến, mai ông nọ hiện, đố biết ông nào là ai, đang ở đâu, làm gì?

Ông xếp thông tin nhẩy vào, ông phát ngôn viên ra đi, ông chánh văn phòng nhẩy vô, ông thông tin nhẩy ra. Dường như màn ảo thuật ẩn hiện này chỉ mới bắt đầu và trong những ngày tới, sẽ còn nhiều đào kép hiện rồi biến.

Cái ông xếp thông tin Scaramucci mới là lạ.

Trước đây, người ta nghe tên ông Scaramucci qua một tin chấn động do CNN chế ra. Theo CNN, ông bạn thân này của TT Trump là tay trong, liên lạc viên giữa Trump và Putin, để khuynh đảo bầu cử. CNN được tin mật này ra, mừng như đã dò vé số trúng đủ sáu số, tung ra ngay. Một ngày hôm sau, khám phá ra là fake news do một anh ma gà nào đó đút cho ăn, không bằng chứng gì. Anh Scaramucci là chỗ quen biết lâu năm của TT Trump thật, nhưng chẳng có liên hệ gì đến Nga, mà lại còn là đảng viên đảng DC, trước đây ủng hộ bà Hillary, đã từng tweet nhục mạ ông Trump ngay từ những ngày đầu. Rốt cuộc phải thu hồi tin lại, xin lỗi độc giả, sa thải 3 anh nhà báo làm chốt thí. Thiên hạ chẳng ai biết anh Scaramucci là ai, cũng chẳng để ý. Đi vào quên lãng.

Bất ngờ, TT Trump loan tin bổ nhiệm đúng anh này làm giám đốc thông tin, Director of Communications. Anh này nhẩy ngay lên mặt báo và TV với thái độ hung hãn hơn bọ xít, chửi bới tất cả mọi phụ tá, cố vấn của TT Trump, bằng ngôn ngữ mà mấy thằng nhóc đánh giầy ở Hà Nội chưa dám sử dụng. Hăm doạ sa thải tất cả nhân viên Toà Bạch Ốc ngoại trừ… TT Trump!

Chẳng ai hiểu tại sao TT Trump lại chọn anh này làm xếp thông tin. Ma-sô-xít?

Tay này đi quá xa, TT Trump phải ra lệnh lính mũ xanh đổ bộ sông Potomac, quét dọn Hoa Thịnh Đốn. Tướng TQLC John Kelly đang làm giám đốc An Ninh Lãnh Thổ được chuyển qua làm Chánh Văn Phòng. Một ngày trước khi nhận chức, ông ra điều kiện với TT Trump: sa thải ngay cái anh điên Scaramucci. Anh điên làm giám đốc đúng 250 tiếng đồng hồ.

Rồi TT Trump lấy lý do đi nghỉ hè 17 ngày, tránh qua một bên cho ông tướng mới ra tay quét dọn, cùng lúc với bộ trưởng Tư Pháp Sessions được trao toàn quyền truy lùng địch nằm vùng đang xì tin mật. Ta chờ xem kết quả ra sao.

“Phe ta” thấy tình trạng loạn xà ngầu, nhẩy tưng tưng: phen này thì TT Trump mất job là cái chắc. Khiến kẻ này thắc mắc: Ủa, sao vậy? Tưởng tổng thống chỉ có thể mất job nếu phạm tội phản quốc tầy trời nào đó, phải qua thủ tục đàn hặc cực kỳ rắc rối. Chứ đâu biết bây giờ, TT Trump cũng có thể mất job vì đổi phụ tá? Vẫn chuyện bọt biển?

Thật ra, chẳng có chuyện TT Trump mất job gì ráo. Xin lỗi quý vị thù ghét Trump một cách mù quáng, nhưng sự thật cho đến nay chưa ai thấy có lý do nào TT Trump có thể bị lột chức hay bị áp lực phải tự ý từ chức hết. Lý cớ duy nhất có thể đưa đến đàn hặc mất job là việc cấu kết với Nga, nhưng cho đến nay, cuộc điều tra vẫn chưa ai biết đi đến đâu. Theo ý kiến cá nhân của kẻ mù mờ này, cuộc điều tra cuối cùng sẽ chẳng đụng gì đến TT Trump, tuy có nhiều triển vọng tìm ra được vài con nhạn trong đám phụ tá làm vật tế thần cho phe cấp tiến.

Nhìn lại toàn bộ thành tích của TT Trump trong nửa năm đầu, khó ai có thể chối cãi tình trạng bát nháo do quá nhiều khó khăn. Tất cả thăm dò dư luận đều cho thấy hậu thuẫn của TT Trump đang rớt như sung rụng. Cũng đáng lo cho TT Trump, dù biết rằng nếu các thăm dò là chính xác thì giờ này bà Hillary đang làm tổng thống chứ không phải ông Trump.

Một số lớn khó khăn do địch tạo ra, tức là do TTDC và đảng DC chế ra để đánh phá và cản trở việc thông qua các cải tổ mới. Những khó khăn này sẽ cản trở bước tiến của chính quyền Trump không ít, nhưng đó là chuyện đấu tranh chính trị bình thường, chẳng có lý do gì để đi đến chuyện đàn hặc hay từ chức. Người ta còn nhớ TT Obama sau khi ra được Obamacare, bị chống đối mạnh, mất cả Hạ Viện lẫn Thường Viện, để rồi 6 năm sau đó, chẳng ra được bất cứ luật lớn nào, chỉ ngồi chơi xơi nước cho đến hết nhiệm kỳ.

Một số khó khăn khác lại do chính TT Trump tạo ra. Điển hình là những tweet tranh cãi với TTDC hay những thay đổi nhân sự trong chính quyền. Hậu quả của thiếu kinh nghiệm cũng như cái… khẩu nghiệp nói nhảm, coi trời bằng vung của TT Trump, và nhất là việc hầu hết nội các và phụ tá của TT Trump đều là những người ông mới biết, mới làm việc chung sau này, không phải tâm phúc lâu năm, nên chuyện không hợp, phải thay đổi chỉ là dĩ nhiên. Nhưng tất cả những chuyện đó chỉ là những luộm thuộm kỹ thuật, chẳng ai có thể nói đó là những tội đầy đình phải bị đàn hặc hay ép ông từ chức.

Mọi lao xao đều chỉ là “diện”, không phải “điểm” của vấn đề.

Quan trọng là những vấn đề lớn của đất nước mà ứng viên Trump đã hứa và người dân đang mong chờ. Nói trắng ra là các vấn đề Obamacare, thuế má, công ăn việc làm, nan đề di dân lậu, và nhất là gia tài Nhà Nước vú em Obama.

Phần lớn, TT Trump chưa có thời giờ hay cơ hội làm gì nhiều. Ta cứ chờ đó trước khi lạm bàn. Ta thử nhìn qua vài việc đã làm.

Obamacare đang là cái nhức đầu lớn của TT Trump. Dĩ nhiên tất cả phe DC không chừa một người, đã quyết tâm chống mọi ý kiến phe CH đưa ra. Cái khó khăn là trong chính hàng ngũ CH đã không tìm ra được một đồng thuận tối thiểu nào. Mỗi lần biểu quyết một giải pháp là lại có vài ba nghị sĩ chống đối vì nhu cầu bảo vệ ghế của mình, hay vì lý do riêng nào khác. Dù sao thì cuộc chiến Obamacare vẫn đang tiếp diễn, chưa kết thúc.

Công ăn việc làm chính là thành quả lớn nhất của chính quyền Trump mà TTDC đã cố tình khỏa lấp, dấu kín như bưng, không bàn tới.

Hàng loạt các đại công ty Mỹ cũng như ngoại quốc đã vẽ lại kế hoạch đầu tư lâu dài, bỏ bạc tỷ vào kinh tế Mỹ lại, như GM, Apple, WalMart, Amazon, Toyota, Mazda,… sẽ tạo cả triệu job cho lao động Mỹ. Các mỏ than vùng kỹ nghệ Đại Hồ bắt đầu sống lại, mang công ăn việc làm cho hàng vạn gia đình. Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục giảm mạnh. Một nhà báo ước tính hơn một triệu jobs đã được tạo ra dưới nửa năm của TT Trump.

Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa của Mỹ sống lại nhờ hàng ngàn luật lệ lắt nhắt thời Obama bị chính quyền Trump lẳng lặng thu hồi. Những ai không tin chỉ cần nhìn vào chỉ số chứng khoán Dow Jones, tăng 20% trong nửa năm, thể hiện niềm tin vào chính sách kinh tế mới.

Nhưng quan trọng hơn cả là những việc làm lặng lẽ đằng sau những ồn ào của những đấu đá với TTDC, những việc mà báo cấp tiến The Atlantic hoảng sợ đang cố rung chuông báo động, nhưng ít người biết vì TTDC dấu nhẹm:

– Hàng trăm quan tòa liên bang khuynh hướng bảo thủ đang và tiếp tục được âm thầm bổ nhiệm với nhiệm kỳ vĩnh viễn, nghiã là ít nhất 20-30 năm vì phần lớn các quan tòa TT Trump bổ nhiệm đều trẻ, trên dưới 50 tuổi. Chưa kể việc TT Trump có triển vọng bổ nhiệm 2 hay 3 thẩm phán Tối Cao Pháp Viện. Thay đổi vĩnh viễn hướng đi của Tư Pháp Mỹ về hướng bảo thủ. Một đại họa cho khối cấp tiến. Đây là lý do chính khiến TT Trump không sa thải ông Sessions cho dù bực mình về chuyện điều tra Nga.

– Luật gia cư, trợ cấp an sinh, phiếu thực phẩm, tiền thất nghiệp,… đang được sửa đổi mạnh để chặn đứng những gian trá, lạm dụng, tiết kiệm bạc tỷ tiền thuế của dân trung lưu. Những vị nào khai man thuế, có nhà cho thuê trong khi lãnh medicaid,… nên cẩn thận những ngày tới, đừng đùa với lửa Trump rồi than oan.

– Dù luật di trú mới chưa có, nhưng di dân lậu đã nhận được thông điệp rõ rệt của chính quyền mới. Số di dân tràn lậu qua tự động giảm gần hai phần ba. Bức tường chưa xây nhưng coi như đã có rồi. Hình như binh thư Tôn Tử đã nói chưa ra quân mà đã thắng thì mới đúng là thắng lớn nhất.

– Theo thống kê chính thức, chính quyền Trump đã thu hồi hay sửa đổi gần 400 luật lệ và thủ tục hành chánh của thời Obama, nhất là liên quan đến giới kinh doanh nhỏ.

– Luật bình đảng màu da trong các đại học đang được cứu xét lại, dựa trên vụ các sinh viên gốc Á Châu đang kiện Harvard vì đã nhận sinh viên da đen dù điểm đậu thấp hơn sinh viên Á Châu, trong đó có sinh viên gốc Việt. Các cụ tỵ nạn có con cháu đang xin vào đại học Mỹ nên uốn lưỡi bẩy lần trước khi chửi Trump kỳ thị nhé.

Ông bác sĩ Ben Carson, bộ trưởng Gia Cư đã cười lớn: “tôi rất mừng TT Trump đã lãnh đủ mọi đòn ồn ào để tôi có thể lẳng lặng lo việc của tôi”.

Nói chung, gia tài cấp tiến của TT Obama đang bị xóa hết. Đó chính là thành quả lớn nhất và lâu dài nhất của TT Trump. Chỉ việc này không cũng đủ làm khối bảo thủ vui vẻ sổ chấp việc TTDC cuồng điên chống Trump. Những người thù ghét Trump dường như vẫn không thể ra khỏi cái bong bóng cấp tiến -liberal bubble- hoàn toàn cô lập không nhìn thấy thực trạng nước Mỹ. Vẫn loay hoay đi tìm tin vặt bất lợi cho Trump để… tự sướng. Cho dù hầu hết đều là fake news cũng vẫn sướng.

Thực tình mà nói, kẻ này trước đây và ngay cả bây giờ, đã và đang có nhiều câu hỏi lớn về ứng viên Trump, đặc biệt về kinh nghiệm cũng như về cá tính. Những bài viết của kẻ này trên Việt Báo trước ngày bầu cử còn đầy đủ, ai cũng có thể kiểm chứng được.

Nhưng ta sống trong chế độ dân chủ, phải coi trọng tiếng nói của người dân. Người dân đã quyết định trao trách nhiệm cho ông Trump. Dù muốn dù không, thích hay ghét ông Trump, cũng cần phải cho ông ta một cơ hội để làm những gì ông đã hứa. Sau đó 4 năm, nếu không vừa ý, tha hồ chửi, vẫn có quyền bầu người khác, cho ông Trump về vườn. Thái độ nhắm mắt nhắm mũi chống đến cùng, chống tất cả mọi việc bất kể tốt xấu, chống ngay khi ông chưa kịp làm gì, tất cả chỉ là thành kiến phe đảng mù quáng, nhỏ mọn, và ấu trĩ.

Vũ Linh

M LÀ MỘT MẬT MÃ KHÔNG THỂ GIẢI MÃ

 

 

M, ta phải viết như vậy
để tránh những cái nhìn trống rỗng đi qua tâm hồn
để chôn vùi những cơn đau thắt ruột dư
ngủ một mắt tay choàng ôm con nhân sư hóa đá
M, ta đã nói rằng em không có thật
M chỉ là một mẫu tự chiếc, hay một thoáng mây bay
khi ta mơ về một hoàng hôn bên trời
lúc tia nắng cuối cùng chói lọi dĩ vãng rơi lại
M như một chỗ nằm bên cạnh dòng suối
để tắm mát thân thể mục ruỗng
để ngơi nghỉ giấc đời không bao giờ thức dậy
M là nỗi cô đơn ta tìm thấy
qua lăng kính của phi thuyền con thoi vỡ tan
M có nhiều khi chỉ là một ảo ảnh đeo đuổi buồn phiền
mùi thơm của số mệnh bị bạc đãi
ta phải đau lòng nói rằng M, M là một chuỗi số bất tận
một mật mã không bao giờ được giải mã
cho đến khi bị tan loãng vào chốn khôn cùng
chỉ còn những tình yêu bạc bẽo rong chơi cuối trời quên lãng *
M, ta đã nói rằng trong giấc mơ của motel 6
thỉnh thoảng, là căn nhà nằm sau chân mây vắng
M, sẽ chỉ là heo hút
sẽ chẳng là gì cả khi cơn mưa rồi hết
những ngày nghỉ lễ rồi tan
người ta vội vã trở lại văn phòng, cơ xưởng, trường học
ta lại chở M tiếp tục cuộc hành trình
đầy nghi vấn và dang dở
nhiều lần ta đã thống hối mà đuổi M đi
nhưng M, vẫn là một ẩn số
chẳng thể nào giải mã
nó một mình một chốn một niềm riêng.

 

Phạm Khánh Vũ

ANH MẤT EM RỒI SAO

 

Anh mất em rồi sao?
Còn hẹn nhau kiếp nào!
Trăng vàng xưa tóc rối
Cỏ xanh bờ chiêm bao!

KỶ NIỆM HOA VÀNG xưa
Thơ bay lừng quán trưa
Bướm tiền duyên về đậu
Cành em bướm vàng tơ.

Em nhớ chăng mùa thu
Trăng vàng THU TƯƠNG TƯ
Em hát thu quyến rũ
Hồn anh xanh áo mơ!

Còn đâu ĐÊM VĂN THÁNH
Đèn thủy tạ lung linh
Hai vì sao lấp lánh
Nụ hôn say đắm tình.

Ôi nhành HOA THẠCH THẢO
Héo úa mộng hương tàn!
Dòng sông đời hư ảo
Sóng vỗ sấu mang mang!

Hồn anh giờ cổ mộ
Sương khói tuyết thời gian!
TÌNH YÊU HOA THIÊN SỨ
Rã cánh rụng trăng ngàn!

Anh mất em rồi sao?
Còn hẹn nhau kiếp nào!
Trăng vàng xưa tóc rối
Cỏ xanh bờ chiêm bao!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

mặt trời đen

 

 

ngày sấp ngửa chờ mặt trời gầy
ám dụ
con sói xám
mang mặt nạ người
hí hửng
chờ con tốt qua sông

bầy chim thiên di
đã một đi không trở lại
đâu đó
những đứt gãy
thành vết sẹo
ngóng mặt trời buồn

bài kinh nhật tụng đã cũ
những con chữ tội nghiệp
xác xơ
thiên đường xa lắc
nào đường quang
nào bụi rậm
khóc
mặt trời đen

 

NP phan

SAN JOSE CÓ GÌ LẠ KHÔNG, EM?

 

Có lẽ trong số dân trung niên, tầm tầm, rất ít người không biết đến câu: “Paris có gì lạ không, em?” Hồi ấy, nghe câu thơ này, tự dưng trong hồn thấy cơn lãng mạn dâng trào, con trai thì phải làm ngay một ly cà phê cho đã, hoặc “rít” một hơi thuốc lá cho tới tận cuống, rồi bâng khuâng nhả khói chầm chậm, nhẹ nhàng để làn khói bay lảng vảng trong không một lúc rồi mới tan đi. Còn con gái? Nho nhỏ thì  ôm lấy cuốn “Lưu bút ngày xanh” vào lòng, mắt lơ đãng nhìn vào những tấm hình bạn bè và những dòng chữ thân thương, để nhớ đến cánh bướm vàng khô ép trong cuốn vở trắng tinh, những lời gán ghép đỏ mặt,và những giây phút vui đùa rũ rượi bên nhau. Nhớn nhớn một chút thì cắn môi, tay vân vê những sợi tóc dài buông thả trên bờ vai, nhìn qua cửa sổ, hướng về phía cánh cửa nhà của “chàng” cách đấy không xa, lắng nghe tiếng đàn ghi-ta chập chững của chàng mà tơ tưởng đến một thành phố diệu vợi bên trời Tây biền biệt kia, có dòng sông Seine lờ lững uốn quanh phố thị như cánh tay của nàng Venus đa tình đang vươn ra, mời mọc.

Nhưng rồi, thời gian qua, có dịp đến Paris, để thấy Paris chẳng có gì lạ cả! Y hệt như trong những tấm “carte postal” ngày xưa. Dù hai, ba chục năm trôi qua, Paris vẫn thế, vẫn nóc thánh đường cổ kính, vẫn tháp Eiffel xương xẩu, và những con đường chật hẹp chỉ đủ lọt một chiếc xe hơi và một chiếc xe đạp. Dân Paris đi làm, ăn mặc chững chạc, “complê, cravát”, nhưng tay lại cắp một ổ bánh mì dài thòng không  nhân, cuộn trong một tờ giấy vàng ố. Ðường xá nhiều xe, nhưng đa số là xe tàn và tắc xi, những anh tắc xi “chém” bạo hơn máy chém thời Robespiere, vừa bước lên xe đã thấy đồng hồ nhẩy vài đôla rồi; hỏi tài xế thì cho biết đó là tiền “baga”, nghĩa là tiền chở đồ! Vào tiệm uống cà phê thì coi chừng cà phê Paris làm loãng máu, vì giá dành riêng cho du khách được tính đặc biệt, uống xong một ly thì xây xẩm mặt mày, máu tan ra như nước. Nếu đói bụng mà muốn thưởng thức cơm Tầu, Paris đãi khách bằng loại hủ tiếu không thịt, chỉ toàn bánh và nước. Muốn có thịt, phải kêu riêng một tô thịt riêng, giá tương đương với tô bánh.  Paris chật hẹp, Paris không có nước xài thả giàn như ở Mỹ, dân Paris hai, ba ngày tắm một lần, nên nước hoa Paris bán đầy phố. Khách sạn Paris có hai loại: loại quyền quý, loại trung bình. Loại quyền quý thì không dám bước chân vào, sợ khi trả buồng, bước ra thì cụt cẳng. Loại trung bình thì chán phè, buồng chật, thang máy hẹp, phòng tắm bé tẻo tèo teo, nhìn khăn trải giường không dám nằm úp mặt xuống. Bởi vậy, Paris chẳng có gì lạ cả. Chắc thêm ba chục năm nữa, Parisvẫn là một vũ nữ về chiều, ngồi trên ghế đá, lắc lư đầu nhìn khách vội vã bước qua.

Trong khi đó, thì tại Tiểu Bang miền viễn Tây này, có một thành phố mà lúc nào lên chơi cũng thấy lạ: San Jose!

Từ  Orange lên miền Bắc, xe vượt qua những con đèo ngoằn ngoèo, rồi tới một khoảng dài xa lộ mà chỉ có một “lane”, đi ban đêm, tim đập thình thịch, chỉ sợ vừa quẹo ra là thấy lù lù một chiếc xe tải khổng lồ đâm sầm tới. Và những khúc xa lộ chạy trong thành phố, những vườn nho lẩn giữa những trang trại kiểu xưa đột ngột biến hiện trong những tòa nhà đang xây cất hiện đại. Rồi thung lũng hoa vàng từ từ hiện ra, rất sương khói, rất mờ nhạt, và rất lạ. Xa lộ cũng từng ấy “lane” mà hình như khác với xa lộ Orange, không diễn tả được. Cũng kẹt xe, cũng xe cộ nối đuôi nhau, nhưng một khi vào tới xa lộ San Jose rồi, thì cảm giác lâng lâng sao đó, không còn cảm thấy sự căng thẳng của lái xe lâu giờ, không thấy “road rage” làm muốn chửi thề liên tục, không thích bấm còi dầu người bên cạnh lái ẩu, mà chỉ muốn tha thứ, muốn mỉm cười với người không quen. Sao vậy, nhỉ? San Jose có chi lạ mà mỗi lần lên, lại như trẻ hẳn ra? Quán ăn San Jose cũng bàn, cũng ghế, cũng phở, cũng bún bò Huế, cũng hủ tiếu, cơm tấm, nhưng hình như bà chủ San Jose dễ thương hơn, tươi mát hơn, nên thức ăn có vị đậm đà hơn.

Quán cà phê San Jose buổi sáng vắng hoe, không ồn ào như Orange, nên thưởng thức một ly nong nóng vào lúc sương còn lảng vảng trong hồn, thấy như cà phê San Jose độc nhất vô nhị. Trong cà phê có pha sương, trong sữa đậu nành có chút gió, trong tô phở có nụ cười. Giá sống ở đây trắng nuốt như nàng sơn nữ Phà Ca, rau răm ở đây nhấp nháy như cặp mắt ai Quan Họ. Ăn uống ở đây, tình tứ và lãng mạn hơn Paris  nhiều.

Buổi tối, lái xe đi vòng vòng thành phố, thấy San Jose như cô thiếu nữ kiều diễm, nửa Tây Phương, nửa Châu Á, thay đổi mầu áo từng giờ, từng phút. Những quán sách, dĩ nhiên ít sách hơn ở Orange, nhưng lại cám dỗ vô cùng. Những chợ, những quán “to go”, dĩ nhiên nhỏ hơn Orange, nhưng lại đầm ấm hơn, thân thiết hơn, bước vào chỉ muốn mua một chút gì đó, rồi tần ngần bước ra, muốn để một chân lại trong cửa. Hình như khí hậu ẩm ẩm, lành lạnh làm cho San Jose có một không khí lúc nào cũng lạ.

Như thế, đến San Jose rồi là không muốn về, dù San Jose đất chật, người đông. Nhất là một hôm, San Jose tặng cho một kỷ niệm đẹp, mãi mãi không quên. Chiều Chủ Nhật ấy, San Jose mưa như mưa tháng Bẩy, người Orange đi lễ tại một ngôi nhà thờ cổ kính nằm giữa lòng thành phố. Orange đậu xe lại, giương dù định bước ra, chợt thấy ngay bên cạnh, San Jose cũng vừa đậu xe, mà ngập ngừng nhìn lên trời, đếm những hột mưa ào ào rơi xuống như những sợi chỉ thủy tinh trắng trong. San Jose quên dù ở nhà mất rồi! Orange suy nghĩ trong một giây, rồi bước đến cạnh xe San Jose, gõ cửa nhè nhẹ, rồi lấy tay chỉ chỉ vào cây dù. Cặp mắt nai San Jose mở to, ngần ngại trong giây lát rồi khép nhẹ. Cánh tay nhẹ nhàng đưa xuống mở cửa. Cây dù của Orange nghiêng vào, che mái tóc, rồi che cho cả chiếc váy đen dài của San Jose. Từ ấy, dưới mái dù ấy, chân Orange và San Jose đi cạnh nhau, tránh vũng nước này, nhẩy lên viên gạch nọ, lách qua bụi cây, bước lên thềm giáo đường. Tới dưới mái hiên, dù gấp lại, và nghe rõ tiếng cây dù thở dài. Sao mưa không tạt vào ướt cả thánh đường để dù được giương lên mãi? Dù bâng khuâng, và ráng mỉm miệng cười khi nghe tiếng “thanks” nhỏ nhẹ, ngân vang trong lòng dù.

Thánh lễ hôm ấy hình như dài hơn mọi hôm. Cha giảng hình như hơi nhiều, người ta chịu lễ hơi đông. Và rồi, chờ mãi thì cũng thấy lễ tất. Bước ra khỏi cửa, gặp ngay cặp mắt San Jose đang đứng chờ. Vẫn lặng lẽ, không một lời chào, không một gật đầu, dù giương cao, che cho mái tóc San Jose khỏi ướt, và lại trở lại con đường cũ. Không, không phải, đường này sai rồi, tại cây dù lúng túng nên đi lạc rồi, không thấy xe đâu. Hay Orange cố tình đi lạc? Không phải đâu, Orange đang cố dõi mắt tìm xe chứ! Ðây, đây rồi. Xe San Jose đậu cạnh xe Orange đây. Cánh cửa mở ra, San Jose bước vào và ngước lên nhìn. Mắt San Jose mở lớn đến nỗi Orange thấy cả mình trong đó. “Thanks.” Tiếng nói thứ hai và là tiếng cuối cùng. Xe San Jose từ từ chuyển bánh. Orange bỗng tự nhiên thấy mình già hẳn. Mới phút trước là chàng thanh niên trung niên, hùng tráng, mạnh bạo; chỉ phút sau, chân đã lập cập kiểu ông già tám mươi, tay rung rung cắm chìa khóa mãi mà không vào, đóng cửa mãi mà không kín, “đề” mãi mà xe không nổ máy làm nước mưa tung tóe vào, ướt cả tóc tai… Tự dưng, Orange muốn ngâm câu thơ cuối của một bài thơ xưa: “Orange ơi! Hồn ở đâu bây giờ?” nhưng thấy một câu thơ không đủ, người Orange bèn phải viết nguyên một bài thơ tặng cho San Jose như sau:

 

San Jose có gì lạ không, em?

San Jose có gì lạ không, em?
Hình như, ở đó, tóc em rất mềm
Hình như gió núi làm em mỏng
Ðêm lạnh, thở dài, bỗng lạnh thêm.

 San Jose có gì lạ không, em?
Cà phê buổi sáng chưa đã cơn thèm
Nhìn qua cửa sổ, như chim sâu nhỏ
Nửa muốn nằm vùi, nửa muốn bay lên

 San Jose có gì lạ không, em?
Quán xá về khuya, khách ngồi như thiền
Thinh lặng ngó hồn theo dòng nhạc
Thơ thẩn về nơi rất thân quen

 San Jose có gì lạ không, em?
Chủ Nhật, mưa bay, đi dù rất hiền
Chân “ma sơ” chạm chân trần thế
Anh bỗng thèm một vòng lưng êm

 San Jose có gì lạ không, em?
Giữa ban ngày mà lòng như đêm
Giọt mưa hôm ấy còn lành lạnh
Cánh cửa nào đã khép lại hồn em?

 Và San Jose lúc nào cũng lạ
Người tình lúc nào cũng lãng đãng xa
Ðến hoài mà vẫn như tờ giấy trắng
Chưa nụ hôn nào nóng bỏng môi ta…

CHU TẤT TIẾN    

 

 

Ngựa Hí Chiều Thất Thanh

Thương quá, em màu tím!  Áo tím và mùa Thu.  Bao nhiêu năm kỷ niệm, hình vẫn chưa nhạt màu…
Cỏ quê người có lợt.  Đất quê người có thâm.  Em vẫn là Tổ Quốc, rừng Thu về lặng câm!
Chắc em đang tìm kiếm một mảnh áo nhà binh?  Một cái nòng súng liệng?  Một phiến xương mong manh?
Em cầm khăn chờ gói nước mắt của em rơi?  Em cầm khăn chờ xoáy nhúm tro tàn sắp bươi?
Em ơi trời Thu lạnh.  Rừng Thu sẽ lạnh nhiều.  Em đừng tìm gì nữa…người sống, còn, bao nhiêu!
Tấm hình xưa, xưa lắm.  Bốn mươi năm để dành.  Coi như đường vạn dặm, ngựa hí chiều thất thanh…
Ai sống thì cải tạo!  Ai thoát thì vượt biên.  Khăn em cầm khô ráo gói giùm anh cái quên…
Trần Vấn Lệ

CHỢT NẮNG TRÀN QUA NGÕ

 

trên nhánh môi son mùa trẩy mùa
nghe chừng hun hút miệt thu xưa
gió nhạt viền quanh hờ mái núi
thu lắc lay mềm cung phím đưa

em nhốt thu vàng trong áo thơm
đường trăng!hoa lộng ngọc khẻ hờn
chút díu dan thôi mà nở đoạn
em một phương còn anh một phương

thu nhuộm lưng không thoi thóp rưng
tan theo khúc giao hưởng nửa chừng
hạnh phúc chi đâu buồn đến vậy
em một phương còn anh một phương

chiều hắt qua song cửa!ốm buồn
gối lá vàng phiêu lụy mòn trông
khúc khích nắng về ngang đầu ngõ
lòng nghiêng theo ráng nhuộm đằng đông

em bước qua đời anh sớm mai
bao nhiêu năm câu ngắn câu dài
bao nhiêu tơ lụy choàng cổ tích
soi một cung trầm rêu xám tay

đuôi mắt viền cơn mê bấp bênh
lòng anh lú lẫn nhớ rồi quên
chiều nay chợt nắng tràn qua ngõ
trời rộn heo may chìm khói lên.

Lê Hát Sơn

mây trắng vô thường

 

khói sóng mờ tan chiều trở rét
đưa tay hái những sợi rong buồn
tôi về tay buốt ngày mỏi mệt
một mảnh đời riêng che khói sương

em đi bỏ lại sầu tê tái
một nửa đời hư gửi lại trần
hắt hiu trong cõi ngày thơ dại
rơi xuống thành ngàn cơn gió câm

đời sống nhiều khi buồn muốn khóc
đành ngồi mà nhớ những tàn phai
vít bóng thời gian tràn đáy cốc
chờ những cơn say mộng ngút dài

rồi ngày cũng lặng im như tượng
về mà nhặt nhạnh bóng mù sương
tôi thấy gì đâu ngoài tuyệt vọng
có chăng mây đã trắng vô thường…

nguyễn minh phúc

 

CHÍNH SÁCH “BẾ MÔN TỎA CẢNG” THỜI CỘNG SẢN

Tôi đang sống ở Boston. Không biết vì lý do gì, lịch sử của thành phố này lại có rất nhiều liên hệ, có khi gắn bó và cũng có lúc oan khiên với lịch sử Việt Nam. Và biểu tượng lâu đời nhất của mối quan hệ Việt Mỹ đầy biến cố là USS Constitution, chiếc hạm được ủy nhiệm đầu tiên của hải quân Mỹ, bây giờ là một viện bảo tàng nổi nằm ở góc vịnh Boston.
Hơn hai trăm năm, trước khi có USS Nimitz, USS George Washington, USS Constitution, hạ thủy 1798 và được trang bị 54 khẩu đại bác, là niềm kiêu hãnh của hải quân Mỹ. Và cũng chính chiến hạm này đã bắn vào Đà Nẵng năm 1845.
Câu chuyện bắt đầu vào tháng 5-1845, USS Constitution trên chuyến hải hành thiện chí, đã ghé Đà Nẵng để xin cung cấp thức ăn, nước uống và xin phép chôn cất một thủy thủ vừa qua đời. Tuy nhiên, khi biết Việt Nam đang giam giữ Giám mục Dominique LeFevre, một nhà truyền giáo Pháp đang bị cầm tù, Đại Úy Hạm Trưởng John Percival yêu cầu Việt Nam trao trả tự do cho giám mục. Phía Việt Nam từ chối. Hạm trưởng Percival tức giận và chỉ huy một đội quân võ trang đổ bộ xuống Ðà Nẵng. Ông tống đạt thư đòi Việt Nam phải trao trả tự do cho Giám Mục LeFevre, đồng thời, cũng để chứng tỏ quyết tâm của mình, hạm trưởng đã hạ lệnh bắt ba viên quan Việt Nam trú phòng Ðà Nẵng làm tù binh. Phía Việt Nam cũng nhất định không trả tự do cho giám mục. Không làm gì được, cuối cùng, Hạm trưởng Percival đành thả tù binh và ra đi. Trước khi nhổ neo, ông ra lịnh cho giàn trọng pháo của USS Constitution nã vào biển Đà Nẵng một loạt để bày tỏ thái độ bất bình.
Không chỉ mỗi Việt Nam bị hiếp đáp, thị uy, nhưng cùng một khoảng thời gian đó, 1852, Hạm trưởng Matthew Perry, trên những chiến hạm tương tự như USS Constitution bây giờ, cũng đã đe dọa chủ quyền nước Nhật. Hạm trưởng Matthew Perry chưa bắn viên đạn nào, chỉ phô trương lực lượng thôi nhưng đã làm nước Nhật suy nghĩ.
Trong khi đó, các vua triều Nguyễn vẫn an nhiên. Những viên đại bác từ USS Constitution bắn vào Đà Nẵng không làm lung lay bức tường thành hủ nho, phong kiến, lạc hậu trong ý thức của các vua nhà Nguyễn.
“Bế môn tỏa cảng” chưa hẳn là một sai lầm. Nếu đóng cửa để suy nghĩ, để gặm nhắm cái nhục, để uống cái đau của một nước yếu, để trau giồi, học hỏi, canh tân và rồi vươn lên thì cũng không đáng trách. Các vua triều Nguyễn không được như thế. Chính sách “bế môn tỏa cảng” thời nhà Nguyễn là bản sao chính sách “bế môn tỏa cảng” của nhà Thanh dẫn đến việc Trung Hoa bị ngoại bang chia năm xẻ bảy sau đó.
Mặc cho dông bão phương tây đang ùn ùn kéo tới, vua tôi nhà Nguyễn vẫn cứ tiếp tục miệt mài đèn sách trong kho kinh sử Trung Hoa, vẫn Tứ Thư Ngũ Kinh, vẫn trọng đạo Thánh Hiền, vẫn hãnh diện vì Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường.”
Học ngày đó là học để ra làm quan, để làm thơ chứ không phải để giúp dân, cứu nước. Trong Việt Nam Sử Lược sử gia Trần Trọng Kim viết về giáo dục dưới triều Nguyễn: “Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu.”
Và ông kết luận: “Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh”.
Câu “Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh” đọc lên nghe cay đắng nhưng thực tế làm sao.
Trần Trọng Kim viết câu này cách đây gần một trăm năm nhưng nếu ai chỉ mới đọc lần đầu có thể hiểu lầm vừa được viết từ Hà Nội tối hôm qua.
Phong trào giải thể chế độ thực dân được phát động sau thế chiến thứ nhất và trở thành một cao trào bùng nổ khắp các quốc gia Á Phi cùng với việc ra đời của Liên Hiệp Quốc sau thế chiến thứ hai.
Phần lớn các quốc gia bị trị lần lượt giành được tự do. Dọc bờ sông Nile cho đến vùng Địa Trung Hải, các dân tộc Phi châu từng bước xây dựng lại đất nước họ. Tại Á Châu, các quốc gia thuộc địa như Ấn Độ, Mã Lai, Singapore, Nam Dương, hay vừa hình thành sau thế chiến thứ hai như Đài Loan, Nam Hàn tập trung nỗ lực vào việc tái thiết và canh tân đất nước để đuổi kịp đà tiến nhân loại. Hành trình dân chủ hóa tại các quốc gia này gặp rất nhiều hy sinh, thử thách, có khi phải nhuộm bằng máu, nhưng đó cũng là một mục tiêu đích thực và không thể nào thay thế mà đất nước họ phải đạt đến.
Giống như các nước Phi châu xa xôi và Á châu gần gũi, lẽ ra Việt Nam cũng có cơ hội giành độc lập và bắt tay xây dựng đất nước. Việt Nam, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, một lực lượng lao động cần cù, một dân số không quá đông hay quá ít, một ý chí quật cường hun đúc từ lịch sử bốn ngàn năm, nếu không phải là con rồng, con phượng của Á Châu thì cũng không đến nỗi thua kém Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Mã Lai, Singapore, Nam Dương.
Không.
Trong lúc những quốc gia cùng số phận đã vượt qua, đã vươn lên, Việt Nam vẫn máu đổ thịt rơi, hàng triệu người dân Việt Nam vô tội vẫn tiếp tục ngã xuống mỗi ngày trên đồng ruộng Việt Nam.
Tại sao?
Bởi vì khác với các phong trào giành độc lập tại các nước Á Phi, Việt Nam có đảng Cộng Sản.
Toàn bộ chính sách của Mỹ từ 1946 đến thời kỳ Liên Xô sụp đổ đều hướng đến một mục tiêu duy nhất là ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản (containment). Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, quân sự của mỗi quốc gia, việc áp dụng chính sách ngăn chặn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau.
Đối với Việt Nam, để đương đầu với một đội quân hùng mạnh của đảng Cộng Sản Việt Nam đang “thừa thắng xông lên” sau trận Điện Biên Phủ, với sự yểm trợ vũ khí dồi dào của các quốc gia khối Cộng Sản đứng đầu là Liên Xô và Trung Cộng, trong lúc tại miền Nam một quân đội quốc gia non trẻ đang mới hình thành, Mỹ đã chọn giải pháp trực tiếp can thiệp bằng quân sự.
Một trăm hai mươi năm, sau khi USS Constitution đến Đà Nẵng, mùa hè 1965, các chiến hạm Mỹ từng đoàn cập bến. Những đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ. Ngày đó, người Mỹ chưa biết nhiều về con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam. Thật ra họ cũng không cần biết. Việt Nam chỉ là điểm nhỏ trên bản đồ chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Và để thực hiện chính sách ngăn chặn Cộng Sản, Mỹ mang máy móc sang Đức, mang sách vở sang Nhật trong khi mang bom đạn sang Việt Nam.
Thế nhưng, cuộc chiến chưa tàn mà người Mỹ đã bỏ đi khi chính sách toàn cầu thay đổi. Họ ra đi vội vàng như đã đến lúc mặc cho cây dân chủ ở miền Nam phải chết non khi vừa bén rễ, mặc cho hàng triệu người lính miền Nam hết súng, hết đạn, đưa lưng trần chịu pháo, mặc cho hàng triệu đồng bào miền Trung, miền Tây Nguyên phải tay bồng bế con thơ, lưng cõng cha mẹ già, bỏ làng mạc ruộng vườn chạy trốn trong lúc T54, T76 đang rượt đuổi theo sau.
Trong ly rượu chúc mừng chiến thắng ở Moscova, ở Trung Nam Hải, có nước mắt của những đứa bé Việt Nam không cha, có máu của những bà mẹ Việt Nam bất hạnh nhỏ xuống khắp ba miền.
Mỗi khi nhìn USS Constitution tôi lại nghĩ đến những quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Trong suốt hơn mười năm làm việc ở trung tâm thành phố Boston, tôi đi ngang qua đó nhiều lần và thậm chí có dịch một bài báo của tờ Boston Globe về chuyện người lính hải quân Mỹ đầu tiên thuộc USS Constitution được mai táng tại Đà Nẵng, nhưng chưa bao giờ đặt chân lên chiếc tàu chiến đó.
Ghét Mỹ chăng? Không. “Quốc gia chỉ có quyền lợi chứ không có kẻ thù”, câu nói quen thuộc đó đã được Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton lập lại khi bắt tay lãnh tụ độc tài Moammar Gaddafi tháng 9, 2009. Và hôm nay cũng chính bà Hillary Clinton tuyên bố Moammar Gaddafi phải chịu trách nhiệm cho những vi phạm nhân quyền tại Libya mặc dù nhân quyền tại Libya bị chà đạp hơn 40 năm chứ không phải chỉ vài tuần qua.
Nhìn số phận của các dân tộc Libya, Ai Cập, không thể không nghĩ đến số phận hẩm hiu suốt mấy trăm năm của dân tộc mình.
Thật vậy. Nếu có một dân tộc phải được xếp vào danh sách những dân tộc chịu đựng dưới chính sách đô hộ hà khắc, đồng hóa bất nhân và diệt vong tàn bạo nhất trong bàn tay của các đế quốc ngoại bang xâm lược thì bên cạnh một Do Thái với hai ngàn năm lưu vong và những lò thiêu sống của Hitler, một Armenia bị diệt chủng dưới gót giày của đế quốc Ottoman, phải có một Việt Nam trong một ngàn năm nô lệ dưới các triều đại Tần, Hán, Ngô, Tấn, Tùy, Đường, Minh.
Thật vậy. Nếu có một dân tộc là nạn nhân của chế độ thực dân tàn bạo với tất cả cực hình tàn khốc, thì bên cạnh một Congo trước những thanh gươm bén của vua Bỉ Leopold, một Triều Tiên dưới chính sách đồng hóa của Nhật, phải có một Việt Nạm dướt gót giày Thực Dân Pháp gần suốt một trăm năm. Thực dân đến Việt Nam không phải để gieo rắc tinh thần tự do được dấy lên từ cách mạng 1789 mà để cướp đoạt tài nguyên và bóc lột tận cùng sức lao động của nhân dân Việt Nam.
Phải chi ông bà chúng ta ngày đó biết thức thời mở cửa, tiếp nhận nhiều nguồn khác nhau để hóa giải ngoại lực, từng bước hiện đại hóa đất nước để tăng cường nội lực thì có thể đã thoát nạn thực dân, Cộng Sản và Việt Nam đâu đến nỗi này.
Dù sao, lịch sử là một dòng sông không ngừng chảy. Có lúc phải vượt qua những mỏm đá cheo leo nhưng cũng có khi êm đềm phẳng lặng. Không ai có thể thay đổi quá khứ nhưng có thể học từ những sai lầm, những thiếu sót để làm đẹp tương lai.
Nhân loại chỉ mới qua khỏi thập niên đầu của thế kỷ nhưng đã bước một bước thật dài trong khoa học kỹ thuật và đời sống xã hội. Thời đại hôm nay là thời đại dân chủ. Từ anh chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ cho đến người thợ mỏ Phi châu đều đã có quyền chọn lựa người lãnh đạo của mình.
Hành trình phát triển của loài người có tính quy luật, từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh, từ thu hẹp đến rộng mở. Trong quá trình đó, nhân loại đã trải qua nhiều thảm họa nhưng cũng đã chứng minh khả năng của con người có thể vượt qua thảm họa bằng con đường dân chủ.
Năm 1974, chỉ có 41 nước trong số 150 quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Năm 1990, ba phần năm tổng số quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Và hôm nay, dân chủ, tuy mức độ còn khác nhau nhưng đang là thực tế tại hầu hết quốc gia, ngoại trừ một rất số nhỏ, trong đó có Việt Nam.
Người Việt có quyền tin rằng tuổi trẻ Việt Nam chứ không ai khác sẽ là những người mang giọt nước tự do trong lành tưới lên cánh đồng khô cháy Việt Nam. Những thế hệ trẻ của Việt Nam thế hệ đầu thiên niên kỷ đang đứng trước nhiều thử thách nhưng cũng nhiều triển vọng. Nhưng không. Tuy có nhiều tiếng nói bất đồng vang lên và nhiều nhóm trẻ đang hoạt động trên khắp các nẻo đường đất nước cũng như trong internet, Việt Nam vẫn chưa có một phong trào tầm vóc đủ lớn như Tunisia hay Ai Cập. Sức đẩy từ phía dân tộc vẫn chưa đủ mạnh để đưa cuộc cách mạng dân chủ đến nhanh hơn và tiết kiệm được nhiều hơn những hy sinh chịu đựng của đồng bào.
Tại sao? Có nhiều lý do, nhưng trong bài này, tôi muốn nói đến một lý do tư tưởng, rằng suốt bao năm qua giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đã áp dụng một chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy tinh vi và hệ thống.
Đọc bài báo Kết nạp Đảng tại Harvard đăng trên hầu hết các báo trong nước để thấy cái tác hại của chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy trong nhận thức của hai trí thức trẻ Trần Phương Ngọc Thảo và Lê Anh Vinh.
Vua quan thời nhà Nguyễn miệt mài trong Tứ Thư Ngũ Kinh nho giáo thì giới trí thức trẻ ngày nay bị đầu độc bằng chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chính Minh phản văn minh, phản khoa khọc và phản tiến bộ.
Chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy đã làm các em tin một cách chân thành rằng khác với các đảng Cộng Sản Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, đảng Cộng Sản Việt Nam do dân mà ra, từ dân mà có, đảng Cộng Sản Việt Nam là dân tộc Việt Nam là một, và do đó, đảng lãnh đạo dân tộc Việt Nam là chuyện tự nhiên như thời tiết.
Đảng Cộng Sản và dân tộc Việt Nam chẳng những chưa bao giờ là một mà từ trong bản chất đã có tính mâu thuẫn triệt tiêu nhau.
Như lịch sử đã chứng minh, chính sách của đảng, dù có lúc cực kỳ chuyên chính và cũng có khi tương đối nới lỏng để làm nhẹ áp lực quần chúng, mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của đảng luôn nhất quán sau 11 kỳ đại hội và 13 lượt tổng bí thư.
Có người cho rằng, đảng Cộng Sản ngày nay không còn là một đảng theo quan điểm Mác Lê đúng nghĩa nữa mà thực tế chỉ là một đảng cướp. Đừng quên, đảng cướp cũng cần phải có một cơ sở lý luận, bởi vì khác với con vật, con người có ý thức và sống bằng một niềm tin. Kim Nhật Thành có Chủ Nghĩa Độc Lập Tự Cường (Juche), Moammar Gadhafi có Chủ Nghĩa Xã Hội Hồi Giáo (Green book), ngay cả nhà độc tài tàn ác nhất Phi châu là Thượng sĩ Mobutu Sese Seko cũng dựng nên một lý tưởng quốc gia mà ông ta gọi là Nhận Thức Đúng (Authentication).
Dưới thời nhà Nguyễn, từ vua quan đến dân chúng, nói cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của một nhận thức bảo thủ sai lầm kế thừa suốt thời kỳ phong kiến, chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy của đảng ngày nay là một chủ trương, một chính sách nhằm che đậy mọi ánh sáng văn minh từ bên ngoài rọi vào cùng lúc xây dựng một thiên đường hoang tưởng bên trong.
Những lãnh đạo đảng đang hô hào lý tưởng Cộng Sản tại Việt Nam hôm nay, thật ra, đã từ lâu không còn tin vào miệng lưỡi của chính mình, nhưng những thuốc độc bọc đường đó đã tàn phá bao nhiêu thế hệ trẻ Việt Nam.
Các em Trần Phương Ngọc Thảo và Lê Anh Vinh như được nhắc trong bài báo, là tài nguyên của đất nước chứ không phải của đảng Cộng Sản.
Như những trí thức trẻ, các em chắc đang mơ một ngày không xa Việt Nam sẽ thành một Singapore hay một Nam Hàn. Tuy nhiên, khi trở về sống, làm việc và va chạm với thực tế chính trị tại Việt Nam, các em sẽ hiểu ra, ngày nào Việt Nam còn bị cai trị dưới một chế độ độc tài toàn trị, ngày đó giấc mơ ra biển lớn của các em sẽ không bao giờ thành hiện thực.
Không ai có thể lấy tay che mặt trời. Chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy tinh vi nhưng không thể bưng bít sự thật mãi mãi và bưng bít được mọi người. Vẫn có rất nhiều tuổi trẻ Việt Nam đang dấn thân trên nhiều ngã đường đất nước. Họ đang bị trấn áp, đe dọa, tù đày nhưng không bỏ cuộc. Từ trong những nhọc nhằn mà họ đang chịu đựng có một niềm hãnh diện dâng lên vì được sống trong thời đại mà những nỗ lực của họ sẽ mở ra trang sử mới cho dân tộc.
Lật đổ một nhà độc tài khác với thay đổi một cơ chế độc tài. Đảng Cộng Sản bám sâu vào đất nước mấy mươi năm, tác hại không chỉ về kinh tế chính trị mà trầm trọng hơn về nhận thức, tư tưởng và văn hóa. Trường Chinh đã viết trong Luận cương văn hóa 1943: “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”.Cách mạng dân chủ hôm nay, do đó, phải bắt đầu từ việc tháo gỡ các nhận thức sai lầm về lịch sử, xóa bỏ văn hóa Cộng Sản để mở đường cho cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để.
Đường cách mạng dân chủ Việt Nam có thể còn nhiều chông gai, sỏi đá, đòi hỏi nhiều thời gian và kiên nhẫn trong mỗi chúng ta, nhưng là một con đường vinh quang, đích thực, một bước phát triển không thể nào đảo ngược của dân tộc và loài người.
Trần Trung Đạo
Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo

LỤC BÌNH HẠ UYÊN

 

Giữa màu trăng sáng trong hồn gió
Con đợi ba về hạ uyên nguyên
Bao năm biệt xứ sầu không ngớt
đau nhói lòng theo mỗi khúc đường

Từ lúc quê nhà cơn bão rớt
Ba đã không về vuốt mắt con
Từng nhát búa gào lên khẩn thiết
trên nắp quan tài tiếng đinh rên

Ba đã đoạn trường không trở lại
Cho trọn tình con dẫu một lần
Hai tay ba bẻ đôi giọt lệ
lời thơ ụa máu sau chấn song

lời thơ ba viết là di chúc
vọng mãi đời sau tiếng búa buồn
Còn lại thời gian là nỗi nhớ
theo ba đi hết quãng đời còn.

QUAN DƯƠNG