Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Joe Hrezo

Hrezo

JOE HREZO

(Trưởng Trạm Hàng không)

“Chỉ sung sướng vì còn sống sót.”

Tôi là quản lý trạm World Airways ở căn cứ không quân Clark, Phi Luật Tân vào năm 1975. Tôi thi hành bất cứ công tác đặc biệt nào mà xếp Ed Daly muốn. Vì vậy khi một chiếc 727 của chúng tôi ở Việt Nam bị đạn, tôi nhận cú điện thoại bảo phải liên lạc với chủ tịch Philippines Airlines, cố thuê chiếc phản lực cơ Sydney Hawker 125. Tôi đoán hẳn Ed Daly có quen biết lớn với ông chủ tịch. Daly muốn thuê cái phản lực nhỏ này để chở một bộ phận thay thế cho phi cơ 727 ở Sàigòn. Tôi điện thoại nói chuyện với mấy người bên sở điều hành.

Họ đồng ý chuyến bay. Tôi gặp người trong căn cứ Clark, lấy được phép cho chiếc phản lực 125 hạ cánh. Chiếc máy bay đến Clark lúc 11 giờ đêm. Rồi tôi và cái bộ phận nặng 25 cân Anh kia bay đi Sàigòn trên chiếc máy bay này, đến Sàigòn khoảng 2 giờ sáng.

Khi đến nơi, tôi đoán có lẽ họ đã bắt đầu xài mấy chiếc phi cơ 727 để tải người từ Đà Nẵng vào rồi. Vụ này cũng ổn thôi. Vì vậy có hôm tôi đã leo lên làm một chuyến. Không lộn xộn gì. Ngày kế, tôi lại đi, có cả hộ tống bên toà Đại sứ đi cùng. Lúc hạ xuống Đà Nẵng vừa đến trạm Air America thì đám người ngợm khốn khổ tràn đến. Chúng tôi cho tàu bay vòng Iại, thả cầu, hai gã hộ tống bự con bước xuống, bắt đầu cho người lên. Người ta xô đẩy chen lấn, khi tàu đã đầy ứ họ còn cứ cố chui vào. Lính hộ tống có lựu đạn cay, đem ra xài. Chỉ báo hại bọn tôi hơn là cho đám dân: gió thổi ngược. Nhưng rồi cũng xong, bốc được người là chúng tôi về.

Nhưng hôm ấy khi toà đại sứ nghe Daly nói ông ta sẽ đi nữa thì họ bắt đầu nạo ông ta Tiếp tục đọc

Ở CHỢ

Mười năm ở chợ không tri kỷ
Ta đứng thu thân một nỗi buồn
Sáng bảnh mắt ra ngồi độc ẩm
Chiều về tra vấn lấy lương tâm

Mười năm ở chợ, ơi trần trụi
Em ạ, em xa ở kiếp nào?
Có thấy ngày xanh ta chuốc mộng
Không thành nên đắp chiếu thương đau

Ở chợ đông, sao hồn cứ lạnh
Đốt thuốc hoài không ấm nửa chiều
Thiên hạ đùn nhau đi kiếm sống
Nhân ái? Tang – thương – ngẫu – lục nhiều

Ta bán rau xanh ngày mệt lử
Đêm còn ngồi đọc sách thánh hiền
Cố quên cơm áo – Vòng danh lợi
Sao đời nỡ hối thúc bên lưng?

Mười năm ở chợ không thay đổi
Tâm tánh ta xưa vốn thật thà
Đâu ước công hầu mơ khanh tướng
Bạc tuổi thanh xuân mong có nhà!

Hồn ta ở chợ thương quê cũ
Nhớ áo nâu xưa, nhớ mẹ già
Nhớ bông bưởi rụng đêm mười sáu
Thơm ngát môi em trước hiên nhà

Mười năm ở chợ không tri kỷ
Gác chuyện văn chương thấy chẳng đành
Nên ta độc thoại – Ta đây nhỉ?
Thương nhớ xa xăm một bóng hình.

Trần Dzạ Lữ

PHƯỢNG BUỒN THUỞ ẤY

Tôi viết bài thơ tuổi học trò
Thuở hồn chớm mộng mắt vương mơ
Thuở đời quên bỏ từng tuổi lớn
Thuở biết tình yêu buồn vu vơ.

Thuở ấy thời gian đẹp tháng ngày
Và tâm hồn nữa cũng đổi thay
Mang hồn sách vở đi vào lớp
Gởi mộng và thơ ở lại ngoài

Em-chim sẻ nhỏ giữa sân trường
Đời em còn rộn những hồi chuông
Hồn em còn đẹp như màu áo
Đâu biết tình tôi đã nhớ thương

Tôi vẫn thầm riêng một góc chờ
Đường em đi hoa lá thành thơ
Tôi ngơ ngẩn đợi em về muộn
Áo trắng nguyên màu em có mơ ?

Rồi bỗng dưng trăm cánh phượng hồng
Nở vào mùa hạ nở bâng khuâng
Tôi ép tặng em màu hoa ấy
Để những mùa sau mỏi mắt trông.

Thuở ấy mùa thu hay mùa xuân
Thuở ấy đi qua chỉ một lần
Bây giờ mùa hạ bao nhiêu phượng
Nở hết vào tôi một nỗi buồn…

Tạ văn Sỹ

Quà tặng tháng tư của Tương Tri dành cho TẠ THI SĨ.

.

DSC08181

Tấm Lòng Người Mẹ

RC Gorman, Mother and Child

suongnguyen

Đi khắp thế gian
Không ai tốt bằng mẹ
Gánh nặng cuộc đời
Không ai khổ bằng cha
Nước biển mênh mông
Không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng
Không phủ kín công cha
Tần tảo sớm hôm
Mẹ nuôi con khôn lớn
Mang cả tấm thân gầy
Mẹ che chở đời con
Ai còn mẹ!
Xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn
Lên mắt mẹ – nghe không!

Đã đến mùa báo hiếu, tôi ngậm ngùi, tôi đã không còn mẹ để dâng một bông hồng cho mẹ. Nhìn bông hồng trắng mà các con cài vào túi áo của tôi, tôi nhỏ lệ thầm thì: Mẹ! Con nhớ mẹ, con thương mẹ!

Mẹ tôi, suốt một đời gian khổ lo toan. Làm việc quần quật từ sáng đến tối để mưu sinh, không một ngày hạnh phúc trong đời sống vợ chồng. Từ buổi sáng tinh mơ, mẹ đã ra vườn cuốc đất trồng cây, vồng từng luống đất, gieo giống, rải hạt, nhổ cỏ, cố gắng tạo cho ngôi vườn nhỏ của mình giống như vườn rau của mẹ ở Việt Nam.

Từ mùa xuân đến mùa hạ, từng giọt mồ hôi đổ xuống, vườn rau của mẹ đã xanh ngắt, lủng lẳng những trái bầu, trái bí, mướp hương ở trên giàn. Dưa gan, dưa hấu, bí đỏ bò lổn ngổn trên thảm cỏ. Mẹ tôi không bỏ sót một tất đất để gieo hạt, ươn cây.

Trong vòng mười năm, chúng tôi đã có một vườn cây ăn trái. Buổi chiều đi học về, bạn bè thường năn nỉ tôi cho chúng vào vườn để hái trái cây: ổi, quít, cam, hồng, bưởi, đổi lại là những bao thịt bò khô, kẹo gum hay chai nước ngọt.

Đã bao mùa xuân qua, chúng tôi đã sống trong tình thương của mẹ, chạy nhảy trong ngôi vườn tràn ngập ánh nắng và màu sắc: màu đỏ của hoa, màu xanh của lá và trái cây, màu vàng của ong bướm, màu cam của những con chim tung tăng trên cành quít, màu hồng của những trái thanh long leo lên tường nhà. Mẹ là mùa xuân, mẹ là trái ngọt, mẹ là suối nguồn hạnh phúc. Mẹ đã đem lại cho chúng tôi nhiều màu sắc của cuộc đời Tiếp tục đọc

Về Ninh Thuận

Em hãy về Ninh Thuận với Anh
Để ngắm biển xanh – biển xanh Ninh Chử;
Để tắm nắng vàng, gió vàng Phan Rang;
Để được nhìn những cánh đồng muối trắng, thênh thang
Của Cà Ná, Đầm Vua, Phương Cựu;
Để được cầm trong tay những chùm nho xanh, tím, đỏ
Của quê hương Ninh Thuận yêu thương;
Để được trông tháp Pô Klong sừng sững, rêu phong,
Màu không gian, màu thời gian hội tụ;
Để được đi dưới phượng hồng quyến rũ
Của con đường Tháp Chàm – Phan Rang;
Để được nhìn đôi bàn tay rất đỗi khéo léo, dịu dàng
Của mẹ, ở làng gốm cổ xưa Bàu Trúc;
Để được ngắm những cô gái, cô tiên làng Mĩ Nghiệp,
Dệt bướm thêu hoa trên thổ cẩm quê hương;
Để được nghe tiếng trống pi-găng,
Tiếng trống pa-ra-nưng
Và tiếng kèn sa-ra-nai rộn ràng, vang vọng.
Ninh Thuận quê mình vòng tay mở rộng,
Ninh Thuận quê mình nhịp đời sôi động –
Nhịp tình yêu, nhịp sống… khôn nguôi…
Em phải về Ninh Thuận với anh thôi!

Ninh Thuận, 05-5-2005
Phan Thành Khương

ĐỜI CHO TÔI NGÀY ẤY

Vô tình cầm lên con ốc rỗng
Nghe từ xa vắng những âm xưa
Đời cho tôi có em ngày ấy
Của một thời mộng lẫn vào thơ

Bốn mùa em giữ trên màu tóc
Trãi xuống vơi đầy cõi trăm năm
Đừng gom sương khói mùa thu lại
Sợ nắng vàng phai chỗ em nằm

Cầm tay em qua đường ngả trái
Nghe bước hồng khuya , bóng trăng tàn
Đi bên nhau đời còn rộng quá
Để bước xa rời nẻo nhân gian

Và vẫn thấy quanh chiều mộng mị
Hồn nhiên em áo trắng trinh nguyên
Hôn lên sợ màu tinh khiết ấy
Tan dưới bờ môi dấu nguyệt chìm

Mai sau rồi và mai sau nữa
Mùi hương kia chỉ có môt thời
Tôi về tìm lại màu hoa cũ
Để lúc xa người có chút vui…

Mai Việt

ANH CÓ THA LỖI CHO TÔI KHÔNG?

Thuỵvi

ANHCTHALICHOTIKHNG

thuỵvi

.

Mà khi tóc đã hoa râm
Khi mái đầu đã bạc
Khi ta đã đi qua những giông–bão–biển–bờ
Còn thấy tựa bên vai mình
Một tình yêu không thất lạc…

( ĐTQ )

Có một con hẻm thẳng băng nhưng sâu hun hút, đầu hẻm là con đường Hùng Vương, bây giờ họ đổi tên là Xô Viết Nghệ Tỉnh. Con hẻm tuy không chạm đến đáy con kinh Nhiêu Lộc như con hẻm nhà cũ của Đỗ Trung Quân, nhưng con hẻm được nối bằng cây cầu gổ băng qua một gò đất nổi nằm kế cận dòng sông băng qua cầu Sàigòn.

Con hẻm có ngôi nhà tôi ngày xưa.

Mấy mươi năm trôi qua, cây cầu ván mong manh biến mất, dòng nước như con suối vắt ngang biến mất. Những ngôi nhà lam nham còn đó, tuy có mọc cao hơn, đỏm dáng hơn, nhưng chúng nó vẫn chen chút dành nhau đứng hổn độn.

Không giống như Đỗ Trung Quân mỗi cuối năm trở về ngồi bên kia đường nhìn qua con hẻm cũ chổ mẹ ông ngồi bán hàng để ngậm ngùi nhớ mẹ.

Tôi đang ở xa lắm, năm thưở mười thì mới trở về thăm con hẽm cũ, ghé nhìn ngôi nhà cũ, giờ đã không còn người chủ cũ. Ghé về, đứng lặng trước hàng hiên, phóng mắt nhìn về hướng nơi cây cầu gỗ cũ nay đã xoá mọi dấu tích để ngậm ngùi.

Một buổi tối thật buồn – tôi trở về, đứng đấy – phó mặc những cái nhìn tò mò xoi mói của những người chung quanh.

Tôi đứng đấy – bên mái hiên, nhìn ra chỗ có cây cầu gỗ ngày xưa. Nhớ một người đàn ông.

Giờ, tôi không biết anh ở đâu? Nhưng tôi biết anh còn sống, sau lần tôi tưởng anh chết.

Lần đó, chiếc trực thăng anh rớt xuống giữa đám rừng mù mịt. Khi toán giải cứu ập đến, chỉ thấy một khối sắt khổng lồ chỏng chơ. Co-pilot nằm im với viên đạn xuyên qua ngực. Còn lại, tất cả biến mất Tiếp tục đọc

HƯƠNG TÓC RỐI

phamkhanhvu

Em đã xa nghìn trùng như cánh vạc
Cuối mùa mưa bay từng giọt mong chờ
tường vi nở hai hàng hoa tím ngắt
Gọi tôi về hương tóc cũ năm xưa

Thôi thì dám nói chi lời vĩnh biệt
Giữa đường về se sắt cọng mưa hoa
Tôi còn đứng bên này sông tưởng tiếc
Còn âm thầm chong mắt ngó xót xa.

Em biền biệt , mưa cuối mùa không dứt
Ôi một ngày tháng tám khói thu xưa
Tôi chỉ có một thời trong mơ ước
Ôi một thời chim sẻ rất ngu ngơ

Em đã xa nghìn trùng như cánh vạc
Từ một lần tôi vụng dại chia lòng
Tôi còn đứng giữa trời cao ngơ ngác
Và khóc òa chiều vỡ rất mênh mông …

Phạm Khánh Vũ

Trích lời bạt của nhà thơ Trần Dạ Từ trong tác phẩm BIỂN RỘNG HAI VAI :” Rất lạ mà cũng thật  quen. Có cái gì đó vừa lay động. Rất xa mà thật gần. Rất cũ mà thật mới. Chỉ cảm thấy là nó lấp lánh mãi…khi đọc Trần Nguyên Đán.”

Phạm Khánh Vũ của Tuổi Ngọc , cũng là Thương Vũ Minh của Tuổi Hoa ,và bây giờ là mục sư Trần Nguyên Đán…Bạn có thể đọc những tác phẩm của ông trên các trang da màu , tiền vệ hoặc songdao v.v… nhưng với tương tri ,ông sẽ mãi mãi là Phạm Khánh Vũ , một nhà thơ đã làm rung động nhiều trái tim của thời mới lớn.

Hiện ông sống và làm việc ở Maryland , Hoa Kỳ.

HỒN ĐÁ

Sương khuya mờ đám cỏ
Lay động cõi trời mơ
Gió lùa qua kẽ lá
Tượng đá ngồi chổng chơ !

Cheo leo trên vách đá
Lạc lõng tựa lưng đèo
Nghe lá vàng rơi rụng
Xào xạc vũng trăng khô

Kìa cầu treo lỗi nhịp
Bắc ngang hòn giả sơn
Đìu hiu trông lạc điệu
Bên rặng đồi cô đơn

Ai đi dọc bờ đê ?
Dưới thềm non sương trắng
Gánh trăng về ngõ vắng
Tưới sông -hồ- suối – khe…

Người ơi ! Chớ hững hờ !
Cội nguồn cạn xác xơ
Đá ngàn năm trơ lệ
Khóc thương đời xót xa .

Nguyễn Ngọc Thơ

TRONG SUỐT NHƯ KHÍ TRỜI

Khuất Đẩu

16759232-md

Lúc ấy là buổi chiều. Những cột khói quằn quại tuôn ra từ các ngôi nhà bị pháo kích khiến cho một phần bầu trời của bờ nam tối ám như có cả triệu con mực đang xả nước đen để trốn chạy. Ánh nắng tháng tư trong vắt là thế bỗng trở nên đục ngầu, sủi bọt..

Chiếc T54 lầm lì qua cầu, nòng pháo của nó chỉa thẳng vào những công sự vừa mới xây vội bằng bao cát. Những thân người suốt mấy ngày qua thiếu ngủ thiếu ăn và hiện đang thiếu đạn bị hất tung lên. Trung đội trưởng cố hết sức gào to trong tiếng đạn nổ: “thôi anh em tan hàng, cố mà về với vợ con!” Người binh nhì chưa kịp hiểu ra cái lệnh lạ lùng ấy thì một tiếng nổ nhỏ vang lên và vị chỉ huy đã ngã gục xuống bên cạnh. Khẩu súng colt vẫn chưa rời khỏi tay. Anh cúi xuống định nâng ông ta dậy, nhưng một ngọn lưỡi lê cắm phập vào lưng, tiếp theo là một báng súng nện vào đầu. Anh chỉ kịp kêu lên hai tiếng Mẹ ơi! trước khi thấy mình mỏng manh bay lên như khói thuốc!

“Con bà sao chưa về?” Người cán bộ thôn hỏi với giọng hạch hỏi chứ không phải thăm hỏi. Người đàn bà vội dấu tấm hình ra sau lưng nói: “tôi làm sao biết được”. Tiếng nói nhỏ nhưng vẫn đủ sức làm cho không khí rung động như những gợn sóng trên mặt ao. “Vậy là chạy theo thằng Mỹ rồi. Đã ba năm mà chưa về chắc là nhập bọn với tụi Fulro. Liệu hồn đấy”. Cái cách hăm dọa của ông ta làm cho mặt đất bỗng nhiên nghiêng hẳn khiến người thì cao tít trên mái nhà, người thì thấp tận đáy giếng. Ông ta đi rồi mà bà vẫn còn hụt hơi như ngộp thở. Bà áp tấm hình lên ngực và sau làn áo đẫm mồ hôi, hai cái vú khô chợt thức dậy sau hai mươi năm, như có đôi môi bé bỏng chạm vào Tiếp tục đọc