CÕI XA NGƯỜI

Xa người,xa hết mùa xuân
Vòng tay sương khói trập trùng khói sương
Xa em,xa tận ngàn trùng
Chuyến xe hôm ấy đã không quay về
Xa thời gian tuổi em đi
Áo xanh phai hết ,còn gì cho anh ?
Xa làm xa cõi mông mênh
Mây bay quên cả nổi mình lênh đênh !
Xa người, thôi nhớ gọi tên
Ở nơi sâu thẳm cánh chim giang hồ
Xa rồi,góc phố đơn sơ
Quán cà phê có một người nhớ em

NGUYỄN NHƯ MÂY

Giao, bạn tôi

Nguyễn Hoàng Quý

b189033217

Tôi gặp Giao lần đầu, trong buổi nói chuyện thơ của Phùng Quán, theo lời mời của bệnh viện Diên Phước, Diên Khánh. Cùng với thơ Phùng Quán đọc, tôi được nghe độc tấu guitar classic do một người trẻ hơn, nghe nói cùng đi với nhà thơ, biểu diễn. Mặc dầu không khí hội trường, chất lượng âm thanh còn nhiều chỗ chưa đạt nhưng đã lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức một chương trình đậm tính văn nghệ như thế!

Giải lao, tôi trò chuyện với tay guitarist, và biết anh là Vũ Ngọc Giao, người đã đưa Phùng Quán từ Hà Nội vào. Anh đùa: “Phùng Phật sát Phật, phùng tổ sát tổ, Phùng Quán sát Quán!”. Câu nói như khởi đầu một định mệnh, xui tôi gắn bó thân thiết với người bạn mới quen này.

Cuộc thơ nhạc này được tiếp tục tại Vườn Tịnh Tâm – một trại ấp có từ 1941, cách đó chừng 3km – do hai vợ chồng giáo viên rất “văn nghệ” làm chủ.

Chiều xuống ở Tịnh Tâm thật chậm. Ngồi dưới tán cây ngoài vườn, tôi được nghe nhà thơ Phùng Quán kể lại những tháng ngày gian truân, những câu chuyện sáng tác và cuộc sống hiện tại của ông và gia đình, lại được nghe Vũ Ngọc Giao kể cơ duyên nào đã dẫn đến việc anh đưa nhà thơ xuôi Nam. Và tôi biết, giữa anh và tôi đã có một số “mẫu số chung” để có thể nói với nhau được nhiều điều ngoài công việc chuyên môn của từng người. Tối hôm đó, rất tiếc, tôi đã không thể ở lại hoặc về trễ hơn. Nhưng cũng không hề gì vì sau đó, tôi và Giao lại hội ngộ ở nhà tôi, một lần có bác sĩ Thuần, lần khác với Long Thành (chồng nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy), và sau buổi nói chuyện thơ thứ hai ở Đồng Đế, thì có Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Giao là một trong 3 người tiên phong trong việc gầy dựng lại phong trào guitare cổ điển ở Sài Gòn qua việc lập CLB Guitare Phú Nhuận. Một tên du tử có những hiểu biết cùng tầm, một nghệ sĩ lang thang như không tên tuổi. Anh có làm thơ, phần lớn là lục bát ngắt hàng. Thơ hay, đầy nỗi buồn và ẩn chứa nhiều tâm sự. Giao có chép lại cho tôi một số bài, trước khi về, và ghi lại địa chỉ ở Sài Gòn để có thể liên lạc bằng thư hoặc thăm nhau khi tôi vào đó.

Lần đầu vào Sài Gòn tìm Giao thật vất vả, tôi phải cùng đứa cháu – người dẫn đường sang tận bến Bình Đông. Gặp được nhau, thật là mừng. Giao kể đêm qua thấy “trăng huyết”, nên hôm nay tính rời khỏi nhà nhưng cứ nấn ná vì linh cảm sẽ có khách phương xa đến thăm. Chúng tôi đi uống với nhau, kể nhau nghe chuyện Sài Gòn, Nha Trang. và tôi biết, lúc này Giao thật sự khó khăn cả về cuộc sống, công việc lẫn những bức bối về tinh thần…

Lần khác, mùa hè, theo một chiếc xe tải của đứa em vào Sài Gòn, tôi lại đến thăm Giao và mời anh cùng làm dế mèn ra Nha Trang. Hôm xe ra, anh đến đúng giờ hẹn nhưng trên tay chỉ cầm một tờ báo, ngỡ bạn không đi, tôi vội hỏi, anh trả lời tỉnh bơ là vẫn đi đấy chứ ! Một chuyến đi xa ít nhất trên một tuần mà “mình trần thân trụi”! Tôi cũng đã từng giang hồ, lang thang bụi đời, cơm hàng cháo chợ, ăn bến xe ngủ bến tàu nhưng “bụi” kiểu này thì cái kiểu “một bộ ăn chơi quá thú” của tôi cũng chỉ đáng hàng hai, ba túi còn Giao chắc đã lên hàng sáu, bảy túi Tiếp tục đọc

CHỐN CŨ

Gió ướt còn bay giữa tháng giêng
Phố Huế còn mây áo lụa ai mềm
Mưa khói còn xanh một trời thôn Vỹ
“Huế trong lòng một người yêu em ”

Huế của ngày em bên tóc xanh
Con đường phượng đỏ nắng long lanh
Áo em là lụa hay em lụa
Mềm cỏ đường đi dưới cổ thành

Huế của em bởi Huế của em
Con đò Thừa Phủ gái Kim Luông
Tóc sa xuống nước tay vin nón
“Có một lời thơ thuở thịnh Đường”

Huế của đêm nằm đợi tiếng chuông
Chuông chùa Thiên Mụ bay trong sương
Tháng tư vườn nhãn thơm hương tóc
Nhắm mắt mà nghe trăm nhớ thương

Ba năm xa Huế anh còn nhớ
Bây chừ về thăm em ở mô
Ngồi lại bên hồ xưa có bạn
“Sen khô hồ cạn ” có ai chờ ?

Vũ Hữu Định

Nếu không tìm thấy nhau, lấy ngày 30.4 làm giỗ

Mậu thân khắc dấu lên thân thể thiếu nữ
Mùa xuân đầu tiên pháo kích trúng trại giam
Chân tay bụng vỡ máu chảy tưới hè phố
Chiến tranh đụng chạm khi tuổi còn rất ngoan

Tay còn ôm cặp da đi học dưới nắng
Rưng rưng thịt da yêu anh nhà thơ đi lính
Trốn phụ thân thăm anh trong vòng kẽm gai
Nụ hôn lính nghẹt thở run rẩy làn áo trắng

Tổ quốc chớm biết chính là hai nỗi đau
Một dân tộc chia đôi chính là cố giết nhau
Trái tim nhỏ xíu đập nhịp tim loạn nhịp
Sắp đến mùa thi, tháng tư chạy nháo nhào

Con gái mơn mởn phụ thân cho đi học
Học để có tương lai để có chút ấm thân
Bão tháng tư đen hết hồn dìm bao số phận
Lênh đênh bể dâu rồi!
áo trắng ngồi vỉa hè bán bánh bao

Ba mươi tám năm dập vùi chưa khi nào kịp nhớ
Tám hướng mười phương anh trôi giạt nơi đâu
Nếu không tìm thấy nhau, lấy ngày 30.4 làm giỗ
Anh ơi, áo trắng ngày xưa, góa phụ khép mi sầu.

Âu Thị Phục An

Tản Mạn Cơn Mưa Coi Như Đầu Mùa

Phạm Nga

rain

Đỗ Trung Quân, Rain

1.

Trận gió lớn đột ngột thổi đến làm khua động mấy tấm tôn trên mái nhà. Tiếng cây lá xào xạc hòa vào tiếng cửa sổ va đập. Cơn mưa ào ạt tuôn xuống đường phố như đã bị ai đó kềm giữ từ lâu lắm rồi. Mưa đấy, nhưng tiếc là chỉ kéo dài độ 15 phút, chỉ vừa đủ làm ướt mặt đường và trời mát hơn chút đỉnh. Mưa thật đấy, nhưng có đúng theo lời dự báo của đài khí tượng, rằng đầu tháng 5 thì mùa mưa năm nay mới thật sự bắt đầu?

Thật ra, đã một vài lần trong tháng 4 nóng bức kéo dài này, bầu trời chợt tắt nắng và mây chuyển sang màu xám xịt cả buổi nhưng vẫn không mưa nổi. Cũng có lần, vào một sáng thứ bảy, vài hạt nước từ trên trời đã rơi xuống một cách chóng vánh, thưa thớt, y như một trò thao diễn tượng trưng của thời tiết. Dân Sài Gòn tiu nghĩu, thất vọng, tiếp tục tính chuyện nghỉ cuối tuần là phải chạy thẳng ra biển Vũng Tàu, Long Hải hay ít ra là kéo nhau về vùng ngoại ô để tránh nóng…

Năm nào cũng vậy, sau vài lần chập chờn “giả mù sa mưa” như thế, cơn mưa coi như đầu mùa ngày hôm qua, thật sự lớn và kéo dài, mới chịu đến một cách đột ngột như không hề báo trước Tiếp tục đọc

CÀ PHÊ BUỔI SÁNG CUỐI TUẦN

Tặng các anh và các bạn Trần huyền thoại,Lê Sa,Bùi Diệp, Minh Kiệt , Mạnh Hiếu

Chủ nhật,cà phê chùa Thánh
Bạn bè đàn đúm văn chương
Luận bàn lan man thi phú
Quên bao cơm áo đời thường

Đọc bài thơ vừa mới viết
Già sao mà vẫn cứ tình
Ha hả giọng cười sảng hoạt
Bềnh bồng mộng giữa phù sinh

Nhắc lại về người con gái
Bao năm xa hút quê người
Có lòng ai vừa chùng xuống
Lặng lờ làm điếu thuốc rơi

Nhắc lại vài người bạn cũ
Cỏ xanh mộ chí năm nào
Thuở hàn vi ,thời bao cấp
Rượu nào đâu đủ mời nhau

Cuộc tàn chia tay , nắng gắt
Góc sân đầy lá tre vàng
Chút nhớ thương còn chất ngất
Đường về,cám cảnh đeo mang

TRẦN VĂN NGHĨA

Phan rang,14/4/2013

hẹn nhau

tình tôi lượm được sau nhà
nhớ nhung như giải ngân hà ướt sao
em về giữa giấc hư hao
tờ thư ngày cũ vàng bao nhiêu sầu
hẹn nhau ngày ấy qua cầu
ngờ đâu sóng vỗ chìm sâu bóng người

Lê Minh Châu

Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Mike Marito

MIKE MARITO

(Chuyên Viên Quay Phim)

“Ngập cứt?”

.

Tôi là chuyên viên thu hình của chuyến bay cuối cùng ra Đà Nẵng hôm ấy. Bruce Dunning, Mai văn Đức và tôi đã xin được phép đi với Ed Daly. Khi chúng tôi hỏi để xin theo, ông ta bảo “Tất nhiên là được, càng đông càng vui.”

Khi chúng tôi sắp hạ xuống Đà Nẵng, hai hàng phi đạo dưới ấy hoàn toàn trống trải, không một bóng người. Không có gì trên đường bay hay đường vào bến cả. Hình như, cũng không có ai lai vãng ở các khoang chứa máy bay. Mọi sự có vẻ trái hẳn với các nguồn tin chúng tôi nghe nói là Đà Nẵng sắp sụp đổ.

Chúng tôi dự liệu gặp cảnh hỗn loạn và một đám động giận dữ, nhưng từ trên máy bay chúng tôi nhìn thấy Đà Nẵng và các con đường trong phố đều êm. Nên chúng tôi hạ cánh. Khi tàu bay từ phi đạo vưa quẹo vào đường bến thì đột nhiên người ta ùa ra từ các nhà chứa máy bay. Phi trường Đà Nẵng bấy giờ là một căn cứ không quân khổng lồ trong thời chiến, từ các nhà chứa máy bay của căn cứ khổng lồ ấy, chắc phải đến 20,000 con người chợt hiện ra và ùa tới máy bay chúng tôi. Họ ngồi trên xe jeep, xe gắn máy, thiết vận xa, họ dùng mọi thứ xe tư nhân – mọi phương tiện xe cộ mà loài người đang sử dụng – họ chạy đến chúng tôi. Chúng tôi dừng lại một lúc giữa hai phi đạo – Tôi cho máy thu hình chạy. Trước khi thấy đám người này, chúng tôi định ra khỏi phi cơ. Nhưng chợt tôi có cảm giác ruột gan quặn thắt – cái cảm giác của những người làm tin chiến trường. Tôi tự bảo “Đừng, đừng ra khỏi tàu bay.” Những người này đang hoảng hốt. Bất cứ người nào nhỏ con đến đâu nhưng khi hoảng hốt, họ mạnh hơn mình nhiều. Tôi đem máy quay phim ra phía cầu thang sau, đứng đấy thu hình. Trong lúc phi cơ còn di chuyển, người đã chạy ùa lên thang. Chắc có người đã leo qua bên hông cầu, bẻ cong lại, nên cầu thang không rút lên được nữa. Trong khi tôi đang quay, họ bắt đầu bắn lẫn nhau. Họ nổ súng loạn xạ từ phía sau để chen lại gần máy bay. Lúc đó, tôi ngoảnh lại bảo Bruce “Mẹ kiếp, bọn mình ngập cứt rồil”

Chúng tôi chạy rà quanh phi trường. Cuối cùng Daly quyết định ông ta nói: “’Bay mẹ nó khỏi đây đi.” Lúc ấy chúng tôi bắt đầu cất cánh từ ngay cuối đường bến. Chúng tôi đụng một cái xe khi bắt đầu bốc lên. Mấy bánh xe bên trái tông phải một cái xe jeep. Lúc đầu tôi tưởng là chiếc máy bay vẫn còn chạy rà rà vì tôi còn đứng trên thang tàu bay. Chợt nghe máy rú tôi mới nghĩ “Mẹ kiếp, mình hãy còn đứng trên thang.” Tôi không muốn bay khỏi mấy bực thang chút nào. Lúc ấy có năm người Việt Nam đứng ở những bực dưới. Khi mũi tàu chống lên, lực bay và vận tốc bắt đầu bung mấy người ra. Một người cố bám được một lát, nhưng khi tàu bay lên khoảng cao độ 600 feet, anh ta buông tay bay như lính dù. Tôi chứng kiến anh ta bắn vụt ra không trung. Không thể tin được!

Lúc ấy ý nghĩ chạy qua đầu tôi là: “Phải sống sót trong vụ này, phải thu tất cả hình ảnh vào phim. Đây là giây phút khởi đầu của sự sụp đổ một quốc gia. Quốc gia này đã cáo chung. Đây là lịch sử, ngay đây, bây giờ. Phải ghi lấy lịch sử này bất kể cá nhân tôi đang cảm thấy như thế nào.” Tôi rời cầu thang, thu hình qua cửa sổ máy bay. Suốt lúc bay về, tôi mang nỗi hoài nghi – một nỗi hoài nghi hết sức mạnh mẽ, tôi muốn nói: Không cách gì chúng tôi có thể hạ cánh được. Phi công của chúng tôi, Ken Healy không điều động được mấy cái bánh xe để hạ, họ bảo có một cái xác người vướng trên ổ bánh xe. Cánh máy bay và mấy cái vành xếp đã hỏng, xăng của chúng tôi tiếp tục cạn.

Tôi ngồi trong khu dọn ăn phía sau. Tôi không có ghế ngồi. Lính tráng trên phi cơ đều có súng M16, và súng lục 45. Tôi tính: dẫu máy bay không bị rơi, vẫn có thể xảy ra chuyện những người lính này cướp máy bay đòi sang nước khác. Chúng tôi thực lo ngại chuyện ấy suốt buổi. Nên sau, chúng tôi tìm cách nói với họ: “Này quý bạn, mấy thứ này có thể bất ngờ gây tai nạn – Quý bạn có thể giao cho chúng tôi chăng?” Đức và tôi đi quạnh nhặt nhạnh các vũ khí và những quả lựu đạn. Chúng tôi dùng băng keo quấn lựu đạn để giữ chặt kíp Iại, rồi bỏ ra phía sau phi cơ.

Chúng tôi hạ cánh xuống Sàigòn an toàn. Mỗi khi có trục trặc, cảnh sát luôn luôn tìm tụi quay phim – Nên chúng tôi một lần nữa, dự liệu trước việc này. Chúng tôi trao hết phim cho Bruce Dunning để ạnh ta giấu dưới áo khi chúng tôi ra khỏi phi cơ. Họ không biết là có một thông tín viên mạng phim thoát ra. Tụi tôi làm kiểu này hoài. Chúng tôi sẽ gây chú ý cho cảnh sát bằng những dàn máy móc quay phim để họ bu đến, rồi người thông tín viên chuồn đi. Quả nhiên cảnh sát Sàigòn giữ Đức và tôi một lúc – Nhưng Bruce đã lặng lẽ bước, như không biết gì đến chúng tôi. Anh ta mạng được mấy cuốn phim đi thoát.

Chúng tôi được hai giải thưởng với bộ phim ấy. Câu lạc bộ báo chí nước ngoài một giải, Hiệp hội nhiếp ảnh viên báo chí quốc gia một giải nữa. Đến bây giờ – Tôi vẫn không thực sự tưởng tượng nổi những chuyện ấy là một cơn ác mộng – nhưng cho đến bây giờ, mỗi khi nhìn thấy bất cứ cái gì nhắc nhở tới Việt Nam, lập tức tôi thấy hiện ra các hình ảnh trong hồi tưởng như một làn chớp. Bất cứ lúc nào thấy cái gì dính dáng đến Việt Nam tôi lại thấy làn chớp ấy. Nó trong suốt như pha lê trong trí tôi. Suốt đời, tôi sẽ không bao giờ có thể quên.

NMTCM/P1NM/C1/MM

TRUYỀN THUYẾT KHÔNG TRUYỀN THUYẾT

Linh Phương & Tôn Nữ Thu Dung.

1.

Bảy mươi lăm , miền Nam Việt Nam bại trận khơi khơi
Trọng Thủy xuống tàu , lại lên tàu tìm con bồ Mỵ Châu giữa bốn bề khói lửa
Lông ngỗng cháy rụi rồi , tro tàn bay ngút trời khóc kinh thành thất thủ
Mất dấu đường bôn đào , Trọng Thủy vào trại giam làm ngụy tặc nợ máu với nhân dân
Truyền thuyết tam sao thất bản bảo rằng :
Mỵ Châu chết dưới đường gươm An Dương Vương
Máu chảy ra biển đông hóa thành hạt ngọc
…Nhưng lịch sử cũng viết sai sự thật
Để ngàn sau Trọng Thủy mang tiếng kẻ bạc tình
An Dương vương không hề giết con mình
Bởi thần Kim Qui chỉ là con rùa nói dóc
Mấy mươi năm lưu vong Mỵ Châu sống đời hạnh phúc
Bên nhung lụa gấm hoa quên Trọng Thủy vất vả ở quê nhà
Truyền thuyết xa xưa giờ đã phai nhòa
Mối tình quá khứ mờ mờ trong ngăn ký ức
Thiên hạ ơi ! Ai biết hơi thở Trọng Thủy sẽ còn hay mất
Và trái tim đau ngưng nhịp đập sớm mai nào !

2.

Ngày Mỵ Châu về tìm chẳng thấy âm hao
Có phải Trọng Thủy xưa đã tan vào thiên cổ
Ai nói : Máu chảy ra biển Đông sẽ hóa thành ngọc đỏ
Chỉ thấy nước mắt là mưa rơi xuống tự thiên đàng
Từ bao giờ truyền thuyết vẫn đa đoan
Trọng Thủy , Mỵ Châu vướng lời nguyền cũ rích
Tình yêu đẹp họa hoằn chỉ còn trong cổ tích
Nửa vòng quay trái đất rất vô tình
Và lòng người muôn thuở vẫn chông chênh
Dựa vào đâu cũng thấy mình hụt hẫng
Nếu trở lại quãng thời gian đã mất
Mỵ Châu thề …dzớt Trọng Thủy cùng đi…

TÔI

Tôi mang theo nỗi nhớ
Của dòng sông hẹn hò
Của quê hương gầy guộc
Với một lời thề xưa

Tôi mang theo ký ức
Tôi mang theo nỗi buồn
Hành trang tôi chất ngất
Một khung trời yêu thương

Tôi chìm trong dĩ vãng
Tôi trôi theo dòng đời
Bao nhiêu năm đất khách
Bấy nhiêu ngày lưu vong.

Tôi, và tôi thuở ấy
Tôi, và tôi bây giờ
Ai từ ngàn năm trước
Thả xuống dùm giấc mơ…

Tạ Chí Thân