VỀ BÊN CỔ THÀNH

muongman

Bên thành cổ mùa đông rưng giọt nhớ
Bên cổ thành mưa hát khúc lang thang
Bên thành cổ chim kêu thương lẻ bạn
Bên cổ thành tôi thở khói chiều tan

Chiều mưa bay từ sông lên lầu nguyệt
Chiều bay mưa từ tóc rủ xuống thơ
Chiều bay mưa suốt hồn tôi xuôi ngược
Chiều bay mưa tay vẫy cuối mong chờ

Nhớ sương mù xanh mây trên đầu lá
Nhớ mù sương tình ướt dưới hiên che
Nhớ sương mù nón nghiêng bên hồ vắng
Nhớ mù sương bay rợp có ai về

Không còn gì nên một mình đứng lặng
Không còn gì dù một thoáng mắt xưa
Không còn gì cho tôi sao hỡi Huế
Còn gì không sao gọi mãi không thưa ???

MƯỜNG MÁN

CÂU CHUYỆN GIẤC MƠ

nguyentancu

Giấc mơ hỏi tôi:
Nếu chiến tranh đến, anh sẽ làm gì?
Tôi sẽ chạy trốn
Nếu bom đạn nổ?
Tôi sẽ chui xuống hầm

Nếu có kẻ đốt phá nhà của anh?
Tôi sẽ… tản cư
Nếu có kẻ cướp đất đai của anh?
Tôi sẽ để nó cướp
Nếu có kẻ muốn… giết anh?
Tôi sợ lắm
Tôi… tôi sẽ để nó giết

Nếu có kẻ muốn tống vợ con anh ra đường?
Tôi sẽ van xin
Nếu bạn anh phản bội anh?
Tôi sẽ vui
Nếu tình nhân cho anh cắm sừng?
Tôi sẽ hạnh phúc

Nếu đất nước nầy bị xâm lược?
Mặc xác nó không phải chuyện của tôi
Nếu tổ quốc nầy lâm nguy?
Thây kệ nó tôi không phải lo
Nhân dân của anh bị chà đạp?
Ôi dào, thì tôi cũng là dân đó thôi

Vậy thì anh đúng là… con chó
Giấc mơ giận dữ
Tôi ứa nước mắt
Con chó còn đỡ hơn
Anh không phải là con người
Giấc mơ gào thét
Tôi nức nở
Làm người là… làm sao?

Giấc mơ buông xuôi… mệt mỏi
Vậy thì anh sống làm gì?
Ai cho anh sống?
Tôi tỉnh khô trả lời:
Nhà Nước!

NGUYỄN TẤN CỨ

CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG BẮC KINH

sonnghi

Lời nói đầu: Muốn hiểu rõ bản chất của CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG BẮC KINH, chúng ta cần thấu triệt bộ mặt thật của cái chế độ phi nhân tại Trung Quốc (TQ) hiện nay. Chia sẻ sau đây khá dài, nhưng xin quý vị bỏ chút thì giờ đọc để hiểu rõ hơn tình hình sôi bỏng hiện nay tại biển Đông.

Thế vận hội tại Luân đôn lần thứ XXX đã kết thúc. Trung quốc (TQ) đoạt được 88 huy chương, gồm 38 Vàng, 27 Bạc, và 23 Đồng. Trong suốt 4 năm khổ luyện, các lực sĩ của 204 quốc gia thi thố tài năng tại Thế Vận hội Luân-đôn. Cao điểm của cuộc tranh tài đã đi đến hồi kết cuộc, qua đó sự thành công của các lực sĩ đoạt giải sẽ là niềm hãnh diện của riêng mình và sau nữa cho chính quốc gia họ.

Bất cứ vinh quang nào cũng đều có giá riêng của nó. Huy chương vàng là vinh quang cao quý nhất tại Thế Vận Hội (TVH), nhưng cái giá phải trả của các lực sĩ Tàu có xứng đáng không? Hơn nữa, mục đích khi tranh tài nói lên tinh thần thượng võ nhằm tạo sự hài hòa thông cảm giữa các nước với nhau. Dùng thể thao để thăng tiến ngoại giao, cũng như phát triển sự giao hảo giữa các quốc gia. Vì vậy, thắng không thua, bại không nản. Đó mới là tinh thần cao quý nhất trong các cuộc tranh tài tại TVH.

Các lực sĩ trước khi chuẩn bị tranh tài đều theo một thời khóa biểu khắc nghiệt, một sự luyện tập ráo riết, nhưng bên cạnh họ vẫn theo đuổi một đời sống riêng cho mình, cho gia đình. Các lực sĩ Tàu khi được tuyển chọn, họ thuộc về “tài sản” quốc gia, không còn biết đến gia đình, chẳng có một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác. Những gia đình có con cái được nhà nước tuyển chọn, chắc chắn họ không có quyền từ chối, mà phải chấp nhận hiến con. Chỉ có một điều an ủi là miếng cơm manh áo khỏi phải lo, đã có nhà nước lo. Nhưng xem như mất con. Nếu những cha mẹ này có sự lựa chọn, chưa chắc họ chấp nhận giao con cho nhà nước. Ngoài ra, đa số đời sống nông dân đều khổ nên thoát được được nào mừng đứa nấy. Vì thế hàng năm có đến chục ngàn em bé được tuyển chọn để bước vào một chương trình luyện tập gian khổ, quá gian khổ, mất hết tuổi thơ.

Wu Minxia (1a, 1b, & 1c), một lực sĩ trẻ thuộc bộ môn phóng xuống nước, sau khi đoạt huy chương vàng mới được tin cả hai ông bà nội vừa qua đời, đồng thời mẹ của cô đang chống chỏi với căn bệnh ung thư. Trong suốt thời gian luyện tập và tranh tài, cô không hề biết những tin tức đau buồn này. Theo ký giả Jordan Rabinowitz, cha mẹ quyết định dấu tin buồn để cô an tâm luyện tập và tranh tài. Cha mẹ cô dấu hay nhà nước bắt buộc cha mẹ phải dấu? Chắc chắn phải có sự can thiệp của chính quyền cộng sản. Như trên đã trình bày, cha mẹ hoàn toàn không có một quyền hành gì vì đứa con đã thuộc về “tài sản” của nhà nước. Người cha, ông Wu Yuming nhìn nhận, đứa con gái Minxia không hoàn toàn thuộc về gia đình, và cả hai vợ chồng không hề dám nghĩ đến chuyện hưởng mái ấm gia đình với đứa con, (nguyên văn: He also confessed that his daughter doesn’t really belong entirely to him and his wife, and that they don’t even dare think about things like “enjoying family happiness”). May mắn cho Minxia vì cô đoạt huy chương vàng, còn những lực sĩ khác đoạt huy chương bạc và đồng thì cơ quan thông tấn của nhà nước không hề đếm xỉa hay chúc mừng một lời nào. (China’s state news agency isn’t even congratulating silver or bronze medal winners, only those who earn gold). Phải là vàng kia. Phải là đứng đầu trên thiên hạ kia mới được. Sự háo thắng của tộc Hán bệnh hoạn đến độ không thể hiểu nổi.

Tính nhân bản ở đâu? Một đứa trẻ bị cắt đứt sự liên hệ với gia đình, không còn những vui chơi ở tuổi thơ với bạn bè để đi vào một thời gian luyện tập khắc nghiệt. Wu Minxia được dùng như một công cụ để phô trương sự “vĩ đại” của đảng cộng sản Tàu. Khi con người bị dùng như một món đồ vật, nhân phẩm đã bị chà đạp một cách dã man. Wu Minxia không phải là một trường hợp cá biệt nhưng nó xảy ra nhan nhản một cách có hệ thống trên toàn bộ nước Tàu.

Câu hỏi đặt ra là tại sao nhà nước Tàu lại phải phô trương khí thế tại thao trường quốc tế một cách tuyệt đối như thế, mà không hề màng đến giá trị con người. Thưa họ dùng con người để đánh bóng chế độ nhằm thỏa mãn tham vọng của CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỰC ĐOAN.

Muốn hiểu rõ cái chủ nghĩa này được hình thành như thế nào, chúng ta cần lần lượt giở lại trang sử của Tàu. Trước hết hãy bàn về thời điểm sau khi Đặng Tiểu Bình (ĐTB) công du từ Mỹ về. Ông chủ tịch ngỡ ngàng khi thấy cả một nước Mỹ hùng mạnh, tiêu biểu cho chế độ tư bản mà theo niềm tin cộng sản xã hội này đang dãy chết. Về nước, ĐTB cương quyết loại bỏ cách xây dựng XHCN kế thừa của Mao mà biến đổi thành một chế độ nửa nạc nửa mỡ, lập lờ đánh lận con đen giữa tư bản và cộng sản và được nhà nước Tàu gọi là Định Hướng XHCN, qua câu nói kinh điển: không cần biết mèo đen hay mèo trắng, miễn là bắt được chuột. Từ đó, đảng viên tha hồ làm giàu miễn là làm thế nào để áp đặt được cái đảng cộng sản lên đầu dân chúng. Khi bật đèn xanh cho các đảng viên làm giàu, vô tình họ đã phỉ nhổ vào mặt 2 ông Mác-Lênin, khi chủ trương của chế độ cộng sản là vô sản (không có tài sản riêng). Hiện nay chỉ còn nước Bắc Hàn và Cuba là theo đúng khuôn mẫu của chế độ cộng sản mà thôi.

Nhờ thức thời thay đổi và trộn lẫn lý thuyết thành một nồi tả-pí-lù chủ nghĩa, TQ đã nhanh chóng trở thành một cường quốc tại vùng Đông-nam-á. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, tổng sản lượng quốc gia của TQ (GNP, Gross National Product) tăng đến độ chóng mặt, từ 2.95 nghìn tỉ (trillion) đến 11.3 nghìn tỉ; tăng 283% trong vòng 11 năm (từ 2000 đến 2011) (2). Thường thì GNP trung bình tăng 3% là điều hết sức mong đợi của một quốc gia tiên tiến. Riêng TQ chỉ trong vòng 11 năm, GNP của TQ tăng gần gấp 3 lần. Khi quốc gia giàu đột biến theo biểu đồ của parabola, tính dân tộc độc tôn nổi dậy. Như một anh nhà quê đột nhiên giàu xổi, máu Hán tộc trong người lại có dịp vùng lên dữ dội hơn bao giờ.

Giống Hán chỉ là một trong 5 sắc tộc tạo nên TQ, gồm có Hán, Mãn, Tạng, Mông, và Hồi, trong đó tộc Hán đông hơn cả. Lịch sử nước Tàu bị các rợ Hung nô hoặc các sắc dân chung quanh chiếm đóng toàn thể bờ cõi. Một thời Thành Cát Tư Hãn làm mưa làm gió chiếm lĩnh Trung nguyên (1279 AD), tộc Hán bị xem là thứ yếu. Quân Mông cai trị cả nước Tàu và lãnh thổ trải dài mãi đến tận Ba-tư (Iraq). Vó ngựa quân Mông cổ đi đến đâu, cỏ không thể mọc đến đấy. Thế mà quân Nguyên bị vua Trần Thánh Tông và Đức Trần Hưng Đạo đánh bại 3 lần, năm 1258, 1285, và 1288. Gần đây nhất, Tàu bị sắc dân Mãn Châu cai trị trong suốt gần 3 thế kỷ và chỉ chấm dứt sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn dật Tiên khởi xướng. Thời gian này, người Hán bị bắt buộc phải cạo đầu và thắt đuôi sam như người Mãn. Quân nhà Thanh bành trướng đến tận Mông cổ, Tây tạng, Tân cương, và một phần nước Nga nhưng đám quân này, một lần nữa vẫn bị thua không còn manh giáp tại Hà hồi, Ngọc hồi bởi đạo quân đầy quyết tâm của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, khởi quân từ đất Phú Phong (Bình định). Như thế, trong suốt mấy nghìn năm TQ khi thì bị chia năm xẻ bảy, khi thì bị các nước chư hầu cai trị, và tộc Hán chỉ mới được khôi phục gần đây, sau cuộc cách mạng tháng Mười do Mao cầm đầu (1949), mở ra một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử TQ, khi đảng cộng sản nắm quyền lực tuyệt đối.

Dân Tàu luôn hãnh diện về hai người: đó là Tần Thủy Hoàng và Mao trạch Đông. Hai người này áp dụng một lối cai trị sắt máu, giết không biết bao nhiêu là dân chúng. Khi vua Tần (221 BC) lên nắm quyền ra lệnh giết hết các nho sĩ, học trò, và đốt sách. Suốt thời gian Mao nắm quyền (1949-1976), người ta ước đoán có khoảng 65 triệu người dân bị giết, nhất là qua hai cuộc cách mạng Đại Nhảy vọt (1958) khiến khoảng 20 triệu người bị chết đói, và cuộc cách mạng Văn hóa đẫm máu nổ ra năm 1966 nhằm củng cố quyền lực của Mao (xem The Blackbook of Communism) (3a & 3b). Ngoài giết người như ngoé để duy trì địa vị độc tôn của đảng cộng sản, Mao còn hoang dâm vô độ. Theo cuốn sách “The Private Life of Chairman Mao” của bác sĩ Lý chí Thỏa (Li Zhisui) (4) thì Mao hằng đêm lên giường với 2, 3 cô gái trẻ. Có thơ rằng:

Bác Mao cân nặng tạ hai
Thịt ùn lên mặt, mặt hai ba cằm
Người dân Trung Quốc thì thầm
Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều
Nguyễn chí Thiện

Một ông vua và một ông chủ tịch giết người lạnh lùng và hoang dâm đến vậy nhưng dân Tàu vẫn luôn sùng bái. Tại sao vậy? thưa vì nhờ hai ông này mà nước Tàu thống nhất một cõi sơn hà, đưa tộc Hán lên hàng đầu trên các sắc dân.

Lá cờ của Tàu có hình 5 ngôi sao. Ngôi sao to nhất tượng trưng cho tộc Hán, còn lại là các sắc tộc Mãn, Mông, Tạng, và Hồi. Từ khi cộng sản nắm chính quyền, tộc Hán mới trở thành công dân hạng nhất. Và cho đến gần đây khi nền kinh tế tăng triển không ngừng nâng Tàu lên thành một trong những cường quốc thì niềm hãnh diện của tộc Hán lại bừng bừng khí thế hơn bao giờ.

Lòng kiêu hãnh về dân tộc thái quá này bắt đầu từ cái tên gọi. Trung hoa, chữ “trung” có nghĩa là ở giữa, và mặc nhiên xem các nước láng giềng là chư hầu, như VN, Lào, Miên, Miến, Thái, Mã, Nam dương… Lịch sử VN cũng nói rõ hằng năm triều đình ta đều phải đi cống Tàu, gồm vàng, bạc, ngà voi, và những thứ hiếm quý khác. Ngay cả lúc thắng giặc Tàu, VN cũng phải đi cống để giảng hòa. Duy chỉ có một lần, VN vẫn phải đi cống sau khi thắng trận nhưng không phải với thân phận của nước chư hầu nhưng với lòng kiêu hãnh của một nước VN tự chủ. Đó là thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Không những được vua Càn Long nhượng bộ bằng cách gả công chúa cho mà Nguyễn Huệ còn ngang nhiên đòi hai bang Quảng Đông và Quảng Tây nữa. Triều đình Tàu lúc đó gần như đã chấp nhận thì vua Quang Trung ngã bệnh và mất. Nếu Nguyễn Huệ sống thêm vài năm nữa thì bờ cõi nước VN bây giờ chẳng phải là Ải Nam quan mà trải dài xa lắc xa lơ bên kia biên giới Tàu.

Một đồng nghiệp của tôi người Tàu có lần nói rằng môn lịch sử dạy ở các trường học Đài loan đều cổ võ một tư tưởng nước Trung hoa là một nước lớn, nằm ở giữa và các nước chung quanh chỉ là thứ yếu. Ở một nước dân chủ như Đài loan mà học sinh Tàu còn bị nhồi nhét tư tưởng về chủng tộc độc tôn đến vậy thì huống gì ở lục địa Tàu, một nước cộng sản. Lòng tự hào về dòng giống Hán lại càng tăng cao khi nước Tàu trở thành cường quốc. (Bởi vậy tôi đề nghị đừng gọi là Trung hoa hay Trung quốc nữa, mà cứ gọi thẳng thừng là Tàu. Không gì chúng ta phải công nhận chúng là trung tâm của châu Á.)

Nhà nước Tàu dùng các phương tiện truyền thông để cấy vào đầu dân chúng Tàu rằng VN ngang ngược, tiểu nhân, ăn cháo đá bát (xung đột năm 1979), lấn biển và chiếm đất của Trung quốc. Vì thế tinh thần Hán tộc hung hăng của người dân Tàu dâng cao ngùn ngụt và luôn kêu gào xua quân dạy cho VN thêm một bài học nữa, phải đánh dập đầu mấy thằng An-nam chứ họ đâu ngờ rằng thực tế hoàn toàn ngược lại, đảng CSVN sẵn sàng dâng hiến bờ cõi cho Tàu, chuyển dần VN thành một quận thuộc Trung hoa, và cam tâm làm thái thú, miễn là họ vẫn ngồi tại Bắc bộ phủ.

Thật sự, lòng yêu tổ quốc, yêu giống nòi chẳng có gì là xấu nếu không nói là cần dạy dỗ cho con cháu từ lúc còn nhỏ, cần cổ võ trong xã hội một tinh thần tự trọng, biết tự ái dân tộc. Nhưng khi dạy dỗ về lòng yêu nước cho người dân không có nghĩa là dạy luôn cho chúng phải khinh thường các nước láng giềng. Hãy xem nước Nhật, tinh thần dân tộc họ cao lắm. Họ biết tự trọng, biết xấu hổ khi làm một điều gì hại đến thanh danh quốc gia. Tinh thần võ sĩ đạo một thời sẵn sàng mổ bụng (harakiri) chết chứ không chịu nhục. Đã có lúc dân Nhật quá đề cao chủ nghĩa dân tộc, và hậu quả là đưa đến Thế chiến II, để biết bao sinh mạng phải tiêu vong. Nhưng từ sau Thế chiến II đến nay, họ xây dựng một nước Nhật phú cường trên quan điểm bình đẳng về ngoại giao, tôn trọng công pháp quốc tế. Thời bây giờ không còn cái thời các đế quốc đem quân đi đô hộ, ngang nhiên chiếm đóng các nước và bòn rút tài nguyên đem về mẫu quốc như vào thời thế kỷ 18, 19 nữa.

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã được tuyên truyền rộng rãi trong mọi tầng lớp của người dân Tàu, kích thích lòng yêu tộc Hán một cách mù quáng bất chấp luật lệ quốc tế hiện hành (5). Nhà nước cộng sản Tàu đã cố tình bóp méo sự thật để gây ra một tình trạng bất ổn hiện nay ở biển Đông. Và từ chủ nghĩa này đẻ ra một thứ quái thai khác, đó là chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh.

Trước hết, cần điểm lại các loại chủ nghĩa để đưa đến chủ nghĩa bành trướng hiện nay.

1. Chủ nghĩa địa phương (Chauvinism): Khái niệm Chauvinism (vc dịch là chủ nghĩa địa phương, đúng ra là chủ nghĩa độc tôn) bắt nguồn từ thời Napoleon. Anh lính Tây Nicholas Chauvin yêu nước đến độ xem dân tộc Pháp là dân tộc vô song, thập toàn, tuyệt đối trên hết mọi dân tộc khác. Đây là một lối kỳ thị chủng tộc, xem các dân tộc khác là thứ yếu và chỉ có dân tộc mình mới hay nhất, giỏi nhất.

2. Chủ nghĩa Phát-xít (Fascism): (6a & 6b) chủ nghĩa này xem một chủng tộc là thượng đẳng. Vì chỉ có một chủng tộc đáng sống nên tất cả những dòng giống khác cần phải hy sinh (loại bỏ, giết chết). Hitler chủ trương chủng tộc Aryan (Đức) là dòng giống thuần chủng, tuyệt luân. Những chủng tộc khác có quá nhiều khiếm khuyết như tật nguyền, ốm yếu về thể lực, trí óc kém minh mẫn đều cần phải loại trừ. Đã có thời gian Hitler tuyển chọn những người đàn bà Đức thuần chủng nhằm phát triển giống Aryan. Họ được bồi bổ, mang thai và chỉ nằm đẻ. Mộng của Hitler là làm lại một thế giới chỉ có một giống dân Aryan duy nhất. Vì vậy hắn tận diệt tất cả mọi sắc dân khác, tiêu biểu nhất là dân Do thái vì giống dân thiểu số (minority) không thuộc Aryan này đông nhất tại nước Đức vào lúc Hitler nắm quyền. Chủ nghĩa này trọng nhân mạng của người dân nước họ nhưng lại tàn ác không nương tay với dân các nước khác.

3. Chủ nghĩa Cộng sản (Communism): (7a & 7b) về chính sách và chiến lược thì phát-xít và cộng sản là hai anh em ruột. Hai chủ nghĩa này chủ trương dùng bạo lực để trấn áp, bắt bớ, tù đày, tra tấn, và giết chết để giữ vững uy quyền tối thượng của đảng. Tuy dùng một chính sách bạo lực nhưng Phát-xít lại thù ghét cộng sản và ngược lại, cứ như hai anh em cùng cha khác mẹ tranh giành của cải. Năm 1991, khi thành trì cách mạng ở Nga sụp đổ kéo theo biết bao là thần tượng được tôn sùng một thời gian dài kể cả Lênin, Stalin, Erich Honecker (Đông Đức), Nicolae Ceausescu (Romania). Chỉ riêng Castro (Cuba), Kim Il-sung (Hàn), Mao (Tàu), Hồ chí Minh (VN) là vẫn còn được tôn sùng mặc dù đại đa số quần chúng không thiết tha gì với chủ nghĩa này nữa. Những trang hồ sơ mật được vén lên dần dần từ thư khố của Nga và các nước từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, và bộ mặt của những lãnh tụ này lộ nguyên hình là những con người đầy đủ thất tình và lục dục như mọi con người bình thường khác. Sự giống nhau của hai chủ nghĩa này là sự sắt máu, giết người không gớm tay đến độ ghê tởm. Sự khác biệt giữa hai chủ nghĩa này là phát-xít chủ trương tiêu diệt những chủng tộc khác ngoài chủng tộc Aryan, còn cộng sản chủ trương giết bằng hết dân của chính mình, và cổ võ những nước khác giết dân của họ bằng câu nói, “Vô sản các nước, đoàn kết lại!”. Cánh đồng chết (the Killing Fields) ở Kampuchea là chứng nhân của một sự sa đọa về lương tâm con người khi thế giới gần như ngoảnh mặt trước sinh mạng của gần 1.5 triệu người Khmer chết tức tưởi và đau đớn bởi Polpot, một người Khmer cộng sản, chỉ trong vòng 3 năm (1975-1978).

Trong khi Phát-xít chủ trương tiêu diệt những chủng tộc phi-Aryan thì cộng sản lại chủ trương tiêu diệt giai cấp. Họ có thể hy sinh (giết) một vài thế hệ để xã hội bắt đầu toàn những người cộng sản. Bởi vậy giai cấp tư hữu không bao giờ có đất sống trong chế độ cộng sản nhưng phải bị tiêu diệt đến tận cùng. Sự thật thế nào? Với khẩu hiệu mới “Định hướng XHCN” của Tàu (VN rập khuôn mô hình Tàu), cộng sản vẫn chủ trương loại bỏ một giai cấp nhưng lại thành lập một giai cấp mới với bản chất giống in hệt giai cấp cũ, nghĩa là ăn trên ngồi trốc, hưởng thụ và sa đọa. Ở nhiều mặt, giai cấp này còn sa đọa và tàn bạo gấp nghìn lần giai cấp mà họ đã tiêu diệt. Như thế, cấu trúc trong xã hội tuy thay đổi nhưng hình thái kinh tế giống nhau, và hậu quả là gây ra mức độ bất công ngày càng tăng cao.

4. Chủ nghĩa Bành trướng (Expansionism): chủ nghĩa bành trướng đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 19, khi các đế quốc Pháp, Anh, Tây ban nha, Bồ đào nha…v..v. tìm cách phát triển thị trường. Vào thế kỷ trước đó chủ nghĩa tư bản mới chập chững lớn lên. Sản phẩm vật chất được tạo ra để đáp ứng sự tiêu dùng của người dân ngày càng tăng. Chính sự sản xuất ồ ạt không có hệ thống khoa học tạo ra những của cải thặng dư nên những đế quốc phải tìm thị trường để tiêu thụ. Và cũng chính sự sản xuất không kế hoạch này tạo nên cơn khát về nguyên liệu và nhiên liệu. Nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong nước có giới hạn nên bắt buộc các đế quốc phải đi tìm ở các nước nhược tiểu khác. Từ đó đưa đến sự đô hộ của mẫu quốc ở tại các nước nhỏ bé này. Chủ nghĩa thực dân dựng lên ở nước VN là để bảo đảm cho nguồn tài nguyên dồi dào chảy liên tục về đế quốc Pháp. Khi nền kinh tế lớn mạnh không ngừng thì sự bành trướng thế lực đến các nước nhược tiểu xung quanh ngày càng trở nên cần thiết, và đôi lúc phải dùng đến vũ lực. Hay nói khác đi, chiến tranh cần xảy ra để giải quyết nạn đói nguyên liệu.

Tính đổ đồng mỗi người ăn một bát cơm, nhà nước Tàu phải lo đến hơn 1.3 tỉ bát cơm mỗi ngày. Lo từng ấy miệng ăn không dễ dàng gì. Đồng ruộng cả nước dần dần bị đô thị hóa một cách vô trật tự, không quy hoạch hợp lý, gây đến tình trạng lãng phí người và của không thể lường được. Lấy làng Thế vận hội 2008 làm ví dụ. Cả một công trình nhà nước ra sức xây nguy nga đồ sộ để phô trương sức mạnh của tộc Hán, tổn phí lên đến 44 tỉ USD (8), và bây giờ các công trình này đều bỏ hoang không sử dụng, mất hết nguồn lợi kinh tế (9a & 9b). Thế giới bên ngoài cảm phục khi nhìn vào nền kinh tế Tàu phát triển bằng 2 con số phần trăm (double-digit) hàng năm. Nhưng chính sự tăng trưởng (xổi) vượt bực này đã dẫn đến sự khan hiếm nguồn tài nguyên khiến Tàu phải gia tăng ảnh hưởng đến các vùng chung quanh, đặc biệt tại VN và Lào (10a & 10b). Quặng bôxít được nhà nước cộng sản VN cho khai thác bất chấp sự chống đối của các nhân sĩ và trí thức trong nước là một ví dụ điển hình. Và còn biết bao nhiêu công trình khác, các đảng viên cộng sản chóp bu VN được đút lót để mặc Tàu ra sức bòn rút mạch sống của rừng và biển cho đến kiệt quệ. Một khi đã bị cạn kiệt, thiên nhiên không thể nào khôi phục được, chưa kể hậu quả của chất thải sẽ gây tai hại trầm trọng cho môi trường. Từ đó bệnh tật sẽ lan tràn. Dân chúng trở thành một gánh nặng y tế cho nhà nước. Chưa kể đến lúc tổ quốc lâm nguy, trong nước chỉ còn người bệnh và tàn tật, thì lấy đâu ra sức mạnh để bảo vệ tổ quốc sơn hà.

Trong lịch sử nhân loại, các chủ nghĩa được đề ra với mục đích tìm một giải pháp đem đến sự ấm no và hạnh phúc cho người dân. Có chủ nghĩa thành công, có chủ nghĩa thất bại, có chủ nghĩa bị nhân loại lên án và ghê tởm. Hiện nay, chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh là một loại chủ nghĩa dị hợm nhất, một quái thai trong thiên niên kỷ thứ ba. Loại chủ nghĩa này là tổng hợp tất cả những chủ nghĩa đã lỗi thời, bệ rạc, rã rời, nhão nhoét như một con điếm về già ngồi bên lề đường phấn son lòe loẹt cố núi kéo mời khách. Nhân loại đã từng khinh bỉ chủ nghĩa địa phương ngô nghê, phỉ nhổ chủ nghĩa phát-xít tàn ác, ghê tởm chủ nghĩa cộng sản vô luân, lên án chủ nghĩa bành trướng bất nhân thì hiện nay con người ở thế kỷ 21 là nhân chứng cho chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh, một loại chủ nghĩa tổng hợp tất cả tính chất hèn hạ của địa phương, phát-xít, cộng sản, và dân tộc cực đoan gộp lại.

Hãy điểm rõ mặt bọn bành trướng Bắc kinh!
Hãy bảo vệ sơn hà xã tắc!
Hãy giữ vững tổ quốc khi lâm nguy!
Hãy đứng lên biểu lộ hào khí Việt nam! Hỡi các bạn thanh niên trong và ngoài nước.

Tham khảo:
(1a) Poor Wu Minxia, http://www.sportsgrid.com/media/in-china-your-family-doesnt-tell-you-grandma-and-grandpa-died-because-it-might-stop-you-from-winning-gold/
(1b)Are Tough Training Regimes Right for Kids?, http://shine.yahoo.com/dailyshot/daily-shot-parenting-friday-193500724.html
(1c) China’s World Domination, http://www.dailymail.co.uk/sport/olympics/article-2181807/London-2012-Olympics-Chinese-long-march-world-domination.html
(2) GNP = Gross National Income, Tổng Sản Lượng của Tàu, http://www.google.com/publicdata/explore?ds=d5bncppjof8f9_&met_y=ny_gnp_mktp_pp_cd&idim=country:CHN&dl=en&hl=en&q=gnp+of+china#!ctype=l&strail=false&bcs=d&nselm=h&met_y=ny_gnp_mktp_pp_cd&scale_y=lin&ind_y=false&rdim=region&idim=country:CHN&ifdim=region&hl=en_US&dl=en&ind=false
(3a) The Blackbook of Communism, http://en.wikipedia.org/wiki/The_Black_Book_of_Communism
(3b) Communist Crimes, http://www.communistcrimes.org/en/Database
(4) The Private Life of Chairman Mao, http://en.wikipedia.org/wiki/The_Private_Life_of_Chairman_Mao
(5) Biên Tập viên Tân Hoa xã phản đối…, http://zhoufang.blshe.com/blog.php
(6a) Fascism, http://econlib.org/library/Enc/Fascism.html
(6b) Fourteen Defining Characteristics Of Fascism, http://rense.com/general37/char.htm
(7a) The Principle of Communism, http://www.marxists.org/archive/marx/works/1847/11/prin-com.htm
(7b) How Communism Works?, http://history.howstuffworks.com/cold-war/communism.htm
(8) Cost of Olympics 2008, http://english.pravda.ru/sports/games/06-08-2008/106003-beijing_olympics-0/
(9a) Abandoned Olympic Cathedrals, http://www.businessweek.com/videos/2012-07-27/then-and-now-the-ghost-of-beijings-olympic-glory
(9b) Beijing Olympics After Four Years Hosting, http://www.theblaze.com/stories/decrepit-four-years-after-hosting-the-beijing-olympics-this-is-what-chinas-40b-investment-looks-like/
(10a) Chinese expansionism, http://atimes.com/atimes/Southeast_Asia/LL23Ae01.html
(10b) Muddy Waters, http://www.nytimes.com/2012/04/25/opinion/the-philippines-china-and-the-us-meet-at-sea.html

SƠN NGHỊ

HUN HÚT

tranthienthi

từ người cất bước đăng trình
vô duyên tôi lại thấy mình mỏi chân
từ người nghe giá bắc phong
vô duyên tôi lại thấy lòng căm căm

níu nhau về lại chỗ nằm
tìm hoài hơi ấm mùa đông năm nào
cỏ còn úa mặt hư hao
cách chim năm cũ phương nào thiên di

từ rừng rộ nụ dã quỳ
hớt hơ một gã từ quy hót xằng
từ tôi chùng lại ăn năn
mới hay cái lạnh chưa quen bao giờ

lạnh từ rơm rạ sững sờ
con bù nhìn gió ngẫn ngơ giữa đồng
một đôi quang gánh mùa đông
bước cao
bước thấp
đồng không quay về

trần thiên thị

CHỈ MỘT

chuthuynguyen

một
mặt trời
trừng mắt lửa
nẹt đe

một
dòng sông
tắm mát trôi
thon thả

một
rừng cây
ôm đồm che
thân khỏa

một
thánh đường
nhỏ từng giọt
chuông đau

một
trại giam
khóa lòng người
ẩn ức

một
nghĩa trang
chôn quả tim
chân thật

một
bài thơ
thú nhận tội
dối lòng …

CHU THỤY NGUYÊN

TÔI CÓ MỘT GIẤC MƠ .

luuthy

Đêm qua tôi mơ một giấc mơ dài, tiếng Anh dịch ra là I have a dream, I have a dream là của tôi, của anh của nhiều người, không dính dáng hay của riêng gì Martin Luther King. Tại sao cứ hễ I have a dream thì phải là câu nói của Martin Luther King?
Tôi mơ một giấc mơ tuyệt vời. Mơ xong người không ướt đẩm mồ hôi lạnh, mà cảm thấy tinh thần khoan khoái yêu đời.
Tôi mơ thấy Bộ Chính Trị Việt Nam họp khẩn trong thời gian kỷ lục chỉ một tiếng đồng hồ rồi ra quyết định công bố với toàn thể nhân dân:
Nước Việt Nam sẽ độc lập tự do dân chủ, bầu cử tự do một quốc hội mới để soạn thảo một hiến pháp mới cho một nước Việt Nam vì dân cho dân và tổ quốc trên hết. Không có một đảng phái nào được quyền đứng trên nhân dân và tổ quốc. Không có một đảng phái nào được phép thành lập nếu không có câu mở đầu “vì quyền lợi của nhân dân và tổ quốc Việt Nam.”
90 triệu người xuống đường với 45 triệu lá cờ đỏ sao vàng và 45 triệu lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại Việt Nam, hai lá cờ chịu đứng chung với nhau. Lần đầu tiên hai lá cờ cùng nhau xuất hiện công khai tại cùng một địa điểm.
Tôi nhớ trong giấc mơ… tôi cũng có mặt trong đám biểu tình, tôi không nhớ tôi cầm lá cờ gì trong tay nhưng tôi nhớ tôi có nắm tay người bên phải, tôi có nắm tay người bên trái, tôi có khóc và người bên cạnh tôi có khóc, bà cụ trước mặt khóc và em bé sau lưng cũng khóc.
Cả nước khóc ròng. Cả nước chảy nước mắt. Nước mắt của 90 triệu người rơi xuống mảnh đất khô cằn nức nẻ làm nẩy mầm trổ lên 90 triệu chồi non.
I have a dream. Đêm qua tôi mơ một giấc mơ dài.

Lưu Thy Nguyễn

ĐÀO MỘ LÒNG TÔI

tranvanle

 

Lòng tôi huyệt mộ chôn thương nhớ
Đôi lúc đào lên thấy ngậm ngùi
Năm tháng chẳng mờ đi quá khứ
Vẫn còn nguyên vẹn Việt Nam ơi

Vẫn còn nguyên vẹn tình non nước
Còn nghĩa bà con chuyện xóm làng
Một gói cơm nằm trong lá chuối
Mười năm sao lá vẫn chưa tan

Người Thượng cho tôi tình chút đó
Nhâm nhi hạt muối mới ngon sao
Hòa bình, thống nhất đời tro bụi
Nước lã ai chan giọt máu đào

Người lính lén đưa nhúm thuốc rê
Trời ơi , tôi hút …mắt cay sè
Chúng ta một lũ tàn binh thảm
Điếu Capstan còn đâu để chia ???

Người con gái khóc trong chùm tóc
Nói khẽ thôi đừng bịn rịn anh
Chiều ở Bãi Sào mây rất tím
Thuyền tôi xẻ dọc một dòng xanh

Ôi trái tim tôi mà nát được
Quê hương có lẽ hết vuông tròn
Nhiều đêm trăn trở quê người lạ
Tay bụm khôn cầm nước mắt tuôn

Tôi , tại sao mình một Sĩ Quan
Lại buông súng nhỉ , gióng tay hàng ?
Đường tên mũi đạn lầm hay lỡ
Cúi mặt mà đau chữ đá vàng

Lòng tôi huyệt mộ chôn thương nhớ
Hay chỉ là kho chứa nỗi sầu
Người Thượng chiều nao hai mắt đỏ
Cho cơm rồi khuất giữa rừng sâu.

Và em , khi chiếc xe lam chạy
Đôi má có mòn nước mắt chưa
Tôi ở quê người tung với xới
Lòng bao giờ nguội những ngày xưa ???

TRẦN VẤN LỆ

NHỮNG THẰNG CẠO TRỌC

nguyendangmung

 

Nhớ bạn bè những thằng cạo trọc
Giam mình trong phòng suốt mùa thi
Sống và chết cũng từ đây, con ạ
Đạn lên nòng và súng nổ ngoài kia

Tôn hầm hập lột da đầu cạo trọc
Nhà cháy rồi cha dựng lại mái tôn
Mắt mạ đỏ hoe, chè đậu huyết
Cái chái nghèo thơm ngát nước non

Con học chi mạ cha chẳng biết
Chỉ thấy mắt con khi khóc khi cười
Con học sử hồn ngoằn ngoèo sông núi
Con học văn rớm máu tim người

Ôi trang sử trang văn thời tao loạn
Sáng mở mắt ra sống chết trốn tìm
Mấy tháng hè tóc con chưa mọc kịp
Pháo đạn ngút trời con đi lính mạ ơi

Lên trại tù bạn bè trọc lóc
Ghẻ ruồi sốt rét tóc bằng không
Có ai nhìn mà đẹp trai cho mệt
Em tóc dài như có như không

Bốn mươi năm sau những thằng cạo trọc
Đứa vô chùa đứa ngứa ngáy thành quen
Đời không sá huống chi là tóc
Bình vôi đi hết kiếp thằng hèn

Nhưng em ạ đêm về anh vẫn nhớ
Xóm làng xưa tóc rủ dưới mùa trăng
Anh mơ mộng tóc ai dài hun hút
Tiễn nhau về giấc mộng mù tăm.

NGUYỄN ĐĂNG MỪNG
(1/5/2014.)

LẦN THEO MỘNG ẢO MÀ VỀ…

nguyenthikhanhminh

Ai đó đã nói, có rất nhiều nơi để đến, nhưng dường như chỉ có một chốn để quay về…, ba dấu chấm này để bạn điền vào nơi chốn của riêng bạn. Để tôi đoán xem, có thể là, gia đình, quê nhà, một nơi ước hẹn…, ngay cả, một giấc mơ, nơi này coi bộ quyến rũ nhất, đối với tôi. Nhưng xin lúc này, hãy cùng tôi,

Về, là về lại một nơi mình đã chia xa, một chốn cũ, nơi mình được ngồi yên lặng để bầu thân thuộc chuyền cho mình những dưỡng chất đã tiêu hao theo những dặm dài, để được nhìn thấy mình cùng không khí ấy mới mẻ thế nào, cũ kỹ ra sao. Hẳn sẽ là bước về nôn nao hối hả.
Về, là về cõi thời gian, một dòng chảy mơ không bờ bến, nếu không dành tâm tới lui với nó, khuấy lên hiện tiền một tiếng gọi, vén chút mù sương của ký ức, dợm một bước những phút giây sẽ tới, thì dòng chảy ấy sẽ hư vô. Nên bước về như thước phim quay chậm.
Và sẽ chập chùng trên đó những bước chân của xác phàm lẫn tâm thức. Nơi chốn ấy là Sài Gòn, thời gian ấy là Sài Gòn. Vâng, Sài Gòn.
Dạo tôi còn học lớp ESL tại Santa Ana College, thầy Lewis cho viết một bài văn tự do, tôi đã viết một đoạn ngắn về Sài Gòn, với những quán ăn khuya và mưa đêm, nhân lúc nói chuyện ngoài giờ học, thầy nói một ngày nào ông sẽ đi Sài Gòn để thưởng thức trời mưa trong không khí ăn đêm. Tôi đã phải nói rõ thêm với ông rằng, Sài Gòn đã là tên xưa, và tại sao nó trở thành tên xưa. Điều này làm tôi xót như động phải vết thương, vì cái tên ấy nó đã là một phần của thân-thể-ký-ức tôi, là một dòng chảy cảm xúc trong huyết quản tôi.
Những nốt nhạc ký ức tôi gảy lên hôm nay, ước sao là một tiếng đàn hòa trong bản giao hưởng hồi ức của những tâm hồn đồng điệu, một thời, như tôi, lớn lên từ lòng con phố mang một tên đã thành xưa này. Đó là âm những con chữ cho tôi lần về, và bạn thân ơi, dường như tôi chỉ đang quyến luyến nơi này qua đường tơ kỷ niệm.

…Tôi bước lên những bậc thềm mịn rêu, bước chậm, sợ mình sẽ bị trượt ra sau, cái ngã ngửa chẳng khác nào cái rớt xuống trần gian đầy ngỡ ngàng của hai chàng Lưu Nguyễn. Tôi chưa muốn thế, tôi đang muốn sống cõi phi thực kia với từng rung động e dè chậm chậm, để nghe chạm vào cánh cổng tháng năm hoen rỉ, và dù nhẹ nhàng đến thế nào cũng sẽ ghê răng bởi tiếng rít của một cánh cửa lâu ngày không mở. Hồi hộp, nên tim tôi đập khác thường.
Ngôi nhà ba mẹ tôi ngày trước, có hàng tràm bông vàng bên kia vệ đường, tới mùa hoa gieo phấn thì bụi vàng xác hoa li ti đầy trước ngõ, nếu tôi bắt chước thiền sư Cảnh Sầm theo cánh hoa rụng mà về (Hựu trục lạc hoa hồi) thì hẳn không thể nào tới được nhà, vì hàng cây giờ đã không còn. Đây là nơi tôi luôn mong để trở về. Thật ra, tôi đã biết ngôi nhà đã khác hẳn ngày xưa lúc còn là biệt thự nhỏ, tường sần sùi màu hồng nâu ẩn hiện sau rặng tre tàng mận (dưới gốc mận này là nơi chôn nhau con trai đầu lòng của tôi) và hoa hồng tầm xuân lòa xòa trước cổng, nhưng sao lòng vẫn buồn buồn khi nhìn nó bây giờ, lồ lộ phô những cửa kiếng ra mặt đường, và cũng chỉ còn non một nửa căn.
Tôi đứng yên trước cổng, nếu có bấm chuông thì cũng sẽ không có ai mở cửa, tần ngần cầm chiếc chìa khóa, tôi mở, tiếng lách cách nghe lạ như lâu lắm chưa từng. Từ ngày cha tôi mất, từ ngày mẹ tôi rời khỏi đây, nhà không ai ở, tôi nhìn những đốm sáng chập chờn trên chiếc ghế dài, lòng bỗng như một vạt nắng xa vắng, cũng may là Hương, cô em dâu, đã qua lau chùi trước chứ nếu bây giờ tôi nhìn thấy lớp bụi đóng trên bàn ghế nữa thì chắc tâm hồn tôi sẽ bị niêm phong luôn với nỗi cô quạnh. Tôi đi thẳng lên lầu nơi có bàn thờ, mùi gỗ của cầu thang âm ẩm, tôi nhìn hình cha, một chút sợ sợ, không biết vì sao, có lẽ tại âm dương nghìn trùng trong căn phòng thờ im lặng, tôi đặt tay lên khuôn hình, ba ơi, con về với ba đây. Anh Khải dặn nhớ thắp nhang, nhưng chắc gì đường đi của khói đến được cha hơn hơi ấm của bàn tay?

Phất phơ màu áo lụa mỡ gà bộ bà ba xô dạt tôi, A, tôi đã theo màu áo này mà về.
… Màu áo tôi không quên cha tôi mặc tối hôm ấy. Buổi tối, như vậy thôi, đừng nhớ thêm gì nữa về thời gian…, một toán lính xông vào nhà tôi như một trận bão, túa lên những phòng và dồn 8 người gia đình tôi xuống phòng khách. Một tờ giấy được dơ lên, một lời được đọc. Đêm đóng lại theo từng bước chân của mỗi người được gọi lên phòng của mình. Chắc ba mẹ và các em cũng mang tâm trạng như tôi, khi lên phòng mình, có hai người lính, tôi thấy sách vở, cùng những lá thư nháo nhào trên sàn. Tôi bị nghe những lời rất lạ tai, phản động, đồi trụy, rồi Tagore, Mozart, Khánh Ly, Lệ Thu… tất cả bị tóm lại trong một cái bao lớn, tôi phản xạ giựt lại đĩa nhạc Mozart, vì tôi chợt nghĩ sao Mozart lại là điều có thể bị tịch thu, người lính hất tôi ra, mất thăng bằng tôi ngã đập vào thành giường, cú đau điếng khiến tôi biết rằng phải im lặng, tôi đã lén nhét một lá thư của người yêu vào túi áo, như muốn tìm một sức mạnh, nhưng nó lại làm tôi ứa lệ. Tất cả phòng đều bị niêm phong. Có ai nghe tiếng một chùm chìa khóa quăng mạnh xuống mặt bàn gỗ như thế nào không, có thể không là gì nhưng đêm đó âm thanh ấy đã làm cả nhà tôi giật nẩy người. Đó là chùm khóa nhà. Và sau đó là tiếng loảng xoảng của những chiếc còng tay. Ba tôi đi, hai em trai tôi đi, bước lên một cái xe bít bùng. Họ đang bước vào bóng tối. Cùng đi là tất cả sách vở trong nhà. Tiếng những chiếc xe nhà binh như tiếng rú. Còn lại mẹ và chị em tôi, 5 người, co cụm nơi phòng khách, nơi có để hai cái chiếu và một cái màn. Ở ngoài cổng có hai người lính gác. Mẹ và tôi nắm tay nhau, tôi còn nhớ rất đậm cái run lẩy bẩy, bần bật của hai bàn tay nắm lại với nhau, vai mẹ rung nhưng mắt mẹ khô lạnh, cô em nhỏ thút thít khóc, cậu em kế thì đanh mặt lại ngồi cúi đầu, cậu bé út thì giương hai con mắt trẻ thơ rất buồn, ngơ ngác, nó không khóc, chỉ nhìn mẹ và chị rồi nằm xuống cong người lại trên chiếu. Mẹ tôi nói như thầm, Khánh ạ, mẹ con mình phải chết thôi. Nhà mình còn hai bình gas. Tôi giật thót mình, nhưng má ơi, hai bình có đủ chết không hay là chỉ làm mình ngắc ngoải thì có nước chết với họ -Mình sẽ vào bếp đóng kín cửa lại con ạ. Mẹ bỗng quay sang em gái tôi, 17 tuổi, giọng bà nhỏ, quyết liệt, Chết không con, Khanh -Chết! con bé gật phăng cái đầu dập dềnh mái tóc mây. Mẹ lại hỏi cậu em 16 tuổi, giọng có vẻ như bà đã quyết định, Chết nhé Khiết -Dạ, Chết! Thằng bé nói với vẻ lì cố hữu của nó. Rồi tới cậu em út,11 tuổi, giọng mẹ nhẹ nhàng, Chết không con, Khiêm? -Chết! Tôi rúng động hồn phách, nó nói chết nhanh như thể mẹ hỏi ăn không con-Ăn! Mẹ không hỏi tôi, vì bà biết tôi sẽ là đứa nói không. Tôi kéo mẹ nằm xuống chiếu, thì thầm, má không nghĩ là sẽ làm vậy, đúng không. Mình phải sống má ạ, anh Khải còn mất tích chưa biết sao, Khương làm việc xa sẽ về với mình, mình còn những 6 người, còn lo cho 3 người vừa bị bắt nữa, mình dư sức sống mà má. Chúng tôi đã đủ sức sống để lội qua những tháng ngày nước ngược ấy, có cả những tiễn đưa âm thầm trong tâm trạng một đi là có thể vĩnh viễn không gặp lại. Cha tôi trở về sau đó 7 năm, gầy guộc, ốm đau, ngày qua ngày, lặng lẽ làm tiếp cuốn tự điển đang làm dở. Lần sau cha lại rời nhà ra đi một lần nữa, lần này thì không có ngày trở lại để làm tiếp cuốn sách vẫn chưa xong. Tôi quên chưa hỏi mẹ lúc mất cha có đang mặc bộ bà ba lụa màu mỡ gà không, cái bộ cha mặc đi đêm tối ấy chắc đã mục trong tù. Tôi nhìn những cây viết và sách để trên bàn thờ mà thấy cô liêu quá, cuộc đời, con đường nào bây giờ cây cô độc ấy đang đi. Có bạn bè chứ, ba ơi… Hình cha mờ như có hơi nước, dường như vừa sóng sánh trên vô chung thời gian, tôi tin thêm một lần này, dòng chảy buồn ấy sẽ không gợn sóng nữa, nó sẽ yên, chảy tận lòng sâu.

Tắp vào bến nhà ba mẹ tôi chuyến này, có vợ chồng cậu em út ở Úc về, cậu em năm nào gật đầu đồng ý chết một cách vô tư bây giờ đã là một người đàn ông đang mon men tới gần cái tuổi tri thiên mệnh. Về cùng là một anh bạn thân của em, Quỳnh, người đã nấu những bữa cơm rất ngon cho 6 người, và mỗi sáng vẫn làm cho tôi một ly cà phê thật đậm tình bè bạn. Còn có vợ chồng con trai lớn của tôi cùng bé gái 8 tháng tuổi nữa. Khánh Chi. A, tôi biết rồi, tiếng gọi tôi về chính là âm thanh ban sơ của tiếng khóc, là mùi sữa thơm từ khóe miệng bé, và khanh khách tiếng cười đang rù quến mọi cảm xúc tôi. Nếu tôi không về để mà hít hà cái mùi da thịt thơm non này thì hẳn là tôi cứ ngồi đó mà nói về mùi lavender…
…Buổi sáng, tôi đón ly cà phê từ tay Quỳnh, nắng chiếu ấm trên bàn, ra cổng lại thấy một gói na treo toòng teng, chắc chị Liên đã tạt qua từ sớm, cắn một miếng na nghe tan trong miệng chút lòng chắt chiu. Tôi đứng trước hiên phòng nhỏ của mẹ, nắng sáng mà nóng ướt da, đang tưới cây, bỗng nghe vọng lên từ cổng dưới, “có thư đây”, trái tim tôi như nhảy ra ngoài, cây sứ như có con gió nào tới khua tàng lá và hương hoa rộn rã, tôi nhẹ như mây lướt qua những bậc thang gỗ mầu nhiệm… hóa thành cô gái nhỏ,… thân quen cổng nhà cũ, người đưa thư năm xưa, “con gái có thư con đây”, cô vội vàng, thò tay qua cổng, rối rít, “đưa con mau lên”, và khi những lá thư với những sọc xanh đỏ trắng viền quanh phong bì nằm gọn trong tay thì cô lại thưởng cho bác ít tiền, bác đi chiếc xe Honda Dame màu xanh lá chuối, hằng tuần đem đến cho cô những lá thư thơm mùi biển xa, nỗi nhớ nhung theo nửa vòng trái đất buộc thành lời hò hẹn dài…, cô không biết sẽ dài một đời…
A, tôi biết rồi, chính sợi tơ hẹn ước lênh đênh trên đường mộng ảo này dẫn tôi về, thành phố mang tên Sài Gòn, nơi tôi đã lớn lên, chỉ nơi này tôi mới lọt được vào nếp gấp xô lệch của thời gian, trở lại mọi thứ, như cũ, thời hai mươi vàng mười, lời tình tự mưa đêm thơm mùi hoa sứ, mùa hạ ướt những cơn mưa mà cho dù bao nhiêu lần được làm người nữa, nếu còn là mình, tôi còn nghe tiếng rất trong của nó rơi trước hiên nhà che chắn cho tôi một giấc mơ. Một nhịp chẩy diễm ảo đang đồng hóa tôi, tôi có đang trôi đi hay mãi mộng mơ đứng bên cổng cổ tích nhìn cánh bồ câu ngậm thư đưa tin yêu về?
…Một buổi sáng, tôi gọi taxi lên phố. Cô đi đâu? -Cho tôi tới trường Luật, đường Duy Tân- -Dạ đâu cô? Tôi mỉm cười thích thú, vậy là mình đã nói ra được câu như lúc nào đó trong quá khứ rồi. À xin lỗi, cho tôi tới trường Kinh Tế đường Phạm Ngọc Thạch. Đấy vật đổi sao dời. Tới đây thì tôi tự thắc mắc, Duy Tân là tên một vì vua yêu nước, tại sao phải bị thay tên, mà hẳn ông bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nơi cõi trên chắc cũng chẳng lấy làm vui khi tên mình thay tên vua Duy Tân. Cái tên quen thuộc đến nỗi chỉ cần nói Duy Tân là mặc nhiên động đậy đến kỷ niệm thời sinh viên Luật (và Kiến Trúc của ai nữa chăng, dù trường này có cổng ở đường khác nhưng sát hông trường Luật nên kỷ niệm chắc cũng có chút bà con). Một thời sinh viên chúi đầu vào sách vở, cho đến một ngày, đến trường bỗng ngỡ ngàng, bọn con gái chúng tôi hỏi nhau với giọng thảng thốt, sao lớp vắng thế này, bọn con trai đâu cả? ra năm đó nếu tôi nhớ đúng,1972, vừa có một luật động viên đôn quân (tôi có thể kiểm chứng xem mình có nhớ đúng không, nhưng thấy không cần thiết), tôi lúc đó như bị va đầu vào tường, cú đập choáng người. Đã từ bao lâu sinh viên Sài Gòn như tôi lúc đó đi bên lề cuộc chiến? Đã bao lâu rồi? dân Sài Gòn luôn tin chắc rằng Sài Gòn là một ốc đảo mà con sóng của chiến tranh không thể đổ vào bờ. Đã bao nhiêu người trong lớp sinh viên như tôi tin rằng Sài Gòn là biên giới dừng lại của đường đi súng đạn chủ nghĩa? Tôi mắc cỡ và cảm thấy có tội, cũng như không hiểu nổi hệ thống dân vận lúc ấy đã để cho con lũ phong trào phản chiến lợi dụng kẽ hở của bờ đê dân chủ tự do ngập lụt hết ý thức về một cuộc chiến đang xảy ra, là của mình, ở cạnh mình, đe dọa sự sống còn của mảnh đất có Hòn Ngọc Viễn Đông lấp lánh. Chúng tôi như những viên gạch lát ngô nghê. Nghêu ngao những bài phản chiến trên những ra đi vĩnh viễn của cha, anh, bạn bè mình ngoài chiến trường. Bây giờ tôi đang đứng đây, nơi ngày trước là lối cổng nhỏ khiêm cung trầm lắng màu gỗ hai cánh cửa nhỏ, trên là bảng Luật Khoa Đại Học Đường, như nghe được hơi lạnh tiếng gió thổi vào lớp học khua buồn những hàng ghế trống buổi chiều xưa, có bao nhiêu bạn bè từ chỗ ngồi ấy ra đi không về nữa? Tôi thấy qua nắng muộn ánh mắt của những cô gái hai mươi, Châu Tỷ, Liêm, Liên, Gấm, Hoa, Xuân…và tôi, nhìn nhau, biết rằng, từ hôm ấy, tin chiến sự là vết mực đen phết trên từng trang sách học.Tôi đi bộ bên vệ đường Duy Tân, đã mất rồi lối đi đất nhỏ với hàng cây dầu, nơi tôi lộng gió tà áo vàng trong tấm hình gửi người vạn dặm, thôi hãy dùng ký ức mà đi để lọt vào không khí Saigon thời yêu người thiết tha…, Hồ Con Rùa, cây đa cổ thụ trước Viện Đại Học Saigon có tôi, Huệ,Thôi “Oanh Oanh” thấp thoáng những tà áo dài trong nắng… Chập chờn những cánh bướm trên con đường rộng thênh thang băng qua ngôi rừng nhỏ trước Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà, và kìa một con bướm vàng bay vội vã qua những bậc cấp bưu điện rồi chui vào thùng thư, ngày mai người ta sẽ lấy thư…
A, tôi lần về theo dòng máu đẩy của nhịp đập, hồng hào lại nơi nương náu của kỷ niệm, trái tim Sài Gòn ưng ức hoài nơi ngực trái…

Nơi ấy bây giờ, người đông hơn nên đường chật đi, nhà nhiều hơn, cao hơn, nên đất trời trong tầm mắt bị nhỏ lại. Tôi như cái bóng câm đi giữa muôn âm thanh hình ảnh ồn ào của một thế giới khác. Có phải đã muôn trùng thời gian đi qua nơi này, và tôi thấy mình buồn tẻ, lạc lõng, cũ xưa. Tôi đã nói với Nguyễn Lương Vỵ như thế, trong một quán cà phê, dưới bóng một cây trứng cá, có một trái nhỏ rụng đúng vào ly cà phê của tôi. Tôi cũng đang rơi một cách lạc điệu, như thế chăng. Vỵ đọc cho tôi nghe …những gương mặt lặng lẽ/ treo trên hai sợi dây điện song song/ vắt ngang cành trứng cá … tôi hỏi, thơ ai mà lọt hẳn vào tàng cây trứng cá này vậy. Vỵ đưa cho tôi tập thơ nhỏ, thơ Đoàn Minh Châu. Tôi dở ra ngẫu nhiên, những câu thơ, kỷ niệm vẹn nguyên mỗi năm…/ em vẫn là người hoài cổ/ sống bằng nhớ nhung ngày sắp tới…
Tôi đang được sống thực một nỗi nhớ. Nó đang dắt tôi về.

… Rồi cũng được nghe lại tiếng biển. Ngôi nhà Hoa Sứ của anh chị Khoa-Geneviève, trong một xóm chài, nằm gần góc cong của bờ biển kéo ra Long Hải. Chị nói chị sẽ đổi tên nhà là Sao Biển. Buổi sáng tôi xuống bãi xem ghe đánh cá về, cá đánh bắt ven bờ chỉ toàn là cá nhỏ. Xóm chài rất nghèo. Chiều chiều trẻ con đi đầy trên bãi để bắt còng hay cào nghêu. Bờ biển ứ rác và phế thải của người. Nước biển đục ngầu. Nhưng nhạc sóng vẫn trong. Gió biển thổi mặn môi. Cát biển bay xót mắt. Đêm ở đó tôi ngủ trong tiếng mưa, rơi tong tong trước thềm gạch tàu. Tiếng sóng rì rầm xa xa gần gần, không còn là tiếng u u mường tượng trong vỏ ốc, tôi choàng dậy đứng nhìn ra ngoài của sổ, nhìn và nghe, biển kia, mưa kia, thân thiết lắm với mùi hương ký ức…
Bao giờ nữa anh em mình lại được quây quần bên một bàn ăn dài, ăn những món hải sản thơm mùi biển của chúng ta kết với rượu vang quê hương chị Geneviève?
Những cánh hoa giấy đỏ buông xuống vẫy tiễn tôi, ánh mắt nâu hạt dẻ của chị nhìn theo, nụ cười hiền của anh Khoa như cánh thuyền nhỏ, bập bềnh trên sóng. Tôi khép mắt để nghe rưng một hạt lệ, tiếng rơi trong trên mặt hồ thời gian để hiện ra những ảnh hình tưởng đã quên dưới dòng phẳng lặng…

… Lại một buổi cả nhà leo lên xe, lòng ai cũng vui vì nơi tới là Đà Lạt. Ôi Đà Lạt một thời là ước mơ của tôi, đi Đà Lạt hồi đó bao giờ cũng là một phần thưởng khi học hành có kết quả tốt, vì thế ngày đó tôi đi Đà Lạt không quá ba lần. Tôi không về ký ức mà đi đến một nơi giấc mơ chưa thành.
Đến Đà Lạt vào tối, trời mưa. Tôi ngồi co trong chiếc ghế cạnh chỗ Khánh Chương lái xe, nhìn mưa rơi hối hả rồi tan trên mặt kính, tôi thoát ra cơn mỏi mắt buồn ngủ vì nhìn mãi vào chiếc cần gạt nước, quay ra phía cửa sổ. Phố lóa xóa mặt gương, đèn xe xanh đỏ lập lòa như những ánh lân tinh ở một phố âm, cậu em ngồi hàng ghế sau vừa nói, không biết đêm Đà Lạt còn chợ âm phủ không, tối nay tụi mình đi nhen. Giọng cậu không có vẻ chi là phấn khởi mà rù rì như nói trong lúc đang ngủ, tôi cười, nếu hết mưa Khiêm à, giọng tôi cũng nhỏ, tại không khí dào dạt mưa chăng. Tôi chợt bấm kính cửa xe xuống, mưa hắt lạnh, và tôi giật mình vì tiếng còi xe quá lớn, vội bấm kính lên. Hình như có cả tiếng nói nữa, không phải âm của Đà Lạt, hồi trước, khi tới đây, tôi gặp rất nhiều tiếng Huế. Cảm giác lúc chạm vào gió vào mưa Đà Lạt thế nào nhỉ, giật mình vì tiếng còi xe, vì âm giọng nói quá lạ, chỉ vậy thôi. Khi đi ngang khách sạn Anh Đào, tôi mơ màng thấy mình cùng các bạn đang đứng dán những tờ cổ động cho liên danh ứng cử dân biểu của cha tôi năm nào, đó là lần thứ hai tôi lên Đà Lạt. Lần đầu, vừa xong năm thứ nhất Luật, cha thưởng cho một chuyến đi, thật đáng nhớ, tới nơi người lớn ngồi nhà đánh bài, để ba con nhỏ là tôi, em Khanh và Bích, con bác Chi, ngồi chèo queo nơi phòng khách có ngọn lửa nhịp nhàng trong lò sưởi, tôi thì không sao (vì có một nỗi nhớ cặp kè, đâu có một mình). Kỳ đó Đà Lạt chỉ là Hồ Xuân Hương và quán cơm Như Ý. Hết. A quên, còn có một con dốc nằm thơ dại đẫm ánh trăng cùng Bích và một chàng sinh viên trường Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt nữa. Lần thứ hai vui hơn vì đông bạn bè, lại được đi chơi thoải mái, nhớ những hạt mưa hắt ngược trên đỉnh LangBiang, có Hà cầm đàn ngồi hát cho một cô gái Đà Lạt …Đưa em về dưới mưa nói năng chi cũng thừa…(Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Duy) trời lạnh giọng chàng run hay tại người đẹp như mơ? có Tiến với giọng Bắc trầm, vừa hát ta nghe nghìn sợi nhỏ rớt xuống đời…(TCS) vừa bấm máy chụp hình, có Khương điều động việc dán bích chương, kỳ đó liên danh cha tôi thất cử nhưng chúng tôi được no nê Đà Lạt gần một tuần, có Thanh giọng như tiếng gió thổi qua tua lá thông, có Tính đọc thơ giọng Bắc nũng nịu, kéo đêm Đà Lạt nhẹ lơi như khúc nhạc dạo đầu, trời mưa nho nhỏ, vạt áo em xưa, anh giữ trong tay, lời tình chợt ngỏ, em khóc bất ngờ, đêm run bóng lá, nho nhỏ trời mưa… thơ tôi viết cho ai vậy Thanh?
Có người ở xa nhờ tôi chuyển lời chào đến quỳ vàng, nhưng đi trên đường không thấy một mắt quỳ nào dòm ngó, quỳ ơi, người đã muốn một cây quỳ vàng trên mộ cỏ mốt mai đấy, lãng mạn quá tình yêu dã quỳ… Và cũng chẳng có một cánh én nào dưới mái lầu Hotel du Parc như người kể, chỉ chênh vênh con gà trên đỉnh nhà thờ có lẽ là chứng nhân chung thủy của thời gian và gìn giữ kỷ niệm của người dân Đà Lạt, của người yêu Đà Lạt nay đã tản mạn những phương trời.
Đến tối, đi dạo Đà Lạt đêm, thì tôi thật sự thất vọng, không còn một Đà Lạt trong trầm lặng rét nữa, những người trẻ đi thành nhóm đông la hét ồn ào, đứng trên bậc thềm cao ngó xuống khu chợ Hòa Bình chỉ thấy người và người nườm nượp bát nháo. Bên lề thì la liệt những đống quần áo cũ bán mua tấp nập. Ôi, muốn lãng mạn một chút với Đà Lạt cũng không xong rồi. Tôi nhớ đến tiếc con đường dốc trong đêm bập bùng ánh lửa của người dân tộc bán ngo và thổ sản của họ. Ánh lửa khơi động một ấm áp thổi Đà Lạt hun hút vào ký ức. Đâu rồi, đâu rồi cái khí hiu hắt lạnh thơ mộng ấy? Đà Lạt như cô gái thức dậy, cắt phăng mớ tóc dài mơ, mặc quần jean áo thun nhún nhẩy vào nhịp dồn dập sống còn của khúc ca hiện đại. Thúy Anh nói, chắc dưới kia là chợ Âm Phủ. Khiêm cười, lúc nhúc ồn như kia chỉ có chợ dương phủ thôi em, quả thật là tôi cũng không đủ can đảm để bước xuống những bậc thang đi tìm chợ âm phủ trong biển người dương thế kia, cho dù rất nhớ ly sữa đậu phộng bên hông chợ. Quỳnh thì sau đó nhất định phải đến “quán chè khép một bên cửa”, không biết nghe ở đâu, cửa quán chỉ mở già nửa, không phải để ngăn ngừa cái huyên náo bên ngoài mà là nhét vào những lộn xộn nhất có thể của một quán chè đêm…Tôi cùng các em vội vã ăn và vội vã quay về.
Thế là không sữa đậu nành nóng, không hạt dẻ ấm trong túi áo, và tiếc thay tôi cũng không có kỷ niệm nhiều với Đà Lạt để đưa mình vào Đà Lạt sang trọng trầm lặng ngày cũ. Cứ thế mà phơi mình giữa một không khí Đà Lạt bị cày xới thô bạo bởi những mỹ quan kiểu mới. Muốn nhắn nhủ với những ai yêu Đà Lạt, có về hãy trang bị cho đủ đầy nỗi nhớ và chiếc áo giáp của kỷ niệm để chống đỡ với những bất ngờ của Đà Lạt.
Ngày về lại Sài Gòn, khi đi qua đèo gió Bảo Lộc, tự nhiên nhớ lời dặn dò cột tóc của nhạc sĩ họ Trịnh với hồng nhan tri kỷ…Trong tôi không có một lời hẹn nào để trở lại Đà Lạt. Coi như vẫn còn đó, một giấc mơ dang dở.
Một đêm, tôi nói, mai mẹ về lại Mỹ rồi (nhớ hôm ở Mỹ, cũng nói với Bảo Chương, mai mẹ về Sài Gòn rồi, hai nơi đều là về cả, là sao), con trai Khánh Chương ôm vai, ngập ngừng, bây giờ cho mẹ bịnh đi, cũng được để mẹ ở lại thêm nữa nhen mẹ… Hạnh nói, con trai nhớ mẹ rồi đấy mẹ ơi. Như đêm đang ngừng trôi, phải không, những giọt đêm khẽ khàng ru tôi từng nhịp ấm của hạt lệ.
A, tôi biết rồi tôi đã lần theo nhịp đập trái tim hai đứa con yêu dấu này để về. Về đây, và đang nằm ngủ nơi góc phòng cha đã ngủ năm nào. Nghe dòng sông thế hệ nhịp nhàng từ ba mẹ tôi đến tôi, rồi các con tôi, và kia bùng reo, cô cháu nhỏ. Trôi đi, dịu dàng.
Hôm rời Sài Gòn, đang kéo hành lý ra cổng, chị Liên nhắc, thắp nhang ba chưa? Tôi vội lên lầu, là để cho chị vui thôi, chứ ngày nào tôi chẳng lên nhìn và nói gì đó với cha. Nhưng cha đâu riêng ở đây, nơi nào mà trái tim các con ông còn đập, thì ông ở đó.
Và Sài Gòn, mãi mãi là một hơi thở, của tôi. Những kỷ niệm thuộc về Sài Gòn như một tấm khiên che chắn cho tôi bớt hụt hẫng về tốc độ những đổi thay, hóa ra tôi chẳng phút giây nào nhìn thành phố này bằng con mắt xác phàm, chẳng thấy gì cả ngoài một Sài Gòn đầm đìa kỷ niệm.
A, tôi lần theo hoa rụng tuổi thanh xuân mộng ảo mà về đấy thôi.
Tới đây thì bạn biết cái một nơi để quay về của tôi rồi, đúng không, những sợi tơ ấy chỉ có một mối… bạn ơi.

Có một chỗ ở Sài Gòn bây giờ tôi bước đi không bằng ký ức, đó là con đường bờ kè kênh Nhiêu Lộc. Tôi bước dọc theo con đường mới mẻ, cái nhìn mở ra vui như nắng đang xiên qua những hàng liễu rủ, gió thổi thốc tới từ phía ngôi chùa xa cạnh Viện Đại Học Vạn Hạnh xưa làm tóc tôi bay, tôi không thể tưởng là mình đang đứng bên dòng kênh khẳm đen nhếch nhác khi xưa.
…có lẽ lần sau Khánh về thì nước kênh sẽ trong.
Giọng anh tôi nhỏ nhưng có vẻ như anh đang nói về một công trình của mình. Điều ấy làm tôi vui.
Tôi đang nghĩ đến chuyện cổ tích, soi xuống dòng trong để tỏ mặt mày… tất cả sẽ đổi thay như kênh Nhiêu Lộc này, những vẩn đục sẽ lắng xuống để dòng trong.
…Nhớ nói cho em biết khi nước kênh Nhiêu Lộc trong nhé, anh Khải.
Vậy là tôi có một lời hẹn với Sài Gòn rồi.
Và, nếu có, thì tôi cũng sẽ về vào mùa mưa tháng 9 để tiếng mưa trả lại cho tôi những lời tình tự, thêm một lần nữa sống với giấc mơ


NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

ÁC MỘNG

nguyendinhbon

Thấy đi giữa dòng người cuộn chảy
Và bao nhiêu máu đổ đầu rơi
Rồi thảng thốt giật mình tỉnh lại
Một giấc trưa ngủ giữa ngậm ngùi…

Ngày tôi sống bao điều oan trái
Bao tang thương ẩn ức căm hờn
Nên giấc mộng nhuốm màu man dại
Dù lòng tôi chỉ muốn yêu thương

Đã xa quá mộng lành ngày cũ
Một bàn tay ánh mắt bờ vai
Một con sông một triền cỏ dại
Một tiếng chim về hót hiên nhà…

Bỗng thấy thương mình thương dân Việt
Hận thù kia cứ mãi chất chồng
Ngay cả ngủ cũng toàn ác mộng
Trong mơ mà máu chảy như sông!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN